Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi thực hiện ựề tài ỘẢnh hưởng của mực nước tưới ựến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống lúa Khang dân 18 trong ựiều kiện thâm canh lúa cải t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
NGUYỄN VĂN TRUNG
ẢNH HƯỞNG CỦA MỰC NƯỚC TƯỚI ðẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG LÚA KHANG DÂN 18 TRONG ðIỀU KIỆN THÂM CANH
LÚA CẢI TIẾN (SRI) TẠI GIA LÂM - HÀ NỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TĂNG THỊ HẠNH
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa ñược sử dụng ñể bảo vệ một học
vị nào
Tôi xin cam ñoan, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Nguyễn Văn Trung
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện ựề tài và hoàn thành luận văn này, tôi ựã
nhận ựược sự giúp ựỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn, các thầy cô giáo, gia
ựình cùng bạn bè ựồng nghiệp
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới
TS Tăng Thị Hạnh - giảng viên bộ môn Cây Lương Thực - Trường đại học
Nông nghiệp Hà Nội Cô ựã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
thực hiện ựề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Ban đào tạo Sau đại học;
Khoa Nông học và ựặc biệt là các thầy, cô giáo, các cán bộ nhân viên Bộ môn
Cây lương thực - Trường đH Nông Nghiệp Hà Nội ựã tạo ựiều kiện thuận lợi
cho tôi trong thời gian nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia ựình, bạn bè ựã nhiệt tình giúp ựỡ,
cộng tác và khắch lệ tôi thực hiện ựề tài tốt nghiệp này
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Nguyễn Văn Trung
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ðOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ðỒ vii
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
I MỞ ðẦU 1
1.1 ðặt vấn ñề 1
1.2 Mục tiêu 3
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và Việt Nam 4
2.1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới 4
2.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo trong nước 6
2.2 ðặc ñiểm sử dụng nước của cây lúa 8
2.2.1 Vai trò của nước với cây lúa 8
2.2.2 ðặc ñiểm sử dụng nước của cây lúa 8
2.3 Các kết quả nghiên cứu về mực nước tưới của cây lúa trên thế giới và Việt Nam 9
2.3.1 Các nghiên cứu về mực nước tưới của cây lúa trên thế giới 9
2.3.2 Các kết quả nghiên cứu về mực nước tưới của cây lúa ở Việt Nam 12
2.4 Những nghiên cứu về mô hình thâm canh lúa cải tiến SRI trên thế giới và ở Việt Nam 18
2.4.1 Những nghiên cứu về mô hình thâm canh lúa cải tiến SRI trên thế giới 18
2.4.2 Những nghiên cứu về mô hình thâm canh lúa cải tiến SRI ở Việt Nam 22
Trang 53 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
3.1 Vật liệu nghiên cứu 25
3.2 ðịa ñiểm và thời gian nghiên cứu 25
3.3 Nội dung nghiên cứu 25
3.4 Phương pháp nghiên cứu 26
3.4.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 26
3.4.2 Các biện pháp kĩ thuật áp dụng theo quy trình thâm canh lúa cải tiên SRI 27
3.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi 28
3.4.4 Phương pháp phân tích số liệu 31
4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
4.1 Kết quả ñiều tiết mực nước trên ruộng 32
4.2 Ảnh hưởng của mực nước tưới ñến khả năng sinh trưởng của cây lúa 33
4.2.1 Ảnh hưởng của mực nước tưới ñến thời gian sinh trưởng của cây lúa 33
4.2.2 Ảnh hưởng của mực nước tưới ñến ñộng thái tăng trưởng chiều cao cây lúa ở vụ xuân và vụ mùa năm 2012 35
4.2.3 Ảnh hưởng của mực nước tưới ñến ñộng thái ra lá lúa ở vụ xuân và vụ mùa năm 2012 36
4.2.4 Ảnh hưởng của mực nước tưới ñến ñộng thái ñẻ nhánh của lúa ở vụ xuân và vụ mùa năm 2012 37
4.3 Ảnh hưởng của mực nước tưới nước ñến các chỉ tiêu sinh lý 40
4.3.1 Ảnh hưởng của mực nước tưới nước ñến chỉ số SPAD vụ xuân và vụ mùa năm 2012 40
4.3.2 Ảnh hưởng của mực nước tưới nước ñến Chỉ số diện tích lá (LAI) vụ xuân và vụ mùa năm 2012 42
4.3.3 Ảnh hưởng của mực nước tưới nước ñến khả năng tích lũy chất khô vụ xuân và vụ mùa năm 2012 45
Trang 64.4 Ảnh hưởng của mực nước tưới ñến mức ñộ nhiễm sâu bệnh hại
và cỏ dại trên ñồng ruộng 47
4.4.1 Ảnh hưởng của mực nước tưới ñến mức ñộ nhiễm sâu, bệnh hại vụ xuân và vụ mùa năm 2012 47
4.4.2 Ảnh hưởng của mực nước tưới ñến thành phần và khối lượng cỏ dại vụ xuân và vụ mùa năm 2012 48
4.5 Ảnh hưởng của mực nước tưới ñến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 50
4.5.1 Các yếu tố cấu thành năng suất 50
4.5.2 Năng suất thực thu và năng suất sinh vật học 53
5 KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 55
5.1 Kết luận 55
5.2 ðề nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 7DANH MỤC BẢNG
STT TÊN BẢNG TRANG
Bảng 2.1 Sản lượng lúa gạo thế giới các năm gần ñây (2000-2010)
(triệu tấn) 5 Bảng 2.2: Sản lượng lúa theo ñịa phương (nghìn tấn) 6 Bảng 2.3: Sản xuất lúa gạo ở Việt nam trong những năm gần ñây 7 Bảng 4.1 Ảnh hưởng của mực nước tưới ñến thời gian sinh trưởng
của cây lúa ở vụ xuân và vụ mùa năm 2012 33 Bảng 4.2 Ảnh hưởng của mực nước tưới ñến ñộng thái tăng trưởng
chiều cao cây lúa ở vụ xuân và vụ mùa năm 2012 35 Bảng 4.3 Ảnh hưởng của mực nước tưới ñến ñộng thái ra lá trên thân
chính củalúa ở vụ xuân và vụ mùa năm 2012 37 Bảng 4.4 Ảnh hưởng của mực nước tưới ñến ñộng thái ñẻ nhánh của
lúa ở vụ xuân và vụ mùa năm 2012 38 Bảng 4.5 Ảnh hưởng của mực nước tưới nước ñến chỉ số SPAD vụ
xuân và vụ mùa năm 2012 41 Bảng 4.6 Ảnh hưởng của mực nước tưới nước ñến Chỉ số diện tích lá
(LAI) vụ xuân và vụ mùa năm 2012 43 Bảng 4.7 Ảnh hưởng của mực nước tưới ñến khối lượng chất khô vụ
xuân và vụ mùa năm 2012 45 Bảng 4.8 Mức ñộ nhiễm sâu, bệnh của các công thức thí nghiệm ở vụ
xuân và vụ mùa năm 2012 48 Bảng 4.9 Ảnh hưởng của mực nước tưới ñến thành phần và khối
lượng cỏ dại vụ xuân và vụ mùa năm 2012 49 Bảng 4.10 Ảnh hưởng của mực nước tưới ñến các yếu tố cấu thành
năng suất vụ xuân và vụ mùa năm 2012 50 Bảng 4.11 Ảnh hưởng của mực nước tưới ñến năng suất thực thu và
Trang 8DANH MỤC BIỂU ðỒ
STT TÊN BIỂU ðỒ TRANG
Biểu ñồ 4.1 ðiều tiết mực nước trên ruộng vụ xuân 2012 32
Biểu ñồ 4.2 ðiều tiết mực nước trên ruộng vụ mùa 2012 32
DANH MỤC HÌNH ẢNH STT TÊN HÌNH ẢNH TRANG Hình ảnh 1: Mạ 2,5 – 3 lá ñem ñi cấy 60
Hình ảnh 2: Cấy theo phương thức thâm canh cải tiến SRI 60
Hình ảnh 3: Ruộng lúa thời kỳ ñẻ nhánh 61
Hình ảnh 4: Thời kỳ trỗ bông 61
Hình ảnh 5: Ruộng lúa thời kỳ chín sáp 62
Hình ảnh 6: Ruộng lúa thời kỳ chín hoàn toàn 62
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT Chữ viết tắt Chữ viết ñầy ñủ
6 KLCK Khối lượng chất khô
7 LAI Chỉ số diện tích lá (Leaf Area Index)
12 NSLT Năng suất lý thuyết
13 NSTT Năng suất thực thu
14 NSSVH Năng suất sinh vật học
15 SRI System of rice intensification (Hệ thống thâm canh
lúa cải tiến)
16 NN & PTNN Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 10I MỞ ðẦU
1.1 ðặt vấn ñề
Cây lúa (Oryza sativa L.) là cây trồng quan trọng cung cấp lương thực cho
hơn 3,1 tỉ người trên thế giới Lúa là một trong ba loại ngũ cốc, bên cạnh ngô và lúa mì, cung cấp dinh dưỡng cho con người, chiếm gần 90% lượng sản xuất ngũ cốc của thế giới Ở các nước ñang phát triển, lúa cung cấp bình quân 27% khẩu phần năng lượng và 20% khẩu phần dinh dưỡng hàng ngày của con người Ở Việt Nam, lúa là cây lương thực quan trọng hàng ñầu Từ năm 1985 ñến 2008, sản lượng lúa hàng năm tăng hơn gấp ñôi, từ 15,7 triệu tấn lên 36,5 triệu tấn Lúa cung cấp 67% lượng calo cho hơn 86 triệu người trên cả nước (Bộ NN &PTNT, 2008) Sản xuất lúa hiện tại còn góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam Là một sản phẩm xuất khẩu ñứng hàng thứ 5, kim ngạch xuất khẩu lúa hàng năm lên ñến 600-800 triệu USD, chiếm 12-13% tổng GDP của Việt Nam Trong nhiều năm liền, Việt Nam liên tục là nước xuất khẩu gạo ñứng thứ 2 thế giới với lượng gạo xuất khẩu chiếm 13-17% lượng gạo xuất khẩu của thế giới (Bộ NN&PTNT, 2003)
Ở Việt Nam, diện tích các loại cây lương thực và cây ăn quả ñược tưới là 8,9 triệu ha trong ñó diện tích trồng lúa chiếm 76,8% (FAO, 2007) Theo ước tính năm 2005, lượng nước sử dụng trong nông nghiệp, chủ yếu cho tưới lúa, là khoảng 66.000 triệu m3, chiếm 82% tổng lượng nước sử dụng toàn quốc (KBR, 2009) Dự báo vào năm 2020 nông nghiệp vẫn là ngành sử dụng nước lớn nhất, chiếm 72% tổng lượng nước sử dụng (KBR, 2009) Mặc dù Việt Nam có nguồn tài nguyên nước dồi dào và phong phú, do nhu cầu sử dụng nước trong các ngành cấp nước sinh hoạt, công nghiệp, thủy ñiện ngày càng tăng và tác hại của những ñợt hạn hán gần ñây, xã hội ngày càng trở nên quan tâm ñến việc tiết kiệm nước, ñặc biệt là tiết kiệm nước trong sản xuất lúa gạo vì ñây là ngành tiêu thụ lượng nước lớn nhất
Trang 11Cây lúa sống trong ruộng nước, là cây cần và ưa nước ñiển hình nên từ
“lúa nước” bao giờ cũng gắn liền với cây lúa Nước là thành phần chủ yếu của cây lúa, nếu lấy 100g lá lúa tươi ñem sấy thì lượng lá khô chỉ còn lại 12g (còn 88g là lượng nước bốc hơi), ñem phần lá khô ñốt cháy hoàn toàn thì lượng tro còn lại là 1,5g Với 88% trọng lượng cây lúa, nước là thành phần chủ yếu và cực
kỳ quan trọng ñối với ñời sống cây lúa Nước là ñiều kiện ñể thực hiện các quá trình sinh lý trong cây lúa, ñồng thời cũng là môi trường sống của cây lúa, là ñiều kiện ngoại cảnh không thể thiếu ñược ñối với cây lúa Nước là một trong những nguồn vật liệu thô ñể chế tạo thức ăn, vận chuyển thức ăn lên xuống trong cây, ñến những bộ phận khác nhau của cây lúa Bên cạnh ñó lượng nước trong cây lúa
và nước ruộng lúa là yếu tố ñiều hòa nhiệt ñộ cho cây lúa cũng như quần thể, không gian ruộng lúa Nước cũng góp phần làm cứng thân và lá lúa, nếu thiếu nước thân lá lúa sẽ khô, lá lúa bị cuộn lại và rủ xuống, còn nếu cây lúa ñẩy ñủ nước thì thân lá lúa sẽ ñứng, bản lá mở rộng
Phương thức canh tác lúa cải tiến (SRI: System of rice intensification) lần ñầu tiên phát triển ở Madagaskar những năm 1980 và cho ñến nay nó ñã phát triển ở nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc, In-do-ne-xi-a, Thái Lan, Campuchia, Ấn ðộ, Sri Lanca Năm 2003, có tới trên một triệu nông dân thực hiện phương thức canh tác này Ứng dụng hệ thống SRI là sự tác ñộng tổng hợp các biện pháp kỹ thuật như cấy mạ non, cấy một dảnh, cấy mật ñộ cấy thưa, quản
lý nước, làm cỏ sục bùn và bón phân hữu cơ Những cải tiến về quản lý ñất và nước này nhằm ñảm bảo cung câp nguồn dinh dưỡng và ñiều kiện tối ưu cho cây lúa Vì thế, cây lúa sẽ phát huy tối ña khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao SRI ñược ñưa vào Việt Nam từ cuối năm 2003 nhưng chủ yếu dưới hình thức thí nghiệm, mô hình nhỏ, có khoảng 3.500 nông dân tham gia sau
3 năm thực hiện Cuối năm 2006, Oxfam Mỹ tài trợ chính phối hợp cùng Cục Bảo vệ Thực vật (Bộ NN&PTNT), Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững và Oxfam Québec triển khai Chương trình Hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) –
Trang 12(chương trình SRI) tập trung vào 6 tỉnh thắ ựiểm là Hà Nội, Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên, Nghệ An và Hà Tĩnh
Thực tế sản xuất lúa gạo hiện nay ựòi hỏi phải ựảm bảo ựược an ninh lương thực, tiết kiệm ựược nguồn nước tưới ựồng thời ựảm bảo giảm thiểu ựược
ô nhiễm môi trường SRI là phương pháp canh tác sinh thái thân thiện với môi trường, là lời giải cho việc ựảm bảo năng suất lúa, góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường và hiệu ứng nhà kắnh
Xuất phát từ thực tiễn trên chúng tôi thực hiện ựề tài ỘẢnh hưởng của mực nước tưới ựến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống lúa Khang dân 18 trong ựiều kiện thâm canh lúa cải tiến (SRI) tại Gia Lâm - Hà NộiỢ
1.2 Mục tiêu
- đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, ựặc ựiểm sinh lý và năng suất của giống lúa Khang dân 18 ở các mực nước tưới khác nhau trong ựiều kiện thâm canh lúa cải tiến (SRI)
- đề xuất mực nước tưới phù hợp cho canh tác lúa vùng đồng bằng sông Hồng
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ựề tài
Trang 13II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và Việt Nam
2.1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới
Cây lúa có nguồn gốc nhiệt ñới, dễ trồng, cho năng suất cao vì vậy lúa ñược trồng phổ biến ở rất nhiều nước trên thế giới, hiện nay ñã có hơn 100 nước
có diện tích trồng lúa Vùng trồng lúa tương ñối rộng: có thể trồng ở các vùng có
vĩ ñộ cao như Hắc Long Giang (Trung Quốc) 530B, Tiệp 490B, Nhật, Italia, Nga (Krasodar) 450B ñến Nam bán cầu, New South Wales (Úc): 350N Trong ñó hơn 85% sản lượng lúa gạo tập trung các nước Châu Á(từ 300B ñến 100N) ðặc biệt chủ yếu là các nước ở Châu Á như: Thái Lan, Việt Nam, Trung Quốc, Ấn ðộ, Inñônêxia, Banglades, Myanmar và Philipin
Theo thống kê của tổ chức lương thực thế giới (FAO, 2008) cho thấy, có
114 nước trồng lúa, trong ñó 18 nước có diện tích trồng lúa trên có trên 1.000.000 ha tập trung ở Châu Á, , 31 nước có diện tích trồng lúa trong khoảng 100.000ha - 1.000.000 ha Trong ñó có 27 nước có năng suất trên 5 tấn/ha, ñứng ñầu là Ai Cập (9.7 tấn/ha), Úc (9.5 tấn/ha) El Salvador (7.9 tấn/ha) Diện tích trồng lúa trên thế giới ñã gia tăng rõ rệt từ năm 1961 ñến 1980 Trong vòng
19 năm ñó, diện tích trồng lúa trên thế giới tăng bình quân 1,53 triệu ha/năm Từ năm
1980, diện tích lúa tăng chậm và ñạt cao nhất vào năm 1999 (156,8 triệu ha) với tốc
ñộ tăng chậm với tốc ñộ tăng trưởng bình quân 630.000 ha/năm Từ năm 2000 trở ñi diện tích trồng lúa thế giới có nhiều biến ñộng và có xu hướng giảm dần, ñến năm
2005 còn ở mức 155,1 triệu ha Từ năm 2005 ñến 2008 diện tích lúa gia tăng liên tục ñạt 159,0 triệu ha cao nhất kể từ năm 1995 tới nay
Diện tích trồng lúa thế giới niên vụ 2009/10 chỉ vào khoảng 156,1 triệu ha, giảm 1,7 triệu ha so với niên vụ 2008/09, tuy nhiên năng suất lúa vẫn ñược duy trì ở mức 4,3 tấn/ha Diện tích gieo trồng thu hẹp trong khi năng suất không tăng
Trang 14ðứng ñầu vẫn là 8 nước châu Á là Ấn ðộ, Trung Quốc, Indonesia, Bangladesh, Thái Lan, Myanmar, Việt Nam, Philippines Tuy nhiên năng suất chỉ
có 2 nước có năng suất cao hơn 5 tấn/ha là Trung Quốc và Việt Nam Mặc dù năng suất lúa ở các nước châu Á còn thấp nhưng do diện tích sản xuất lớn nên Châu Á vẫn là nguồn ñóng góp rất quan trọng cho sản lượng lúa trên thế giới (trên 90%) Như vậy, có thể nói châu Á là vựa lúa quan trọng nhất thế giới
Bảng 2.1 Sản lượng lúa gạo thế giới các năm gần ñây (2000-2010) (triệu tấn)
tấn gạo)
Dự báo sản lượng lúa gạo toàn cầu niên vụ 2011/12 tăng gần 2% so với niên vụ trước Theo dự báo mới nhất của Bộ Nông nghiệp Mỹ thì sản lượng lúa
Trang 15gạo thế giới niêm vụ 2011/12 ựạt khoảng 455,5 triệu tấn, giảm 2,1 triệu tấn so với dự báo tháng 9 Tuy nhiên, so với niên vụ 2009/10 sản lượng lúa gạo thế giới vẫn tăng gần 2%
2.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo trong nước
Việt Nam là nước có truyền thống sản xuất nông nghiệp gắn bó với cây lúa từ xa xưa Với ựiều kiện tự nhiên nằm trong vùng khắ hậu nhiệt ựới, những ựồng bằng châu thổ phì nhiêu, Việt Nam ựã trở thành cái nôi sản xuất lúa gạo hàng ựầu trong khu vực và trên thế giới
Việt Nam là một nước nông nghiệp, có tới 75% dân số sản xuất nông nghiệp và từ lâu cây lúa ựã ăn sâu vào tiềm thức người dân, nó có vai trò rất quan trọng trong ựời sống con người Lúa gạo không chỉ giữ vai trò trong việc cung cấp lương thực nuôi sống mọi người mà còn là mặt hàng xuất khẩu ựóng góp không nhỏ vào nền kinh tế quốc dân Mặt khác, do có ựiều kiện tự nhiên thuận lợi phù hợp cho cây lúa phát triển nên lúa ựược trồng ở khắp mọi miền của ựất nước Theo Nguyễn Văn Hoan (2004), các vùng trồng lúa nước ta ựược phân chia theo ựặc ựiểm khắ hậu và ựất ựai Khắ hậu, ựất ựai là hai yếu tố chắnh chi phối các vụ lúa, trà lúa và hình thành nên các vùng trồng lúa của nước ta
Bảng 2.2: Sản lượng lúa theo ựịa phương (nghìn tấn) Vùng trồng lúa 2006 2007 2008 2009 2010 2011
đồng bằng Sông Hồng 7068.6 6875.5 7219.5 7105.4 7246.6 7422.4 Trung du & miền núi phắa Bắc 3961.5 4293.9 4448.9 4569.3 4623.5 4921.5 Bắc Trung Bộ &
Duyên hải miền Trung 6775.3 6583.4 6959.2 7020.9 7002.2 7354.5 Tây Nguyên 1894.7 1923.2 2015.3 2116.8 2226.3 2245.1 đông Nam Bộ 1588.1 1688.8 1763.8 1793.6 1737.6 1788.5 đồng bằng Sông Cửu Long 18418 18883 20899 20717 21796 23394
Trang 16“Trước năm 1945, diện tích ñất trồng lúa của nước ta là 4,5 triệu ha, năng suất trung bình ñạt 1,3 tấn/ha, sản lượng 5,4 triệu tấn Hiện nay, với những tiến
bộ kỹ thuật vượt bậc trong nông nghiệp, người dân ñã ñược tiếp cận với những phương thức sản xuất tiên tiến nên họ ñã dám mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, dùng các giống lúa mới, các giống lúa ưu thế lai, các giống lúa cao sản, các giống lúa thích nghi với ñiều kiện ñặc biệt của từng vùng, các giống lúa chất lượng ñạt tiêu chuẩn xuất khẩu… kết hợp ñầu tư thâm canh cao, hợp lý Nhờ vậy, ngành trồng lúa nước ta ñã có bước nhảy vọt về năng suất, sản lượng và giá trị kinh tế Năm 1996, nước ta xuất khẩu ñược 3,2 triệu tấn lương thực, năm 1999, nước ta vươn lên ñứng hàng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo Năm 2002, tổng sản lượng lương thực ñạt 36,4 trệu tấn, trong ñó lúa chiếm 70% Tuy nhiên, con số này bị chững lại vào năm 2003 giảm xuống còn 34,5 triệu tấn ðiều này ñang ñặt ra những yêu cầu mới trong nông nghiệp Trong ñiều kiện hiện nay, xu hướng ñô thị hoá, công nghiệp hoá ñang diễn ra mạnh, dân số liên tục tăng làm diện tích ñất nông nghiệp nói chung và diện tích ñất trồng lúa nói riêng ngày càng bị thu hẹp Vì vậy, vấn ñề cấp thiết ñặt ra ở ñây là cần phải nâng cao hơn nữa năng suất và chất lượng lúa, nhằm ñáp ứng ñược nhu cầu lương thực cho người dân và cho xuất khẩu
Bảng 2.3: Sản xuất lúa gạo ở Việt nam trong những năm gần ñây
Trang 172.2 ðặc ñiểm sử dụng nước của cây lúa
2.2.1 Vai trò của nước với cây lúa
Cây lúa sống trong ruộng nước, là cây cần và ưa nước ñiển hình nên từ “lúa nước” bao giờ cũng gắn liền với cây lúa Ở nước ta ñại bộ phận ruộng lúa ñều tưới ngập nước, tuy nhiên cũng có những giống lúa có khả năng chịu hạn (lúa cạn, lúa nương ) sinh trưởng hoàn toàn phụ thuộc vào nước trời, nhưng năng suất không cao bằng lúa nước Lại có những giống lúa chịu ñược nước sâu, ở vùng Ðồng Tháp Mười những giống lúa cổ truyền có thể chịu ngập sâu ñến 3 mét
Nước là thành phần chủ yếu của cây lúa, nếu lấy 100g lá lúa tươi ñem sấy thì lượng lá khô chỉ còn lại 12g (còn 88g là lượng nước bốc hơi), ñem phần lá khô ñốt cháy hoàn toàn thì lượng tro còn lại là 1,5g Với 88% trọng lượng cây lúa, nước là thành phần chủ yếu và cực kỳ quan trọng ñối với ñời sống cây lúa Nước là ñiều kiện ñể thực hiện các quá trình sinh lý trong cây lúa, ñồng thời cũng là môi trường sống của cây lúa, là ñiều kiện ngoại cảnh không thể thiếu ñược ñối với cây lúa
Nước là một trong những nguồn vật liệu thô ñể chế tạo thức ăn, vận chuyển thức ăn lên xuống trong cây, ñến những bộ phận khác nhau của cây lúa Bên cạnh ñó lượng nước trong cây lúa và nước ruộng lúa là yếu tố ñiều hòa nhiệt
ñộ cho cây lúa cũng như quần thể, không gian ruộng lúa Nước cũng góp phần làm cứng thân và lá lúa, nếu thiếu nước thân lá lúa sẽ khô, lá lúa bị cuộn lại và rủ xuống, còn nếu cây lúa ñẩy ñủ nước thì thân lá lúa sẽ ñứng, bản lá mở rộng
2.2.2 ðặc ñiểm sử dụng nước của cây lúa
Nhu cầu nước của cây lúa thay ñổi theo thời kỳ sinh trưởng, giống và ñiều kiện thâm canh Theo Goutchin, ruộng lúa không cần lớp nước trên bề mặt mà chỉ cần ñảm bảo ñộ ẩm 90% Ngược lại Erughin cho rằng ruộng lúa cần tưới ngập Ở nước ta, ñại bộ phận ruộng lúa ñều tưới ngập
Việc sử dụng nước của cây lúa qua các thời kỳ sinh trưởng phát triển cũng
Trang 18- Thời kỳ nảy mầm: hạt lúa khi bảo quản thường phải giữ ñộ ẩm 13%, khi ngâm ủ hạt thóc hút nước ñạt 22% thì có thể hoạt ñộng và nảy mầm tốt khi ñộ ẩm ñạt 25-28% Những giống lúa cạn lại ñược gieo khô khi ñất ñủ ẩm hoặc trời mưa
có nước mới nảy mầm và mọc ñược
- Thời kỳ mạ: từ sau gieo ñến mạ mũi chông thì chỉ cần giữ ruộng ñủ ẩm Trong ñiều kiện như vậy rễ lúa ñược cung cấp nhiều oxy ñể phát triển và nội nhũ cũng phân giải thuận lợi hơn Khi cây mạ ñược 3-4 lá thì có thể giữ ẩm hoặc ñể một lớp nước nông cho ñến khi nhổ cấy
- Thời kỳ ruộng cấy: từ sau cấy ñến khi lúa chín là thời kỳ cây lúa rất cần nước Nếu ruộng khô hạn thì các quá trình sinh trưởng gặp trở ngại rõ rệt Ngược lại nếu mức nước trong ruộng quá cao, ngập úng cũng không có lợi: cây lúa ñẻ nhánh khó, cây vươn dài, yếu ớt, dễ bị ñổ và sâu bệnh Người ta còn dùng nước
ñể ñiều tiết sự ñẻ nhánh hữu hiệu của ruộng lúa
Ngoài ra ñặc ñiểm sử dụng nước của cây lúa còn tùy thuộc vào ñiều kiện ngoại cảnh như khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng…
2.3 Các kết quả nghiên cứu về mực nước tưới của cây lúa trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Các nghiên cứu về mực nước tưới của cây lúa trên thế giới
Theo Bandana Priapatin, PARDYP/ICIMOD: khi so sánh phương pháp canh tác lúa truyền thống với phương pháp canh tác SRI Cấy giống Makananpur
I, tuổi mạ 12 ngày, mật ñộ cấy 25 × 25cm, 1 dảnh/khóm trên mảnh ruộng của SRI còn ở mảnh ruộng cấy theo phương pháp cấy truyền thống, tuổi mạ 1 tháng, 2- 3 dảnh/khóm, mật ñộ cấy 10 × 10cm Trên mảnh ruộng SRI thì giữ ẩm nhưng không ngập cho ñến khi lúa trỗ thì cho một lớp nước mỏng và duy trì trong suốt giai ñoạn trỗ Trong khi ñó ruộng canh tác theo phương pháp truyền thống thì giữ nước ngập liên tục Kết quả cho thấy trên mảnh ruộng SRI cho số nhánh tối ña và cho năng suất hạt ñạt 10 tấn/ha còn trên mảnh ruộng canh tác lúa truyền thống cho năng suất 8,25 tấn/ ha
Trang 19- Bề mặt ruộng ít nước làm tăng số nhánh: nếu chúng ta giữ ruộng lúa ẩm nhưng trong ñiều kiện hơi khô (không có nước thường xuyên) làm tăng số nhánh
Mạ khoảng 15 - 20 ngày tuổi cũng có thể tạo ra nhiều nhánh Nếu chúng ta ñể ruộng ngập nước thì tỷ lệ ñẻ nhánh sẽ giảm
- ðủ ẩm trong giai ñoạn bắt ñầu ñẻ nhánh và trỗ: ñộ ẩm trong suốt giai ñoạn ñầu của thời kỳ ñẻ nhánh và giai ñoạn trỗ làm tăng số nhánh hữu hiệu cũng như số hạt/bông nhiều hơn
- Thời kỳ lúa phát triển duy trì lớp nước tưới dưỡng trên mặt ruộng là 4
- 8 cm
Theo Mao Zhi (1992), tổng lượng nước cần trong suốt giai ñoạn sinh trưởng từ 270 - 280 mm và giá trị trung bình ngày thay ñổi từ 30 - 78mm/ngày ở từng vùng, thời kỳ sinh trưởng khác nhau và thay ñổi theo từng giống lúa khác nhau
V.S.Tomar and J.C.Otole (1989) cho biết ở Philippin lượng nước cần tăng
từ thời kỳ sinh trưởng ñến thời kỳ sinh trưởng cuối và ñạt tối ña 4 - 7mm/ngày ở giai ñoạn ñẻ nhánh ñến phân hóa ñòng Ở Thái Lan, Ấn ðộ, Nhật Bản lượng nước tăng từ thời kỳ sinh trưởng ñến thời kỳ chín sau ñó giảm dần Nhìn chung ở vùng nhiệt ñới lượng nước bình quân thay ñổi từ 4 -6 mm/ngày
Wibool Bon Yathrokul (1991) lượng nước thấm trên ñồng ruộng là không thể tránh khỏi và cần xem xét như một yêu cầu cần thiết phục vụ vào cấu trúc ñất
và ñộ sâu mực nước ngầm Lượng nước dùng trong thời kỳ làm ñất là lượng nước bão hòa tầng ñất canh tác, bốc hơi mặt nước và một lớp nước cần thiết trên mặt ruộng trước khi cấy, nhìn chung thời kỳ này yêu cầu nước thay ñổi lớn 20 - 30mm lượng nước tưới dưỡng sau khi cấy ñể cung cấp cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng có thể nhiều hoặc ít hơn lượng nước dùng vào thời kỳ làm ñất
Theo Dedstta (1983) lúa yêu cầu ñộ sâu lớp nước trên mặt ruộng từ 5 - 7
cm là phù hợp nhất cho hầu hất các loại ñất Lớp nước có tác dụng kìm hãm sinh
Trang 20Po Nampurama (1986) cho rằng: trước khi cấy lúa 2 tuần mà ñể ngập nước sẽ hòa tan ñược nhiều P, K, giảm chất ñộc, phát sinh NH4+ Như vậy, khi cấy xong lúa bén rễ sẽ hút ñược dinh dưỡng một cách nhanh nhất Trên những vùng ñất giàu chất hữu cơ ở giai ñoạn ñẻ nhánh tối ña, khi rút nước sẽ ñược cung cấp nhiều oxy cho cây ñồng thời làm giảm các chất ñộc trong ñất như CH4, H2S và giảm ñược sự hút ñạm của cây tránh hiện tượng lớp ñổ và sâu bệnh ðến thời kỳ trỗ, lúa rất cần nước vì vậy phải ñể ngập một lớp nước
từ 2 – 3 cm trên mặt ruộng
A Bulfazal and M Silde (1993) lúa yêu cầu một lớp nước trên mặt ruộng
từ 25 – 50 mm trong suốt quá trình sinh trưởng và cần 884mm lớp nước trong
100 ngày sau cấy ðồng thời cũng cần 100 mm lớp nước trong thời kỳ làm ñất, lượng nước thấm dọc và ngang bình quân là 5mm/ngày
Theo R.S.Shion (1993) nếu duy trì tình trạng tưới ngập ẩm tức là ñộ ẩm gần bão hòa trong suốt thời kỳ sinh trưởng có thể tiết kiệm ñược 41% lượng nước tưới so với phương pháp tưới ngập nước liên tục
Kỹ thuật tưới ướt - khô xen kẽ (Altemate wetting and drying) ñược khuyến cáo bởi Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), Cục Bảo vệ thực vật và các chuyên gia trồng trọt, như là biện pháp cho hiệu quả cao nhất (giảm ñược 25 - 50% số lần tưới và giảm tỷ lệ ñổ ngã) và ñược khuyến cáo nhiều nhất Theo IRRI, cây lúa không phải lúc nào cũng cần ngập nước và chỉ cần bơm nước vào ruộng tối ña là 5cm, cụ thể:
- Tuần ñầu tiên sau sạ: Giữ mực nước từ bão hòa ñến cao khoảng 1cm, mực nước trong ruộng sẽ ñược giữ cao khoảng 1 - 3cm theo giai ñoạn phát triển của cây lúa và giữ liên tục cho ñến lúc bón phân lần 2 (khoảng 20 - 25 ngày sau sạ), giai ñoạn này, nước là nhu cầu thiết yếu ñể cây lúa phát triển Giữ nước trong ruộng ở giai ñoạn này sẽ hạn chế cỏ mọc mầm
- Giai ñoạn từ 25 - 40 ngày: ðây là giai ñoạn lúa ñẻ nhánh rộ và tối ña, phần lớn chồi vô hiệu thường phát triển ở giai ñoạn này, nên chỉ cần nước vừa
Trang 21ñủ Lúc này, giữ mực nước trong ruộng từ bằng mặt ñến thấp hơn mặt ruộng 15cm Khi nước xuống thấp hơn 15cm thì bơm nước vào ruộng ngập tối ña 5cm
Ở giai ñoạn này, lá lúa giáp tán, nếu hạt cỏ nảy mầm cũng không gây hại ñáng
kể ðây cũng là giai ñoạn lúa rất dễ bị bệnh khô vằn tấn công, mực nước thấp làm hạch nấm ít phát tán, bệnh ít lây lan
- Giai ñoạn lúa 40 - 45 ngày: Là giai ñoạn bón phân lần 3 (bón ñón ñòng) Lúc này cần bơm nước vào khoảng 1 - 3cm trước khi bón phân, nhằm tránh ánh sáng làm phân hủy và bốc hơi phân bón, nhất là phâm ñạm
- Giai ñoạn lúa 60 - 70 ngày: ðây là giai ñoạn lúa trỗ nên cần giữ nước cho cây lúa trỗ và thụ phấn dễ dàng, hạt lúa không bị lép lửng
- Cây lúa 70 ngày ñến thu hoạch: Là giai ñoạn lúa ngậm sữa, vào chắc và chín nên chỉ cần giữ mực nước từ bằng mặt ñến thấp hơn mặt ruộng 15cm Cần phải
“xiết’’ nước 10 ngày trước khi thu hoạch ñể mặt ruộng ñược khô ráo, nâng cao phẩm chất gạo và thuận lợi cho việc sử dụng máy móc khi thu hoạch
Vùi phế phụ phẩm lúa mì làm phân bón cho lúa nước vụ sau tại Trung Quốc cho thấy, trong ñiều kiện ngập ẩm luân phiên cho năng suất cao hơn 27%
so với ngập hoàn toàn (8,2 tấn so với 7,3 tấn/ha)
Ngoài ra, cạnh tranh từ ñời sống và công nghiệp hóa làm thêm phức tạp vấn ñề khan hiếm nước Ít nước sẽ có gây khó khăn cho nông nghiệp và nhất là cây lúa, cây trồng tiêu thụ số lượng nước ngọt lớn nhất ðể cải thiện việc sử dụng nước và năng suất nước trong sản xuất lúa, nhiều mô hình quản lý nước tiết kiệm ñã ñược giới thiệu
2.3.2 Các kết quả nghiên cứu về mực nước tưới của cây lúa ở Việt Nam
Theo thống kê trong 15 năm trở lại ñây, hiệu quả phục vụ tưới tiêu của hệ thống thủy lợi ñạt kết quả thấp Trong phạm vi toàn quốc, hệ thống tưới tiêu mới chỉ ñạt ñược 1.261.901 ha trong tổng số 2.085.062 ha, ñạt 62,7% năng lực thiết
kế Trong rất nhiều nguyên nhân dẫn ñến hiệu quả hoạt ñộng của hệ thống tưới
Trang 22Theo Nguyễn Văn Dung, Nguyễn Tất Cảnh (2006) thì với chế ựộ tưới nước giữ ẩm và ngập ẩm luân phiên trong thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng, cấy mật ựộ 25 Ờ 35 khóm/ m2 với 2 dảnh lúa/khóm là thắch hợp tùy theo từng chân ựất và trình ựộ thâm canh Thay ựổi phương thức quản lý nước từ tưới ngập liên tục trên ruộng lúa sang giữ ẩm và ngập ẩm luân phiên trong thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng kết hợp với sử dụng phân viên nén ựã làm tăng năng suất lúa và tiết kiệm chi phắ ựầu vào
Cũng theo các tác giả trên: tưới theo phương pháp rút nước trong thời kỳ sinh trưởng của lúa (phương pháp tưới tiết kiệm nước) ựã tiết kiệm ựược 25% ựược lượng nước tưới và nâng cao hiệu quả sử dụng nước tưới so với biện pháp tưới truyền thống 24% Bón phân viên nén và chất hữu cơ
Khi tưới tiết kiệm ựã làm tăng năng suất so với bón phân vãi và tưới theo phương pháp tưới truyền thống 35,4%, tiết kiệm ựược 33% lượng ựạm bón
Theo Nguyễn đình Ninh, Nguyễn Thị Kim Vân (2004), nhu cầu nước cho cây lúa là rất cao với lúa xuân tổng lượng nước cho cả vụ là: 6000 Ờ 7000 m3/ha, thời kỳ ựổ ải: 1500 Ờ 2500 m3/ha, thời kỳ cấy ựến bén rễ duy trì lớp nước tưới dưỡng trên mặt ruộng là 3 Ờ 5 cm
Theo Nguyễn Hồng Nguyện (1983) thì lượng nước cần ngả ải trung bình trong 3 năm (1981 Ờ 1983) ở Gia Lâm Ờ Hà Nội: 1471,5 m3/ha nếu áp dụng chế
ựộ nước nông thường xuyên thì cần ựến một lượng nước là 2074,5 m3/ha Lượng nước cần từ thời kỳ cấy ựến ựẻ nhánh là 1,496 Ờ 1,838mm/ ngày tương ứng với
477 Ờ 585 m3/ha và giá trị tối ựa là 6,53 Ờ 7,50mm/ ngày ở thời kỳ phân hóa ựòng ựến trỗ là 1962,8 Ờ 2248,6 m3/ha Trong toàn vụ lượng nước bốc hơi mặt lá chiếm 61,65 Ờ 68,89 % so với tổng nhu cầu nước của cây
đánh giá hiệu quả sử dụng nước trên mặt ruộng các tác giả khẳng ựịnh: ựể nước tưới ựạt hiệu quả kinh tế cao thì áp dụng chế ựộ nước tưới nông thường xuyên (3 Ờ 5 cm) là thắch hợp và cho năng suất cao nhất
Trang 23Theo Nguyễn Văn Dung (1996) thì tổng nhu cầu nước của cây lúa trong suốt quá trình sinh trưởng bao gồm lượng nước làm bảo hòa tầng ñất và một lớp nước trên mặt ruộng trước khi cấy, lượng nước bốc hơi tụ do trong thời kỳ làm ñất, lượng nước bốc hơi mặt lá và khoảng trống, lượng nước thấm sâu và rò rỉ qua bờ và lượng nước tiêu hao khác do yêu cầu kỹ thuật thâm canh lúa Lượng nước cần tưới cho cả vụ là hiệu số của tổng nhu cầu tưới của cây và lượng nước mưa lợi dụng ñược Nhu cầu nước tưới của cây trồng thay ñổi qua các giai ñoạn sinh trưởng phát triển và khác nhau theo ñiều kiện khí hậu của từng vùng, từng
vụ, từng năm, việc xác ñinh lượng nước cần tưới trong nghiên cứu cân bằng nước trên ñồng ruộng là cơ sở khoa học ñể xác ñịnh chế ñộ nước hợp lý cho cây trồng ñạt hiệu quả cao
Theo Trần Phương Diễm, ðỗ Lệ Cường, Lê Thị Nguyên (2001) kỹ thuật tưới dưỡng cho cây lúa như sau:
+ Khi cấy giữ lớp nước trong ruộng 2 -3 cm, cấy xong tưới lớp nước ngập 2/3 cây mạ
+ Từ bén rễ ñến ñẻ nhánh giữ lớp nước trung bình trong ruộng 2 – 3 cm + Thời kỳ làm ñốt, làm ñòng tưới lớp nước trung bình từ 5 – 7 cm
+ Thời kỳ trổ bông tưới lớp nước sâu 7 - 10cm
+ Sau khi ruộng lúa trỗ bông hoàn toàn giữ lớp nước trong ruộng 3 – 5 cm cho ñến khi lúa chín ñỏ ñuôi sau ñó rút nước cạn
Theo Dương Hải Sinh (2005) có kỹ thuật tưới nước cho lúa: tưới nước theo nông lộ phơi ( tức giai ñoạn cây hồi xanh giữ mức 30 – 50 mm, sau ñó phơi ruộng vào giai ñoạn ñẻ nhánh, những thời kỳ tiếp theo tưới nước theo diễn biến nước trên ruộng ) giữ ruộng cạn ( ñộ ẩm khoảng 70 % ) trong 10 ngày ñể quá trình oxy hóa trong tầng canh tác diễn ra thuận lợi, các khí ñộc trung hòa, các loại phân vô cơ, hữu cơ ñược vi sinh vật phân giải, rễ lúa có ñủ oxy, khỏa mạnh,
ăn sâu hút nhiều dinh dưỡng cho cây
Trang 24Các giai ñoan từ làm ñòng ñến ñỏ ñuôi chỉ cần giữ ẩm (ñộ ẩm từ 90 – 100%)
Từ ñỏ ñuôi ñến chín hoàn toàn chỉ cần nứt chân chim cho lúa ñứng cây, chống ñổ tốt
Nếu ñiều tiết chế ñộ nước như trên có thế tiết kiệm ñược 40 – 50% lượng nước, sâu bệnh giảm hẳn, tiết kiệm ñược 15 – 20 % lượng phân bón
Theo Nguyễn Duy Tính (1970) thì trong vụ xuân ñể ñạt ñược năng suất bình quân từ 2,3 – 4 tấn/ha thì tổng lượng nước tưới cần thay ñổi từ 350 – 450
mm trong suốt quá trình sinh trưởng ðạt giá trị cao nhất ñối với giống lúa IR8 là 6,8mm/ ngày ở giai ñoạn trổ bông với mức phân bón 40kg N/ha, khi năng suất tăng gấp ñôi thì tổng lượng nước cần tăng khoảng 9% ðối với vụ mùa, tổng lượng nước cần thay ñổi từ 564 – 580 mm Giống IR22 cần 7,5mm/ngày ở giai ñoạn trỗ khi lượng ñạm tăng lên gấp ñôi thì lượng nước tăng lên 14%
Theo Trần Ngọc Trang (2003) khuyến cáo: lúa cấy nên ñể xâm xấp nước sau ñó tháo nước vào 2 – 3 cm, từ bất ñầu ñẻ nhánh ñến chuẩn bị phân hóa ñòng thì tháo nước lộ ruộng 2 ñến 3 lần cho ñến khi cây lúa ñẻ nhánh cao nhất Thời kỳ phân hóa ñòng phải giữ nước thường xuyên 3 – 5cm, trỗ ñến chín luôn giữ nước ẩm ñể lúa có ñủ nước ñể cung cấp cho quá trình sinh trưởng của hạt không bị lép
Theo Nguyễn Hoài Nam và cs (2005) khi nghiên cứu hệ thống kỹ thuật thâm canh lúa SRI trong vụ xuân 2004 tại Thái Nguyên ñã cho các kết quả sau: chế ñộ nước tưới SRI làm tăng thời gian sinh trưởng của cây lúa từ 5 – 7 ngày, và làm tăng sức ñẻ nhánh của cây lúa.biện pháp kỹ thuật trong hệ thống thâm canh lúa cải tiến SRI trên ñất không chủ ñộng nước
Theo ðoàn Doãn Tuấn (2008) trong ñiều kiện thâm canh cải tiến (SRI) tốt nhất là tưới luân phiên giữa cấp 2-3 cm nước xen kẽ với ñộ ẩm tối ña ñồng ruộng
từ khi cấy ñến giai ñoạn trổ ñòng, sau ñó lại tưới luân phiên xen kẽ giữa ñộ ẩm tối ña ñồng ruộng và ñể ẩm ñất từ 60-80% ñộ ẩm tối ña ñồng ruộng
Trang 25Theo kết quả nghiên cứu mô hình sản xuất lúa ứng dụng kỹ thuật 3 tăng 3 giảm/ SRI ở Vĩnh Phúc (2005 – 2009), năm 2008 – 2009 thực hiện chế ñộ nước tưới như sau: - Cày, bừa ñể lắng bùn 4- 5 giờ sau mới cấy, cấy nông tay, giai ñoạn sinh trưởng sinh dưỡng: sau khi bón thúc lần 1: 6-7 ngày rút cạn nước trong vòng 7 -10 ngày sau ñó cho nước vào ruộng với mực nước 3-4cm khoảng 7 -10 ngày, giai ñoạn sinh trưởng sinh thực từ 40 -45 ngày sau cấy cho nước vào ruộng giữ mực nước 4-5cm ñến trước khi gặt 15-20 ngày Sau
ñó rút cạn nước ñến khi gặt Kết quả thu ñược là ở ruộng lúa theo quy trình trên lúa ñẻ nhánh tập trung, kết thúc ñẻ nhánh sớm còn ở công thức ruộng theo tưới ngập truyền thống thì thời gian lúa ñẻ nhánh kéo dài, kết thúc ñẻ nhánh muộn và
tỷ lệ dãnh vô hiệu cao
Theo Nguyễn Xuân Thành và cs (2010) thì tưới ngập ẩm luân phiên trong thời kỳ ñẻ nhánh năng suất lúa cao hơn so với tưới ngập thường xuyên trong canh tác lúa truyền thống
Khi ñánh giá hiệu quả sử dụng nước trên ñồng ruộng các nhà khoa học ñều cho rằng: duy trì chế ñộ tưới nông thường xuyên, dùng mức tưới nhỏ, tưới ngập ẩm xen kẽ và rút nước trước khi thu hoạch 10 – 15 ngày là tiết kiệm nước và ñạt hiệu quả kinh tế cao
Theo Hoàng Văn Phụ (2012) khi nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trong hệ thống thâm canh SRI trên ñất không chủ ñộng nước tại huyện võ nhai, Thái Nguyên vụ mùa 2011, cho kết quả khi cấy thưa (25 khóm/ m2 và 33 khóm/
m2) và chế ñộ tưới SRI cho số nhánh trên khóm cao hơn công thức cấy 50 khóm/
m2 và chế ñộ tưới truyền thống Trong ñiều kiện chủ ñộng nước cũng như trong ñiều kiện không chủ ñộng nước thì cấy thưa và mực nước thấp ñã thúc ñẩy khả năng ñẻ nhánh của cây lúa Chế ñộ tưới và mật ñộ cấy cũng ảnh hưởng ñến ñường kính và chiều dài rễ lúa, quản lí nước theo tập quán của nông dân giữ nước liên tục trên mặt ruộng kể cả giai ñoạn lúa ñứng cái, cách quản lí này ñã
Trang 26theo mật ñộ 25 khóm/ m2 có chiều dài rễ lớn nhất (37,90 m/khóm), nguyên nhân
là có thể do cấy thưa và chế ñộ nước theo SRI thấp cung cấp ñủ oxy ñể kích thích
rể ra dài cây lúa có thể hút nước và dinh dưỡng ở tầng ñất sâu hơn Kết quả cũng cho thấy ở chế ñộ tưới theo SRI và cấy thưa cho khối lượng chất khô tích lũy của của bộ rễ cao hơn cấy dày và chế ñộ tưới ngập truyền thống Chế ñộ tưới và mật
ñộ cấy cũng ảnh hưởng ñến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thực thu:
+ Chế ñộ nước theo SRI làm tăng số bông/m2, cấy thưa và chế ñộ nước thích hợp làm tăng năng suất lý thuyết
+ Về năng suất thực thu: là mục tiêu quan trọng nhất nó phản ánh tổng hợp các kết quả thu ñược trong ñiều kiện nhất ñịnh Kết quả nghiên cứu cho thấy chế
ñộ nước theo SRI và mật ñộ cấy 33 khóm/ m2 cho năng suất cao hơn ñối chứng
là tưới ngập truyền thống và cấy dày Kết quả này ñược lý giải là do cấy thưa và
có chế ñộ nước hợp lý ñã tạo cho bộ rễ lúa phát triển xuống tầng ñất sâu, làm cho lúa hút ñược nhiều dinh dưỡng hơn qua ñó làm cho lúa ñẻ khỏe, tỷ lệ nhánh hữu hiệu cao, số hạt chắc trên bông lớn hơn do ñó ñã quyết ñịnh năng suất cao hơn
Theo Phạm Tất Thắng, Lê Văn Hùng (2012) ñưa ra quy trình tưới nông –
lộ –phơi cho Hà Nội như sau:
Thời kỳ ñổ ải: trong vòng 3-5 ngày ñầu, thường xuyên duy trì một lớp nước mặt ruộng từ 3-5 cm
Thời kỳ tưới dưỡng:
+ Giai ñoạn 1(10 ngày ñầu sau khi cấy): thường xuyên duy trì một lớp nước mặt ruộng từ 3 ñến 5 cm nhằm hạn chế cỏ dại
+ Giai ñoạn 2 (giai ñoạn ñẻ nhánh hữu hiệu):tưới ñến lớp nước mặt ruộng tối ña là 5 cm, ñể khô tự nhiên với thời gian phơi ruộng là 5-6 ngày, sau ñótưới ñợt tiếp theo
+ Giai ñoạn 3 (giai ñoạn cuối ñẻ nhánh): phơi ruộng ñể hạn chế ñẻ nhánh, thời gian phơi ruộng khoảng từ 10 ñến 15 ngày
+ Giai ñoạn 4 (Giai ñoạn ñứng cái-làm ñòng): tưới như giai ñoạn 2
Trang 27+ Giai ñoạn 5 (giai ñoạn trỗ bông-phơi màu): trong giai ñoạn này ruộng cạn nước thì tưới ngay
+ Giai ñoạn 6(giai ñoạn chắc xanh-chín): tưới như giai ñoạn 2, khoảng 15
ngày trước khi thu hoạch, ngừng tưới
2.4 Những nghiên cứu về mô hình thâm canh lúa cải tiến SRI trên thế giới
và ở Việt Nam
2.4.1 Những nghiên cứu về mô hình thâm canh lúa cải tiến SRI trên thế giới
SRI lần ñầu tiên phát triển ở Madagasca những năm 1980 bởi một người pháp cha Cha Henri de Laulanie ðến năm 1997 nó ñã ñược phát triển ở nhiều nước trên thế giới Phương pháp SRI ñã ñược làm thử ở nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc, In-do-ne-xi-a, Thái Lan, Campuchia, Ấn ðộ, Sri Lanca, Bangladet … Năm 2003 ñã có trên một triệu dân thực hiện phương thức canh tác này Cha Henri de Laulanie ñã nhìn thấy SRI như một biện pháp ñóng góp cho sự phát triển của con người hơn là chỉ cho ngành sản xuất lúa Nông dân ñược khuyến khích thử hệ thống này và chấp nhận nó, làm cho nó trở thành của chính
họ [http://www.sri-india.net]
Nguyên tắc:
SRI ñược hình thành là dựa trên việc quan sát trồng lúa trong ñiều kiện có tưới
Hệ thống này có thể phù hợp với không chỉ có lúa cấy mà còn phù hợp với lúa gieo thẳng Với lúa cấy, năng suất lúa sẽ cao hơn khi chú ý ñến các vấn ñề sau:
Trang 28- Tiêu nước tốt và thoáng khí trong thời kỳ sinh trưởng (thời kỳ ñẻ nhánh)
- ðất có hoạt tính sinh học cao và có nhiều vi sinh vật sống
Cây lúa cũng như các sinh vật khác ñều có nhu cầu về oxy, ñất luôn bị ngập nước dẫn ñến tình trạng thiếu oxy cho rễ lúa Cũng tương tự như vậy, nhiều
vi sinh vật có lợi cho sự sinh trưởng của cây lúa cũng cần oxy ñể sinh sống
Những biện pháp của SRI là ngược với kỹ thuật trồng lúa ñược hiểu như từ trước ñến nay Những kỹ thuật này là:
- Lúa sinh trưởng tốt nhất trong ñiều kiện ñất ngập liên tục ðiều này là không ñúng Nước ngập liên tục làm cho rễ lúa bị chết sau 1 - 2 tuần trong thời gian trỗ, khoảng ½ bộ rễ lúa bị suy thoái hạn chế việc lấy dinh dưỡng của rễ làm cho cây lúa chống ñổ kém hơn
- Cấy nhiều dảnh sẽ làm tăng năng suất Thực tế, cấy dày sẽ làm hạn chế sinh trưởng của rễ và tán lá làm cho chúng sinh trưởng kém hơn, khả năng chống chịu với sâu bệnh bị suy giảm Cấy ít dảnh nhưng dảnh khỏe mạnh hơn sẽ tạo ñiều kiện có năng suất cao hơn
- Cấy mạ già sẽ làm cho cây lúa sinh trưởng tốt hơn Nhưng trong thực tế, cấy mạ non sẽ có bộ rễ sinh trưởng tốt hơn và tạo ra nhiều bông hơn, có khả năng chống chịu tốt hơn với thiếu nước và tạo ra nhiều hạt hơn
SRI với một tư tưởng mới là làm sao ñể người nông dân giúp cho cây lúa sinh trưởng tốt nhất Những biện pháp của SRI ñược thực hiện một cách ñồng bộ sao cho khi tăng một yếu tố này sẽ giúp cho việc tăng các yếu tố khác và ngược lại yếu tố thứ hai lại giúp cho tăng yếu tố thứ nhất Trong trường hợp cây lúa, có nhiều rễ hơn sẽ tạo ñiều kiện có nhiều dảnh và lá hơn, có nhiều dảnh và lá hơn sẽ tạo ñiều kiện ñể rễ phát triển tốt hơn
Các biện pháp kỹ thuật:
Các biện pháp kỹ thuật ñược SRI ñề nghị là tương ñối ñơn giản và dễ áp dụng
Trang 29Làm ñất
Không có thay ñổi nào so với biện pháp làm ñất từ trước ñến nay, nhưng cần chú ý là ñồng ruộng nên bằng phẳng sao cho nước có thể ñược tưới ñồng ñều trên khắp mặt ruộng trong suốt thời kỳ sinh trưởng của cây lúa ðiều này sẽ tiết kiệm nước và tạo ñiều kiện ñể nông dân giữ ñất ẩm hợp lý không có lớp nước ñứng trên mặt ruộng
- Cây mạ ñược ñặt cẩn thận trên ñồng ruộng, sâu trong bùn 1 - 2 cm
- ðầu rễ ñặt theo chiều ngang, không ñược nhấn sâu vào ñất
Cấy như vậy là rất khó nếu như cấy nhiều dảnh trên một khóm nhưng với SRI vì cấy ít dảnh hơn thì có thể thực hiện ñược Cấy ít dảnh hơn nhưng SRI vẫn cho năng suất cao hơn Những người nông dân áp dụng thành công phương pháp này có thể thu ñược từ 2000kg ñến 3000kg thóc từ 1kg thóc giống
Cấy với khoảng cách rộng: có nghĩa là chỉ cấy một dảnh/khóm thay vì cấy
3, 4, 5 dảnh hoặc nhiều hơn Cấy một dảnh sẽ có nhiều khoảng trống hơn cho bộ
rễ sinh trưởng Cấy nhiều dảnh trên một khóm sẽ dẫn tới cạnh tranh nhau và bộ
rễ sẽ phát triển kém
Theo kỹ thuật SRI, lúa ñược cấy theo kiểu ô vuông hơn là cấy theo hình
Trang 30không gian hơn ñể phát triển, thu nhận ánh sáng và các chất dinh dưỡng Bước ñầu nên cấy với khoảng cách 25 × 25 cm, nhưng nếu như ñất tốt có thể cấy với khoảng cách rộng hơn, ít dảnh hơn sẽ cho năng suất cao hơn thậm chí với khoảng cách 30 × 30 cm hoặc 40 × 40 cm Năng suất cao nhất ñạt ñược khoảng cách 50
× 50 cm trong trường hợp ñất tốt và ñã thực hiện SRI vài năm
Quản lý nước
ðể ñảm bảo rễ lúa sinh trưởng khỏe, không nên giữ một lớp nước trên mặt ruộng, ít nhất cho ñến thời kỳ ñẻ nhánh bắt ñầu phân hóa ñòng Biện pháp rút nước ở thời ñiểm ñẻ nhánh có ý ngĩa rất lớn trong việc tiết kiệm nước, bên cạnh
ñó nó còn tạo ñiều kiện cho oxy tiếp xúc trực tiếp với ñất, làm giảm ñộ chua, giảm chất ñộc trong ñất, tăng cường chuyển hóa các chất khó tiêu thành chất dễ tiêu ñồng thời giúp cho bộ rễ cây lúa khỏe, tăng khả năng lấy chất dinh dưỡng Rút cạn nước trong giai ñoạn này tạo ñiều kiện cho ánh sáng chiếu trực tiếp vào gốc lúa, kích thích và thúc ñẩy khả năng ñẻ nhánh tối ña Sau thời kỳ phân hóa ñòng, giữ một lớp nước mỏng trên mặt ruộng với ñộ sâu 1 - 2cm và tháo kiệt nước trước khi thu hoạch 10- 20 ngày
Hạn chế chủ yếu của SRI là khả năng quản lý nước và việc tước nước cho lúa khi cần thiết Khi ñể ngập nước liên tục có tác dụng làm giảm cỏ dại và lo sợ
bị thiếu nước nên người nông dân tìm cách tích trữ nước trong ruộng lúa của mình Cách làm này dẫn ñến làm giảm sự sinh trưởng của rễ
Trừ cỏ
Khi trên ñồng ruộng không có lớp nước ngập sẽ tạo ñiều kiện cho cỏ dại phát triển mạnh hơn Làm cỏ bằng tay hoặc sử dụng thuốc trừ cỏ là phù hợp, nhưng tốt nhất nên làm cỏ bằng tay ðây không phải là cách trừ cỏ duy nhất nhưng nó làm ñất thoáng khí và vùi cỏ dại vào trong ñất ñể các chất dinh dưỡng không bị mất Làm cỏ sớm trước khi cỏ mọc và sục bùn kỹ ñể khống chế hạt cỏ nảy mầm và kết hợp vùi phân vào trong ñất sẽ hạn chế việc rửa trôi phân bón, giải phóng chất ñộc trong ñất, tăng cường oxy trong rễ, giúp cho bộ rễ phát triển
Trang 31cho nên ngay sau khi bón phân thúc xong cần tiến hành làm cỏ, sục bùn ngay Nên hạn chế phun thuốc trừ cỏ ñối với lúa cấy vì thuốc sẽ làm ảnh hưởng ñến quá trình ñẻ nhánh hữu hiệu trong 15 ngày ñầu, bên cạnh ñó việc sủ dụng thuốc trừ cỏ còn gây ảnh hưởng ñến môi trường Lần làm có thứ nhất ñược tiến hành 10
- 12 ngày sau cấy, trước khi cỏ sinh trưởng mạnh và sau ñó cứ 10 - 12 ngày làm
cỏ một lần cho ñến khi lúa kín hàng, cỏ dại không có khả năng sinh trưởng nữa
Cấy theo ô vuông cho phép sử dụng công cụ bằng tay ñể trừ cỏ theo hai hướng ðiều này cho thấy cấy hàng rộng sẽ tạo ñiều kiện có lợi cho cây sinh trưởng và tăng năng suất
Phân bón
Ban ñầu SRI phát triển ñể sử dụng phân hóa học nhưng khi phân hóa học
trở nên quá ñắt ñối với người nông dân, phân ủ ñược sử dụng ñể thay thế có kết quả tốt hơn Phân hóa học có thể ñược sử dụng với SRI, nhưng tốt hơn là sử dụng phân ủ hoặc phân xanh nếu có thể vì mang lại tác dụng có lợi hơn cho hoạt ñộng của vi sinh vật
Bảo vệ thực vật
Sử dụng phương pháp SRI thường thấy rằng mức ñộ lúa bị sâu, bệnh
giảm Nông dân cho thấy rằng việc sử dụng thuốc trừ sâu và trừ bệnh ít hơn vì cây sinh trưởng khỏe hơn, khả năng chống chịu cao hơn Tuy nhiêu, ñiều này còn phụ thuộc vào ñiều kiện từng nơi
2.4.2 Những nghiên cứu về mô hình thâm canh lúa cải tiến SRI ở Việt Nam
Thay ñổi tập quán canh tác lúa truyền thống Áp dụng mô hình thâm canh lúa cải tiến SRI cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao ñối với hộ nông dân trồng lúa tại các tỉnh miền Trung và một số tỉnh phía Bắc của Việt Nam
SRI ñược ñưa vào Việt Nam từ cuối năm 2003 nhưng chủ yếu dưới hình thức thí nghiệm, mô hình nhỏ, có khoảng 3.500 nông dân tham gia sau 3 năm thực hiện
Trang 32Năm 2006, Oxfam Mỹ tài trợ chính phối hợp cùng Cục Bảo vệ Thực vật (Bộ NN&PTNT), Trung tâm Phát triển Nông thôn Bền vững (SRD) và Oxfam Québec triển khai Chương trình Hệ thống canh tác lúa cải tiến (SRI) - Nâng cao năng lực cho người dân trồng lúa quy mô nhỏ ở miền Bắc Việt Nam (chương trình SRI) tập trung vào 6 tỉnh ñiểm là Hà Nội, Phú Thọ, Yên Bái, Thái Nguyên, Nghệ An và Hà Tĩnh Bộ NN&PTNT ñã công nhận SRI là một tiến bộ kỹ thuật mới trong sản xuất lúa và ñược mở rộng hơn 2500 ha diện tích trên ñịa bàn tỉnh
Hà Tây, Nghệ An là 1500 ha, Hà Tĩnh là 2100 ha
Năm 2007 mở rộng tỉnh Thái Nguyên và Phú Thọ, hiệu quả của mô hình trình diễn ñược bà con tham quan và ñánh giá rất cao Vụ xuân năm 2007 Hà Tây
ñã ñưa ra ñại trà ñược 5000 ha
Năm 2008 tỉnh Hà Tây là ñịa phương ñi ñầu trong áp dụng SRI với 33.000ha vụ xuân và 35.000 ha vụ mùa
Năm 2009, SRI tiếp tục ñược mở rộng 5 tỉnh Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam ðược lãnh ñạo các ñịa phương khẳng ñịnh, mô hình canh tác lúa cải tiến SRI sẽ giúp bà con nông dân giảm ñược chi phí các loại như: Phân bón, thuốc bvtv, nước và cải thiện ñược tình trạng ô nhiễm môi trường lâu nay
Theo báo cáo tại hội thảo SRI quốc gia (2011), trong năm 2010 có 440.833 nông dân ở 21 tỉnh sử dụng phương pháp SRI trên 232.365 ha (85.422 trong mùa ñông xuân và 146.943 vào mùa hè báo cáo Hội thảo lưu ý rằng 20 %a nông dân
ñã sử dụng bộ ñầy ñủ của SRI thực hành, và phần còn lại ñược sử dụng hầu hết nếu không phải tất cả, nhưng vẫn nhận ñược lợi ích của sản lượng cao hơn với chi phí thấp hơn và sử dụng ít nước áp dụng SRI giúp nông dân kiếm ñược 1.8- 3.5 triệu ñồng (100-200 USD) cho mỗi ha
Báo cáo ñánh giá của Bộ NN & PTNN về SRI ñóng một vai trò rất quan trọng trong phát triển bền vững về canh tác lúa nước ở Việt Nam Báo cáo ñưa ra khuyến nghị “SRI nên ñược phát triển một cách rộng rãi hơn nữa ñể ñem lại lợi ích cho nhiểu nông dân hơn…Cây lúa khỏe hơn ñể có thể kháng chịu tốt với sâu bệnh trên ñồng ruộng” Sản lượng bình quân tăng từ 9- 15% so với phương pháp
Trang 33canh tác tập quán hiện nay, ñồng thời tiết kiệm ñược 70 - 90% giống, 20 - 25% lượng phân ñạm và giảm 1/3 lượng nước tưới tiêu
Ứng dụng thâm canh lúa cải tiến là giải pháp kỹ thuật ñể thực hiện nội dung “ba giảm ba tăng” trong sản xuất lúa ở các tỉnh phía Bắc
Từ những kết quả trên cho thấy nếu áp dụng ñúng các giải pháp, cách tổ chức thực hiện chương trình thâm canh lúa cải tiến thì sẽ có ruộng lúa khỏe, tiết kiệm lượng phân ñạm, sâu bệnh ít, giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, hiệu quả kinh tế cao, chất lượng sản phẩm tốt, bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng ñồng Như vậy, nếu 100% diện tích gieo cấy của các tỉnh vùng ñồng bằng sông Hồng bón tiết kiệm mỗi sào một kg ñạm mỗi vụ và giảm phun thuốc mỗi vụ thì trong một năm sẽ tiết kiệm ñược 140 tỷ ñồng không phải mua phân ñạm và 120 tỷ ñồng không phải mua thuốc bảo vệ thực vật, ñó là chưa kể ñến bảo vệ môi trường sinh thái và sức khỏe cộng ñồng
Trang 343 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
Giống lúa Khang dân 18, là giống lúa thuần nhập nội từ Trung Quốc Khang dân 18 ñược công nhận giống theo Quyết ñịnh số 1659 Qð/BNN-KHCN, ngày 13 tháng 5 năm 1999
Khang dân 18 là giống lúa ngắn ngày, thời gian sinh trưởng ở trà Xuân muộn là 135 - 140 ngày, ở trà Mùa sớm là 105 - 110 ngày, ở trà Hè thu là 95 ngày Hiện nay, khang dân 18 là giống lúa ñược trồng phổ biến tại vùng ñồng bằng bắc bộ
3.2 ðịa ñiểm và thời gian nghiên cứu
- ðịa ñiểm nghiên cứu: Khu thí nghiệm ñồng ruộng khoa Nông học, trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1 năm 2012 ñến tháng 11 năm 2012 (Vụ Xuân 2012 và vụ mùa 2012)
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Thí nghiệm tiến hành với 3 mực nước tưới khác nhau từ khi cấy ñến khi trổ bông Như sau
W1: Giữ ñất ẩm, mực nước bề mặt ruộng từ 0 ñến 1 cm, tưới xấp mặt ruộng khi ñất có hiện tượng nứt nẻ
W2: Luôn giữ mực nước bề mặt ruộng từ 2 ñến 4 cm
W3: Luôn giữ mực nước bề mặt ruộng 5 - 7 cm
- Theo dõi ảnh hưởng của mực nước tưới ñến một số chỉ tiêu nông học và sinh lý như: chiều cao cây, khả năng ñẻ nhánh, chỉ số SPAD, diện tích lá, khối lượng chất khô tích lũy, các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất thực thu
Trang 35- Theo dõi ảnh hưởng của mực nước tưới ñến tình hình phát sinh, phát triển của cỏ dại và sâu bệnh hại trên ruộng
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Trang 36Sơ ñồ bố trí thí nghiệm vụ mùa năm 2012
NL1 NL2 NL3
3.4.2 Các biện pháp kĩ thuật áp dụng theo quy trình thâm canh lúa cải tiên SRI
- ðắp bờ, chia ô: dùng nilon chôn sâu 15 cm ñể giữ nước và giữ phân
- Làm mạ:
+ Làm ñất gieo mạ: ðất khô ñập nhỏ trộn phân bón lót
+ Chuẩn bị mạ, gieo mạ khi mầm nhú
+ Gieo mạ bằng phương pháp mạ khô và có các biện pháp chống rét cho
mạ như che phủ nilon, ñiều tiết nước trên ruộng
- Cấy: ( Cấy vụ xuân ngày 01/3/2012, vụ mùa cấy ngày 21/07/2012)
+ Cày bừa kĩ ñất cho nhuyễn, bằng phẳng, làm sạch cỏ dại
+ Cấy: cấy sau gieo 12 ngày, khi mạ có 2,5 lá, cấy khoảng cách 25 × 25 cm, cấy một dảnh
W2 W3
W1 W2
Trang 37Bón lót: 100% phân chuồng và phân lân, 30% N
Bón thúc: chia làm 2 thời kỳ
Thời kỳ thứ nhất: Bón thúc ñẻ nhánh, khi lúa bén rễ hồi xanh (sau cấy khoảng 10 ngày) bón 50%N và 50% K2O
Thời kỳ thứ 2: Bón nuôi ñòng, trước trổ 15 - 20 ngày bón 20% N + 50% K2O
- Tưới nước: tùy theo từng công thức mà ñiều chỉnh mực nước tưới cho
phù hợp
- Làm cỏ: làm cỏ 4 lần/vụ, bắt ñầu tiến hành sau cấy 10 ngày và cứ cách
10 ngày lại làm cỏ 1 lần ñến hết thời kì ñẻ nhánh
3.4.3 Các chỉ tiêu theo dõi
- Sau khi cấy thì cắm cọc và quây dây một ô 5m2 (2×2,5 m2) ở giữa ô 50 m2,
cố ñịnh ô này và không ño ñếm các chỉ tiêu sinh trưởng trong ô 5 m2 này Thu hoạch ô 5m2 ñế tính năng suất thực thu
- Chỉ tiêu sinh trưởng: theo dõi 2 tuần/lần, chọn 12 cây/ô, chọn ngẫu nhiên ở
3 vị trí không gần bờ và xung quanh có các cây sống, mỗi vị trí chọn 4 cây theo hình vuông và cố ñịnh ño các chỉ tiêu sinh trưởng trên các cây này Theo dõi các chỉ tiêu:
+ Chiều cao cây: ðo từ mặt ñất ñến ñầu mút lá cao nhất
+ Số nhánh ñẻ/ khóm : ðếm số nhánh ñẻ của từng cây
Tỷ lệ nhánh hữu hiệu = Số nhánh hữu hiệu/ số nhánh tối ña
+ Số lá trên thân chính: ðếm số lá sinh ra trên thân chính trong thời gian theo dõi, ñánh dấu bằng sơn vào lá cuối cùng của lần theo dõi trước, lần sau cộng thêm số lá mới (từ giai ñoạn mạ ñến hết lá ñòng)
- Chỉ tiêu sinh lý: Theo dõi ở 3 thời kỳ: ðẻ nhánh hữu hiệu (30 ngày sau cấy), trỗ, chín sáp (13 - 15 ngày sau trỗ) Chọn 12 cây/ô, chọn ngẫu nhiên ở 3 vị trí không gần bờ và xung quanh có các cây sống, mỗi vị trí chọn 4 cây theo hình vuông Theo dõi các chỉ tiêu:
Trang 38+ Chỉ số SPAD: một chỉ số tương quan thuận với hàm lượng chlorophyl trong
lá Sử dụng máy ño SPAD 502, Nhật Bản, ño ở lá ñã mở hoàn toàn ở trên cùng, mỗi lá ño ở 3 vị trí
+ Diện tích lá: ño bằng máy ño diện tích lá Licor Area-3100
+ Khối lượng chất khô tích lũy: Tách riêng khối lượng thân, lá, rễ, bông ra; sấy khô 48 giờ ñến khối lượng không ñổi và ñem cân
- Chỉ tiêu về cỏ dại: theo dõi lấy mẫu 1 lần ở thời kỳ ñẻ nhánh hữu hiệu
- Các chỉ tiêu về sâu bệnh: Theo dõi, quan sát các loại sâu bệnh hại xuất hiện trong quá trình thí nghiệm theo ñánh giá của IRRI 2002
+ Sâu: loại sâu (sâu cuốn lá, rầy nâu ), thời gian xuất hiện, gây hại vào thời
kì nào của lúa, mật ñộ sâu, mức ñộ hại
Rầy nâu (Ninaparvata lugens)
0 Không bị hại
1 Hơi biến vàng trên một số cây
3 Lá biến vàng bộ phận, chưa bị "cháy rầy"
Trang 39+ Bệnh: loại bệnh (bệnh bạc lá, ñạo ôn, khô vằn ), thời gian xuất hiện, tỉ lệ bệnh, chỉ số bệnh ( sử dụng thang phân cấp bệnh ñối với từng bệnh cụ thể)
Bệnh khô vằn (Rhizoctonia solani)
0 Không có vết bệnh
1 Vết bệnh nằm thấp hơn 20 % chiều cao cây
3 Vết bệnh từ 20 - 30% chiều cao cây
5 Vết bệnh từ 31- 45% chiều cao cây
7 Vết bệnh từ 46 - 65% chiều cao cây
9 Vết bệnh trên 65% chiều cao cây
Trang 40Lấy mẫu 12 cây trong ô 50m2 và ño ñếm các chỉ tiêu năng suất và các yếu
tố cấu thành năng suất
+ Số bông hữu hiệu trên từng khóm
+ Số hạt trên bông: Lấy toàn bộ bông trên cây, tách hạt ra khỏi bông rồi ñếm số hạt chắc, số hạt lép của từng bông rồi lấy giá trị trung bình
+ Số bông trên m2: ðếm số bông của 12 cây, lấy giá trị trung bình rồi quy
ra số bông trên m2
+ Khối lượng 1000 hạt: sau khi sấy hạt ñến ñộ ẩm 13% ñếm 500 hạt với 2 lần nhắc lại cân ñược M1, M2, nếu sai số tương ñối giữa các giá trị này với giá trị trung bình <5%, thì P1000 hạt ñược tính như sau:
P1000 hạt = (M1+ M2), nếu >5% thì phải bỏ ñi lấy mẫu khác)
+ Năng suất lý thuyết (NSLT) (tạ/ha)
NSLT (tạ/ha) = Số bông/m2 x Số hạt/bông x Tỷ lệ hạt chắc x P1000 hạt + Năng suất sinh vật học (NSSVH): Khối lượng khô toàn bộ phần thu ñược trên mặt ñất
+ Năng suất thực thu: Gặt ô 5 m2 ñã chọn tuốt hạt, phơi khô ñến ñộ ẩm 13%, sàng sạch cân lấy năng suất thực thu
3.4.4 Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu ñược phân tích phương sai ANOVA bằng phần mềm IRRISTAT 5.0 và chương trình excel