trên đàn lợn tại các xã của huyện Điện Biên 52 Trang 9 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii DANH MỤC HÌNH STT Tên hình Trang 1.1 Một số vật
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THANH TÙNG
XÁC ĐỊNH YẾU TỐ NGUY CƠ, ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH NHIỄM
ĐIỆN BIÊN VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG
Trang 2Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã chỉ
rõ nguồn gốc
Ngày 10 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thanh Tùng
Trang 3Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp Cơ quan Thú y vùng I- Cục Thú y Chi cục Thú y Sơn La, Điện Biên, các Trạm Thú y huyện, UBND các huyện, UBND các xã thực hiện đề tài
Gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi
Ngày 10 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thanh Tùng
Trang 4Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.2.1 Tình hình nhiễm Trichinella spp trên thế giới 19
1.2.2 Tình hình nhiễm Trichinella spp tại Việt Nam 22
Trang 5Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ
2.1 Đối tuợng, địa điểm và nội dung nghiên cứu 31
2.3.3 Phương pháp Elisa phát hiện kháng thể Trichinella spp 33
3.1 Tình hình và phương thức chăn nuôi lợn tại huyện Phù Yên, Bắc Yên-
Sơn La và huyện Điện Biên – Điện Biên 38
3.3 Tình hình nhiễm Trichinella spp tại các huyện 43
3.3.1 Tình hình nhiễm Trichinella spp tại huyện Phù Yên 44
3.3.2 Tình hình nhiễm Trichinella spp tại huyện Bắc Yên 47
Trang 6Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v
3.3.3 Tình hình nhiễm Trichinella spp tại huyện Điện Biên 51
3.3.4 So sánh tình hình nhiễm Trichinella spp tại các huyện 53
3.3.5 Tình hình lợn nhiễm Trichinella spp theo phương thức chăn nuôi 55
3.3.6 Tình hình lợn nhiễm Trichinella spp theo lứa tuổi 56
3.3.7 Tình hình lợn nhiễm Trichinella spp theo giới tính 58 3.4 Kết quả xét nghiệm ấu trùng Trichinella spp 59
3.4.1 Kết quả xét nghiệm phát hiện ấu trùng Trichinella spp 59
3.4.2 Kết quả định lượng ấu trùng Trichinella spp 60 3.5 So sánh một số phương pháp chẩn đoán bệnh Trichinellosis 61 3.6 Biện pháp phòng chống bệnh do Trichinella spp gây ra 63
Trang 7Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
EC : European Commission (Ủy ban liên minh Châu Âu)
ELISA : Enzym Linked Immuno Sorbent Assay
EU : European Union (Liên minh Châu Âu)
FAO : Food and Agriculture Organization of the United Nations
OIE : World Organisation For Animal Health
PCR : Polymerase Chain Reaction
Tna : Trichinella nativa
Tne : Trichinella nelsono
Tpa : Trichinella papuae
Tps : Trichinella pseudospiralis
Tsp : Trichinella spiralis
Tzi : Trichinella zimbabwensis
WHO : World Health Organization
Trang 8Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii
Trang 9Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii
DANH MỤC HÌNH
1.1 Một số vật chủ trong vòng đời phát triển của Trichinella spp 4 1.2 Vòng đời phát triển của Trichinella spp trong cơ thể vật chủ 5
1.4 cấu tạo giải phẫu ấu trùng Trichinella 8 1.5 Cấu tạo giải phẫu Trichinella đực 9 1.6 Cấu tạo giải phấu Trichinella cái 10 1.7 Sự phân bố của một số loài Trichinella spp.: Tpa, TpsN, TpsP, Tsp, Tzi 13 1.8 Sự phân bố của một số loài Trichinella spp.: Tna,Tb,Tm,Tne,T6, T8, T9 13 1.9 Tình hình Trichinella spp gây bệnh trên thế giới 19 1.10 Tình hình Trichinella spp gây bệnh ở Việt Nam 22 1.11 Ấu trùng Trichinella spp dùng phương pháp Trichinelloscopy 26 1.12 Ấu trùng Trichinella dùng phương pháp tiêu cơ 27
Trang 10Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ix
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
3.1 Tình hình chăn nuôi lợn các huyện 39 3.2 Tỷ lệ lợn nhiễm Trichinella spp tại 9 xã của 3 huyện 54
Trang 11Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nhiệt đới, gió mùa, có điều kiện tự nhiên, hệ động, thực vật phong phú; điều kiện xã hội đa dạng, trong đó có tập quán chăn nuôi gia súc, gia cầm gần với người hay sống chung với người còn phổ biến, tập quán ăn uống, sinh hoạt nhiều khi còn mất vệ sinh,… Tất cả những yếu tố đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh ký sinh trùng lưu hành và phát triển, đặc biệt là bệnh ký sinh trùng truyền lây giữa người và động vật Bệnh đã gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người, nhiều trường hợp còn gây tử vong
Bệnh ký sinh trùng truyền lây giữa người và động vật ở Việt Nam lưu hành trên toàn quốc, trong đó bao gồm ký sinh trùng truyền qua thức ăn là động vật, ký sinh trùng truyền qua thực vật, ký sinh truyền qua đất và ký sinh trùng truyền qua da với cơ cấu thành phần loài hết sức đa dạng, thậm chí còn có nhiều loài mới chưa được xác định Một số địa phương, khoảng 90% dân số bị nhiễm
ký sinh trùng truyền lây giữa người và động vật, song việc chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh còn chưa được quan tâm đúng mức (Nguyễn Văn Đề và Phạm văn Khuê, 2009) Vì vậy, bệnh ký sinh trùng truyền lây giữa người và động vật ở nước ta càng ngày càng phát hiện được nhiều hơn về diện phân bố và những ca bệnh chẩn đoán nhầm với bệnh khác hoặc thậm chí bị tử vong do bệnh ký sinh trùng vẫn thường xảy ra như: Bệnh Gạo lợn, bệnh Sán lá gan nhỏ, Sán lá ruột
lợn, bệnh Sốt rét, … , đặc biệt bệnh Trichinellosis (bệnh Giun xoắn) do
Trichinella spp gây ra
Trichinella spp (giun xoắn, giun bao) là loại ký sinh trùng gây bệnh truyền lây giữa người và động vật (bệnh Trichinellosis), đây là một loại giun tròn
rất nhỏ, giun trưởng thành ký sinh ở thành ruột, ấu trùng cuộn tròn tạo thành kén trong cơ thịt của động vật (Nguyễn Văn Đề và Phạm văn Khuê, 2009) Khi người
ăn phải thịt nhiễm ấu trùng của Trichinella spp thì rất dễ nhiễm bệnh
Trichinella spp gây bệnh phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới, bệnh
Trichinellosis ở người được ghi nhận tại 55 quốc gia trên thế giới chiếm tỷ lệ
Trang 12Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2
27,8% (Pozio, 2007a) Theo ước tính, đến năm 2000 có 11 triệu người đã nhiễm
Trichinella spp từ khi ký sinh trùng này được phát hiện (Dupou-Camet, 2000)
Theo báo cáo của Ủy ban Trichinellosis từ tháng 01 năm 1995 đến tháng 06 năm
1997 có 10300 người mắc bệnh trên thế giới, tỷ lệ tử vong vào khoảng 0,2%
(Pozio, 2007b; Dupou-Camet, 2000) Đối với động vật nuôi Trichinella spp gậy
bệnh chủ yếu ở lợn và được ghi nhận ở 43 quốc gia, chiếm tỷ lệ 21,9% Với động
vật hoang dã Trichinella spp gây bệnh tại 66 quốc gia, chiếm 33,3% (Pozio,
2007a)
Ngày nay, thịt lợn là nguồn lây truyền bệnh Trichinellosis chủ yếu cho
con người Tại các nước Mỹ, Canada, khối EU và một số nước khác yêu cầu
kiểm tra Trichinella spp trong thịt trước khi cung cấp ra thị trường tiêu thụ cả
trong nước và xuất khẩu Theo Quy định số 2075/2005 của Ủy ban châu Âu (EC), lợn, ngựa, lợn rừng và động vật khác giết mổ tại 27 quốc gia thành viên
và tại các quốc gia cung cấp thịt cho thị trường EU phải được kiểm tra
Trichinella spp Ngoài ra, mỗi nước thành viên được khuyến cáo phải thực
hiện một chương trình giám sát về tình trạng nhiễm Trichinella spp ở động
vật hoang dã (EC, 2005)
Tại Hoa kỳ, theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch
bệnh Hoa kỳ từ năm 1947 đến năm 1951 có 393 người mắc bệnh Trichinellosis
Từ năm 1997 đến năm 2001 có 12 người mắc bệnh Từ năm 2002 – 2007, số
người nhiễm bệnh là 66 người tại 16 bang (Kenedy et al., 2009) Năm 2011, báo cáo có 15 trường hợp mắc bệnh Trichinellosis (Adam et al., 2013)
Khu vực Châu Á, tình trạng nhiễm Trichinella spp được ghi nhận trên
người tại 18 quốc gia, trên động vật nuôi (chủ yếu là lợn) tại 9 quốc gia, trên động
vật hoang dã tại 14 quốc gia (Owen et al., 2005; Pozio, 2007a) Khu vực Đông
Nam Á, từ năm 1961 đến năm 1991, tại Thái Lan đã có 118 trường hợp nhiễm
Trichinella spp được báo cáo (Pewpan et al., 2011), năm 2006 tại phía Bắc Thái Lan cũng có 28 người bị nhiễm Trichinella papuae (Khumujui et al., 2008)
Ở Việt Nam, năm 1967 đã có ổ dịch Trichinellosis trên người từ đoàn
công tác ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trở về Năm 1970, bệnh xảy ra ở
Trang 13Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3
huyện Mù Căng Chải- Yên Bái làm 26 người mắc, trong đó 2 người chết Năm
2008, ổ dịch Trichinellosis xảy ra tại Bắc Yên- Sơn La làm chết 2 người trong tổng số 23 người mắc (Taylor et al., 2009; Nguyễn Văn Cảm và cs, 2012) Gần
đây, tháng 9 năm 2013 tại xã Na Ư, huyện Điện Biên- tỉnh Điện Biên có 8 người
bị nhiễm Trichinella spp do ăn tiết canh lợn (Nguyễn Quang Ngọc, 2013)
Như vậy, tại Việt Nam Trichinella spp chủ yếu gây bệnh tại các tỉnh miền
núi phía Tây Bắc và bệnh chỉ được phát hiện khi đã có người nhiễm bệnh Đặc biệt bệnh chủ yếu được truyền từ lợn sang người Vì vậy, cần chủ động giám sát
Trichinella spp và cảnh báo sớm tránh lấy nhiễm bệnh từ động vật sang người Xuất phát từ những lý do cấp thiết đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Xác định yếu tố nguy cơ, đánh giá tình hình nhiễm Trichinella spp trên
đàn lợn nuôi tại Sơn La, Điện Biên và đề xuất biện pháp phòng chống” Mục tiêu của đề tài
- Xác định một số yếu tố nguy cơ từ phương thức chăn nuôi và thói quen
sinh hoạt của người dân có liên quan đến bệnh do Trichinella spp gây ra
- Đánh giá tình hình nhiễm Trichinella spp trên đàn lợn nuôi tại Sơn La
và Điện Biên
- Đề xuất một số biện pháp phòng chống bệnh do Trichinella spp gây ra
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp chúng ta hiểu được tập quán sử dụng thịt lợn của người dân niền núi hai tỉnh Sơn La, Điện Biện và những hiểu biết của
họ về bệnh Trichinellosis
- Đề tài là công trình nghiên cứu có hệ thống về Trichinella spp gây bệnh
trên lợn
- Những nghiên cứu về Trichinella spp có ý nghĩa quan trọng trong việc
đưa ra những cảnh báo và tiến hành các biện pháp phòng chống bệnh
Trichinellosis.
Trang 14Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về Trichinella spp
1.1.1 Lịch sử phát hiện
Ấu trùng Trichinella được James Paget phát hiện vào năm 1835, tại nước Anh trên một tử thi Sau đó được Richard Owen xác định và gọi tên là Trichina
spiralis (Sán lợn) (Nguyễn Văn Đề và Phạm Văn Khuê, 2009; Pozio, 2013) Năm
1846, Joseph Leidy cũng phát hiện ký sinh này trong cơ vân của lợn (Murrell et
al., 2000)
Năm 1859, chu kỳ phát triển tự nhiên của Trichinella được phát hiện bởi
Rudoef Virchow Năm 1860, Friedrich Zenker đã chứng minh được khả năng
gây bệnh của Trichinella trên người Đến năm 1895, Railliet đã đổi tên Trichina thành Trichinella và được sử dụng đến nay (Pozio, 2013)
1.1.2 Vòng đời phát triển
Vòng đời phát triển của Trichinella spp được biết đến từ giữa thế kỷ 19
và nét đặc biệt là sự phát triển hai thế hệ, ấu trùng và giun trưởng thành trong
cùng một vật chủ (Oivanen, 2005) Đối tượng vật chủ của Trichinella spp rất
rộng bao gồm các loài động vật có vú, một số loài chim và cả bò sát (hình 1.1)
Tuy nhiên chỉ có con người mới có những biểu hiện lâm sàng bệnh Trichinellosis một cách rõ ràng (Gottstein et al., 2009)
Hình 1.1 Một số vật chủ trong vòng đời phát triển của Trichinella spp
(nguồn: http://www.iss.it/site/Trichinella/scripts/fig.asp?Figura=fig5)
Trang 15Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5
Vòng đời phát triển trong vật chủ của Trichinella spp thường trải qua 5
giai đoạn (hình 1.2)
Giai đoạn 1: bắt đầu từ khi động vật hoặc con người ăn phải thịt hoặc thức
ăn có chứa các nang ấu trùng Trichinella spp
Giai đoạn 2: khi các thức ăn nay xuống đến dạ dày, nhờ dịch tiêu hóa trong dạ dày là pepsin và acid hydrochloric thủy phân nang ấu trùng và các ấu trùng non được giải phóng
Giai đoạn 3: các ấu trùng này tiếp tục di chuyển xuống ký sinh tại niêm mạc của tá tràng nhờ dịch nhày của tá tràng, phát triển sau khoảng 20 giờ thì bắt đầu lột xác và sau 4 lần lột xác (khoảng 4-7 ngày) thì thành giun trưởng thành (Pozio, 2007b)
Giai đoạn 4: Giun đực và giun cái tiến hành giao phối Sau 5-7 ngày giun cái bắt đầu đẻ ra ấu trùng sơ sinh ký sinh tại niêm mạc ruột Giun cái trưởng thành có thể sinh sản 500-1500 ấu trùng trong suốt vòng đời (Virginia and
Hình 1.2 Vòng đời phát triển của Trichinella spp trong cơ thể vật chủ
(nguồn: http://www.trichinella.org/bio_lifecycle.htm)
Trang 16Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6
Dickson, 1996) Giai đoạn ấu trùng sơ sinh là giai đoạn duy nhất mà ký sinh
trùng có sừng nhọn giống như dao găm nhỏ, nằm ở khoang miệng
Giai đoạn 5: Các ấu trùng sơ sinh dùng sừng nhọn để tạo một lỗ thủng chui qua niêm mạc ruột vào hệ bạch huyết và vào trong máu Chúng di chuyển đến tới các cơ quan có khả năng oxy hóa cao, hầu hết ấu trùng sơ sinh đi vào mạch máu và được phân bố khắp cơ thể Sau khi rời mao mạch ấu trùng sơ sinh xâm nhập vào các tế bào (hình 1.3) Các tế bào không có phản ứng giữ hay đào thải các ấu trùng xâm nhập, nhưng sự xâm nhập này làm chết các tế bào Tế bào
cơ xương là ngoại lệ duy nhất Tế bào cơ xương không chỉ giữ lại các ấu trùng sơ sinh mà còn có một loạt thay đổi Chính những thay đổi này là nguyên nhân biệt hóa các tế bào cơ, cung cấp điều kiện để ấu trùng sơ sinh sinh trưởng và phát
triển Quá trình này gọi là sự hình thành nang kén ấu trùng (Despommier et al.,
2005) Thời gian tạo thành nang kén ấu trùng khoảng 4-5 tuần và bắt đầu bị canxi hóa từ 6-9 tháng (Pozio, 2007b; Nguyễn Văn Đề và Phạm Văn Khuê, 2009)
Hình 1.3 Trichinella trong tế bào cơ A: Ấu trùng Trichinella xâm nhập vào tế bào cơ B: Nang ấu
trùng hoàn chỉnh
(nguồn: http://www.trichinella.org/bio_lifecycle.htm)
Ký sinh trùng đi vào bên trong các tế bào không phải là tế bào cơ vân sẽ không tạo ra các nang kén ấu trùng, mà đi vào lưu thông hoặc chết Khi đi vào lưu thông các ký sinh trùng thường đi vào tim hoặc não hoặc gây chết cho động
vật ký chủ (Despommier et al., 2005) (hình 1.2)
Trang 17Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7
Ấu trùng Trichinelle spp có thể tồn tại dạng nang kén ấu trùng rất lâu ở
trong cơ thể động vật chủ, ví dụ ở người ấu trùng có thể tồn tại khoảng 40 năm,
Gấu Bắc Cực là trên 20 năm (Pozio, 2007b ; CDC, 2008) Ở nhiệt độ lạnh -22oC,
sau 3 ngày mới chết, còn ở nhiệt độ -12oC thì sau 57 ngày ấu trùng mới chết,
nhưng ở nhiệt độ 50oC, trong vòng 10 phút ấu trùng chết (Nguyễn Văn Đề và
Phạm Văn Khuê, 2009) Khi người và các động vật khác ăn phải thịt có chứa các
ấu trùng này thì một chu kỳ phát triển mới của Trichinella spp lại bắt đầu
Giun trưởng thành có thể ký sinh trong ruột của vật chủ một vài tuần, rồi
bị đào thải ra ngoài theo đường tiêu hóa do đáp ứng miễn dịch của cơ thể vật chủ
Trong thực tế, giun trưởng thành chỉ có thể phát hiện từ ruột của động vật thí
nghiệm gây nhiễm Khả năng phát hiện được giun trưởng thành trong phân của
động vật bị nhiễm tự nhiên là rất thấp Và cũng rất khó để phát hiện ra ấu trùng
Trichinella spp trong máu của vật chủ bị nhiễm Khi tiến hành gây nhiễm thực
nghiệm bằng cách tiêm trực tiếp ấu trùng Trichinella vào bắp cơ của động vật thí
nghiệm, sau khoảng 10 phút các ấu trùng bắt đầu xâm nhập vào trong các tế bào
cơ, khi đó các ấu trùng này có chiều dài khoảng 0,65 -1,45 mm X 0,026 - 0,040
mm (Gottstein et al., 2009)
1.1.3 Đặc điểm hình thái học
Cấu tạo giải phẫu chung của Trichinella spp bao gồm một số cơ quan
như: Phần cơ được cấu tạo từ 300 loại protein khác nhau tạo thành lớp vỏ bên
ngoài giúp Trichinella có thể di chuyển, bộ phận sinh dục, tuyến thần kinh vành
đai, tuyến thực quản, cuống họng, ruột (Villella, 1970) Ngoài ra chúng có nhưng
cơ quan chuyên biệt và một số đặc điểm giải phẫu khác nhau giữa con đực và con
cái, giữa giai đoạn ấu trùng và giai đoạn giun trưởng thành
* Ấu trùng (hình 1.4 ):
Ở giai đoạn ấu trùng, tuyến thực quản được cấu tạo từ 5 loại tế bào: tế bào
Alpha 0, Alpha 1, Alpha2, Beta và Gamma, nhưng sau khoảng 36 giờ bắt đầu lột
xác để thành giun trưởng thành chỉ còn thấy tế bào Beta (Villella, 1970)
Một số đặc điểm hình thái để phân biệt giữa ấu trùng đực và ấu trùng cái:
Trang 18Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8
Ấu trùng đực có kích thước 0,65-1,07 mm x 26 - 38µm Phần bầu ruột thường gần bề mặt lưng của ấu trùng, có một số ấu trùng gần với bề mặt bụng Ruột chạy qua tuyến sinh dục vắt từ bề mặt lưng sang bề mặt bụng Chiều dài của trực tràng 40 - 50 µm (Pozio, 2007b)
Ấu trùng cái dài 0,71 - 1,09mm X 25 - 40µm Phần bầu ruột thường gần bề mặt bụng Ruột chạy qua tuyến sinh dục và chạy dọc theo bề mặt bụng Trực tràng dài 20 – 30 µm Bộ phận âm hộ có một lớp tế bào phi biểu bì chạy dọc 2/3 tuyến thực quản (Pozio, 2007b)
mặt bụng mặt lưng
Cơ di động Chất lỏng bên trong
Bộ phận sinh dục Thần kinh vành đai Beta
Gamma Alpha 0 Alpha 1 Alpha 2 Cuống họng Ruột
Giun đực (hình 1.5): Dài 0,62- 1,09 mm x 25 – 40 µm Bên ngoài bao gồm các lớp tế bào biểu bị nhẵn, mịn và có những đoạn phân khúc giả Phía đầu thường có hai thùy bám ở đầu Phía lưng có các vây lưng, phía bụng có các tế
Trang 19Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9
bào tuyến da Bộ phận sinh dục bao gồm một tinh hoàn duy nhất Phần cuối của
bộ phận sinh dục có một đôi giao cấu phụ và bộ phận sinh dục phụ khác Đường tiêu hóa bao gồm khoang miệng, mao mạch thực quản, ruột giữa, ruột sau Tuyến thực quản có 45 -50 tế bào đã được biệt hóa (Pozio, 2007b)
Giun cái (hình 1.6): Dài 1,26 -3,35 mm x 29 – 38 µm Bên ngoài có các lớp biểu bì giống giun đực, nhưng không có bộ phận sinh dục phụ Âm hộ nằm ở phía cuối của tuyến thực quan (Pozio, 2007b)
Ghi chú:
Cơ di động Chất lỏng bên trong Thần kinh vành đai Tuyến thực quản Cuống họng Ruột Ruột sau Ruột di động Tinh hoàn Túi tinh
Lỗ huyệt Gai giao cấu
Hình 1.5 Cấu tạo giải phẫu Trichinella đực
(nguồn: http://www.trichinella.org/biology.htm)
Trang 20Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10
Giống : Trichinella Ngày nay, nhờ sự phát triển của kỹ thuật sinh học phân tử, đã phát hiện có
12 loài và kiểu gen được xác định là Trichinella Dựa vào đặc điểm sinh học, hình thái học và khả năng tạo nang kén trong mô cơ, người ta chia Trichinella spp thành 2 nhánh (Gottstein et al., 2009) (bảng 1.1) Nhánh có khả năng tạo
Ghi chú:
Cơ di động Chất lỏng bên trong Thần kinh vành đai Tuyến thực quản Cuống họng Ruột sau
Tử cung Buồng trứng Phôi
Trang 21Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11
nang kén trong mô cơ vật chủ chỉ là động vật có vú Nhánh không có khả năng tạo nang kén thì vật chủ bao gồm cả động vật có vú, một số loài chim và một số
loài bò sát (Larosa et al., 1992)
1.1.4.1 Trichinella spiralis (Tsp) (genotype T1)
Đây là loài đầu tiên được phát hiện bởi James Paget vào năm 1835 tại
Anh Được Richard Owen miêu tả, gọi tên là Trichina Spiralis Sau đó Raillet đặt tên là Trichinella Spriralis (Ovivanen, 2005) Trichinella spiralis có tính
lây nhiễm cao Đối tượng vật chủ rộng gồm con người và một số loài động vật
có vú như: Lợn, chuột, ngựa, mèo hoang, chó hoang Trichinella spiralis gây
bệnh xảy ra trên toàn thế giới và gọi là kiểu gen T1 Tần suất xuất hiện Tsp cao ở khu vực Bắc Âu, Nam và Trung Mỹ, New Zealand, Hawai và Ai Cập (Hình 1.7) (Pozio, 2007b)
1.1.4.2 Trichinella nativa (Tna) (genotype T2)
Trichinella nativa được đặt tên bởi Britov and Boev và được gọi là kiểu
gen T2 (Larosa et al., 1992) Trichinella nativa gây bệnh trên động vật ăn thịt và
động vật hoang dã tại những khu vực có khí hậu băng giá của Châu Á, các quốc gia Bắc Mỹ, Đông Âu, Bắc Âu (hình 1.8) (CDC, 2008) Đối tượng vật chủ gồm con người, các loài động vật có vú (gấu đen, chồn, gấu trúc, chó sói, cáo) và một
số động vật biển (gấu bắc cực, hải mã) Ấu trùng của loài này có khả năng tồn tại trong điều kiện băng giá tới 5 năm
Trang 22Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12
Bảng 1.1 Các loài Trichinella spp và kiểu gen
Loài và kiểu gen Phân bố địa lý Vật chủ Nguồn lấy nhiễm chính cho
con người Loài có tạo nang
kén
T spiralis Toàn thế giới Động vật có vú
gồm cả động vật nuôi và động vật hoang da
Mỹ
Động vật hoang
dã ăn thịt Động vật ăn thịt
T britovi Khu vực ôn đới của
Châu Âu và Châu
Á, Khu vực Bắc và Đông của Châu Phi
Động vật hoang
dã, đôi khi có ở lợn nuôi
Lợn rừng, lợn nuôi, ngựa, cáo, chó rừng
Trichinella T8 Nam Phi và
Namibia
Động vật hoang
dã
Chưa rõ
T murrelli Mỹ và phía Nam
Canada Động vật hoang dã Gấu và ngựa
T nelsoni Khu vực đông- bắc
của Châu Phi Động vật hoang dã Lợn rừng và lợn nuôi thả rông
Trichinella
genotype T12
Argentina Báo, Sư tử Chưa rõ
Loài không tạo
nang kén
T pseudospiralis Toàn thế giới Động vật hoang
dã, chim, lợn nuôi
Lợn rừng và lợn nuôi
Guinea và Thailand
Lợn rừng, cá sấu nước mặn
Lợn rừng
T zimbabwensis Zimbabwe,
Mozambique, Ethiopia, Nam Phi
Cá sấu nước ngọt, thằn lằn Chưa rõ
Trang 23Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13
Hình 1.7 Sự phân bố của một số loài Trichinella spp.:
1.1.4.3 Trichinella britovi (Tb) (genotype T3)
Trong số các loài có khả năng gây bệnh cho động vật hoang dã, đây là loài
có phạm vi phân bố địa lý rộng nhất bao gồm những khu vực có khí hậu ôn đới của Châu Âu, Châu Á, Tây và Bắc Phi (hình 1.8) Tại Estonia, Phần Lan, Lithuania, người ta đã phát hiện trên cùng một động vật hoang dã bị nhiễm cả
Trichinella britovi và Trichinella nativa Tại Châu Âu, Trichinella britovi được
phát hiện trên loài Cáo đỏ với tỷ lệ 83%, lợn rừng với tỷ lệ 30%, lợn nuôi là
11% Khi gây nhiễm trên chuột, thấy ấu trùng của Trichinella britovi có thời
Trang 24Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14
gian tồn tại rất ngắn Loài này có thể gây nhiễm cho con người thông qua việc tiêu thụ thịt của các loài động vật hoang dã như Cáo đỏ, lợn rừng, chó rừng
(Pozio et al., 2006)
1.1.4.4 Trichinella murrelli (Tm) (genotype T5)
Đây là loài được phát hiện trên các loài động vật hoang dã lớn, ăn thịt tại Hoa Kỳ và khu vực miền nam của Canada (hình 1.8) Loài này không gây nhiễm cho lợn Nhưng có thể gây nhiễm cho con người khi tiêu thụ thịt của động vật
hoang dã săn bắn được Năm 1985, Trichinella murrelli gây bùng phát dịch trên
người tại Pháp do ăn thịt ngựa được nhập từ Hoa Kỳ (Ancell, 1998)
1.1.4.5 Trichinella nelsono (Tne) (genotype T7)
Khu vực phân bố của loài này là phía đông Châu Phi, từ Kenya đến Nam Phi (hình 1.8) Động vật cảm nhiễm gồm: chó rừng, chó nhà, sư tử, báo, rơi tai cáo Khi gây bệnh thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, nhận thấy đối với chuột
và lợn ít nhiễm loài này so với Trichinella spiralis và Trichinella nativa Tại Kenya và Tanzania, ít nhất đã có 100 người nhiễm Trichinella nelsono (Pozio,
2007b)
1.1.4.6 Trichinella T6 (T6) (genotype T6)
Kiểu gen này phổ biến ở động vật ăn thịt tại khu vực Bắc Cực và cận Bắc Cực của Canada (British Columbia, Ontario, Manitoba, and Nunavut) và dọc theo dãy núi Rocky và Appalachian ở Mỹ (Alaska, Idaho, Montana, Ohio,
Pennsylvania, Wyoming và Ontario) (hình 1.8) (Pozio et al., 2006)
Ban đầu kiểu gen này phân lập xác định là Trichinella britovi từ gấu chó
của Nhật Bản Nhưng sau đó bằng kỹ thuật sinh học phân tử, người ta đã nhận
thấy có sự khác biệt về đặc điểm di truyền với loài T britovi gây bệnh ở Châu
Trang 25Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15
Âu và được gọi là Trichinella T9 Kiểu gen nay cũng được tìm thấy trên loài Cáo
tại đảo Hokkaido- Nhật Bản Trên người cũng chưa phát hiện trường hợp nào
nhiễm loài này (Pozio et al., 2006)
1.1.4.10 Trichinella pseudospiralis (Tsp) (genotype T4)
Được phân biệt thành Trichinella psudospiralis có nguồn gốc từ Châu Âu
và Châu Á (TpsP), Trichinella psudospiralis có nguồn gốc từ Tasmania (TpsA)
Đến nay người ta đã tìm thấy có 14 loài động vật có vú và 13 loài chim là vật chủ
của T pseudospiralis Tại Kamchatka- Thái Lan và Pháp đã ghi nhận những trường hợp người bị nhiễm loài này (Pozio et al., 2006)
1.1.4.11 Trichinella papuae (Tpa) (genotype T10)
Loài này được phát hiện trên lợn rừng và cá sấu nước mặn tại Papua New
Guinea (Pozio et al., 2006) Tại Thái Lan đã phát hiện một số trường hợp người nhiễm T papuae do ăn thịt thằn lằn có nhiễm T papue (Khamboonruang, 1991)
Khi gây bệnh thực nghiệm, nhận thấy loài này có khả năng sinh sản cao trên động
vật chủ là cá sấu và thằn lằn Ấu trùng của T papuae dài hơn loài T pseudospiralis
(ấu trùng đực là 970 µm, cái là 1000 µm) Ấu trùng của loài này không có khả năng tạo kén và có khả năng tồn tại ở nhiệt độ 5oC trong 4 tuần (Ovivannen, 2005)
1.1.4.12 Trichinella zimbabwensis (Tzi) (genotype T11)
Được phát hiện vào năm 2002, trên loài cá sấu nuôi tại Zimbabwe (Pozio
et al., 2002) Sau đó, người ta tìm thấy T zimbabwensis trên một số loài động vật
có vú và động vật hoang dã tại một số quốc gia Châu Phi (như Mozambique,
Nam Phi, và Ethiopia) Ấu trùng của T zimbabwensis cũng không có khả năng
tạo kén trong cơ của vật chủ Đến nay cũng chưa phát hiện người nhiễm loài này (Pozio, 2007c)
Trang 26Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 16
1.1.5 Đặc điểm sinh học
Trichinella spp có khả năng thích nghi cao nhờ chính khả năng tự vận
động của chúng Ấu trùng cơ của Trichinella có khả năng kích thích quá trình
thối rữa tế bào cơ của xác vật chủ Các ấu trùng này có khả năng tồn tại cả khi các tế bào cơ bị thối rữa thành dạng lỏng Thời gian tồn tại của ấu trùng trong mô
cơ của xác động vật phụ thuộc vào điều kiện môi trường như nhiệt độ, độ ẩm Nhiệt độ thích hợp nhất để chúng tồn tại là từ -18oC đến 0 oC (bảng 1.2) (Pozio,
-18oC -18 oC -10 oC
-6,5 – 20 oC -10 oC
34 tháng
5 – 13 ngày
T britovi Chó sói
Cáo Lợn rừng Chuột trong phòng thí nghiệm
-20 oC -15 oC -20 oC -10 oC
Trang 27Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 17
1.1.6 Đặc điểm dịch tễ
1.1.6.1 Đối tượng vật chủ
* Động vật có vú: Mặc dù T spiralis lần đầu được phát hiện ở động vật
nuôi, còn các loài khác chủ yếu được phát hiện ký sinh trên động vật hoang dã
Nhưng khi con người quản lý đàn vật nuôi không tốt, một số loại Trichinella (T.britovi, T pseudospiralis, T papuae and T.zimbabwensis) được truyền từ
động vật hoang dã sang động vật nuôi thông qua động vật nuôi thả rông hoặc các
vật chủ trung gian truyền bệnh khác như chuột Ngược lại T spiralis có thể
truyền từ động vật nuôi sang động vật hoang dã
Trichinella spp ký sinh trên động vật hoang dã xảy ra ở tất cả các châu lục, ngoại trừ Nam Cực, nơi chưa có bằng chứng về sự ký sinh của giun tròn trên động
vật có vú và động vật biển Trichinella spp có khả năng gây nhiễm tự nhiên cho hơn
100 loài động vật có vú gồm 11 nhóm: Thú có túi, động vật ăn sâu bọ, động vật không răng, động vật linh trưởng, bộ thỏ, bộ gặm nhấm, động vật biển có vú, động
vật ăn thịt, động vật guốc lẻ, động vật guốc chẵn, bộ lạc đà (Pozio et al.,, 2005)
Chu kỳ truyền lây của Trichinella spp có sự liên quan giữa động vật chủ
và kiểu gen của Trichinella Ví dụ ở Châu Âu, cùng động vật chủ là lợn hoang dã thì tỷ lệ nhiễm T spiralis là 49% và T britovi là 47% Hay cùng là T spiralis
nhưng lại gây nhiễm với tần suất khác nhau trên các vật chủ khác nhau: Cáo đỏ là
7%, động vật ăn ăn thịt lên tới 92% Tương tự ở Bắc Mỹ, T spiralis gây nhiễm
cho động vật hoang dã ăn thịt là 12%, trong khi đó nhóm gây bệnh trên động vât
hoang dã (T.britovi, T pseudospiralis, T papuae and T.zimbabwensis) được phát hiện là 87% (Pozio et al., 2006)
* Ngựa: Từ năm 1975 đến năm 2005, sự bùng phát bệnh Trichinellosis ở
người đã xảy ra tại Pháp (2296 người nhiễm trong 8 lần dịch xẩy ra) và Ý (1.038 người nhiễm trong 7 lần dịch xẩy ra) Nguyên nhân là do việc tiêu thụ thịt của những con ngựa nhập từ Canada, Mexico, Hoa kỳ Chính việc không kiểm soát được nguồn thực phẩm này mà Ủy ban Châu Âu (EC) đã thiết lập cơ chế giám
sát và kiểm tra Trichinella spp trên một số động vật xuất nhập khẩu Điều tra
dịch tễ học chỉ ra rằng, tỷ lệ ngựa nhiễm Trichinella spp là rất thấp, hấu hết
những con ngựa nhiễm Trichinella spp là từ những nước có tỷ lệ nhiễm
Trichinella spp trên động vật hoang dã cao (Pozio et al., 2006)
Trang 28Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 18
* Chuột: Chuột có vai trò lớn trong việc truyền lây Trichinella gây nhiễm
ngoài tự nhiên vào động vật nuôi
* Chim: Đến nay có 7 loài chim thuộc 3 bộ (bộ Cú, bộ Sẻ, bộ Hạc) được
xác định là vật chủ cho T pseudospiralis Và có 6 loài khác nghi ngờ nhưng
chưa có bằng chứng thuyết phục (Pozio, 2007b)
* Bò sát: Có 3 loài bò sát đã phát hiện bị nhiễm Trichinella spp một cách
tự nhiên: Cá sấu nước ngọt và thằn lăn ở sông Nile (Châu Phi), cá sấu nước mặn
ở Papua New Guinea (Pozio et al., 1998) Ngoài ra cũng phát hiện được một con Rùa là nguồn lây bệnh cho 2 ca bệnh Trichinellosis tại Thái Lan
(Khamboonruang, 1991)
* Động vật lưỡng cư và cá: Không ghi nhận trường hợp nào nhiễm
Trichinella spp trong tự nhiên Khi tiến hành thí nghiệm gây nhiễm T spiralis cho ếch thì nhận thấy ấu trùng Trichinella spp không phát triển trong cơ của ếch Thử nghiệm gây nhiễm T spiralis, T britovi, T pseudospiralis và T papuae
zimbabwensis đối với cá cũng thấy Trichinelal spp không phát triển được (Pozio
et al., 2006)
* Động vật không xương sống: Các nghiên cứu chỉ ra rằng các động vật
không xương sống có vài trò rất hạn chế trong việc phân bố ấu trùng Trichinella spp ở môi trường tự nhiên (Pozio et al., 2006)
* Động vật biển: Thường chỉ có loài T nativa gây nhiễm cho một số loài
động vật có vú sinh sống ở vùng biển Bắc cực như gấu Bắc cực, Cáo Bắc cực, hãi mã, đôi khi cá voi cũng nhiễm
1.1.6.2 Mối quan hệ của Trichinella spp ở động vật hoang dã và con người
Chu kỳ sinh trưởng của Trichinella spp ở động vật hoang dã bị ảnh hưởng
bởi hành động và các thói quyen phổ biến của con người, như việc con người săn bắn động vật hoang dã sau đó sử dụng làm thức ăn cho chính mình, hay khi săn bắn con người chỉ lột lấy da còn bỏ lại thịt và các bộ phận phủ tảng khác, từ đó
làm tăng nguy cơ truyền nhiễm Trichinella spp sang một vật chủ mới, nếu vật chủ đó ăn phải thịt thối rữa có nhiễm Trichinella spp (Pozio et al., 2006) Ngoài
ra, điều tra dịch tễ học tại khu vực Châu Âu, Bắc Mỹ, Châu Phi chỉ ra rằng tỷ lệ
nhiễm Trichinella spp ở động vật hoang dã cao ở những khu vực mà điều kiện tự
nhiên bị thay đổi mạnh mẽ do tác động của con người (Pozio, 1998)
Trang 29Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 19
1.1.6.3 Trichinella spp ở động vật nuôi và các yếu tố nguy cơ
Trên động vật nuôi phổ biến là loài T spiralis gây nhiễm cho lợn thông
qua thức ăn là thịt vụn hoặc rau có dính xác động vật thôi rữa nhiễu ấu trùng
Trichinella Ngoài ra còn có T papuae and T zimbabwensis gây nhiễm cho cá
sấu nưới ngọt và cá sấu nước mặn được nuôi tại các trang trại tại Papua New
Guinea và Zimbabwe Chuột cũng là nguồn lây nhiễm Trichinella cho động vật
nuôi (Pozio, 2007b)
Trong chăn nuôi động vật một số yếu tố nguy cơ có thể dẫn đến việc động
vật nuôi bị nhiễm Trichinella spp.:
- Chăn nuôi thả rông để động vật nuôi tiếp xúc với động vật hoang dã
- Sử dụng nguồn thức ăn chưa chế biến hoặc nguồn thức ăn từ xác động vật hoang dã
- Động vật nuôi tiếp xúc với các vật chủ khác như chuột, chim,
1.2 Tình hình nhiễm Trichinella spp
1.2.1 Tình hình nhiễm Trichinella spp trên thế giới
Trichinella gây bệnh cho con người và động vật trên toàn thế giới (hình
1.9) Theo báo cáo của Ủy ban Quốc tế về Trichinellosis từ tháng 1 năm 1995 đến tháng 6 năm 1997 có 10300 người nhiễm Trichinella spp (bảng 1.3) Năm
1998, OIE đã chỉ ra tình hình nhiễm Trichinella spp trên lợn cũng xảy ra ở rất
nhiều nước trên thế giới (bảng 1.4) (Dupou-Camet, 2000)
Hình 1.9 Tình hình Trichinella spp gây bệnh trên thế giới
(nguồn: Dupou-Camet, 2000)
Trang 30Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 20
Bảng 1.3 Tình hình Trichinella spp gây bệnh trên người
* Khu vực Châu Phi: Trichinella spp gây nhiễm cho động vật hoặc gây
bệnh cho con người xảy tại các nước Algeria, Cộng hòa Công Gô, Ai Cập, Ethiopia, Guinea, Namibia, Senegal, Nam Phi, Tanzania, Tunisia, Zinbabwe Đặc
biệt tại Kenya, từ năm 1959 đến năm 1961 đã có 50 ca tử vong do T nelsoni Tại Mozambique, 20% cá sấu sống hoang dã tại sông Nile nhiễm T zimbabwesis (Pozio et al., 2006)
Trang 31Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 21
Bảng 1.4 Tình hình lợn nhiễm Trichinella spp trên thế giới
* Khu vực Châu Mỹ: Trichinella spp chủ yếu gây nhiễm cho động vật
hoang dã, nhưng vẫn có những trường hợp người nhiễm, tập trung ở một số quốc gia như Argentina, Bolivia, Canada, Chine, Mexico, Hoa kỳ
* Khu vực Châu Á: Tại Trung Quốc hằng năm đều có người tử vong do
Trichinella, bệnh ở trên người được ghi nhận tại 10 tỉnh Một nghiên cứu tại
Trung Quốc cho thấy T spiralis gây nhiễm trên lợn tại tỉnh Hồ Bắc là 6,8%, tỉnh
Hà Nam là 4,3% (Wang et al., 2006) Ngoài ra bệnh cũng được ghi nhận tại các
quốc gia Afghnistan, Campuchia, Ấn độ , Lào, Việt Nam, Indonesia, Iran, Israel, Nhật Bản, Hàn Quốc, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Myanma, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ
* Khu vực Châu Âu: Trichinella spp gây bệnh ở hầu hết các nước Châu
Âu, trừ đảo Malta và đảo Síp Tại Croatia có khoảng 30 đến 50 ca bệnh
Trichinellosis trên người được báo cáo hàng năm (Marinculic et al., 2001; Appleyard et al., 2002) Từ năm 1980 – 1990, tại Lithunia có hàng trăm người nhiễm Trichinella và đã có ít nhất 14 người chết ( Appleyard et al., 2002) Tại Balan, từ năm 1993 đến 2002 có tổng cộng 1.178 người nhiễm Trichinella được
Trang 32Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 22
phát hiện Từ năm 1996 – 2002, có 4.920 trường hợp được ghi nhận nhiễm
Trichinella tại Nga
* Khu vực Châu Đại dương: Bệnh ghi nhận tại 3 quốc gia Úc, Newzeland, Papua New Guinea
1.2.2 Tình hình nhiễm Trichinella spp tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các ổ dịch Trichinellosis chủ yêu được ghi nhận trên người
tại các tỉnh miền núi phía Bắc (hình 1.10) Bệnh được phát hiện lần đầu vào năm
1967 trên đoàn cán bộ công tác ở Công hòa dân chủ Lào trở về (Nguyễn Văn Cảm, 2012) Ổ dịch đó có 21 người mắc và có 3 người chết Năm 1970, dịch xảy
ở huyện Mù Căng Chải- Yên Bái làm 26 người mắc, 4 người tử vong Khi điều tra dịch tễ, người ta nhận thấy nguồn lây nhiễm là do con người ăn thịt chưa nấu chín của một lợn nái khoảng 50kg, đã đẻ nhiều lứa và nuôi được 8 năm Khi xét
nghiệm thấy mật độ ấu trùng Trichinella là 879 ấu trùng/ 1 gam thịt (Nguyễn
Văn Đề, 2012)
Hình 1.10 Tình hình Trichinella spp gây bệnh ở Việt Nam
Năm 2001, tại Tuần Giáo, Điện Biên có 22 người nhiễm Trichinella do ăn
thịt lợn sống từ một con lợn tai địa phương khiến 2 người tử vong Tháng 9 năm
2004, cũng tại Tuần Giáo 20 người nhiễm Trichinella sau khi ăn món lạp tại một
đám tang Năm 2008, tại xã Làng Chếu- huyện Bắc Yên- Sơn La sau khi ăn món
Tỉnh Huyện Năm Người mắc Người chết
Yên Bái
Mù Cang Chải 1970 26 4 Điện
Biên Tuần Giáo 2001 22 2 Điện
Biên Tuần Giáo 2004 20 0 Sơn
La Bắc Yên 2008 22 2 Thanh
Hóa Mường Lát 2012 27 0 Điện
Biên Na Ư 2013 8 0
Trang 33Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 23
lạp trong một đám cỗ 22 người mắc bệnh và 2 người đã tử vong (Nguyễn Văn
Cảm và cs, 2012) Năm 2009, khi tiến hành điều tra tình hình nhiễm Trichinella spp trên đàn lợn tại huyện Bắc Yên kết quả cho thấy tỷ lệ nhiễm Trichinella spp
là 19,9% (Nguyễn Văn Cảm và cs, 2012) Năm 2012, tại Mường Lát, Thanh Hóa
có 27 người nhiễm Trichinella do ăn thịt lợn mường chưa được nấu chín trong
dịp tết âm lịch Trong số này đã có 6 bệnh nhân được chuyển về bệnh viện nhiệt
đới Trung ương Kết quả xét nghiệm đều dương tính với Trichinella, bệnh nhân khi tiến hành sinh thiết phát hiện có ấu trùng Trichinella trong cơ (Nguyen et al.,
2012 ) Tiến hành xét nghiệm huyết thanh của 100 người tại Mường Lát có nguy
cơ nhiễm cao để phát hiện kháng thể Trichinella spp., kết quả 30 người (30%) cho kết quả dương tính (Vu et al., 2013b) Gần đây nhất, tháng 9/2013, tại khu
vực Tây Trang- xã Na Ư- huyện Điện Biên- Điện Biên, có 8 người nhập viện điều trị sau khi ăn tiết canh và món thịt lợn tái, xét nghiệm cho thấy cả 8 người
đều nhiễm ấu trùng Trichinella, những người này được phát hiện sớm và điều trị
kịp thời nên đã qua khỏi (Nguyễn Quang Ngọc, 2013)
1.3 Bệnh Trichinellosis trên người
Theo báo cáo có khoảng 55 quốc gia trên thế giới ghi nhận người bị bệnh
Trichinellosis, với khoảng 10.000 trường hợp nhiễm mỗi năm và tỷ lệ tử vong là
khoảng 0,2% (Gottstein et al., 2009) Bệnh Trichinellosis liên quan chặt chẽ với thói quen ăn thịt chưa nấu chín của con người Phần lớn bệnh trên người là do T
spiralis và T murrelli gây ra Theo nghiên cứu, đối với T spiralis liều tối thiểu
gây nhiễm cho con người là 70 – 150 ấu trùng và liều dẫn đến tử vong là trên 500
ấu trùng trong một lần gây nhiễm (Pozio, 2007a)
Hiện nay, nguyên nhân nhiễm Trichinella spp cho con người là từ động vật,
chủ yếu là từ thịt lợn, ngựa và các loài động vật hoang dã mang mầm bệnh, chưa
phát hiện việc lây nhiễm Trichinella spp từ người sang người Bệnh Trichinellosis
và các triệu chứng lâm sàng có thể chia làm 3 giai đoạn (Gottstein et al., 2009):
Giai đoạn nhiễm trùng ruột: Giai đoạn này bắt đầu ngay khi người ăn phải
thịt bị nhiễm Trichinella spp Trong tuần đầu tiên của giai đoạn đường ruột xuất
hiện các triệu chứng như khó chịu, đau bụng trên, tiêu chảy nhẹ, buồn nôn, nôn
Trang 34Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 24
và sốt nhẹ ở một số bệnh nhân Nếu tiêu chảy dai dẳng và nôn mửa kéo dài hơn
ba tháng sẽ gây mất nước nghiêm trọng, cùng với viêm ruột non có thể là nguyên nhân dẫn đến tử vong
Giai đoạn tiêm: giai đoạn nay bắt đầu ngay sau khi ấu trùng xâm nhập vào các bộ phận cơ thể, kéo dài 3 – 4 tuần Các dấu hiệu trong giai đoạn này như phù
mí mắt, viên kết mạc, xung huyết kết mạc, suy giảm thị lực và có thể bị mù
Khoảng 7 - 100% bệnh nhân Trichinellosis bị phù quang mắt, 5 - 20% bệnh nhân
bị rối loạn tim mạch và viêm cơ tim
Giai đoạn nhiễm trùng tế bào cơ: Giai đoạn này bắt đầu khi ấu trùng xâm nhập vào cơ xương sau ít nhất bốn tuần nhiễm vào cơ thể Trong giai đoạn nay, cơ phần mắt, cơ lưỡi, thanh quản, cơ hoành, cổ và sườn của bệnh nhân thường bị đau Cơn đau có thể nghiêm trọng làm giới hạn chức năng của cánh tay và chân, gây khó khăn cho việc đi lại, sự di chuyển của cơ lưỡi, nói, thở và nuốt khó Trong giai đoạn này hệ thống thần kinh trung ương, phổi, thận và da có thể bị ảnh hưởng
Thông thường, bác sỹ chỉ chẩn đoán bệnh nhân bị nghi ngờ bệnh
Trichinellosis nếu bệnh nhân bắt đầu xuất hiện các triệu chứng Trichinellotic
Biểu hiện của triệu chứng này là phù mặt, đau cơ, sưng và sốt khoảng 39 – 40oC, chán ăn, đau đầu, viêm kết mạc và nổi mề đay Tuy nhiên biến chứng chính của bệnh là viêm cơ tim, viêm não đe dọa tính mạng của bệnh nhân Các triệu chứng biến chứng tim mạch như đau ở vùng tim, nhịp tim nhanh, điện tâm đồ bất thường Các biến chứng tim mạch khác như tắc tĩnh mạch, tắc huyết khối, huyết khối não rất có thể dẫn đến tử vong Theo ước tính có khoảng 10 – 20% bệnh
nhân mắc bệnh Trichinellosis có triệu chứng thần kinh trung ương và tỷ lệ tử
vong khoảng 50%, nếu bệnh nhân không điều trị đúng và kịp thời
1.4 Phương pháp chẩn đoán
Bệnh Trichinellosis có thể được chẩn đoán bằng các phương pháp trực
tiếp hoặc gián tiếp Với phương pháp trực tiếp phát hiện ấu trùng ở giai đoạn ấu trùng cơ bằng cách kiểm tra trực tiếp tế bào mô cơ hoặc tiêu cơ Phương pháp
gián tiếp chủ yếu dựa trên nguyên lý phát hiện kháng thể Trichinella spp trong
huyết thanh hoặc dịch của mô cơ Cả hai phương pháp trên chủ yếu dùng để phát
Trang 35Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 25
hiện Trichinella spp., còn để xác định kiểu gen Trichinella spp thì phải dùng
phương pháp sinh học phân tử
1.4.1 Chẩn đoán trong y học
1.4.1.1 Phương pháp sinh thiết cơ
Phương pháp sinh thiết cơ là phương pháp truyền thống sử dụng trong y
học để chẩn đoán bệnh Trichinellosis Mẫu cơ được lấy thường là mẫu cơ delta
Lượng mẫu lấy khoảng 0,2-0,5 gam mô cơ, không lấy phần mỡ và da Sau đó,
mô cơ được tiến hành ép trên hai phiến kính và kiểm tra sự có mặt của ấu trùng trong mô cơ Hoặc có thể tiến hành tiêu cơ để phát hiện ấu trùng Độ nhạy của phương pháp phụ thuộc vào số lượng mẫu cơ dùng để chẩn đoán và số lượng ấu trùng trong cơ Phương pháp này được khuyến cáo sử dụng khi đã có kết quả xét
nghiệm huyết thanh dương tính (Nöckler et al., 2007)
kế các phản ứng huyết thanh học để phát hiện kháng thể Trichinella spp IgG
Trong thực tế việc phát hiện kháng thể chỉ được thực hiện khi các bệnh nhân đã
có các biểu hiện lâm sàng của bệnh (Oivanen, 2005)
Khi so sánh các phương pháp huyết thanh học như phương pháp Elisa, phương pháp miễn dịch huỳnh quang, phương pháp Western blot thì thấy các kết quả đều tốt Nhưng theo khuyến cáo của OIE thì nên sử dụng phương pháp Elisa vì
phương pháp này có độ nhạy cao hơn các phương pháp khác (Nöckler et al., 2007)
1.4.2 Chẩn đoán trong thú y
1.4.2.1 Phương pháp Trichinelloscopy
Nguyên tắc của phương pháp Trichinelloscopy là sử dụng kính ép cơ, ép
mẫu thịt cần kiểm tra giữa hai phiến kính, vặn vít chặt để ép mỏng cơ thịt và kiểm tra dưới kính hiển vi để phát hiện ấu trùng ký sinh trong cơ (hình 1.11)
Trang 36Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 26
Trichinelloscopy là phương pháp phát hiện Trichinella spp truyền thống, thường được sử dụng để kiểm tra nhanh sự nhiễm ký sinh trùng Trichinella spp
tại các lò giết mổ và kiểm tra sơ bộ mẫu thịt trước khi tiến hành bằng phương pháp tiêu cơ Ưu điểm chính của phương pháp là đơn giản, dễ thực hiện, cho kết quả nhanh, không đòi hỏi nhiều về thiết bị, hóa chất Tuy nhiên, độ nhạy của
phương pháp thấp, khoảng 43,4%, có thể không phát hiện được Trichinella spp
nếu mật độ thấp, ấu trùng chưa tạo nang kén và ấu trùng từ các loại không tạo
nang kén trong cơ dẫn đến kết quả âm tính giả (Nöckler et al., 2007)
Ấu trùng trong cơ (10X20) Ấu trùng trong cơ (10X40)
Hình 1.11 Ấu trùng Trichinella spp dùng phương pháp Trichinelloscopy
(nguồn: Nguyễn Văn Cảm, 2012)
Theo quy định của Ủy ban Châu Âu EC số 2075/2005, Trichinelloscopy không phát hiện được Trichinella spp không tạo nang kén lây nhiễm từ động vật
hoang dã vào vật nuôi và con người Do đó không còn phù hợp là phương pháp
tiêu chuẩn sử dụng để phát hiện Trichinella spp., đồng thời Ủy ban Châu Âu
cũng khuyến cáo chỉ nên sử dụng phương pháp này trong trường hợp đặc biệt khi
cần kiểm tra sự nhiễm ấu trùng Trichinella spp tại lò giết mổ động vật
1.4.2.2 Phương pháp tiêu cơ
Nguyên tắc: Phương pháp tiêu cơ dựa trên việc thủy phân hoàn toàn cơ thịt của mẫu và nang của ấu trùng bằng emzym pepsin và acid hydrochloric (HCl) Sau khi cho tiêu cơ, để lắng, quan sát dưới kính hiển vi để phát hiện ấu
trùng Trichinella spp (hình 1.12) Ưu điểm của phương pháp này là đơn giản, dễ
thực hiện, không đòi hỏi nhiều về thiết bị
Trang 37Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 27
Đến nay, có 4 phương pháp tiêu cơ để xác định Trichinella spp được
ủy ban Châu Âu khuyến khích sử dụng là: Phương pháp tiêu cơ, phương pháp tiêu cơ kết hợp khuấy từ, phương pháp tiêu cơ trên bộ lọc cách ly, phương pháp tiêu cơ tự động Trong bốn phương pháp trên thì phương pháp tiêu cơ kết
hợp khuấy từ được chấp nhận như phương pháp tham chiếu (Nöckler et al.,
2007) Tổ chức thú y thế giới, khuyến khích sử dụng phương pháp tiêu cơ kết hợp khuấy từ đối với các phòng thí nghiệm xét nghiệm bệnh lây qua đường thực phẩm (OIE, 2012)
Hình 1.12 Ấu trùng Trichinella dùng phương pháp tiêu cơ
(nguồn: Nguyễn Văn Đề, 2012) Phương pháp tiêu cơ kết hợp khuấy từ đã được Cơ quan thanh tra thực phẩm Canada công bố cho phép áp dụng vào năm 1996 Đến năm 1999 và 2000, Forbes L.B và cộng sự đã hoàn thành việc xác nhận hiệu lực của phương pháp Năm 2007, Valee và cộng sự đã phát triển phương pháp tiêu cơ thành một
phương pháp hoàn chỉnh để tạo nang ấu trùng Trichinella spp., các nang này
được sử dụng trong việc chuẩn bị các mẫu chuẩn Mẫu chuẩn được sử dụng để
đánh giá độ nhạy của phương pháp chẩn đoán bệnh Trichinellosis ở động vật
Việc dùng các mẫu chuẩn này trong thử nghiệm đã cải thiện đáng kể hoạt động
kiểm nghiệm thực phẩm là thịt động vật tươi sống (Nöckler et al., 2007)
Về mặt lý thuyết, phương pháp tiêu cơ có khả năng phát hiện đối với những mẫu thử nghiệm ở mức độ nhiễm 1 ký sinh trùng/gam mô cơ Nhưng độ nhạy của phương pháp thực tế khoảng 3 - 5 ký sinh trùng/gam mô cơ (Forbes and
Gajadhar, 1999 ; Nöckler et al., 2007) Sự chênh lệch giữa lý thuyết và thực tế là
Trang 38Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 28
do sự ảnh hưởng của quá trình rửa, lọc, lắng, vật liệu sử dụng, thời gian ủ (thời gian thủy phân), tình trạng của mẫu được kiểm tra, làm giảm hiệu quả của phương pháp tiêu cơ
So sánh phương pháp tiêu cơ và phương pháp Trichinelloscopy cho thấy
phương pháp tiêu cơ có khả năng phát hiện cao hơn 3,2 lần khi thử nghiệm trên
cùng 1 gam mẫu (Forbes et al., 2003) Tuy nhiên phương pháp tiêu cơ không
phát hiện được các ấu trùng non nhỏ hơn 10 - 12 ngày vì ấu trùng non sẽ bị phá
hủy bởi quá trình thủy phân (Nöckler et al., 2007)
1.4.2.3 Phương pháp Elisa
Phương pháp Elisa dựa trên cơ sở sử dụng kháng nguyên xác định để phát hiện kháng thể Các kháng nguyên được tạo ra bằng cách sử dụng kháng thể đơn dòng và các kháng thể đặc hiệu Kỹ thuật chiết tách nhằm làm tăng độ đặc hiệu của thử nghiệm bằng cách loại bỏ các tác nhân gây phản ứng chéo với các loại ký sinh trùng khác Kháng nguyên sử dụng trong phản ứng Elisa phát hiện kháng thể
Trichinella spp bao gồm kháng nguyên Melcher, kháng nguyên stichosome chiết xuất sinh hóa, hoặc kháng nguyên stichosome thu được từ quá trình nuôi cấy
invitro ký sinh trùng Trichinella spp
Phương pháp Elisa được xem như một công cụ giám sát dịch tễ học, thường được sử dụng trong các chương trình giám sát và điều tra dịch tễ bệnh
Trichinellosis (OIE, 2012)
Độ nhạy và độ đặc hiệu của phương pháp Elisa phụ thuộc vào loại và chất lượng kháng nguyên được sử dụng
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng lượng kháng thể tạo ra phụ thuộc vào
thời gian động vật chủ bị nhiễm Trichinella spp., kháng thể không được tạo ra trong giai đoạn đầu (3-5 tuần đầu) nhiễm Trichinella spp Lượng kháng thể sẽ bị giảm sau vài tháng nhiễm trùng (Nöckler et al., 2000) Do đó phương pháp Elisa trong phát hiện bệnh Trichinellosis ở động vật vẫn có tỷ lệ âm tính giả
1.4.2.4 Một số phương pháp khác
Ngoài phương pháp Elisa phát hiện kháng thể Trichinella spp có thể sử
dụng những phương pháp khác như: Phương pháp miễn dịch huỳnh quang (IFA),
Trang 39Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 29
phương pháp Westor blot, xét nghiệm mô miễn dịch enzyme Nhưng các phương pháp này có nhược điểm là hóa chất và các thuốc thử không có sẵn trên thị trường Phương pháp Westorn blot thường được sử dụng để xét nghiệm sự nhiễm
chéo giữa Trichinella spp và các loại giun khác
1.4.3 Phương pháp sinh học phân tử
Phương pháp PCR (Polymerase Chain Reaction) được sử dụng để chẩn
đoán và xác định loài hoặc kiểu gen của Trichinella spp Sử dụng phương pháp
PCR cho phép xác định các loài dựa trên một ấu trùng duy nhất do đó có thể phát
hiện tất cả loài Trichinella trong cùng một vật chủ trong trường hợp nhiễm nhiều loài khác nhau (Nöckler et al., 2007)
Năm 1998, Wu Z và cộng sự công bố trình tự mồi đầu tiên cho phương
pháp PCR phát hiện Trichinella Theo tác giả các loài Trichinella có thể được
phân biệt bằng 4 cặp mồi khác nhau: SB147D, SB372A, SB153 và Ts43
Trichinella spiralis có thể được xác định bằng phương pháp PCR với cặp mồi
SB147B (Wu et al., 1998) Tại Việt Nam, dùng phương pháp multiplex PCR xác định được loài Trichinella gây bệnh trên người tại Bắc Yên- Sơn La năm 2008 là loài Trichinella spiralis (Vu et al., 2013a)
Có thể sử dụng những cặp mồi cho phản ứng multiplex PCR như sau (bảng 1.5) (Oivannen, 2005):
Bảng 1.5 Một số cặp mồi sử dụng cho phản ứng multiplex PCR
1.5 Cách phòng ngừa và kiểm soát
Đối với gia súc, phải nuôi dưỡng tốt, không cho ăn các loại thức ăn không
rõ nguồn gốc, thịt động vật hoang dã, đặc biệt là chuột
Trang 40Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 30
Đối với người tiêu dùng: Bệnh Trichinellosis do Trichinella spp gây ra có
thể phòng ngừa bằng cách nấu chín thịt đến nhiệt độ 62,2oC hoặc cấp đông ở
-20oC trong 6-12 ngày Hiện nay phương pháp tốt nhất là nấu chín kỹ thịt trước
khi ăn vì có một số trường hợp cấp đông ấu trùng Trichinella spp vẫn tồn tại Ví
dụ Trichinella ký sinh trong cơ của Gấu trúc, do cơ của gấu trúc có protein đặc
biệt có thể ngăn chặn các tinh thể nước đá hình thành trong thời kỳ ngủ đông, vì vậy ấu trùng vẫn tồn tại ở nhiệt độ thấp
Đối với công nghiệp thực phẩm: áp dụng quy trình vệ sinh thực phẩm
trong sản xuất, bảo quản, vận chuyển, phân phối, kiểm tra sự nhiễm Trichinella
spp trước khi đưa ra phân phối
1.6 Điều Trị
Hiện tại chưa có vaccin phòng ngừa và thuốc đặc trị bệnh Trichinellosis
Vì vậy điều trị triệu chứng kết hợp với dùng thuốc Mebendazole, Thiabendazole
giúp giảm số lượng ấu trùng Trichinella spp trong giai đoạn đầu Khi bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm Trichinella spp., việc điều trị cần kết hợp nhiều loại
thuốc: Corticosteroid chống viêm, Anthelminthics kết hợp sử dụng steroid, thuốc
hạ sốt và thuốc giảm đau như aspirin hay acetaminophen (Despommier et al.,
2005) Có thể sử dụng một số thuốc điều trị theo Viện Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng thành phố Hồ Chí Minh như sau (Đặng Thị Nga, 2012):
- Praziquantel: liều 10mg/kg cân nặng/ngày X 2 ngày hoặc
liều 75mg/kg cân nặng/ngày, chia làm 3 lần Có thể kết hợp với corticoid để giảm phản ứng di ứng
- Albendazole: Liều 15 mg/kg cân nặng/ ngày X 7 ngày
- Thiabendazole: Liều 25mg/ kg cân nặng X 24 ngày (chia làn 2 lần)