1.1 Khái quát về nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông 1.1.1 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 41.2 Nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông
Trang 1`
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
- -
NÔNG HỒNG HẠNH
ĐIỀU TRA ĐÁNH GIÁ SỰ THAY ĐỔI LOẠI HÌNH
SỬ DỤNG ĐẤT TRỒNG CÂY HÀNG NĂM TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HÒA AN, TỈNH CAO BẰNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN TẤT CẢNH
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà N ội, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Nông Hồng Hạnh
Trang 3gian thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cám ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo thuộc bộ môn Quy Hoạch và các thầy cô giáo trong Khoa Quản Lý Đất Đai, Ban Đào Tạo Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện và hoàn thành đề tài
Tôi xin trân trọng cám ơn UBND huyện Hòa An, tập thể phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện, phòng Thống kê, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hòa An, đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài trên địa bàn
Tôi xin cám ơn đến gia đình, người thân, các cán bộ đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện
Trang 41.1 Khái quát về nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông
1.1.1 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 41.2 Nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp 7
1.3.1 Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới 81.3.2 Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt nam 101.4 Nghiên cứu tình hình sử dụng đất nông nghiệp vùng đồi núi 11
1.7 Thay đổi loại hình sử dụng đất và nguyên nhân của sự thay đổi đó 18
Trang 5Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.3.1 Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sử
2.3.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất của huyện Hòa An 23
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội liên quan đến sử dụng đất 27
3.1.3 Những lợi thế và thách thức trong quá trình phát triển kinh tế xã
3.2 Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện Hòa An năm 2013 413.3 Nghiên cứu sự thay đổi đất trồng cây hàng năm trên địa bàn
3.3.1 Giai đoạn 2000-2005 (trước khi thay đổi loại hình sử dụng đất) 453.3.2 Giai đoạn 2005-2013 (sau khi thay đổi loại hình sử dụng đất) 503.4 Đánh giá hiệu quả của sự thay đổi loại hình sử dụng đất hàng
năm trên địa bàn huyện Hòa An trong hai giai đoạn nghiên cứu 573.4.1 Hiệu quả kinh tế trước và sau sự thay đổi các loại hình sử dụng
đất trồng cây hàng năm trên địa bàn huyện Hòa An 57
Trang 63.4.2 Hiệu quả xã hội trước và sau sự thay đổi các loại hình sử dụng
đất trồng cây hàng năm trên địa bàn huyện Hòa An 673.4.3 Hiệu quả môi trường trước và sau sự thay đổi các loại hình sử
dụng đất trồng cây hàng năm trên địa bàn huyện Hòa An 743.4.4 Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi các loại hình sử dụng đất trên
3.4.5 Một số khó khăn gặp phải sau khi thay đổi loại hình sử dụng đất 803.5 Đề xuất các loại hình sử dụng đất thích hợp và giải pháp thực hiện 813.5.1 Đề xuất các loại hình sử dụng đất thích hợp cho huyện Hòa An 81
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
Trang 8
DANH MỤC BẢNG
2.1 Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất 25 3.1 Tổng hợp các loại đất chính của huyện Hòa An 30 3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Huyện Hoà An so với toàn tỉnh
3.5 Sự thay đổi các loại hình sử dụng đất hàng năm chính của huyện trong
3.6 Sự thay đổi diện tích các loại hình sử dụng đất trồng cây hàng năm ở
Trang 93.20 Phân cấp hiệu quả môi trường của các loại hình sử dụng đất sau khi
3.21 Các LUT được lựa chọn cho huyện Hòa An 82
Trang 10DANH MỤC HÌNH
3.3 LUT chuyên lúa (Lúa mùa 1 vụ trên ruộng bậc thang) tại xã
3.4 Người dân thu hoạch sản phẩm từ LUT chuyên ngô) tại xã Bế Triều 503.5 Cây Thuốc lá từ LUT Cây công nghệp - Màu tại xã Đức Long 543.6 Ruộng khoai tây từ LUT Cây công nghệp - Màu tại xã Nam Tuấn 543.7 Dọc hai bên bờ sông tại xã Hồng Việt (Hòa An) là những ruộng
3.8 Rau xanh Hòa An được thị trường ưa chuộng 71
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ưu ái ban tặng cho con người Nó có một vai trò và vị trí vô cùng quan trọng trong sự tồn tại
và phát triển của loài người, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng
Trong thời kỳ kinh tế phát triển mạnh, do sự gia tăng dân số nhanh, nhu cầu phát triển ngày càng nhiều, con người đã khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất đai dẫn đến nguy cơ giảm về số lượng và chất lượng của nguồn tài nguyên này Trong nông nghiệp, đất đai là đối tượng lao động
Từ đó vấn đề đặt ra cho chúng ta là phải sử dụng tài nguyên này sao cho hiệu quả và hợp lý, đặc biệt đây là loại tài nguyên không thể thay thế, là nền tảng đối với sự sinh tồn và phát triển
Nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc biệt, con người khai thác các nguồn lợi tự nhiên từ đất để đảm bảo các nhu cầu về lương thực và vật dụng của xã hội Vì vậy sản xuất nông nghiệp là một hệ thống có vai trò quan trọng trong mối quan hệ của tự nhiên với kinh tế - xã hội Quan điểm phát triển nông nghiệp bền vững đã định hướng những đề tài nghiên cứu cùng những ứng dụng quan trọng và cấp bách trong sản xuất nông nghiệp của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
Việt Nam là một nước có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, phần lớn dân
cư sống ở khu vực nông thôn với thu nhập chủ yếu từ Nông – Lâm – ngư nghiệp
Từ lâu đời nhân dân ta đã có truyền thống canh tác nông nghiệp và đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất Hiện nay, công tác quản lý sự dụng đất sao cho
có hiệu quả là vấn đề đã và đang được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Trong những năm gần đây Nhà nước ta đa đưa ra nhiều biện pháp nhắm giúp cho công tác quản
lý và sử dụng đất có hiệu quả hơn Đặc biệt là những vùng miền núi nơi có độ dốc cao, trình độ canh tác còn thấp Đó là cơ sở giúp người dân ổn định cuộc sống và bảo vệ tài nguyên
Trang 12Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chính sách và chủ trương khuyến khích người dân tập trung đầu tư sản xuất Nông - Lâm nghiệp Tuy nhiên, song song với sự xây dựng và phát triển của đất nước, trong thời gian qua đất đai luôn biến động do rất nhiều yếu tố bao gồm cả yếu tố kinh tế, xã hội và cả trình độ quản lý Tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng,việc thu hồi đất để xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng nhiều nên diện tích đất phục vụ cho sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp Từ đó đòi hỏi việc quy hoạch sử dụng đất đúng mục đích, hợp lý và có hiệu quả, có kế hoạch cụ thể và kết hợp chặt chẽ giữa các cấp
Đối với các địa phương miền núi, điều kiện giao thông vận tải khó khăn, việc lưu thông hàng hoá với các địa phương khác không thuận lợi thì việc sản xuất ra lương thực tại chỗ để đảm bảo an ninh lương thực là vấn đề luôn được đề cao; do vậy đất nông nghiệp, đặc biệt là đất sản xuất nông nghiệp càng có vai trò quan trọng Mặt khác đất nông nghiệp của các huyện miền núi thường chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng diện tích tự nhiên, khả năng mở rộng cũng rất hạn chế, nên việc tìm ra hướng sử dụng hợp lý, hiệu quả, phát huy được tiềm năng đất đai và phát triển bền vững cho nông nghiệp miền núi là việc làm có ý nghĩa thực tiễn rất lớn đối với các địa phương miền núi
Huyện nằm ở trung tâm tỉnh Cao Bằng, bao quanh thị xã Cao Bằng, phía bắc giáp huyện Hà Quảng, đông bắc giáp huyện Trà Lĩnh, đông giáp huyện Quảng Hòa, nam giáp huyện Thạch An, tây giáp huyện Hòa An và Thông Nông Huyện ly là thị trấn Nước Hai nằm trên tỉnh lộ 203 cách thị xã Cao Bằng 15 km về hướng Tây Bắc, tỉnh lộ 203 theo hướng tây bắc đi huyện Hà Quảng, Thông Nông, quốc lộ 4 theo hướng nam đi huyện Thạch An và tỉnh Lạng Sơn, quốc lộ 34 theo hướng tây đi huyện Hòa An
Thời gian qua huyện đã thực hiện một số biện pháp để nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất như: Đưa các loại giống mới vào sản xuất nông nghiệp, giao quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp ổn định lâu dài Tuy nhiên do trình độ dân trí còn thấp, khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất còn nhiều hạn chế nên năng suất cây trồng chưa cao, quỹ đất nông nghiệp chưa được khai thác có hiệu quả, chưa xây dựng được các loại hình sử dụng đất thực sự thích hợp với tiềm năng
Trang 13đất đai và điều kiện kinh tế- xã hội cụ thể của địa phương
Xuất phát từ những vấn đề trên, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Tất
Cảnh, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: "Điều tra đánh giá sự thay đổi loại hình
sử dụng đất trông cây hàng năm trên địa bàn huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng"
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích của đề tài
- Nghiên cứu một trong những yếu tố tác động đến sự thay đổi loại hình sử dụng đất trông cây hàng năm trên địa bàn huyện (nghiên cứu sự thay đổi chủ yếu dựa trên việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất)
- Tác động của sự thay đổi loại hình sử dụng đất trên địa bàn huyện
2.2 Yêu cầu của đề tài
- Xác định được hiệu quả của các loại hình sử dụng đất (LUT) trồng cây hàng năm trên địa bàn nghiên cứu trong 2 giai đoạn trước và sau thay đổi
- Xác định các nguyên nhân thay đổi loại hình sử dụng đất (LUT) trồng cây hàng năm và đề xuất một số loại hình có hiệu quả sản xuất cho vùng nghiên cứu
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái quát về nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Đánh giá hiệu quả sử dụng đất là một nội dung hết sức quan trọng Vậy hiệu quả
sử dụng đất là gì? Theo các nhà khoa học kinh tế Smuel-Norhuas; “Hiệu quả không có nghĩa là lãng phí Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng số lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm số lượng một loại hàng hoá khác”(Dẫn theo Vũ Phương Thuỵ, 2000)
Theo Trung tâm từ điển ngôn ngữ (Trung tâm từ điển ngôn ngữ, 1992), hiệu quả chính là kết quả cũng như yêu cầu của việc làm mang lại
Theo khái niệm trên thì hiệu quả sử dụng đất phải là kết quả của quá trình sử dụng đất Trong đó ta quan tâm nhiều tới kết quả hữu ích, một đại lượng vật chất tạo ra
do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên đất đai là hữu hạn với nhu cầu ngày càng tăng của con người mà ta phải xem xét kết quả sử dụng đất được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra
để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất nông nghiệp không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả
mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm đó Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất là nội dung đánh giá hiệu quả
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới (Nguyễn Thị Vòng và các cộng sự, 2001) Nó không chỉ thu hút
sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp
Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản chất hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lí luận của lí thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu quả
Trang 15kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường (Vũ Thị Phương Thuỵ, 2000)
* Hiệu quả kinh tế
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo các nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau, Rusteruyer, Simmerman-1995): Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội (Vũ Thị Phương Thuỵ, 2000)
Như vậy hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa 2 đại lượng đó
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt hiệu quả kinh tế
và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu đạt được một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật và phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của hiệu quả kinh tế sử dụng đất là: trên một diện tích đất nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất, với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội Xuất phát từ lý do này
mà trong quá trình đánh giá đất nông nghiệp cần phải chỉ ra được loại hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế cao
* Hiệu quả xã hội
Theo Nguyễn Thị Vòng và các cộng sự (2001) thì hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra
Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp (Nguyễn Duy Tính (1995)),
Từ những quan niệm trên đây của các tác giả cho ta thấy giữa hiệu quả kinh tế
Trang 16và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất, phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và các lợi ích xã hội mang lại Trong giai đoạn hiện nay việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình
sử dụng đất nông nghiệp là nội dung được nhiều nhà khoa học quan tâm
* Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của hoá học, sinh học, vật lý chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của các loại vật chất trong môi trường Hiệu quả môi trường phân theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh vật môi trường Hiệu quả sinh vật môi trường là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinh thái do sự phát sinh biến hoá của các loại yếu tố môi trường dẫn đến Hiệu quả hoá học môi trường là hiệu quả môi trường do các phản ứng hoá học giữa các vật chất chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dẫn đến Hiệu quả vật lý môi trường là hiệu quả môi trường do tác động vật lý dẫn đến
Như vậy hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài Hiệu quả môi trường vừa đảm bảo lợi ích trước mắt vì phải gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng đất vừa đảm bảo lợi ích lâu dài là bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái Khi hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của một loại hình sử dụng đất nào đó được đảm bảo thì hiệu quả môi trường càng cần được quan tâm
1.1.2 Đặc điểm, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
* Đặc điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Trong quá trình khai thác, sử dụng đất nông nghiệp con người luôn mong muốn thu được nhiều sản phẩm nhất trên một đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất Điều đó khẳng định khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước hết phải được xác định bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể thường là một
ha, tính trên một đồng chi phí, một lao động đầu tư Như vậy một trong những đặc điểm để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là hiệu quả kinh tế
Theo Đường Hồng Dật và các cộng sự (1994) thì hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc Chính vì vậy khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp đến
Trang 17các vấn đề xã hội bao gồm giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn Đây thực chất là đề cập đến hiệu quả xã hội khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Ngoài ra cũng theo tác giả này thì phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết cách làm cho môi trường phát triển, điều này đồng nghĩa với việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phải quan tâm tới những ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp tới môi trường xung quanh
Tóm lại, để đánh giá một cách toàn diện hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải đề cập tới cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
*Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Theo tác giả Vũ Thị Phương Thuỵ (2000) thì tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả Đối với đất nông nghiệp thì tiêu chuẩn để đánh giá là mức độ đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội môi trường do xã hội đặt ra và cụ thể là: tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thoả mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững
Theo quan điểm của tổ chức FAO (1990) đưa ra có ba tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất bền vững là bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt môi trường và bền vững về mặt xã hội Nghĩa là định hướng sự thay đổi về kỹ thuật và
tổ chức sản xuất nhằm đảm bảo thoả mãn liên tục các nhu cầu của con người thuộc các thế hệ hôm nay và mai sau
Như vậy tiêu chuẩn chung để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ngày nay không chỉ dừng lại ở hiệu quả kinh tế mà còn bao gồm cả hiệu quả xã hội
và hiệu quả môi trường nữa, để đảm bảo cho nền nông nghiệp của ta phát triển bền vững khi đánh giá đất cần căn cứ vào các tiêu chuẩn trên
1.2 Nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong nông nghiệp
Cơ cấu cây trồng là thành phần các giống và loài cây được bố trí theo không gian và thời gian trong một hệ sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý các nguồn lợi về tự nhiên, kinh tế xã hội sẵn có của vùng Cơ cấu cây trồng là một
Trang 18trong những bộ phận chủ yếu của cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nó còn là một nội dung chủ yếu của hệ thống canh tác nông nghiệp Cơ cấu cây trồng còn được hình thành từ nhiều nhóm cây khác nhau như: Nhóm cây lương thực (lúa, hoa màu), cây nông nghiệp ngắn ngày (khoai, lạc, mía, đậu ) và cây công nghiệp dài ngày (cao
su, điều ) Chuyển đổi cơ cấu cây trồng tập trung vào chuyển đổi từ cây trồng có giá trị kinh tế thấp sang cây có giá trị cao hơn Mặc dù cây có giá trị thấp đôi khi được xác định bằng giá trị của nó trên một đơn vị trọng lượng tuy nhiên hợp lý hơn
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất đã thúc đẩy quá trình biến đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ Sự tăng năng suất lao động trước hết là nông nghiệp đã tạo tiền đề vật chất cho chuyển dịch nông nghiệp thuần nông tự cấp tự túc, năng suất lao động thấp sang nền nông nghiệp năng suất cao Nó
có vai trò quyết định đối với việc thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Thực chất của nó là phát triển nông nghiệp từ chiều rộng, hiệu quả thấp sang phát triển sản xuất nông nghiệp theo chiều sâu, hiệu quả cao Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong nông nghiệp diễn ra tùy tình hình cụ thể của từng vùng, từng nước
1.3 Những xu hướng sử dụng đất nông nghiệp
1.3.1 Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới
Theo Đường Hồng Dật, (1995) trên con đường phát triển nông nghiệp, mỗi nước chịu ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khác nhau, nhưng
Trang 19đều phải giải quyết các vấn đề chung sau:
- Không ngừng nâng cao năng suất chất lượng, nông sản, nâng cao năng suất lao động nông nghiệp, nâng cao hiệu quả đầu tư
- Mức độ đầu tư vốn, lao động, khoa học vào các quá trình phát triển của nông nghiệp Chiều hướng chung là giảm lao động chân tay, đầu tư nhiều lao động trí óc, tăng cường hiệu quả của lao động quản lý và tổ chức
- Mối quan hệ giữa nông nghiệp và môi trường
Từ những vấn đề chung đã nêu trên đây mỗi nước lại có chiến lược phát triển khác nhau, có thể chia thành hai nhóm chính sau:
+ Nông nghiệp công nghiệp hoá: Những nước đi theo khuynh hướng này muốn cho sản xuất nông nghiệp có được cách tổ chức quản lý sản xuất như trong công nghiệp cụ thể là chuyên môn hoá lao động, sản xuất theo dây chuyền, chuyên canh, tăng cường đầu tư…Đây là một khuynh hướng tích cực nhưng vận dụng quy trình công nghiệp để dập khuôn vào nông nghiệp là máy móc Mặt khác theo hướng này dùng nhiều sản phẩm công nghiệp cho nông nghiệp (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật…) đã gây nên hậu quả ô nhiễm môi trường mà sau đó con người không kiểm soát nổi gây bế tắc cho sản xuất Nói chung nội dung của nền nông nghiệp công nghiệp hoá là coi thường bản tính sinh học của thế giới sinh vật, xem cây trồng vật nuôi như những cái máy để sản xuất ra nông sản, coi thường hoạt động sinh học của đất, bón quá nhiều phân hoá học và thuốc trừ sâu bệnh để tăng năng suất cây trồng nhưng lại làm cho đất chai cứng, mất sức sống và nảy sinh nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường Như vậy theo Lê Văn Khoa và cộng sự (1999) nền nông nghiệp công nghiệp hoá chỉ
là nền nông nghiệp nhằm vào số lượng và lợi nhuận, không làm lành mạnh cho sức khoẻ và làm nảy sinh nhiều tiêu cực đối với xã hội và môi trường
+ Nông nghiệp sinh thái: Các nước theo hướng này cho rằng nông nghiệp sinh thái có sự kết hợp hài hoà giữa những cái tích cực, những cái đúng đắn hợp lý của nông nghiệp công nghiệp hoá và sinh học nông nghiệp Nội dung của nông nghiệp sinh thái thực hiện tính đa dạng sinh học: trồng nhiều loại cây khác nhau, luân xen canh cây trồng, trồng trọt theo phương thức nông lâm kết hợp….Nông nghiệp sinh thái quan niệm rằng đất là một vật thể sống cho nên phải tạo ra những
Trang 20điều kiện thuận lợi để sinh vật đất phát triển như thường xuyên bón phân hữu cơ, phải che phủ mặt đất chống xói mòn, rửa trôi, phải tìm biện pháp khử các yếu tố gây hại như những hoá chất dùng trong nông nghiệp Ngoài ra còn phải đảm bảo sự tái sinh hoạt chất, nghĩa là sử dụng đúng mức các nguồn tài nguyên, tạo ra mối quan hệ đúng đắn giữa các thành phần và tác nhân của hệ sinh thái nông nghiệp Trong nông nghiệp sinh thái học còn đề cập đến nội dung cấu trúc nhiều tầng để tận dụng tối đa ánh sáng mặt trời, nước mưa…Vì vậy cần thực hiện theo phương thức nông lâm kết hợp, trồng xen, trồng gối
1.3.2 Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt nam
Trên cơ sở của những nghiên cứu về phương thức sản xuất nông nghiệp cũng như nền nông nghiệp của các nước trên thế giới cho thấy mỗi phương thức sản xuất nông nghiệp đều có những ưu và nhược điểm, vận dụng phương thức nào cho sản xuất tại Việt Nam là vấn đề cần được nghiên cứu sâu sắc Các nghiên cứu của nhiều nhà khoa học về định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam thời gian tới khẳng định cần tận dụng tối đa những ưu thế chúng ta đang có như thành tựu của quá trình đổi mới, của khoa học và kỹ thuật trên thế giới và ở Việt Nam, kết hợp với việc nghiên cứu vận dụng theo điều kiện cụ thể tại các địa phương Nhìn chung, xu hướng phát triển của nền nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm tới tập trung ở các vấn đề sau đây:
- Tập trung vào sản xuất nông sản hàng hoá theo nhóm ngành hàng, nhóm sản phẩm dựa trên cơ sở dự báo cung cầu của thị trường nông sản trong nước và trên thế giới, đồng thời khai thác tốt lợi thế so sánh giữa các vùng (Nguyễn Điền, 2001)
- Xác định cơ cấu sản phẩm dựa trên cơ sở của các tiềm năng tự nhiên, kinh
tế, xã hội của từng vùng, lấy hiệu quả kinh tế xã hội tổng hợp làm thước đo để xác định cơ cấu và tỷ lệ sản phẩm phù hợp với các chỉ tiêu, kế hoạch phát triển nông sản hàng hoá (Nguyễn Điền, 2001)
- Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, cây công nghiệp, rau hoa quả so với cây lương thực Giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp xuống còn 50% Mặt khác, cần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 21nông nghiệp, phát triển ngành nghề công nghiệp và dịch vụ ngoài nông nghiệp (Đảng Cộng sản Việt nam, 2001)
- Để khuyến khích sản xuất nông sản hàng hoá, khuyến khích các sản phẩm xuất khẩu cần tiếp tục tạo ra sự đồng bộ giữa các yếu tố của kinh tế thị trường, từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là thị trường ruộng đất, tạo ra sự lưu chuyển mạnh mẽ đất nông nghiệp để hình thành các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp hàng hoá với quy mô thích hợp (Lê Văn Bá, 2001)
- Đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp
(Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê 2003 và 2004) Trong sản xuất hàng hoá cần
ứng dụng khoa học công nghệ một cách đồng bộ, nâng cao trình độ khoa học công nghệ trong sản xuất và lưu thông hàng hoá Sản phẩm làm ra phải chứa đựng một lượng tri thức khoa học-kỹ thuật và tổ chức quản lý cao để không ngừng nâng cao năng xuất, chất lượng và hạ giá thành sản phẩm (Nguyễn Duy Tính, 1995)
1.4 Nghiên cứu tình hình sử dụng đất nông nghiệp vùng đồi núi
1.4.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng đất nông nghiệp vùng đồi núi trên thế giới
Tài nguyên đất trên thế giới có khoảng 13.500 triệu ha, trong đó 1.000 triệu
ha (chiếm 14,7%) đất đồi núi có khả năng sản xuất nông lâm nghiệp Đó là nguồn tài nguyên lớn mang tính chiến lược của nhiều quốc gia vì giá trị sản phẩm nông nghiệp lớn, đồng thời đó còn là những vùng đất nuôi sống hàng trăm triệu người và bảo vệ môi trường
Diện tích đất đồi núi ở khu vực Đông Nam Á được phân bổ ở tất cả các nước trong khu vực, ở Việt Nam chiếm một tỷ lệ khá cao (khoảng 75% diện tích tự nhiên của cả nước) và ở Lào (chiếm 73%) và trên nửa diện tích lãnh thổ quốc gia của nhiều nước trong khu vực Phần lớn diện tích đất đồi núi được sử dụng cho lâm nghiệp (bảo tồn rừng tự nhiên hoặc trồng rừng sản xuất, rừng sinh thái ) cũng như được khai thác trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả và các loại cây lâu năm khác Một phần diện tích nhỏ đất đồi dạng thung lũng, dốc thấp, bình nguyên, cao nguyên thuận lợi cho canh tác thì được sử dụng trồng hoa màu, cây lương thực Đại bộ phận
hệ thống canh tác vùng đồi trung du là canh tác nhờ nước trời, trừ diện tích lúa nước
Trang 222 vụ dạng ruộng bậc thang hoặc diện tích trồng rau ven bãi bồi các sông suối là sử dụng dạng nước tưới
Đất đồi núi nói chung là có độ phì cao nếu được khai phá và sử dụng hợp lý Tuy nhiên, độ phì của đất đồi núi phụ thuộc nhiều vào thành phần đá mẹ, độ dốc, địa hình, thảm thực vật rừng che phủ hoặc vào dòng chảy của nước mưa Đã từ lâu, qua quá trình chặt phá rừng, khai thác đất trồng trọt, người ta đã phát hiện đất đồi núi nhanh chóng bị suy thoái do hiện tượng xói mòn, rửa trôi Vì vậy, từ thế kỷ 18, nhiều nhà khoa học đã bắt đầu nghiên cứu các công trình về các biện pháp chống xói mòn, bảo vệ đất dốc Tiêu biểu là nghiên cứu của Volni năm 1970, của các giáo sư trường Đại học Pardin - Mỹ từ năm 1951 đến năm 1958; các nghiên cứu quốc tế của nhiều nước trong thập kỷ 80 của thế kỷ XX và đặc biệt là các nghiên cứu có hệ thống và dài hạn của chương trình “Nghiên cứu quản lý bền vững đất dốc Châu Á để sử dụng nông nghiệp” của IBSRAM; một số nghiên cứu của CIAT từ đầu những năm 1990 đến nay
Cho đến thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XX thì những nghiên cứu về đất đồi núi và bảo vệ đất đồi đã rất đa dạng và phong phú, trên nhiều khía cạnh và lĩnh vực khác nhau, một trong số đó là đưa ra mô hình nông lâm kết hợp, ngay sau đó mô hình này
đã lan rộng trên phạm vi toàn thế giới bởi tính ưu việt của nó Theo ICRAF (1983) thì
“Hệ thống nông lâm kết hợp là hệ thống sử dụng đất bao gồm các cây gỗ lâu năm và các cây nông nghiệp hàng năm hoặc cây thức ăn gia súc, hoặc cả hai trên cùng một mảnh đất đồng thời hay luân phiên với mục đích cho sản phẩm tối đa và duy trì sản xuất lâu bền do bảo vệ và tăng được độ màu mỡ của đất”
Bên cạnh những nghiên cứu kỹ thuật về sử dụng hiệu quả và bảo vệ chống suy thoái đất dốc, ngày nay sử dụng đất đất đồi núi bền vững còn đặc biệt chú trọng đến phát triển kinh tế và xã hội vùng đồi núi nhằm đảm bảo một hệ thống
sử dụng đất bền vững cho đất dốc nói riêng và đất vùng đồi nói chung
Những năm gần đây có nhiều nghiên cứu về đất đồi trung du ở Đông Nam Á Đây là một trong những vùng đặc trưng của khí hậu nhiệt đới Đất đồi trung du ở Đông Nam Á nói chung chưa được sử dụng hợp lý mặc dù tiềm năng cũng như lợi ích đem lại của nó là rất lớn
Trang 23Theo Erust Mutert, Thomas Fairurst (1997) thì: “Phần lớn đất dốc phong hoá mạnh và bị rửa trôi ở Đông Nam Á quá thiếu các chất dinh dưỡng đến mức cây trồng không thể cho năng suất kinh tế cao độ phì và sức sản xuất phần lớn đất dốc
ở Đông Nam Á rất thấp”
1.4.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp vùng đồi núi Việt Nam
Ở Việt Nam, đất đồi núi chiếm 3/4 diện tích đất tự nhiên Nhìn chung đây là những loại đất khó khai thác sử dụng và kém hiệu quả, đặc biệt khi đất đã mất thảm thực vật che phủ Trong những năm 40 của thế kỷ XX, diện tích che phủ rừng ở nước ta khoảng 45%; đến những năm 80 chỉ còn khoảng 25% Hiện nay, diện tích che phủ rừng ở nước ta đã tăng lên khoảng 32% Tuy nhiên diện tích đất trống đồi núi trọc vẫn còn khoảng 10 triệu ha Đất dốc phân bố ở tất cả 9 vùng sinh thái của
cả nước, nhưng chủ yếu tập trung ở vùng núi phía Bắc, Tây Trung bộ và Tây
Nguyên (Lê Quốc Doanh, Hà Đình Tuấn, Andre Chabanne, 2005), Canh tác đất dốc bền vững)
Tổng diện tích đất đồi núi ở Việt Nam là 23.969.600 ha (72,8% diện tích tự nhiên toàn quốc), trong đó sử dụng cho mục đích nông nghiệp là 4.413.700 ha (18,4%) và cho lâm nghiệp là 11.802.700 ha (49,3%) Khả năng mở rộng diện tích đất canh tác cho cây lâu năm trên đất đồi núi là 561.300 ha
Phần lớn diện tích đất có độ dốc dưới 150 (chiếm 21,9%) đã được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp hoặc nông lâm kết hợp Diện tích đất có độ dốc từ 150 đến
250 chiếm khoảng 14,6%, còn lại là đất có độ dốc lớn hơn 250 (chiếm 61,7%) Do thiếu đất sản xuất nên nông dân miền núi vẫn phải canh tác trên đất có độ dốc lớn hơn 250 chịu xói mòn rất mạnh và thời gian canh tác bị rút ngắn, thường chỉ trồng được 2 - 3 vụ cây lương thực ngắn ngày, sau đó trồng sắn và bỏ hoá (Lê Quốc
Doanh, Hà Đình Tuấn, Andre Chabanne, 2005, Canh tác đất dốc bền vững)
Đặc điểm thuận lợi của vùng đồi núi Việt Nam là rất đa dạng về các loại hình thổ nhưỡng và phong phú về khả năng sử dụng, đa dạng hoá cây trồng Nhưng trở ngại nổi bật là do địa hình chia cắt, độ dốc lớn nên dễ bị xói mòn, rửa trôi Do đó đã kéo theo hàng loạt các vấn đề như: kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân còn
Trang 24nhiều khó khăn (Nguyễn Thế Đặng, Đào Châu Thu, Đặng Văn Minh, 2003, Đất đồi núi Việt Nam)
Theo Hoàng Văn Thụ (2000), “Xói mòn đất trên một số hệ thống canh tác đất dốc miền núi phía Bắc Việt Nam”) thì hệ thống sinh thái nông nghiệp vùng núi phía Bắc Việt Nam rất dễ bị suy thoái và tổn thương do các hoạt động canh tác thiếu các biện pháp bảo tồn đất và nước Do có độ dốc lớn, mưa tập trung nên xói mòn là nguyên nhân chính làm cho năng suất cây trồng giảm sút, đất đai nghèo kiệt
Từ những năm 1980 đến nay, các chương trình nghiên cứu và sử dụng đất đồi núi tập trung vào các dự án đánh giá đất và xây dựng các mô hình sản xuất như
hệ thống nông lâm kết hợp, hệ thống vườn ao chuồng rừng và trang trại sản xuất rừng đồi, vườn đồi
Các chương trình phát triển lâm nghiệp xã hội, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ vùng đầu nguồn, xây dựng thôn bản mới, quy hoạch sử dụng đất có người dân cùng tham gia, xây dựng và cải thiện thị trường nông thôn, ngân hàng và tín dụng nông thôn là những hoạt động hữu hiệu và vô cùng quan trọng góp phần bảo vệ đất và
sử dụng đất đồi núi hợp lý nhất
Canh tác bền vững trên đất dốc trong điều kiện nước ta hiện nay là rất khó, song chúng ta cần thiết phải làm rõ nguyên nhân và tìm mọi biện pháp để từng bước thực hiện góp phần phát triển nông nghiệp bền vững
Vì vậy, từ năm 1990 đến nay, Viện Thổ nhưỡng Nông hoá (Viện Thổ
nhưỡng nông hoá, 1999, Kết quả nghiên cứu khoa học - Quyển 3) đã phối hợp với
một số tổ chức quốc tế như IBSRAM (International Board for Soil Research and Management - Tổ chức quốc tế về nghiên cứu và quản lý đất), ACIAR - IBSRAM (Phối hợp nghiên cứu sử dụng đất chua vùng đồi với Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp quốc tế Autralia và IBSRAM), VIETCALSOIL (Phối hợp nghiên cứu và áp dụng tiến bộ canh tác trên đất dốc với Viện Nông nghiệp Canada, trường Đại học Saskatchewan), CIAT (Phối hợp nghiên cứu và áp dụng tiến bộ kỹ thuật công nghệ
về quản lý đất dốc trồng sắn với Trung tâm quốc tế nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới) và các cơ quan nghiên cứu triển khai trong nước, tiến hành các thí nghiệm dài
Trang 25hạn và nghiên cứu triển khai với sự tham gia của người dân trên đất của các nông hộ sau khi được giao đất, giao rừng; xây dựng mô hình canh tác trên đất dốc; áp dụng tiến bộ công nghệ canh tác trên đất dốc; kết hợp với các tổ chức khuyến nông, Sở nông nghiệp, phòng Nông nghiệp địa phương tiến hành hội nghị đầu bờ, mở các lớp tập huấn, tổ chức các hội nghị, hội thảo chuyên đề
Về sử dụng đất đồi núi, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (1996), (2001) đã phân cấp độ dày tầng đất và độ dốc của các loại đất phục vụ cho công tác quy hoạch sử dụng đất có hiệu quả và lâu bền Viện đã có những công trình nghiên cứu tập trung vào xây dựng bản đồ đất, đánh giá đất, đánh giá hiện trạng, đề xuất, định hướng phát triển, quy hoạch và phân vùng sinh thái cho các loại cây trồng hàng hoá vùng đồi và cây đặc sản vùng đồi, đặc biệt là đánh giá và đề xuất các giải pháp cải tạo, sử dụng đất trống đồi núi trọc trên phạm vi cả nước
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (1993), (1994) hàng năm có nhiều chương trình nghiên cứu và trong số đó đất đồi cũng rất được quan tâm Ngoài
ra, có rất nhiều ngành khác nhau cũng nghiên cứu về đất đồi dưới nhiều khía cạnh, sao cho sử dụng đất đồi đạt hiệu quả cao nhất Thông qua các chính sách như định canh, định cư, chống phát nương đốt rẫy, kiến thiết ruộng bậc thang, xây dựng đường, băng chống xói mòn trên sườn đồi dốc, trồng cây phân xanh, cây phủ đất giữ ẩm đã tạo nên những loại hình sử dụng đất bền vững
1.5 Đất trồng cây hàng năm
Cây hàng năm là loại cây trồng có thời gian sinh trưởng và tồn tại không quá một năm, bao gồm cây lương thực có hạt (lúa, ngô, kê, mỳ ), cây công nghiệp hàng năm (mía, cói, đay ), cây dược liệu hàng năm, cây thực phẩm và cây rau đậu
Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đồng cỏ dùng cho chăn nuôi, đất trồng cây hằ`ng năm khác
Hay có thể hiểu đon giản như sau: Đất canh tác (đất trồng cây hàng năm) là loại đất sử dụng trồng các loại cây hàng năm như: Cây lương thực (lúa, ngô .), cây công nghiệp ngắn ngày (lạc, thuốc lá, bông ), các loại rau đậu, các loại cây làm thuốc, cây thức ăn gia súc, đất trồng cỏ
Trang 26• Đối với cây hàng năm có hai loại năng suất:
Năng suất gieo trồng = Sản lượng thu hoạch
Diện tích gieo trồng
Năng suất thu hoạch = Sản lượng thu hoạch
Diện tích thu hoạch
1.6 Khái niệm loại hình sử dụng đất
Hệ thống sử dụng đất là sự kết hợp của một loại sử dụng đất với một điều kiện đất đai riêng biệt tạo thành 2 phần khăng khít tác động lẫn nhau, từ các tương tác này sẽ quyết định các đặc trưng về mức độ và các loại chi phí đầu tư mức độ và loại cải tạo đất đai và năng suất, sản lượng của loại sử dụng đất
Loại hình sử dụng đất (LUT: Land Use Type): Là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng đất với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện kinh tế - xã hội và kỹ thuật xác định Nói cách khác loại hình sử dụng đất là những hình thức sử dụng đất khác nhau để trồng một loại cây hay trồng một
tổ hợp cây trồng
Loại hình sử dụng đất tùy theo mức độ và tên gọi khác nhau, nhưng trong nông nghiệp, loại hình sử dụng đất đai được hiểu khái quát là những hình thức sử dụng đất đai để sản xuất một hay một nhóm cây trồng, vật nuôi trong chu kỳ một năm hay nhiều năm Đơn vị đât đai là nền, còn loại hình sử dụng đất là đối tượng để đánh giá, phân hạng mức độ thích hợp của đất đai
Đề cương đánh giá đất của FAO năm 1976 đã giới thiệu: loại hình sử dụng đất – LUT là sự phân chia chi tiết hơn của các loại hình sử dụng đất đai chính Chúng được mô tả theo các thuộc tính nhất định Các thuộc tính đó gồm quy trình sản xuất, các đặc tính về kinh tế kỹ thuật như định hướng thị trường, vốn, thâm canh, lao động, vấn đề sở hữu đất đai
Như vậy, loại hình sử dụng đất là đợn vị xếp dưới hệ thống canh tác và liên quan chặt chẽ với các hệ thống đơn vị đất đai Mức độ chi tiết cảu các loại hình sử dụng đất phụ thuộc vào mục iêu, quy mô và tỷ lệ bản đồ sử dụng đất trong đánh giá đất
Trang 27Trong nghiên cứu, đánh giá và quy hoạch sử dụng đất đai, các loại hình sử dụng đất hiện có sẽ được xác định và mô tả về tình hình sản xuất, hình thức quản lý sản xuất, quy mô nông trại, các biện pháp canh tác, mức độ đầu tư, năng suất, hiệu quả sản xuất và yêu cầu đất đai Từ đó lựa chọn các loại hình sử dụng đất thích hợp, bền vững, bền vững về hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường và lấy
nó làm đối tượng đánh giá đất đai
Ở Việt Nam, khái niệm này đã được Bùi Quang Toản giới thiệu từ năm
1977 Qua thử nghiệm cho thấy loại hình sử dụng đất đai trong nông nghiệp có thể được áp dụng rộng rãi như: chuyên lúa, lúa và cây trồng cạn, chuyên cây trồng cạn, vườn cây, cây trồng thức ăn gia súc (đối với đất đồng bằng); Cây hàng năm, cây lâu năm, đồng cỏ chăn thả, rừng trồng và khai thác, rừng bảo vệ (đối với đất đồi núi)
* Cơ sở để lựa chọn LUT:
Loại hình sử dụng đất cho thấy các loại cây trồng sản xuất có trong vùng nghiên cứu
- Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đánh giá đất
- Các nhu cầu của địa phương về phát triển hoặc thay đổi sử dụng đất
- Các khả năng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và các tiến bộ kỹ thuật mới được đề xuất cho các thay đổi sử dụng đất
Việc đánh giá hiện trạng sử dụng đất sẽ lựa chọn các LUT từ các loại sử dụng đất có triển vọng
*Liệt kê các LUT hiện tại theo thứ tự đánh giá hiện trạng:
- Các LUT có ý nghĩa sản xuất của vùng
- Các LUT có triển vọng của vùng và các vùng lân cận có cùng điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội
- Các LUT có triển vọng theo kinh nghiệm của các nông dân, các nhà khoa học – kỹ thuật trong vùng nghiên cứu
- Các LUT có triển vọng theo các kết quả thử nghiệm từ việc nghiên cứu khoa học hay khuyến nông
Việc lựa chọn, chắt các LUT dựa trên kết quả đánh giá hiệu quả sử dụng đất của các LUT
Trang 281.7 Thay đổi loại hình sử dụng đất và nguyên nhân của sự thay đổi đó
Trong vài thập kỷ gần đây, do sự bùng nổ dân số cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của khoa học ký thuật đã làm biến đổi sâu sắc cảnh quan môi trường Sự mất cân đối nghiêm trọng giữa nhu cầu con người với khả năng cung cấp của tự nhiên
đã làm cạn kiệt dần các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó có đất Trong sản xuất nông nghiệp, để đáp ứng những nhu cầu về lương thực, thực phẩm con người
đã tìm mọi biện pháp để đất đai sản sinh ngày càng nhiều sản phẩm, tọa ra nhiều của cải vật chất, nâng cao đời sống tinh thần của người dân Từ đó con người đã nghiên cứu các loại hình sử dụng đất phù hợp với điều kiện tự nhiên, đem lại năng suất và giá trị hàng hàng hóa cao hơn so với các loại hình sử dụng đất cũ
1.7.1 Nguyên nhân của sự thay đổi loại hình sử dụng đất nông nghiệp
a) Điều kiện tự nhiên
Khi sử dụng đất bề mặt không gian cần thích ứng với điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như những yếu tố bao quanh mặt đất như: nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, không khí và các khoáng sản dưới lòng đất Trong nhân tố điều kiện tự nhiên thì điều kiện khí hậu là nhân tố hàng đầu, sau đó là điều kiện đất đai chủ yếu là địa hình, thổ nhưỡng và các nhân tố khác
b) Kinh tế - xã hội:
Nhân tố kinh tế xã hội bao gồm các yếu tố chủ yếu về xã hội, dân số và lao động, thông tin và quản lý chính sách, môi trường và chính sách đất đai, yêu cầu quốc phòng, sức sản xuất và trình độ phát triển kinh tế hoàng hóa, cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực
Nhân tố xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo về việc sử dụng đất đai nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói riêng Thật vậy, phương thức sử dụng đất nông nghiệp được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định
Trang 291.7.2 Đánh giá và nghiên cứu các nguyên nhân của sự thay đổi loại hình sử dụng đất nông nghiệp
a) Điều kiện tự nhiên
* Điều kiện khí hậu:
Các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt sản xuất của con người Nhiệt độ bình quân cao thấp, sự sai khác về nhiệt đọ và ánh sáng, về thời gian và không gian trực tiếp ảnh hưởng tới sự phân
bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, cây rừng và thực vật thủy sinh , lượng mưa nhiều ít, bốc hơi nhanh hay chậm có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt
độ, độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sinh trưởng của cây trồng, gia súc, thủy sản
* Điều kiện đất đai:
- Đặc điểm lý, hoá tính của đất: trong sản xuất nông lâm nghịêp, thành phần
cơ giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất, quyết định đến chất lượng đất và sử dụng đất Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốt hay xấu, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất
- Nguồn nước và chế độ nước: là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điều kiện quan trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp cho sinh vật sinh trưởng và phát triển
- Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: điều kiện địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng
là yếu tố quyết định lớn đến hiệu quả sản xuất, độ phì đất có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và năng suất cây trồng vật nuôi
- Vị trí địa lý: vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp sẽ quyết định đến khả năng và hiệu quả sử dụng đất Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng đất nông lâm nghiệp cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế sẵn có nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường Mặt khác, do địa hình phức tạp nên đất đai bị biến đổi mạnh, bị chia cắt thành nhiều khu vực nên ruộng đất manh mún nhỏ lẻ gay khó khăn cho việc làm đất, thiết kế lô thửa để phát triển chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp Đặc biệt là vấn đề bố trí cơ cấu bới vì sản xuất nông
Trang 30nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào hệ thống thủy lợi Tuy vậy, đặc điểm đất chiêm trũng thường thuận lợi trồng các loại cây lương thực, thực phẩm, hoa màu và một số loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao Vì vậy vị trí địa lý cùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước, lượng mưa và các điều kiện tự nhiên khác
sẽ quyết định đến khả năng và hiệu quả sử dụng đất
b) Kinh tế - xã hội
- Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp Trong các yếu tố cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất thì yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, nó góp phần vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu tố đầu vào cho sản xuất Các yếu tố khác như thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc, dịch vụ, nông nghiệp đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng Trong đó thuỷ lợi và điện là yếu tố không thể thiếu trong điều kiện sản xuất hiện nay, giúp cho việc sử dụng đất theo bề rộng và bề sâu Các yếu tố còn lại cũng có hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản: là cầu nối giữa người sản xuất
và tiêu dùng, ở đó người sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hoá, điều này giúp cho họ thực hiện được tốt quá trình tái sản xuất tiếp theo
- Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng đất thể hiện sở khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng về vốn lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền thống trong sản xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất Do vậy, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất thì việc nâng cao trình độ và cập nhật thông tin khoa học,
kỹ thuật là hết sức quan trọng
- Hệ thống chính sách: chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh
tế nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách định canh định cư, chính sách dân số, lao động việc làm, đào tạo kiến thức, chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách xoá đói giảm nghèo các chính sách này đã có những tác động rất lớn đến vấn đề sử dụng đất, phát triển và hình thành các loại hình sử dụng đất mới
Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất và chế độ kinh tế xã hội khác nhau đã tác
Trang 31động đến việc quản lý của xã hội về sử dụng đất nông nghiêp, khống chế phương thức và hiệu quả sử dụng đất Trình độ phát triển xã hội và kinh tế khác nhau dẫn đến trình độ sử dụng đất nông nghiệp khác nhau Nền kinh tế và khoa học kỹ thuật nông nghiệp càng phát triển thì khả năng sử dụng đất nông nghiệp của con người sẽ được nâng cao
Ảnh hưởng của các điều kiện kinh tế đến sử dụng đất nông nghiệp được đánh giá bằng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp liên quan đến lợi ích kinh tế của người sử dụng đất nông nghiệp Tuy nhiên, nên có chính sách ưu đãi để tạo điều kiện cải thiện và hạn chế việc sử dụng đất theo kiểu bóc lột đất đai Mặt khác, sự quan tâm quá mức đến lợi nhuận cũng dẫn đến tình trạng đất bị sử dụng không hợp lý, thậm chí hủy hoại đất Vì vậy cần phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế - xã hội để nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội trong việc sử dụng đất nông nghiệp Căn cứ vào những yêu cầu thị trường của xã hội xác định cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp hợp
lý, kết hợp chặt chẽ yêu cầu sử dụng với yêu thế tài nguyên của đất đai, để đạt tới
cơ cấu hợp lý nhất, với diện tích đất nông nghiệp có hạn để mang lại hiệu quả kinh
tế, hiệu quả xã hội và sử dụng đất được bền vững
Trong hai nhóm nhân tố chủ yếu tác động đến việc sử dụng đất được trình bày ở trên, trong thực tế từng vùng, từng địa phương có những nhân tố thuận lợi và những nhân tố hạn chế tới việc sử dụng đất Đối với những nhân tố thuận lợi cần khai thác hết tiềm năng của nó, những nhân tố hạn chế phải có những giải pháp để khắc phục dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn Vấn đề mấu chốt của quá trình thay đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp là tìm ra những nhân tố hạn chế cản trở sản xuất
có hướng khắc phục
c) Biện pháp kỹ thuật canh tác
Biện pháp ký thuật canh tác là các tác động của con người và đất đaii, cây trồng, vậy nuôi nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yêu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích lũy năng suất kinh tế Theo tác giả Đường Hồng Dật, (1995) thì biện pháp kỹ thuật canh tác là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của con người về đối tượng sản xuất, vè thời tiết, về điều kiện mội trường và thể
Trang 32hiện những dự báo thông minh và sắc sảo Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng đầu vào phù hợp với các quy luật của sinh vật nhằm đạt mục tiêu đề ra Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh
Như vậy, nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Ngoài ra yếu tố tổ chức, kỹ thuật cũng là yếu tố chủ yếu hết sức quan trọng trong quy hoạch sử dụng đất, một bộ phận không thể thiếu được của quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Quy hoạch sử dụng đất phải dựa vào điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội của từng vùng mà xác định cơ cấu sản xuất, bố trí cơ cấu cây trồng vật nuôi cho phù hợp Đây chính là cơ sở cho việc phát triển hệ thống cây trồng, gia súc với cơ cấu hợp lý và đạt hiệu quả kinh tế cao
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các loại hình sử dụng đất trồng cây hàng năm của huyện Hòa An
- Sự thay đổi các loại hình sử dụng đất trông cây hàng năm trên địa bàn huyện, nguyên nhân và các tác động của sự thay đổi đó về mặt hiệu quả sử dụng đất
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: ranh giới trên địa bàn huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng
- Phạm vi thời gian: trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2013 (chia làm 2 giai đoạn nghiên cứu 2000-2005 và 2005-2013)
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng đất huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng
* Điều kiện tự nhiên
* Điều kiện kinh tế- xã hội
2.3.2 Đánh giá hiện trạng sử dụng đất của huyện Hòa An
- Xác định các loại hình sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện
- Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất trồng cây hàng năm trước khi thay đổi trên ba mặt: Kinh tế, xã hội và môi trường
- Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất trồng cây hàng năm sau khi thay đổi trên ba mặt: Kinh tế, xã hội và môi trường
- Đánh giá thích hợp cho các loại hình sử dụng đất trồng cây hàng năm
- Đề xuất các loại hình sử dụng đất và diện tích khuyến cáo cho vùng nghiên cứu
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất trồng cây hàng năm
Trang 342.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
* Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp
Thu thập các tài liệu, số liệu đã có tại các cơ quan trong tỉnh và huyện: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê huyện
- Thu thập các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội
- Thu thập các số liệu, tài liệu về địa chất, địa hình, đất đai, phân loại đất và các loại hình sử dụng đất của huyện
- Thu thập số liệu về tình hình sử dụng đất
* Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp
Điều tra tình hình sử dụng đất, tình hình sản xuất, mức độ đầu tư thâm canh, kết quả sản xuất… trên các loại hình sử dụng đất khác nhau bằng phương pháp phỏng vấn hộ nông dân theo phiếu điều tra (điều tra theo 2 tiểu vùng của huyện với
số lượng 120 phiếu)
2.4.2 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
- Phương pháp thống kê được ứng dụng để xử lý số liệu điều tra trong quá trình nghiên cứu
- Các số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel
2.4.3 Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất
* Hiệu quả kinh tế:
Để tính hiệu quả sử dụng đất trên một ha của các LUT, đề tài sử dụng hệ thống các chỉ tiêu sau:
- Tổng chi phí: Bao gồm các khoản chi phí được sử dụng trong quá trình sản xuất (chi phí vật chất và chi công lao động)
- Tổng thu nhập = Sản lượng x Đơn giá
- Thu nhập hỗn hợp (TNHH) = Tổng thu nhập - Chi phí vật chất
- Thu nhập thuần = Tổng thu nhập - Tổng chi phí
- Hiệu quả kinh tế của ngày công lao động = Thu nhập hỗn hợp/ số công lao động
Trang 35- Hiệu suất đồng vốn = Thu nhập hỗn hợp/ Tổng chi phí
Bảng 2.1 Phân cấp mức độ đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất
Cấp đánh
giá
Tổng giá trị sản xuất (Triệu đồng/ha/năm)
Thu nhập hỗn hợp (Triệu đồng/ha/năm)
Giá trị ngày công (1000đ/công)
Hiệu quả đồng vốn (lần) Rất cao > 60 > 40 > 70 > 2,4
Thấp < 20 < 10 < 30 < 1,2
(Nguồn: Tiêu chuẩn của Bộ Nông nghiệp – Phát triển nông thôn 2006)
* Hiệu quả xã hội:
Đánh giá hiệu quả xã hội là chỉ tiêu khó định lượng, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, do thời gian có hạn, chúng tôi chỉ đề cập đến một số chỉ tiêu sau:
- Khả năng phù hợp với hướng thị trường tiêu thụ của các LUT ở thời điểm hiện tại và tương lai
- Khả năng thu hút lao động, giải quyết việc làm cho người sản xuất
- Mối quan hệ cộng đồng của nông dân trong quá trình sản xuất
- Mức độ chấp nhận của người dân thể hiện ở mức độ đầu tư, ý định chuyển đổi cây trồng của hộ
* Hiệu quả môi trường:
- Thích hợp với đặc điểm, tính chất đất và nguồn nước của vùng đồi núi dốc
- Khả năng duy trì và cải thiện độ phì đất (như khả năng che phủ đất, giữ ẩm, trả lại cho đất tàn dư cây trồng có chất lượng, …)
- Chế độ luân canh ảnh hưởng đến khả năng cân đối về dinh dưỡng và cải tạo đất (như khả năng cố định đạm, khả năng hút dinh dưỡng của cây…)
- Mức độ sử dụng phân bón và các loại thuốc bảo vệ thực vật
2.4.4 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Tiến hành điều tra, đánh giá ở 4 xã (nhóm 2 xã Hoàng Tung, Hồng Việt và nhóm 2 xã Dân Chủ, Đức Long) đại diện cho 2 tiểu vùng khác nhau của huyện và mỗi xã tiến hành điều tra 30 hộ Do địa hình núi đá là vùng nùi đá tập trung cao, nguồn nước rất hạn chế, không thích hợp cho sản xuất nông nghiệp nên đề tài tập
Trang 36trung nghiên cứu trên 2 vùng địa hình chủ yếu là thung lũng và đất đồi núi dốc Ngoài ra sẽ lựa chọn một số các mô hình trang trại có trên toàn vùng để điều tra, khảo sát
- Phương pháp chọn hộ điều tra: tất cả các hộ dân đều tham gia trồng cây
hàng năm, có sự thay đổi loại hình sử dụng đất trong những năm gần đây và phân
bố đều trên địa bàn toàn tiểu vùng nghiên cứu
Trang 37Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội liên quan đến sử dụng đất
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Hoà An nằm ở vị trí trung tâm tỉnh và bao quanh Thành phố tỉnh lỵ Cao Bằng Huyện Hoà An có toạ độ địa lý:
+ Từ: 22030’10”- 22052’30” Vĩ độ Bắc + Từ: 106000’00”-106024’33” Kinh độ Đông
Từ 1/11/2010, diện tích huyện Hoà An còn lại 60.710,33 ha, giảm đi 5152,8
ha do diện tích 3 xã Vĩnh Quang, Hưng Đạo và Chu Trinh nhập về Thị xã Cao Bằng (Theo Nghị quyết 42/NQ-CP ngày 1/11//2010 của Thủ tướng Chính Phủ về điều chỉnh địa giới Thành phố Cao Bằng, chuyển 3 xã của huyện Hoà An vào Thành phố Cao Bằng)
Phạm vi ranh giới của Hoà An bao gồm:
+ Phía Bắc: Giáp các huyện Hà Quảng, Trà Lĩnh;
+ Phía Nam: Giáp huyện Thạch An;
+ Phía Đông: Giáp huyện Quảng Uyên và Phục Hòa;
+ Phía Tây : Giáp các huyện Nguyên Bình, Thông Nông
Với vị trí địa lý như vậy, Hoà An có nhiều lợi thế trong giao lưu kinh tế - xã hội so với nhiều huyện khác trong tỉnh
Hoà An là cửa ngõ của Thành phố - tỉnh lỵ Cao Bằng (trung tâm chính trị kinh tế văn hoá của tỉnh Cao Bằng)
Trên địa bàn huyện có các tuyến giao thông huyết mạch có ý nghĩa quốc gia
và quốc tế như các quốc lộ 3,4, 34; các tỉnh lộ 203 204 Theo các tuyến giao thông này, từ thị trấn huyện lỵ Nước Hai có thể lưu thông thuận lợi với Thành phố Cao Bằng (cách 16km về hướng Nam), các huyện khác trong tỉnh, với Hà Nội và các vùng khác trong nước các cửa khẩu với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa (gần nhất là cửa khẩu Sóc Hà – huyện Hà Quảng, cách 40 km về phía Bắc)
Trang 38* Địa hình, địa mạo
Hoà An có kiến tạo hình dạng dòng máng dọc sông Bằng theo hướng Tây Bắc- Đông Nam Độ cao trung bình của nền địa hình khoảng 350 m so với mực nước biến (thấp nhất 135m, cao nhất 1011m) sự phân hoá nên địa hình có thể phân theo 3 dạng chính: địa hình đồi núi đất, địa hình thung lũng bằng và địa hình núi đá Đặc điểm phân bố các dạng địa hình như sau:
+Dạng địa hình đồi núi đất: Độ cao trung bình 300 – 350m, phân bố tập
trung trên địa bàn 19 xã phía bắc, Đông Bắc và phía Nam huyện Đa phần đất
có độ dốc trên 25o xen kẽ các bãi bằng thung lũng hẹp và chân sườn đồi dốc thoải, độ dốc dưới 20o, dạng địa hình này được hình thành trên các loại đá Spinlit, sa thạch và phiến thạch sét, có thể bố trí trồng cây ngắn ngày, cây lâu năm và cây ăn quả kết hợp với phát triển lâm nghiệp Vùng địa hình này chiếm 63,4% diện tích toàn huyện
+ Dạng địa hình thung lũng bằng: Độ cao trung bình 140-200m, phân bổ
tập trung trên địa bàn 8 xã và thị trấn ở trung tâm huyện, dọc hai bờ sông Bằng Đây là vùng địa hình bằng (độ dốc phần lớn dưới 80), được hình thành chủ yếu do bồi đắp phù sa của các sông suối Trên địa hình này, đã hình thành những cánh đồng lúa nước xen kẽ các nương, bãi trồng màu khá màu mỡ Đây
là vùng sản xuất lúa có quy mô tập trung lớn không chỉ của huyện mà còn của toàn tỉnh Cao Bằng Dạng địa hình này chiếm 16,8% diện tích toàn huyện
+Dạng địa hình núi đá: Độ cao trung bình 350 – 400m, phân bố ở 6 xã
phía Tây, Đông Bắc và phía Đông huyện, trong đó tập trung nhất ở 4 xã phía Đông Nên địa hình này chủ yếu là các dãy núi đá vôi dốc đứng xen kẽ một số khe lũng bằng hẹp, khả năng khai thác sử dụng vào nông nghiệp của vùng địa hình này rất hạn chế, trong lâm nghiệp chủ yếu bảo vệ, phục hồi dạng rừng núi
đá, vùng địa hình này chiếm 19,8% diện tích toàn huyện
Đặc điểm địa hình của Hoà An cho thấy, sự phân hoá rõ rệt các dạng địa hình khác nhau mang lại ưu thế đa dạng trong khả năng khai thác sử dụng vào phát triển nông - LN, tuy nhiên trong sử dụng đất cần đặc biệt chú trọng nâng cao hiệu quả khai thác, đặc biệt đối với vùng địa hình bằng là nơi tập trung dân
cư cao gắn liền với quá trình đô thị hoá và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng,
Trang 39các vùng địa hình đồi núi gắn khai thác sử dụng với bảo vệ đất, nhằm đảm bảo tính bền vững trong quá trình sử dụng
* Thuỷ văn, nguồn nước
+ Sông Hiến: Chảy qua huyện theo hướng Tây Nam - Đông Bắc với độ dài 20km Sông có lưu lượng Qmax – 431m3/s Qmin – 3,83m3/s
+ Suối Củn: Chảy qua địa giới huyện 18km với lưu lượng Qmax – 116 m3/s , Qmax – 0,59m3/s
+ Hồ đập: Ở Hoà An có 4 hồ lớn, đó là hồ Phia Gào thuộc xã Đức Long, hồ
Nà Tấu thuộc xã Bế Triều, hồ Khuổi Lái thuộc xã Bạch Đằng và Hồ Khuổi Áng thuộc xã Hoàng Tung Các hồ này là nguồn nước chủ yếu để tuới cho các cánh đồng lúa Hoà An và phục vụ dân sinh
+ Ngoài ra trên địa bàn còn nhiều khe suối nằm trong lưu vực của các hệ thống các sông suối chính nêu trên
Nhìn chung nguồn nước mặt tương đối phong phú, cơ bản đáp ứng đủ nước cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt dân cư vùng ven sông suối, đặc biệt đối với tiểu vùng thung lũng cánh đồng Tuy nhiên về mùa mưa lũ, nước có lưu lượng lớn nên
dễ bị gây ngập lụt, sạt lở, sói mòn vùng ven sông Vì thế không bố trí các công trình kiên cố dọc khu vực này Đối với nguồn nước mặt bị hạn chế về mùa khô cần lựa
Trang 40chọn cơ cấu cây trồng hợp lý, chú trọng khai thác các nguồn nước khác cho sinh hoạt, đời sống (nước ngầm, mỏ mạch, nước mạch, nước dẫn…)
* Điều kiện thổ nhưỡng
Theo kết quả điều tra thổ nhưỡng và tổng hợp từ bản đồ tỷ lệ 1/25.000, Hoà An có 7 loại đất chính (không tính diện tích không tiến hành điều tra bao gồm núi đá, bãi cát sỏi, sông suối vv )
Đánh giá chung đặc điểm thổ nhưỡng cho thấy:
+ Các loại đất bằng có độ dốc thấp, độ phì từ trung bình đến khá, thành phần
cơ giới đa phần từ trung bình đến nặng Tầng dày đất trên 30cm chưa có tầng cứng rắn chiếm 6.415ha, các loại đất này thích hợp với các cây trồng lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày
+ Trong các loại đất đồi núi, diện tích thích hợp cho sử dụng vào nông nghiệp (độ dốc dưới 150, tầng dày trên 70cm ) có 2.766 ha, trong quy hoạch sử dụng cần ưu tiên bố trí các diện tích này cho phát triển cây nông nghiệp, đặc biệt các cây lâu năm, cây ăn quả nhằm phát huy ưu thế sinh thái của địa bàn miền núi Những diện tích đất đồi núi còn lại chủ yếu thích hợp cho phát triển kết hợp, nông lâm (độ dốc dưới 250) và lâm nghiệp
Bảng 3.1 Tổng hợp các loại đất chính của huyện Hòa An
TT Tên nhóm đất Diện tích (ha) % DTTN
Nguồn: Phòng Nông nghiệp và PTNT Hòa An
Năm nhóm đất có diện tích lớn nhất ở Hòa An là đất xám, đất nâu, đất đỏ, đất phù sa và đất xói mòn trơ sỏi đá Tróng đó nhóm đất xám chiếm hơn tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Đáng chú ý, Hòa An còn có nhóm đất đen, tuy chiếm diện