1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Bình Dương trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

119 778 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong bối cảnh mới của quá trình hội nhập kinh tế thế giới khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO, thì khu vực KTTN của tỉnh Bình Dương cũng bộc lộ không ít những hạn chế:

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐÀO THỊ PHƯƠNG LIÊN

XÁC NHẬN CỦA

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ

CHẤM LUẬN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Học viên

Trần Tố Uyên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám Hiệu - Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa Kinh tế chính trị đã tạo mọi điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn đã chỉ dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các Thầy, cô trong tổ tư vấn đã nhiệt tình giúp

đỡ, tư vấn, góp ý cho tôi hoàn thành tốt luận văn của mình

Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu, tư liệu khách quan giúp tôi hoàn thành luận văn này

Xin trân trọng cám ơn !

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MụC CHữ VIếT TắT i

DANH MụC CÁC BảNG ii

DANH MụC BIểU Đồ iii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 5

1.1.1 Vấn đề kinh tế tư nhân 5

1.1.2 Vấn đề kinh tế tư nhân với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 8

1.1.3 Khái quát kết quả các công trình nghiên cứu và vấn đề đặt ra với luận văn 11 1.2 Một số vấn đề cơ bản về kinh tế tư nhân và phát triển kinh tế tư nhân trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 12

1.2.1 Một số vấn đề cơ bản về kinh tế tư nhân 12

1.2.2 Phát triển kinh tế tư nhân trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 29

1.2.3 Các tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của KTTN trong quá trình hội nhập KTQT 33

1.3 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước về phát triển KTTN và bài học đối với tỉnh Bình Dương 40

1.3.1 Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc 40

1.3.2 Kinh nghiệm của tỉnh Bắc Ninh 46

1.3.3 Bài học kinh nghiệm đối với Tỉnh Bình Dương 48

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 51

2.1 Phương pháp nghiên cứu được sử dụng 51

2.1.1.Các phương pháp nghiên cứu sử dụng chung cho toàn bộ luận văn 51

2.1.2 Các phương pháp nghiên cứu điển hình của từng chương 52

2.2 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu 54

Trang 6

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG KINH TẾ TƯ NHÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 55

3.1 Các nhân tố về tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương ảnh hưởng tới sự phát triển của KTTN 55

3.1.1 Điều kiện tự nhiên của Bình Dương 55

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 56

3.1.3 Hệ thống kết cấu hạ tầng 58

3.2 Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Bình Dương giai đoạn 2009 – 2013 60

3.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế cá thể, tiểu chủ ở Bình Dương 60

3.2.2 Thực trạng phát triển loại hình doanh nghiệp dân doanh 63

3.2.3 Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh: 69

3.2.4 Tác động của kinh tế tư nhân tới phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương 73

3.3 Đánh giá chung về thực trạng kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Bình Dương 78

3.3.1 Những thành tựu chủ yếu 78

3.3.2 Hạn chế 80

3.3.3 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế 83

CHƯƠNG 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 86

4.1 Những căn cứ cho việc đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Bình Dương trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 86

4.1.1 Dự báo về bối cảnh kinh tế quốc tế, trong nước và trên địa bàn tỉnh Bình Dương 86

4.1.2 Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương trong những năm tới 89

4.2 Phương hướng phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong quá trình hội nhập 90

4.2.1 Định hướng chung 90

4.2.2 Định hướng của tỉnh Bình Dương 93

Trang 7

4.3 Những giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong quá trình hội nhập KTQT 94

4.3.1 Tạo lập môi trường kinh doanh ổn định, thuận lợi để huy động mọi nguồn lực của dân cư vào đầu tư, phát triển kinh tế tư nhân 94 4.3.2 Đổi mới chính sách đối với kinh tế tư nhân 98 4.3.3 Khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia các hoạt động kinh tế đối ngoại 101 4.3.4 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 102 4.3.5 Nâng cao vai trò của các hiệp hội đối với phát triển kinh tế tư nhân ở Bình Dương 103

KẾT LUẬN 106 DANH MụC TÀI LIệU THAM KHảO 107

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT Ký hiệu Nguyên nghĩa

3 DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 1.2 Vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế(theo giá

2 Bảng 3.1

Số lượng các cơ sở kinh tế cá thể, tiểu chủ phân

bố theo ngành trên địa bàn tỉnh Bình Dương qua các năm

58

3 Bảng 3.2

Số doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân đang hoạt động tại thời điểm 31/12/2012 trên địa bàn tỉnh Bình Dương

62

4 Bảng 3.3 Số lượng doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế

tư nhân phân theo nhóm ngành kinh tế 63

5 Bảng 3.4

Quy mô nguồn vốn doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Bình Dương tính đến 31/12

65

6 Bảng 3.5

Lãi/lỗ của các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân đang hoạt động tại thời điểm 31/12

69

7 Bảng 3.6 Tổng sản phẩm trong tỉnh phân theo loại hình

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

1 Biểu đồ 3.1 Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp tỉnh Bình Dương

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ( KTQT) đã và đang đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng ta đã chủ trương khuyến khích phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, khu vực kinh tế tư nhân đã phát triển mạnh, góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế Gần đây nhất, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng ta lại một lần nữa khẳng định: Hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế Phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế theo quy hoạch và quy định của pháp luật

Trong điều kiện hội nhập KTQT diễn ra mạnh mẽ hiện nay thì nhu cầu nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế đòi hỏi Việt Nam phải có nhìn nhận mới về kinh tế tư nhân (KTTN), một trong những bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Hiện nay kinh tế tư nhân ở nước ta phát triển khá nhanh, hoạt động hiệu quả trên nhiều lĩnh vực, chiếm 45,7% GDP cả nước (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam), cao nhất so với các thành phần kinh tế khác Vì vậy kinh tế tư nhân đóng góp quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội, nhất là trong lĩnh vực giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, từng bước nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong điều kiện Việt Nam ra nhập WTO, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, với diện tích 2694,4 km2 xếp thứ tư trong vùng Đông Nam Bộ Bình Dương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phát triển công nghiệp năng động của cả nước Khu vực kinh tế tư nhân của tỉnh Bình Dương thời gian qua có bước phát triển mạnh mẽ

- đặc biệt từ năm 2000 trở lại đây khi Luật Doanh nghiệp bắt đầu có hiệu lực, đã

Trang 12

từng bước phát huy lợi thế địa lý, tiềm năng, đóng vai trò không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội và thúc đẩy quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa của tỉnh Bình Dương Tuy nhiên, trong bối cảnh mới của quá trình hội nhập kinh tế thế giới khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO, thì khu vực KTTN của tỉnh Bình Dương cũng bộc lộ không ít những hạn chế: quy mô phát triển không đồng đều, chưa định hướng phát triển dài hạn, năng lực cạnh tranh, trình độ quản lý, công nghệ, nhân lực, nhận thức chưa rõ về các vấn đề liên quan đến quá trình hội nhập…cơ chế chính sách của chính quyền tỉnh cho khu vực KTTN chưa thực sự hữu ích đồng thời vẫn còn nhiều tiềm năng và lợi thế của tỉnh chưa được khai thác đầy đủ và có hiệu quả….Vì vậy việc nghiên cứu thực trạng phát triển cũng như tác động của kinh tế tư nhân đến sự phát triển kinh tế - xã hội là rất cần thiết, từ đó kịp thời đề ra những giải pháp, phát huy mặt mạnh và hạn chế những tác động tiêu cực,

có cơ chế thúc đẩy kinh tế tư nhân tiếp tục phát triển, đóng góp nhiều hơn nữa cho kinh tế tỉnh Bình Dương trên con đường hội nhập nói riêng và cả nước nói chung

Xuất phát từ các lý do trên học viên chọn đề tài “Phát triển kinh tế tư nhân

ở tỉnh Bình Dương trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” làm luận văn thạc

sỹ- chuyên ngành Kinh tế chính trị

Câu hỏi nghiên cứu: Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế tác động như thế

nào đến khu vực kinh tế tư nhân tỉnh Bình Dương? Những giải pháp mang tính đặc thù để phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong quá trình hội nhập KTQT

2 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích:

Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở xem xét quá trình phát triển KTTN ở phạm vi một địa phương cấp tỉnh trong điều kiện hội nhập KTQT đóng vai trò như thế nào tới kinh tế xã hội ở tỉnh Bình Dương; quá trình tăng trưởng cũng như chất lượng tăng trưởng của khu vực KTTN; sự tương tác giữa KTTN với các thành phần kinh tế khác; các nhân tố thúc đẩy cũng như cản trở sự phát triển của khu vực kinh tế này ở tỉnh Bình Dương Trước nhiều vấn đề và yếu cầu mới đặt ra,

Trang 13

đòi hỏi phải có các cơ chế, giải pháp phù hợp để xử lý kịp thời, có hiệu quả, tạo những đột phá tích cực nhằm khai thác các tiềm năng to lớn của KTTN phục vụ cho

sự phát triển kinh tế - xã hội của Bình Dương

4 Dự kiến những đóng góp của luận văn

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và khảo sát kinh nghiệm thực tiễn về kinh tế tư nhân và phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn tỉnh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

- Khảo sát và đánh giá thực trạng kinh tế tư nhân của tỉnh Bình Dương trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trên cả 2 mặt: thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó

Trang 14

- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy sự phát triển của kinh tế tư nhân ở tỉnh Bình Dương trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày theo 4 chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề cơ bản về phát

triển kinh tế tư nhân trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng của kinh tế tư nhân tỉnh Bình Dương trong quá trình

hội nhập kinh tế quốc tế

Chương 4: Phương hướng và giải pháp để kinh tế tư nhân hội nhập và phát

triển ở tỉnh Bình Dương

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN

TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

1.1.1 Vấn đề kinh tế tư nhân

1 Cuốn sách: “ Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân – Lý luận và chính sách” (2002, NXB CTQ) do PGS, TS Hà Huy Thành chủ biên đã đi sâu phân tích thực trạng phát triển khu vực KTTN ở nước ta trong thời kì đổi mới (theo ngành nghề và phân theo vùng lãnh thổ) nêu lên những kết quả đạt được, những tồn tại, yếu kém, nguyên nhân chủ yếu và khuyến nghị những chính sách, giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển khu vực KTTN Các giải pháp chủ yếu đó là:

- Hoàn thiện môi trường pháp lý, trong đó sớm ban hành Luật Doanh nghiệp chung cho mọi khu vực kinh tế, điều chỉnh sự hoạt động của các pháp nhân kinh tế không phụ thuộc vào hình thức sở hữu;

- Các chính sách khuyến khích tư nhân đầu tư vào các ngành nghề thúc đẩy nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa;

- Thiết lập các chế định hỗ trợ phát triển KTTN , như thành lập quỹ hỗ trợ DNNVV, hình thành ngân hàng đầu tư phát triển các DNNVV, thiết lập hiệp hội các DNNVV, trung tâm đào tạo cán bộ quản lý của các DNNVV…

2 Cuốn: “ KTTN và quản lý nhà nước đối với KTTN ở nước ta hiện nay” (2003, NXB CTQG) do GS, TS Hồ Văn Vĩnh chủ biên Trong cuốn sách này tác giả không chỉ phân tích thực trạng hoạt động của khu vực KTTN, mà còn phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với khu vực KTTN Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa

ra khuyến nghị phương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta Cụ thể là:

- Định hướng chiến lược phát triển KTTN

+ Đối với kinh tế cá thể, tiểu chủ tập trung vào một số ngành nghề sử dụng tiềm năng về vốn, sức lao động, tay nghề của từng gia đình, đặc biệt hướng vào phát triển sản xuất và chế biến nông lâm thủy sản

Trang 16

+ Đối với kinh tế tư bản tư nhân, cần khuyến khích phát triển sản xuất – kinh doanh trong tất cả các ngành nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ kể kể hoạt động xuất nhập khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài và đầu tư kinh doanh ra nước ngoài

- Tiếp tục đổi mới pháp luật và các chính sách phát triển KTTN

+ Về pháp luật: tiếp tục đổi mới pháp luật, tạo cơ sở pháp lý minh bạch, thông thoáng để KTTN hoạt động như thống nhất hóa Luật Doanh nghiệp với Luật Doanh nghiệp Nhà nước và Luật Đầu tư nước ngoài với Luật Đầu tư trong nước

+ Về chính sách: Tiếp tục hoàn thiện các chính sách ruộng đất, chính sách đầu tư, chính sách thuế, chính sách vốn và tín dụng ngân hàng, chính sách khoa học

và công nghệ, chính sách thương mại và giá cả, chính sách lao động việc làm và đào tạo nguồn nhân lực

- Tăng cường chức năng tổ chức của hệ thống quản lý nhà nước về kinh tế đối với KTTN

+ Tổ chức các doanh nghiệp thuộc KTTN đó là cơ chế, chính sách để mọi người ra kinh doanh công khai và hợp pháp khắc phục tình trạng kinh doanh ngầm, trốn tránh pháp luật;

+ Thành lập các tổ chức đại diện, tổ chức hỗ trợ đối với các doanh nghiệp thuộc khu vực KTTN

+ Phát triển các hình thức hợp tác trong khu vực KTTN

+ Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước đối với KTTN cụ thể là: thực hiện tốt việc phân công, phân cấp trong việc quản lý khu vực KTTN, quy định rõ chức năng, quyền hạn, trách nhiệm và mối quan hệ quản lý, tránh chồng chéo, lấn sân nhau hoặc bỏ trống trận địa giữa các cơ quan chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính; tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của khu vực KTTN

3 Cuốn sách “ KTTN Việt Nam sau hai thập kỷ đổi mới thực trạng và những vấn đề đặt ra” (2005, NXB Khoa học xã hội) của tác giả Đinh Thị Thơm Đây là công trình thu thập và hệ thống các bài viết phân tích, đánh giá, kiến nghị và những

Trang 17

giải pháp đúc kết trong những công trình, bài viết của 9 nhà nghiên cứu về những vấn đề lý luận, thực tiễn phát triển và hạn chế cũng như triển vọng phát triển của khu vực KTTN Công trình đề cập đến các nội dung sau:

- KTTN Việt Nam sau hai thập niên đổi mới, tiến triển và những hạn chế

- Các thành phần kinh tế ở Việt Nam, chính sách và thực tiễn thời kì đổi mới

- Những dự báo và chính sách sử dụng kinh tế tư bản tư nhân theo định hướng XHCN

4 Cuốn sách: “ Sự vận động, phát triển của KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” (2006, NXB CTQG) của tác giả Vũ Quốc Tuấn đã đi sâu phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn trình bày quá trình tìm tòi, thử nghiệm, đột phá, đấu tranh tư tưởng và tổng kết sự phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở Việt Nam, trong đó KTTN là bộ phận quan trọng Đồng thời phân tích, nhận dạng và dự báo xu hướng phát triển KTTN, đề xuất một số chính sách, giải pháp phát triển KTTN trong giai đoạn mới

5 Cuốn sách: “ Sở hữu tư nhân và KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” (2006, NXB CTQG) của GS, TS Nguyễn Thanh Tuyền là kết quả của công trình nghiên cứu đề tài khoa học cấp nhà nước KX.01.04 Trong cuốn sách này tác giả đã đề cập đến cơ sở lý luận và thực tiễn, bản chất, vai trò và vị trí của KTTN nói chung cũng như trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nói riêng, thực trạng phát triển KTTN ở nước ta Nội dung của công trình đề cập đến các vấn đề sau:

- Thứ nhất, nêu rõ luận cứ khoa học về tính tất yếu khách quan và sự phát triển lâu dài của sở hữu tư nhân và KTTN ở Việt Nam,làm rõ KTTN thực sự là một

bộ phận cấu thành của kinh tế xã hội chủ nghĩa, vai trò, vị trí của KTTN trong thời

kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mối quan hệ giữa vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước với vai trò của KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân, lợi ích kinh tế - xã hội mà nó mang lại; quan niệm mới về “bóc lột” giá trị thặng dư trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam

- Thứ hai, đề xuất 8 chính sách đổi mới có tính hệ thống và đồng bộ về phát triển KTTN trong cơ chế thị trưởng ở Việt Nam Các chính sách này được xoay

Trang 18

quanh tiêu điểm là bảo đảm sự phát triển lâu dài, bình đẳng, công nhận quyền lợi hợp pháp và không hạn chế đối với KTTN trong các lĩnh vực, nhằm hướng KTTN đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam, thích ứng với quá trình phát triển kinh tế trong tiến trình hội nhập kinh tế toàn cầu

- Thứ ba, dự báo về phương hướng xã hội hóa sở hữu tư nhân và KTTN trong phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, trong đó phác họa bước đi, hình thức, phương pháp xã hội hóa trên cơ sở tuân thủ một cách linh hoạt quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn

Như vậy, các công trình nghiên cứu đều thừa nhận KTTN là khu vực cung cấp khối lượng sản phẩm lớn nhất cho xã hội Sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó có KTTN là tất yếu bắt nguồn từ quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tình chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Đây là khu vực kinh tế năng động và có khả năng thích ứng nhanh nhạy với những đặc trưng của nền kinh tế thị trường, có tiềm năng lớn trong việc nâng cao năng lực nội sinh của đất nước, tăng trưởng kinh tế Các tác giả cũng nhất trí với quan điểm phát triển KTTN là có lợi cho CNXH và được coi là điều kiện không thể thiếu để xây dựng thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

1.1.2 Vấn đề kinh tế tư nhân với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Toàn cầu hóa và hội nhập KTQT ngày nay đã trở thành xu thế bao trùm, chi phối các mối quan hệ kinh tế và qua đó chị phối sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Một quốc gia tham gia hội nhập KTQT thì tất yếu chịu sự tác động của quá trình này, khu vực KTTN là bộ phận của nền kinh tế cũng không nằm ngoài xu thế đó Liên quan đến vấn đề này cũng có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu như:

1 Cuốn sách: “ KTTN trong tiến trình hội nhập” (năm 2003, NXB Khoa học

xã hội) của Viện thông tin khoa học xã hội, giới thiệu những nét khái quát về khu vực kinh tế nhạy cảm này qua những công trình nghiên cứu của nhiều chuyên gia quốc tế Trước hết, đó là sự thay đổi trong nhận thức về phát triển KTTN cũng những nội hàm của nó, những yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa chế độ tư bản chủ

Trang 19

nghĩa và chế độ XHCN trong suốt nhiều thập kỷ qua Các bài nghiên cứu trong cuốn sách này tập trung nêu vấn đề và luận giải sự tồn tại tất yếu của sở hữu tư nhân trong giai đoạn phát triển hiện nay; phân tích, đánh giá sự tiến triển và những hình thức đa dạng của nó ở phương Tây cũng như các nước phương Đông Cuốn sách cho thấy tư nhân hóa như một động thái tích cực trong quá trình quốc tế hóa các quan hệ kinh tế quốc tế diễn ra sôi động tại nhiều nền kinh tế có thể chế khác nhau Bên cạnh đó, cuốn sách này cũng đề cập Trung Quốc như một dẫn chứng cụ thể và tiêu biểu nhất trên cả phương diện lý luận và thực tiễn về một mô hình phát triển kinh tế thị trường XHCN, trong đó KTTN được xem là yếu tố cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân

2 Công trình: “ Phát triển khu vực KTTN ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập KTQT” (Tạp chí Ngân hàng số 5/2003) của tác giả Phan Hồng Giang đã đề cập tới vai trò và vị trí của KTTN trong nền kinh tế, tuy nhiên thách thức lớn nhất đối với KTTN khi hội nhập KTQT là năng lực cạnh tranh kém Trên cơ sở đó tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm tháo gỡ những khó khăn vướng mắc của khu vực KTTN như: Tiếp cận thông tin và nguồn lực đất đai; tín dụng; đào tạo; cung cấp thông tin, tư vấn và hỗ trợ KTTN hội nhập Đồng thời cũng có những kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước để thực sự đóng vai trò bàn đạp cho KTTN phát triển

3 Một số công trình nghiên cứu tác động của hội nhập KTQT đối với doanh nghiệp Việt Nam, trong đó các DNTN được nghiên cứu với tư cách là bộ phận cấu thành của doanh nghiệp Việt Nam như:

- Cuốn sách: “ WTO thuận lợi và khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam” (2006, NXB Lao động – Xã hội) của tác giả Nguyện Thủy Nguyên Trong công trình này tác giả đã giới thiệu khái quát về WTO: quá trình hình thành và phát triển của WTO, các nguyên lý pháp lý của WTO, cơ cấu tổ chức, giải quyết tranh chấp và cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại của WTO Tác giả cũng phân tích

sự ảnh hưởng của chế độ hoạt động thương mại và cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO với các nước đang phát triển Thông qua việc giới thiệu một số hiệp định trong WTO ( hiệp định GATS, TRIPR, hiệp định kiểm tra hàng hóa trước khi xuống

Trang 20

tàu, hiệp định về chống phá giá và thuế đối kháng…) tác giả đã đưa ra những cơ hội

và thách thức cho doanh nghiệp Việt Nam khi gia nhập WTO như: Vấn đề tạo dựng thương hiệu, tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa của Việt Nam; cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp trong một số ngành (viễn thông, dệt may, du lịch, nông sản)

- Cuốn: “ Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong

xu thế hội nhập KTQT” (2009, NXB CTQG) của tác giả Nguyện Hữu Thắng Các cuốn sách này đề cập tới các vấn đề như:

+ Khái niệm toàn cầu hóa, hội nhập KTQT cơ hội và thách thức của toàn cầu hóa đối với các nước; Vấn đề cạnh tranh trong quá trình toàn cầu hóa ( quan niệm

về cạnh tranh trước nửa đầu thế kỷ XX và nửa sau thế kỷ XX); Các yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; đo lường và các tiêu chí xác định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; cơ hội và thách thức đối với doanh nghiệp khi tham gia hội nhập quốc tế; yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp Việt Nam

+ Thực trạng doanh nghiệp: số lượng, quy mô vốn và lao động, ngành nghề,

cơ cấu doanh nghiệp (bao gồm các DNTN); thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam; thị phần và năng lực chiếm lĩnh thị phần, cạnh tranh sản phẩm, hiệu quả hoạt động của sản xuất kinh doanh, năng suất các yếu tố ( sử dụng vốn, tài sản, lao động), khả năng thu hút nguồn lực, khả năng liên kết, hợp tác của các doanh nghiệp

+ Một số quan điểm, phương hướng và giả pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập KTQT: nâng cao năng lực hoạt động của doanh nghiệp (đổi mới tổ chức quản lý, hoạt động Marketing…), sử dụng hiệu quả nguồn lực của doanh nghiệp, cải thiện môi trường

và điều kiện kinh doanh, phát triển các chế định hỗ trợ doanh nghiệp

4 Luận án tiến sĩ: “ Xu hướng phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn TP HCM trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” (2009, Trường Đại học kinh tế TP HCM) của tác giả Nguyễn Văn Sáng đã luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn của phát triển kinh tế tư nhân trong quá trình hội nhập KTQT; Phân tích thực trạng phát

Trang 21

triển kinh tế tư nhân trên địa bàn TP HCM qua đó dự báo và đưa ra các giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trong tiến trình hội nhập KTQT trong thời gian tới

Ngoài ra còn một số các công trình nghiên cứu như:

- “ KTTN TP HCM: thực trạng và giải pháp của tác giả Hà Văn Ánh đăng trên tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 294 – tháng 11/2002

- “ Định hướng và giải pháp tiếp tục khuyến khích phát triển KTTN ở tỉnh Đồng Nai” của tác giả Nguyện Công Thành đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 8 – 2002

- “ Phát triển khu vực KTTN kinh nghiệm Trung Quốc và bài học cho Việt Nam” của tác giả Lê Thị Vân Anh đăng trên Tạp chí Kinh tế và phát triển số 69/2003

- “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hà Nội” (2005, NXB CTQG) của tác giả TS Nguyễn Minh Phong

1.1.3 Khái quát kết quả các công trình nghiên cứu và vấn đề đặt ra với luận văn

- Các công trình trên đã nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về kinh tế tư nhân và xu hướng phát triển của khu vực KTTN trong quá trình hội nhập KTQT

- Đã phân tích, đánh giá thực trạng phát triển của khu vực KTTN ở Việt Nam tương ứng với các thời kì được nghiên cứu

- Đã đề xuất quan điểm và các giải pháp về phát triển kinh tế tư nhân nói chung và trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng

- Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nghiên cứu vấn đề phát triển kinh tế tư nhân ở tầm vĩ mô nói chung, một số công trình nghiên cứu kinh tế tư nhân của một số địa phương trong nước Nhưng chưa có công trình nghiên cứu chuyên biệt phát triển kinh tế tư nhân trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ở tỉnhBình Dương

Xuất phát từ thực tế đó đề tài “ Phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Bình Dương trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” được lựa chọn để thực hiện luận văn thạc

sĩ chuyên ngành kinh tế chính trị

Trang 22

Đề tài tiếp tục nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế tư nhân trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; phân tích đánh giá thực trạng phát triển kinh tế tư nhân trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; từ đó đề xuất một số giải pháp mang tính đặc thù để phát triển kinh tế tư nhân trong quá trình hội nhậpkinh tế quốc tế ở tỉnh Bình Dương trong thời gian tới

Các công trình nghiên cứu nêu trên là tài liệu tham khảo về lý luận và thực tiễn quý báu để tác giả kế thừa, sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn của mình

1.2 Một số vấn đề cơ bản về kinh tế tư nhân và phát triển kinh tế tư nhân trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

1.2.1 Một số vấn đề cơ bản về kinh tế tư nhân

1.2.2.1 Quan niệm về kinh tế tư nhân

Kinh tế tư nhân ( KTTN) có nguồn gốc phát sinh, tồn tại và phát triển tự nhiên của nó Như đã biết, sở hữu là phạm trù lịch sử, biển đổi cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội Sở hữu bắt nguồn từ mối quan hệ giữa con người và quá trình chinh phục thiên nhiên Trong lịch sử loài người sở hữu nguyên thủy được dựa trên nền sở hữu tập thể Với quá trình hình thành sở hữu tư nhân, gắn với quá trình phân công lao động xã hội và sự phát sinh của nền kinh tế hàng hóa Trên thực

tế, chiếm hữu tư nhân xuất hiện cùng với sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy, nó tồn tại và phát triển cho đến nay là cơ sở của KTTN Có nhiều quan niệm khác nhau về kinh tế tư nhân:

- Quan niệm của các nhà kinh điển Mác-Lênin về kinh tế tư nhân

Trong quá trình nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, thiên tài của Các Mác là đã phát hiện ra quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất

và trình độ của lực lượng sản xuất, mà trong quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu với các loại hình và hình thức phong phú của nó là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, mặt khác, đến lượt nó, quan hệ sở hữu lại có tác động kích thích hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, vì vậy cần thay đổi chế

độ tư hữu tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất khi nó đã đạt đến trình độ xã hội hóa cao Trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, kinh tế tư nhân với tư cách là

Trang 23

biểu hiện cụ thể của sở hữu tư nhân trong điều kiện là quan hệ sản xuất thống trị với

2 trình độ: sở hữu tư nhân dựa vào lao động của bản thân chủ sở hữu và sử hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa Ở trình độ thứ nhất: sở hữu tư nhân dựa vào lao động của bản thân chủ sở hữu, tức là “sở hữu do cá nhân mỗi người làm ra, kết quả lao động của cá nhân, sở hữu mà người ta bảo là cơ sở của mọi tự do, mọi hoạt động và mọi

sự độc lập của cá nhân” [2, tr.616] Với trình độ này, những người cộng sản không cần phải xóa bỏ, bởi chính nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự phát triển của nền đại công nghiệp cơ khí đã hàng ngày, hàng giờ xóa bỏ nó rồi, Mác nói “cái mà người công nhân chiếm hữu được bằng lao động của mình cũng chỉ đủ để tái sản xuất ra đời sống đã bị hạ xuống đến mức thấp mà thôi” và “chúng tôi tuyệt nhiên không muốn xóa bỏ sự chiếm hữu cá nhân ấy về những sản phẩm cần thiết để tái sản xuất

ra sự sống ngày mai Vì sự chiếm hữu ấy không đẻ ra một quyền lực chi phối lao động của người khác”[3, tr.168] Ở trình độ thứ hai, chế độ tư hữu không phải là sở hữu riêng của một cá nhân bất kỳ mà người chủ sở hữu đó có thể chiếm đoạt kết quả lao động của người khác, ông nói “ chế độ sở hữu tư sản….lại là biểu hiện cuối cùng và đầy đủ nhất của phương thức sản xuất và chiếm hữu sản phẩm dựa trên những đối kháng giai cấp, trên cơ sở những người này bóc lột người kia”[2, tr 615],

vì vậy ông khẳng định: “Điều chúng tôi muốn là xóa bỏ tính chất bi thảm của cái phương thức chiếm hữu nó khiến cho người công nhân chỉ sống để làm tăng thêm

tư bản và chỉ sống trong chừng mực mà những lợi ích của giai cấp thống trị đòi hỏi” [2, tr.618] Đồng thời các cũng khẳng định: không thể thủ tiêu chế độ tư hữu ngay lập tức được, cũng như không thể làm cho lực lượng sản xuất tăng lên ngay lập tức đến mức cần thiết để xây dựng một nền kinh tế công hữu, việc xóa bỏ chế độ sở hữu

tư nhân là do quy luật khách quan trong quá trình phát triển của xã hội loài người quyết định (không thể vượt qua sự phát triển đầy đủ của lực lượng sản xuất và sự chín muồi của các điều kiện kinh tế xã hội, tức là cưỡng chế, đi ngược quy luật), cũng như sẽ là ấu trĩ và phi lý nếu cho rằng trái đất cuối cùng sẽ bị hủy diệt, rồi từ

đó không tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nào nữa, tương tự sẽ là ấu trĩ và vu vơ nếu cho rằng xóa bỏ sở hữu tư nhân là kết quả tất yếu của sự phát triển

Trang 24

xã hội loài người, để rồi từ đó không cho phép chế độ sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân tồn tại và phát triển

Phát triển quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, trong điều kiện vừa mới giành được chính quyền, đặc biệt là ngay khi nội chiến chấm dứt vào năm 1921, V.I.Lêninđã chủ trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và là người đầu tiên đề cập tới kinh tế tư nhân với tư cách là một trong những thành phần kinh

tế cấu thành của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH và việc sử dụng kinh tế

tư nhân thông qua thực hiện chính sách kinh tế mới (NEP) Ông cho rằng: ở một mức độ nào đó chủ nghĩa tư bản là không thể tránh khỏi và tương ứng với nó vẫn còn sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân Các thành phần thuộc kết cấu kinh tế - xã hội thời đó bao gồm: "Nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính chất tự nhiên; Sản xuất hàng hóa nhỏ (trong đó bao gồm đại đa số nông dân bán lúa mì); Chủ nghĩa tư bản tư nhân; Chủ nghĩa tư bản nhà nước; Chủ nghĩa xã hội” [31, tr.284] Trong đó nông dân cũng như những người sản xuất nhỏ nói chung, vừa là người lao động, vừa là người tiểu tư hữu, vừa là người đầu cơ, còn thành phần kinh

tế tư bản tư nhân có đặc trưng cơ bản là dựa trên quan hệ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và sử dụng sức lao động làm thuê Nhà tư bản với tư cách là chủ sở hữu sẽ chiếm đoạt giá trị thặng dư, còn công nhân với tư cách là chủ sở hữu sức lao động, chỉ được nhận tiền công Đương nhiên trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần dưới sự quản lý của chính quyền Xô viết, kinh tế tư nhân không hoàn toàn giống kinh tế tư nhân dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, nhưng chiếm đoạt giá trị thặng dư vẫn

là bản chất cố hữu của kinh tế tư bản tư nhân Bởi vì:

Chủ nghĩa tư bản là xấu so với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa tư bản lại là tốt so với thời trung cổ, , vì chúng ta chưa có điều kiện để chuyển trực tiếp từ nền tiểu sản xuất lên chủ nghĩa xã hội, , bởi vậy chúng ta phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản làm mắt xích trung gian giữa nền tiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, làm phương tiện, con đường, phương pháp, phương thức để tăng lực lượng sản xuất lên” và “sử dụng chủ nghĩa tư bản tư nhân là để xúc tiến cho chủ nghĩa xã hội [31, tr.281]

Trang 25

Như vậy, bằng phương pháp biện chứng, duy vật về lịch sử các nhà kinh điển đã phân tích, đánh giá bản chất và vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân cũng như những hạn chế của nó trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời các ông cũng chỉ ra sự tồn tại của kinh tế tư nhân trong một giai đoạn nhất định là tất yếu khách quan và cần thiết

- Quan điểm của Đảng về KTTN

Ở Việt Nam thuật ngữ “kinh tế tư nhân” bắt đầu được sử dụng nhiều trong các sách báo, văn kiện của Đảng và Nhà Nước từ khi đổi mới đến nay Tuy nhiên trong quá trình phát triển, quan niệm KTTN được tiếp cận và sử dụng với những góc độ không giống nhau ngay cả trong giới nghiên cứu khoa học

Cuối những năm 1970, trước tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội của đất nước, Hội nghị lần thứ 6 của BCH Trung ương khóa IV (tháng 09/1979) chủ trương

“làm cho sản xuất bung ra” và sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế, Hội nghị khẳng định sự cần thiết kết hợp kế hoạch với thị trường, kết hợp thị trường có kế hoạch với thị trường tự do…Tiếp đến Ban Bí thư ra chỉ thị 100 về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp, Chính phủ ra Nghị định 25/CP, 26/CP xác định việc sử dụng các quan hệ thị trường… chính trên cơ sở những quyết sách đúng đắn đó, mà nhiều địa phương đã có những tìm tòi sáng tạo

về phát triển kinh tế hộ tiểu thủ công nghiệp, sửa đổi giá, lương, tiền Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng ( 1982 ) khẳng định chủ trương đó

và thừa nhận ở miền Nam vẫn còn năm thành phần kinh tế Tuy vậy, đến năm 1986, KTTN vẫn được coi là tồn tại tạm thời và giữ vai trò thứ yếu, bổ trợ cho kinh doanh quốc doanh

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986) đánh dấu bước quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và khẳng định sự tồn tại lâu dài của KTTN, Đại hội khẳng định đường lối đổi mới, chỉ rõ “nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ” Trong đó KTTN được coi là

“sự cần thiết khách quan để phát triển lực lượng sản xuất, tận dụng các tiềm năng, tạo thêm việc làm cho người lao động” Tuy nhiên KTTN vẫn bị giới hạn phạm vi

Trang 26

hoạt động, được phát triển chủ yếu trong “ lĩnh vực sản xuất, theo sự quản lý, hưởng dẫn của nhà nước” và “ cho phép những nhà tư sản nhỏ sử dụng vốn, kiến thức, kỹ thuật và quản lý của họ để tổ chức sản xuất, kinh doanh trong một số ngành, nghề thuộc khu vực sản xuất và dịch vụ ở những nơi cần thiết… Quy mô và phạm vi hoạt động của các cơ sở kinh tế tư bản tư nhân được quy định tùy theo ngành, nghề

và mặt hàng…Trong lĩnh vực lưu thông, phải xóa bỏ thương nghiệp tư bản tư nhân

Nghị quyết 16 của Bộ chính trị (1988) và Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng ( khóa VI ) tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI và đã bổ sung, cụ thể hóa một bước quan trọng và khẳng định, kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội và thể hiện dân chủ hóa về kinh tế và KTTN được phát triển không hạn chế về cả địa bàn lẫn quy mô trong các ngành, nghề mà pháp luật không cấm Đảng đã đưa ra quan niệm về KTTN; KTTN là đơn vị kinh tế do những người có vốn, có tài sản lập ra sản xuất và kinh doanh theo pháp luật, KTTN bao gồm các hình thức: hộ cá thể, hộ tiểu chủ, hộ tiểu nông, các DNTN dưới nhiều hình thức: xí nghiệp tư doanh, công ty tư doanh CTCP…Nghị quyết BCHCC TƯ lần thứ 6 khóa VI chỉ rõ: “ trong điều kiện của nước ta, các hình thức KTTN (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân) vẫn cần thiết lâu dài cho nền kinh tế và nằm trong cơ cấu của nền kinh tế hàng hóa đi lên chủ nghĩa xã hội” Về mặt pháp lý thì việc ban hành Luật cty và Luật DNTN ( năm 1990 ) đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc hình thành và phát triển của DNDD với các loại hình công ty TNHH, CTCP và DNTN

Tại Đại hội VII và VIII của Đảng tiếp tục khẳng định sự tồn tại và phát triển của KTTN Trên cơ sở tổng kết thực tiễn công cuộc đổi mới, Hội nghị Đại biểu giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng, tiến thêm một bước là chủ trương khuyến khích phát triển KTTN, không hạn chế về quy mô và địa bàn trong những ngành lĩnh vực mà pháp luật không cấm, tự do lựa chọn hình thức tổ chức; xóa bỏ những cấm đoán và ràng buộc vô lý, những thủ tục phiền hà gây khó khăn cho việc phát triển sản xuất kinh doanh của nhân dân

Trang 27

Đại hội VIII của Đảng năm 1996 tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của KTTN ở nước ta và cần phải có chính sách giúp đỡ KTTN phát triển: “ Tạo điều kiện kinh tế và pháp lý thuận lợi để các nhà kinh doanh tư nhân yên tâm đầu tư làm

ăn lâu dài” và “ Giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ giải quyết các khó khăn về vốn, công nghệ, thị trường và kinh nghiệm quản lý để mở rộng và nâng cao hơn hiệu quả sản xuất…Thực hiện các biện pháp chính sách để khuyến khích kinh tế tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất trong các ngành, các lĩnh vực phù hợp với mục tiêu và chiến lược phát triển của đất nước Bảo hộ quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật,

có lợi cho quốc tế dân sinh”

Đại hội lần thứ IX của Đảng ( 4/2001 ) tiếp tục phát triển chính sách kinh tế nhiều thành phần, bổ sung thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và sắp xếp các thành phần kinh tế theo thứ tự phù hợp hơn, coi trọng KTTN trong nước và chú trọng hơn đến nội lực của nền kinh tế Sự coi trọng KTTN trong giai đoạn này được thể hiện rõ trong Nghị quyết Hội nghị lần thư 5 Ban chấp hành Trung ương khóa

IX, lần đầu tiên KTTN được đặt vấn đề một cách rõ ràng, mạch lạc, cởi mở hơn và đặc biệt KTTN được nhận dạng đích thực và khẳng định vai trò: “ KTTN là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân Phát triển KTTN là vấn đề chiến lược lâu dài trong chiến lược phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tấm là phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao nội lực của đất nước trong hội nhập KTQT” Trong Hội nghị này, Đảng ta cũng đã đặt vấn đề: KTTN không chỉ liên doanh, liên kết với nhau, mà còn liên doanh với kinh tế tập thể và kinh tế Nhà nước, nhằm tạo ra lực đẩy đột phá trong vận hội mới của đất nước Hội nghị này cũng đã đặt ra một vấn đề nóng bỏng và nhạy cảm: cho phép và khuyến khích đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân

Đến Đại hội X của Đảng (4/2006), có thể coi là một sự khẳng định hoàn thiện trong quan niệm về KTTN ở Việt Nam: “ các thành phần kinh tế ( bao gồm kinh tế Nhà nước, KTTN, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn

Trang 28

đầu tư nước ngoài ) đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài…”

và “ KTTN có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế “ và cần “ thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển doanh nghiệp” Trong cơ cấu thành phần kinh tế ở phần báo cáo về “phương hướng”, nhiệm vụ phát triển kinh tế-

xã hội 5 năm 2006-2010” của Đại hội X có quan niệm: khu vực kinh tế nhà nước kinh tế dân doanh, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và “ Thực hiện chính sách ưu đãi hoặc hỗ trợ điều kiện, có thời hạn đối với một số ngành, sản phẩm thiết yếu, một số mục tiêu địa bàn, DNNVV, không phân biệt thành phần kinh tế, phù hợp với các cam kết quốc tế của nước ta” Trong văn kiện này, cũng có vấn đề cần chú ý: ngay trong các HTX kiểu mới cũng cần đa dạng hóa các hình thức sở hữu ( các sở hữu pháp nhân, thể nhân )…Ở đây, ngay trong loại hình kinh tế tập thể, vẫn còn có phần sở hữu tư nhân Mặc khác, cần khuyến khích phát triển các doanh nghiệp lớn của tư nhân, các tập đoàn KTTN có nhiều sở hữu với hình thức CTCP…và “ khuyến khích tư nhân mua cổ phần của các DNNN, tham gia đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh quan trọng của nền kinh tế”

Qua việc điểm lại một cách rất tóm tắt quá trình đổi mới tư duy của Đảng về vị trí, vai trò của KTTN thể hiện trong các văn kiện, các nghị quyết có thể thấy rằng quan niệm về KTTN của Đảng có nhiều thay đổi Theo đó KTTN từ chỗ bị phủ nhận, đã từng bước được thừa nhận; ban đầu với tư cách là một đơn vị kinh tế cá thể tiểu chủ và tư bản

tư nhân (Nghị quyết 16 Bộ chính trị BCHTW khóa VI, 3/1989) thì đến Đại hội X (4/2006) đã xác định rõ ràng KTTN là một thành phần kinh tế ( bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân) tồn tại một cách khách quan trong nền kinh tế với nhiều thành phần khác Hiện nay KTTN được khẳng định là có vị trí quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Quan niệm về thành phần kinh tế là có tính chất lịch sử Với chỉ thị CT/TW (14/05/1958), khái niệm thành phần kinh tế lần đầu tiên được sử dụng ở Việt Nam thời kỳ hoạch định chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế Tuy nhiên, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ không

Trang 29

81-còn một thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa biệt lập như cách hiểu của V.I.Lênin trước đây, mà là các loại hình kinh tế với các phương thức sản xuất khác nhau cùng tồn tại và vận động, hợp tác và cạnh tranh, bình đẳng trước pháp luật Hơn nữa, việc tiếp cận thành phần kinh tế nghiêng về ý nghĩa chính trị hơn là ý nghĩa kinh tế nhằm nhận định về thái độ nhìn nhận và phân biệt về chế độ, chính sách của nhà nước đối với các thành phần kinh tế Hiện nay, nếu tiếp cận các lực lượng kinh tế theo thành phần kinh tế sẽ gây tác động về tâm lý, rằng đây là tư nhân, phi xã hội chủ nghĩa, là thành phần bóc lột và là nguồn gốc sinh ra bóc lột Một khi còn phân biệt thành phần kinh tế, tức là còn phân biệt giai cấp trong đấu tranh chính trị, cho dù không nhằm xóa bỏ các thành phần kinh tế, thì cũng khó có một sự bình đẳng thật sự và vẫn chứa đựng nguy cơ, khả năng xuất hiện sự xóa bỏ Chính vì vậy, trong luận án này tác giả đồng tình với quan điểm xem KTTN là một khu vực kinh tế Vì trong

xu thế chung của quá trình hội nhập đòi hỏi chúng ta phải tuân theo những luật lệ, các thông lệ quốc tế Một trong những nội dung đó là xác lập phạm vi các khu vực kinh tế Có như vậy mới đảm bảo tính khoa học trong việc xác lập vai trò của các khu vực kinh tế một cách khách quan Theo thông lệ của thống kê quốc tế người ta thường chia nền kinh tế của các quốc gia thành 2 khu vực chính: khu vực kinh tế nhà nước và khu vực KTTN, ngoài ra còn có các khu vực kinh tế hỗn hợp giữa nhà nước và tư nhân, tư nhân với khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, hoặc nhà nước, tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Mặc khác, nếu phân chia cơ cấu kinh tế thành các khu vực: kinh tế nhà nước, KTTN, kinh tế có vốn đầu

tư nước ngoài, sẽ tạo cơ sở cho việc xác định, nhìn nhận rõ hơn vai trò của các nguồn lực, huy động được tối đa sức mạnh của cả cộng đồng vào phát triển Cách tiếp cận khu vực kinh tế, do đó, sẽ giúp lý giải được tiến trình của sự phát triển và

dự báo được các tiến trình kinh tế

Như vậy, theo tác giả có thể hiểu: KTTN là mộtthành phần kinh tế bao gồm

các đơn vị sản xuất kinh doanh dựa trên sở hữu tư nhân về TLSX, hoạt động dưới nhiều hình thức tổ chức như hộ kinh tế cá thể, tiểu chủ hay các loại hình doanh nghiệp…

Trang 30

1.2.1.2 Bản chất, đặc điểm và vai trò của KTTN trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

* Bản chất của kinh tế tư nhân

Khi nghiên cứu cơ sở lý luận về thành phần kinh tế cho thấy, tiêu chí cơ bản

để xác định một thành phần kinh tế chủ yếu dựa trên quan hệ sản xuất, đó là quan

hệ giữa con người với con người được hình thành trong quá trình sản xuất, thể hiện trên ba mặt: quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất; quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất; quan hệ phân phối sản phẩm, trong đó quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất đóng vai trò quyết định Do đó khi nghiên cứu bản chất của kinh tế tư nhân phải xem xét trên ba mặt đó

- Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất: Khác với kinh tế tập thể dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất, thì kinh tế tư nhân lại dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, song mỗi một loại hình kinh tế khác nhau có mức độ và phạm vi khác nhau Nên khi xem xét quan hệ sở hữu cần phân tích từng hình thức cụ thể:

+ Đối với kinh tế cá thể, tiểu chủ dựa trên hình thức sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất, đó là hình thức sở hữu của những người lao động tự do, sản xuất ra sản phẩm chủ yếu bằng sức lao động của chính mình hoặc các thành viên trong gia đình, loại hình kinh tế này tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất khác nhau Ở nước ta hiện nay kinh tế cá thể, tiểu chủ tồn tại dưới dạng các hộ sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ do một cá nhân hay một hộ gia đình làm chủ, hoặc có thuê một vài lao động, chưa đăng ký hoạt động kinh doanh theo loại hình doanh nghiệp, chỉ đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động sản xuất kinh doanh

+ Kinh tế tư bản tư nhân dựa trên sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê Tuy nhiên dưới sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tính “bóc lột” không còn gay gắt như trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và về lâu dài hướng kinh tế tư bản tư nhân vào kinh

tế nhà nước dưới những hình thức khác nhau

Trang 31

- Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất

+ Thực tế cho thấy nếu như kinh tế tập thể với nhiều hình thức đa dạng, liên kết rộng rãi những người lao động, những hộ sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ

và vừa thuộc các thành phần kinh tế nên quan hệ tổ chức quản lý được tiến hành theo nguyên tắc hợp tác tự nguyện, dân chủ và bình đẳng, công khai: tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi; hợp tác và phát triển cộng đồng Thì đối với kinh tế cá thể, tiểu chủ: việc điều hành hay tổ chức, quản lý quá trình sản xuất kinh doanh đều dựa trên sự điều hành của người chủ trong gia đình hay bản thân chủ thể trực tiếp tham gia, các thành viên khác phục tùng theo sự phân công đó, quan hệ giữa họ không phải là quan

hệ chủ - thợ hay quan hệ bóc lột mà là quan hệ có tính chất gia trưởng

+ Đối với kinh tế tư bản tư nhân quan hệ tổ chức quản lý đã có sự phân định rạch ròi giữa một bên là ông chủ có thể là cá nhân nếu đó là doanh nghiệp một chủ hay công ty tư nhân, có thể là một nhóm nếu đó là công ty cổ phần còn bên kia là lao động làm thuê, khi sức lao động đóng vai trò là hàng hóa thì người chủ sở hữu sức lao động

đó một khi đã đem bán cho người sử dụng thì cũng có nghĩa là anh ta phải phụ thuộc sự điều hành của ông chủ Trong phương thức sản suất tư bản chủ nghĩa sự phục tùng này rất khắt khe nhằm đem lại lợi ích tốt nhất cho nhà tư bản Khác với quan hệ phụ thuộc dưới phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, trong nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, quan hệ chủ thợ được hình thành dựa trên sự quản

lý và giám sát của nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa

- Quan hệ phân phối

+ Thực chất của quan hệ phân phối là giải quyết tốt mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa các cá nhân tham gia vào quá trình tái sản xuất, phân phối phải dựa trên quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, vì vậy kinh tế tập thể thực hiện phân phối theo lao động, theo vốn góp và mức độ tham gia dịch vụ thì đối với kinh tế cá thể, do dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và sức lao động của bản thân là chủ yếu, nên sản phẩm và kết quả lao động chủ yếu thuộc về chính họ hay cá nhân đó, ở đây, quan

hệ phân phối là sự tự phân phối trong nội bộ gia đình của các hộ sản xuất kinh doanh, nhằm đảm bảo nhu cầu tiêu dùng của các thành viên trong gia đình Nếu có thuê

Trang 32

mướn nhân công thì ngoài phân phối kết quả sản xuất, còn căn cứ vào giá trị sức lao động của lao động làm thuê Nhờ thực hiện quan hệ phân phối như vậy nên các loại hình kinh tế cá thể, tiểu chủ đã gắn kết lợi ích vật chất của các thành viên trong

hộ với kết quả sản xuất kinh doanh

+ Đối với kinh tế tư bản tư nhân, phân phối cho người lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, việc phát triển kinh tế tư bản tư nhân không thể phủ nhận tình trạng “bóc lột” trong quá trình phân phối Tuy nhiên dưới sự điều chỉnh của nhà nước pháp quyền và hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa thì tình trạng “bóc lột” không còn nguyên nghĩa như trong xã hội tư bản Các doanh nghiệp

tư nhân trong nền kinh tế nước ta là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân, được định hướng phát triển theo chủ nghĩa xã hội, được sự dẫn dắt của kinh tế nhà nước, được các chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước điều chỉnh; mặt khác hầu hết các doanh nghiệp này có quy mô nhỏ và vừa, chủ doanh nghiệp còn trực tiếp tham gia quá trình sản xuất, thu nhập của giới chủ có phần đóng góp lao động của bản thân, quan hệ chủ thợ đã được cải thiện theo hướng cùng nhau xây dựng và phát triển kinh tế đất nước, lợi ích các bên được điều chỉnh phù hợp với điều kiện đất nước, sự bóc lột chỉ ở trong giới hạn cho phép Thực tế cho thấy bộ phận công nhân làm việc trong lĩnh vực tư nhân không chỉ tăng thu nhập, đời sống của họ được cải thiện nhiều, mà trong quá trình làm việc công nhân được học tập kinh nghiệm tổ chức quản lý, sản xuất kinh doanh theo hướng hiện đại và khoa học, được tiếp cận với máy móc thiết bị hiện đại từ đó nâng cao trình độ tay nghề, có thể nói, đó là việc

hi sinh lợi ích trước mắt nhỏ hơn, vì lợi ích lâu dài lớn hơn, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

* Đặc điểm của kinhtế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa

Từ việc phân tích bản chất của kinh tế tư nhân có thể rút ra một số đặc điểm của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập ở nước ta như sau:

Trang 33

- Thứ nhất, kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa không có vị trí vai trò chủ đạo như trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa Do đó, với tư cách là bộ phận cấu thành của nền kinh tế, kinh tế tư nhân chịu

sự tác động chi phối, chủ đạo của kinh tế nhà nước và sự điều tiết của chính sách kinh tế và pháp luật của Nhà nước nên nó phải phát triển trong khuôn khổ chiến lược của nhà nước và theo định hướng của các chính sách kinh tế của nhà nước Nhiều yếu tố sản xuất của kinh tế nhà nước do kinh tế tư nhân cung cấp, đồng thời kinh tế nhà nước lại cung cấp điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển như: Nhà nước giao quyền sử dụng đất lâu dài cho tư nhân yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh, nhà nước tạo môi trường cung cấp thông tin kịp thời, nhà nước xây dựng hệ thống giao thông vận tải và các loại vật tư chiến lược khác,… tạo điều kiện khuyến kích kinh tế tư nhân đầu tư vào những ngành, lĩnh vực nhằm đạt mục tiêu phát triển,

vì vậy tính chất tư nhân thuần túy của kinh tế tư nhân không còn nữa

+ Thứ hai, xét về quy mô, kinh tế tư nhân ở nước ta đại bộ phận mới được tái

lập và xây dựng từ khi có đường lối đổi mới của Đảng (chủ yếu từ năm 1990 trở lại đây), chưa có thời gian dài để “tích lũy tư bản”, nên phần lớn quy mô nhỏ và vừa, trình độ công nghệ lạc hậu, khả năng đầu tư mở rộng và đầu tư chiều sâu còn hạn chế Căn cứ vào tiêu chí xếp loại doanh nghiệp theo quyết định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của chính phủ cho thấy, năm 2008 trong tổng số 205689 doanh nghiệp thì có đến 127180 doanh nghiệp siêu nhỏ, chiếm 61,83%; 72530 doanh nghiệp nhỏ và vừa, chiếm 35,26%, 5979 doanh nghiệp lớn, chiếm 2,9% Tuy số lượng các chủ thể tham gia làm kinh tế tư nhân rất đông, nhưng chưa có doanh nghiệp nào tầm cỡ, có khả năng cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, vì vậy không những không giành được ưu thế cạnh tranh trên thị trường khu vực mà còn

có nguy cơ “thua thiệt” ngay trên sân nhà, nhất là khi chúng ta thực hiện cam kết tham gia khu vực thương mại tự do của Hiệp hội các nước Đông nam Á (AFTA) và

mở rộng hội nhập kinh tế quốc tế, ra nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO)

+ Thứ ba, xét về lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh: Kinh tế tư nhân có

mặt ở hầu hết các ngành kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp và

Trang 34

xây dựng, nhưng chủ yếu tập trung ở các ngành thương nghiệp - dịch vụ, công nghiệp chế biến, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, xây dựng, vận tải kho bãi và thông tin liên lạc, khách sạn, nhà hàng, kinh doanh bất động sản, dịch vụ tư vấn, tài chính tín dụng Những năm đầu đổi mới, xu hướng chủ yếu là đầu tư vào những lĩnh vực có hiệu quả ngay, có thể đánh nhanh rút gọn, phòng khi có bất trắc xảy ra Nhưng kể từ khi có luật doanh nghiệp mới ra đời và theo đó là những chính sách và giải pháp cụ thể càng làm cho các nhà đầu tư yên tâm làm ăn lâu dài, về cơ bản đã hạn chế được tình trạng làm ăn chụp dật, “đánh nhanh rút gọn” và tâm lý lo sợ “vỗ béo rồi ăn thịt” như trước đây

+ Thứ tư, về loại hình tổ chức kinh doanh: Trước khi có Luật Công ty và

Luật Doanh nghiệp tư nhân, loại hình kinh tế phổ biến là hộ cá thể, tiểu chủ và doanh nghiệp tư nhân Khi hai luật này có hiệu lực, các loại hình doanh nghiệp đã phát triển đa dạng dưới các hình thức như: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và được đăng ký theo luật, quá trình này được triển khai đã giúp cho việc quản lý của nhà nước đối với kinh tế tư nhân được chính xác, cập nhật

và tiện lợi hơn Theo số liệu của Tổng cục thống kê về Doanh nghiệp Việt Nam 9

năm đầu thế kỷ XXI, bảng mục: Số doanh nghiệp phân theo quy mô nguồn vốn cho

thấy số doanh nghiệp tăng lên nhanh chóng, trong vòng 8 năm số doanh nghiệp tư nhân tăng gấp 2,26 lần, công ty hợp danh tăng 16,75 lần, công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân tăng 12,43 lần, đặc biệt công ty cổ phần không có vốn của nhà nước

tăng đến 70,23 lần

+ Thứ năm, về nguồn vốn: Một mặt nền kinh tế nước ta vừa mới thoát thai từ

nền kinh tế tự cung tự cấp, khép kín, nên thị trường nước ta còn ở tình trạng sơ khai, thiếu đồng bộ; mặt khác kinh tế tư nhân ở nước ta ít có quan hệ rộng rãi và thiếu kinh nghiệm thương trường Vì vậy, phần lớn các doanh nghiệp tư nhân khó tiếp cận được nguồn vốn từ quỹ tín dụng của các ngân hàng thương mại, chưa hình thành những quan hệ hợp tác lâu dài giữa người sản xuất, người cung ứng dịch vụ

và người tiêu dùng Trong những năm vừa qua, dưới ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, khu vực kinh tế tư nhân gặp không ít khó khăn, gây ảnh hưởng lớn

Trang 35

đến kết quả sản xuất kinh doanh, song nhờ có các chính sách hỗ trợ kịp thời từ chính phủ, cùng với sự cởi mở của chính sách mà vốn đầu tư của khu vực này vẫn tăng, cho thấy sức hấp dẫn của nó đối với các nhà đầu tư Nếu năm 2000 vốn đăng

ký kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân chỉ đạt đạt gần 14.000 tỷ đồng thì đến năm

2010 đã lên đến 500.000 tỷ đồng, vốn đầu tư của dân cư và tư nhân là 31,2%, tăng 3,9% so với năm 2009 [20, tr.4] Qua bảng số liệu dưới đây cho thấy, nguồn vốn đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước trong đó có kinh tế tư nhân là khá lớn, năm 2000 mới chỉ có 34594 tỷ đồng, chiếm 22,9% cơ cấu đầu tư toàn xã hội thì đến năm 2010 tăng lên 299.487 tỷ đồng, chiếm 36,1%

Bảng 1.2: Vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế(theo giá thực tế)

Đơn vị: Tỷ đồng

Năm Tổng số

Kinh tế Nhà nước

Kinh tế ngoài Nhà nước

KT có vốn ĐTNN

Nguồn: Trang Web của Tổng cục Thống kê

+ Thứ sáu, về đội ngũ cán bộ quản lý: Trình độ quản lý của các chủ doanh

nghiệp tư nhân còn thấp, thiếu kiến thức và ít kinh nghiệm kinh doanh trong kinh tế thị trường Do ít hoặc không có kỹ năng liên quan đến vấn đề khởi sự và quản trị doanh nghiệp nên đa phần họ gặp không ít khó khăn hoặc thậm chí thất bại Trình

độ hiểu biết pháp luật, đặc biệt là luật pháp quốc tế còn hạn chế, qua khảo sát ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy 42,1% giám đốc doanh nghiệp tư nhân không có bằng cấp về chuyên môn [14, tr139] Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay trình độ thấp của các chủ doanh nghiệp tư nhân cả về chuyên môn,

Trang 36

pháp luật, thị trường… đang là thách thức lớn, và là một trong những nguyên nhân đẩy nhiều doanh nghiệp tư nhân vào tình trạng nợ nần, phá sản, vi phạm pháp luật

Một là, phát huy tính năng động, hiệu quả thích nghi cao với sự vận động của

nền kinh tế thế giới

Tiến triển kinh tế thế giới trong vài thập niên qua cho thấy khi phân công lao động quốc tế và quá trình quốc tế hóa sản xuất trở nên sâu sắc, KTTN thực sự phát huy được những đặc trưng tích cực vốn có của nó trong nền kinh tế thị trường, đó là tính hiệu quả và tính năng động

Bản thân các đơn vị KTTN luôn chứa đựng trong mình những nhân tố ổn định tự

có ngay cả trong những điều kiện biến động Do các đơn vị KTTN quy mô nhỏ có khả năng linh hoạt, dễ hình thành, dễ thích nghi, phản ứng nhanh với biến động của thực tế hơn các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế lớn Bởi vì quy mô và cơ cấu của các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế lớn khá phức tạp, họ sẽ gặp nhiều khó khăn cho việc tái cơ cấu (cắt giảm chi phí, lao động) khi thị trường hay nền kinh tế có biến động bất lợi cho hoạt động kinh doanh Trong khi đó, do khả năng linh hoạt, có thể thích ứng nhanh với thay đổi của thị trường, các DNDD chủ yếu với quy mô nhỏ vẫn hoàn toàn có thể tồn tại được

mà không phải sử dụng đến biện pháp cắt giảm lao động

Như vậy, một nền kinh tế nếu đặt tỷ lệ quá lớn các nguồn lực vào các doanh nghiệp quy mô lớn sẽ trở nên chậm chạp, không bắt kịp và phản ứng nhanh với thay đổi của thị trường Ngược lại, một nền kinh tế có một tỷ lệ thích hợp các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ sẽ trở nên “nhanh nhẹn” hơn, phản ứng kịp thời hơn và

tính hiệu quả của nền kinh tế sẽ được nâng cao

Hai là, tạo việc làm cho người lao động

Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, đối với những nền kinh tế có mức thất nghiệp cao, tự do hóa thương mại đang đẩy nguồn nhân lực ở khu vực có năng suất thấp vào tình trạng thất nghiệp Mặc dù theo lý thuyết, tự do hóa thương mại sẽ giúp dịch chuyển các nguồn lực từ khu vực không có, hoặc kém hiệu quả sang các khu vực hiệu quả cao Song do họ chưa đạt tới một khung tài chính và kinh

Trang 37

tế cho phép các doanh nghiệp mới ra đời hoặc cho phép các doanh nghiệp đang hoạt động mở rộng và tăng cường xuất khẩu, nên họ chưa có được các phương sách sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn

Những quốc gia có khu vực KTTN mạnh đều đạt được những kết quả đáng nghi nhận Tốc độ tăng trưởng kinh tế đáng khâm phục ở các nước Đông Á trong những thập kỷ gần đây đã khẳng định tính đúng đắn của chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu trên cơ sở một số khuôn khổ chính sách thích hợp và sự trỗi dậy của một mạng lưới công ty tư nhân quy mô vừa và nhỏ.Những kết quả đạt được của khu vực này đã chứng minh tính hiệu quả vượt trội của hình thức này trong nền kinh tế mở, dồi dào lao động chi phí thấp

Ba là, khai thác và phát huy các nguồn lực và tiềm năng tại chỗ của các địa

phương, các nguồn tài chính dân cư

Trong nền kinh tế Việt Nam đang có một lượng vốn “dự trữ ẩn trong dân” rất lớn (dự báo có thể lên tới hàng chục tỷ USD) Nếu không có một cơ chế “động viên khuyến khích” phù hợp thì lượng vốn dự trữ này sẽ không nằm trong trạng thái tích lũy nữa Và để trở thành vốn theo đúng nghĩa (được đầu tư và sinh lời) rất cần có một môi trường phát triển

Sự lớn mạnh của khu vực KTTN kể từ khi Luật Doanh nghiệp mới ra đời

đã chứng minh một cách rõ nhất rằng nếu có một chính sách thích hợp sẽ khơi dậy được nguồn lực đang tồn tại trong dân cư một cách lãng phí dưới trạng thái

“tiềm năng” Hàm ý này xác định rõ nhất thực chất giá trị đột phá phát triển của Luật Doanh nghiệp mới với tư cách là một hệ chính sách phát triển KTTN thích hợp Mặt khác, nó chỉ ra vai trò quyết định tiềm năng to lớn của khu vực KTTN trong việc đánh thức nguồn nội lực đó

Ngoài ra việc phát triển KTTN không chỉ khơi dậy tiềm năng về nguồn vốn

mà còn khơi dậy mọi tiềm năng trí tuệ, kinh nghiệm quản lý, tay nghề, bí quyết, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh… được tích lũy qua nhiều đời của dân cư là tiềm năng “ chất xám” quan trọng của KTTN khi được phát huy Sự đa dạng về quy mô cùng với khả năng linh hoạt, dễ tổ chức sản xuất, kinh doanh dễ thích nghi của

Trang 38

KTTN làm cho nó có khả năng huy động mọi nguồn lực phân tán như: vốn, lao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, thiết bị kỹ thuật… kết hợp lại với nhau, qua

đó giải quyết việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, tăng tích lũy, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Bốn là, khu vực KTTN tạo nguồn thu nhập ổn định, thường xuyên cho dân

cư đồng thời đảm bảo nguồn thu ngân sách cho nhà nước

Khu vực KTTN tham gia ở nhiều lĩnh vực, ở nhiều nơi, sản xuất phân tán với khả năng sử dụng lao động tại chỗ vừa tạo việc làm, vừa tạo nguồn thu nhập ổn định cho dân

cư trong các vùng, góp phần quan trọng vào việc giảm bớt khoảng cách thu nhập giữa các bộ phận dân cư, tạo ra sự phát triển tương đối đồng đều giữa các vùng miền và cải thiện mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế khác nhau Mặt khác, phát triển KTTN một cách bền vững sẽ là biện pháp quan trọng nhất để đảm bảo ngân sách quốc gia Thực tế hiện nay nguồn thu ngân sách từ DNDD đang chiếm tỷ trọng lớn

Năm là, góp phần đảm bảo sự tự chủ của nền kinh tế và giảm sự phụ thuộc

vào dòng vốn đầu tư nước ngoài

Trong khi đầu tư trực tiếp nước ngoài rất “kén chọn” địa chỉ đầu tư, chỉ tập trung ở những địa phương có cơ sở hạ tầng tốt và các điều kiện kinh doanh thuận lợi, thì với Luật Doanh nghiệp mới, làn song đầu tư và đăng kí của DNDD nội địa xuất hiện và lan rộng ở tất cả các địa phương

Khu vực KTTN với đa phần là các DNNVV và các hộ kinh tế cá thể, tiểu chủ với quy mô gọn, nhẹ, ít vốn có khả năng chuyển đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh mà ít gây biến động cho nền kinh tế Đây là nhân tố quyết định năng lực tăng trưởng tự thân của mỗi quốc gia và đảm bảo sự tự chủ của nền kinh tế đất nước trong môi trường cạnh tranh và hội nhập quốc tế

Sáu là, thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam vào với khu

vực và thế giới

Sự đóng góp của KTTN vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, trước hết là các đơn vị kinh tế của khu vực kinh tế tư nhân, liên doanh, liên kết đầu tư với nước ngoài, thông qua nhiều hình thức khác nhau và rất linh hoạt Do điều kiện lịch sử

Trang 39

đất nước, KTTN trong nước còn có mối quan hệ rộng khắp ở nước ngoài, đặc biệt là với hai triệu người Việt ở các nước đang phát triển Hàng năm có khoảng 3 tỷ USD gửi về cho người thân ở Việt Nam, phần lớn trong số đó là đầu tư cho sản xuất, kinh doanh vào KTTN

Những năm gần đây, đã có không ít các doanh nghiệp trong nước thực hiện đầu tư ra nước ngoài, mà trước hết là các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân; Với những lợi thế và sự linh hoạt của mình, bước đầu đã xây dựng được hình ảnh của doanh nhân Việt trong hội nhập kinh tế quốc tế như: BiTi’s, Kinh Đô, Trung Nguyên, Hoàng Anh Gia Lai… Trong điều kiện đó, việc tích cực và chủ động hội nhập, không thể là việc riêng của mỗi doanh nghiệp hoặc một thành phần kinh tế nào, mà là của toàn xã hội, trong đó có phần đóng góp rất lớn của khu vực KTTN

Nền kinh tế nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế thế giới, không thể thiếu sự đóng góp ngày càng to lớn của KTTN Thực tiễn đang chứng tỏ năng lực vươn lên và sự vươn lên mạnh mẽ của KTTN trong hoạt động kinh tế đối ngoại, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất nhập khẩu góp phần thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam vào với khu vực và thế giới

1.2.2 Phát triển kinh tế tư nhân trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

1.2.2.1 Bản chất của hội nhập KTQT và tác động của hội nhập KTQT đến khu vực KTTN

Thuật ngữ hội nhập – Intergration xuất hiện ở các nước phương Tây những năm 1950 và được sử dụng phổ biến trong những thập kỷ 1960, 1970 Theo từ điển Tiếng Anh, Intergration bao hàm các nghĩa: liên kết, nhất thể hóa, hợp nhất, hội nhập Nhận thức rõ tính tất yếu khách quan của hội nhập KTQT, từ năm 1986 Đảng

và Nhà nước Việt Nam đã đề ra và thực hiện đường lối đổi mới, chuyển từ chính sách kinh tế “đóng cửa” sang chính sách kinh tế “mở cửa” Ở nước ta, thuật ngữ hội

nhập được Đảng ta sử dụng đầu tiên trong Văn kiện Đại hội VIII (1996): “Xây

dựng một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới” [21; tr 470]; được nhấn

mạnh và sử dụng phổ biến từ Đại hội IX: “ Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và

Trang 40

khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa” [21, tr 664]và tới Đại hội,

Đảng ta tiếp tục khẳng định: “ Chủ động và tích cực hội nhập KTQT”, “ Đẩy mạnh

hoạt động kinh tế đối ngoại, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn các thế lực kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất” [22, tr470]

Thực chất của hội nhập KTQT phản ánh tính chất quốc tế hóa các hoạt động kinh tế của mỗi quốc gia ở mỗi mức độ khác nhau Tuy nhiên, nếu nghiên cứu trên các góc độ khác nhau, có thể có cách nhìn khác nhau về hội nhập KTQT Đứng trên góc độ một quốc gia, hội nhập KTQT là thực hiện mở cửa nền kinh tế với khu vực

và thế giới Đứng trên góc độ khu vực hay toàn cầu, hội nhập KTQT là việc các nước tìm kiếm một số điều kiện nào đó mà họ có thể thống nhất được với nhau (kể

cả dành cho nhau ưu đãi) trong quan hệ kinh tế - thương mại nhằm khai thác khả năng của nhau phục vụ cho nhu cầu phát triển

Như vậy, dù nhìn nhận ở góc độ nào mọi người đều thừa nhận, hội nhập KTQT là một xu thế khách quan trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, được thúc đẩy bởi các tiến bộ mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ, đặc biệt là sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin

Về thực tiễn, không một nước nào có lợi thế hoàn toàn trong các yếu tố sản xuất

cơ bản, trong khi đó các nước đều không muốn tụt hậu, vì vậy họ đều có nhu cầu khắc phục các yếu tố bất lợi của mình từ các lợi thế của nước ngoài để phát huy lợi thế trong nước, nhằm đẩy nhanh nhịp độ phát triển kinh tế quốc gia – dẫn đến tất yếu phải hội nhập KTQT Các nước đang phát triển hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực là nhằm tạo ra những điều kiện quốc tế thuận lợi cho việc khai thác tối đa nội lực, khơi dậy các tiềm năng kinh tế, đi đôi với việc tận dụng ngoại lực nhằm thúc đẩy hợp tác quốc tế hiệu quả Sự kết hợp hai loại yếu tố này mở ra những cơ hội cho quá trình hội nhập quốc tế của các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam

Hội nhập KTQT là một quá trình đa diện, đa chiều trong đó quan trọng nhất là

tự do hóa thương mại quốc tế về hàng hóa, dịch vụ và sự dịch chuyển các nguồn lực

Ngày đăng: 07/07/2015, 15:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Vân Anh, 2003. “ Phát triển khu vực KTTN kinh nghiệm Trung Quốc và bài học cho Việt Nam”. Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 69/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển khu vực KTTN kinh nghiệm Trung Quốc và bài học cho Việt Nam”. "Tạp chí Kinh tế và phát triển
2. Hà Văn Ánh, 2002. “ KTTN TP HCM: thực trạng và giải pháp”. Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 294 – tháng 11/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: KTTN TP HCM: thực trạng và giải pháp”. "Tạp chí Nghiên cứu kinh tế
3. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở Trung ƣơng, 2010. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009: các kết quả chủ yếu. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam 2009: các kết quả chủ yếu
4. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 4. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
5. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 23. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
6. Cục Thống kê tỉnh Bình Dương, 2013. Kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương năm 2006-2010, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế xã hội tỉnh Bình Dương năm 2006-2010
Nhà XB: Nxb Thống kê
7. Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000. Các Nghị quyết Trung ương Đảng 1996 – 1999. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Nghị quyết Trung ương Đảng 1996 – 1999
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
8. Đảng cộng sản Việt Nam, 2002. Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa IX. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khóa IX
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
9. Đảng Cộng sản Việt Nam, 2009. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
10. Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
11. Đảng cộng sản Việt Nam, 2011. Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
12. Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
13. Đảng bộ tỉnh Bình Dương , 2013. Văn kiện đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ XV. Bình Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ XV
14. Phan Hồng Giang, 2003. “ KTTN trong tiến trình hội nhập”. Hà Nội: NXB Khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ KTTN trong tiến trình hội nhập”
Nhà XB: NXB Khoa học
15. Phan Hồng Giang , 2003. “ Phát triển khu vực KTTN ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập KTQT”. Tạp chí Ngân hàng. số 5/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển khu vực KTTN ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập KTQT”. "Tạp chí Ngân hàng
16. Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2010. Đổi mới và hoàn thiện quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay. LA-TS-576 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và hoàn thiện quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay
17. Nguyễn Thị Huyền, 2011. “Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Tạp chí Triết học, số 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Tạp chí Triết học
18. Trịnh Thị Hoa Mai, 2005. Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập. Hà Nội: Nhà xuất bản Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập
Nhà XB: Nhà xuất bản Thế giới
19. Trần Văn Năm, 2000. “Kinh tế tư nhân ở thành phố Đà Nẵng-thực trạngvà giải pháp”. Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế tư nhân ở thành phố Đà Nẵng-thực trạngvà giải pháp”
20. Nguyện Thủy Nguyên, 2006. “ WTO thuận lợi và khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam”. Hà Nội: NXB Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ WTO thuận lợi và khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam”
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Vốn đầu tƣ phân theo thành phần kinh tế(theo giá thực tế) - Phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Bình Dương trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 1.2 Vốn đầu tƣ phân theo thành phần kinh tế(theo giá thực tế) (Trang 35)
Bảng 3.1: Số lƣợng các cơ sở kinh tế cá thể, tiểu chủ phân bố theo ngành trên - Phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Bình Dương trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 3.1 Số lƣợng các cơ sở kinh tế cá thể, tiểu chủ phân bố theo ngành trên (Trang 70)
Bảng 3.2: Số doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tƣ nhân đang hoạt  động tại thời điểm 31/12/2012 trên địa bàn tỉnh Bình Dương - Phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Bình Dương trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 3.2 Số doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tƣ nhân đang hoạt động tại thời điểm 31/12/2012 trên địa bàn tỉnh Bình Dương (Trang 74)
Bảng 3.4: Quy mô nguồn vốn doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tƣ nhân - Phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Bình Dương trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 3.4 Quy mô nguồn vốn doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tƣ nhân (Trang 77)
Bảng 3.5: Lãi/lỗ của các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tƣ nhân đang - Phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Bình Dương trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 3.5 Lãi/lỗ của các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tƣ nhân đang (Trang 81)
Bảng 3.6: Tổng sản phẩm trong tỉnh phân theo loại hình kinh tế (theo giá thực tế) - Phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Bình Dương trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Bảng 3.6 Tổng sản phẩm trong tỉnh phân theo loại hình kinh tế (theo giá thực tế) (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w