Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Vai trò của phụ nữ đối với việc đảm bảo an toàn thực phẩm gia đình ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay” làm l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VÕ NỮ HẢI YẾN
VAI TRÕ CỦA PHỤ NỮ ĐỐI VỚI VIỆC ĐẢM BẢO
AN TOÀN THỰC PHẨM GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ HUẾ,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ HIỆN NAY
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ KIM LAN
HÀ NỘI - 2014
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Ý nghĩa của đề tài 4
3 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 12
6 Phương pháp nghiên cứu 13
7 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 16
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 18
1.1 Các khái niệm cơ bản 18
1.1.1 Vai trò xã hội 18
1.1.2 Vai trò giới 19
1.1.3 Gia đình 20
1.1.4 Thực phẩm 20
1.1.5 An tòan thực phẩm 21
1.1.6 An toàn thực phẩm gia đình 21
1.2 Các lý thuyết có liên quan 22
1.2.1 Lý thuyết vai trò 22
1.2.2 Lý thuyết cấu trúc-chức năng 23
1.2.3 Lý thuyết lựa chọn hợp lý 24
1.3 Khái quát về địa bàn nghiên cứu 25
1.3.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 25
1.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ ĐỐI VỚI VIỆC ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ HUẾ 29
2.1 Vai trò của phụ nữ trong lựa chọn thực phẩm an toàn 29
2.1.1 Tần suất và thời gian mua thực phẩm 30
2.1.2 Lựa chọn địa điểm mua thực phẩm 32
2.1.3 Tìm hiểu thông tin về thực phẩm 36
Trang 52.1.4 Lựa chọn các chủng loại thực phẩm 38
2.2 Vai trò của phụ nữ trong chế biến và bảo quản thực phẩm an toàn 47
2.2.1 Vai trò của phụ nữ trong chế biến thực phẩm an toàn 47
2.2.2 Vai trò của phụ nữ trong bảo quản thực phẩm an toàn 55
2.3 Vai trò của phụ nữ đối với việc chia sẻ những thông tin, kiến thức về an toàn thực phẩm cho các thành viên trong gia đình 60
2.4 Những khó khăn phụ nữ gặp phải trong quá trình thực hiện vai trò đảm bảo an toàn thực phẩm cho gia đình 64
CHƯƠNG 3: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ ĐỐI VỚI VIỆC ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM GIA ĐÌNH Ở THÀNH PHỐ HUẾ71 3.1 Ảnh hưởng của trình độ học vấn đến vai trò đảm bảo an toàn thực phẩm gia đình của phụ nữ 71
3.3 Ảnh hưởng của truyền thông đến vai trò đảm bảo an toàn thực phẩm gia đình của phụ nữ 86 3.4 Ảnh hưởng của công tác quản lý đến vai trò đảm bảo an toàn thực phẩm gia đình của phụ nữ 91
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94
1 Kết luận 94
2 Khuyến nghị 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 106
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Cơ cấu mẫu 15
Bảng 2.1: Giá cả một số loại thực phẩm tại chợ và siêu thị ở thành phố Huế 44
Bảng 2.2: Những việc phụ nữ thường làm khi chế biến thực phẩm 49
Bảng 2.3: Tương quan giữa hành vi chế biến thực phẩm với địa bàn cư trú (%) 53
Bảng 2.4: Hành vi bảo quản thực phẩm trong tủ lạnh của phụ nữ 56
Bảng 2.5: Tương quan giữa mức độ an tâm về chất lượng thực phẩm với tần suất chia sẻ các thông tin về an toàn thực phẩm cho các thành viên trong gia đình 61
Bảng 2.6: Sự hỗ trợ cho công việc nội trợ của các thành viên trong gia đình (%) 69
Bảng 3.1: Tương quan giữa mức độ quan tâm đến vấn đề an toàn thực phẩm với trình độ học vấn (%) 72
Bảng 3.2 Tương quan giữa việc lựa chọn địa đểm mua thực phẩm với trình độ học vấn (%) 73
Bảng 3.3: Tương quan giữa hành vi chế biến thực phẩm an toàn và trình độ học vấn (%) 75
Bảng 3.4 Tương quan giữa hành vi bảo quản thực phẩm an toàn và trình độ học vấn (%) 76
Bảng 3.5: Mối tương quan tần suất chia sẻ thông tin về an toàn thực phẩm và trình độ học vấn (%) 78
Bảng 3.6: Tương quan giữa địa điểm mua thực phẩm và thu nhập 80
Bảng 3.7: Tương quan giữa tiêu chí ưu tiên khi lựa chọn thực phẩm và thu nhập 81
Bảng 3.8: Tương quan giữa thiết bị hỗ trợ cho việc nội trợ và thu nhập (%) 82
Bảng: 3.9: Tương quan giữa thu nhập và hành vi chế biến thực phẩm an toàn (%) 83
Bảng 3.10: Tương quan giữa hành vi bảo quản thực phẩm an toàn và thu nhập (%) 84
Bảng 3.11 Thực trạng hoạt động thông tin truyền thông trên địa bàn toàn tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2013 88
Bảng 3.12: Các hình thức truyền thông về an toàn thực phẩm phân theo địa bàn cư trú 90
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1: Mức độ an tâm về chất lượng thực phẩm trên thị trường 29Biểu đồ 2.2: Tần suất mua thực phẩm cho gia đình của phụ nữ trong tuần 31Biểu đồ 2.3: Thời gian trung bình mỗi lần mua thực phẩm cho gia đình của phụ nữ 31Biểu đồ 2.4: Địa điểm mua thực phẩm của phụ nữ 32Biểu đồ 2.5: Tỉ lệ phụ nữ quan tâm đến sản phẩm có bao bì 36Biểu đồ 2.6: Mức độ quan tâm của phụ nữ đối với các loại thông tin trên bao bì sản phẩm 37Biểu đồ 2.7: Tiêu chí ưu tiên khi lựa chọn thực phẩm cho gia đình của phụ nữ 42Biểu đồ 2.8: Mức chi tiêu cho mua thực phẩm của các gia đình (đồng/người/ngày) 43Biểu đồ 2.9: Tương quan giữa địa bàn cư trú với tiêu chí ưu tiên khi mua TP 45Biểu đồ 2.10: Mức độ sử dụng túi nilông để bảo quản thực phẩm 58Biểu đồ 2.11: Tần suất chia sẻ các thông tin về an toàn thực phẩm cho các thành viên trong gia đình 60Biểu đồ 2.12: Những thông tin về ATTP phụ nữ thường chia sẻ cho các thành viên trong gia đình 62Biểu đồ 2.13 Những khó khăn phụ nữ gặp phải trong quá trình thực hiện vai trò đảm bảo an toàn thực phẩm cho gia đình 65Biểu đồ 3.1: Trình độ học vấn và sự quan tâm đến sản phẩm có bao bì 74Biểu đồ 3.2: Những nguồn cung cấp thông tin về ATTP cho phụ nữ 87
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
An toàn thực phẩm là một trong những vấn đề đang rất được quan tâm trên phạm
vi mỗi quốc gia và quốc tế, được tiếp cận với thực phẩm an toàn đang trở thành quyền
cơ bản đối với mỗi con người Thực phẩm là nguồn cung cấp năng lượng, cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết để con người sống và phát triển Thực phẩm an toàn đóng góp
to lớn trong việc cải thiện sức khoẻ con người, chất lượng cuộc sống và chất lượng giống nòi Thế nhưng, thực phẩm cũng là nguồn truyền bệnh nguy hiểm, nếu như không bảo đảm được vệ sinh và an toàn Ngộ độc thực phẩm và các bệnh do thực phẩm gây ra không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ và cuộc sống của mỗi người, mà còn gây thiệt hại lớn về kinh tế, là gánh nặng chi phí cho chăm sóc sức khoẻ của quốc gia
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hiện có hơn 400 các bệnh lây truyền qua thực phẩm không an toàn, hơn 1/3 dân số các nước phát triển bị ảnh hưởng của các bệnh do thực phẩm gây ra mỗi năm Vệ sinh ATTP đã được đặt lên hàng đầu nghị trình tại nhiều hội nghị y tế và sức khỏe cộng đồng toàn cầu, nhưng tình hình gần như không được cải thiện bao nhiêu, nhất là khi thế giới liên tiếp xảy ra thiên tai và nguồn nước sạch ngày càng hiếm Khi người dân không có đủ miếng ăn thì việc kiểm tra chất lượng những gì mà họ ăn đã trở thành điều khá xa vời Tiến sĩ Margaret Chan, Tổng Giám đốc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), cho biết mỗi tháng Liên hiệp quốc nhận được khoảng 200 báo cáo từ 193 quốc gia về các trường hợp thực phẩm bị nhiễm
độc Bà nhấn mạnh: “Một lần nữa, tôi xin khẳng định, vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề chung của cả nhân loại chứ không riêng một nước nào” [42]
Ở nước ta, chất lượng vệ sinh ATTP hiện nay rất đáng lo ngại, điều này đã được các phương tiện thông tin đại chúng liên tục phản ánh Việc sử dụng không an toàn về phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc tăng trọng, kháng sinh, hóa chất trong chăn nuôi trồng trọt nông nghiệp, thủy hải sản hiện nay còn khá phổ biến Thực phẩm có chứa chất độc hoặc được sử dụng chất bảo quản, phụ gia, phẩm màu công nghiệp có hại cho sức khỏe cũng còn lưu hành rất nhiều trên thị trường
Trang 10Cùng với tình trạng vi phạm an toàn thực phẩm đang tăng cao thì các bệnh truyền qua thực phẩm và ngộ độc thực phẩm đang có nhiều diễn biến phức tạp về cả tính chất, mức độ và phạm vi ảnh hưởng Hằng năm, ở nước ta có từ 250 đến 500 vụ ngộ độc thực phẩm với hơn 7.000 nạn nhân và hơn 100 ca tử vong mỗi năm Chỉ tính đến 10/06/2014, toàn quốc ghi nhận 67 vụ ngộ độc thực phẩm với 2084 người mắc,
1528 người đi viện và 24 ca tử vong [37] Bên cạnh đó, hiện tỷ lệ ung thư của Việt Nam cũng được đánh giá là cao nhất thế giới Cả nước hiện có từ 240.000-250.000 người mắc bệnh ung thư, mỗi năm có thêm khoảng 150.000 người mới mắc ung thư
và số tử vong do ung thư hằng năm lên đến 82.000 trường hợp, tỉ lệ tử vong/mắc lên đến 73,5% và vào loại cao hàng đầu thế giới (tỉ lệ tử vong/mắc ở bệnh nhân ung thư chung toàn thế giới là 59,7%) Theo báo cáo của viện Nghiên cứu phòng chống ung thư Việt Nam, nguyên nhân chủ yếu dẫn đến căn bệnh ung thư là do các loại hóa chất độc hại có trong thức ăn hàng ngày khiến cho Việt Nam là nước có bệnh nhân ung thư nhiều nhất trên thế giới [33]
An toàn thực phẩm là mối quan tâm của toàn xã hội, tuy nhiên để góp phần làm giảm nguy cơ mất vệ sinh ATTP, ngay từ chính mỗi gia đình phải làm tốt công việc này Bởi gia đình được xem là trung tâm của mối quan hệ ba cực: cá nhân, gia đình và cộng
đồng xã hội Thực tế, gia đình được coi là “xương sống của xã hội” vì gia đình đã đảm
nhận những chức năng không thể thiếu được trong sự vận động và phát triển của xã hội Đời sống của mỗi cá nhân luôn được bắt đầu trước hết từ phạm vi gia đình và suốt cuộc đời họ, gia đình là môi trường đóng vai trò hết sức quan trọng.Do đó, nếu mỗi gia đình làm tốt vai trò đảm bảo vệ sinh ATTP thì không những bảo vệ sức khoẻ cho mỗi thành viên mà còn góp phần bảo vệ sức khoẻ cho cả cộng đồng và xã hội
Nếu gia đình được coi là tế bào của xã hội thì người phụ nữ được coi là hạt nhân của tế bào này Người phụ nữ ngày nay, vừa đảm nhiệm trọng trách xã hội, vừa đảm
nhiệm vai trò “xây tổ ấm” Trong gia đình, phụ nữ là người vợ, người mẹ chăm lo sức
khỏe của các thành viên, giữ gìn hạnh phúc Kết quả nghiên cứu về giới trong nhiều năm qua đã chỉ ra rằng: phần lớn công việc nội trợ là do phụ nữ đảm nhiệm - một công việc có liên quan trực tiếp, thường xuyên đến vấn đề ATTP gia đình
Trang 11Nhận thức được điều đó, năm 2008, Ban Chấp hành Trung ương hội Liên hiệp
Phụ nữ Việt Nam đã phát động cuộc vận động “Phụ nữ cả nước thực hiện an toàn vệ sinh thực phẩm vì sức khỏe gia đình và cộng đồng” Ngày 25/6/2011, tại Hà Nội, Hội
Khoa học kỹ thuật ATTP Việt Nam phối hợp với Hội Nữ trí thức Việt Nam tổ chức
Hội thảo với nội dung “Vai trò của phụ nữ với việc đảm bảo ATTP vì sức khỏe gia đình và cộng đồng” Tại hội thảo, Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan cũng đã nhấn mạnh “Chiếm 50% dân số, ngày nay phụ nữ đã và đang tham gia vào tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội Vì vậy, từ Hội thảo này, các cơ quan chuyên môn cần có một nghiên cứu tổng thể về vấn đề vệ sinh ATTP, đặc biệt hướng tới đối tượng trọng tâm là phụ nữ để đưa ra những khuyến nghị đúng hướng và chính xác; đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền về vấn đề vệ sinh ATTP” [38]
Một thời là kinh đô của Việt Nam, Huế không chỉ là thành phố du lịch mà còn là nơi lưu giữ các giá trị văn hoá truyền thống Một trong những đặc trưng nổi bật của Huế
là văn hoá ẩm thực Những giá trị ấy trước hết được gìn giữ, bảo tồn ở trong các gia đình nhờ bàn tay khéo léo và tình yêu thương của những người phụ nữ Đã từ lâu, phụ nữ Huế không chỉ biết đến với sự nề nếp gia phong, dịu dàng e ấp mà còn nổi tiếng với sự đảm đang trong việc nội trợ, nấu nướng Chính điều đó đã góp phần không nhỏ tạo nên
sự cố kết chặt chẽ giữa các thành viên trong gia đình bên mâm cơm đầy ắm hương vị của cố đô
Cùng với sự phát triển của xã hội, lối sống công nghiệp và văn hóa ngoại lai ngày càng xâm nhập sâu vào đời sống và văn hóa của người Việt Nam nói chung và thành phố Huế nói riêng Mặt trái của chúng đã có nhiều tác động tiêu cực đến các giá trị truyền thống, trong đó có những bữa cơm gia đình Cuộc sống bận rộn, nhu cầu công việc đòi hỏi, nhiều người phải làm việc thêm giờ, quá giờ, thậm chí phải công tác xa nhà nhiều ngày nên không ít gia đình chọn nhà hàng, quán ăn làm chính, thay cho những bữa ăn tự nấu Bên cạnh đó, thị trường thực phẩm thiếu sự kiểm soát, tình hình vi phạm
vệ sinh ATTP diễn biến phức tạp là một trong những nguyên nhân làm gia tăng nhiều loại bệnh tật và ảnh hưởng xấu đến bầu không khí thân thiện, gắn kết trong gia đình Và
đó cũng là những nguy cơ làm rạn nứt hạnh phúc gia đình
Trang 12Trong bối cảnh đó, để có thể “giữ lửa” cho bữa cơm gia đình, người phụ nữ có
vai trò quan trọng hơn bao giờ hết Không những thế, họ còn là một trong những nhân
tố quan trọng tác động trực tiếp tới sức khoẻ của mỗi thành viên, chất lượng cuộc sống
và sự phát triển giống nòi
Tuy nhiên, qua tìm hiểu cho thấy, số lượng những công trình nghiên cứu về vấn
đề ATTP gia đình còn ít, nghiên cứu về vai trò của phụ nữ đối với việc đảm bảo ATTP gia đình ở thành phố Huế hầu như chưa có đề tài nào
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Vai trò của phụ
nữ đối với việc đảm bảo an toàn thực phẩm gia đình ở thành phố Huế, tỉnh Thừa
Thiên Huế hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp cao học, với mong muốn góp phần xây
dựng cách nhìn nhận đúng về vai trò, vị trí của người phụ nữ trong công việc nội trợ lao động tái sản xuất; đồng thời qua đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao vai trò của họ trong việc đảm bảo ATTP cho gia đình, góp phần bảo vệ sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người
-2 Ý nghĩa của đề tài
2.1 Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu này được tiến hành thông qua việc vận dụng một số lý thuyết xã hội học như: lý thuyết vai trò, lý thuyết cấu trúc-chức năng, lý thuyết hành động xã hội, lý thuyết sự lựa chọn hợp lý để phân tích vai trò của phụ nữ trong đảm bảo ATTP gia đình và những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện vai trò đó Chính vì vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài được coi như là một luận chứng góp phần làm sáng tỏ hơn cho những lý thuyết đó
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu được thực hiện nhằm góp phần cung cấp thông tin cho các nhà khoa học, các cán bộ địa phương về thực trạng đảm bảo ATTP trong các gia đình hiện nay Đồng thời, nghiên cứu này còn giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò của phụ nữ trong việc đảm bảo ATTP cho gia đình Ngoài ra, đề tài có thể làm nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học ngành xã hội học, cũng như những
người quan tâm đến vấn đề này
Trang 133 Tổng quan tình hình nghiên cứu
An toàn thực phẩm là một vấn đề quan trọng và thời gian qua đã được quan tâm nghiên cứu ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam
3.1 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Qua tìm hiểu cho thấy, thời gian qua, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về ATTP và ATTP gia đình Tuy nhiên, trong luận văn này, chỉ xin trình bày một số công trình nghiên cứu trong phạm vi những nguồn tài liệu mà tác giả tiếp cận được
Với tiêu đề “Sự ảnh hưởng của các nhân tố xã hội đến kiến thức, thái độ, thực hành về các bệnh lây truyền qua thực phẩm và an toàn thực phẩm” (2002), hai tác giả
Maizun Mohd Zain và Nyi Nyi Naing đã tiến hành nghiên cứu thăm dò nhằm tìm hiểu
sự chi phối ảnh hưởng của các nhân tố xã hội đến kiến thức, thái độ, thực hành về các bệnh lây truyền qua TP và an toàn thực phẩm ở 430 người chế biến thực phẩm sinh sống ở Kota Bharu Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ người chế biến thực phẩm chưa tham gia lớp tập huấn vệ sinh ATTP chiếm 27.2% và 61.9% có khám sức khoẻ định
kỳ, gần một nửa (48.4%) chưa có kiến thức tốt và có sự khác biệt không đáng kể về thái độ và thực hành giữa những người tham gia và không tham gia lớp tập huấn Nghiên cứu này cũng chỉ ra, chúng ta cần phải có những can thiệp cộng đồng cho người chế biến thực phẩm nhằm cải thện kiến thức, thái độ, thực hành về các bệnh lây truyền qua thực phẩm và vệ sinh thực phẩm Hơn nữa, quá trình này sẽ giúp làm giảm
sự lan truyền các bênh tật trên thế giới, đặc biệt là các bệnh hiểm nghèo [30]
Trong đề tài “Nghiên cứu nhận thức và thực hành an toàn thực phẩm trong các
hộ gia đình ở Trinidad” (2005), tác giả Deryck Damian Pattron đã tiến hành tìm hiểu
350 hộ gia đình sống tại Trinidad – phía Đông Ấn Độ nhằm đánh giá nhận thức đúng
về thực hành ATTP Cuộc khảo sát cho thấy có 95% hộ gia đình chưa biết cách chế biến, vận chuyển, tồn trữ và bảo quản thực phẩm an toàn Nghiên cứu cũng cho thấy
có 98% hộ không rửa tay trước khi chế biến thực phẩm và trước khi ăn Chỉ có 45% bếp nấu ăn được vệ sinh sạch sẽ Các loại dụng cụ chế biến như: thớt, dao, kéo không được vệ sinh sạch sẽ giữa các lần sử dụng để chế biến nhiều loại thực phẩm khác nhau chiếm 57% Khảo sát cho thấy 335 hộ gia đình có bao gói các loại thực phẩm như thịt
Trang 14tươi, cá, gia súc và đặt chúng phía trên các loại thực phẩm khác làm cho quá trình nhiễm khuẩn chéo dễ xảy ra Kết quả nghiên cứu cho thấy việc thực hiện ATTP của các hộ gia đình chưa đạt theo các tiêu chuẩn cơ bản để đảm bảo an toàn sức khoẻ cho con người Vì vậy, để đảm bảo sức khoẻ gia đình, hạn chế ngộ độc thực phẩm, nâng cao nhận thức an toàn thực phẩm cho người dân thì việc mở các lớp giáo dục cộng đồng là rất cần thiết [28]
Nghiên cứu “Phân tích những yếu tố tác động đến kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm ở khu đô thị của thành phố Varanasi” (2010) của Shuchi Rai Bhatt và
cộng sự đã tiến hàng khảo sát trên 300 người nội trợ với bảng câu hỏi thiết kế sẵn về thói quen mua hàng và nhận thức của họ trong việc thực hiện vệ sinh ATTP ở Varanasi Kết quả cho thấy, thói quen mua thực phẩm và thực hành an toàn vệ sinh thực phẩm của những người nội trợ sống tại khu đô thị ở Varanasi không liên quan đến
độ tuổi Kết quả cũng cho thấy không có sự khác biệt đáng kể về học vấn của hai giới tính trong việc kiểm tra khi nhập hàng; tuổi và kiến thức không có mối liên quan với nhau nhưng học vấn lại có mối quan hệ với việc thực hành tốt Điều này có thể do nhiều nhân tố; thu nhập, nhận thức và hiểu biết kém về sức khoẻ con người Vì vậy, hiện nay có nhiều tổ chức và hoạt động của chính phủ đang cố gắng tuyên truyền dưới nhiều hình thức: ti vi và radio nhằm nâng cao nhận thức của người dân nhưng cho đến nay có nhiều người vẫn chưa có thói quen tốt trong việc mua thực phẩm, thực hành an
toàn và chọn nguồn nước sạch [31]
Các tác giả Sandra Buchler, Kiah Smith, Geoffrey Lawrence thuộc Đại học
Queensland, Australia cũng đã có bài viết “Rủi ro thực phẩm, cũ và mới: Những đặc trưng nhân khẩu học và nhận thức về các chất phụ gia thực phẩm, quy định và sự nhiễm bẩn ở Australia” (2010) đăng trên tạp chí của Hội Xã hội học Australia Bài viết này dựa
trên những số liệu từ một cuộc điều tra quốc gia tại Australia nhằm đánh giá xem liệu nhận thức người tiêu dùng đối với những loại rủi ro thực phẩm có khác nhau tùy theo những nhân tố nhân khẩu học hay không Nghiên cứu này có 2 trọng tâm chính: Những người quan tâm đến những rủi ro thực phẩm mới và những người quan tâm đến những rủi
ro thực phẩm truyền thống Đầu tiên, là điều tra thái độ và sự quan tâm đối với chất phụ gia thực phẩm và quy định về thực phẩm, được đặc trưng bởi những rủi ro mới liên quan
Trang 15tới hóa chất, thuốc trừ sâu và các chất phụ gia, cũng như công nghiệp bảo vệ và những vấn đề của quy định đối với những nhân tố hiện đại này Thứ hai, xem xét những loại rủi
ro mang tính truyền thống hơn, liên quan tới sự nhiễm bẩn thực phẩm, như sự hư hỏng và quá hạn sử dụng Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, những người có thu nhập dưới 25.000
đô la mỗi năm, những người chưa hoàn thành trung học phổ thông và những người theo đạo có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến những loại rủi ro mang tính truyền thống Ngược lại, phụ nữ, những người có học thức cao và những người già có xu hướng quan tâm nhiều hơn đến những rủi ro mang tính hiện đại Bài báo này ủng hộ những nghiên cứu trước đó và đã chỉ ra rằng, các nhóm khác nhau trong xã hội hiểu và có phản ứng khác nhau đối với an toàn rủi ro thực phẩm [29]
3.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Ở nước ta, trong những năm qua, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm nói chung và
an toàn thực phẩm gia đình nói riêng cũng đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau, có thể kể đến một số những công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Đề tài “Đánh giá thực trạng công tác đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm ở Đắc Lắc 5 năm (1998-2002)” của tác giả Nguyễn Hữu Huyên đã phân tích kiến
thức, thái độ thực hành về vệ sinh ATTP của người tiêu dùng ở Đắc Lắc 5 năm 2002)[6] Kết quả cho thấy, đối với những người đã từng nghe các thông tin về vệ sinh ATTP thì truyền hình là kênh được nhiều người xem nhất, 91,3% người tiêu dùng biết được thế nào là vệ sinh ATTP và 90.5% biết được thế nào là ngộ độc thực phẩm; có
(1998-96,3% nhận các thông tin về vệ sinh ATTP từ vài tuần đến vài tháng
Trong nghiên cứu “Kiến thức, thực hành về vệ sinh ATTP của người nội trợ chính trong gia đình ở phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng – Hà Nội (2006),
tác giả Cao Thị Hoa và cộng sự đã tiến hành khảo sát 132 người/132 hộ gia đình ở phường Thanh Lương, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội [3] Kết quả cho thấy: mức độ thực hành vệ sinh ATTP của người nội trợ chưa đi đôi với phần kiến thức đã đạt; mức độ kiến thức tốt đạt 76,5%, trong khi đó thực hành đạt yêu cầu chỉ có 65,1% Những vấn đề thiếu sót và không chú ý, trong việc thực hành lựa chọn, chế biến và bảo quản thực phẩm của người nội trợ là: 26,5% không thường xuyên mua thực
Trang 16phẩm tại nơi có địa chỉ tin cậy; 25% không thường xuyên rửa tay trước khi chế biến thực phẩm; 29,5% không thường xuyên che đậy thực phẩm sau khi nấu chín; 12,2% không thường xuyên sử dụng 2 thớt riêng biệt để chế biến thực phẩm Từ đó nghiên cứu cũng đưa ra một số khuyến nghị, trong đó đặc biệt chú ý đến việc xây dựng các chiến lựơc truyền thông nhắm nâng cao kiến thức và thực hành đúng vệ sinh ATTP cho cộng đồng nói chung và những người nội trợ nói riêng
Với đề tài “ Kiến thức - Thái độ - Thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm của người bán và người mua thức ăn đường phố ở thị xã Bến Tre-Tỉnh Bến Tre năm 2007”, hai tác giả Lý Thành Minh, Cao Thanh Diễm Thuý đã tiến hành nghiên cứu trên
266 người bán, người tiêu dùng thức ăn đường phố [13] Kết quả cho thấy: tình hình vệ sinh ATTP của các cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố chưa được kiểm soát tốt, có nhiều người bán thức ăn đường phố chưa được khám sức khoẻ định kỳ và tập huấn kiến thức vệ sinh ATTP, tình hình vệ sinh cơ sở kém cần được người kinh doanh và cơ quan chức năng quan tâm hơn Ý thức vệ sinh cá nhân của người bán thấp Người tiêu dùng thức ăn đường phố ở thị xã Bến Tre có ý thức khá tốt về vệ sinh an toàn thực phẩm, tuy vậy vẫn có 96,2 % sử dụng thức ăn đường phố Từ đó, nhóm tác giả đã đưa ra kiến nghị: cần tăng cường công tác quản lý có phân cấp hành chính nhất là tuyến xã phường để thúc đẩy người bán thức ăn đường phố đi khám sức khoẻ định kỳ, học tập kiến thức vệ sinh ATTP để từ đó họ có ý thức giữ vệ sinh cá nhân cũng như vệ sinh cơ sở tốt hơn Tăng cường công tác truyền thông giáo dục để nâng cao ý thức cả cộng đồng, để người tiêu dùng cương quyết hơn không sử dụng những thức ăn đường phố kém vệ sinh, gớp phần phần thúc đẩy người bán ý thức giữ vệ sinh tốt hơn Bên cạnh đó, cần thành lập mô hình tập trung cơ sở kinh doanh thức ăn đường phố vào các khu vực ăn uống đã được một số nơi trong nước thực hiện, điều này giúp công tác quản lý được thuận lợi hơn
Nhằm góp phần cải thiện tình hình và để nâng cao hiệu quả việc quản lý vệ sinh
ATTP tại địa phương, Lê Minh Uy và cộng sự đã tiến hành đề tài “Hiệu quả thay đổi
về kiến thức thực hành của người tiêu dùng và công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm ở thành thị An Giang năm 2007” [24] Mục tiêu của đề tài là: Đánh giá sự thay
đổi kiến thức, thái độ, thực hành vệ sinh ATTP của người tiêu dùng tại An giang năm 2007; Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành vệ sinh ATTP của người quản lý
Trang 17phường xã tại An giang năm 2007 Bằng phương pháp nghiên cứu can thiệp trên nhóm người tiêu dùng (nội trợ) từ 18 tuổi trở lên cư trú tại An Giang và các cán bộ chủ chốt quản lý vệ sinh ATTP phường xã tại 30 cụm điều tra, tổng số mẫu điều tra là 598 người Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ người tiêu dùng có kiến thức toàn diện về vệ sinh ATTP chiếm tỷ lệ thấp Người tiêu dùng chỉ đạt yêu cầu trên 50% khi lựa chọn phương tiện phục vụ và nhận biết thức ăn an toàn, người tiêu dùng vẫn còn dễ dãi trong lựa chọn nơi bán hàng và người bán hàng Sau 09 tháng can thiệp, sự cải thiện về kiến thức tiêu dùng không nhiều 2 tiêu chí cải thiện là: Lựa chọn nơi bán và Người bán hàng đạt vệ sinh ATTP; còn lại 2 tiêu chí: phương tiện phục vụ, nhận biết thức ăn an toàn tăng không đáng
kể Cán bộ quản lý vệ sinh ATTP đã được đào tạo bài bản không nhiều Điều đó làm cho công tác tổ chức quản lý vệ sinh ATTP gặp nhiều khó khăn Từ đó, nhóm nghiên cứu đã đưa ra một số kiến nghị như: Cần phổ biến kiến thức nâng cao nhận thức bảo đảm vệ sinh ATTP cho người tiêu dùng và tiến hành tập huấn nâng cao trình độ quản lý vệ sinh ATTP cho các cấp quản lý, đặc biệt là tuyến cơ sở
Với luận án chuyên khoa cấp II “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh
an toàn thực phẩm của người kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm tại tỉnh An Giang năm 2009”, tác giả Từ Quốc Tuấn đã tiến hành khảo sát trên 721 cơ sở kinh doanh thực phẩm
và 725 người tiêu dùng [23] Kết quả cho thấy: đối với người kinh doanh thực phẩm, tỷ lệ đạt về kiến thức vệ sinh ATTP là 67,3%, thái độ đúng là 62,3%, thực hành đúng là 31,3% Giữa kiến thức và thực hành của người kinh doanh thực phẩm có các mối liên quan với việc tham dự các lớp tập huấn về vệ sinh ATTP, nơi sinh sống Người kinh doanh có tham
dự các lớp tập huấn vệ sinh ATTP, sống ở thành thị sẽ có kiến thức, thực hành tốt hơn Riêng thái độ của người kinh doanh chỉ có mối liên quan đến nơi sính sống Đối với người tiêu dùng: tỷ lệ đạt về kiến thức vệ sinh ATTP là 31,4%, thái độ đúng là 65,9%, thực hành đúng là 37,4% Kiến thức của người tiêu dùng có mối liên quan đến tuổi, nơi sinh sống, học vấn Người tiêu dùng tuổi 18-40 tuổi, học vấn cao sẽ có kiến thức tốt hơn Thái độ và thực hành của người tiêu dùng có mối liên quan đến nghề nghiệp, học vấn, thu nhập và tham dự các lớp tập huấn vệ sinh ATTP Người tiêu dùng có nghề nghiệp là công nhân viên chức, buôn bán; học vấn cao; thu nhập ổn định và có tham dự các lớp tập huấn vệ sinh ATTP sẽ có thái độ tốt hơn
Trang 18Bài viết “An toàn thực phẩm từ hệ thống phân phối bán lẻ tại các chợ đầu mối” (2011) của tác giả Phạm Thiên Hương dựa trên một nghiên cứu thuộc dự án hợp tác
VECO-IPSARD đã đưa ra một số các tiêu chuẩn ATTP của Việt Nam hiện nay, phân
tích các văn bản chính sách liên quan, và tập trung vào phân tích thực trạng hệ thống phân phối bán lẻ tại một số chợ đầu mối lớn chuyên cung cấp thực phẩm ở Hà Nội, quá trình vận chuyển, phân phối, bảo quản và ý thức cộng động về vấn đề vệ sinh ATTP [7] Từ đó tác giả đã đưa ra kết luận: vệ sinh ATTP trong cả nước nói chung và tại các chợ đầu mối Hà Nội nói riêng đang gây nhiều lo lắng cho người tiêu dùng Trên thực tế, nhiều sự kiện như việc cố tình sử dụng những hoá chất cấm dùng trong bảo quản rau quả, thực phẩm, trong nuôi trồng, chế biến nông thủy sản, việc sản xuất một
số sản phẩm kém chất lượng hoặc do quy trình chế biến hoặc do nhiễm độc từ môi trường, hoặc do sử dụng chất bảo quản tùy tiện của người buôn bán đang gây ảnh hưởng xấu đến xuất khẩu và tiêu dùng Các vụ ngộ độc thực phẩm hàng loạt tại một số bếp ăn, nhà hàng…đã làm bùng lên sự lo âu không ngớt của người dân Trên cơ sở đó, tác giả cũng đã đưa ra một số giải pháp cụ thể cho từng nhóm đối tượng như: từ góc độ người tiêu dùng, từ phía nhà cung cấp thực phẩm, từ phía quản lý nhà nước
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh “Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại Khánh Hòa” (2012) của
Bác sĩ-Thạc sỹ Lê Tấn Phùng đã tiến hành khảo sát thực trạng vệ sinh ATTP tại các cơ
sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn tỉnh Khánh Hoà, đồng thời đánh giá năng lực quản lý vệ sinh ATTP trên toàn tỉnh Bằng việc kết hợp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng: Sử dụng hình thức thảo luận nhóm cho nghiên cứu định lượng để tìm hiểu thực trạng và các giải pháp cần thiết đảm bảo vệ sinh ATTP; Sử dụng bảng hỏi, bảng kiểm để khảo sát các đối tượng về kiến thức, thái độ
và thực hành trong lĩnh vực vệ sinh ATTP Đồng thời tiến hành xét nghiệm hóa, lý và
vi sinh các mẫu thực phẩm phổ biến (thịt, cá, rau, quả) Kết quả cho thấy kiến thức và thực hành về an toàn thực phẩm của các hộ gia đình vẫn có một số hạn chế nhất định Các cơ sở nhà hàng ăn uống, thức ăn đường phố chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chí vệ sinh do Bộ Y tế quy định Tình trạng ô nhiễm thực phẩm vẫn còn tồn tại, nhất là ô nhiễm vi sinh vật, hoá chất Các tác giả nhận định tốt về năng lực quản lý vệ sinh
Trang 19ATTP tại địa phương, nhưng nhấn mạnh sự cần thiết ban hành các văn bản quản lý nhằm tránh sự lạc hậu so với luật vệ sinh ATTP, tránh chồng chéo, và tăng cường sự phối hợp Trên cơ sở đó, một số khuyến nghị đã được đưa ra nhằm bảo đảm vệ sinh ATTP tại tỉnh Khánh Hòa [14]
Đề tài “Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm của người tiêu dùng thực phẩm tại huyện Châu Thành năm 2012” do tác giả Trương
Văn Dũng tiến hành đã đặt ra 2 mục tiêu: Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành của người tiêu dùng thực phẩm tại huyện Châu Thành năm 2012; Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành của của người tiêu dùng thực phẩm tại huyện Châu Thành năm 2012 [1] Bằng phương pháp nghiên cứu ngang trên mẫu gồm
700 người tiêu dùng thực phẩm từ 18 tuổi trở lên tại huyện Châu Thành, kết quả cho thấy: Về thực trạng, kiến thức, thực hành của người tiêu dùng thực phẩm: Tỷ lệ người
có kiến thức đúng 90,14%; tỷ lệ người có thái độ đúng 84,14% , tỷ lệ người có thực hành đúng 89,14%; Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi: có mối liên quan giữa kiến thức đúng với các yếu tố độ tuổi, học vấn, thời gian tham gia nội trợ, thu nhập kinh tế; Có mối liên quan giữa độ tuổi và thực hành đúng với các yếu tố học vấn, nghề nghiệp, thời gian nội trợ, thu nhập kinh tế và nhà ở Nghiên cứu cũng đã đưa ra kết luận đó là tỷ lệ người tiêu dùng trong huyện có kiến thức, thái độ và thực hành khá tốt về vệ sinh ATTP Cần tăng cường công tác tuyên truyền trực tiếp và tập trung vào nhóm những người tiêu dùng dưới 30 tuổi, những người có học vấn thấp, những người là nông dân làm ruộng, những người có kinh tế không ổn định, hộ cận nghèo và hộ nghèo
Như vậy, vấn đề an toàn thực phẩm đã bước đầu được quan tâm nghiên cứu ở nước ta Các công trình này hầu hết đều được tiếp cận dưới góc độ của y học, trong đó, các tác giả đã tập trung tìm hiểu thái độ, nhận thức, hành vi về vấn đề vệ sinh ATTP của người buôn bán, kinh doanh và người tiêu dùng thực phẩm ở một số địa phương,
từ đó, đưa các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của mọi người trong việc sử dụng thực phẩm an toàn Còn những nghiên cứu được tiếp cận dưới góc độ xã hội học về vệ sinh ATTP còn rất hạn chế và đặc biệt là vấn đề vai trò của phụ nữ trong việc đảm bảo
vệ sinh ATTP cho gia đình thì vẫn chưa có một nghiên cứu nào
Trang 20Từ những vấn đề nêu trên đã đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu lý luận và thực tiễn của đề tài nhằm góp phần làm rõ thêm cho những nghiên cứu về vai trò của phụ nữ trong đảm bảo vệ sinh ATTP gia đình trên cả nước nói chung và tại tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu với mục đích làm sáng rõ vai trò của phụ nữ đối với việc đảm bảo
an toàn thực phẩm cho gia đình trong bối cảnh hiện nay, đồng thời, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện vai trò này Trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp, khuyến nghị nhằm giúp cho người phụ nữ thực hiện tốt hơn vai trò của mình trong việc lựa chọn, chế biến và bảo quản thực phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn, góp phần chăm sóc sức khoẻ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho các thành viên trong gia đình
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu vai trò của người phụ nữ đối với việc đảm bảo ATTP cho gia đình, từ: lựa chọn, chế biến, bảo quản thực phẩm an toàn, chia sẻ những thông tin về ATTP đến những khó khăn và cách khắc phục các khó khăn để đảm bảo cho gia đình có những bữa an vệ sinh và an toàn Ngoài ra, việc thực hiện vai trò này còn được tìm hiểu qua đánh giá của những người thân là nam giới trong gia đình
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện vai trò của phụ nữ trong đảm bảo an toàn thực phẩm cho gia đình: đặc điểm nhân khẩu-xã hội và một số yêú tố kinh tế-xã hội
Đề xuất một số khuyến nghị về giải pháp nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong việc bảo đảm ATTP cho gia đình
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Vai trò của phụ nữ đối với việc đảm bảo an toàn thực phẩm gia đình ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay
5.2 Khách thể nghiên cứu
Phụ nữ đã có gia đình, là nội trợ chính đang sống tại phường Vĩnh Ninh và phường Phú Hậu, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 215.3 Phạm vi nghiên cứu
Không gian nghiên cứu: Phường Vĩnh Ninh và phường Phú Hâụ, thành phố Huế,
tỉnh Thừa Thiên Huế So với các phường trên địa bàn thành phố Huế thì Phường Vĩnh Ninh là phường có mặt bằng dân trí cao, phần lớn những người trong độ tuổi lao động đều là cán bộ, công chức, viên chức và công nhân viên làm việc hưởng lương tại các
cơ quan công sở và các thành phần kinh tế khác Trong khi đó, Phú Hậu là phường có trình độ dân trí thấp, sinh kế chính là buôn bán nhở, lao động tự do và làm thuê Do
đó, nghiên cứu chọn 2 phường này để thấy được sự khác nhau giữa những nhóm phụ
nữ có đặc điểm nhân khẩu cũng như điều kiện kinh tế xã hội khác nhau trong việc thực hiện vai trò đảm bảo ATTP cho gia đình
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/ 2013 – 10/2014
Nội dung nghiên cứu: Trong đề tài này, tác giả chỉ tập trung tìm hiểu về vai trò
của phụ nữ trên các khía cạnh sau: lựa chọn, chế biến và bảo quản thực phẩm an toàn, chia sẻ những kiến thức về ATTP, những trở ngại trong quá trình đảm bảo ATTP cho gia đình Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ tập trung nghiên cứu nhóm phụ nữ làm nội trợ chính, đã có gia đình và không có người giúp việc nhà
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Đề tài đã tìm hiểu các văn bản, chính sách có liên quan đến vấn đề ATTP hiện nay Bên cạnh đó, tác giả cũng đã tổng hợp, phân tích một số các đề tài, công trình nghiên cứu
và những bài viết có liên quan đến vấn đề phụ nữ với việc đảm bảo ATTP cho gia đình Bằng các phương pháp phân tích truyền thống, tác giả tiến hành tổng quan, chia tài liệu và sắp xếp theo các tiêu chí về nội dung thông tin, lựa chọn các thông tin có giá trị và phù hợp để làm luận chứng cho đề tài
6.2 Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được sử dụng rất hiệu quả trong các nghiên cứu về hành
vi của con người Có nhiều loại hình quan sát khác nhau, trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp quan sát không tham dự Thông qua quá trình tri giác trực tiếp, phương pháp này được phối hợp sử dụng trong quá trình thu thập thông tin tại địa bàn nhằm thu thập những thông tin cần thiết cho đề tài, cụ thể là quan sát những
Trang 22hành vi của người phụ nữ từ lựa chọn đến chế biến và bảo quản thực phẩm trong gia đình ở hai địa bàn nghiên cứu
Bảng hỏi sau khi thu về sẽ được làm sạch và xử lý bằng phần mềm SPSS để tạo
ra số liệu sử dụng cho quá trình viết báo cáo
Việc chọn mẫu cho phỏng vấn cấu trúc được tính như sau:
Tổng số hộ của 2 phường là 3814 hộ Do đó, để được mẫu đại diện chúng tôi sử dụng cách tính mẫu tỉ lệ theo công thức:
Nt2 x pq
n =
Nε2 + t2 pq Trong đó:
Trang 23Hậu có 13 tổ) Sau đó, bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện, chúng tôi chọn mỗi hộ một người phụ nữ đảm nhiệm nội trợ chính trong gia đình để phỏng vấn
Để đảm bảo đầy đủ số lượng bảng hỏi thu về có chất lượng, chúng thôi lấy thêm 10% mẫu dự trữ, tương đương 21 phiếu
Sau khi thu thập thông tin, chúng tôi có được bảng thống kê về cơ cấu mẫu như sau:
Bảng 1: Cơ cấu mẫu
(n=212)
Tỷ lệ (%)
Trang 24Những thông tin thu được trên bảng hỏi sẽ đựơc xử lý bằng phần mềm SPSS
16, Version 16.5
6.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
Đây là một phương pháp thu thập thông tin quan trọng bởi có rất nhiều thông tin định lượng chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn những thông tin đó với những thông tin định tính thu được từ phỏng vấn sâu
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp này để phỏng vấn 8 khách thể là phụ nữ đảm nhiệm công việc nội trợ chính trong gia đình ở 2 phường nghiên cứu nhằm hiểu sâu hơn vai trò của họ trong đảm bảo ATTP gia đình, những khó khăn, thuận lợi và những tâm tư, nguyện vọng của họ [Xem PL.6] Bên cạnh đó, phương pháp phỏng vấn sâu còn được sử dụng để tìm hiểu về những đánh giá của 14 người thân là nam giới đối với việc thực hiện vai trò của phụ nữ trong đảm bảo ATTP cho gia đình [Xem PL.7] Đồng thời, phương pháp này còn được sử dụng để phỏng vấn 2 chủ tịch Hội Phụ nữ của 2 phường [Xem PL.8], 2 cán bộ phụ trách vấn đề vệ sinh ATTP thuộc Trạm Y tế của 2 phường, 1 chi cục trưởng chi cục vệ sinh ATTP tỉnh Thừa Thiên Huế
7 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
7.1 Câu hỏi nghiên cứu
Vai trò của phụ nữ đối với việc đảm bảo ATTP cho gia đình hiện nay như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quá trình thực hiện vai trò của người phụ nữ trong đảm bảo ATTP cho gia đình?
Để nâng cao vai trò của người phụ nữ trong đảm bảo ATTP cho gia đình, cần có những giải pháp gì?
7.2 Giả thuyết nghiên cứu
Trong các gia đình ở thành phố Huế hiện nay, phụ nữ là người đóng vai trò chính trong đảm bảo ATTP cho gia đình, thông qua việc lựa chọn, chế biến đến bảo quản thực phẩm an toàn
Có nhiều yếu tố tác động đến quá trình thực hiện vai trò đảm bảo ATTP của người phụ nữ, nhưng trình độ học vấn, thu nhập, truyền thông và công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm là những yếu tố chính ảnh hưởng đến quá trình này
Trang 25Đẩy mạnh truyền thông, nâng cao nhận thức về vệ sinh ATTP và làm tốt công tác quản lý vệ sinh ATTP là những giải pháp cần thiết nhằm giúp những người phụ nữ làm tốt vài trò đảm bảo ATTP cho gia đình
Vai trò của phụ nữ trong chế biến và bảo quản thực phẩm an toàn
Vai trò của phụ nữ trong việc chia sẻ những kiến thức về ATTP cho các thành viên trong gia đình
VAI TRÕ CỦA PHỤ NỮ ĐỐI VỚI VIỆC ĐẢM BẢO
AN TOÀN THỰC PHẨM GIA ĐÌNH
Trang 26CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Vai trò xã hội
Vai trò xã hội là một thuật ngữ quan trọng trong xã hội học Theo nhà nhân
học-văn hóa Ralph Linton (1893-1953), trong tác phẩm “Study of Man” (1936), khái niệm này được thể hiện như sau “Từ nay trở đi, chúng ta gọi vị trí do một cá nhân chiếm lĩnh vào một thời gian cụ thể, trong một hệ thống cụ thể là trạng thái của cá nhân đó…Vế thứ hai, vai trò được coi là tổng thể của những khuôn mẫu văn hóa gắn liền với một trạng thái cụ thể Như vậy vai trò xã hội sẽ bao gồm “những quan điểm, ước
lệ về giá trị và phương thức hành động được xã hội quy định cho chủ nhân của trạng thái này” [2]
D.J.Levinson cho rằng, trong xã hội học hiện đại, tối thiểu chúng ta cũng có 3 định nghĩa về vai trò Định nghĩa thứ nhât, coi vai trò như một hệ thống các yêu cầu (những quy tắc, những đòi hỏi…) gắn liền với một vị trí xã hội nhất định Đó là hệ thống tác động đến cá nhân từ bên ngoài, gồm những nhân tố tạo thuận lợi và kìm hãm, điều chỉnh hoạt động của cá nhân như là nhân cách Định nghĩa thứ hai, xác định vai trò như là sự định hướng hoặc quan niệm về cá nhân ở chỗ cá nhân đó phải đóng góp gì cho xã hội Định nghĩa thứ ba, vai trò như là một hệ thống hành động của cá nhân được xem xét trong sự liên hệ với hệ thống giá trị và quy tắc nào đó từ bên ngoài
Ở đây, vai trò dành để chỉ các phương thức hành động của cá nhân đang giữ một vị trí
xã hội nhất định phù hợp hoặc không phù hợp với hệ thống quy tắc đó [2]
Theo Dalrendort, vai trò xã hội là “một tập hợp những kỳ vọng ở trong một xã hội gắn với hành vi của những người mang các địa vị…Ở mức độ này thì mỗi vai trò riêng là một tổ hợp hay nhóm các kỳ vọng hành vi” [11]
I.Robentsons cho rằng vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, nghĩa vụ và quyền lợi gắn với một vị thế nhất định [11]
Như vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về vai trò xã hội, và người ta đã cho
rằng là “danh sách các định nghĩa vai trò dường như muốn kéo dài vô tận” [2] Do đó,
khó có thể đưa ra được một định nghĩa mang tính đầy đủ và toàn diện về khái niệm vai
trò xã hội “Có nhiều khả năng định nghĩa vai trò chính xác hơn Định nghĩa nào được
Trang 27chọn phụ thuộc mối quan tâm của nghiên cứu nhưng cũng cả phụ thuộc vào những giải nghĩa thế giới và những định kiến về xã hội [2]
Vì thế, trong nghiên cứu này, chúng tôi xin sử dụng cách hiểu vai trò xã hội là một tập hợp những hành động, hành vi ứng xử, những khuôn mẫu tác phong mà xã hội mong đợi hay đòi hỏi một người hay một nhóm người nào đó phải thực hiện trên cơ
sở vị thế xã hội mà họ đang đảm nhận Cụ thể trong đề tài này, vai trò của phụ nữ trong đảm bảo ATTP gia đình được mọi người kỳ vọng ở những hành vi liên quan đến lựa chọn, chế biến và bảo quản thực phẩm an toàn cho gia đình
1.1.2 Vai trò giới
Để hiểu vai trò của phụ nữ trong đảm bảo ATTP gia đình không thể không hiểu
về vai trò giới Vai trò giới là tập hợp các hành vi ứng xử mà xã hội mong đợi ở nam
và nữ liên quan đến những đặc điểm giới tính và năng lực mà xã hội coi là thuộc về nam giới hoặc thuộc về phụ nữ (trẻ em trai hoặc trẻ em gái) trong một xã hội hoặc nền văn hóa cụ thể nào đó Và phụ nữ và nam giới đều thực hiện cả ba vai trò sau:
Vai trò sản xuất: Vai trò sản xuất bao gồm những công việc do cả nam và nữ làm
để lấy công hoặc bằng tiền, hoặc bằng hiện vật Nó bao gồm cả sản xuất hàng hóa có giá trị trao đổi, và sản xuất vừa có ý nghĩa tiêu dùng tại gia vừa có giá trị sử dụng,
nhưng cũng có giá trị trao đổi tiềm tàng
Vai trò tái sản xuất: bao gồm các hoạt động nhằm duy trì nòi giống, tái tạo sức lao động Vai trò này không chỉ đơn thuần là tái sản xuất sinh học, mà còn cả việc chăm lo, duy trì, phát triển lực lượng lao động cho hiện tại và tương lai như: nuôi dạy
con cái, nuôi dưỡng các thành viên trong gia đình, làm công việc nội trợ…
Vai trò cộng đồng: Thể hiện ở những hoạt động tham gia thực hiện ở mức độ cộng đồng nhằm duy trì và phát triển các nguồn lực cộng đồng, thực hiện các nhu cầu, mục tiêu chung của cộng đồng
Trong phạm vi của nghiên cứu này, chúng tôi tập trung tìm hiểu vai trò của phụ
nữ trong đảm bảo ATTP gia đình bởi đây là một phần tất yếu của vai trò tái sản xuất
Và để có một cái nhìn sâu sắc, thấu đáo, chúng tôi đã đặt vai trò này trong sự so sánh với vai trò của nam giới [17]
Trang 281.1.3 Gia đình
Gia đình có vị trí đặc biệt quan trọng và là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học Những chủ đề nghiên cứu về gia đình luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học không chỉ ở Việt Nam mà trên cả thế giới
Tuỳ thuộc vào quan điểm và các phương pháp tiếp cận, người ta có thể đưa ra những khái niệm khác nhau về Gia đình
Khái niệm về gia đình mang tính pháp lý ở Việt Nam được ghi trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau theo hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa
vụ và quyền giữa họ với nhau theo qui định của Luật này”[15]
Dưới khía cạnh xã hội học, gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi mối quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của các thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người [17]
Nhà xã hội học G.Murdock đã định nghĩa một cách tương đối toàn diện về gia
đình: “Gia đình là một nhóm xã hội có đặc trưng là cùng cư trú, cùng hợp tác và tái sản xuất về mặt kinh tế Nó gồm người lớn của hai giới và ít nhất hai người trong số
đó có quan hệ tình dục với nhau mà được pháp luật tán thành và có một hoặc nhiều con cái, hoặc do họ đẻ ra hoặc là con nuôi”[11]
Gia đình được coi là “xương sống của xã hội” bởi gia đình đã đảm nhiệm nhiều
chức năng không thể thiếu được trong sự vận động và phát triển của xã hội, trong đó
có những chức năng cơ bản như: Chức năng xã hội hoá, chăm sóc và giáo dục con cái; chức năng kinh tế; chức năng sinh sản và tái sản xuất ra con người và xã hội; chức năng tình cảm Sự kiểm soát khách quan của xã hội và cộng đồng đối với gia đình chính là phương thức để quản lý việc thực hiện các chức năng nói trên của gia đình hướng tới sự ổn định không phải chỉ riêng cho gia đình mà còn cho cả xã hội [17]
1.1.4 Thực phẩm
Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua
sơ chế, chế biến, bảo quản TP không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng
như dược phẩm [16]
Trang 29Thực phẩm là tất cả các chất đã hoặc chưa chế biến nhằm sử dụng cho con ngừơi bao gồm đồ ăn, uống, nhai, ngậm, hút và các chất được sử dụng để sản xuất, chế biến hoặc xử lý thực phẩm, nhưng không bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử
an toàn thực phẩm được cho là các điều kiện và hành động mà giữ được chất lượng của thực phẩm nhằm ngăn ngừa sự nhiễm khuẩn và các bệnh thực phẩm [9]
An toàn thực phẩm là việc đảm bảo thực phẩm không độc hại, vô hại và tuân
thủ với các yêu cầu dinh dưỡng hợp lý, và đảm bảo thực phẩm không gây ra bất cứ mối nguy hiểm cấp tính, tạm thời hoặc kinh niên nào cho sức khoẻ con người [16]
Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi xin được đưa ra cách hiểu về khái niệm ATTP đó là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khoẻ, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hoá học, sinh học, hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật,
thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe con người
1.1.6 An toàn thực phẩm gia đình
Hiện tại chưa có định nghĩa nào về khái niệm an toàn thực phẩm gia đình Tuy nhiên, từ cách hiểu về an toàn thực phẩm và gia đình như đã phân tích ở trên, trong
nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng khái niệm “an toàn thực phẩm gia đình” với ý
nghĩa là việc đảm bảo các điều kiện và hành động để giữ được chất lượng của thực
phẩm nhằm ngăn ngừa sự nhiễm khuẩn và các bệnh thực phẩm trong phạm vi gia đình
Trang 301.2 Các lý thuyết có liên quan
1.2.1 Lý thuyết vai trò
Lý thuyết vai trò được “phát triển từ hai hướng tiếp cận, của một quan sát xã hội học vi mô và của một quan sát xã hội học vĩ mô” và về mặt khoa học được hình thành như là bộ phận của một tiếp cận “lý thuyết hành động-tương tác” và của một tiếp cận
“lý thuyết hệ thống-chức năng” Trong giao diện của cả hai khuynh hướng tiếp cận lý thuyết, lý thuyết vai trò có nhiệm vụ như là một “quan niệm trung gian”, như là “lý thuyết tầm trung bình” có chủ đề là các cơ chế trung chuyển giữa cá thể và hệ thống
Do khả năng vận dụng cao, có thể thấy khái niệm vai trò trong nhiều lý thuyết quan trọng của xã hội học đại cương từ xã hội học vĩ mô (lý thuyết cấu trúc-chức năng, lý thuyết xung đột, lý luận tân mác xít) đến xã hội học vi mô (lý thuyết tương tác, lý thuyết hành vi)
Lipton xem vai trò là cách ứng xử được quy định sẵn và có tính áp đặt tương ứng với những vị trí nhất định Ông đã phân biệt giữa vai trò và vị thế, vai trò như là phương diện biến động của vị thế Mead lại mô tả vai trò như là kết quả của một quá trình tương tác mang tính rèn luyện và sáng tạo Moreno đã xây dựng khái niệm đóng
vai “role playing” cũng như việc phân hoá thành “các vai trò” “tâm thế” “tâm trạng”
và “xã hội” Sau này, khái niệm vị thế lại đựơc thể hiện một cách kinh điển bởi Parsons Trong phác thảo về “Lý thuyết hành động và hệ thống tổng quát” của mình
(1937, 1951) ông đã cho rằng hệ thống văn hoá qua các quá trình thiết chế hoá được nhất thể hoá vào hệ thống xã hội và thông qua xã hội hoá và nhập tâm hoá được nhất thể hoá vào nhân cách Ở đây vai trò xã hội là các phần tử cơ bản của các hệ thống xã hội; sự nhập tâm hoá chúng đảm bảo cho việc hội nhập và với nó sự ổn định hệ thống như là một tổng thể [2]
Nói đến vai trò thực ra là nói đến cả một nhóm các khái niệm trực thuộc với nhau
mà sau đó tạo thành lý thuyết vai trò như là hệ thống khái niệm: vai trò, địa vị, kỳ vọng, chế tài, hành vi Sau đó là những khái niệm thêm và bổ sung như năng lực-cái tôi, quyền lực, bản sắc, sự đồng nhất, tình huống và những phân hoá của vai trò như vai trò quy cán và vai trò giành được, thuộc tính vai trò, đảm nhận vai trò, khoảng cách vai trò, xung đột vai trò, căng thẳng vai trò, đóng vai trò, chuỗi vai trò
Trang 31Với vai trò, người ta tìm cách mô tả, giải thích và dự báo sự trung chuyển của cá thể và xã hội cũng như của cá nhân và hệ thống một cách thấu đáo và việc phù hợp vào việc xây dựng lý luận Người ta hiểu vai trò là một “tập hợp những kỳ vọng ở trong một xã hội gắn với hành vi của những người mang các địa vị Ở mức độ này thì mỗi vai trò riêng là một tổ hợp hay nhóm các kỳ vọng hành vi” [11]
Vận dụng lý thuyết vai trò vào nghiên cứu đề tài, tôi sẽ xem xét, phân tích vai trò của người phụ nữ trong việc đảm bảo ATTP gia đình trên một số khía cạnh:
Thứ nhất, tìm hiểu việc thực hiện vai trò, cụ thể là tìm hiểu thái độ, hành vi của
người phụ nữ trong việc lựa chọn, chế biến và bảo quản thực phẩm an toàn
Thứ hai, tìm hiểu những đánh giá của người thân trong gia đình đối với vai trò
của phụ nữ trong đảm bảo ATTP
Thứ ba, tìm hiểu những khó khăn và cách khắc phục khó khăn của phụ nữ trong
quá trình họ thực hiện vai trò đảm bảo ATTP gia đình
1.2.2 Lý thuyết cấu trúc-chức năng
Lý thuyết cấu trúc - chức năng hình thành từ thế kỷ XXI Là một trong những trường phái lý thuyết có ảnh hưởng rất lớn trong xã hội học, lý thuyết này gắn với tên tuổi của các nhà xã hội học như: Ausguste Comte, Emile Durkheim, Talcott Parson, Merton Quan điểm của các nhà chức năng luận nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi bộ phận đều có một chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định, bền vững [5] Từ luận điểm này, lý thuyết cấu trúc-chức năng coi phụ nữ
và nam giới như những bộ phận khác nhau tạo nên hệ thống xã hội Phụ nữ và nam giới tuy có cấu trúc sinh học khác nhau nhưng giữa họ có quan hệ về mặt xã hội hết sức chặt chẽ với nhau, chính sự tương tác giữa hai thành phần này đã thiết lập nên mối quan hệ giới trong xã hội Một trong những yếu tố thể hiện mối quan hệ xã hội giữa họ
là sự phân công lao động - việc thực hiện các chức năng và vai trò xã hội giữa nam giới và phụ nữ trong phạm vi gia đình và công cộng
Theo quan điểm của Talcott Parson, trong mỗi gia đình phụ nữ và nam giới đều giữ những vai trò nhất định, đây là vai trò đã được phân định rõ ràng và họ đều phải học hỏi để thực hiện các vai trò đó [11] Theo đó, phụ nữ duy trì hoạt động bên trong
Trang 32gia đình, đảm nhận công việc nội trợ và trách nhiệm nuôi con Còn nam giới thực hiện các chức năng liên kết gia đình với xã hội rộng lớn, chủ yếu thông qua sự tham gia của
họ trong lực lượng lao động Điều đó có nghĩa là, phụ nữ là lực lượng lao động trong gia đình, còn nam giới là lực lượng lao động bên ngoài gia đình Theo quan điểm này, phụ nữ có khả năng sinh đẻ, nuôi con nên họ được xem là phù hợp nhất với vai trò tình cảm (duy cảm), còn nam giới với trách nhiệm xã hội chính là thành đạt trong lực lượng lao động xã hội, nên nam giới được xã hội hoá để trở thành người duy cảm
Như vậy, có thể thấy rằng, giữa phụ nữ và nam giới đều có sự phân định chức năng riêng biệt, do đó mà phạm vi hoạt động của họ cũng khác nhau Cả nam giới và phụ nữ đều phải học cách nhận diện giới tính cũng như các kỹ năng và thái độ phù hợp, cần thiết để thực hiện tốt vai trò giới của mình thông qua quá trình xã hội hoá
Là một thiết chế xã hội, một trong những chức năng quan trọng của gia đình đó là kiểm soát, sàng lọc và bảo vệ các thành viên trước những tác động tiêu cực từ bên ngoài Vậy, trong việc đảm bảo ATTP cho các thành viên, gia đình đã thực hiện chức năng đó như thế nào? Áp dụng lý thuyết cấu trức - chức năng sẽ giúp lý giải vấn đề này Bên cạnh đó, lý thuyết này còn được sử dụng để giải thích, tại sao lâu nay trong quan niệm của nhiều người vẫn xem công việc chăm sóc nhà cửa, đi chợ, nấu ăn, trong
đó có việc đảm bảo ATTP là của phụ nữ Và xã hội kỳ vọng, mong đợi ở người phụ nữ luôn làm tròn vai trò đó Tuy nhiên, để đáp ứng được kỳ vọng đó, những người phụ nữ
đã thực hiện vai trò của mình như thế nào? Họ đã làm gì để hoàn thành tốt công việc này? Trong quá trình đó, họ gặp những khó khăn gì và cách khắc phục ra sao để đảm bảo cho gia đình có những bữa ăn vệ sinh và an toàn?
1.2.3 Lý thuyết lựa chọn hợp lý
Thuyết lựa chọn hợp lý trong xã hội học có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học thế kỷ XVIII-XIX Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào tiền đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh việc phải cân nhắc, tính toán để quyết định
sử dụng loại phương tiện hay cách thức tối ưu trong số những điều kiện hay cách thức hiện có để đạt được mục tiêu trong điều kiện khan hiến các nguồn lực Cách hiểu này
Trang 33lúc đầu mang nặng ý nghĩa kinh tế học vì nhấn mạnh đến yếu tố lợi ích vật chất nhưng sau này, các nhà xã hội học mở rộng phạm vi của mục tiêu bao gồm các yếu tố lợi ích
xã hội và tinh thần [5]
Thuyết lựa chọn hợp lý đòi hỏi phải phân tích hành động lựa chọn của cá nhân trong mối liên hệ với cả hệ thống xã hội của nó bao gồm các cá nhân khác với những nhu cầu và sự mong đợi của họ, các khả năng lựa chọn và các sản phẩm đầu ra của những lựa chọn cùng các đặc điểm khác
Áp dụng lý thuyết này trong nghiên cứu sẽ cho thấy, đối với những người phụ nữ,
để đảm bảo ATTP cho các thành viên trong gia đình đó là sự lựa chọn hợp lý từ khâu
mua, chế biến đến bảo quản thực phẩm Và để thấy rõ được sự “hợp lý” đó, khi phân
tích hành động này, tác giả đã đặt trong mối liên hệ giữa vấn đề quản lý, truyền thông ATTP với người sử dụng thực phẩm, giữa cung và cầu, giữa điều kiện, hoàn cảnh của gia đình với hành vi cuả những người nội trợ, giữa những nhu cầu, mong đợi cuả các thành viên trong gia đình với vai trò của người vợ, người mẹ và giữa đặc điểm cá nhân của bản thân người phụ nữ với hành vi của họ
1.3 Khái quát về địa bàn nghiên cứu
1.3.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Thành phố Huế
Thành phố Huế nằm ở toạ độ địa lý 16-16,8° vĩ Bắc và 107,8-108,2° kinh Đông phía Bắc và phía Tây giáp thị xã Hương Trà, phía Nam giáp thị xã Hương Thuỷ, phía Đông giáp thị xã Hương Thuỷ và huyện Phú Vang Diện tích tự nhiên 71,68 km2, dân
số năm 2012 là 344.581 người, mật độ dân số: 4207 người/km2 (theo niên giám thống
kê năm 2012) Toàn thành phố có 27 phường, trong đó có phường Vĩnh Ninh và phường Phú Hậu [36]
Thành phố Huế có sự ngoại lệ về khí hậu so với vùng Bắc Bộ và Nam Bộ, vì nơi đây khí hậu khắc nghiệt và có sự khác nhau giữa các miền và khu vực trong toàn tỉnh Vùng duyên hải và đồng bằng có hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8, trời nóng và oi bức, có lúc lên tới 39,9 °C Từ tháng 8 đến tháng 1 là mùa mưa và hay xảy
ra bão lụt, nhiệt độ trung bình 19,7 °C, cũng có khi hạ xuống còn 8,8 °C, trời lạnh
Trang 34Vào mùa này có những đợt mưa suốt ngày, kéo dài cả tuần lễ Vùng núi mưa nhiều, khí hậu mát mẻ, nhiệt độ dao động từ 9°C đến 29 °C [36]
Nằm ở vị trí có điều kiện thiên nhiên, hệ sinh thái đa dạng, phong phú và diện mạo riêng đã tạo nên cho Thành phố Huế một không gian hấp dẫn Thành phố hội đủ các dạng địa hình: đồi núi, đồng bằng, sông hồ, tạo thành một không gian cảnh quan thiên nhiên-đô thị-văn hoá lý tưởng
Phường Vĩnh Ninh
Phường Vĩnh Ninh nằm ở vị trí trung tâm thành phố Huế, phía Bắc giáp sông Hương; Phía Đông giáp phường Phú Nhuận; Phía Nam và Tây giáp sông An Cựu, diện tích: 147,1 ha; dân số 7441 người, 1306 hộ trải đều trong 5 khu vực dân cư với 15 tổ dân phố [36]
Phường Phú Hâụ
Phường Phú Hậu nằm phía Đông Bắc hạ lưu sông Hương: Bắc giáp xã Phú Mậu, Huyện Phú Vang; Đông giáp xã Phú Thượng, Huyện Phú Vang; Nam giáp phường Phú Hiệp; Tây giáp phường Phú Bình Diện tích 117 ha, dân số 2508 hộ, 11394 khẩu Phường chia thành 05 khu vực, 13 tổ dân phố [36]
1.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Thành phố Huế là trung tâm tỉnh lị của tỉnh Thừa Thiên Huế Với vai trò là trung tâm đa chức năng: trung tâm văn hoá du lịch, trung tâm giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, trung tâm y tế chuyên sâu Huế được công nhận là đô thị loại một, là đô thị trung tâm cấp quốc gia có vai trò động lực của khu vực trọng điểm kinh tế miền Trung
Thời gian qua, thành phố Huế đã được trung ương và tỉnh Thừa Thiên - Huế tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, chỉnh trang đô thị tương đối tốt, môi trường cảnh quan, trật tự an ninh, an toàn xã hội đảm bảo Kinh tế có bước phát triển khá, tăng trưởng GDP hàng năm 19%; doanh thu du lịch đạt gần 1.200 tỷ đồng; doanh thu thương mại đạt hơn 12.000 tỷ đồng; công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đạt gần 5.000 tỷ đồng [36] Nhiều công trình đầu tư xây dựng khách sạn, nhà hàng, siêu thị với quy mô lớn và hiện đại được hình thành, các đường phố chính đã phát triển thành các phố kinh doanh cao cấp với nhiều cửa hàng lớn đẹp và hiện đại phục vụ du khách và nhân dân; hệ thống chợ trong thành phố được đầu tư nâng cấp và xây dựng mới khá hoàn thiện
Trang 35Về công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm: Hàng năm, ngành y tế tỉnh đã phối hợp với các ngành liên thường xuyên thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành để tăng cường kiểm sóat tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm, nhằm chấn chỉnh và xử lý kịp thời các vi phạm quy định về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Chưa kể các đợt kiểm tra đột xuất phục vụ các lễ hội, hội nghị, phòng chống dịch hàng năm, việc kiểm tra định kỳ theo kế hoạch được thực hiện thường xuyên trong các dịp: Tháng hành động vì chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm (01 tháng), Tết Dương lịch (1/2 tháng), Tết Nguyên đán (01 tháng), Tết Trung Thu (1/2 tháng)
Phường Vĩnh Ninh
Nằm ở vị trí trung tâm của thành phố Huế, phường Vĩnh Ninh có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội Phường là nơi tập trung nhiều cơ quan, trường học, bệnh viện, trong đó có bệnh viện Trung ương Huế Đặc biệt, chi cục quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm của tỉnh cũng đóng trên địa bàn phường Nhìn chung cơ sở vật chất và vệ sinh môi trường của phường tương đối hoàn chỉnh Năm 2013, phường đã xoá được hộ nghèo
So với những phường khác ở thành phố Huế, Vĩnh Ninh là phường có mặt bằng dân trí cao, hiện đã đạt tiêu chuẩn quốc gia về xóa mù chữ; phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; phổ cập giáo dục trung học cơ sở và phổ cập giáo dục trung học phổ thông; 100% học sinh đi học đúng độ tuổi; hơn 90% gia đình đạt tiêu
chuẩn “Gia đình văn hóa” hàng năm; 100% tổ dân phố đạt tiêu chuẩn “Tổ văn hóa”
và “Khu dân cư tiên tiến”
Phần lớn những người trong độ tuổi lao động trên địa bàn phường đều là cán bộ, công chức, viên chức và công nhân viên làm việc hưởng lương tại các cơ quan công sở
và các thành phần kinh tế khác, bộ phận còn lại tham gia buôn bán nhỏ và làm dịch vụ trong nhiều lĩnh vực khác [27]
Hiện tại trên địa bàn phường có 187 cửa hàng kinh doanh thực phẩm, dịch vụ ăn uống, bao gồm nhà hàng lớn, cửa hàng, quán ven đường, gánh hàng rong, thức ăn đường phố Trong đó có 97 cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm có giấy chứng nhận
vệ sinh an toàn thực phẩm Trong 5 năm qua, trên địa bàn phường chưa xảy ra một
trường hợp ngộ độc thực phẩm tập thể nào[27]
Trang 36Hội Liên hiệp phụ nữ của phường hiện có 1372 người, chiếm 68% tổng số phụ
nữ trên toàn phường Nhiều năm liền, Hội Phụ nữ phường được nhận giấy khen của Trung ương Hội vì đã có nhiều hoạt động, phong trào rất tích cực, đặc biệt là dẫn đầu trong việc thực hiện 6 chương trình đề ra của Trung ương Hội Năm 2013, Hội đã triển khai cho vay các nguồn vốn để tạo công ăn việc làm cho hội viên giải quyết xoá đói giảm nghèo Nhờ đó, các Hội viên của hội có đời sống ngày càng tốt hơn [27]
Phường Phú Hậu
Phú Hậu được xem là một trong những phường khó khăn nhất của thành phố Huế Phường được đô thị hóa theo qui hoạch, đến nay đã tiếp nhận gần 800 hộ dân từ nơi khác chuyển đến, trong đó có khoảng 200 hộ dân vạn đò lên tái định cư ở đây Do dân số tăng nhanh, mặt bằng dân trí tương đối thấp nên điều này đã nảy sinh những phức tạp về mặt xã hội Toàn phường hiện có 13 tổ dân phố và đã đăng ký tổ dân phố văn hóa, trong đó có 05 tổ dân phố và 06 cơ quan đạt chuẩn văn hóa Năm 2013 toàn phường có 176 hộ nghèo chiếm 7% và 261 hộ cận nghèo chiếm 10% tổng số hộ toàn phường [26]
Phần lớn những người trong độ tuổi lao động trên địa bàn phường làm các nghề như buôn bán nhỏ, đạp xích lô, xe thồ, thợ nề, thu mua phế liệu, ở nhà nội trợ Số ít là cán bộ, công nhân viên chức và bộ đội
Hiện trên địa bàn phường có 3 chợ lớn: chợ đầu mối Bãi Dâu, Bến xe thuyền cá
và chợ Dinh Đây là đầu mối lớn cung cấp thực phẩm không chỉ cho phường, mà cho toàn thành phố Huế Tuy nhiên, vấn đề vệ sinh môi trường ở đây còn nhiều bất cập Cả phường hiện có 53 cơ sở kinh doanh có giấy chứng nhận đăng ký vệ sinh an toàn thực phẩm Trong 5 năm trở lại đây, phường chưa xảy ra hiện tượng ngộ độc thực phẩm tập thể nhưng có 3 ca ngộ độc thực phẩm ở các hộ gia đình phải đem lên trạm y tế xã [26] Hội Liên hiệp phụ nữ phường hiện có 1489 hội viên, chiếm 43% tổng số phụ
nữ trên toàn phường Những năm qua, Hội cũng đã triển khai các hoạt động do Trung ương Hội phát động và đã thu được những thành công đáng ghi nhận Tuy nhiên, nhìn chung hoạt động của Hội vẫn còn nhiều vấn đề khó khăn, hạn chế cần phải khắc phục [26]
Trang 37CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VAI TRÕ CỦA PHỤ NỮ ĐỐI VỚI VIỆC ĐẢM BẢO AN TOÀN THỰC PHẨM GIA ĐÌNH Ở
THÀNH PHỐ HUẾ
An toàn thực phẩm luôn là vấn đề quan tâm của toàn xã hội vì nó không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, thể chất của mỗi cá nhân mà còn đóng góp quan trọng vào việc duy trì nòi giống cường tráng, trí tuệ và đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững của xã hội
Là những người trực tiếp chuẩn bị bữa ăn hàng ngày cho gia đình, các chị em phụ nữ nội trợ ở hai phường Vĩnh Ninh và Phú Hậu, thành phố Huế đã làm gì để đảm bảo ATTP gia đình, chăm lo sức khoẻ cho các thành viên?
2.1 Vai trò của phụ nữ trong lựa chọn thực phẩm an toàn
Đảm bảo ATTP gia đình là một quá trình gồm nhiều công đoạn, trong đó, lựa chọn thực phẩm được xem là bước quan trọng đầu tiên nhằm giúp người nội trợ chọn được những nguyên liệu tốt, có chất lượng để chế biến những món ăn không chỉ ngon,
đủ dinh dưỡng mà còn phải đảm bảo an toàn sức khoẻ cho người sử dụng Đối với mỗi gia đình, trọng trách này đặt trên vai những người nội trợ chính mà trước hết và chủ yếu là người phụ nữ
Trước khi đi vào phân tích cụ thể về những hành vi liên quan đến việc lựa chọn thực phẩm an toàn của những người phụ nữ nội trợ ở hai phường Vĩnh Ninh và Phú Hậu, để có cái nhìn sâu sắc và khách quan hơn, chúng tôi đã tìm hiểu thái độ, nhận thức của họ về chất lượng của các loại thực phẩm trên thị trường hiện nay, bởi từ thái
độ, nhận thức sẽ có những ảnh hưởng nhất định đến hành vi của cá nhân
Biểu đồ 2.1: Mức độ an tâm về chất lượng thực phẩm trên thị trường
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát tháng 8/2014)
Trang 38Kết quả xử lý ở bảng 2.1 cho thấy: có 8,5% số phụ nữ được hỏi cho rằng họ hoàn toàn không an tâm về tính an toàn của các loại thực phẩm trên thị trường hiện nay; có 55,7% không an tâm; 29,2% tương đối an tâm và chỉ có 6,6% cho rằng họ cảm thấy an tâm về thực phẩm trên thị trường Nếu gộp cả mức độ không an tâm và hoàn toàn không an tâm thì tỷ lệ này chiếm đến 64,2%
Số liệu trên đã chứng tỏ rằng, phần lớn phụ nữ ở hai phường Vĩnh Ninh và Phú Hậu đang rất lo lắng, bất an về chất lượng của các loại thực phẩm đang được bán trên
thị trường hiện nay Một người phụ nữ nội trợ đã chia sẻ: “Từ xưa đến chừ, mình vẫn biết để bảo đảm sức khỏe phải ăn sạch, uống sạch, ở sạch Nhưng bữa ni trên thị trường hàng hoá tùm lum lắm, loại chế biến sẵn thì nghe nói có nhiều chất phụ gia gây ung thư, rau quả thì thuốc trừ sâu, tăng trưởng độc hại, nước tinh khiết thì không tinh khiết Không phải chỉ có mình mà tâm lý chung nhiều người bữa ni đi chợ cảm thấy không an tâm tí mô, nói thiệt là mắt nhắm mắt mở mà mua đại thôi” (PVS, Vĩnh Ninh, nữ, 30 tuổi, đại học, hướng dẫn viên du lịch)
Không chỉ riêng những phụ nữ ở địa bàn khảo sát, nhiều người tiêu dùng ở các nơi khác cũng có tâm lý này Một nghiên cứu về vấn đề ATTP ở Khánh Hoà cho thấy:
có đến 48,5% người được hỏi trả lời rằng họ cảm thấy không an tâm và 4% rất không
an tâm về tình hình vệ sinh ATTP tại địa phương [14] Thậm chí ngay cả Bộ trưởng Y
tế khi phát biểu tại hội nghị trực tuyến của Chính phủ với các địa phương cũng nhìn
nhận: “Vấn đề đáng sợ nhất là từ thực phẩm không an toàn dẫn đến nhiễm độc mãn tính và nhiễm độc giống nòi Không ăn thì chết, ăn thì lo chết dần chết mòn” [39]
Rõ ràng, phần lớn người tiêu dùng nói chung và phụ nữ hai phường Vĩnh Ninh
và Phú Hậu nói riêng đang rất loang mang, lo lắng và bất an về chất lượng của các loại thực phẩm đang được bán trên thị trường hiện nay Trước những nỗi lo ngại đó, chị em nội trợ ở hai điểm khảo sát đã làm gì để có thể lựa chọn cho bản thân và gia đình những thực phẩm tốt nhất và an toàn nhất trong điều kiện có thể?
2.1.1 Tần suất và thời gian mua thực phẩm
Trong nhiều công đoạn của quá trình nội trợ, trước hết, phải kể đến đó là việc đi mua thực phẩm, bởi đây là bước quan trọng đầu tiên để có những nguyên liệu cần thiết cho bữa ăn gia đình
Trang 39Biểu đồ 2.2: Tần suất mua thực phẩm cho gia đình của phụ nữ trong tuần
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát tháng 8/2014)
Quan sát điểu đồ 2.2 cho thấy: có đến 75,9% phụ nữ được hỏi cho biết họ thường đi chợ hàng ngày, chỉ có 15,1% phụ nữ đi chợ 3-5 lần trong tuần và tỷ lệ nhỏ 9% đi chợ 1-2 lần/tuần
Như vậy, đa số phụ nữ ở địa bàn khảo sát là những người đảm nhiệm chính trong công việc đi chợ mua thực phẩm cho gia đình Việc mua thực phẩm hằng ngày tuy có thể làm mất nhiều thời gian và công sức hơn nhưng như vậy sẽ giúp cho các chị
em phụ nữ vừa có thể thay đổi được món ăn, vừa có thể lựa chọn cho gia đình được những thực phẩm tươi ngon hơn, hạn chế thời gian bảo quản
Rõ ràng, đối với phần lớn chị em phụ nữ ở hai phường Vĩnh Ninh và Phú Hậu,
đi mua thực phẩm cho gia đình dường như là một thói quen thường nhật, và trong vòng quay của những công việc hàng ngày, tất yếu họ buộc phải chi phí một phần thời gian để dành cho việc làm này
Biểu đồ 2.3: Thời gian trung bình mỗi lần mua thực phẩm cho gia đình của phụ nữ
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát tháng 8/2014)
Quan sát biểu đồ 2.3 cho thấy: có 60,7% phụ nữ cho rằng họ chi phí trung bình cho mỗi lần mua thực phẩm từ khoảng 30 phút đến 1 giờ, 27,1% dành trung bình dưới
Trang 4030 phút, 10,4% dành từ hơn 1 giờ đến 2 giờ và tỷ lệ nhỏ (1,4%) phụ nữ dùng trên 2 giờ
để mua thực phẩm Như vậy, thời gian phần lớn phụ nữ trong mẫu khảo sát dành cho mỗi lần mua thực phẩm là trong khoảng 30 phút đến 1 giờ Khoảng thời gian này toàn phù hợp với thói quen đi chợ hàng ngày của đa số phụ nữ ở đây Hay nói cách khác, trung bình mỗi ngày, phần lớn những chị em nội trợ đã chi phí trong khoảng 1 giờ cho việc lựa chọn thực phẩm cho gia đình
Cuộc sống hiện đại, hầu hết phụ nữ đều đang mang trên mình vai trò kép, do
đó, sự hạn chế về mặt thời gian là điều tất yếu, thế nhưng, nhiều chị em phụ nữ ở hai phường Vĩnh Ninh và Phú Hậu vẫn dành một khoảng thời gian không nhỏ để hằng ngày đi mua thực phẩm cho gia đình đã phần nào cho thấy sự cố gắng, nỗ lực của những người mẹ, người vợ trong việc nội trợ, đảm bảo ATTP cho gia đình Một nữ
giáo viên đã chia sẻ rằng: “Hằng ngày mình thường tranh thủ đi chợ sớm để mua thức
ăn cho cả nhà, sau đó mới về đi làm Nhà có con nhỏ nên phải chịu khó, với lại ông chồng cũng không thích ăn đồ để tủ lạnh Tuy vất vả nhưng được cái ngày mô cả nhà cũng có đồ tươi để ăn” (PVS, Vĩnh Ninh, nữ, 34 tuổi, thạc sỹ, giáo viên)
2.1.2 Lựa chọn địa điểm mua thực phẩm
Việc lựa chọn thực phẩm, mà trước hết là chọn địa điểm mua thực phẩm có thể xem là bước sàng lọc đầu tiên nhằm giúp người nội trợ có thể tiếp cận được với những sản phẩm chất lượng và đảm bảo an toàn Đối với người phụ nữ, địa điểm bán thực phẩm không chỉ đơn thuần là nơi cung cấp hàng hoá mà đó còn là cơ sở, căn cứ, là địa chỉ để họ có thể tìm đến và gửi gắm niềm tin về chất lượng của thực phẩm
Biểu đồ 2.4: Địa điểm phụ nữ thường mua thực phẩm cho gia đình
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu khảo sát tháng 8/2014)