Chúng ta có thể kể ra một số nghiên cứu dưới đây: Nguyễn Kim Công: Đánh giá hoạt động của các tổ chức KH&CN thành lập theo Nghị định số 35/HĐBT trong các viện nghiên cứu và triển khai n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG VĂN THỤ
TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CHẾ TỰ CHỦ
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC KH&CN CÔNG LẬP:
NGHIÊN CỨU THĂM DÒ
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội, 12 / 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HOÀNG VĂN THỤ
TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CHẾ TỰ CHỦ
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC KH&CN CÔNG LẬP:
NGHIÊN CỨU THĂM DÒ
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60.31.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Quý Thanh
Hà Nội, 12 / 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập vừa qua, được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo trong và ngoài Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), bản thân tác giả đã tiếp thu được những kiến thức tương đối toàn diện về các lĩnh vực nghiên cứu chuyên ngành Xã hội học và các khoa học liên quan trong Chương trình cao học Xã hội học
Thực hiện Luận văn này, tác giả đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình của các giảng viên, cán bộ Khoa Xã hội học Tác giả cũng nhận được sự giúp đỡ và tạo điều kiện của Trường Quản lý KH&CN (nơi công tác), gia đình và bạn bè Đặc biệt, phải
kể tới công lao của Giáo viên hướng dẫn - PGS TS Nguyễn Quý Thanh, Viện trưởng Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục, ĐHQG Hà Nội
Tác giả xin chân thành cảm ơn tập thể Lãnh đạo, giảng viên và cán bộ Khoa Xã hội học; Trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo và các đồng nghiệp nơi công tác, bạn bè và gia đình đã giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian qua Tác giả thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với PGS TS Nguyễn Quý Thanh - người đã chỉ bảo tận tình, giúp đỡ học viên vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành Luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, 12 / 2012
Học viên: Hoàng Văn Thụ
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
PHẦN I: MỞ ĐẦU 8
1 Lý do nghiên cứu 8
2 Lịch sử nghiên cứu 9
3 Mục tiêu nghiên cứu 10
4 Phạm vi nghiên cứu 10
5 Câu hỏi nghiên cứu 11
6 Phương pháp nghiên cứu 11
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 12
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 12
1.1 Lý thuyết về tổ chức học 12
1.2 Khái niệm khoa học, công nghệ, hoạt động KH&CN 17
1.3 Lý luận về tổ chức khoa học và công nghệ 21
1.4 Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm 25
1.5 Tổ chức khoa học và công nghệ 28
Chương 2 HIỆN TRẠNG CÁC TỔ CHỨC KH&CN CÔNG LẬP 44
2.1 Khái quát chung 44
2.2 Nguồn nhân lực của tổ chức KH&CN 45
2.3 Bối cảnh của việc chuyển đổi cơ chế hoạt động 46
2.4 Nghiên cứu trường hợp các trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN 53
Chương 3 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ ĐỊNH SỐ 115/2005/NĐ-CP 66
3.1 Tình hình chung 66
3.2 Kết quả thực hiện ở một số mặt 70
3.3 Kết quả thực hiện tại các Bộ, ngành Trung ương 75
3.4 Kết quả thực hiện tại các địa phương 81
Trang 63.5 Đánh giá chuyển đổi hoạt động và những khó khăn, tồn tại 82
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
1 Kết luận 90
2 Khuyến nghị 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 95
Trang 7PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu
Phát triển khoa học và công nghệ (KH&CN) là chính sách ưu tiên hàng đầu của mỗi quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, là điều kiện tiên quyết để phát triển nền kinh tế quốc dân và nâng cao đời sống của nhân dân Tuy vậy, để hoạt động KH&CN đạt hiệu quả mong muốn, vấn đề tổ chức và cơ chế hoạt động đóng vai trò rất quan trọng Trong những năm qua, hoạt động KH&CN của nước ta đã đạt được những kết quả to lớn về mọi mặt Nhiều thành tựu KH&CN mới đã được nghiên cứu
và ứng dụng thành công vào thực tế cuộc sống, góp phần đưa nền kinh tế nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và ngày càng phát triển
Để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), nhằm xây dựng một nền công nghiệp hiện đại, việc đổi mới tổ chức, cơ chế hoạt động của hệ thống các tổ chức KH&CN nói chung, các tổ chức KH&CN công lập nói riêng, nhằm đưa nhanh các tiến bộ KH&CN vào cuộc sống là vấn đề cấp thiết, quan trọng đang được Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm và chỉ đạo
Trước những đòi hỏi của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH), để thực hiện các Nghị quyết Trung ương và chỉ đạo của Chính phủ, trong mấy năm qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã triển khai xây dựng nhiều chính sách nhằm đổi mới toàn diện hoạt động KH&CN, phát triển tiềm lực KH&CN Trong đó, có các đề án được dư luận rất quan tâm: Đề án “Đổi mới cơ chế quản lý KH&CN” ban hành theo Quyết định số 172/2004/QĐ-TTg ngày 31/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ; Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập; Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 của Chính phủ về doanh nghiệp KH&CN; Nghị định số 96/2010/NĐ-CP ngày 20/9/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức KH&CN công lập và Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 của Chính phủ về doanh nghiệp KH&CN; gần đây là Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế tổ chức hoạt động KH&CN” (2011); Đề án “Phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH trong điều kiện
Trang 8kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế” đang được Hội nghị lần thứ
6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI xem xét, thảo luận; v.v
Hơn 6 năm sau khi Chính phủ ban hành Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập (Nghị định 115), hơn 4 năm sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 về doanh nghiệp KH&CN (Nghị định 80) và hơn 2 năm sau ngày Chính phủ ban hành Nghị định số 96/2010/NĐ-CP ngày 20/9/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 115 và Nghị định số 80, việc thực thi các nghị định đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập Trước thực tế đó, các nghiên cứu về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm, về tổ chức KH&CN và đánh giá tác động của cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với hoạt động của tổ chức KH&CN công lập là thực sự cần thiết Yêu cầu của thực tiễn, cùng với lòng đam mê nghiên cứu lĩnh vực liên quan là lý do đề tài “Tác động của cơ chế tự chủ và hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ công lập: nghiên cứu thăm dò” (1)
được tác giả lựa chọn cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử nghiên cứu
Tìm hiểu các nghiên cứu liên quan, chúng tôi thấy có nhiều tác giả đã dành thời gian, công sức và tâm huyết nghiên cứu về tổ chức nói chung và tổ chức KH&CN nói riêng Mỗi một nghiên cứu lại nhìn nhận, đánh giá vấn đề từ các giác độ khác nhau Điều đó, một mặt, cho thấy đây là một lĩnh vực nghiên cứu hấp dẫn, thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học, một mặt, cho thấy đây là một lĩnh vực nghiên cứu khó
và phức tạp Chúng ta có thể kể ra một số nghiên cứu dưới đây:
Nguyễn Kim Công: Đánh giá hoạt động của các tổ chức KH&CN thành lập
theo Nghị định số 35/HĐBT trong các viện nghiên cứu và triển khai (nghiên cứu trường hợp Viện KH&CN Việt Nam), Luận văn cao học, 2010;
Bạch Tân Sinh: Nghiên cứu sự hình thành và phát triển doanh nghiệp KH&CN
và sự chuyển đổi một số tổ chức nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp, Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Bộ năm 2003 - 2004;
Vũ Cao Đàm: Các viện nghiên cứu công nghệ nước ta đi về đâu, Bài viết đăng
trên Tạp chí Hoạt động khoa học, số tháng 7/2000;
1 Căn cứ Quyết định số 793/QĐ-KH&SĐH ngày 18/11/2009 của Hiệu trưởng Trường Đại học KHXH&NV về
Trang 9Huy Kiểm: Một doanh nghiệp được hình thành từ kết quả hoạt động KH&CN,
Tạp chí Khoa học và Phát triển, 1999; v.v
Các nghiên cứu về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tác động đối với hoạt động của các tổ chức KH&CN (nghiên cứu tình hình triển khai thực hiện Nghị định 115) cũng được rất nhiều nhà khoa học quan tâm Đây là các nghiên cứu thuộc diện phân tích chính sách và đánh giá tác động của việc thực thi chính sách trong thực tiễn
Có thể kể ra một số nghiên cứu như:
Cao Thanh Hùng: Các yếu tố cơ bản để các Trung tâm ứng dụng tiến bộ
KH&CN cấp tỉnh thực hiện thành công Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ, Luận văn cao học, 2010;
Đỗ Mạnh Thường: Điều kiện để thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ đối với các tổ chức KH&CN công lập hiện nay (Nghiên cứu trường hợp các trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long), Luận văn cao học, 2010;
Nguyễn Thanh Bình: Những khó khăn trong việc chuyển đổi các đơn vị R&D
của ngành Năng lượng Nguyên tử Việt Nam theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
và giải pháp khắc phục, Luận văn cao học, 2010; v.v
3 Mục tiêu nghiên cứu
1, Mô tả hiện trạng các tổ chức KH&CN công lập ở nước ta: số lượng, loại
hình, tổ chức và một số đặc điểm hoạt động;
2, Nắm được cơ bản tình hình triển khai thực hiện Nghị định 115 của Chính
phủ trên toàn quốc qua báo cáo của Bộ KH&CN và các Bộ, ngành và tập trung khảo sát, tìm hiểu một số tổ chức KH&CN công lập (như là các nghiên cứu trường hợp); và
3, Bước đầu tìm hiểu tác động của cơ chế tự chủ (theo tinh thần Nghị định 115)
đối với hoạt động của các tổ chức KH&CN công lập
Trang 10- Bước đầu đánh giá tác động của cơ chế tự chủ (theo tinh thần Nghị định 115) đối với hoạt động của tổ chức KH&CN công lập
Phạm vi không gian:
Tìm hiểu tình hình chung các tổ chức KH&CN công lập trên phạm vi cả nước, khảo sát một số trường hợp là các trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long
Phạm vi thời gian:
Nghiên cứu giai đoạn hiện nay (sau khi có Nghị định số 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ, 2005) Nghiên cứu tài liệu tập trung vào báo cáo của các tổ chức KH&CN, các Bộ, ngành, địa phương giai đoạn 2009 - 2010
5 Câu hỏi nghiên cứu
- Tổ chức KH&CN là gì?
- Thế nào là cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm?
- Hiện trạng các tổ chức KH&CN công lập của Việt Nam thế nào?
- Hình thức tổ chức, hoạt động, đặc điểm của các tổ chức KH&CN công lập?
- Việc triển khai Nghị định 115 của Chính phủ ra sao?
- Tác động Nghị định 115 đối với hoạt động của tổ chức KH&CN công lập?
6 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu tài liệu:
- Tìm hiểu các văn bản của Chính phủ, các Bộ, ngành quy định chung về tổ chức và hoạt động của các tổ chức KH&CN công lập;
- Tìm hiểu các văn bản, quy định do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành điều chỉnh hoạt động của các tổ chức KH&CN công lập;
- Nghiên cứu các số liệu, báo cáo thống kê của Bộ KH&CN và các Bộ, ngành
và địa phương về tình hình thực hiện Nghị định 115
Phỏng vấn sâu:
- Tác giả thực hiện phỏng vấn một số lãnh đạo các tổ chức KH&CN công lập
và những người làm công tác quản lý nhà nước lĩnh vực liên quan
Trang 11PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Lý thuyết về tổ chức học
Xuất phát từ thuật ngữ organon, nhiều nhà tổ chức định nghĩa: Tổ chức là công
cụ thực hiện mục tiêu Định nghĩa này thật giản đơn nhưng đột phá vào sự thần bí của
tổ chức vốn tồn tại nhiều thập kỷ, với sự kín đáo, làm cởi mở tới mức công việc tổ chức như là việc riêng của ai đó chứ không phải việc chung, mang đầy sự bí hiểm, ai nắm được điều bí hiểm đó sẽ làm chủ thực sự Định nghĩa này mang tính thực dụng ở thời điểm này, giúp con người có một tư duy thực tiễn hơn về tổ chức và tránh được
sự lạm dụng nó
Theo cách hiểu thông thường, tổ chức được xem như một tập hợp người, nhóm người nhằm thực hiện mục tiêu chung mà nếu chỉ một người hay một vài người thì không thực hiện được Cách hiểu như vậy cũng vẫn còn đơn giản và nhiều khi gây ra tranh cãi, đặc biệt trong giới khoa học Khái niệm này đòi hỏi phải bao hàm nhiều nghĩa hơn khái niệm thông thường Với ngôn ngữ khoa học thì tổ chức là một thực thể
xã hội do các cá nhân hoặc các nhóm cá nhân kết hợp để thực hiện mục tiêu chung
1.1.1 Các học thuyết về tổ chức
1.1.1.1 Lý thuyết tổ chức cơ học
Tổ chức cơ học được xem như một tập hợp các vị trí công tác được xác định rõ ràng, sắp xếp thành thứ bậc và quy định rõ mối quan hệ giữa chúng Tổ chức này được xem như một cỗ máy và người ta thiết kế nó như một cỗ máy Sự phân công lao động
tỷ mỉ và chặt chẽ Vị trí công tác của từng cá nhân được phân định chính xác Mọi hoạt động và quan hệ của bộ máy được xác định bằng văn bản, mọi sự thay đổi phải
do người ra văn bản đó thực hiện Điều hành bộ máy bằng văn bản và dựa theo các văn bản đó Các cấp quản lý và nhân viên thực hiện báo cáo định kỳ hoặc báo cáo theo yêu cầu bằng văn bản Bệnh “quan liêu giấy tờ" là đặc trưng cho loại hình tổ chức này, nếu không có giấy tờ thì không còn là tổ chức máy móc nữa
Trang 12Trong tổ chức cơ học người quản lý và người bị quản lý đều xác định được rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn và hành động của mình Điều này tạo ra cấu trúc hành chính ổn định Mọi cá nhân hành động theo quy định phụ thuộc vào những nguyên tắc
đã được xác định trong các luật lệ được ban hành trong tổ chức chứ không phụ thuộc vào mong muốn của người có địa vị cao hơn Người lãnh đạo cũng được xác định rõ quyền hạn của mình, không thể tuỳ tiện hành động hoặc ban hành quyết định vượt quá thẩm quyền Các phương tiện và tài sản phục vụ cho công việc (công vụ) là của bộ máy chứ không phải của cá nhân nào, kể cả người lãnh đạo cao nhất của tổ chức Cá nhân còn không được sử dụng cương vị của mình vào mục đích riêng tư
1.1.1.2 Lý thuyết tổ chức hữu cơ
Lý thuyết tổ chức hữu cơ dựa trên quan điểm xem tổ chức như cơ thể sống tồn tại trong môi trường, đòi hỏi phải thích nghi với môi trường đề tồn tại và phát triển Khác với tổ chức cơ học, tổ chức hữu cơ là hệ mở, luôn luôn thích nghi với biến động của môi trường, sự cạnh tranh hoặc hợp tác với các tổ chức khác nhằm thích nghi hoặc cải thiện môi trường Các nhà quản lý đều biết rằng hành vi của cá nhân tại một thời điểm nào đó được quyết định bởi nhu cầu mạnh nhất của họ: Abraham Maslow đã đưa
ra hệ thống phân cấp các nhu cầu của con người: Nhu cầu sống, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự khẳng định mình (Hình 1.1)
Nhu cầu tự khẳng định mình
(sức sống, sự sáng tạo, độc lập, tính khôi hài, sự có ý nghĩa)
Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội (yêu và được yêu)
Nhu cầu an toàn và được bảo vệ Nhu cầu sống (không khí, nước, thức ăn, chỗ ở, tình dục)
Hình 1.1: Tháp phân cấp nhu cầu của con người
Các nhà lý thuyết tổ chức quan tâm hơn đến sự tồn tại của tổ chức và môi trường tác động đến tổ chức thông qua một loạt các vấn đề:
Trang 13- Nhu cầu của tổ chức;
dự án trong cấu trúc ma trận được sử dụng biến hoá lẫn nhau mặc dù có sự khác biệt
về cơ bản giữa chúng Đối lập với cấu trúc chức năng, nhân sự trong cấu trúc dự án chỉ là mượn để sử dụng tạm thời chứ không thuộc về người quản lý dự án Khi tham gia dự án, các thành viên chịu sự quản lý kép của người quản lý cấu trúc dự án và người quản lý cấu trúc chức năng
Cấu trúc ma trận làm tăng khả năng thích ứng với môi trường của cấu trúc chức năng bằng cấu trúc dự án nhưng không phá vỡ sự cân bằng của cấu trúc chức năng, đảm bảo cho tổ chức phát triển ổn định lâu dài nhưng vẫn có được phản ứng nhanh nhạy với thị trường Lợi thế này được không những các tổ chức doanh nghiệp mà cả các tổ chức sự nghiệp cũng sử dụng tạo sự mềm dẻo của cấu trúc và tăng khả năng thích ứng với thị trường Đây cũng chính là một giải pháp của ứng dụng quy luật tự điều chỉnh của tổ chức
1.1.1.4 Lý thuyết về tổ chức ảo
Những tiến bộ của công nghệ thông tin (CNTT) và viễn thông (VT) đã tạo ra nền tảng mới cho sự phát triển của tổ chức Cấu trúc dự án đã góp phần cải tạo cấu trúc chức năng quan liêu cho thích nghi với những biến động của thị trường, nay áp dụng những thành tựu của CNTT&VT đã làm cho cấu trúc ma trận có sức sống mới
và tạo ra những bước phát triển mới của cấu trúc dự án, tạo khả năng thích ứng nhanh hơn, hoạt động hiệu quả hơn trong môi trường mới
* Đặc trưng: Tổ chức ảo là bước phát triển logic trong tiến hoá của cấu trúc tổ chức Nhân viên không cần tập trung ở một nơi để làm việc như các loại hình tổ chức khác mà có thể ở rải rác nhiều nơi trong nước hay thậm chí ở những nơi khác nhau trên toàn thế giới Tổ chức ảo mở đầu cho một mô hình tổ chức không biên giới, vượt
Trang 14ra ngoài ranh giới quốc gia và đưa ra lời thách thức mới về nhiều vấn đề hiện nay Tổ chức ảo linh động và di động là hệ thống tạm thời của các tổ chức độc lập bao gồm các nhà cung cấp, khách hàng, chính phủ và kể cả đối thủ cạnh tranh Họ được nối với nhau qua mạng chia sẻ dữ liệu thông tin và cả việc thâm nhập vào thị trường của nhau
* Quản lý tổ chức ảo: Trong cấu trúc dự án, người quản lý quan tâm tới thời gian hoàn thành và chất lượng công việc và thông thường quản lý trong tổ chức ảo trở lại vấn đề quản lý theo tổ chức dự án Theo nguyên tắc quản lý dự án, các tổ công tác
mở rộng phạm vi hoạt động và thường trực tiếp làm việc với khách hàng Như vậy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của họ rất cao Nhân viên trong tổ chức ảo chịu sự quản lý của nhiều người hơn nhưng lại tự do hơn Đặc trưng “phẳng” của tổ chức ảo thúc đẩy các tổ chức độc lập tham gia vào tổ chức ảo càng ngày một “phẳng” hơn Việc chia các đơn vị theo chức năng chịu sự chi phối của thị trường với số lượng hợp
lý hơn, giảm đáng kể các tầng quản lý của cấu trúc quan liêu và tính tự chủ của các đơn vị hợp thành cao hơn, được tôn trọng hơn và đó là điều kiện để tổ chức ảo luôn thích nghi với môi trường đầy biến động
1.1.2 Các quy luật cơ bản
Có nhiều yếu tố chi phối sự hình thành và phát triển của tổ chức, cả khách quan
và chủ quan Những yếu tố chủ quan thay đổi theo loại hình tổ chức Một số yếu tố khách quan chi phối và ảnh hưởng sâu sắc đến các tổ chức, bất kỳ đó là loại tổ chức nào và hình thành ở quy mô và cấp độ nào Những yếu tố khách quan đó được xem là các quy luật tác động đến tổ chức Các nhà lý thuyết tổ chức đã xác lập năm quy luật
cơ bản: 1, Quy luật mục tiêu rõ ràng và tính hiệu quả; 2, Quy luật hệ thống; 3, Quy
luật đồng nhất và đặc thù; 4, Quy luật vận động không ngừng và theo quy trình; và 5, Quy luật tự điều chỉnh
1.1.2.1 Quy luật mục tiêu rõ ràng
Thiết lập mục tiêu của tổ chức nhằm xác định những thành quả cần đạt được Trong hoạt động, mục tiêu là điều kiện cơ bản để có thể thiết kế và vận hành tổ chức Mỗi tổ chức đều theo đuổi những mục tiêu nhất định, trên cơ sở đó thiết kế cấu trúc của tổ chức, xác định chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận hợp thành và mối quan
hệ giữa chúng để định hướng hoạt động Mục tiêu còn là cơ sở để đánh giá tổ chức, tạo sự cạnh tranh giữa các bộ phận hợp thành và chủ động trong hoạt động của mình,
Trang 15xác định và điều chỉnh mục tiêu của những nhóm lợi ích cho phù hợp mục tiêu của tổ chức, và là cơ sở để các cá nhân nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ của mình
1.1.2.2 Quy luật hệ thống
Những tính chất cơ bản nói trên quyết định quy luật hệ thống của tổ chức và xác định tính chất của hệ thống Từ tính cấu trúc của hệ thống cho thấy thực ra hệ thống tổ chức là một tập hợp các tổ chức liên kết với nhau trong những mối quan hệ
và tính chất nhất định Cốt lõi của "quan điểm hệ thống" khi xem xét một tổ chức là phát hiện và phân tích các mối quan hệ và tính chất của các mối quan hệ đó giữa các yếu tố hay chức năng của đối tượng Các mối quan hệ này liên kết các yếu tố, các bộ phận lại với nhau trong một cấu trúc, tạo nên sự thống nhất giữa bộ phận và toàn thể của tổ chức hay của hệ thống, tạo ra đặc tính trội của hệ thống Quy luật hệ thống chi phối các mối quan hệ cơ bản của hệ thống tổ chức
1.1.2.3 Quy luật đồng nhất và đặc thù
Tính đặc thù của tổ chức xác lập bản sắc của tổ chức, tạo sự khác biệt với các
tổ chức khác trong và ngoài hệ thống Mỗi tổ chức có bản sắc tạo ra đa dạng tổ chức của hệ thống, sự đa dạng ấy vừa làm cho hệ thống ổn định, vừa tạo ra những phát triển mới trong việc phát huy tính trội của cá thể Đồng nhất và đặc thù là một cặp phạm trù đối lập nhau nhưng thường cộng sinh với nhau trong hệ thống như cặp phạm trù cạnh tranh và hợp tác Khi môi trường ổn định thì tính đồng nhất trội hơn, nhưng khi có biến động thì từ đồng nhất xuất hiện những nét mới mang tính đặc thù thích nghi với môi trường để phát triển và sau đó lại chuyển cấu trúc đồng nhất sang trạng thái mới phát triển hơn để rồi lại xuất hiện những đặc thù mới
1.1.2.4 Quy luật vận động không ngừng và theo quy trình
Tổ chức như một cơ thể sống, sự vận động là lẽ sống của nó Vận động là điều kiện tồn tại của tổ chức Tổ chức không chỉ vận động không ngừng mà còn vận động cùng với cả hệ thống cho đến những phần tử tạo nên tổ chức Tổ chức lập ra để thực hiện mục tiêu, quá trình thực hiện mục tiêu là quá trình vận động của tổ chức Vận động của tổ chức là tiếp nhận các yếu tố đầu vào, chế biến ra thành phẩm để đưa ra môi trường, xã hội
Quy trình vận động giúp tổ chức vận hành theo đúng tốc độ, đúng hướng và đồng bộ Việc xác lập vận động theo quy trình là điều kiện thực thi kiểm soát vận
Trang 16động của tổ chức Việc kiểm soát này nhằm điều chỉnh cho tổ chức hoạt động nhịp nhàng và hiệu quả Khi thiết kế tổ chức, việc ban hành điều lệ hoạt động của tổ chức chính là xác lập sự vận động theo quy trình Vì thế, việc xây dựng điều lệ chuẩn xác, chặt chẽ là điều kiện quyết định cho điều hành tổ chức Tuy nhiên, nếu thiết kế quy trình này quá chặt chẽ sẽ trở ngại cho điều chỉnh khi vận hành Khi phân tích, đánh giá
và dự báo sự phát triển, người ta xem xét kỹ quá trình vận động của tổ chức để có những nhận xét chính xác Đó là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá một tổ chức
1.1.2.5 Quy luật tự điều chỉnh
Mọi tổ chức không cô lập mà tồn tại và hoạt động trong một hệ thống Môi trường biến động thì tổ chức phải điều chỉnh để cân bằng Sự điều chỉnh đó có thể do cấp trên đề ra khi họ phát hiện những biến động của môi trường Còn chủ yếu, tổ chức phát hiện những biến động của môi trường và theo lẽ tự nhiên nó phải tự điều chỉnh để giữ cân bằng, để tồn tại Việc tự điều chỉnh này phản ánh sự nhạy cảm của tổ chức với môi trường Tự điều chỉnh của các tổ chức là hiện tượng bình thường, nhưng khi có biến động lớn thì hiện tượng này thể hiện rõ rệt hơn Trong điều kiện như nhau, không phải mọi tổ chức đều có thể tự điều chỉnh hoặc mức độ điều chỉnh cũng khác nhau Vì thế người ta thường nói đến điều kiện cho sự điều chỉnh của tổ chức
1.2 Khái niệm khoa học, công nghệ, hoạt động KH&CN
Theo từ điển Larousse (2002) của Pháp: “Khoa học là một tập hợp tri thức đã
được kiểm chứng bằng thực nghiệm về các sự kiện, sự vật và hiện tượng tuân theo một quy luật xác định”
Theo từ điển Triết học của Liên Xô (tiếng Việt, 1975): “Khoa học là lĩnh vực
hoạt động nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy bao gồm tất cả những điều kiện và những yếu tố của sự sản xuất này”
Trang 17Theo từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô (1986): “Khoa học là lĩnh vực
hoạt động của con người, có chức năng xử lý và hệ thống hóa về mặt lý thuyết các tri thức khách quan”, “Là một trong những hình thái ý thức xã hội, bao gồm trong đó cả những hoạt động nhằm thu nhận các kiến thức mới, và cả những kết quả của các hoạt động đó”
Theo từ điển Mac Millan (tiếng Anh, 2006): “Khoa học là một hoạt động
nghiên cứu và kiến thức về thế giới vật lý và hành vi của nó, dựa trên các thực nghiệm
và các sự kiện được kiểm chứng và được tổ chức thành hệ thống” Tiếp theo định
nghĩa này, từ điển Mac Millan tách ra hai từ mục: (1) Khoa học là một lĩnh vực nghiên cứu sử dụng các phương pháp khoa học, và (2) Khoa học là một chủ đề nghiên cứu, chẳng hạn, vật lý học, hóa học
Theo từ điển Cobuild dành cho người học (2001): “Khoa học là một nghiên
cứu (study) về giới tự nhiên và hành vi của giới tự nhiên”, đồng thời cũng đưa ra định
nghĩa thứ hai: “Khoa học là những tri thức đạt được từ việc nghiên cứu” Còn “study”
thì được định nghĩa là “activities of studying”, nghĩa là một loại hoạt động
Theo từ điển các ý tưởng Hutchison (1994): “Khoa học là một lĩnh vực nghiên
cứu mang tính hệ thống (any systematic field of study) và nhằm sản xuất ra (to produce) các tri thức”
Theo từ điển Xã hội học của Nguyễn Khắc Viện (1994): “Khoa học là một
thiết chế xã hội” (Nguyễn Khắc Viện gọi là thể chế xã hội) Định nghĩa này dựa trên
nghiên cứu của một nhà nghiên cứu lịch sử khoa học người Mỹ, D.J Price, 1972
Qua các từ điển và tài liệu được tra cứu, chúng ta thấy, về cơ bản có 4 định nghĩa về khoa học dựa trên 4 cách tiếp cận sau:
- Khoa học là một hệ thống tri thức;
- Khoa học là một hoạt động sản xuất tri thức;
- Khoa học là một hình thái ý thức xã hội ;
- Khoa học là một thiết chế xã hội
Cả 4 định nghĩa này đều có chỗ đứng trong tư duy và hành động của cộng đồng những người làm nghiên cứu và quản lý khoa học.2
2 Vũ Cao Đàm - Tạp chí Hoạt động khoa học, 8/2008
Trang 18Theo Luật Khoa học và Công nghệ (2000) của nước CHXHCN Việt Nam tại
Điều 2, Chương 1 ghi rõ: “Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật,
quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy.”
Cùng với sự phát triển của khoa học, con người ngày càng hiểu biết nhiều hơn, đầy đủ hơn, chính xác hơn về thế giới xung quanh, ngày càng sáng tạo ra các phương tiện mới có khả năng giúp con người đi sâu vào thế giới, tìm hiểu, khám phá, chinh phục và cải tạo thế giới vì lợi ích của con người
1.2.2 Công nghệ
Mỗi lĩnh vực đều đưa ra khái niệm công nghệ riêng của mình Có những khái niệm cho rằng bản chất của công nghệ là “kiến thức”, tuy nhiên chúng được thể hiện dưới các cách khác nhau như dạng kiến thức, cách thức, tập hợp các kiến thức, nguồn lực bao gồm kiến thức, sự áp dụng khoa học Bên cạnh đó, ngoài phần “kiến thức” được thể hiện qua con người, thông tin còn nêu ra cả phần cứng như: thiết bị, công cụ,
tư liệu sản xuất, vật thể (thiết bị, máy móc) Cụ thể, theo Cơ quan Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), trong một khái niệm chung nhất đã tập trung vào các hành động
và quy tắc sau: “Công nghệ được hiểu là một tập hợp các kỹ thuật, mà bản thân chúng
được khái niệm là một tập hợp các hành động và quy tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của con người thì sẽ đạt được một kết quả định trước (và đôi khi được kỳ vọng) trong hoàn cảnh cụ thể nhất định”
Công nghệ có thể được hiểu như mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết,
phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu trữ dưới các dạng khác nhau (con người,
ghi chép, …) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và
một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ, …) được áp dụng vào môi trường
thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ.3
Theo Luật Khoa học và Công nghệ (2000), công nghệ được hiểu một cách khái
quát là “tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện
dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”
Tương tự, theo Luật Chuyển giao công nghệ (2006), công nghệ là “giải pháp,
quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”
Trang 19
Theo tác giả Trần Ngọc Ca: Công nghệ bao gồm phần mềm (các loại hình kiến
thức, thông tin, bí quyết, phương pháp được lưu giữ dưới các dạng khác nhau như
được nhớ, ghi chép), phần cứng (các loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất) và
một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ) được áp dụng vào môi trường thực
tế để tạo ra các loại sản phẩm.4
1.2.3 Hoạt động KH&CN
Hoạt động KH&CN là các hoạt động hệ thống có liên quan chặt chẽ tới việc sản xuất, truyền bá, nâng cao và ứng dụng các tri thức trong mọi lĩnh vực KH&CN, là các khoa học tự nhiên và công nghệ, các khoa học y học và nông nghiệp, cũng như các khoa học xã hội và nhân văn khác
Theo Luật Khoa học và Công nghệ (2000): “Hoạt động khoa học và công nghệ
bao gồm nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học
và công nghệ, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ”
Hoạt động KH&CN là khái niệm được UNESCO sử dụng để chỉ những hoạt động xã hội được thực hiện bởi một bộ phận xã hội rộng lớn (các nhà khoa học, nhà công nghệ) có liên quan đến việc thực hiện công tác nghiên cứu khoa học (NCKH) và chuyển giao công nghệ (CGCN), phát triển KH&CN
1.2.3.1 Mục tiêu của hoạt động KH&CN:
Xây dựng một nền KH&CN tiên tiến hiện đại, ứng dụng vào thực tế để phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao trình độ quản lý, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên theo hướng phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH); xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người mới góp phần phát triển nhanh, bền vững KT-XH, nâng cao cuộc sống của nhân dân, đảm bảo quốc phòng, an ninh đất nước
1.2.3.2 Nhiệm vụ của hoạt động KH&CN:
Nghiên cứu lý luận và vận dụng vào thực tiễn khoa học về xã hội và nhân văn
để xây dựng luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách, luật pháp cho việc phát triển KT-XH của đất nước; Nâng cao năng lực KH&CN của con người
4 Tập bài giảng “Công nghệ, đổi mới công nghệ và thị trường công nghệ”
Trang 20và xã hội, để làm chủ và sáng tạo công nghệ; Tiếp thu các thành tựu KH&CN tiên tiến, thực hành chuyển giao công nghệ cao (CNC) để tạo ra các sản phẩm mới có sức cạnh tranh
1.2.3.3 Nguyên tắc của hoạt động KH&CN:
Hoạt động KH&CN nhằm mục tiêu phục vụ yêu cầu phát triển KT-XH, đảm bảo quốc phòng, an ninh của đất nước; Xây dựng và phát huy nội lực về KH&CN của đất nước, tiếp thu có chọn lọc các thành tựu KH&CN của thế giới để ứng dụng phù hợp vào thực tiễn; Phát huy được khả năng lao động, sức sáng tạo của các cá nhân và
tổ chức; Trung thực, khách quan đề cao đạo đức nghề nghiệp, tự do sáng tạo
1.2.4 Sản xuất thử nghiệm
Sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm để sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống5
1.2.5 Dịch vụ khoa học và công nghệ
Dịch vụ KH&CN là các hoạt động phục vụ việc NCKH & phát triển công nghệ (PTCN); hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ (SHTT), CGCN; các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức KH&CN và kinh nghiệm thực tiễn 6
1.2.6 Doanh nghiệp khoa học và công nghệ
Doanh nghiệp KH&CN là doanh nghiệp do tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức
cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp các kết quả NCKH & PTCN thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp
và Luật Khoa học và Công nghệ 7
1.3 Lý luận về tổ chức khoa học và công nghệ
1.3.1 Khái niệm
Tổ chức KH&CN là tổ chức được thành lập theo quy định của Luật Khoa học
và Công nghệ và các luật khác có liên quan để tiến hành các hoạt động KH&CN
5
Luật Khoa học và Công nghệ (2000)
6 Luật Khoa học và Công nghệ (2000)
Trang 211.3.2 Phân loại
Có nhiều cách phân loại tổ chức KH&CN khác nhau tuỳ theo tiêu chí, mục tiêu
đã định Thông thường tổ chức KH&CN được phân loại như sau:
1.3.2.1 Phân loại theo lĩnh vực KH&CN:
- Khoa học tự nhiên
- Khoa học kỹ thuật (công nghệ);
- Khoa học xã hội và nhân văn;
- Khoa học nông nghiệp;
- Khoa học y dược học
1.3.2.2 Phân loại theo các hoạt động KH&CN, có 3 hoạt động KH&CN chính là: Nghiên cứu - triển khai, CGCN và dịch vụ KH&CN tương ứng với 3 loại hình hoạt động là các loại hình tổ chức KH&CN (Hình 1.2)
1.3.2.3 Phân loại theo chủ thể sở hữu:
- Tổ chức KH&CN thuộc khu vực nhà nước;
- Tổ chức KH&CN thuộc khu vực tư nhân;
- Tổ chức KH&CN thuộc khu vực tập thể;
- Tổ chức KH&CN thuộc khu vực đa quốc gia
1.3.2.4 Phân loại theo Luật Khoa học và Công nghệ:
- Tổ chức NCKH, tổ chức NCKH & PTCN;
- Trường đại học, học viện, trường cao đẳng;
- Các tổ chức dịch vụ KH&CN
Trang 221.3.3 Tổ chức nghiên cứu và phát triển
Tổ chức nghiên cứu và phát triển (R&D) được tổ chức dưới các hình thức: Viện R&D, trung tâm R&D, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm, và các cơ sở R&D khác
1.3.3.1 Nhiệm vụ của các tổ chức R&D
Theo quy mô tổ chức và phạm vi hoạt động, tuỳ theo phân cấp quản lý hành chính, các tổ chức R&D được chia thành:
- Tổ chức R&D cấp quốc gia được thành lập chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ
KH&CN ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước nhằm cung cấp các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách, pháp luật, tạo ra các kết quả KH&CN mới có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển KT-XH, đảm bảo quốc phòng, an ninh, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về KH&CN
- Tổ chức R&D của Bộ, cơ quan ngang Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương được lập ra chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ KH&CN phục vụ mục tiêu phát
triển KT-XH của ngành và địa phương, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về KH&CN;
Hoạt động KH&CN
NCCB thuần tuý
NC định hướng
Hình 1.2 Hoạt động KH&CN - Cơ sở để phân loại tổ chức KH&CN
Trang 23- Tổ chức R&D cấp cơ sở thực hiện nhiệm vụ KH&CN theo mục tiêu và nhiệm
vụ do tổ chức cá nhân thành lập xác định
1.3.3.2 Cơ sở hạ tầng cho các tổ chức R&D
Các tổ chức R&D hình thành và phát triển cần có các nguồn lực sau:
- Nhân lực KH&CN: Đây là yếu tố quyết định nhất của tổ chức R&D Khi nói
đến nhân lực, người ta thường chú ý một số khía cạnh sau: Người đứng đầu tổ chức, người đứng đầu các hướng KH&CN của tổ chức; Cơ cấu hợp lý về chuyên ngành và trình độ; Độ tuổi trung bình thấp;
- Trong quá trình điều hành tổ chức người ta chú ý đến: Đào tạo, bồi dưỡng
nhân lực đảm bảo sự phát triển của tổ chức; Tạo môi trường thuận lợi cho từng cá
nhân và tập thể phát huy năng lực sáng tạo của mình; Đánh giá đúng năng lực và sở
trường để sử dụng có hiệu quả
- Tài chính: Nguồn tài chính cho các tổ chức R&D rất đa dạng Đối với các
nước có nền kinh tế đang chuyển đổi như nước ta thì thường có các nguồn sau: Ngân sách cấp; Thực hiện các nhiệm vụ, các hợp đồng khoa học; Tài trợ của các tổ chức KT-XH trong và ngoài nước; Từ lợi nhuận của các hoạt động SX-KD; Tỷ lệ các nguồn thu này khác nhau đối với các loại hình tổ chức R&D và ở đây cũng là nơi thể hiện chính sách quốc gia về phát triển KH&CN
- Thiết bị, máy móc, nhà xưởng, đất đai: Đây là cơ sở hạ tầng cần thiết và quan
trọng của các tổ chức R&D Đối với nguồn lực này người ta thường lưu ý về khả năng hao mòn vô hình của thiết bị NCKH rất lớn vì thế sau khi lắp đặt cần nhanh chóng đưa vào sử dụng với hiệu suất cao để nhanh chóng hoàn vốn và thay thế Vấn đề này hoàn toàn dễ hiểu đối với các viện nghiên cứu công nghệ ở các nước phát triển nhưng lại là vấn đề nan giải đối với các nước có nền kinh tế chỉ huy tập trung hay đang chuyển đổi như ở nước ta Với chế độ thuê mua tài chính, các viện nghiên cứu công nghệ có khả năng tài chính dễ mua sắm, trang bị bất cứ thiết bị gì cần thiết cho R&D miễn là hoạt động đó đem lại lợi nhuận và có khả năng thanh toán với công ty tài chính Điều này khá mới mẻ với các viện nghiên cứu công nghệ của nước ta
- Thông tin: Đây là nguồn lực không thể thiếu của hoạt động KH&CN Với xu
thế hội nhập, nguồn thông tin đủ sức cung cấp cho các nhà KH&CN Bên cạnh việc khai thác miễn phí, thì việc chi cho thông tin là hết sức cần thiết cho bất kỳ hoạt động
Trang 24KH&CN nào của các tổ chức Với sự phát triển của kỹ thuật thì điều kiện và phương tiện ghi chép, lưu trữ, khai thác thông tin ngày càng tốt đáp ứng nhu cầu của các nhà khoa học về nội dung, kịp thời và giá rẻ Kết quả nghiên cứu của các nhà KH&CN cũng sớm được công bố và đưa vào thương mại một cách nhanh chóng hơn
1.4 Cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Nghị định 115 quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức KH&CN công lập Theo tinh thần của Nghị định 115, tổ chức KH&CN công lập được
tự chủ, tự chịu trách nhiệm về (1) nhiệm vụ, (2) tài chính và tài sản, (3) tổ chức và biên chế Tổ chức KH&CN công lập bao gồm: tổ chức NCKH, tổ chức NCKH & PTCN, tổ chức dịch vụ KH&CN có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng,
do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập Nội dung cơ bản của Nghị định 115 có thể tóm tắt như sau:
Lần đầu tiên phân định rõ các tổ chức KH&CN công lập thành hai loại với sự phát triển theo các lộ trình khác nhau:
- Các tổ chức KH&CN hoạt động trong lĩnh vực NCCB, nghiên cứu chiến lược
và chính sách phục vụ quản lý nhà nước được ngân sách Nhà nước đảm bảo kinh phí
hoạt động thường xuyên theo nhiệm vụ được giao trên cơ sở sắp xếp lại để nâng cao hiệu quả hoạt động;
- Các tổ chức NCKH & PTCN, tổ chức dịch vụ KH&CN tự đảm bảo hoặc chưa
tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên, tuy có khác nhau về mốc thời gian, nhưng sẽ chuyển đổi thành các tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí hoạt động hoặc doanh nghiệp KH&CN Các tổ chức KH&CN không có khả năng chuyển đổi thì phải sáp nhập hoặc giải thể;
Các tổ chức KH&CN được quyền ký kết hợp đồng thực hiện các nhiệm vụ KH&CN, dịch vụ KH&CN;
Các tổ chức KH&CN trực tiếp quyết định mời chuyên gia, các nhà khoa học nước ngoài vào Việt Nam và cử cán bộ ra nước ngoài công tác;
Các tổ chức KH&CN tự quyết định đầu tư phát triển từ vốn vay, vốn huy động (trong và ngoài nước) từ quỹ phát triển KH&CN;
Trang 25Các tổ chức KH&CN được tiến hành các hoạt động SX-KD; liên doanh, liên kết sản xuất; xuất khẩu, nhập khẩu trực tiếp; tham gia đấu thầu thực hiện các hợp đồng sản xuất, cung ứng hàng hoá, dịch vụ trong lĩnh vực chuyên môn;
Khẳng định vai trò của người đứng đầu (thủ trưởng) của các tổ chức KH&CN trong việc quyết định biên chế của đơn vị, tuyển dụng viên chức, đề xuất cấp phó của đơn vị, quyết định bổ nhiệm và miễn nhiệm các tổ chức trực thuộc, quyết định tiền lương, quyết định khen thưởng, kỷ luật cán bộ, viên chức thuộc quyền quản lý;
Các tổ chức KH&CN được hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước về hỗ trợ đầu tư phát triển, vay vốn, góp vốn, v.v
1.4.1 Một số khái niệm
1.4.1.1 Khái niệm tự chủ
- Theo từ điển tiếng Việt: “Tự chủ là tự điều hành, quản lý một công việc của
mình, không bị ai chi phối”; “tự làm chủ tình cảm, hành động của mình, không để bị hoàn cảnh chi phối”
- Theo các từ điển tiếng Anh, tự chủ (autonomy) cũng có nghĩa là tự quản
hoặc tự trị (self-government) Khái niệm này có thể được áp dụng cho cá nhân hay tập
thể hoặc một cơ sở Một nhân vật tự chủ là một con người có thể hành động theo định hướng riêng của mình Một tổ chức tự chủ là một tổ chức có khả năng điều hành các công việc của riêng mình
- Theo Bách khoa thư về quản lý, tự chủ là mức độ tự quyền và độc lập mà
một công việc cho phép người làm được xác định xem sẽ thực hiện công việc đó như thế nào (Marcia J Simmering, 2006)
1.4.1.2 Khái niệm trách nhiệm
Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam (2005), “trách nhiệm” được hiểu là “khái
niệm của ý thức đạo đức và ý thức pháp quyền nói lên một đặc trưng của nhân cách trong việc thực hiện nghĩa vụ do xã hội đề ra Trách nhiệm là sự tương xứng giữa hoạt động với nghĩa vụ, là hệ quả của tự do ý chí của con người, là đặc trưng cho hoạt động có ý nghĩa của con người.” (Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển
Bách khoa Việt Nam, 2005)
Trang 26Theo từ điển tiếng Việt thì trách nhiệm là “sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi
của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu hậu quả” (Viện ngôn
ngữ học, 1987)
Tuy nhiên, “trách nhiệm” ở đây được hiểu là “trách nhiệm giải trình” Vậy trách nhiệm giải trình là gì? Trước hết theo cách hiểu thông thường thì giải trình là giải thích, trình bày nhằm làm sáng rõ một vấn đề gì Trong tiếng Anh accountability (trách nhiệm giải trình) có nguồn gốc Latin là accomptare (giải thích)
Trong hoạt động của bộ máy công quyền thì trách nhiệm giải trình là việc cán
bộ, công chức nhà nước phải chịu trách nhiệm về hành động của mình Theo đó, cơ quan nhà nước; cán bộ, công chức nhà nước, phải có trách nhiệm thực thi công việc được giao đạt kết quả và phải chịu hậu quả khi chưa làm tròn trách nhiệm
Xét về phương diện luật thực định ở Việt Nam hiện nay thì dường như khái niệm trách nhiệm giải trình chủ yếu bao gồm nội dung thứ nhất, tức là trách nhiệm giải thích việc thực thi nhiệm vụ, công vụ hay những vấn đề liên quan đến trách nhiệm quản lý của mình khi được yêu cầu
Trong một số trường hợp, giải trình không chỉ là trách nhiệm mà cũng có thể được coi là quyền của một chủ thể nào đó được phát biểu, nói lên ý kiến giải thích cho việc làm của mình là đúng đắn, hợp pháp
1.4.1.3 Mối quan hệ giữa tính tự chủ và tính trách nhiệm
Trong chuỗi logic này, tự chủ sẽ đi trước và trách nhiệm sẽ xuất hiện sau Tuy nhiên, tính tự chủ (hay các biểu hiện của nó) sẽ là mối liên hệ ngược, cung cấp các thông tin tới các bên có liên quan để họ ra các phán quyết về tự chủ của một tổ chức Nếu một tổ chức có được tính tự chủ cao thì sẽ có những quyết định có tính trách nhiệm cao hơn và đạt được kết quả tốt hơn trong những hoạt động của mình Ngược lại, khi tính trách nhiệm của các tổ chức không xứng với tầm của tính tự chủ thì các cơ quan có thẩm quyền và cả các bên liên quan sẽ giảm bớt hoặc thu hồi các quyền hạn của tổ chức và như vậy năng lực làm chủ các hoạt động của tổ chức sẽ bị thu hẹp tương ứng với mức độ trách nhiệm Rõ ràng sẽ không có một mức độ như nhau về tính trách nhiệm và tính tự chủ của các tổ chức khác nhau mà sẽ có những mức độ khác nhau cho các tổ chức, tuỳ theo năng lực của tổ chức và sự tin cậy của xã hội thể hiện qua các quyết định của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực đó
Trang 271.4.2 Mục đích thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
- Tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính tích cực, chủ động, năng động, sáng tạo của tổ chức KH&CN và thủ trưởng tổ chức KH&CN
- Tạo điều kiện gắn kết NCKH & PTCN với SX-KD và đào tạo nhân lực, đẩy nhanh quá trình xã hội hóa các hoạt động KH&CN
- Tạo điều kiện tập trung đầu tư có trọng điểm các nguồn lực cho các tổ chức KH&CN
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức KH&CN, góp phần tăng cường tiềm lực KH&CN của đất nước
1.4.3 Nguyên tắc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
- Thực hiện quyền tự chủ phải đi đôi với việc tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của tổ chức KH&CN
- Thực hiện một cách công khai và dân chủ trong các hoạt động của tổ chức KH&CN
- Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực được Nhà nước giao và các nguồn lực khác của tổ chức KH&CN
- Hoàn thành với chất lượng cao các nhiệm vụ được các cơ quan Nhà nước giao hoặc đặt hàng, các nhiệm vụ của tổ chức KH&CN, bảo đảm sự phát triển của tổ chức KH&CN
1.5 Tổ chức khoa học và công nghệ
1.5.1 Các tổ chức nghiên cứu - triển khai (R&D)
3 Tổ chức R&D cấp Quốc gia
4 Tổ chức R&D cấp Bộ và trực thuộc các viện quốc gia
5 Tổ chức R&D cấp cơ sở
6 Tổ chức R&D trong các trường đại học
7 Doanh nghiệp khoa học và công nghệ
8 Hiệp hội khoa học và công nghệ
Trang 281.5.1.1 Viện Hàn lâm khoa học
Viện hàn lâm khoa học được chuyển ngữ từ "Academy" thành nên cách hiểu rất khác nhau Ban đầu, academic có nghĩa là các thành viên của câu lạc bộ khoa học Academ (tên một thành phố cổ của Hy Lạp) Ở đó, các nhà khoa học tụ tập hàng năm
để bàn thảo các chủ đề khoa học khác nhau Sau đó, người ta tổ chức thành các hiệp hội khoa học không nhất thiết ở Academ, nhưng để giữ truyền thống người ta gọi là Academy Cuối cùng thì danh từ "Academy" đã được hiểu theo nhiều nghĩa tuỳ theo quan niệm của các nhóm khoa học khác nhau (Vũ Cao Đàm, 2000) Sau đây là một số cách hiểu thông dụng:
+ Là Hiệp hội khoa học, đây là cách hiểu thông dụng nhất;
+ Là Học viện: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Quân sự Frumde (Liên Xô);
+ Là Viện khoa học (tổ chức R&D cấp quốc gia);
+ Là Hội đồng khoa học: Viện Hàn lâm khoa học Hoàng gia Anh;
+ Là Quỹ tài trợ cho NCKH, ví dụ như ở Đan Mạch
Coi viện hàn lâm khoa học như một loại hình tổ chức R&D cấp quốc gia đặc biệt chỉ có ở một số nước Viện hàn lâm khoa học là một tổ chức NCKH, trong đó bao gồm một tập hợp các viện NCKH với nhiều hướng chuyên môn Mỗi hướng chuyên môn được tổ chức thành Ban, mỗi Ban gồm một số viện nghiên cứu chuyên ngành
1.5.1.2 Khu công nghệ cao
Công nghệ cao (CNC) là công nghệ có khả năng mở rộng phạm vi, hiệu quả của các công nghệ hiện có như tích hợp các thành tựu KH&CN tiên tiến Sản phẩm CNC là sản phẩm được tạo ra nhờ CNC thông qua quá trình sản xuất hoặc thiết kế sản phẩm Còn công nghiệp CNC là công nghiệp sản xuất các sản phẩm CNC Mức độ CNC có thể được đo bằng độ ngắn của chu kỳ sống sản phẩm Hiện nay, với ngành công nghiệp máy tính, chu kỳ sống của sản phẩm là dưới 1 năm
Từ những khái niệm đó dẫn đến khái niệm “Khu CNC” Khu CNC là nơi tổ chức các hoạt động phục vụ cho phát triển CNC và công nghiệp CNC gồm: Các tổ chức R&D, các cơ sở đào tạo - huấn luyện, các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ
Trang 29trong lĩnh vực CNC nhằm tiếp thu, đồng hoá cải tiến các công nghệ được chuyển giao, sáng tạo CNC và sản xuất các sản phẩm CNC
Chức năng của khu CNC là: Đầu tư CNC; Chuyển giao CNC; Nghiên cứu - phát triển CNC; Sản xuất các sản phẩm CNC; Tăng cường năng lực nội sinh về công nghệ của đất nước; Đào tạo huấn luyện về CNC
Hiện nay, có một số loại hình gần gũi với khu CNC như: Công viên khoa học, khu công nghiệp tập trung, khu chế xuất, khu công nghiệp kỹ thuật cao, v.v Muốn phân biệt khu CNC với các loại hình trên phải xuất phát từ định nghĩa về khu CNC và chức năng của nó Từ khái niệm đó có thể xây dựng những mô hình khác nhau của khu CNC như mô hình chức năng hay mô hình động lực
Như vậy, có thể hình dung khu CNC cần có: Khu công nghiệp CNC, khu nghiên cứu CNC, khu dịch vụ CNC, khu huấn luyện đào tạo, khu thương mại và các dịch vụ tài chính, khu sinh hoạt đời sống Việt Nam có Khu CNC Hòa Lạc, Khu CNC
TP Hồ Chí Minh, và gần đây là Khu CNC Đà Nẵng
1.5.1.3 Các tổ chức R&D cấp quốc gia
Mô hình tổ chức R&D cấp quốc gia phổ biến ở các nước có nền kinh tế kế hoạch hóa, còn những nước theo nền kinh tế thị trường thì hầu như không có mô hình này Những tổ chức R&D cấp quốc gia thường có một số đặc trưng:
- Nâng cao năng lực công nghệ quốc gia bao gồm: Năng lực vận hành, năng lực tiếp thu, năng lực thích nghi, và năng lực đổi mới, tạo ra những tiến bộ công nghệ Thực hiện các chương trình nghiên cứu có mục tiêu tương đối dài hạn, PTCN nhằm tạo ra sự đổi mới hướng vào công nghệ, đi đầu truyền bá những công nghệ mới trong phạm vi toàn quốc, nhằm giảm sự lệ thuộc công nghệ vào các công ty đa quốc gia, mang lại độc lập thật sự cho đất nước;
- Phát triển tiềm lực KH&CN, chú trọng nghiên cứu cơ bản (NCCB) có định hướng làm cơ sở thúc đẩy PTCN đáp ứng sự phát triển bền vững của đất nước Ở các nước đang phát triển, người ta thường dựa vào các tổ chức này để xây dựng và phát triển nhân lực KH&CN, đặc biệt là nhân lực có trình độ cao cho quốc gia;
- Chủ trì hoặc có vai trò tích cực trong hoạch định chính sách công nghệ quốc gia;
Trang 30- Thực hiện vai trò hạt nhân trong hợp tác quốc tế về KH&CN
- Mô hình chức năng: Các tổ chức thực hiện chức năng R&D là chủ yếu Các tổ chức này dưới tác động của nền kinh tế thị trường đã hình thành các tổ chức SX-KD Như vậy, thiết kế theo mô hình này, các tổ chức R&D cấp quốc gia tập trung vào NCCB, còn nghiên cứu ứng dụng (NCUD) chủ yếu là CGCN từ nước ngoài vào;
- Mô hình động lực: Với kỳ vọng phát triển nền công nghiệp CNC nên nhà nước hết sức chú trọng đầu tư cho các trung tâm quốc gia và vì vậy có thể xem các tổ chức này được thiết kế theo mô hình thúc đẩy Tuy nhiên, trong vận hành không phải lúc nào mô hình này cũng hợp lý
Với mô hình trên, các tổ chức R&D cấp quốc gia là những tổ chức sự nghiệp, cấu trúc thường theo lý thuyết cơ học và vận hành mang tính hành chính và đẳng cấp Các tổ chức này thường là cơ quan trực thuộc Chính phủ bao gồm nhiều viện nghiên cứu chuyên ngành, các viện này được thiết lập theo các chuyên môn khoa học khác nhau, bao gồm: những chuyên ngành NCCB đến ứng dụng và triển khai công nghệ Mối quan hệ giữa các viện chuyên ngành thường lỏng lẻo, đôi khi có sự hợp tác giải quyết những nhiệm vụ khoa học thì theo cơ chế hợp đồng "Tính trồi" của hệ thống thường không thể hiện rõ Muốn tổ chức này phát huy được sức mạnh của hệ thống thì cần có những thay đổi quan trọng về cấu trúc Dưới các viện là các phòng nghiên cứu hoặc trạm, trại Việc phân chia các phòng về cơ bản là theo chuyên ngành khoa học sâu hơn Như vậy, có thể xem các trung tâm quốc gia có cấu trúc đẳng cấp thể hiện ở
ba mức độ khác nhau: phòng - viện - trung tâm quốc gia
Đứng đầu các tổ chức R&D cấp quốc gia ở Việt Nam được gọi là Chủ tịch, các
tổ chức chức năng phục vụ công tác quản lý được gọi là các tổ chức giúp việc Chủ tịch Các tổ chức giúp Chủ tịch được gọi là các Ban, thông thường có các ban: Ban tổ chức cán bộ, kế hoạch - tài chính, hợp tác quốc tế, kiểm tra và văn phòng Bộ máy lãnh đạo các tổ chức này gồm: Chủ tịch và các Phó Chủ tịch, bộ máy được vận hành theo lý thuyết cơ học, người ta quen gọi là chế độ thủ trưởng Chế độ thủ trưởng là chế
độ chỉ huy tập trung và như vậy sẽ dẫn đến thế mạnh của hệ thống là "đặc tính trồi", song ở nước ta điều này lại không thể hiện được Quyền lực thì tập trung, nhưng thực hiện nhiệm vụ lại phân tán, đây là nét đặc thù của quản lý kém hiệu quả hiện nay Ở Việt Nam hiện nay có hai cơ quan khoa học thuộc loại hình này là Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam
Trang 31Các tổ chức này thường lấy NCCB là hoạt động chính, được giao nhiệm vụ NCKH, ứng dụng và CGCN Khi xem xét cần đối chiếu với chức năng để định hướng hoạt động cũng như cơ sở đề đánh giá hoạt động Tổ chức này được thiết kế theo mô hình chức năng và mô hình động lực thúc đẩy nên khó thích nghi với biến động của môi trường và luôn trông chờ vào sự tài trợ của Nhà nước Những biến động của kinh
tế thị trường sẽ làm những tổ chức này tự điều chỉnh
1.5.1.4 Tổ chức R&D cấp bộ và trực thuộc các viện quốc gia
Tổ chức R&D cấp bộ và tương đương là loại hình phổ biến nhất ở các nước, kể
cả nước ta Các nước có nền kinh tế thị trường, loại hình này phần lớn thuộc sở hữu tư nhân Cho đến thời điểm hiện tại các tổ chức này chủ yếu vẫn thuộc sở hữu nhà nước
Số lượng các tổ chức thuộc loại hình tổ chức này cũng phản ánh nhu cầu của phát triển KT-XH đối với KH&CN Quy mô của loại hình này rất khác nhau, chức năng nhiệm vụ và mô hình cũng khác nhau phụ thuộc vào nhiệm vụ của tổ chức và cơ chế quản lý Mỹ có hơn 2.500 tổ chức, Nhật Bản có gần 3.000 tổ chức, Pháp có khoảng 1.200 tổ chức, Trung Quốc có gần 600 tổ chức Còn ở Việt Nam cũng có trên
300 tổ chức R&D cấp bộ và tương đương
Theo tính chất và chức năng hoạt động, các tổ chức R&D cấp bộ và tương đương thường chia thành một số loại hình sau: viện nghiên cứu cơ bản, viện nghiên cứu công nghệ, viện nghiên cứu chính sách
Viện nghiên cứu cơ bản: Các viện NCCB tập trung ở các trung tâm khoa học quốc gia (viện hàn lâm) và các trường đại học Ở Nga hay Trung Quốc cũng thế, các viện NCCB tập trung ở viện hàn lâm, thí dụ Viện Khoa học Trung Quốc có 4/5 Ban tiến hành NCCB Ở Việt Nam các viện (hoặc trung tâm) NCCB cũng tập trung ở hai viện quốc gia và Đại học Quốc gia Tuy nhiên nhiều viện thuộc loại hình này cũng tiến hành nghiên cứu công nghệ, nhưng hoạt động chủ yếu vẫn là NCCB, vì vậy cơ chế hoạt động và cơ cấu tổ chức vẫn theo mô hình các viện NCCB truyền thống Những viện điều tra cơ bản thì có thể có các trạm đo cố định hoặc lâm thời theo mạng lưới hoạt động của viện
Viện nghiên cứu chính sách: Hầu hết các cơ quan quản lý nhà nước cấp Bộ hoặc tương đương đều có viện nghiên cứu chính sách phục vụ cho công việc quản lý nhà nước Ở nước ta, một số đoàn thể cũng tổ chức viện nghiên cứu chính sách, ví dụ
Trang 32như Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Các viện này ngoài nhiệm vụ chính mà cơ quan chủ quản giao cho vẫn được tiến hành ký hợp đồng với các tổ chức khoa học và kinh tế khác Cấu trúc của loại hình viện này cũng tương đối đơn giản, thường là các phòng chuyên môn trực thuộc viện, một số viện lĩnh vực nghiên cứu phức tạp hơn cần phân cấp thì có thể tổ chức thành Ban trực thuộc viện, mỗi ban có một số phòng chuyên môn hoặc một vài ban có tính chất hoạt động đặc biệt, ví dụ như ban đào tạo
Viện nghiên cứu công nghệ: Ở nước ta, có khoảng 200 viện nghiên cứu công nghệ Chức năng của các viện nghiên cứu công nghệ thường là tiến hành các hoạt động NCKH, chủ yếu là NCUD để sáng tạo các nguyên lý công nghệ; triển khai thực nghiệm các kết quả NCUD để tạo ra các sản phẩm mẫu, công nghệ mẫu; áp dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất
Những chức năng này của viện nghiên cứu công nghệ hoàn toàn thích hợp và phát huy năng lực trong nền kinh tế chỉ huy tập trung Khi cơ chế quản lý kinh tế thay đổi sang "Hệ thống kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của nhà nước" thì những chức năng đó làm cho viện nghiên cứu công nghệ gặp khó khăn trong hoạt động của mình và nhất là đời sống của cán bộ khoa học Lúc này quy luật tự điều chỉnh đã làm cho viện thoát ra khỏi những chức năng cơ bản của cơ chế cũ
Theo điều tra gần đây, các viện nghiên cứu công nghệ thường tiến hành một số công việc sau: Nghiên cứu ứng dụng và triển khai để tạo ra các sản phẩm mới, vật liệu mới, kỹ thuật mới và công nghệ mới; Làm pilot (thí điểm) để hoàn thiện các công nghệ mới đã nghiên cứu thành công; Sản xuất đơn chiếc hoặc hàng loạt nhỏ các thiết
bị chuyên dụng; Thiết kế, lắp đặt các dây chuyền công nghệ mới cho sản xuất; Thực hiện các hợp đồng tư vấn về kỹ thuật, công nghệ, duy tu, bảo dưỡng thiết bị liên quan với các lĩnh vực chuyên môn của viện; Thực hiện các hợp đồng tư vấn về tổ chức, quản lý, pháp lý liên quan với các lĩnh vực chuyên môn của viện; Kiểm định, đo lường, thực nghiệm kỹ thuật, v.v
Từ những công việc mà các viện công nghệ thực hiện trong những năm qua,
Vũ Cao Đàm đã tổng hợp lại thành bốn chức năng chính mà các viện nghiên cứu công nghệ thực hiện: Nghiên cứu khoa học: Đó là NCUD hoặc phát triển mà sản phẩm cuối cùng có thể là những nguyên lý công nghệ đã thử nghiệm thành công trong phòng thí nghiệm; Ươm tạo công nghệ: Chuyển những kết quả nghiên cứu về nguyên lý công
Trang 33nghệ trong phòng thí nghiệm để chuyển thành những hình mẫu công nghệ có tính khả thi về kỹ thuật và chế tạo; Tư vấn; và Dịch vụ
Cơ cấu tổ chức của các viện nghiên cứu công nghệ: Với chức năng như vậy, cấu trúc viện nghiên cứu công nghệ phức tạp hơn so với viện NCCB Mô hình ma trận thường được áp dụng cho thiết kế các viện này Viện vẫn bao gồm các phòng nghiên cứu chuyên môn nhưng đồng thời vẫn tổ chức theo tuyến từ khâu xây dựng nguyên lý đến hình thành công nghệ rồi chế tạo mẫu và nhiều trường hợp còn tổ chức sản xuất thử, đơn chiếc, hàng loạt nhỏ sản phẩm của công nghệ và tiêu thụ trên thị trường Nhiều viện nghiên cứu công nghệ đã sớm tiếp cận với thị trường và tổ chức sản xuất
có hiệu quả như một xí nghiệp kỹ thuật
Cơ cấu tổ chức của viện, ngoài các phòng chuyên môn còn có phòng thiết kế, xưởng thực nghiệm, phòng kiểm định kỹ thuật và chất lượng, cửa hàng và những bộ phận về thị trường và pháp lý Một số viện nghiên cứu công nghệ hiện nay đã thành lập các đơn vị hạch toán độc lập và thành lập cả doanh nghiệp nhà nước trực thuộc theo Quyết định 68 của Chính phủ Ở các nước phát triển như: Hoa Kỳ, X-cốt-len, Nhật Bản và ngay cả Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với Việt Nam, người ta đều thành lập các văn phòng liên lạc công nghiệp, doanh nghiệp "Spin-outs", xí nghiệp CNC của các viện nghiên cứu công nghệ Những tổ chức này đã thúc đẩy quá trình thương mại hoá các sản phẩm công nghệ, thúc đẩy hoạt động KH&CN của các viện và góp phần tích cực vào đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ của sản xuất
Trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế ở nước ta, các viện nghiên cứu công nghệ sẽ còn có những biến động lớn cả về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức cũng như phương thức hoạt động Trong số hơn 200 viện, chỉ có một số ít viện phát huy được tiềm lực của mình để trở thành các viện tự quản, dẫn đầu cả nước về lĩnh vực công nghệ nào đó, đại bộ phận còn lại phải chuyển thành xí nghiệp kỹ thuật, công ty tư vấn đa chức năng hoặc gia nhập với một hãng công nghiệp nào đó Quá trình này diễn ra nhanh và mạnh mẽ tuỳ thuộc vào mức độ cải cách hành chính của nhà nước cũng như cơ chế quản lý kinh tế
1.5.1.5 Tổ chức R&D cấp cơ sở
Theo khái niệm trật tự hành chính thì có loại hình tổ chức này, còn với nền kinh tế thị trường thì loại hình này như loại hình trên Đây là những tổ chức R&D của
Trang 34các doanh nghiệp lập ra để nghiên cứu những vấn đề kỹ thuật - công nghệ làm cơ sở cho đổi mới công nghệ (ĐMCN), đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh để tồn tại và phát triển Tổ chức này cũng thường thấy ở một số nước (nhất
là một số nước đang phát triển) với sự tập hợp của một số nhà khoa học theo đuổi một mục đích KH&CN nào đó với quy mô nhỏ và nó sẽ lớn mạnh khi phù hợp với mục tiêu nào đó của các hãng lớn và được sự đầu tư của họ
1.5.1.6 Tổ chức R&D trong các trường đại học
"Trường đại học có nhiệm vụ tiến hành NCKH & PTCN, kết hợp đào tạo với NCKH và sản xuất, dịch vụ KH&CN", "Trường đại học thực hiện nhiệm vụ NCCB, nhiệm vụ KH&CN ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước là NCKH và giáo dục" (Điều 12 Luật Khoa học và Công nghệ, 2000)
Chức năng của trường đại học: Trường đại học có 2 chức năng cơ bản là đào tạo và NCKH NCKH trong trường đại học trước hết vì lợi ích của bản thân nhà trường và sau đó là lợi ích của xã hội Đối với nhà trường, NCKH giúp cho việc hiện đại hoá chương trình đào tạo, biên soạn và tu chỉnh giáo trình cho phù hợp với sự phát triển như vũ bão của KH&CN NCKH làm cho thầy giáo tiếp cận được với khoa học hiện đại của thế giới và trong nước, chỉ có NCKH mới nâng cao được trình độ người thầy làm nhà khoa học Hai chức năng cơ bản của trường đại học thấm đến người thầy, trước khi làm thầy phải là nhà khoa học NCKH làm sôi động không khí học thuật trong trường đại học, sinh hoạt trong môi trường đó, người sinh viên được tập dượt KH&CN và trưởng thành ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường Không khí học thuật thay cho không khí trả thi vốn là hoạt động chủ đạo hiện nay ở các trường đại học NCKH làm nhà trường luôn gắn với thực tiễn, với xã hội, đó cũng chính là mục tiêu giáo dục đại học của bất cứ quốc gia nào
Đối với xã hội, NCKH trong trường đại học đem lại nhiều lợi ích Trước hết, NCKH trong trường đại học là khai thác được tiềm lực rất mạnh vốn được đầu tư rất lớn cho các trường đại học Trong các hoạt động NCKH thì NCCB hầu như là độc tôn của các trường đại học, mốt số nước đang phát triển duy trì NCCB ở các trung tâm R&D quốc gia, nhưng rồi dần dần NCCB sẽ chuyển về đại học NCKH làm cho xã hội không chỉ tận dụng năng lực của thầy giáo vốn rất quý, lại còn tận dụng được lực lượng sinh viên với lợi thế của sức trẻ, sức bật và ham muốn NCKH
Trang 35Cơ cấu tổ chức trường đại học: Theo Điều 14, Luật Giáo dục đại học (2012), thì cơ cấu đại học bao gồm: Hội đồng trường; Hiệu trưởng và phó hiệu trưởng; Phòng, ban chức năng; Khoa, bộ môn; Tổ chức khoa học và công nghệ; Tổ chức phục vụ đào tạo, nghiên cứu KH&CN, cơ sở sản xuất- kinh doanh- dịch vụ; Phân hiệu (nếu có); Hội đồng khoa học và đào tạo, các hội đồng tư vấn Ở trường đại học, bộ môn là đơn
vị cơ sở, cũng chính bộ môn vừa là cơ sở đào tạo vừa là đơn vị cơ sở của tổ chức R&D Bộ môn cũng tương đương như các phòng nghiên cứu ở các tổ chức R&D khác,
là đơn vị cơ sở của tổ chức KH&CN
Ở nước ta, nhiều năm nghiên cứu KH&CN ở trường đại học không được coi trọng nên tổ chức bộ môn và khoa như là những tổ chức thuần tuý đào tạo, việc nghiên cứu KH&CN khi cần thì thành lập những đơn vị riêng, điều đó thể hiện ngay ở Luật Giáo dục đại học, bên cạnh các khoa có các tổ chức KH&CN Cấu trúc như vậy không phản ánh chức năng của trường đại học Tuy nhiên, ở giai đoạn hiện nay là cần thiết nhằm đẩy mạnh hoạt động KH&CN trong các trường đại học và tạo ra không khí học thuật nhà trường Ở Việt Nam, với Nghị định 35/HĐBT và Quyết định 68/QĐ-CP cho phép các trường đại học tổ chức các viện nghiên cứu và doanh nghiệp nhà nước trực thuộc để xúc tiến nhiệm vụ KH&CN của nhà trường Trong tương lai phát triển của các trường đại học thì hai chức năng đào tạo và nghiên cứu KH&CN nhất quán trong từng bộ môn, từng khoa của trường
Vai trò của nhà nước đối với hoạt động KH&CN trong trường đại học: Trường đại học có nhiệm vụ NCCB mà đầu tư cho NCCB phải là kinh phí của nhà nước Những nghiên cứu thực hiện nhiệm vụ KH&CN trọng điểm cũng như nghiên cứu về giáo dục học chỉ có thể thực hiện với kinh phí nhà nước Vì vậy vai trò nhà nước là yếu tố quyết định đối với hoạt động KH&CN trong các trường đại học; Cùng với kiện toàn mạng lưới các trường đại học công lập phải tăng tỷ trọng các trường đại học ngoài công lập Cần có cơ chế thích hợp để thúc đẩy hoạt động KH&CN trong cả các trường đại học ngoài công lập Muốn thúc đẩy hoạt động KH&CN và nâng cao chất lượng đào tạo của trường đại học, Nhà nước phải tiến hành phi công lập hoá nhiều trường công lập hiện nay để thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục
1.5.1.7 Doanh nghiệp khoa học và công nghệ
Khái niệm doanh nghiệp KH&CN xuất hiện vào những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX với mục đích thương mại hoá các kết quả NCKH nhằm đưa nhanh các kết
Trang 36quả nghiên cứu vào cuộc sống Ở các nước phương Tây, đặc biệt là ở Hoa Kỳ và Anh, khái niệm doanh nghiệp KH&CN được hiểu là doanh nghiệp khoa học Spin-off (Academic spin-off) và doanh nghiệp dựa trên công nghệ mới/CNC (New Technology Baset Firnis/High-Technology Baset Firnis)
Doanh nghiệp spin-off: Đây là những doanh nghiệp được hình thành do một (hoặc nhóm) nhà khoa học - sáng lập viên có tinh thần kinh doanh tách khỏi tổ chức
"mẹ" (trường đại học, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm quốc gia hay một doanh nghiệp) để bắt đầu sự nghiệp kinh doanh độc lập mới Tổ chức "mẹ" hỗ trợ cho doanh nghiệp spin-off bằng cách cho phép chuyển giao trí thức, năng lực hoặc các phương tiện trực tiếp
Doanh nghiệp Spin-off là hình thức tổ chức phát triển KH&CN rất thành công trên thế giới Nó xuất phát từ một thực tế là các thành tựu KH&CN cần phải nhanh chóng đưa vào ứng dụng Nhưng theo các phương pháp chuyển giao, mua bán công nghệ thông thường thì khó hoặc không thể thực hiện được vì những lý do: Công nghệ còn quá mới mẻ, xã hội và nhà đầu tư chưa có điều kiện hiểu nổi để đầu tư, mặt khác chính bản thân công nghệ cũng cần được tiếp tục hoàn thiện trong quá trình đưa vào
sử dụng; Công nghệ là một phát kiến mới hoặc trình độ quá cao đến mức các doanh nghiệp không đủ trình độ để nhận chuyển giao; Điều kiện rủi ro cao chưa thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư; Công nghệ thuộc lĩnh vực kinh tế tri thức, kinh tế số rất cần phát triển nhanh để chiếm lĩnh thị trường, nhưng đòi hỏi hàm lượng chất xám cao nên không thể tách khỏi người sáng tạo ở ngay thời điểm đó; Việc hình thành doanh nghiệp Spin-off sẽ thu hút sự chú ý của khách hàng đến nó và cơ sở "mẹ" đã sinh ra
nó, đây là hiệu quả tích cực của tiếp thị
Doanh nghiệp spin-off thoả mãn được những yêu cầu rất khó thực hiện của cơ chế quản lý KH&CN Đó là muốn đưa kết quả khoa học vào ứng dụng thì phải sử dụng ưu điểm của cách quản lý doanh nghiệp, lấy lợi nhuận làm mục tiêu Và nếu chỉ lấy lợi nhuận làm mục tiêu thì phát triển khoa học trở thành thứ yếu và có thể mất lợi thế ban đầu và thể hiện ngay sự chảy máu chất xám Như vậy doanh nghiệp này phải
có mối quan hệ đặc biệt với tổ chức "mẹ" và phải không ngừng đầu tư cho nghiên cứu Doanh nghiệp spin-off và viện nghiên cứu luôn gắn với nhau để tận dụng lợi thế của hai loại hình tổ chức có cơ chế quản lý khác nhau Sự tích hợp này luôn huớng tới đáp ứng nhu cầu của thị trường và những đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng
Trang 37Doanh nghiệp CNC mới: Là doanh nghiệp chú trọng NC-TK và khai thác kỹ thuật trong lĩnh vực CNC và mới Thông thường từ khái niệm trên có hai cách tiếp cận
để hiểu doanh nghiệp CNC mới hoặc hoàn thiện quá trình và sản phẩm công nghệ đặc biệt mới Đây là doanh nghiệp thâm dụng NC-TK nghĩa là doanh nghiệp chí phí cho NC-TK tới ngưỡng xét trong mối tương quan với kết quả của hoạt động này Autio (2000) cho rằng doanh nghiệp CNC mới có các đặc trưng sau: Mới thành lập chưa quá
25 năm; Dựa trên việc khai thác một sáng chế hoặc một năng lực công nghệ đặc biệt;
Do một cá nhân hoặc một nhóm nhà khoa học thành lập; Tiến hành các hoạt động như công việc trong tổ chức ươm tạo hoặc được CGCN ban đầu từ các tổ chức ươm tạo
1.5.1.8 Hiệp hội khoa học và công nghệ
Hiệp hội KH&CN là tổ chức tự nguyện của các nhà khoa học thành lập theo một chuyên môn của mình Hội là những tổ chức tự quản nên cấu trúc đôi khi khá phức tạp Quy mô hội cũng khác nhau, có hội quốc tế, hội quốc gia, hoặc địa phương Hội Địa chất Quốc tế có Hội Địa chất của 165 quốc gia tham gia, là tổ chức có uy tín khoa học lớn về địa chất học Số lượng hội của các nước rất nhiều, hiện nay Nhật Bản
có hơn 800 hội KH&CN, Trung Quốc có trên 1.000, Mỹ có khoảng trên 2.000
Chức năng phổ biến của hiệp hội: Phổ biến kiến thức KH&CN của ngành mình; Giao lưu giữ các hội viên đồng nghiệp và nâng cao trình độ hội viên; Bảo vệ lợi ích của hội viên và sự phát triển của hội; Nâng cao vị thế của ngành mình trong xã hội
và trong nền kinh tế; Bảo vệ hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc
Cơ cấu tổ chức của hiệp hội rất phức tạp: Hội quốc tế có thành viên là hội quốc gia, hội quốc gia ở nhiều nước lại tập hợp nhau lại thành liên hiệp các hội KH&CN Hội thường tổ chức theo hệ thống trực tuyến, ở những hiệp hội có những chuyên ngành người ta tổ chức theo cấu trúc ma trận
1.5.2 Hệ thống tổ chức nghiên cứu phát triển ở Việt Nam
1.5.2.1 Quá trình hình thành và phát triển
Từ xa xưa, người Việt cổ đã sớm thành thạo nghề nấu luyện kim loại và chế tác
vũ khí, đồ gia dụng, đồ trang sức, mỹ nghệ với sự phát triển rực rỡ ở thời kì đồ đồng,
đồ sắt Các thạp đồng, trống đồng (Đông Sơn, Ngọc Lũ) từ hơn 2.500 năm trước được đúc bằng đồng thau, một hợp kim của kim loại và thiếc Các hoa văn trên trống đồng
Trang 38không chỉ thể hiện tài hoa mỹ thuật mà còn thể hiện sự hoàn hảo của công nghệ luyện kim và kỹ thuật làm khuôn tuyệt vời của người Việt cổ
Về ngôn ngữ, văn tự, nước ta sớm hình thành chữ Nôm có nguồn gốc từ chữ Hán và cuối thế kỷ XIX đã chuyển từ chữ Nôm sang chữ Quốc ngữ có nguồn gốc từ chữ La tinh, tạo cho nước ta có chữ viết độc đáo ở châu Á tạo tiền đề cho sự phát triển giáo dục, KH&CN
Một số dấu mốc quan trọng: Năm 1899 thành lập Sở Địa dư Đông Dương và
Sở Địa chính Đông Dương; Năm 1901 thành lập Học viện Viễn đông Bác Cổ; Năm
1902 thành lập Sở Khí tượng Đông Dương; Năm 1914 thành lập Bảo tàng Địa chất; Năm 1918 thành lập Trạm nghiên cứu chè và cây ăn quả Phú Hộ; Năm 1920 thành lập Viện Hải dương học; Năm 1925 thành lập Viện Khảo cổ Nông nghiệp Đông Dương; Năm 1926 thành lập các viện Paster Hà Nội, Sài Gòn, Nha Trang, Đà Lạt; Năm 1931 thành lập Viện nghiên cứu Cao su Đông Dương
Thời kỳ phát triển:
Các tổ chức KH&CN ở nước ta thực sự trở thành hệ thống phải kể từ sau năm
1955 khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bắt tay vào xây dựng CNXH Hàng loạt viện được ra đời ngay trong điều kiện hoà bình mới lập lại và phải tiến hành ngay cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Trong khói lửa của chiến tranh vẫn hình thành nên nhiều viện nghiên cứu ở những lĩnh vực khác nhau Căn cứ vào sự hình thành và phát triển của hệ thống, có thể chia thành 03 giai đoạn như sau:
* Giai đoạn từ 1955 - 1989
Đặc trưng của giai đoạn này là đất nước ta đồng thời tiến hành hai cuộc cách mạng: Cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng XHCN Đến năm 1975 hoàn thành cách mạng dân tộc, cả nước cùng tiến hành cuộc cách mạng XHCN Cơ chế
Trang 39quản lý theo chế độ kế hoạch hoá tập trung Cơ chế này quyết định chiều hướng phát triển của hệ thống và định ra cơ chế quản lý hệ thống;
Hệ thống tổ chức KH&CN bắt đầu phát triển theo khả năng, yêu cầu của nền kinh tế và đặc biệt sự tăng trưởng của đội ngũ cán bộ KH-KT Những tổ chức ban đầu
có sự kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo và NCKH nên hình thành những học viện như: Học viện Nông lâm, Học viện Thuỷ lợi Một số lĩnh vực như công nghiệp, y dược thì việc nghiên cứu tiến hành ngay ở trường đại học Cuối thập niên 60, đầu 70 bắt đầu có quá trình tách các viện khỏi các trường đại học, hình thành nên hệ thống độc lập với đại học Từ Uỷ ban Khoa học Nhà nước tách một bộ phận nghiên cứu thành Viện Liên hợp khoa học tự nhiên, tiền thân của Viện KH&CN Việt Nam sau này Mức độ tăng trưởng số lượng các viện rất nhanh, trung bình trên 2 lần sau khoảng 10 năm
Nhận định chung về giai đoạn nay là sự tăng trưởng nhanh, hình thành nên hệ thống độc lập, phân bố không đều, riêng Hà Nội chiếm tới 79,92% tổng số các viện
* Giai đoạn 1990 - 2000
Đặc trưng của giai đoạn này là nước ta vượt qua thời kỳ khủng hoảng, bước vào thời kỳ đổi mới Sau 10 năm đổi mới, số lượng tổ chức tăng lên gấp đôi Hoạt động của hệ thống được mở rộng cả về chức năng và nhiệm vụ Nguồn kinh phí hoạt động của tổ chức được đa dạng hoá không chỉ chờ nguồn từ ngân sách như giai đoạn trước Có thể nói cuối giai đoạn trước và đầu giai đoạn này, để thích nghi với những biến động của môi trường, các tổ chức KH&CN luôn tự điều chỉnh không những về chức năng, nhiệm vụ mà còn hướng hoạt động gần với thực tiễn hơn làm hình thành nên những cơ chế mới trong quản lý dẫn đến những văn bản pháp lý như Nghị định
35, Nghị định 178 và đặc biệt là Nghị định 115 Đây là giai đoạn chuyển hướng quan trọng của hệ thống KH&CN nước ta từ cơ chế quản lý tập trung sang kinh tế thị trường, là quyết tâm không chỉ của giới quản lý, những người hoạch định chính sách
mà còn là nỗ lực của toàn thể cán bộ khoa học nhất là những nhà quản lý ở cơ sở đang tạo ra một hiện thực mới, môi trường mới cho hoạt động của các tổ chức KH&CN
Đến năm 2000, Nhà nước đã lựa chọn 236 tổ chức KH&CN thực hiện nhiệm
vụ KH&CN cấp quốc gia Trong số đó có 128 viện do Chính phủ thành lập, còn 108
tổ chức KH&CN do các bộ, ngành thành lập Nhóm tổ chức này do Nhà nước đầu tư
và quản lý Tổ chức KH&CN được Nhà nước cấp một phần kinh phí để tổ chức tự
Trang 40điều chỉnh cho thích nghi với kinh tế thị trường Những tổ chức KH&CN chủ yếu là loại hình công nghệ - công nghiệp thì chuyển hẳn về doanh nghiệp
Sau Nghị định 35 hình thành nên những tổ chức KH&CN tự trang trải kinh phí cho đến năm 2000, có 122 tổ chức thuộc loại hình này đã đăng ký hoạt động ở Bộ Khoa học và Công nghệ Cũng trong thời gian này xuất hiện những tổ chức KH&CN
tư nhân, chủ yếu do các nhà khoa học hoạt động trong biên chế Nhà nước đứng ra thành lập Loại hình này có 107 tổ chức đăng ký tại Bộ Khoa học và Công nghệ Như vậy sau 10 năm, số tổ chức KH&CN đã tăng từ 264 lên 610 tổ chức
* Giai đoạn từ 2000 đến nay
Đây thực sự là giai đoạn chuyển mình quan trọng của cấu trúc lại hệ thống KH&CN Số tổ chức tăng thêm trong giai đoạn này không đáng kể, lên 649 tổ chức KH&CN công lập Cấu trúc hệ thống tổ chức KH&CN ở giai đoạn trước mang hai đặc trưng cơ bản: Là hệ thống độc lập với hệ thống sản xuất và hệ thống giáo dục, đào tạo; Các tổ chức KH&CN đều là tổ chức Nhà nước
Hai đặc trưng đó là nguyên nhân phát triển của hệ thống trong cơ chế cũ, nay
đã thành trở ngại cho sự phát triển Sự trì trệ bộc lộ rõ ở hiệu quả của hoạt động KH&CN, làm khuyết tật của cấu trúc hệ thống nổi lên như một sự thách thức Cho nên muốn đổi mới quản lý phải bắt tay vào thực hiện việc sửa chữa từ gốc của hệ thống là cần cấu trúc lại Cấu trúc lại hệ thống cần dựa trên nguyên tắc Nhà nước từ bỏ độc quyền về hoạt động KH&CN, Nhà nước chỉ sở hữu những tổ chức cần cho sự phát triển của quốc gia mà không một thành phần kinh tế nào đảm nhận nổi và KH&CN phải gắn với giáo dục - đào tạo Vấn đề nóng bỏng hiện nay là nhanh chóng sắp xếp lại các tổ chức KH&CN công lập theo ba nhóm sau: Các tổ chức NCCB, nghiên cứu chính sách; Các tổ chức KH&CN; Các tổ chức KH&CN ở các trường đại học
Đối với các tổ chức NCCB cần gắn với giáo dục - đào tạo và cần sự tài trợ của Nhà nước, các tổ chức về điều tra cơ bản, Nhà nước tài trợ thông qua thực hiện nhiệm
vụ điều tra cơ bản do các cơ quan quản lý về điều tra cơ bản giao, các tổ chức nghiên cứu chuyên đề gắn với các tổ chức KH&CN và Nhà nước tài trợ nghiên cứu này Các viện nghiên cứu chiến lược và chính sách do Nhà nước tài trợ và không cần thiết Bộ, ngành nào cũng phải có một viện Chúng ta nên từ bỏ tư duy “của nhà trồng được” mà tập trung thì sẽ tốt hơn