Một thách thức hiện nay là đảm bảo công bằng về ASXH, tiếp cận dễ dàng với các dịch vụ ASXH của những nhóm đối tượng yếu thế là trẻ em, người già, người khuyết tật, NNCT… và nhóm đối tượ
Trang 1ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
-* -
nguyễn thị thu h-ơng
An sinh xã hội đối với gia đình ng-ời có công với cách mạng và nạn nhân chiến tranh
huyện Yên Mỹ, tỉnh H-ng Yên
( Nghiên cứu tr-ờng hợp tại 3 xã: Xã Trung H-ng,
xã Lý Th-ờng Kiệt, thị trấn Yên Mỹ)
LUậN VĂN THạC Sĩ CHUYÊN NGàNH Xã HộI HọC
Trang 2ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
-* -
nguyễn thị thu h-ơng
An sinh xã hội đối với gia đình ng-ời có công với cách mạng và nạn nhân chiến tranh
huyện Yên Mỹ, tỉnh H-ng Yên
( Nghiên cứu tr-ờng hợp tại 3 xã: Xã Trung H-ng,
xã Lý Th-ờng Kiệt, thị trấn Yên Mỹ)
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này , tôi đã nhận được sự giúp đỡ của UBND
xã Lý Thường Kiệt, UBND xã Trung Hưng, UBND Thị trấn Yên Mỹ và Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Yên Mỹ - Tỉnh Hưng Yên Tôi xin cảm ơn chính quyền, đoàn thể, nhân dân 3 xã và UBND huyện đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Em cũng xin cảm ơn nhóm nghiên cứu đề tài Đi ̣nh hướng hoàn thiê ̣n chính sách
PGS.TS Nguyễn Thi ̣ Kim Hoa cùng với PGS.TS Nguyễn Thi ̣ Thu Hà đã cho phép
Em sử dụng bảng hỏi nghiên cứu của đề tài
Đặc biệt, Em xin được gửi lời biết ơn sâu sắc nhất đến Giáo viên hướng dẫn –
PGS TS Mai Quỳnh Nam, người đã luôn tận tình chỉ bảo và hướng dẫn cho Em hoàn
thành tốt luận văn này!
Trong quá trình hoàn thành luận văn vẫn còn nhiều thiếu sót, Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến chỉ bảo của các thầy cô giáo để khóa luận được thực hiện tốt hơn
Em xin được gửi tới các Thầy giáo, Cô giáo lời chúc sức khỏe và hạnh phúc! Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Học viên
Nguyễn Thị Thu Hương
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 23
4 Mục đích và nhie ̣m vụ nghiên cứu 23
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 24
6 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 25
7 Phương pháp nghiên cứu 25
8 Khung phân tích 33
PHẦN NỘI DUNG 34
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 34
1.1 Các khái niệm công cụ 34
1.1.1 An sinh xã hội 34
1.1.2 Dịch vụ an sinh xã hội 37
1.1.3 Người có công với cách mạng 37
1.1.4 Gia đình người có công 38
1.1.5 Nạn nhân chiến tranh 38
1.1.6 Liệt sĩ và gia đình liệt sĩ 38
1.1.7 Thương binh và gia đình thương binh 38
1.1.8 Khái niệm thu nhập 39
1.1.9 Khái niệm nghèo 39
Trang 51.2.1 Lý thuyết chức năng 40
1.2.2 Lý thuyết nhu cầu 42
1.3 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 44
1.4 Vài nét cơ bản về tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 48
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ AN SINH XÃ HỘI VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA 2 NHÓM: GIA ĐÌNH NGƯỜI CÓ CÔNG VÀ NẠN NHÂN CHIẾN TRANH 50
2.1 Tiếp cận hệ thống giáo dục, đào tạo 51
2.2 Tiếp cận hệ thống khám chữa bệnh và bảo hiểm y tế 56
2.3 Tiếp cận ưu đãi về nhà ở 68
2.4 Hỗ trợ đào tạo nghề và việc làm 76
CHƯƠNG 3: ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG VÀ NẠN NHÂN CHIẾN TRANH 81 3.1 Thu nhập của hộ gia đình 82
3.2 Chăm sóc sức khỏe 87
3.3 Giáo dục 91
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHI ̣ 93
4.1 Kết luận 93
4.2 Kiến nghị 96
DANH SÁCH TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC ( Đính kèm) 104
1 Bảng hỏi dành cho gia đình người có công và nạn nhân chiến tranh 104
2 Phỏng vấn sâu 104
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Trình độ học vấn của người được hỏi trên địa bàn
Bảng 1.2 Ba nguồn chi chủ yếu của hộ/ tháng
Bảng 1.3 Giá trị đồ dùng gia đình
Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp huyện Yên Mỹ trong 6 tháng đầu năm
2013
Bảng 2.2 Tương quan giữa trường học lựa chọn và thu nhập
Bảng 2.3 Tương quan giữa sử dụng thẻ BHYT và CSSK trong 12 tháng
Bảng 2.4 Tương quan giữa tình trạng sức khỏe và nơi khám được lựa chọn Bảng 2.5 Tỷ lệ % của hộ người có công được hỗ trợ về nhà ở
Bảng 2.6 Các chính sách đào tạo nghề và việc làm
Bảng 3.1 Tương quan đánh giá mức trợ cấp ưu đãi tháng
Bảng 3.2 Tỷ lệ lượt người KCB theo loại cơ sở y tế
Bảng 3.3 Tương quan giữa thu nhập hộ và chi phí KCB
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Nghề nghiệp người được hỏi
Biểu đồ 1.2 Tổng thu nhâ ̣p bình quân của hộ/ tháng
Biểu đồ 1.3 Nguồn thu của hộ điều tra trên tháng
Biểu đồ 1.4 Nguồn nước sử dụng trong sinh hoạt
Biểu đồ 2.1 Trường học lựa chọn cho con
Biểu đồ 2.2 Tình trạng sức khỏe người được hỏi
Biểu đồ 2.3 Đánh giá chất lượng KCB bằng BHYT
Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ hộ có nhà chia theo loại nhà
Biểu đồ 2.5 Đánh giá mức độ hài lòng đối với chính sách ưu đãi nhà ở Biểu đồ 3.1 Các nguồn hỗ trợ trong 12 tháng
Biểu đồ 3.2 Mức trợ cấp từ Nhà nước trong 12 tháng
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề ASXH đang là vấn đề thu hút quantâm của toàn
xã hội Trên 20 năm đổi mới và phát triển, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong xây dựng đất nước Kinh tế tăng trưởng nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, thu nhập bình quân đầu người trên năm ngày càng cao, đời sống kinh tế và xã hội của nhân dân có sự cải thiện rõ rệt
Mặc dù vậy, bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường cũng xuất hiện những mặt tiêu cực tác động đến đời sống xã hội mà trong đó vấn đề ASXH là một trong những lĩnh vực chịu nhiều sức ép Một thách thức hiện nay là đảm bảo công bằng về ASXH, tiếp cận dễ dàng với các dịch vụ ASXH của những nhóm đối tượng yếu thế là trẻ em, người già, người khuyết tật, NNCT… và nhóm đối tượng chính sách, thương binh, bệnh binh, mẹ liệt sỹ…
Thực tế, hiện nay gia đình NCC với cách mạng và NNCT vẫn còn chịu ảnh hưởng lớn về mặt sức khỏe, tinh thần dẫn đến đời sống gia đình gặp nhiều khó khăn, thu nhập không ổn định, tình trạng thiếu việc làm phù hợp diễn ra phổ biến, mức độ đói nghèo là rất lớn và vẫn chưa có cách giải quyết bền vững dẫn đến hàng loạt các vấn đề
về ASXH chưa được giải quyết triệt để
Nhận thức được vai trò quan trọng đó, những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã
nước hiện nay không chỉ tập trung vào các chính sách bảo trợ xã hội và ưu đãi đối với NCC mà còn hỗ trợ gia đình NCC và NNCT Tỷ trọng đầu tư từ ngân sách nhà nước cho các lĩnh vực xã hội chiếm từ 25,2% đến 27,8% tổng chi tiêu của Nhà nước hàng năm Trong đó, Nhà nước đặc biệt ưu tiên đầu tư giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, ưu đãi NCC, trợ giúp xã hội cho nhóm yếu thế và chiếm hơn 14% tổng chi
Trang 10ngân sách nhà nước (gần bằng chi ngân sách cho ngành giáo dục)[24] Mức trợ cấp ưu đãi năm 2009 tăng 2,1 lần so với năm 2006 Thực hiện chính sách ưu đãi thường xuyên cho hơn 1,4 triệu NCC Hiện nay, hơn 90% gia đình NCC có mức sống bằng hoặc cao
hơn mức trung bình của dân cư cùng địa bàn[9]
Phong trào đền ơn đáp nghĩa chăm lo đời sống gia đình NCC cũng được quan tâm, điều này được thể hiện thông qua 5 chương trình cụ thể, bao gồm: xây dựng nhà tình nghĩa; tặng sổ tiết kiệm tình nghĩa; chăm sóc bố, mẹ, vợ liệt sỹ già yếu con liệt sỹ
mồ côi không nơi nương tựa; xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, và chương trình ổn định đời sống thương bệnh binh Hàng năm “Qũy đền ơn đáp nghĩa” được đóng góp, hàng nghìn sổ tiết kiệm đã được trao tặng cho các gia đình chính sách còn khó khăn, hàng trăm ngôi nhà tình nghĩa được xây mới và sửa chữa, góp phần cải thiện chất lượng đời sống cho người và gia đình NCC với cách mạng được tốt hơn
Ngoài đối tượng gia đình NCC, trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành chế độ chính sách riêng đối với NNCT điển hình là những người bị nhiễm CĐHH, con đẻ người hoạt động cách mạng bị nhiễm CĐHH và dần hình thành các chính sách độc lập, cơ bản, hệ thống đối với nạn nhân CĐDC, với những chính sách bảo trợ xã hội như trợ cấp kinh phí đào tạo, học nghề, tìm kiếm việc làm, vay vốn sản
xuất…
Tuy nhiên khi xem xét vấn đề ASXH đối với gia đình NCC và NNCT, thì nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng chính sách này chỉ đặt ra ở cấp vĩ mô và thực hiện chưa thực
sự hiệu quả, còn nhiều bất cập và hạn chế Hệ thống chính sách trợ giúp đặc biệt (NCC
và NNCT) quá phức tạp, nhiều chế độ, rất khó quản lý từ khâu giám định, xét duyệt đến chi trả trợ cấp, việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản có chất lượng còn hạn chế, thu nhập và mức sống vẫn còn nhiều khó khăn Các chính sách ASXH chưa thực sự có
hiệu quả
Trang 11Trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta hiện nay đòi hỏi phải xây dựng một hệ thống ASXH toàn diện theo hướng đảm bảo hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, từng bước bao phủ hết các đối tượng trợ cấp
xã hội, mở rộng các đối tượng trợ giúp cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn
Yên Mỹ là một trong những huyện đầu của tỉnh Hưng Yên, điều kiện kinh tế- xã hội trong những năm gần đây đã có những bước phát triển lớn, đời sống của cộng đồng
đã đổi khác ASXH được chú trọng hơn, tuy nhiên trợ cấp từ hệ thống ASXH đối với NCC với cách mạng, gia đình NCC và NNCT vẫn còn hạn chế như đã được nêu ở trên
Vì những thực tế trên mà tác giả lựa chọn đề tài “ ASXH đối với gia đình NCC với cách
mạng và NNCT ” huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên làm luận văn thạc sĩ Luận văn sẽ góp
phần mở rộng sự hiểu biết đối với thực trang tiếp cận các DVASXH cũng như việc thực hiện CSASXH ở một địa phương cụ thể, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện CSASXH trong thực tế
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, ASXH đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ Nhiều tác giả tiến hành các nghiên cứu xã hội học về ASXH trong mối liên hệ với chính sách phát triển kinh tế xã hội hay nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ của hệ thống ASXH với các chính sách của nó Một số khác bàn đến hệ quả của các CSASXH và ASXH trong sự so sánh với các quốc gia khác nhau Trong những năm 30 của thế kỷ 20, mô hình ASXH phát triển mạnh mẽ ở Châu Âu, châu Mỹ và Mỹ là một trong những quốc gia có hệ thống ASXH khá nổi bật và tương đối hiệu quả Theo các tài liệu hiện có, khái niệm ASXH
đã được dùng chính thức lần đầu trong tiêu đề một đạo luật của Mỹ năm 1935- Đạo luật về ASXH được Quốc hội thông qua với mục đích tạo ra mạng lưới đảm bảo an toàn tài chính cho người dân làm việc và gia đình của họ, nó có ý định cung cấp, trợ giúp tài chính cho những người đã từng đi làm như khi có tuổi cao không còn đủ năng lực kiếm tiền nuôi bản thân Tuy nhiên, Luật này mới chỉ đề cập đến các rủi ro về già
Trang 12yếu, chết, tàn tật, thất nghiệp và đối tượng không được bảo vệ, không chỉ người lao động mà cả những người nghèo, người già cô đơn Đến năm 1938, khái niệm ASXH xuất hiện trong một đạo luật của New Zealand, nhưng có thêm một khoản trợ cấp mới ( trợ cấp gia đình) Đến năm 1941, ASXH lại xuất hiện trong Hiến chương Đại Tây Dương Sau đó tổ chức lao động quốc tế ( ILO) đã chính thức sử dụng cụm từ này cho đến nay trong các công ước của mình Đặc biệt, ngày 28/6/1952, Hội nghị quốc tế về lao động đã thông qua Công ước số 152- Công ước quy định cách quy phạm tối thiểu
về ASXH Tổ chức lao động quốc tế ILO cũng đã thừa nhận ASXH là một trong những nguyện vọng sâu sắc nhất, phổ biến nhất của mọi dân tộc trên thế giới và được ghi nhận trong Tuyên ngôn của Đại hội đồng liên hiệp quốc về quyền con người
Trong khuôn khổ phát triển của hệ thống ASXH, nhiều tác giả đã nghiên cứu ASXH và phúc lợi xã hội thông qua đó giúp chúng ta có cái nhìn đối chiếu, so sánh
Cuốn sách“ An sinh xã hội ở các nước đang phát triển“(Social Security in Developing
Countries) nhóm tác giảEhtisham Ahmad, Jean Drèze, John Hills, Amartya Senv đã đề cập và mô tả các quy định ASXH ở các vùng khác nhau như Ấn Độ,Trung Quốc, Mỹ Latinh, và Nam Phi chỉ ra những đặc điểm, thách thức, những chương trình ASXH phù hợp với điều kiện hoàn cành từng nước Cuốn sách đã tập trung phân tích, làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản của ASXH, các tổ chức, chiến lược hành động của ASXH thông qua
hệ thống ASXH ở các nước đang phát triển Từ những nghiên cứu của cuốn sách giúp chúng ta so sánh và đánh giá rộng hơn các hệ thống ASXH trên thế giới.[ 36]
Cũng nghiên cứu về ASXH ở các nước đang phát triển, Patricia Justino – Đại học
Sussex trong bài “ASXH ở các nước đang phát triển: Thần thoại hoặc cần thiết? Bằng
chứng từ Ấn Độ ( Social security in developing countries: Myth or necessity? Evidence
from India) thực hiện tháng 9 năm 2013 đã sự dụng bằng chứng thực nghiệm từ Ấn Độ
để chỉ ra hệ thống bảo trợ xã hội ở các nước đang phát triển Nội dung chủ yếu của bài viết là phân tích thực nghiệm về tác động của CSASXH đếnhiệu quả kinh tếẤn Độgiữa
Trang 13nghi vớidữ liệu từ mộtbảng điều khiểncủa14bang của Ấn Độ Kết quả cho thấycác CSASXH là một trong những yếu tố nội sinh trong quá trình phát triển chính trị- xã hôi
và tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế đang phát triển
Khác với những tác giả trên, báo cáo (2013):“ Mở rộng ASXH: Chính sách đối
với các nước đang phát triển“ của Wouter Van Ginneken- Văn phòng Lao động quốc
tế lại tập trung vào đánh giá bốn chương trình ASXH là: BHYT, lương hưu, thất nghiệp và bảo vệ lợi ích xã hội dựa vào thuế, đánh giá các xu hướng chính và các vấn
đề của chính sách đối với việc mở rộng ASXH tại các nước đang phát triển và xem xét các khía cạnh giới trong quá trình mở rộng ASXH Kết quả của báo cáo đã chỉ ra được mối liên hệ giữa quá trình phát triển và tác động của ASXH đối với vấn đề xóa đói giảm nghèo, nhìn nhận ASXH như một công cụ chính để ứng phó với các hậu quả tiêu cực của toàn cầu Với những thông tin thu được báo cáo đã chỉ ra vai trò hết sức quan trọng của ASXH trong chiến lược quốc tế và mỗi quốc gia trên cơ sở đó báo cáo đề xuất một số giải pháp mở rộng ASXH như cải thiện, cải cách các chương trình BHXH bắt buộc, thúc đẩy cộng đồng và khu vực dựa vào các chương trình BHXH và tăng
cường lợi ích xã hội hiệu quả từ tài chính thuế theo hướng “ Chiến dịch toàn cầu về
ASXH và bảo hiểm dành cho tất cả“.[38]
Quan niệm và các mô hình ASXH ở các quốc gia là không giống nhau, do vậy để hiểu rõ hơn về hệ thống ASXH trên thế giới, ta có thể tìm hiểu một số nghiên cứu về hệ thống ASXH ở các quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản
2.1.1 Hệ thống an sinh xã hội ở Trung Quốc
Để hình dung được rõ hơn về hệ thống ASXH và phúc lợi xã hội của Việt Nam, chúng ta có thể đối chiếu với các nước có những đặc điểm tương đồng, trong đó Trung Quốc- một quốc gia có bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội khá gần gũi với Việt Nam Cũng như Việt Nam, Trung Quốc là quốc gia có tỷ lệ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp rất đông đảo Năm 1950 chính sách nhằm trợ giúp và giải quyết vấn đề công
Trang 14nhân thất nghiệp từ chế độ cũ để lại đã được triển khai Năm 1951, chính sách, chế độ bảo hiểm về hưu trí, tàn tật, tử tuất, ốm đau, chăm sóc y tế, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản đã được đưa ra Sau đó Trung Quốc đã ban hành một loạt các chính sách, chế độ về ASXH bao gồm cả cứu tế xã hội, chế độ đối xử và chăm sóc đặc biệt nhằm không ngừng đẩy mạnh và điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu nâng cao của xã hội Tuy nhiên, phạm vi của chế độ ASXH cho đến những năm giữa của thập kỷ 80 về
cơ bản mới được thực hiện ở khu vực thành phố và tập trung vào các doanh nghiệp nhà nước
Kể từ năm 1984, Trung Quốc tiến hành một loạt các cải cách đối với lĩnh vực ASXH Năm 1984 bắt đầu cải cách chính sách hưu trí đối với lao động làm việc trong các doanh nghiệp Năm 1986, ban hành chế độ bảo hiểm thất nghiệp đối với khu vực doanh nghiệp Nhà nước Các chính sách BHXH như thai sản, tai nạn lao động, chăm sóc y tế được cải cách và ban hành vào các năm 1994, 1996 và 1998 Năm 1999, chính sách bảo đảm mức sống tối thiểu được đưa ra và năm 2002 mô hình hợp tác xã y tế kiểu mới đối với khu vực nông thôn được thiết lập Những cải cách và phát triển của
hệ thống ASXH đã thực sự đóng góp vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và ổn định xã hội
Với tiêu chí chăm lo toàn diện cho an sinh quốc dân, Trung Quốc đã xây dựng và triển khai các chính sách cho lao động nông nghiệp Điều này được thể hiện qua nghiên
cứu “ Hệ thống lương cho lao động nông nghiệp ở tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc” của
Fu Chen (2012), Cao Đẳng kinh tế và Quản lý, Đại học Nông Nghiệp Hoa Nam Hệ thống lương hưu này được cụ thể hóa qua khu vực hành chính công và các dịch vụ xã hội ở thành thị và nông thôn Qua đó, ta thấy được sự vận hành của hệ thống ASXH Trung Quốc trải qua quá trình đổi mới và phát triển, mà cụ thể là của bảo hiểm an sinh hưu trí tại một khu vực đặc trưng nông nghiệp
Cùng phạm vi nghiên cứu trên, một học giả khác, Janne Liu( 2012), Học viện
Trang 15ASXH Trung Quốc tại 2 khu vực đô thị và nông thôn thông qua nghiên cứu “ Hợp nhất
hệ thống lương khu vực đô thị với khu vực nông thôn ở Quảng Đông”, tác giả đề cập
đến quá trình biến đổi và phát triển của hệ thống hưu trí trong ASXH từ phân tán đến tập trung
2.1.2 Hệ thống an sinh xã hội ở Nhật Bản
Hệ thống ASXH Nhật Bản bắt đầu hình thành từ việc ban hành Quyđịnh cứu trợ nghèo đói vào năm 1874, sau đó lần lượt các luật liên quan đến cácCSASXH ra đời như: Luật Hưu trí, Luật BHYT, Luật Phúc lợi xãhội, Luật Vô gia cư… Hiện tại, hệ thống ASXH Nhật Bản bao gồm các chế độ sau:
- Cứu trợ xã hội: Là chế độ mà Chính phủ đảm bảo mức sống tối thiểu cho tất cả những người gặp khó khăn trong cuộc sống và khuyến khích họ sống tự lập Các hỗ trợ của Nhà nước bao gồm: chăm sóc y tế, kiếm sống, chi phí giáo dục, nhà ở, đào tạo nghề, xây dựng các cơ sở cứu trợ, phục hồi chức năng, ký túc xá cho người nghèo…
- Phúc lợi xã hội: là chế độ cung cấp cho những người có những thiệt thòi khác nhau trong cuộc sống như người tàn tật, mồ côi cha, vì thế họ không thể vượt qua được những mất mát và sống cuộc sống an toàn Các phúc lợi xã hội được cung cấp cho người tàn tật, người trí tuệ chậm phát triển, người già, trẻ em…
- BHXH: Là một hệ thống các chế độ bảo hiểm bắt buộc cung cấp những phúc lợi nhất định cho người tham gia bảo hiểm khi ốm đau, thương tật, sinh con, chết, tuổi già, tàn tật, thất nghiệp và các sự kiện được bảo hiểm khác mà kết quả làm cho cuộc sống khó khăn, với mục tiêu là duy trì sự ổn định cuộc sống Các chế độ BHXH bao gồm: bảo hiểm hưu trí, BHYT, bảo hiểm chăm sóc dài ngày, bảo hiểm việc làm, bảo hiểm bồi thường tai nạn cho người lao động…
- Y tế công: Là hệ thống chăm sóc y tế và phòng bệnh vì mục tiêu cuộc sống khỏe mạnh cho người dân Nhật Bản, bao gồm chương trình quản lý bệnh lao, bệnh lây nhiễm, ma túy, nước máy, nước thải, rác thải…Chính phủ và chính
Trang 16quyền địa phương cùng chia sẻ trách nhiệm đối với việc quản lý về an sinh xã hội Nhiệm vụ của Chính phủ là đưa ra các chính sách, quy định chung và hỗ trợ một phần tài chính, nhiệm vụ của chính quyền địa phương chủ yếu là tổ chức thực hiện các CSASXH [13]
2.1.3 Hệ thống an sinh xã hội ở Đức
Được hình thành từ thế kỷ 19 với bốn loại bảo hiểm cơ bản là: BHYT (1883); Bảo hiểm tai nạn (1884); Bảo hiểm hưu trí (1889); Bảo hiểm thất nghiệp (1927) Từ năm 1994, nước Đức thực hiện đạo luật về bảo hiểm CSSK và loại bảo hiểm này trở thành một trong những bộ phận cơ bản của hệ thống BHXH Đức Bên cạnh hệ thống bảo hiểm, các hình thức bảo trợ xã hội khác như: bảo trợ nuôi dưỡng trẻ em, bảo trợ giành cho người già… cũng được phát triển mạnh mẽ ở Đức
Hệ thống ASXH Đức chủ yếu thực hiện theo mô hình Bismarck, lấy hệ thống BHXH làm nòng cốt để thực hiện CSASXH cho mọi người dân Hệ thống pháp luật BHXH ở Đức thực hiện trên cơ sở “hợp đồng giữa các thế hệ”, thanh toán bảo hiểm trên nguyên tắc phụ thuộc, trong đó thế hệ lao động trẻ đóng những khoản tài chính để cung cấp bảo hiểm hưu trí cho thế hệ già Mặc dù, trong những năm gần đây, hình thức thanh toán bảo hiểm kiểu này đang được cải cách theo hướng linh hoạt hơn, nhưng nó vẫn chủ yếu được dựa trên sự đóng góp tài chính của ba bên: người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước
Do những áp lực lớn về cơ cấu tuổi thọ dân số cũng như gánh nặng hưu trí vào năm 2001 chính phủ Đức đã ban hành đạo luật cải cách hưu trí mới với mục tiêu là ổn định các tỷ lệ đóng góp trong quỹ hưu trí Theo luật năm 2001 tỷ lệ đóng góp trong hệ thống hưu trí công cộng sẽ ở mức 20% vào năm 2020 và 22% vào năm 2030 Để đạt được mục tiêu này, phải giảm dần lợi ích hưu trí ở mức từ 70% thu nhập trung bình vào năm 2000 xuống 67% vào năm 2030 Sự sụt giảm quỹ hưu trí công cộng sẽ được
bù đắp bằng các nguồn quỹ hưu trí tư nhân vào năm 2004, cải cách hưu trí lại được tiến
Trang 17Cải cách năm 2004 nhằm vào việc tăng độ tuổi nghỉ hưu chính thức từ 65 tuổi lên 67 tuổi vào năm 2035 và tiếp tục khẳng định tỷ lệ đóng góp vào hệ thống hưu trí công cộng ở mức 20% vào năm 2020 và 22% vào năm 2030.[ 51]
2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, thuật ngữ “ASXH” đã xuất hiện vào những năm 70 trong một số cuốn sách nghiên cứu về pháp luật của một số học giả Sài Gòn Sau năm 1975, thuật ngữ này được dùng nhiều và đặc biệt là từ năm 1995 trở lại đây nó được dùng khá rộng rãi hơn Thuật ngữ “ASXH” thường được các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu và những người làm công tác xã hội nhắc đến nhiều trong các cuộc hội thảo về chính sách
xã hội, trên hệ thống thông tin đại chúng cũng như trong các tài liệu, văn bản dịch Tuy nhiên, hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về ASXH như là “bảo đảm xã hội”,
“bảo trợ xã hội”, “an toàn xã hội” hoặc là “BHXH” nhưng có quan niệm khác lại cho rằng: “ASXH” là bao trùm các vấn đề nêu trên
Trong những năm 1980, các nghiên cứu về CSXH và phúc lợi xã hội được tiến
hành nghiên cứu với hai đề tài chính: “ Chính sách xã hội và quản lý xã hội ở cấp nông
thôn và đô thị” (1983-1985) và đề tài “ CSXH ở Việt Nam và các nước xã hội chủ nghĩa” (1987-1989) Đề tài nằm trong khuôn khổ hoạt động hợp tác quốc tế của 8 nước
xã hội chủ nghĩa Có thể nói đây là những nghiên cứu đầu tiên về CSXH ở Việt Nam, tuy chưa có được những cơ sở lý luận thật sự vững chắc về lĩnh vực CSXH và phúc lợi
xã hội, nhưng những thành quả đó vẫn còn khá nổi bật Các bài viết về CSXH như “
Quản lý xã hội ở cấp phường thành phố Hà Nội” ( Viện Xã hội học, 1985), “ Chính sách xã hội ở Việt Nam” ( Viện Hàn Lâm Khoa học Đức, 1989) đã mang lại những
thông tin quan trọng trong khoảng thời gian thiếu hụt thông tin về chính sách xã hội ở thời kỳ đầu của Việt Nam
Nửa đầu sau năm 1980 đến năm 1990, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế xã hội
và những chuyển biến bước đầu đến Đổi Mới vấn đề CSXH thu hút nhiều sự chú ý
Trang 18trong giới nghiên cứu và người làm chính sách Các đề tài nghiên cứu “ Tầm quan
trọng của việc tổ chức lại hệ thống ASXH ở nông thôn trong điều kiện mới và những đường nét chính” (1990) “ Sự cần thiết cấp bách của một quan điểm lý luận chủ đạo mới về hệ thống CSXH quốc gia” (1991) đã chỉ ra những mục tiêu cần hướng tới trong
lĩnh vực CSXH và ASXH làm rõ cơ sở lý luận, xây dựng nội dung lý thuyết Tuy nhiên các nghiên cứu thời điểm này còn thiếu sự kết nối hữu cơ giữa tri thức, lý thuyết và phương pháp thực nghiệm, nghiên cứu dựa trên kiểu nghiên cứu kinh nghiệm truyền thống Từ năm 1992 trở đi, các nghiên cứu đã dần cố gắng chứng minh tầm quan trọng của học thuyết CSXH Việt Nam sang nền kinh tế thị trường tất yếu đòi hỏi phải khẩn trương xây dựng lại học thuyết CSXH cho đất nước Nhiều nghiên cứu đã khái quát
được thực trạng CSXH thời kỳ này Công trình “ Luận cứ khoa học cho việc đổi mới
CSXH” (1994) thuộc đề tài nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Nhà nước “Những luận cứu khoa học cho việc đổi mới CSXH và cơ chế quản lý việc thực hiện CSXH”
(KX.04) với 17 đề tài nhánh tập trung vào phân tích thực trạng, nguyên nhân, dự báo chiều hướng phát triển, hình thành nhận thức mới và hệ quan điểm với từng đối tượng được nghiên cứu thuộc hệ tống CSXH để từ đó bước đầu đề xuất một số kiến nghị về việc tiếp tục đổi mới bổ sung hoàn thiện các CSXH của Đảng và Nhà nước trong tình hình hiện nay
GS.TS Bùi Thế Cường- người được coi là một trong những Nhà xã hội học đầu tiên của Việt Nam nghiên cứu về ASXH đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về
ASXH và phúc lợi xã hội Trong nghiên cứu“ Người có tuổi và hệ thống ASXH” năm
1992 đăng trên tạp chí xã hội học đã phân tích những vấn đề cơ bản cả lý thuyết và kết quả thực nghiệm về nghiên cứu các vấn đề xã hội trong xã hội học Theo đó bài viết tập trung vào phân tích nội dung cơ bản đó là: Sự khác biệt mang tính so sánh giữa ASXH trong xã hội nông nghiệp truyền thống và xã hội sau cách mạng công nghiệp của nhóm người có tuổi Trong phần phân tích các kết quả nghiên cứu bài viết đã nhấn mạnh đến
Trang 19ASXH trong hai thời kỳ đối với nhóm người có tuổi Theo cách nhìn xã hội học, bài viết này đã chỉ ra những khó khăn, khác biệt căn bản của nhóm người có tuổi ở Việt Nam sống giữa hai không gian đô thị và nông thôn về ASXH Đây có thể coi là một nghiên cứu mang tính khái quát, có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển của các CSASXH đối với nhóm người có tuổi hiện nay.[2]
Một nghiên cứu khác của GS.TS Bùi Thế Cường cùng cộng sự nghiên cứu về tuổi
già Việt Nam, cuốn sách: Trong miền ASXH- Nghiên cứu về tuổi già Việt Nam là kết
quả thu được từ các nghiên cứu lớn, đại diện cho vùng hoặc quốc gia Kết cấu của cuốn sách gồm 6 phần Phần 1 tác giả đề cập đến già hóa dân số và đáp ứng chính sách Phần 2 đề cập đến các vấn đề của người cao tuổi Việt Nam như: học vấn, hôn nhân, lao động, thu nhập, hoàn cảnh kinh tế, nhà ở, tiện nghi và tác động của đổi mới đến xã hội
và người già, những thái độ liên quan đến giới Phần 3 tập trung vào phân tích hiện trạng nguồn nhân lực vật chất của người cao tuổi đồng bằng sông Hồng hiện nay thể hiện ở 3 nguồn cơ bản là: Tự lập, giúp đỡ con cái và bảo trợ xã hội của Nhà nước Phần
4 tác giả tập trung phân tích ảnh hưởng mô hình hóa hai loại khác biệt vùng và khác biệt tộc người tới những dàn xếp đời sống gia đình Phần 5 là bức họa về người cao tuổi nhìn từ quan điểm của người già Phần 6, tác giả tập trung phân tích hai tứ giác của phúc lợi tuổi già, từ đó rút ra bốn điểm then chốt về tuổi già Việt Nam hôm nay Đây được coi là một nghiên cứu tổng quan duy nhất về người cao tuổi được thực hiện ở Việt Nam ở đến thời điểm nghiên cứu.[4]
Năm 1997 cuốn sách “ASXH và các vấn đề xã hội” do cố tác giả Nguyễn Thị
Oanh chủ biên được xem là giáo trình giảng dạy trong Trường đại học Mở Thành phố
Hồ Chí Minh Trong đó bao gồm hai phần là ASXH và các vấn đề xã hội được trình bày một cách ngắn gọn súc tích nhưng có tính khái quát cao Bên cạnh việc giới thiệu
lý thuyết, tác giả cũng dẫn chứng những dữ liệu thực nghiệm để chứng minh cho nhận định Khi trình bày về các vấn đề xã hội, tác giả đã đưa ra những vấn đề mà hiện nay vẫn đang còn nguyên tính thời sự như ma túy, mại dâm, tội phạm, HIV… Tuy nhiên,
Trang 20đây là dạng tài liệu căn bản mang tính giới thiệu về mặt lý thuyết và phục vụ cho công tác giảng dạy nên tính bàn luận vẫn còn bỏ ngỏ.
Mạc Văn Tiến(2005) nghiên cứu hệ thống ASXH theo hướng “ ASXH và phát
triển nguồn nhân lực” Đây là tuyển tập các công trình nghiên cứu và bài báo khoa học
giai đoạn 1993-2004 Với hơn 100 bài viết, tác phẩm này đã đề cập đến nhiều nội dung
và khía cạnh khác nhau của ASXH và phát triển nguồn nhân lực Trong đó, nhiều vấn
đề thể hiện tính sự báo chính xác trong thực tiễn về hình thành quỹ BHXH, vấn đề hình thành hệ thống hoạt động sự nghiệp BHXH… cũng có những vấn đề đang hoàn thiện như bảo hiểm thất nghiệp, BHXH tự nguyện
Năm 2006, phòng Xã Hội Học Dân số, Viện Xã Hội Học thực hiện nghiên cứu trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu khoa học của Viện Khoa học Xã hội Việt
Nam về ASXH, đề tài: “ Những yếu tố quyết định khả năng tiếp cận BHYT ở Việt
Nam“ đã phân tích, đánh giá thực trạng BHYT ở Việt Nam- một chiều cạnh cơ bản của
ASXH Báo cáo này đi sâu tìm hiểu các yếu tố nhân khẩu và kinh tế- xã hội quyết định khả năng tiếp cận BHYT trong các nhóm dân cứ cơ bản hiện nay Từ những kết quả phân tích các số liệu điều tra quốc gia hiện có về BHYT, đề tài đã đưa ra những đề xuất một số định hướng chính sách nhằm nâng cao diện che phủ của BHYT trong các nhóm đối tượng nghèo ở nước ta
Nguyễn Hải Hữu(2007) đã khái niệm những lý luận chung về ASXH trong “
Giáo trình nhập môn ASXH” với các khái niệm, mô hình, trường phái, khung lý thuyết
tổng thể về ASXH với mục đích, chức năng, cấu trúc, vai trò, các thể chế và mối quan
hệ của nó qua đó phân tích các thể chế chính sách, thể chế tài chính và thể chế tổ chức cán bộ của hệ thống ASXH Việt Nam Cũng nhằm hoàn thiện lý luận chung về ASXH
trong bối cảnh mới, nhóm tác giả Nguyễn Văn Định chủ biên (2008) thông qua “ Giáo
trình ASXH” đã tổng kết những vấn đề lý luận cơ bản về ASXH, mỗi vấn đề lý luận
được liên hệ với thực tế Việt Nam và các nước trên thế giới
Trang 21Nhóm tác giả Phạm Văn Sáng, Ngô Quang Minh, Bùi Văn Huyền, Nguyễn Anh
Dũng (2009) đã công bố công trình nghiên cứu về “ Lý thuyết và mô hình ASXH- Phân
tích thực tiễn ở Đồng Nai” Đây là một công trình nghiên cứu bổ sung lý luận về hệ
thống ASXH tại Việt Nam dựa trên những đánh giá, phân tích thực tiễn địa phương Cụ thể ngoài việc trình bày những bất cập, xu hướng vận động và kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và phát triển hệ thống ASXH nhìn từ đối tượng hưởng thụ và những trụ cột chính của hệ thống ASXH ở Đồng Nai như: BHXH, BHYT, trợ cấp xã hội và xóa đói giảm nghèo Tuy những lý luận trên được khái quát từ tình hình ở Đồng Nai nhưng nó
có tính bao quát và giá trị tham khảo cao khi đối chiếu với những đánh giá, phân tích
hệ thống ASXH của nước ta
Đàm Hữu Đắc cùng nhóm biên soạn (2010) đã đưa ra kết quả về “ Chính sách
phúc lợi xã hội và phát triển dịch vụ xã hội- Chăm sóc người cao tuổi trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa và hội nhập” dựa trên nghiên cứu đề tài khoa
học độc lập cấp nhà nước “ Nghiên cứu chính sách phúc lợi xã hội và phát triển dịch
vụ xã hội chăm sóc người cao tuổi trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập” đã chỉ ra những khoảng cách về thể chế chính sách, tài chính, tổ
chức, nhân lực và nhận thức so với yêu cầu hoàn thiện hệ thống phúc lợi xã hội dành cho người cao tuổi
Tiếp đến là bài viết về “ Hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam: Thực trạng và
định hướng phát triển” Nguyễn Hữu Dũng( 2010) đã phân tích và chỉ ra được thực
trạng hệ thống ASXH ở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra định hướngCSASXH của Việt Nam trong thời gian tới Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích cáckhái niệm ASXH
do Liên hiệp quốc và ASEAN đưa ra, tác giả đã chỉ ra được phạm vi bao phủ của CSASXH có phạm vi bao phủ rộng thể hiện ở chính sách thị trường lao động và việc làm, chínhsách BHXH và BHYT, chính sách trợ giúp xã hội và chương trình mạng lưới antoàn xã hội Bên cạnh đó cũng đưa ra được cái nhìn khái quát chung về mặt hạn chế của hệthống CSASXH ở Việt Nam như thiếu tính hệ thống, thiếu sự liên kết hỗ trợ lẫn
Trang 22nhau, tỷ lệ bao phủ còn thấp để từ đó lựa chọn cách tiếp cận phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước [8]
Thông qua công trình nghiên cứu “ Khuôn khổ xây dựng tổng thể quốc gia về
ASXH ở Việt Nam” của Patricia Justino, “ Tạo việc làm cho nữ lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa- Phân tích tình hình tại Hà Nội” của Trần Thị Thu,
NXB Lao động xã hội, 2003, hay một số nghiên cứu khác đã tập trung vào vấn đề
ASXH trong nền kinh tế thị trường Đặc biệt trong những năm qua, Ban biên tập Chiến
lược ASXH Việt Nam thời kỳ 2011-2020 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đưa
ra khái niệm ASXH: “ ASXH là một hệ thống các chính sách và chương trình do Nhà nước, các đối tác xã hội thực hiện nhằm bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, sức khỏe,
và các phúc lợi xã hội, nâng cao năng lực của cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng trong quản lý và kiểm soát các rủi ro về mất việc làm, tuổi già, ốm đau, thiên tai, chuyển đổi
cơ cấu, khủng hoảng kinh tế, dẫn đến mất thu nhập và làm giảm khả năng tiếp cận đến các dịch vụ xã hội cơ bản” Khái niệm này được sự đồng thuận cáo của các cấp và người dân
Các nghiên cứu trong nước cũng chỉ ra những hạn chế rủi ro cần thực hiện qua hệ thống chính sách ASXH sao cho chúng đáp ứng được 3 nội dung cơ bản: 1) Phòng ngừa rủi ro, 2) Giảm thiểu rủi ro, 3) Khắc phục rủi ro
Bên cạnh những nghiên cứu về lý luận liên quan tới ASXH và phúc lợi xã hội, nhiều học giả đã nghiên cứu và khái quát khía cạnh này một cách cụ thể Bế Quỳnh Nga (2012) đã đưa ra một bức tranh tổng thể về BHYT Việt Nam thông qua tham luận
“ BHYT Việt Nam giai đoạn 2000-2011: Thực trạng và vấn đề” Tác giả Nguyễn Đức Chiện lại tìm hiểu “ Trợ giúp xã hội ở Việt Nam hơn môt thập kỷ qua: Từ góc nhìn xã
hội học” để thấy được toàn cảnh hoạt động trợ giúp xã hội trong nước thông qua trợ
giúp xã hội thường xuyên và trợ giúp xã hội đột xuất từ đó chỉ ra những hạn chế của hệ
thống này Tác giả Bùi Thị Thanh Hà (2012) lại tập trung đánh giá “ Thực hiện ASXH
Trang 23đánh giá việc thực hiện các chính sách ASXH theo góc nhìn giới Dương Chí Thiện (
2012) lại tập trung nghiên cứu “ ASXH và lao động di cư từ nông thôn ra đô thị”
Nghiên cứu này phân tích những yếu tố chủ yếu liên quan đến ASXH của lao động di
cư từ nông thôn ra đô thị, qua đó đề xuất một số giải pháp về ASXH đối với lao động
di cư từ nông thôn ra đô thị Một nghiên cứu có những đặc điểm chung về khách thể
với 2 nghiên cứu trên là nghiên cứu của tác giả Hoàng Bá Thịnh (2011) về “ Lao động
nữ di cư làm việc ở khu vực phi chính thức và mức độ tiếp cận ASXH” Nghiên cứu này
chỉ ra một cách hệ thông các khó khăn, hạn chế của lao động nữ di cư trong bối cảnh thị trường và môi trường lao động hiện nay, tiếp đó là đánh giá mức độ tiếp cận ASXH của nhóm này tại các khu biệt: Chính sách bảo hiểm, BHYT, dịch vụ giáo dục và y tế…
Trong khi đó tác giả Mai Ngọc Cường ( 2013) trong cuốn sách sách “Về ASXH ở
Viê ̣t Nam giai đoạn 2012- 2020” đã chỉ ra thực tra ̣ng ASXH ở Viê ̣t Nam hiê ̣n nay thong
qua hai khía ca ̣nh : sự phát triển của tru ̣ cô ̣t ASXH đóng - hưởng và các chương trình ASXH không dựa trên đóng góp Tác giả đưa ra những đánh giá về thành tựu , hạn chế trong viê ̣c thực hiê ̣n CSASXH hiê ̣n nay , đồng thời phân tích nguyên nhân chủ yếu của những ha ̣n chế đó Các nguyên nhân chính tập trung ở vấn đề môi trường luật pháp và
cơ chế, chính sá ch BHXH ; sự biến đổi của cư cấu dân số , lao đô ̣ng và tình hình thu nhâ ̣p thấp của lao đô ̣ng nông nghiê ̣p, lao đô ̣ng phi chính thức; công tác tổ chức và năng lực đô ̣i ngũ cán bô ̣ thực hiê ̣n CSASXH.[6]
Khác với hướng nghiên cứu lý luận, Ngô Thị Phượng nghiên cứu hệ thống ASXH
từ quan niệm về sự chênh lệch liên quan đến quyền tiếp cận hệ thống ASXH giữa hai
nhóm cư dân đó là khu vực thành thị và nông thôn thông qua bài viết “ Tiếp cận hệ
thống ASXH: Sự chênh lệch giữa cư dân khu vực thành thị và nông thôn ở Việt Nam hiện nay” Từ quan niệm về ASXH và tiếp cận ASXH, bài viết tập trung phân tích sự
chênh lệch trong tiếp cận hệ thống ASXH giữa hai nhóm đối tượng thể hiện ở một số vấn đề như: Mức độ đối mặt và hậu quả từ những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống,
Trang 24mức độ tham gia đóng góp vào nguồn tài chính của hệ thống ASXH, sự hưởng lợi từ
hệ thống ASXH Từ đó dự báo sự chênh lệch đó trong tương lai mà nguyên nhân là do
sự tác động của chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, biến đổi khí hậu, môi trường sống, hệ thống chính sách, chương trình cụ thể đối với nông dân và hạn chế của họ trong nhận thức về hệ thống ASXH Thông qua việc xây dựng những định hướng khắc phục sự chênh lệch trên đây, tác giải đã đưa ra những mô hình ASXH đảm bảo sự hưởng lợi của những người yếu thế Đây là một trong những phân tích cho thấy được những mặt hạn chế của các chính sách hỗ trợ hiện hành ở nước ta.[19]
Năm 2013, nhóm tác giả của Viện Khoa học Lao động và Xã hội phối hợp với cơ
quan Hợp tác Phát triển Quốc tế Liên Bang Đức( GIZ) đã xây dựng cuốn sách “ Phát
triển hệ thống ASXH ở Việt Nam đến năm 2020” với kết cấu gồm hai phần: Phần 1-
những vấn đề chung về ASXH, nội dung chủ yếu của phần này bàn đến khái niệm, chức năng, phạm vi của ASXH, nguyên tắc xây dựng hệ thống ASXH , các mô hình ASXH tiêu biểu và các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống ASXH… Phần 2- ASXH Việt Nam giai đoạn 2012- 2020 gồm 6 chương; Chương 1 bàn đến những vấn đề chung của
hệ thống ASXH Việt Nam, chương 2, 3, 4, 5, 6 tác giả tiếp tục nghiên cứu, đánh giá vai trò, mục tiêu, các chính sách hỗ trợ tạo việc làm, chính sách trợ giúp xã hội, chính sách bảo hiểm… và định hướng các chính sách này ở Việt Nam Đây là một trong những tài liệu có giá trị khoa học, những kết quả nghiên cứu của cuốn sách cho thấy một hệ thống ASXH phát triển trong tương lai
Tất cả các nghiên cứu này đều có ý nghĩa đối với hoàn thiện hệ thống CSASXH trong quá trình phát triển CSXH và phúc lợi xã hội Tuy nhiên phần lớn các nghiên cứu này chưa đề cập nhiều đến các đối tượng đặc biệt, mới chỉ là nghiên cứu được thực hiện một cách tản mạn, nhỏ lẻ, chưa có hệ thống Mặt khác đã có rất nhiều chính sách dành cho NCC với cách mạng và NNCT, nhưng đa phần các nghiên cứu về NCC, gia đình NCC với cách mạng và NNCT còn hạn chế Do vậy đề tài nghiên cứu về ASXH
Trang 25về phương pháp nghiên cứu chuyên biệt dành cho đối tượng dễ bị tổn thương và đối tượng NCC
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài được thực hiện góp phần làm sáng tỏ các lý thuyết xã hội học như thuyết nhu cầu, thuyết chức năng …đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu của xã hội học như phương pháp thu thập thông tin, phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi…chỉ ra những bằng chứng thực tiễn để vận dụng có hiệu quả nhằm chứng minh mối quan hệ giữa các lý thuyết xã hội học đối với các chính sách về ASXH
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Các kết quả của đề tài sẽ góp phần cung cấp những bằng chứng thực tiễn, đánh giá được thực trạng tiếp cận các DVASXH của gia đình NCC với cách mạng và NNCT hiện nay Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tiếp cận đó tại địa phương Từ
đó cung cấp những khuyến nghị để nâng cao hơn nữa hiệu quả của các chính sách này
4.1 Mục đích nghiên cứu
Luâ ̣n văn nhằm tìm hiểu viê ̣c tiếp câ ̣n các DVASXH của gia đình NCC và NNCT huyê ̣n Yên Mỹ thông qua sự hỗ trợ của Nhà nước , từ đó đưa ra những giải pháp , khuyến nghi ̣ nhằm nâng cao hiê ̣u quả của các CSASXH đối với 2 nhóm đối tượng này tại địa bàn
4.2 Nhiê ̣m vụ nghiên cứu
Để đa ̣t được mu ̣c đích nghiên cứu trên, luâ ̣n văn có các nhiê ̣m vu ̣ chính như sau:
- Phân tích mô ̣t số khái niê ̣m có liên quan đến đề tài
- Xây dựng cơ sở lý luâ ̣n và cơ sở thực tiễn cho đề tài
Trang 26- Phân tích thực trạng tiếp cận các DVASXH đối với gia đình NCC với cách mạng và NNCT dựa trên các chính sách hỗ trợ của Nhà nước
- Xem xét sự ảnh hưởng của chính sách ASXH đối với đời sống gia đình NCC với cách mạng và NNCT trên 3 phương diện bao gồm: 1) Thu nhập, 2) CSSK, 3) Giáo dục
- Đưa ra giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của các chính sách ASXH đối với gia đình NCC với cách mạng và NNCT tại địa bàn nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
- ASXH đối với gia đình NCC với cách mạng và NNCT
5.2 Khách thể nghiên cứu
- NCC với cách mạng: Thương binh, bệnh binh, người được tặng huân chương kháng chiến, người bị địch bắt, tù đầy…
- Gia đình NCC: Cha, mẹ, con, họ hàng…
- NNCT: Nạn nhân nhiễm CĐHH, con đẻ của người hoạt động cách mạng bị nhiễm CĐHH
- Cán bộ phòng chính sách, phòng Lao động và Thương binh xã hội của 3 xã và huyện Yên Mỹ
5.3 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: ASXH đối với gia đình NCC với cách mạng và NNCT là vấn đề rộng
do vậy đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng tiếp cận các DVASXH và ảnh hưởng của CSASXH đối với gia đình NCC với cách mạng và NNCT trên địa bàn huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên
- Đối tượng: NNCT bao gồm những người chịu hậu quả trực tiếp và gián tiếp của
chiến tranh, do vậy đối tượng này rất đông đảo Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chủ yếu điều tra những nạn nhân nhiễm CĐHH và nạn nhân là
Trang 27- Không gian: Đề tài nghiên cứu đã lựa chọn 3 xã để tiến hành điều tra Phương
pháp chọn xã đại diện chọn ngẫu nhiên theo khoảng cách cụ thể 3 xã trên 17 xã được chọn để thực hiện cụ thể là: Xã Lý Thường Kiệt, Xã Trung Hưng và thị trấn Yên Mỹ- huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên
- Thời gian: Từ tháng 12/2012 đến tháng 3/2014
6.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực tế hiện nay các gia đình NCC và NNCT có được tiếp cận các DVASXH( nhà ở, BHYT, CSSK, giáo dục…) không?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quá trình tiếp cận DVASXH của nhóm này?
6.2 Giả thuyết nghiên cứu
- Đa số gia đình NCC với cách mạng và NNCT chưa tiếp cận được với các DVASXH
- Do CSASXH còn nhiều bất cập và chưa thực sự hiệu quả
Luâ ̣n văn sử du ̣ng mô ̣t phần bảng hỏi nghiên cứu từ đề tài cấp Nhà nước về “ Đi ̣nh
hướng hoàn thiê ̣n chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội trong điều kiê ̣n mới” do
PGS.TS Nguyễn Thi ̣ Kim Hoa làm chủ nhiệm đề tài Trong quá trình nghiên cứu , điều tra thu thâ ̣p dữ liê ̣u bảng hỏi ta ̣i xã Lý Thường Kiê ̣t , huyê ̣n Yên Mỹ , tỉnh Hưng Yên học viên đã tham gia cùng đoàn nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Thi ̣ Thu Hà vào tháng 7/2013 Tuy nhiên để phù hợp với mu ̣c đích nghiên cứu và đă ̣c điểm của 3 xã nghiên cứu trong pha ̣m vi luâ ̣n văn , học viên đã bổ sung , chỉnh sửa một số câu hỏi trong bảng hỏi nghiên cứu phục vụ cho luận văn Học viên tiến hành điều tra lần thứ 2 tại xã Lý Thường Kiê ̣t và tiến hành thu thâ ̣p thông tin ở xã Trung Hưng và Thi ̣ trấn Yên Mỹ
Trang 287.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Tác giả luận văn đã tiến hành đọc và phân tích các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu từ các thông tin công bố chính thức của các cơ quan Nhà nước, các nghiên cứu của cá nhân, tổ chức về phát triển kinh tế, hệ thống ASXH, xóa đói giảm nghèo cụ thể là:
- Báo cáo tình hình phát triển kinh tế xã hội của huyện
- Báo cáo tình hình thực hiện chính sách ASXH đối với nhóm đối tượng NCC của
huyện
- Báo cáo tình hình phát triển kinh tế xã hội của 3 xã nghiên cứu
- Các văn bản luật pháp của Việt Nam có liên quan
- Tạp chí xã hội học, báo điện tử, báo cáo có liên quan…
7.2 Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Với mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài đã lựa chọn 240 người trả lời trong hộ điều tra (trong đó NCC, gia đình NCC với cách mạng là 179 người, NNCT là 61 người) để tiến hành điều tra khảo sát Phỏng vấn đã được thực hiện trên cơ sở một bảng
hỏi được chuẩn hóa gồm các câu hỏi và ghi nhận lại thông tin từ người trả lời (Mẫu này
được đính kèm trong phụ lục luận văn) Nhóm nghiên cứu tiến hành phỏng vấn tại 3 xã
là thị trấn Yên Mỹ( 80 hộ), xã Lý Thường Kiệt( 80 hộ), xã Trung Hưng( 80 hộ), với cơ cấu mẫu phân bổ theo nghề nghiệp, độ tuổi, giới tính khác nhau tại địa bàn Kết quả điều tra được thể hiện như sau:
Đặc điểm nhân khẩu
Về giới tính: Trong tổng số 240 người trả lời thuộc hộ gia đình được hỏi, kết quả
thu được có 131 nam và 109 nữ, tương đương tỷ lệ 54,6% người trả lời là là nam giới
và có 49,4% nữ giới Bên ca ̣nh đó có 61 người là NNCT và 179 người là gia đình NCC
Trang 29Về độ tuổi: Trong tổng số những người được hỏi về độ tuổi, lần lượt có 43 người
( chiếm17,9%) người trả lời là ở độ tuổi dưới 30, 63 người ( chiếm 26,2%) người trả lời là ở nhóm độ tuổi từ 30 đến 40 tuổi, 18 người trả lời là ở nhóm tuổi từ 40 đến 50 tuổi ( chiếm 7,5%), 37 người trả lời là thuộc nhóm tuổi từ 50 đến 60 tuổi ( chiếm 15,4%), 47 người trả lời là ở nhóm độ tuổi từ 60 đến 70 tuổi ( chiếm 19,6%), 32 người trả lời là ở nhóm tuổi trên 70 tuổi( chiếm 13,3%)
Về trình độ học vấn: Phần lớn người trả lời đều có trình độ học vấn cao, tỷ lệ cao
nhất là nhóm người trả lời có trình độ trung học phổ thông chiếm 32,2% , tiếp đến là tỷ
lệ học vấn ở mức tiểu học 20,9%, mức đại học và trên đại học chiếm lần lượt là 6,1%
(Nguồn: Khảo sát tại địa bàn điều tra, 11/2013)
Về nghề nghiệp của người trả lời: Với vị trí địa lý và điều kiện kinh tế khác nhau
giữa 3 địa bàn điều tra do vậy kết quả thu được rất đa dạng về nghề nghiệp, trong tổng
số những người được hỏi 33,9% người trả lời là nông dân, 6,3% là kinh doanh, 4,6% là
giáo viên Tỷ lệ cụ thể của các ngành nghề khác được thể hiện trong biểu đồ 1.1
Trang 30Biểu đồ 1.1: Nghề nghiệp của người được hỏi Đơn vị: %
(Nguồn: Khảo sát tại địa bàn nghiên cứu, 11/2013)
Trong tổng số 240 người trả lời có 14 người là cán bộ hưu chí chiếm 5,9%, và 6
người là cán bộ chính quyền đoàn thể (chiếm 2,5%)
Đặc điểm kinh tế
Thu nhập của hộ: Thu nhập là yếu tố đầu vào để sản xuất kinh doanh, đảm bảo
đời sống, nó phản ánh sự phân tầng của các nhóm trong xã hội
Biểu đồ 1.2 : Tổng thu nhập bình quân của hộ/ thángĐơn vị: %
33.9
4.2
5.9 4.6
1.7
6.3 4.2 2.5
36.8
nong dan cong nhan can bo huu tri giao vien
bo doi/ cong an kinh doanh/ buon ban
ky su can bo chinh quyen/ doan the khac
Trang 31Tổng thu nhập bình quân của các hộ được chia theo 3 cấp: Tổng thu nhập dưới 5 triệu chiếm 37,1 %, từ 5 triệu đến 10 triệu chiếm 36,7%, từ 10 triê ̣u trở lên chiếm 26,2%
Các nhóm đối tượng chủ yếu là nhóm cao tuổi , sức khỏe yếu , họ trông chờ vào
trợ cấp của Nhà nước.( Xem biểu đồ 1.3.)
Biểu đồ 1.3 Nguồn thu nhập của hộ điều tra/ 1 thángĐơn vị: %
(Nguồn: Khảo sát tại địa bàn nghiên cứu, 11/2013)
Kết quả cho thấy chiếm tỷ lệ cao nhất là trợ cấp xã hội 97,1%, sản xuất nông nghiệp 67,9% ngành nghề khác 2,5% Ta biết rằng lãi xuất trong sản xuất nông nghiệp thấp, đồng thời nó phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên, do vâ ̣y tính bền vững không cao
Mă ̣t khác tuy trợ cấp xã hội và sản xuất nông nghiệp có cơ cấu cao trong tổng thu nhập của hộ, nhưng xét về thu nhập 1 người 1 tháng chia theo ngành sản xuất kinh doanh chính của hộ thì ngành buôn bán, dịch vụ thu nhập bình quân cao nhất, gấp khoảng 3 lần ngành sản xuất nông nghiệp Điều này có thể khẳng đi ̣nh tuy là ngành sản xuất chính nhưng sản xuất nông nghiệp mang lại thu nhập rất thấp, nó ảnh hưởng lớn đến đời sống của hộ
22.5 97.1 13.8 10.4
2.5
Trang 32Nguồn chi tiêu của hộ : Chi tiêu chính là chỉ báo đo lường đời sống của hộ
Chicủa hộ có thể đánh giá trong việc đảm bảo chất lượng cuộc sống
Bảng 1.2 Ba nguồn chi chủ yếu của hộ/ tháng
(Nguồn: Khảo sát tại địa bàn nghiên cứu, 11/2013)
Trong tổng số 240 người được hỏi về 3 nguồn chi chủ yếu của họ trong 1 tháng thì kết quả cho thấy: Chi tiêu cho hiếu hỷ chiếm 84,6%, chi ăn uống chiếm 69,6%, chi phí cho sản xuất kinh doanh chiếm 39,2% còn lại là các khoản chi tiêu khác
Giá trị đồ dùng của hộ: Giá trị đồ dùng sinh hoạt chính là một phần tài sản xác
định định mức sống thông qua đó đánh giá chất lượng cuộc sống của hộ
Trang 33Bảng 1.3 Giá trị đồ dùng gia đình Đơn vị: %
(Nguồn: Khảo sát địa bàn nghiên cứu, 11/2013)
Qua số liệu ở bảng 1.3cho thấy các hộ có giá trị đồ dùng lâubền là ti vi màu
chiếm 98,4%, thấp nhất là ôtô chiếm 11,2% và ghe thuyền chiếm 1,7% Đây đều là những đồ dùng cần thiết và rất phổ biến đối với các hộ gia đình trong đó có gia đình NCC và NNCT, nó vừa là đồ dùng sinh hoạt, vừa là phương tiện kiếm sống Với kết quả điều tra này cho thấy đời sống gia đình NCC và NNCT đã được cải thiện, mức giá trị của các đồ dùng này là rất lớn, tỷ lệ phần trăm sử dụng cao Đây là tín hiệu đáng mừng cho việc đánh giá thực trạng đời sống NCC, gia đình NCC và NNCT trong việc tiếp cận các dịch vụ ASXH hiện nay
Trang 34Nguồn nước sử dụng : Nước sạch có vai trò hết sức quan trọng đối với sự sống
của con người, nước trong sinh hoạt được coi là một chỉ báo kinh tế của hộ
(Nguồn: Khảo sát tại địa bàn nghiên cứu, 11/2013)
Nhìn từ biểu đồ 1.4 trên ta thấy tỷ lệ các hộ sử dụng nước sạch là rất thấp, 65%
hộ điều tra sử dụng nguồn nước giếng khoan, 33,8% hộ điều tra được sử dụng nước máy, còn lại 1,2% tỷ lệ hộ sử dụng nước giếng đào Kết quả như vậy có thể suy rộng ra cho thấy số hộ được sử dụng nước sạch trên địa bàn huyện còn rất thấp, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người, gây ra các dịch bệnh khó lường
7.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Sau khi hoàn tất thu thập thông tin định lượng, nhằm tăng thêm phần chính xác, khách quan cho cuộc điều tra một đề cương phỏng vấn sâu đã được xây dựng, trong đó tiến hành phỏng vấn bán tiêu chuẩn với 10 trường hợp(dùng băng ghi âm) bao gồm:
- 4 phỏng vấn sâu dành cho 3 cán bộ phòng Lao động và Thương Binh xã hội của 3
Trang 35Thời lượng tiến hành phỏng vấn từ 30 đến 40 phút Và kết quả thu được đúng với mong đợi của tác giả
7.4 Phương pháp xử lý thông tin
Thông tin thu được từ bảng hỏi được xử lý trên máy tính bằng phần mềm xử lý thống kê SPSS phiên bản 16.0 for Window
Từ kết quả thu thập số liệu bằng các phương pháp định lượng và định tính, chúng tôi đã tiếp tục tóm tắt nội dung của các nghiên cứu đó theo trình tự logic của sự kiện, các nhận định, lập luận của các tác giả, xâu chuỗi các thông tin đã thu thập được theo ý nghĩa của chuỗi sự kiện, sau đó khái quát lên thành những luận điểm có ý nghĩa thực tiễn và được trình bày trong kết quả nghiên cứu của luận văn
Sơ đồ 1: Khung phân tích
Đặc điểm nhân khẩu xã hội
của nhóm điều tra: nghề
nghiệp, tuổi, giới tính, trình
độ học vấn, nơi cư trú…
Thực trạng tiếp cận các DVASXH:
Nhà ở, CSSK
và BHYT, giáo dục, việc làm và đào tạo nghề
Đời sống gia đình NCC và NNCT
Chính sách ASXH đối với gia
đình NCC và NNCT
Trang 36PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 An sinh xã hội
Từ những cách tiếp cận khác nhau, một số nhà khoa học đưa ra những khái niệm rộng - hẹp khác nhau về ASXH như:
Theo H Beveridge, nhà kinh tế học và xã hội học người Anh (1879 -1963), ASXH
là sự bảo đảm về việc làm khi người ta còn sức làm việc và bảo đảm một lợi tức khi người ta không còn sức làm việc nữa
Trong Đạo luật về ASXH của Mỹ, ASXH được hiểu khái quát hơn, đó là sự bảo đảm của xã hội, nhằm bảo tồn nhân cách cùng giá trị của cá nhân, đồng thời tạo lập cho con người một đời sống sung mãn và hữu ích để phát triển tài năng đến tột độ
TheoNgân hàng Thế giới (WB): ASXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp
cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập
Theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): ASXH là hình thức bảo vệ
mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, các cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động, mất sức lao động hoặc tử vong, cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình nạn nhân có trẻ em
Hiệp hội An sinh quốc tế (ISSA) coi ASXH là thành tố của hệ thống chính sách
công liên quan đến sự bảo đảm an toàn cho tất cả các thành viên xã hội chứ không chỉ
có công nhân Những vấn đề mà ISSA quan tâm nhiều trong hệ thống ASXH là chăm
Trang 37sóc sức khoẻ thông qua BHYT; hệ thống BHXH, chăm sóc tuổi già; phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ giúp xã hội
Ở Việt Nam, mặc dù ASXH là một lĩnh vực còn nhiều mới mẻ nhưng cũng đã
dành được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu về vấn đề này
Theo GS Hoàng Chí Bảo thì: ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá
nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho phát triển con người và xã hội ASXH
là những đảm bảo cho con người tồn tại (sống) như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách
GS.TS Mai Ngọc Cường lại cho rằng, để thấy hết được bản chất, chúng ta phải
tiếp cận ASXH theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khái niệm này.[6]
+ Theo nghĩa rộng: ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con người được
an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội
+ Theo nghĩa hẹp: ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu
khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ
em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch hoạ
Chiến lược ASXH Việt Nam 2011-2020: ASXH là hệ thống các chính sách và
chương trình do Nhà nước và các đối tác xã hội thực hiện nhằm bảo đảm mức tối thiểu
về thu nhập, sức khỏe và các phúc lợi xã hội, nâng cao năng lực của cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng trong quản lý và kiểm soát các rủi ro do mất việc làm, tuổi già, ốm đau, thiên tai, chuyển đổi cơ cấu, khủng hoảng kinh tế dẫn đến giảm hoặc bị mất thu nhập và giảm khả năng tiếp cận đến các dịch vụ xã hội cơ bản.[26]
Trong cuốn thuật ngữ ASXH (2011) của Viện Khoa học lao động và xã hội định
nghĩa: ASXHlà hệ thống các chính sách can thiệp của nhà nước (BHXH/trợ giúp xã
Trang 38hội) và tư nhân (các chế độ không theo luật định hoặc của tư nhân) nhằm giảm mức độ nghèo đói và tổn thương, nâng cao năng lực tự bảo vệ của người dân và xã hội trước những rủi ro hay nguy cơ giảm hoặc mất thu nhập, bảo đảm ổn định, phát triển và công bằng xã hội.[37]
Trên cơ sở phân tích các quan điểm về ASXH đã có, có thể thấy ASXH là những
can thiệp của Nhà nước và xã hội bằng các biện pháp kinh tế để hạn chế, phòng ngừa
và khắc phục rủi ro cho các thành viên trong cộng đồng do bị mất hoặc giảm thu nhập bởi các nguyên nhân ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.
Bản chất của ASXH là tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp cho tất cả
các thành viên trong trường hợp bị giảm, bị mất thu nhập hay khi gặp những rủi ro xã
hội khác CSASXH là một CSXH cơ bản của Nhà nước nhằm thực hiện chức
năngphòng ngừa, hạn chế và khắc phục rủi ro, bảo đảm an toàn thu nhập và cuộc sống
cho các thành viên trong xã hội do đó nó vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội và
nhân đạo sâu sắc
Về mặt cấu trúc trên góc độ khái quát nhất ASXH gồm những bộ phận cơ bản là:
BHXH: BHXH nhằm bảo đảm cuộc sống cho những người công nhân công
nghiệp và gia đình họ trước những rủi ro xã hội như ốm đau, tai nạn, mất việc làm…,
làm giảm hoặc mất thu nhập
Theo nghĩa hẹp BHXH: là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm, thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần bảo đảm an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ; đồng thời góp phần bảo đảm
an toàn xã hội
Trang 39Trợ giúp xã hội và ưu đãi xã hội: Đó là sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội về thu
nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình Trợ giúp xã hội là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng và xã hội bằng tiền hoặc bằng các điều kiện và phương tiện thích hợp để đối tượng được giúp đỡ có thể phát huy khả năng tự lo liệu cuộc sống cho mình và gia đình, sớm hòa nhập trở lại với cuộc sống của cộng đồng
1.1.2 Dịch vụ an sinh xã hội
Theo Dự thảo Chiến lược ASXH Việt Nam 2011-2020 thì dịch vụ xã hội cơ bản hay còn gọi là DVASXH là hệ thống cung cấp dịch vụ cho 9 nhóm nhu cầu của người dân và cộng đồng, gồm: (1) nhà ở; (2) nước sạch và vệ sinh môi trường; (3) điện sinh hoạt; (4) trường học; (5) trạm y tế; (6) chợ; (7) bưu điện, nhà văn hóa; (8) đường giao thông; và (9) tư vấn và trợ giúp phát lý Ngoài ra, (10) tiếp cận hệ thống bảo hiểm xã hội (BHXH) mà quan trọng nhất là chế độ hưu trí cũng là một nhu cầu thiết yếu của người dân để đảm bảo nguồn thu nhập cho người dân khi về già Đây là 10 nhóm nhu cầu thiết yếu và ở mức độ nhất định thì các dịch vụ ASXH này đều đã có ở khu vực đô thị nước ta.[26]
1.1.3 Người có công với cách mạng
Theo quy định tại Điều 32, Pháp lệnh NCC với cách mạng năm 2005, thì “Người
có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm”
Tại Điều 2, của Pháp lệnh này đã quy định: NCC với cách mạng là người hoạt động cách mạng trước ngày 1-1-1945; người hoạt động cách mạng từ ngày 1-1-1945 đến trước Tổng khởi nghĩa ngày19-8-1945; liệt sĩ; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động; thương binh, người hưởng chính sách như thương binh; bệnh binh; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm CĐHH;
Trang 40người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày; người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế; NCC giúp đỡ cách mạng.[ 46]
1.1.4 Gia đình người có công
Gia đình NCC gồm thân nhân của họ, cha mẹ đẻ, người có công nuôi NCC, vợ hoặc chồng, con của họ và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận [46]
1.1.5 Nạn nhân chiến tranh
NNCT là những người trực tiếp hoặc gián tiếp bị nạn hoặc phải chịu hậu quả của chiến tranh
Trong giới hạn đề tài nghiên cứu, NNCT là những người bị nhiễm CĐHH, con đẻ của người hoạt động cách mạng bị nhiễm CĐHH
1.1.6 Liệt sĩ và gia đình liệt sĩ
Điều 11, mục 3- Pháp lệnh ưu đãi NCC năm 2005 quy định: Liệt sĩ là người hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc bảo vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân, được Nhà nước truy tặng bằng “Tổ quốc ghi công”
Điều 14 mục 3 pháp lệnh ưu đãi NCC quy định: Gia đình liệt sĩ gồm các thân nhân liệt sĩ, cha mẹ đẻ, NCC nuôi liệt sỹ vợ hoặc chồng của liệt sĩ, con của liệt sĩ và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy“ Giấy chứng nhận gia đình liệt sỹ”.[ 46]
1.1.7 Thương binh và gia đình thương binh
Thương binh là quân nhân, công an nhân dân do chiến đấu, phục vụ trong kháng chiến bảo vệ tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế hoặc trong đấu tranh chống tội phạm, dũng cảm làm nhiệm vụ đặc biệt khó khăn nguy hiểm, vì lợi ích của Nhà nước và nhân dân