Mặc dù không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, song tác giả hi vọng rằng công trình nghiên cứu này sẽ cung cấp những thông tin về việc sử dụng vốn xã hội của nguồn nhân lực trẻ hiện
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRỊNH THỊ NGỌC DIỆP
VAI TRÒ CỦA VỐN XÃ HỘI TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ
(Nghiên cứu trường hợp tỉnh Nghệ An)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hồi Loan
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu "Vai trò của vốn xã hội đối với sự phát triển của nguồn nhân lực trẻ" (nghiên cứu trường hợp tỉnh Nghệ An) là đề tài nghiên cứu dựa trên kết quả khảo sát tại phường Cửa Nam và phường Lê Mao, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, trên cơ sở phân tích một phần dữ liệu của đề tài cấp nhà nước "Vai trò của vốn xã hội trong sự phát triển nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" do PGS.TS Nguyễn Hồi Loan làm chủ nhiệm đề tài Mặc dù không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, song tác giả hi vọng rằng công trình nghiên cứu này sẽ cung cấp những thông tin về việc sử dụng vốn xã hội của nguồn nhân lực trẻ hiện nay và vai trò của vốn xã hội trong sự phát triển của nguồn nhân lực trẻ Tác giả cũng tin tưởng và hi vọng báo cáo sẽ đem lại những kết quả hữu ích
về mặt xã hội
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới các thầy cô giáo, các cấp lãnh đạo Khoa Xã hội học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đặc biệt là PGS.TS Nguyễn Hồi Loan-người đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người đã tham gia vào nghiên cứu vì đã dành thời gian và nhiệt tình chia sẻ thông tin Nếu không có sự tham gia của họ, sẽ không thể có các hiểu biết mới về vai trò của vốn xã hội đối với sự phát triển của nguồn nhân lực trẻ
Nghiên cứu vẫn còn nhiều điểm chưa được hoàn chỉnh, rất mong nhận được
sự góp ý của các thầy cô
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Trịnh Thị Ngọc Diệp
Trang 41
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG 4
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 5
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 7
2.1 Những nghiên cứu về nguồn nhân lực 7
2.1.1 Các nghiên cứu về nguồn nhân lực trên thế giới 7
2.1.2 Các nghiên cứu về nguồn nhân lực ở Việt Nam 9
2.2 Những nghiên cứu về vốn xã hội 12
2.2.1 Những nghiên cứu về vốn xã hội trên thế giới 12
2.2.2 Những nghiên cứu về vốn xã hội ở Việt Nam 16
3 Ý nghĩa nghiên cứu 22
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 22
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 23
6 Câu hỏi nghiên cứu 24
7 Giả thuyết nghiên cứu 24
8 Phương pháp nghiên cứu 24
8.1 Phương pháp phân tích tài liệu 24
8.2 Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân 26
NỘI DUNG CHÍNH 27
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 27
1.1 Khái niệm công cụ của đề tài 27
1.1.1 Khái niệm vốn xã hội 27
1.1.2 Khái niệm nguồn nhân lực 27
1.1.3 Khái niệm nguồn nhân lực trẻ 28
1.1.4 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực trẻ 28
1.2 Các lý thuyết được áp dụng trong đề tài 29
1.2.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng của Talcott Parson 29
1.2.2 Lý thuyết vốn xã hội của Bourdieu 32
Trang 52
1.2.3 Lý thuyết Vai trò xã hội 34
1.3 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu 35
1.4 Khái lược về nguồn nhân lực trẻ Nghệ An và đặc điểm khách thể nghiên cứu 37
1.4.1 Khái lược về nguồn nhân lực trẻ ở Nghệ An hiện nay 37
1.4.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu 40
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VỐN XÃ HỘI CỦA NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ VÀ VAI TRÒ CỦA VỐN XÃ HỘI TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ 51
2.1 Thực trạng sử dụng vốn xã hội của nguồn nhân lực trẻ 51
2.1.1 Thực trạng việc tạo dựng vốn xã hội của nguồn nhân lực trẻ 51
2.1.2 Thực trạng việc duy trì, củng cố vốn xã hội của nguồn nhân lực trẻ 57
2.1.3 Thực trạng phát triển vốn xã hội của nguồn nhân lực trẻ 64
2.2: Vai trò của vốn xã hội trong việc phát triển nguồn nhân lực trẻ 67
2.2.1 Tích cực 67
2.2.1.1 Phát triển việc làm và cơ hội thăng tiến 67
2.2.1.2 Phát triển quá trình đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ 80
2.2.1.3 Tham gia các hoạt động xã hội 88
2.2.1.4 Phát triển nhu cầu cá nhân 91
2.2.2 Tiêu cực 95
2.2.2.1 Hiện tượng chảy máu chất xám 95
2.2.2.2 Vốn xã hội gây khó khăn trở ngại trong công việc 95
2.2.2.3 Vốn xã hội hạn chế sự sáng tạo và thể hiện cá tính cá nhân 98
2.3 Một vài yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng vốn xã hội để phát triển của nguồn nhân lực trẻ 100
2.3.1 Chế độ chính sách: 100
2.3.2 Tính công bằng của nhà quản lý: 101
2.3.3 Vấn đề dòng họ, lối sống phong tục tập quán địa phương 102
2.3.4 Tính tích cực chủ động của đội ngũ lao động trẻ 103
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 106
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 115
Trang 63
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam
Organization
Tổ chức liên hiệp quốc về giáo dục, khoa học và văn hóa
Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc
Trang 74
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Lực lượng lao động chia theo giới tính, thành thị/nông thôn 38
Bảng 1.2: Đặc điểm của khách thể nghiên cứu 40
Bảng 1.4: Thâm niên công tác chia theo tình trạng hôn nhân (P=0,00) 43
Bảng 1.5: Vị trí làm việc phân theo giới tính (P=0,006) 45
Bảng 1.6: Mức độ đáp ứng của trình độ ngoại ngữ đối với công việc 48
Bảng 1.7: Mức độ đáp ứng của trình độ tin học đối với công việc 49
Bảng 2.1: Mức độ tham gia vào các nhóm xã hội phân theo giới tính 53
Bảng 2.2: Các mối quan hệ xã hội thường xuyên được duy trì thông qua hoạt động ăn uống, vui chơi và giải trí 58
Bảng 2.3: Sự chủ động của cá nhân trong các hoạt động 59
ăn uống, vui chơi, giải trí 59
Bảng 2.4: Người đến nhà riêng nhiều nhất 65
Bảng 2.5: Mức độ nhận được sự hỗ trợ giúp đỡ trong công việc phân theo các nhóm xã hội 69
Bảng 2.6: Chuyển đổi công việc 75
Bảng 2.7: Mức độ quan trọng của các yếu tố trong sắp xếp vị trí công việc 79
Bảng 2.8: Tỷ lệ người được tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng, 81
nâng cao năng lực 81
Bảng 2.9: Cơ hội được đào tạo nâng cao năng lực của nguồn nhân lực trẻ phân theo trình độ học vấn 84
Bảng 2.10: Nguồn cung cấp thông tin về khóa tập huấn 86
Bảng 2.11: Các yếu tố cần chú trọng khi muốn đi bồi dưỡng, 87
đào tạo của nguồn nhân lực 87
Bảng 2.12 Thu nhập/tháng và chi tiêu/tháng của nguồn nhân lực trẻ 92
Trang 85
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu 1.1: Mức độ phù hợp giữa công việc và chuyên ngành được đào tạo 46
Biểu 1.2: Mức độ phù hợp giữa công việc và chuyên môn được đào tạo phân theo trình độ học vấn 46
Biểu 2.1: Mức độ tham gia tích cực vào các nhóm xã hội 51
Biểu 2.2: Khác biệt giới trong mức độ tham gia tích cực vào các nhóm xã hội của nguồn nhân lực 54
Biểu 2.3: Nhóm xã hội quan trọng nhất 55
Biểu 2.4: Những điểm chung giữa nguồn nhân lực với các thành viên của tổ chức/nhóm được đánh giá là quan trọng nhất 56
Biểu 2.5: Phương tiện giữ liên lạc phân theo các nhóm xã hội 62
Biểu 2.6: Yếu tố quan trọng giúp nguồn lao động tiếp cận cơ hội việc làm 68
Biểu 2.7: Những giúp đỡ từ đồng nghiệp 71
Biểu 2.8: Nguồn thông tin tham khảo khi chuyển việc 76
Biểu 2.9: Lợi ích từ hai nhóm xã hội quan trọng nhất giúp cá nhân thăng tiến 77
Biểu 2.10: Cơ hội được tham gia bồi dưỡng chính trị 82
phân theo thâm niên công tác 82
Biểu 2.11: Cơ hội được đi tập huấn chuyên môn phân theo nhóm tuổi 83
Biểu 2.12: Lợi ích mà các nhóm quan trọng nhất đem lại 93
Biểu 2.13: Dự định công việc ba năm tới 96
Biểu 2.14: Người gây khó khăn trong công việc cho nguồn nhân lực trẻ 97
Trang 9Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực, Đảng luôn đặt nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ xuyên suốt, có ý nghĩa then chốt trong sự nghiệp phát triển đất nước Đảng nhấn mạnh “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phát chiến lược,
là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững” [9]
Trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, việc phát triển nguồn nhân lực trẻ có ý nghĩa rất to lớn Đây là nguồn lực đặc biệt quan trọng của quốc gia Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2009, hiện nay Việt Nam có khoảng trên 40 triệu người trong độ tuổi lao động, cơ cấu lao động tương đối trẻ (khoảng trên 60% thuộc nhóm tuổi từ 16 – 34) Có thể nói, nguồn nhân lực dồi dào và tương đối trẻ là điều kiện hết sức cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam Tuy nhiên muốn phát triển nguồn nhân lực trẻ, ngoài mặt số lượng, Việt Nam cần phải quan tâm đến chất lượng và những điều kiện để phát triển chất lượng nguồn nhân lực trẻ Trong bối cảnh “khan hiếm ngày càng trầm trọng của tài nguyên thiên nhiên và sự thiếu hụt nguồn vốn” [23] của Việt Nam, việc xem xét vai trò của các yếu tố phi kinh tế như vốn xã hội đối với sự phát triển nguồn nhân lực trẻ là rất quan trọng
Trên thực tế Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về vốn xã hội và nguồn nhân lực, tuy nhiên có rất ít nghiên cứu cụ thể để xác định vai trò của vốn xã hội đối với
Trang 107
quá trình phát triển của nguồn nhân lực trẻ Do đó, chúng ta cần có nghiên cứu sâu sắc, toàn diện và hệ thống về vai trò của vốn xã hội trong sự phát triển nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Những nghiên cứu về nguồn nhân lực
Đến nay, nguồn nhân lực là đề tài nghiên cứu được khai thác hết sức phong phú và đa dạng cả trên thế giới và ở Việt Nam Chủ đề này nhận được sự quan tâm lớn của các tổ chức nghiên cứu, các học giả trên thế giới, trong đó, các nghiên cứu nhấn mạnh nhiều đến vai trò của nguồn nhân lực trong sự phát triển kinh tế xã hội
2.1.1 Các nghiên cứu về nguồn nhân lực trên thế giới
Trên thế giới, các công trình nghiên cứu ban đầu về nguồn nhân lực và vốn nhân lực do các nhà lý thuyết như Milton Feidman, Simon Kuznet, Garry Becker nghiên cứu Tiếp đó, một số các nhà khoa học khác như L.Nadler và Z.Nadler (1990), M.Marquardt và D.Engel (1993), Stivastata (1997) đã tập trung nghiên cứu các vấn đề về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực [1] Các tác giả đó đã có những đóng góp quan trọng về mặt lý luận và phương pháp luận Các công trình này lý giải mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực và giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe và vai trò quan trọng của phát triển nguồn nhân lực đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế
Các hướng nghiên cứu chính trong các nghiên cứu về nguồn nhân lực trên thế giới là: các chỉ tiêu đánh giá nguồn nhân lực, cơ cấu nguồn nhân lực, vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế, mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực với đào tạo, chăm sóc sức khỏe và quản lý nguồn nhân lực
Hướng nghiên cứu thứ nhất, Werther W.B và David K trong tác phẩm Humn Resource and Personnal Management đã phân tích bản chất, vai trò, cơ cấu nguồn nhân lực, các chỉ số nguồn nhân lực và những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực Nghiên cứu của học giả Gary Becker “Human Capital a theoretical and Empirical Analysis, with Special Reference to Education” dịch là Vốn con người: một phân tích lý thuyết và thực nghiệm, với sự tham chiếu đặc biệt đến giáo dục đã nhấn mạnh đến hiệu quả của việc đầu tư vốn con người [58] Kế
Trang 118
hoạch giáo dục và phát triển nguồn nhân lực do UNESCO thực hiện cũng đã đưa ra những quan điểm hiện đại về giáo dục và nguồn nhân lực qua việc phân tích các yếu
tố tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực ở các nước đang phát triển [59]
Nghiên cứu “Quản lý nguồn nhân lực trong bối cảnh phi tập trung hóa” của tác giả Amanda E.Green do Ngân hàng thế giới công bố cũng khẳng định rằng quản
lý nguồn nhân lực phải được coi là yếu tố thiết yếu thuộc về quá trình phi tập trung hóa [24]
Bên cạnh đó, nguồn nhân lực cũng là mối quan tâm rất lớn của chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) Từ năm 1990 đến nay, UNDP đã tổ chức đánh giá và công bố báo cáo phát triển con người một năm một lần Báo cáo này không chỉ nêu bật được định nghĩa phát triển con người mà còn đo lường được sự phát triển con người và các mối quan hệ của phát triển con người đến phát triển kinh tế Trong những năm gần đây, báo cáo phát triển con người của UNDP còn tập trung vào tính bền vững và sự công bằng trong phát triển con người [48]
Hướng nghiên cứu thứ hai mà các tác giả trên thế giới chỉ ra, nguồn nhân lực
có tầm quan trọng rất đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế, đặc biệt là sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của các nước ở khu vực Đông Á Nghiên cứu “Inequality and growth reconsidered: lesson from East Asia” của các tác giả Nancy Birdsal, David Ross và Recharch Sabot đã khẳng định vấn đề cốt lõi cho việc phát triển kinh tế là đầu tư cho giáo dục để phát triển nguồn nhân lực [61]
Ngoài ra, nguồn nhân lực còn được tiếp cận dưới góc độ quản lý Các công trình nghiên cứu của Weihric K và Hein M đã phân tích vấn đề hiện đại hóa quá trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, vấn đề quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực được coi là trọng tâm hàng đầu Tác phẩm tiêu biểu là “Chiến lược quản lý nguồn nhân lực” của Charles Greer đã phân tích sự tác động nhiều chiều giữa nguồn nhân lực và các chiến dịch quản lý, những định hướng về đầu tư phát triển nguồn nhân lực Hai cuốn sách cùng tên này của hai tác giả khác là Lloyd Byars và Leslie Rue và cuốn sách của tác giả J.M Ivacevich cũng đề cập đến việc quản lý nguồn nhân lực ở các góc độ khác nhau [61]
Nói tóm lại, chủ đề nguồn nhân lực nhận được rất nhiều sự quan tâm của các học giả, các tổ chức trên thế giới Cách tiếp cận nguồn nhân lực cũng rất phong phú:
Trang 129
từ góc độ văn hóa, giáo dục cho đến góc độ kinh tế, quản lý…Điều này cho thấy tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong sự phát triển xã hội
2.1.2 Các nghiên cứu về nguồn nhân lực ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nguồn nhân lực đã và đang là chủ đề được quan tâm của cả xã hội, và được nhìn nhận dưới nhiều góc độ Có thể thấy, đã có khá nhiều các công trình lớn nhỏ nghiên cứu về nguồn nhân lực được công bố
Cũng giống như các nghiên cứu về nguồn nhân lực trên thế giới, ở Việt Nam, các chủ đề nghiên cứu chính được các nghiên cứu đề cập là chỉ tiêu đánh giá nguồn nhân lực, mối quan hệ của nguồn nhân lực với các yếu tố xã hội khác, giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, vấn đề quản lý nguồn nhân lực…
Với hướng nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá nguồn nhân lực, tác giả Dương
Anh Hoàng với nghiên cứu “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng” [31] đã phân tích và luận giải những thành tựu
và hạn chế của nguồn nhân lực ở Đà Nẵng trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa, từ đó đề xuất các định hướng phát triển nguồn nhân lực
Nghiên cứu "Thực trạng nhân lực chuyên môn trong hoạt động khám chữa
bệnh, dự phòng bệnh lý nội tiết và rối loạn chuyển hóa” của Bộ Y tế cũng đã đánh
giá tình trạng tổ chức nhân lực chuyên môn cho hoạt động dự phòng và điều trị bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa nhằm cung cấp thông tin giúp Bộ Y tế xây dựng các giải pháp chính sách phát triển nguồn nhân lực chuyên môn đáp ứng với nhu cầu chăm sóc sức khỏe bệnh nội tiết cho mạng lưới cung ứng dịch vụ y tế công [6]
Bên cạnh đó, đề tài “Thực trạng tính tích cực lao động của công chức phường tại Hà Nội” của tác giả Trần Hương Thanh chủ nhiệm năm 2010 đã chỉ ra những biểu hiện của tính tích cực lao động của nguồn nhân lực; Phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới tính tích cực lao động của nhóm công chức phường [43]
Dự án "Nghiên cứu đánh giá thực trạng đào tạo nhân lực y tế Việt Nam" do
tổ chức Chinal Medical Board (CMB) [66] tài trợ đã được triển khai nhằm cung cấp các bằng chứng và xác định các lĩnh vực ưu tiên cần được đổi mới để đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân trong giai đoạn 2011 – 2020 Các kết
Trang 1310
quả của dự án là những đóng góp quan trọng trong quá trình xây dựng đề án “Đổi mới đào tạo nhân lực y tế” của Bộ Y tế nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực y tế
Báo cáo khảo sát “200 doanh nghiệp top của Việt Nam” của UNDP – Hà Nội
xuất bản tháng 9-2007 [67] đã chỉ ra tình hình chung nguồn nhân lực của nước ta hiện nay trong mối tương quan với về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực với Thái Lan và khu vực Asean và Trung Quốc
Cùng hướng nghiên cứu trên, có thể kể đến các nghiên cứu: “Các tiêu chí xác định nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam” của Lê Thị Hồng Điệp [19], nghiên cứu “Thực trạng và giải pháp về phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam" của PGS.TS Nguyễn Đức Vượng báo cáo tại Hội nghị "Quốc tế Việt Nam học lần thứ 3", tổ chức tại Hà Nội, Việt Nam, từ ngày 4 đến ngày 7-12-2008, nghiên cứu “Nguồn nhân lực trẻ của các dân tộc thiểu số-những phân tích xã hội học” của tác giả Đặng Cảnh Khanh [35], nghiên cứu “Đánh giá trình độ quản trị nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Trần Kim Dung [13], nghiên cứu “phát triển nguồn nhân lực
và phương pháp dùng người trong sản xuất kinh doanh” của tác giả Đặng Vũ Chư và Ngô Văn Quế [10]…
Với hướng nghiên cứu về giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tác
giả Phạm Thành Nghị trong nghiên cứu “Phát triển nguồn nhân lực cho nền kinh tế tri thức” đã chỉ ra sự cần thiết của việc phát triển nguồn nhân lực hiện đại trong bối cảnh toàn cầu hóa và yêu cầu hội nhập quốc tế Đồng thời tác giả cũng chỉ ra những yếu tố giúp phát triển nguồn nhân lực [39]
Công trình “Định hướng phát triển đội ngũ tri thức Việt Nam trong công nghiệp hóa” do tác giả Phạm Tất Dong chủ biên đã phân tích những định hướng phát triển đội ngũ tri thức trong bối cảnh toàn cầu hóa, công nghiệp hóa ở Việt Nam, có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển và quản lý nguồn nhân lực [15]
Luận án tiến sỹ kinh tế Phan Thanh Tâm năm 2000 với chủ đề “Các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [42] đã đưa ra các chỉ tiêu đánh giá chất lượng trí lực của ngồn nhân lực và trên cơ sở đó đánh giá chất lượng và hạn chế của nguồn nhân lực Việt Nam Ngoài ra luận án cũng chỉ rõ vai trò quyết định của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam và nguyên nhân hạn chế của nguồn nhân
Trang 1411
lực Việt Nam hiện nay Tác giả cũng chỉ ra các giải pháp khắc phục hạn chế, trong
đó nhấn mạnh đến các hoạt động giáo dục đào tạo, các chính sách đầu tư và chính sách sử dụng và bồi dưỡng cán bộ chuyên môn kỹ thuật
Cùng hướng nghiên cứu trên còn có các công trình: “Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số tỉnh Kon tum đáp ứng yêu cầu hội nhập giai đoạn 2011-2020” do Nguyễn Sỹ Thư chủ nhiệm, “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” của tác giả Trần Khánh Đức [22], đề tài “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua giáo dục đại học” của Lê Thị Hồng Điệp [20]…
Nhìn nguồn nhân lực trong mối quan hệ với các yếu tố khác còn có nghiên cứu của tác giả Trần Khánh Đức [21] trong công trình nghiên cứu: “Phát triển nhân
lực công nghệ ưu tiên ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa”
Công trình đã đề cập đến mối quan hệ giữa lịch sử phát triển kinh tế xã hội và khoa học công nghệ của nhân loại với đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
Tác giả Phan Văn Nhân trong nghiên cứu "Giáo dục nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế" [38] đã đi sâu phân tích mối quan hệ giữa đào tạo và phát triển nhân lực kỹ thuật và nghiệp vụ với kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế thông qua chương trình đào tạo, phương pháp tổ chức đào tạo, các mô hình đào tạo
Một loạt các công trình nghiên cứu của Phạm Minh Hạc đã đề cập đến mối quan
hệ giữa nguồn nhân lực với giáo dục cũng cùng hướng với chủ đề trên: tham luận hội thảo “Kinh tế tri thức và giáo dục đào tạo”[27], “Giáo dục và nguồn nhân lực” [28],
“Chất lượng nguồn nhân lực chính là thước đo của chất lượng giáo dục” [29] …
Với hướng nghiên cứu về nguồn nhân lực và quản lý, đề tài: “Phát huy nhân
tố con người để phát triển bền vững” [50] của Viện nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương cũng tiếp cận vấn đề nguồn nhân lực theo hướng khẳng định vai trò của nguồn nhân lực
Cùng hướng nghiên cứu này, còn có chùm nghiên cứu “Hoạt động đào tạo nhân lực công tác xã hội tại Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà [25], “Cơ hội và thách thức đối với việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế” của Trương Thu Hà [26], "Quản lý nhà nước
Trang 1512
về giáo dục một số lý luận và thực tiễn" của Đặng Bá Lãm [36], "Quản lý đào tạo nhân lực đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế tỉnh Bình Thuận" của Nguyễn Phan Hưng [34]
Qua những nghiên cứu về nguồn nhân lực ở Việt Nam, có thể nói, nguồn nhân lực là chủ đề được rất quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, có rất ít hoặc chưa có nghiên cứu tìm hiểu về vai trò của vốn xã hội trong việc phát triển nguồn nhân lực trẻ
2.2 Những nghiên cứu về vốn xã hội
2.2.1 Những nghiên cứu về vốn xã hội trên thế giới
Trên thế giới, vốn xã hội được nghiên cứu trên rất nhiều chiều cạnh khác nhau với nhiều hướng tiếp cận khác nhau, với phương pháp khác nhau, chủ đề nghiên cứu cũng rất khác nhau
Các hướng tiếp cận được sử dụng để nghiên cứu về vốn xã hội trên thế giới:
Hướng tiếp cận thứ nhất là các tác giả đi vào giá trị cốt lõi của vốn xã hội
Trong cuốn sách nổi tiếng “Chơi bowling một mình” (Bowling Alone), Robert Putnam đã đề cập đến lý thuyết vốn xã hội như là “Giá trị cốt lõi của các mạng lưới xã hội” Theo ông, vốn xã hội, cũng như vốn vật chất hay vốn con người, đều
là những loại “vốn” có khả năng làm tăng năng suất từ những tác động tương hỗ của các mối tương tác thông qua các mạng lưới xã hội, các quy tắc xã hội cũng như niềm tin của con người trong xã hội [62] Trong mô ̣t công trình nghiên cứu đố i chiếu giữ a miền bắc và miền nam nước Ý , Putnam đã khảo sát vốn xã hô ̣i xét về mức độ tham gia vào đời sống công dân Đóng góp quan trọng của Putnam đối với các khuynh hướng tiếp cận lý thuyết vốn xã hội chính là việc ông coi niềm tin của con người trong xã hội như một giá trị cốt lõi của vốn xã hội Khái niệm này cũng được James Coleman đặt ra trong các nghiên cứu của ông cùng việc gắn các giá trị của vốn
xã hội với sự sáng tạo trong vốn con người cùng với các chuẩn mực xã hội [40]
Hướng tiếp cận thứ hai là nhìn vốn xã hội trong mối quan hệ với các loại vốn
khác trong xã hội Tiêu biểu là nghiên cứu của Pierre Bourdieu Ông lại đặt vốn xã hội trong một cái nhìn chung đối với vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn biểu tượng Hướng tiếp cận này của Bourdieu cũng có nhiều điểm tương đồng với Putnam và Coleman
Hướng tiếp cận thứ ba là nhìn vốn xã hội trong mối quan hệ của cá nhân
Trang 1613
Theo quan điểm của Bordieu: vốn xã hội dành cho cá nhân, với các mối quan hệ của
cá nhân với mạng lưới xã hội Ông cũng chỉ ra những lợi ích mà vốn xã hội mang lại là dành cho cá nhân Ông khẳng định vốn xã hội mang tính cá nhân
Hướng tiếp cận thứ tư là nhìn vốn xã hội trong mối quan hệ của nhóm (tổ
chức) xã hội Quan điểm này được các nhà xã hội học như Fukuyama và Putman khẳng định trong các lập luận của mình: vốn xã hội mang tính xã hội Hướng tiếp cận này ngày càng được quan tâm nhiều hơn và cũng được sử dụng ngày một rộng rãi hơn trong nhiều ngành nghề có liên quan đến vốn xã hội nói chung và khoa học xã hội nói riêng
Về phương pháp nghiên cứu, các nghiên cứu về vốn xã hội trên thế giới đề
cập đến hai phương pháp nghiên cứu chính là nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng Tiêu biểu cho phương pháp định lượng là Putman Putnam đã đào sâu khái niê ̣m vốn xã hô ̣i , mà còn đề xuất những chỉ bá o nhằ m đo lườ ng vố n xã hô ̣i [62]
Hướng nghiên cứu về vốn xã hội trong các nghiên cứu trên thế giới mà các
tác giả đề cập đến là cấu trúc của vốn xã hội, vai trò của vốn xã hội
Cấu trúc của vốn xã hội là chủ đề được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như Boudieu (1986), Coleman (1988), Putman (1993, 2000), Fukuyama (1995, 1997) và Nahapiet Ghosal (1998) Các nghiên cứu chỉ ra cấu trúc của vốn xã hội bao gồm hai thành phần cơ bản: một là là cấu trúc mạng lưới và chủ thể tham gia mạng lưới; hai là chất lượng mạng lưới xã hội Mạng lưới của chủ thể tham gia được cấu thành từ gia đình, bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, thương mại và những người quen biết nhau nhưng không thân (tạm gọi là mạng lưới xã hội liên kết chặt và mạng lưới xã hội liên kết lỏng)
Nghiên cứu vai trò của vốn xã hội là chủ đề thứ hai được quan tâm nghiên
cứu Cho đến nay, tầm quan trọng của vốn xã hội đã được đề cập trong các nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới Fukuyama qua bài báo “Vốn xã hội
và phát triển: Chương trình nghị sự sắp tới” (Fukuyama, 2002) nhấn mạnh đến tính tích cực của vốn xã hội Tác giả này bàn về mối liên hệ giữa vốn xã hội và sự phát triển trên phạm vi toàn cầu Ông chỉ ra cách mà vốn xã hội có thể đóng góp
Trang 1714
vào phát triển kinh tế và xóa bỏ đói nghèo Fukuyama giải thích rằng vốn xã hội đã giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhiều doanh nghiệp ở Mỹ La tinh Vốn xã hội cũng giúp cho nhiều người vượt vượt ra khỏi những khó khăn trong bối cảnh suy thoái kinh tế và thất nghiệp gia tăng ở khu vực này Qua một nghiên cứu khác, với tiêu đề “Vốn xã hội, xã hội dân sự và phát triển”, Fukuyama (2001) khẳng định vốn xã hội là những chuẩn mực không chính thức thúc đẩy sự hợp tác giữa các
cá nhân Theo ông, trong các hoạt động kinh tế, mỗi cá nhân sẽ giảm được nhiều
chi phí giao dịch nhờ vào vốn xã hội giữa họ
Dưới một góc nhìn khác, thông qua nghiên cứu “Vốn xã hội với sự thịnh vượng và đói nghèo của các hộ gia đình ở Indonesia”, Grootaert (1999) đã phân tích vai trò của vốn xã hội trong lĩnh vực kinh tế vi mô Tác giả này chỉ ra rằng vốn xã hội
đã giúp làm giảm đi khả năng rơi vào tình trạng đói nghèo của các hộ gia đình Ông cũng nhận định rằng vốn xã hội mang lại lợi ích dài lâu đối với các hộ gia đình, mà cụ thể ở đây là việc tiếp cận dịch vụ tín dụng để tạo ra thu nhập ổn định
Qua nghiên cứu “Vai trò của vốn xã hội trong phát triển tài chính” (Guiso, Sapienza, & Zingales, 2004), Guison và cộng sự đã chỉ ra tác dụng của vốn xã hội đối với phát triển tài chính ở một nước phát triển là Italia Các tác giả cho biết trong những vùng có mức vốn xã hội cao, hộ gia đình thường tiếp cận với tín dụng chính thức nhiều hơn những tiếp cận đối với tín dụng phi chính thức Nhóm các tác giả này cũng nhận thấy mối liên hệ giữa vốn xã hội với địa phương
cá nhân được sinh ra Cụ thể là số lượng vốn xã hội có được ở những nơi mà các nhân được sinh ra và mức độ mà cá nhân tham gia vào các mạng lưới xã hội đó khi
họ tạo dựng và duy trì vốn xã hội có ảnh hưởng đến sự phát triển tài chính
Vai trò của vốn xã hội đối với phát triển kinh tế còn được khẳng định bởi Woolcock và Narayan qua một loạt các nghiên cứu như “Vốn xã hội và phát triển kinh tế: hướng tới một sự tổng hợp lý thuyết và khung chính sách” (Woolcock, 1998), “Vốn xã hội: hệ quả đối với lý thuyết phát triển, nghiên cứu và chính sách” (Woolcock & Narayan, 2000), và “Vị trí của vốn xã hội trong việc lý giải những kết quả kinh tế và xã hội” (Woolcock, 2001) Các tác giả này nhấn mạnh rằng vốn xã hội có vai trò quan trọng trong việc huy động các nguồn lực nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Trang 1815
Ngoài lĩnh vực kinh tế, vốn xã hội còn được coi là có ý nghĩa lớn trong việc hình thành vốn con người Điều này được minh chứng qua nghiên cứu “Vốn xã hội trong việc tạo ra vốn con người” (Coleman, 1988) Coleman đã phân tích mối quan
hệ giữa ba loại vốn: vốn kinh tế, vốn xã hội và vốn con người và đi đến kết luận rằng cả vốn kinh tế lẫn vốn xã hội đều có ý nghía tích cực đối với việc tạo ra vốn con người Một nghiên cứu khác về vốn xã hội và vốn con người của Portes cũng cho thấy rõ điều này Dựa vào ví dụ thực tế từ nghiên cứu của Zhou và Bankstson
về cộng đồng liên kết chặt của người Việt Nam ở New Orleans (Mỹ), Portes (1998) kết luận rằng nhờ vốn xã hội trong mạng lưới người Việt ở đây, việc học tập của con cái họ có được sự kiểm soát hiệu quả mà không cần thiết phải sử dụng tới các thiết chế kiểm soát chính thức hoặc công khai
Vốn xã hội cũng có vai trò không nhỏ trong việc xây dựng và phát triển một
xã hội dân sự (Putnam, 1995, 2000), tăng cường các chuẩn mực phổ biến; đơn giản hóa sự hợp tác; cung cấp khuôn mẫu văn hóa cho các giải pháp của hành động tập thể, sự hợp tác và lòng tin Điều đó giúp nâng cao học vấn, cải thiện điều kiện chăm sóc trẻ em, mang lại an toàn cho cộng đồng, và tạo ra hạnh phúc về mặt vật chất lẫn tinh thần
Fukuyama (2002) qua nghiên cứu của mình cũng đã chỉ ra tính hai mặt của vốn xã hội Vốn xã hội trong các quan hệ họ hàng tạo ra sự trợ giúp hiệu quả cho doanh nghiệp hoặc cho các cá nhân trong những thời điểm mà điều kiện kinh tế khó khăn Tuy nhiên, điều này cũng mang lại những hệ quả tiêu cực như sự thiếu tin tưởng đối với người xa lạ, từ đó, gây khó khăn cho doanh nghiệp khi mà các doanh nghiệp lớn mạnh, phát triển lên Về hệ quả tiêu cực, Putnam còn cho rằng vốn xã hội có thể tạo ra bè phái, tham nhũng, và tâm lý coi tộc người của mình là trung tâm (trích lại từ Smith and Kulynych, 2002: 173)
Các hướng nghiên cứu dùng vốn xã hội để lý giải các quan hệ xã hội: Các
nhà xã hội học trên thế giới dùng vốn xã hội để mô tả những mối quan hệ của cá nhân trong xã hội (Yli-Renko, Autio & Sapienza, 2001) và lý giải bản chất của sự tồn tại xã hội (Putnam, 1993) Tuy nhiên trong thời gian gần đây, khái niệm vốn xã
Trang 1916
hội được sử dụng nhiều để phân tích trong nhiều lĩnh vực khác nhau chẳng hạn như
2.2.2 Những nghiên cứu về vốn xã hội ở Việt Nam
Các hướng tiếp cận được sử dụng để nghiên cứu về vốn xã hội ở Việt Nam:
Ở Việt nam, những nghiên cứu về vốn xã hội mới chỉ bắt đầu được quan tâm trong vài năm trở lại đây Tuy vậy, cũng có thể chia các nghiên cứu về vốn xã hội trong nước thành hai nhóm tiếp cận Nhóm thứ nhất tiếp cận vốn xã hội từ góc độ lý thuyết Nhóm này quan tâm đến việc tổng kết, giới thiệu lý thuyết về vốn xã hội Nhóm thứ hai tiếp cận vốn xã hội từ góc độ thực tiễn Nhóm này tập trung vận dụng
lý thuyết vốn xã hội trong các nghiên cứu về Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Về hướng nghiên cứu lý thuyết, năm 2003, tác giả Trần Hữu Dũng có bài viết
“Vốn xã hội và kinh tế” (Trần Hữu Dũng, 2003), tác giả Trần Hữu Quang năm
2006 có bài viết “Tìm hiểu khái niệm vốn xã hội”, tác giả Đinh Hồng Hải có nghiên cứu tổng quan về vốn xã hội (2009)… Các tác giả đã lược trích và có những phân tích bước đầu về các lý thuyết vốn xã hội trên thế giới như các quan điểm lý thuyết của Pierre Bourdieu, James Coleman, Robert Putnam, Francis Fukuyama, Hernando de Soto [3] Đây được xem là cách tiếp cận sơ lược nhất trên góc độ lý thuyết khi vốn xã hội còn là khái niệm rất mới mẻ ở Việt Nam
Tiếp cận vốn xã hội dưới góc độ kinh tế phải kể đến tác giả Lê Ngọc Hùng
và Đoàn Khắc Xuyên Cũng trên góc độ tiếp cận vốn xã hội dưới góc độ lý thuyết nhưng tác giả Lê Ngọc Hùng lại có hướng tiếp cận cụ thể hơn – tiếp cận dưới góc
độ lý thuyết xã hội học kinh tế để bàn sâu về vốn xã hội và mạng lưới xã hội ở Việt Nam [32] Ở một nghiên cứu khác, Đoàn Khắc Xuyên đã phân tích “Vốn xã hội của Việt Nam – nhìn từ thực tế hôm nay” [51] Tác giả đưa ra những lập luận cho rằng kinh tế phát triển cũng dẫn tới những hệ lụy là vốn xã hội giảm đi Tuy nhiên, các bài viết này vẫn chỉ dừng lại ở việc giới thiệu và bàn luận về lý luận chung chứ chưa tạo nên được luận điểm lý thuyết cụ thể làm cơ sở cho các nghiên cứu thực nghiệm
Trang 2017
Hướng tiếp cận vốn xã hội trong thực tiễn, các tác giả cũng tiếp cận từ góc
độ kinh tế học Có thể kể đến công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trọng Hoài
và Huỳnh Thanh Điền: “Xây dựng khung phân tích vốn xã hội trong doanh nghiệp cho điều kiện Việt Nam” Các tác giả đã phân tích tác động của vốn xã hội đến các hoạt động doanh nghiệp [30] Một nghiên cứu khác của Stephen J Appold và Nguyễn Quý Thanh đã chỉ ra vai trò của vốn xã hội trong các doanh nghiệp nhỏ ở
Hà Nội (Appold & Nguyen Quy Thanh, 2004) [3]
Trong một nghiên cứu khác, các tác giả Carol newman, Finn Tarp và Lưu Đức Khải đã nghiên cứu vốn xã hội trong hành vi tiết kiệm, và chỉ ra những tác động của việc là thành viên hiệp hội đến tiết kiệm chính thức của hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam [54] Tác giả Đặng Ngọc Quang, trong bài viết về “Xây dựng nguồn vốn xã hội, phương thức tạo quyền cho người nghèo trong phát triển địa phương” đã tổng kết lại những kinh nghiệm ở Việt nam trong việc xây dựng nguồn vốn xã hội cho người nghèo [68]
Tiếp cận trên góc độ quản lý xã hội, tác giả Thái Kim Lan, trong bài viết về
“Vốn xã hội ở Việt Nam, nguy cơ phá sản và triển vọng phát huy” đã phân tích sự khủng hoảng vốn xã hội và liên hệ vốn xã hội trong chính sách của xã hội Việt Nam truyền thống từ thế kỷ 13 [18]
Tiếp cận trên góc độ rộng hơn, góc độ kinh tế và quản lý xã hội, góc độ văn hóa – lối sống, tác giả Nguyễn Tuấn Anh và Thomése đã nghiên cứu vốn xã hội trong mối quan hệ “Quan hệ họ hàng với việc dồn điền đổi thửa và sử dụng ruộng đất ở một làng Bắc Trung Bộ” (Thomése & Nguyễn Tuấn Anh, 2007) Các tác giả này đã chứng minh rằng chính nhờ vào nguồn vốn xã hội nên các hộ nông dân
có thể tiến hành dồn thửa, đổi ruộng một cách phi chính thức mà không cần dựa trên giấy tờ hay quan hệ mang tính chính thức và pháp lý
Tiếp cận trên góc độ liên ngành về kinh tế và giáo dục, Nguyễn Tuấn Anh công bố kết quả nghiên cứu về vai trò của vốn xã hội trong khu vực nông thôn Bắc Trung Bộ năm 2010 Với nghiên cứu này tác giả đã làm rõ sự biến đổi vai trò của vốn xã hội trong quan hệ họ hàng Ngoài ra, tác giả cũng làm rõ vai trò của vốn xã hội trong quan hệ họ hàng đối với việc tạo ra nguồn lực tài chính nhằm hỗ trợ trẻ
em đến trường Điều này cũng có nghĩa vốn xã hội được sử dụng để tạo ra vốn con người [45]
Trang 2118
Tóm lại, các nghiên cứu xã hội học về vốn xã hội ở Việt Nam tập trung vào hướng tiếp cận chuyên ngành hoặc liên ngành Chủ yếu các nghiên cứu tiếp cận trên góc độ kinh tế, quản lý xã hội, văn hóa, lối sống
Các phương pháp nghiên cứu: Trong các nghiên cứu về vốn xã hội ở Việt
Nam, các tác giả không chỉ đề cập đến việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính hay các phương pháp nghiên cứu định lượng trong nghiên cứu mà còn chỉ
ra các điểm lưu ý khi áp dụng nghiên cứu, nhất là việc thao tác hóa khái niệm công
cụ khi thuật ngữ vốn xã hội còn khá mới mẻ ở Việt Nam Trong một bài viết khác, tác giả Thái Kim Đan cũng đã nhấn mạnh đến việc sử dụng các khái niệm và phạm
vi khái niệm vốn xã hội với các liên hệ về tham nhũng và quản lý tội phạm [18]
Các tác giả cũng chỉ ra những điểm lưu ý khi xây dựng khung lý thuyết phân tích vốn xã hội Tác giả Nguyễn Trọng Hoài và Huỳnh Thanh Điền trong bài viết
“Xây dựng khung phân tích vốn xã hội trong doanh nghiệp cho điều kiện Việt Nam” đã đưa ra hệ thống cấu trúc (các thang đo) và cách đo lường vốn xã hội trong doanh nghiệp Đồng thời, tác giả đưa ra khung phân tích vốn xã hội cho doanh nghiệp [30] Đây được xem là nghiên cứu thực nghiệm có ý nghĩa rất lớn về mặt phương pháp đối với các nghiên cứu về vốn xã hội trong giai đoạn hiện nay
Các nghiên cứu còn lại về vốn xã hội ở Việt Nam chủ yếu vận dụng phương pháp nghiên cứu định lượng như nghiên cứu về “Vai trò của mạng lưới xã hội trong quá trình di cư” của tác giả Đặng Nguyên Anh [2]; phương pháp kết hợp - nghiên cứu định lượng bằng bộ câu hỏi đồ sộ theo cấu trúc kết hợp với các phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân và thảo luận nhóm tập trung như nghiên cứu của các giả Lê Bạch Dương và Khuất Thu Hồng [16]; nghiên cứu của Daniele Belanger, Trần Giang Linh, Khuất Thu Hồng, Nguyễn Thị Vân Anh, Belida hammoud [12]…
Các chủ đề đề được nghiên cứu chủ yếu bao gồm: Mối quan hệ của vốn xã
hội với các loại vốn khác trong xã hội, mối quan hệ giữa vốn xã hội với chuẩn mực
xã hội và các định chế xã hội, chức năng của vốn xã hội
Tác giả Trần Hữu Dũng có các bài viết “Vốn xã hội và kinh tế” (Trần Hữu Dũng, 2003), “Vốn xã hội và phát triển kinh tế” (Trần Hữu Dũng, 2006), đã nêu lên mối quan hệ giữ vốn xã hội và các loại vốn khác Ông cũng cho biết vốn xã hội
có ảnh hưởng quan trọng đến việc phát triển vốn kinh tế và phát triển chất lượng và tốc độ tích lũy vốn con người [14]
Trang 2219
Theo quan điểm của Trần Hữu Quang thì cần bàn về vốn xã hội trong mối quan hệ với chuẩn mực, sự cố kết, và hợp tác Ông lưu ý đến việc phân tích vốn xã hội trong bối cảnh văn hóa-xã hội và các định chế xã hội Tác giả Đinh Hồng Hải với bài viết “Vốn xã hội từ lý thuyết đến thực tiễn ở Việt Nam” đăng trên academia.edu cũng đã chỉ ra mối quan hệ giữa vốn xã hội với chuẩn mực xã hội Tuy nhiên tác giả khẳng định, ở một xã hội chủ yếu được vận hành bằng những mối quan hệ “Thân thuộc” mang đặc trưng “Lợi ích nhóm” thì loại vốn xã hội này tuy làm lợi cho một số ít cá nhân ở các nhóm lợi ích nhưng nó không những không đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội mà còn làm tổn hại nghiêm trọng đến niềm tin và chuẩn mực xã hội
Tác giả Hoàng Bá Thịnh lại tập trung phân tích quan niệm về vốn xã hội, mạng lưới xã hội và nhấn mạnh đến chức năng của vốn xã hội Đồng thời, tác giả này cũng bàn sâu về những phí tổn để duy trì vốn xã hội và mạng lưới xã hội (Hoàng Bá Thịnh, 2009)
Nghiên cứu của Đoàn Khắc Xuyên về “Vốn xã hội của Việt Nam – nhìn từ thực tế hôm nay” [51] cũng đưa ra những lập luận cho rằng kinh tế phát triển cũng dẫn tới những hệ lụy là vốn xã hội giảm đi Đồng thời đưa ra những khuyến nghị nhằm phục hồi và phát triển vốn xã hội ở Việt Nam Tác giả chỉ ra sự cần thiết của việc xây dựng nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự vì vốn xã hội không có sự tách rời mà luôn tương tác với môi trường, các thiết chế nhà nước và xã hội
Một nghiên cứu khác của Stephen J Appold và Nguyễn Quý Thanh đã chỉ ra vai trò của vốn xã hội trong các doanh nghiệp nhỏ ở Hà Nội Các tác giả cho biết vốn xã hội có vai trò quan trọng giúp các doanh nghiệp vay vốn để khởi nghiệp (Appold & Nguyen Quy Thanh, 2004) [3]
Tác giả Lê Ngọc Hùng trong một nghiên cứu về “Vốn con người và mạng xã hội” qua một số nghiên cứu ở Việt Nam đã chỉ ra rằng: trên thực tế vốn xã hội
và vốn con người không chỉ có chức năng kinh tế mà còn có chức năng xã hội Vì thế, phần đầu tiên bài viết, tác giả tập trung làm sáng tỏ những quan niệm về vốn xã hội nhìn từ góc độ kinh tế học Tiếp theo đó, tác giả đưa ra thuyết chức năng về vốn
Trang 2320
xã hội theo quan điểm của Coleman, thuyết cấu trúc về vốn xã hội của Bourdieu, để khẳng định rằng vốn xã hội có thể thiết lập thông qua mạng xã hội Ngoài ra, tác giả còn đưa ra mô hình tổng hợp về vốn xã hội, vốn con người và mạng lưới xã hội để cho ta thấy được rằng vốn người là tập hợp các năng lực tồn tại trong mỗi cá nhân, nhóm, tổ chức [32]
Trong các nghiên cứu về chức năng của vốn xã hội, có thể kể thêm nghiên cứu của tác giả Lê Bạch Dương và Khuất Thu hồng trong cuốn “Di dân và bảo trợ
xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ sang kinh tế thị trường” [16] Trong cuốn sách này, hai tác giả đã xem xét vốn xã hội là nguồn bảo trợ xã hội cho người di cư Đồng thời tác giả còn chỉ ra sự liên kết chặt và lỏng cũng ảnh hưởng đến khả năng thăng tiến của người di cư
Trong một nghiên cứu khác về “Lao động di cư từ Việt Nam đến các nước châu Á 2000 – 2009, quá trình trải nghiệm và tác động” của tác giả Daniele Belanger, Trần Giang Linh, Khuất Thu Hồng, Nguyễn Thị Vân Anh, Belida hammoud, vốn xã hội cũng được xem xét như một thành tố quan trọng trong việc
hỗ trợ tiếp cận các cơ hội di cư và đảm bảo mang lại thành công cao hơn ở các quốc gia nơi đến của người di cư Mạng lưới quan hệ hỗ trợ tiếp cận đến thông tin mang lại sự giúp đỡ và các nguồn lực Nhóm tác giả đã phân tích mạng lưới xã hội của những người di cư, cơ sở niềm tin và tính chất tương tác lỏng hay chặt của mạng lưới xã hội để đo đường sự hiệu quả của các dòng di cư [12]
Với chủ đề phản chức năng, tác giả Thái Kim Lan, trong bài viết về “Vốn xã hội ở Việt Nam, nguy cơ phá sản và triển vọng phát huy” đã đi từ một thực trạng
“Vốn xã hội” tại Việt nam đến những hiện tượng tiêu cực bao hàm trong khái niệm vốn xã hội – hiện tượng tham nhũng trong xã hội việt nam những năm 2000 [18]
Các nhóm nghiên cứu dùng vốn xã hội để lý giải cho các nghiên cứu về hoạt
động kinh tế, quản lý xã hội, lối sống và di cư:
Nhóm nghiên cứu thứ nhất dùng vốn xã hội để lý giải cho các hoạt động
kinh tế, cụ thể là sự vận hành của hoạt động doanh nghiệp của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trọng Hoài và Huỳnh
Trang 2421
Thanh Điền: “Xây dựng khung phân tích vốn xã hội trong doanh nghiệp cho điều kiện Việt Nam” Các tác giả đã phân tích tác động của vốn xã hội đến các hoạt động doanh nghiệp thông qua việc phân tích cấu trúc mạng lưới và chất lượng mạng lưới của doanh nghiệp, môi trường hoạt động bên trong và bên ngoài doanh nghiệp; và tinh thần doanh nhân của người lãnh đạo doanh nghiệp [30] Các nghiên cứu khác của Stephen J.Appold và Nguyễn Quý Thanh (Appold & Nguyen Quy Thanh, 2004) [3], Lê Ngọc Hùng [32] trong các nghiên cứu về kinh tế cũng dùng vốn xã hội để lý giải
Nhóm nghiên cứu thứ hai dùng vốn xã hội để lý giải quá trình quản lý xã hội
là nghiên cứu của các tác giả Thái Kim Lan, Lê Đăng Doanh, Trần Hữu Quang, Nguyễn Ngọc Bích [18]
Nhóm nghiên cứu thứ ba dùng vốn xã hội để lý giải là lối sống là nghiên cứu của tác giả Fleur Thomése và Nguyễn Tuấn Anh (Thomése & Nguyễn Tuấn Anh, 2007) [45];
Nhóm nghiên cứu thứ tư dùng vốn xã hội để lý giải cho hiện tượng di cư, đặc biệt là di cư từ nông thôn lên đô thị và di cư ra nước ngoài Tiêu biểu là nghiên cứu
“Vai trò của mạng lưới xã hội trong quá trình di cư” của tác giả Đặng Nguyên Anh [2], nghiên cứu “Di dân và bảo trợ xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ sang kinh tế thị trường” của Lê Bạch Dương và Khuất Thu Hồng [16]; nghiên cứu về
“Lao động di cư từ Việt Nam đến các nước châu Á 2000 – 2009, quá trình trải nghiệm và tác động” của tác giả Daniele Belanger, Trần Giang Linh, Khuất Thu Hồng, Nguyễn Thị Vân Anh, Belida hammoud [12] …
Tóm lại, qua những tổng kết về các nghiên cứu thực nghiệm về nguồn nhân lực và vốn xã hội ở trên, có thể thấy vốn xã hội là một chủ đề mới được nghiên cứu
ở Việt Nam Các nghiên cứu về vốn xã hội mới chỉ lồng ghép để giải thích nguyên nhân các hiện tượng xã hội Chỉ có có một số ít các nghiên cứu nghiên cứu vốn xã hội như một chủ thể có tác động mạnh mẽ đến các hiện tượng xã hội nóng bỏng hiện nay như vấn đề phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, lối sống Có rất ít hoặc chưa có nghiên cứu tìm hiểu về vai trò của vốn xã hội trong việc phát triển nguồn
Trang 2522
nhân lực trẻ Nghiên cứu này được phát triển thêm từ hướng nghiên cứu về chức năng của vốn xã hội, đồng thời kế thừa những lưu ý về mặt phương pháp nghiên cứu khi sử dụng kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định lượng và phương pháp nghiên cứu định tính nhằm thu thập thông tin Điểm mới của nghiên cứu này tập trung vào việc tìm hiểu chức năng của vốn xã hội trong việc phát triển nguồn nhân lực trẻ và một vài yếu tố ảnh hưởng đến chức năng đó dưới cách tiếp cận xã hội học Đây là một chủ đề khá mới mẻ trong kho tàng các nghiên cứu về vốn xã hội ở Việt Nam hiện nay
3 Ý nghĩa nghiên cứu
3.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài này đã vận dụng hệ thống lý thuyết và cách tiếp cận xã hội học để thông qua đó tìm hiểu việc tạo dựng, duy trì và phát huy vốn xã hội của nguồn nhân lực trẻ và vai trò của vốn xã hội đối với sự phát triển nguồn nhân lực trẻ Đồng thời bước đầu tìm hiểu những tác động tích cực hoặc tiêu cực của việc sử dụng vốn xã hội đối với nguồn nhân lực trẻ Qua đó góp một phần vào việc xây dựng cơ sở lý thuyết về vốn xã hội cho nghiên cứu xã hội học ở Việt Nam
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Những phát hiện được rút ra từ nghiên cứu góp phần đem lại thông tin về thực trạng, đặc điểm nguồn nhân lực trẻ hiện nay và việc sử dụng vốn xã hội của nguồn nhân lực trẻ hiện nay như thế nào Qua đó chúng ta có thể thấy được những tác động và vai trò của vốn xã hội với sự phát triển nguồn nhân lực trẻ nhằm đề xuất các khuyến nghị và giải pháp phù hợp cho sự phát triển nguồn nhân lực
Những thông tin thu được từ nghiên cứu này sẽ là tài liệu tham khảo cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý có những quan điểm chỉ đạo nhằm phát huy tính tích cực và hạn chế những tính tiêu cực của việc sử dụng vốn xã hội vào phát triển nguồn nhân lực trẻ, phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu vai trò của vốn xã hội trong việc phát triển nguồn nhân lực trẻ hiện nay nhằm đưa ra các định hướng tổng quát cũng như những giải pháp cụ thể để phát
Trang 2623
huy những tác động tích cực, hạn chế những biểu hiện tiêu cực của vốn xã hội, nhằm mục đích phát triển nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích đặc điểm nguồn nhân lực trẻ hiện nay;
Phân tích thực trạng tạo dựng và duy trì vốn xã hội của nguồn nhân lực trẻ; Chỉ ra các tác động tích cực của vốn xã hội trong sự phát triển của nguồn nhân lực trẻ;
Bước đầu nhận diện những tác động tiêu cực của vốn xã hội trong sự phát triển nguồn nhân lực trẻ hiện nay
Bước đầu tìm hiểu một số yếu tố tác động đến việc sử dụng vốn xã hội để phát triển của nguồn nhân lực trẻ
Đề xuất định hướng, khuyến nghị phát huy tính tích cực và hạn chế những biểu hiện tiêu cực trong việc sử dụng vốn xã hội vào phát triển nguồn nhân lực trẻ
5 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Vai trò của vốn xã hội trong việc phát triển nguồn nhân lực trẻ
5.2 Khách thể nghiên cứu
Đội ngũ cán bộ trẻ từ 18 đến 34 tuổi đang sinh sống và công tác tại các cơ quan chức năng của Nhà nước tại phường Cửa Nam và phường Lê Mao, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Đại diện ban quản lý các cơ quan chức năng của Nhà nước tại phường Cửa Nam và phường Lê Mao, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Đại diện chính quyền địa phương tại phường Cửa Nam và Lê Mao, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
5.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 1 – 10 năm 2014 Phạm vi không gian: phường Cửa Nam và phường Lê Mao, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Trang 2724
6 Câu hỏi nghiên cứu
Nguồn nhân lực trẻ hiện nay sử dụng vốn xã hội như thế nào?
Vốn xã hội có vai trò gì đối với quá trình phát triển của nguồn nhân lực trẻ? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc sử dụng nguồn vốn xã hội để phát triển của nguồn nhân lực trẻ hiện nay?
7 Giả thuyết nghiên cứu
Nguồn nhân lực trẻ hiện nay tích cực mở rộng, duy trì và phát triển vốn xã hội thông qua việc tham gia vào các hoạt động của nhiều nhóm xã hội khác nhau
Vốn xã hội có vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển việc làm, bồi dưỡng nâng cao trình độ, phát triển các nhu cầu cá nhân và tăng cường sự tham gia các hoạt động xã hội của nguồn nhân lực trẻ Ngoài ra, vốn xã hội còn đóng vai trò tích cực trong việc tạo dựng nguồn vốn xã hội mới của nguồn nhân lực trẻ hiện nay
Việc sử dụng nguồn vốn xã hội của nguồn nhân lực trẻ bị chi phối bởi các yếu tố khách quan và chủ quan như yếu tố chính sách, yếu tố quản lý, phong tục tập quán địa phương… và tính tích cực chủ động của đội ngũ lao động trẻ
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Nghiên cứu được tiến hành bước đầu bằng việc thu thập và phân tích các tài liệu trong nước và quốc tế liên quan đến vốn xã hội và nguồn nhân lực Các thông tin được thu thập từ các nghiên cứu trong và ngoài nước, các tài liệu thống kê, các báo cáo của các cơ quan nhà nước, các viện nghiên cứu, các tổ chức xã hội dân sự, các nhà nghiên cứu… đã được công bố Thêm vào đó, các thông tin về địa bàn nghiên cứu, tình hình phát triển kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu cũng được thu thập qua báo cáo kinh tế - xã hội của tỉnh Nghệ An và qua cổng thông tin điện
tử tỉnh Nghệ An: www.nghean.gov.vn
Trọng tâm của nghiên cứu này là tìm hiểu vai trò của vốn xã hội đối với sự phát triển nguồn nhân lực trẻ ở hai phường Lê Mao và Cửa Nam, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trên cơ sở phân tích một phần dữ liệu của đề tài cấp nhà nước “Vai trò của vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” do PGS.TS Nguyễn Hồi Loan làm chủ nhiệm đề tài
Trang 2825
Đây là đề tài do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn chủ trì, thực hiện từ tháng 5/2013 đến tháng 4/2015 Đề tài được tiến hành tại 6 tỉnh/thành trong cả nước, bao gồm: Hà Nội, Tuyên Quang, Nghệ An, Đắc Lắc, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp với tổng số mẫu là 3000 người
Với dữ liệu nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Nghệ An, phương pháp chính được thực hiên nhằm thu thập thông tin nghiên cứu của đề tài này là phương pháp trưng cầu ý kiến dành cho đối tượng là cán bộ, công nhân viên đang làm việc tại khu vực kinh tế nhà nước
Dung lượng mẫu khảo sát là 500 đơn vị mẫu dành cho những người trong độ tuổi từ 18 – 34 đang làm việc tại các cơ quan thuộc khu vực kinh tế nhà nước tại hai phường Lê Mao và phường Cửa Nam, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Nguyên tắc chọn mẫu: Mẫu nghiên cứu được xác định trên cơ sở phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên thuận tiện với cơ cấu mẫu như sau:
Cơ cấu mẫu theo giới tính:
Cơ cấu mẫu theo nhóm tuổi:
Cơ cấu mẫu theo địa bàn nghiên cứu:
Trang 2926
Ngoài ra, phương pháp phỏng vấn sâu cũng được tiến hành với 5 trường hợp, bao gồm 2 đại diện lãnh đạo địa phương, 3 nhân viên đang công tác tại các đơn vị hành chính, sự nghiệp của nhà nước trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An Đồng thời, nghiên cứu còn thực hiện phương pháp thảo luận nhóm tập trung đối với
2 nhóm đối tượng: nhóm thứ nhất bao gồm các đại diện lãnh đạo của các nhóm chính trị - xã hội, nhóm thứ hai bao gồm các cán bộ, công nhân viên đang làm việc tại khu vực kinh tế nhà nước trên địa bàn thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Các thông tin thu được từ bộ số liệu khảo sát thực địa tại hai phường Lê Mao
và Cửa Nam, thành phố Vinh, Nghệ An được tác giả phân tích bằng phần mềm xử
lý số liệu định lượng SPSS phiên bản 19.0
Các thông tin thu được từ phương pháp thảo luận nhóm tập trung và phỏng vấn sâu cá nhân được tác giả phân tích bằng phần mềm xử lý thông tin định tính NVIVO phiên bản 8.0
8.2 Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân
Ngoài việc phân tích trên một phần dữ liệu từ đề tài “Vai trò của vốn xã hội trong phát triển nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, tác giả còn phỏng vấn sâu thêm 10 trường hợp qua skype (dùng băng ghi
âm sau đó phân tích) để bổ sung thêm thông tin nghiên cứu Theo đó, quá trình phỏng vấn qua Skype cho phép người phỏng vấn quan sát được người trả lời, mà vẫn đảm bảo được tính riêng tư và bảo mật cho quá trình phỏng vấn
Thời lượng tiến hành phỏng vấn từ 40 đến 50 phút
Đối tượng tiến hành phỏng vấn sâu là những người thuộc nhóm nguồn nhân lực trẻ từ 18 đến 34 tuổi, bao gồm đại diện đội ngũ lãnh đạo các cơ quan hành chính, sự nghiệp của nhà nước, đại diện lãnh đạo địa phương và nhân viên đang làm việc trong khu vực kinh tế nhà nước tại phường Lê Mao và phường Cửa Nam, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An với cơ cấu mẫu như sau:
Đại diện lãnh đạo cơ quan/tổ chức: 1 người
Đại diện ban chấp hành các tổ chức chính trị - xã hội: 1 người
Nam nhân viên đang làm việc trong khu vực kinh tế nhà nước: 4 người
Nữ nhân viên đang làm việc trong khu vực kinh tế nhà nước: 4 người
Các thông tin thu được từ phỏng vấn sâu được phân tích bằng phần mềm xử
lý thông tin định tính NVIVO phiên bản 8.0
Trang 3027
NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm công cụ của đề tài
1.1.1 Khái niệm vốn xã hội
Theo từ điển Xã hội học Oxford, “Vốn xã hội” là khái niệm do Jame Coleman đề ra, dùng để mô tả những khiểu quan hệ tồn tại giữa các cá nhân đặt trong bối cảnh gia đình và cộng đồng và ảnh hưởng lớn tới sự thành đạt về học vấn Khái niệm này tương đương với khái niệm vốn con người và vốn vật thể trong kinh
tế học [8]
Pierre Bourdieu định nghĩa: “vốn xã hội là một mạng lưới lâu bền bao gồm các mối liên hệ quan biết nhau và nhận ra nhau, (những mối liên hệ này) ít nhiều được định chế hóa” Ông cho rằng "khối lượng vốn xã hội của một tác nhân cụ thể nào đó phụ thuộc vào mức độ liên hệ rộng hay hẹp mà anh ta có thể huy động trong thực tế, và vào khối lượng vốn của từng người anh ta có thể liên hệ Những mối quan hệ này chỉ có thể tồn tại trong trạng thái thực tế, trong các trao đổi mang tính vật chất và mang tính biểu tượng để giúp duy trì chúng” [33]
Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng định nghĩa vốn xã hội của Pierrer Bourdieu
Theo đó, vốn xã hội của nguồn nhân lực trẻ là một mạng lưới bao gồm các nhóm xã hội
mà nguồn nhân lực trẻ tham gia vào Vốn xã hội của nguồn nhân lực trẻ rộng hay hẹp phụ thuộc vào hai yếu tố Thứ nhất là số lượng các mối quan hệ mà cá nhân có thể huy động được Thứ hai là số lượng vốn xã hội của từng mối quan hệ mà cá nhân có thể huy động được
1.1.2 Khái niệm nguồn nhân lực
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nguồn nhân lực
Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc: nguồn nhân lực phản ánh trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng hay nguồn nhân lực còn được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai [65]
Trang 31có thể làm tăng sự phồn thịnh về kinh tế” [60].
Theo giáo trình Nguồn nhân lực của Trường Đại học Lao động – xã hội, nguồn nhân lực theo nghĩa rộng “Bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động”, còn theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực “Bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động
có khả năng lao động” [46]
Từ những khái niệm trên, theo cách hiểu của tác giả, nguồn nhân lực bao
gồm tất cả những người trong độ tuổi lao động có thể lực (sức khỏe), trí lực (trình
độ chuyên môn, tay nghề), có năng lực hoặc tiềm năng tham gia vào các hoạt động lao động, sản xuất
1.1.3 Khái niệm nguồn nhân lực trẻ [35]
Nguồn nhân lực trẻ là một nhóm người thuộc lực lượng lao động, với độ tuổi nằm trong giới hạn từ 15 đến 34 tuổi, được gắn với mọi giai cấp, tầng lớp dân tộc, mọi tầng lớp kinh tế xã hội và tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội và đặc điểm của từng quốc gia, dân tộc
Trong nghiên cứu này, chúng tôi quan niệm nguồn nhân lực trẻ là khái niệm chỉ tổng số dân trong độ tuổi từ 15 đến 34 tuổi
1.1.4 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực trẻ [35]
Có nhiều quan niệm về khái niệm phát triển nguồn nhân lực Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho rằng: “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là sự chiếm lĩnh lành nghề hoặc vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là
sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng như thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân” “Phát triển nguồn nhân lực không chỉ
là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề hay gay cả vấn đề đào tạo nói chung mà còn
Trang 32Theo tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO): Phát triển con người một cách hệ thống vừa là mục tiêu, vừa là đối tượng của sự phát triển một quốc gia Nó bao gồm mội khía cạnh kinh tế và khía cạnh xã hội như khả năng
cá nhân, tăng năng lực sản xuất và khả năng sáng tạo, bồi dưỡng chức năng chỉ đạo thông qua giáo dục, đào tạo và hoạt động thực tiễn
Như vậy, có thể hiểu phát triển nguồn nhân lực trẻ là quá trình phát triển cả
về số lượng và chất lượng, cơ cấu nguồn nhân lực trẻ Đó là các hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực của người lao động
từ 15-34 tuổi, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sản xuất Kiến thức có được nhờ quá trình đào tạo và tiếp thu kinh nghiệm, còn thể lực có được nhờ chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y tế Đó là tổng thể các cơ chế chính sách và biện pháp hoàn thiện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất, phẩm chất tâm lý xã hội) và điều chỉnh hợp lý số lượng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng đòi hỏi
về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển
1.2 Các lý thuyết đƣợc áp dụng trong đề tài
1.2.1 Lý thuyết cấu trúc chức năng của Talcott Parson [33]
Talcott Parson (1902 - 1979) là nhà xã hội học người Mỹ, tác giả nổi tiếng
của lý thuyết hệ thống xã hội, người đã đưa ra Lý thuyết tổng quát trong xã hội học
(General theory in Sociology) Theo ông, xã hội là một kiểu hay loại hệ thống xã hội đá ứng được tất cả các đòi hỏi chức năng cơ bản của một sự tồn tại lâu bền từ các nguồn lực bên trong của nó Hệ thống xã hội là hệ thống của các quá trình tương tác giữa các tác nhân, do đó, Parson cho rằng, cấu trúc của một hệ thống xã hội về
cơ bản là cấu trúc của các mối liên hệ giữa các tác nhân tham gia vào quá trình tương tác Theo Parson, hệ thống xã hội được cấu thành từ bốn tiểu hệ thống, tương
Trang 33Hai là: hướng đích (Goal Attainment - ký hiệu là G) - Một hệ thống phải huy động các nguồn lực nhằm vào các mục đích đã xác định của nó
Ba là: liên kết (Intergration - ký hiệu là I) - một hệ thống phải điều hòa mối liên quan của các thành tố bộ phận Nó phải phối hợp các hoạt động, điều hòa và giải quyết những khác biệt, mâu thuẫn và điều hành mối quan hệ trong ba yếu tố chức năng còn lại
Bốn là: Duy trì khuôn mẫu lặn (Latency ký hiệu là L) - một hệ thống phải cug cấp, duy trì và kiến tạo cả động lực thúc đẩy của các cá thể cung như các khuôn mẫu văn hóa đã sáng tạo, tức duy trì khuôn mẫu và quản lý sự căng thẳng nhằm tạo
sự ổn định, trật tự
Bốn loại chức năng này được tác giả khái quát lại trong sơ đồ AGIL Sơ đồ này đại diện cho toàn bộ hệ thống hành động chung Mô hình này cũng xác định hệ thống văn hóa, hệ thống cá nhân trong cấu trúc xã hội
Theo Parson, các hệ thống xã hội đại diện cho một phần không thể tách rời của hệ thống hành động, theo nghĩa là một hệ thống phụ thuộc trong toàn bộ hệ thống lớn hơn Ông cũng cho rằng văn hóa không xác định hệ thống xã hội nhưng lại định nghĩa hệ thống đó Trong hệ thống hành động, văn hóa là cấp độ định hướng cao nhất Nó kiểm soát các thành phần khác của hệ thống hành động cũng như hệ thống xã hội
Parson cho biết bốn cấp độ tổ chức cấu trúc xã hội và tương ứng là bốn loại
hệ thống xã hội sau: Thứ nhất là cấp độ hàng đầu của tổ chức, cấp độ kỹ thuật của
tổ chức, tương ứng với chức năng thích ứng Thứ hai là cấp độ quản lý, tương ứng với chức năng định hướng mục tiêu Thứ ba là cấp độ thiết chế, tương ứng với chức năng liên kết, hội nhập Thứ tư là cấp độ tổng thể xã hội, tương ứng với chức năng duy trì khuôn mẫu
Trang 34Tóm lại, Parsons đề xuất một lý thuyết tổng quát trong xã hội học có khả năng phân tích chức năng để xác định các loại chức năng của cấu trúc và khả năng phân tích cấu trúc để xác định các cấp độ thứ bậc cao thấp của các tổ chức, từ đó phân tích hệ thống thành các tiểu hệ thống và các mối quan hệ giữa chúng theo chiều dọc và chiều ngang với nhau Từ lý thuyết này có thể phân tích từ vi mô đến
vĩ mô cấu trúc hệ thống xã hội, ví dụ: phân tích từ cấu trúc của mối tương tác xã hội giữa các cá nhân đến cấu trúc của hệ thống tổng thể xã hội
Áp dụng lý thuyết hệ thống vào luận văn
Với các luận điểm trên, mô hình AGIL của Parsons thực sự hữu ích khi phân tích thực trạng sử dụng vốn xã hội và vai trò của vốn xã hội của nguồn nhân lực trẻ Vốn
xã hội được lực lượng nhân lực trẻ sử dụng ở ba cấp độ:
Liên kết các cá nhân, nguồn lực trong từng tiểu tổ chức (liên kết vi mô) Liên kết các tiểu tổ chức tạo thành mạng lưới xã hội (liên kết trung mô) Liên kết các thành phần cơ bản của hệ thống xã hội (liên kết vĩ mô)
Theo cách giải thích chức năng I của mô hình AGIL, ta có thể hiểu một hệ
thống để có thể thích ứng với môi trường, để đạt được mục tiêu xác định, hay duy trì những khuôn mẫu về động lực, văn hóa, phương thức quản lý thì trước hết cần có
sự liên kết, phối hợp tốt giữa các lực lượng, các thành phần bộ phận của nó, cụ thể như sau:
Liên kết thích ứng (chức năng A)
Thành viên của các cơ quan, tổ chức đang phục vụ cho sự phát triển đất nước đại diện cho nhiều thành phần, nhiều nhóm xã hội khác nhau, liên kết với nhau theo tinh thần tự giác Các cá nhân trên cơ sở phát huy năng lực, sở trường đóng góp và tạo nên tiềm lực, sức mạnh cho tổ chức Tuy nhiên, dù theo mục đích gì, các cá nhân cần phải hướng tới việc thích ứng được môi trường xã hội, môi trường pháp
lý, môi trường kinh tế, môi trường chính trị bao quanh cá nhân
Trang 3532
Liên kết để đạt mục tiêu (chức năng G)
Phát triển về chuyên môn nghiệp vụ, tăng tiến trong công việc là những mục tiêu phát triển mà cá nhân theo đuổi Để đạt được điều này, các cá nhân hoặc nhóm xã hội cần phải vận động, tập hợp, thu hút sự quan tâm, sự tham gia ủng hộ của các cá nhân khác, các nhóm xã hội khác
Mục đích theo đuổi là yếu tố quan trọng quyết định đến kiểu loại tổ chức và cấp độ hệ thống của nguồn nhân lực trẻ Các tổ chức chính trị - xã hội có lượng thành viên đông đảo, các thành phần thuộc tầng lớp hướng tới mục tiêu mang tầm quốc gia Các hội đồng hương, hội nghề nghiệp là không gian cho những cá nhân có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến một lĩnh vực ngành nghề cụ thể
Liên kết duy trì khuôn mẫu (chức năng L)
Bất kỳ một mạng lưới xã hội nào mà nguồn nhân lực trẻ tham gia vào đều có những quy tắc ứng xử, những khuôn mẫu hành vi riêng Những khuôn mẫu đó đều
là cơ sở để duy trì tổ chức và duy trì sự liên kết giữa các thành viên
1.2.2 Lý thuyết vốn xã hội của Bourdieu [33]
Bourdieu định nghĩa vốn xã hội là một mạng lưới lâu bền bao gồm các mối liên hệ quen biết nhau và nhận ra nhau, (những mối quan hệ này) ít nhiều được định chế hóa Ông cho rằng "Khối lượng vốn xã hội của một tác nhân cụ thể nào đó phụ thuộc vào mức độ liên hệ rộng hay hẹp mà anh ta có thể huy động được trong thực
tế, và vào khối lượng vốn của từng người mà anh ta có thể liên hệ Những mối quan hệ này có thể chỉ tồn tại trong trạng thái thực tế, trong các trao đổi mang tính vật chất hoặc mang tính biểu tượng để giúp duy trì chúng Những mối quan
hệ này cũng có thể được thiết chế hóa và đảm bảo bởi việc áp dụng dưới một tên gọi chung”
Ông phân biệt ba loại vốn kinh tế, vốn văn hóa và vốn xã hội Ông không nói
gì nhiều về vốn kinh tế, song có phê phán rằng ý niệm này trong kinh tế học hiện nay là quá hạn hẹp, ở chỗ vốn ấy chỉ được xem như một cái gì đổi ngay thành tiền, hoặc thể chế hóa quyền sở hữu
Về vốn văn hóa, ông phân biệt ba trạng thái: hàm chứa trong bản thân từng người, khách thể hóa qua các văn hóa phẩm, thể chế hóa qua những chứng từ, bằng
Trang 36Như vậy, vốn xã hội trong hệ tư tưởng của ông là toàn bộ nguồn lực thực tế hoặc tiềm ẩn xuất phát từ mạng lưới quen biết trực tiếp hoặc gián tiếp Trong đa số trường hợp, mạng lưới này đã có từ lâu và đã được thể chế hóa phần nào Nhờ nó, những cá nhân, gia đình, hay tập thể nào có nhiều móc nối thì càng lắm ưu thế Nói cách khác, mạng lưới này có giá trị sử dụng như một loại vốn
Lợi ích tích lũy từ tinh thần hội viên trong nhóm chính là cơ sở của sự đoàn kết Điều này không có nghĩa rằng họ có ý thức theo đuổi như vậy, ngay cả trong trường hợp họ chủ động lựa chọn các hội, các câu lạc bộ Họ cố tình tổ chức lại để tập trung nguồn vốn xã hội và do đó, thu được đầy đủ lợi ích của các thành viên, chẳng hạn như lợi ích vật chất
Lý thuyết vốn xã hội của Bourdieu nhấn mạnh đến lợi ích từ vị thế xã hội của mỗi cá nhân Khi một cá nhân có vị thế xã hội thuận lợi, thì cũng làm cho vốn
xã hội của họ tốt lên Đồng thời, khi cá nhân tham gia vào mạng lưới xã hội lớn thì
vị thế xã hội của họ cũng sẽ có nhiều cơ hội để phát triển hơn
Bourdieu viết "Vốn xã hội là một thuộc tính của mỗi cá nhân trong bối cảnh
xã hội Bất cứ ai cũng có thể thu nhập một số vốn xã hội nếu người đó nỗ lực và chú tâm làm việc ấy, và hơn nữa bất cứ ai cũng có thể dùng vốn xã hội để đem lại những lợi ích kinh tế cho mình Song khả năng thực hiện điều ấy còn tùy thuộc vào những trách nhiệm xã hội, kết nối và mạng lưới xã hội của người ấy”
Áp dụng lý thuyết vốn xã hội của Bourdieu vào nghiên cứu
Nhìn theo cách tiếp cận của Bourdieu, các cá nhân trong nhóm nguồn nhân lực trẻ tạo dựng và duy trì và mở rộng mạng lưới xã hội của mình để tìm kiếm lợi
Trang 3734
ích Những lợi ích này có thể xuất phát từ việc kết nối và duy trì với các nhóm xã hội mà cá nhân đó tham gia với tư cách là một mắt xích trực tiếp hoặc gián tiếp trong nhóm xã hội đó Nói cách khác, khối lượng vốn xã hội mà nguồn nhân lực trẻ
có thể huy động trong việc tìm kiếm lợi ích cho sự phát triển của nguồn nhân lực trẻ phụ thuộc vào mức độ liên hệ rộng hay hẹp và mức độ liên kết của những liên hệ đó
mà cá nhân có thể huy động được trong thực tế
Việc các cá nhân liên kết, phối hợp hoạt động tạo ra mạng lưới xã hội cho cá nhân, nhằm theo đuổi các mục tiêu để phát triển, đã góp phần tạo nên một tầm ảnh hưởng lớn, một sức mạnh cả về vật chất và tinh thần, có tầm ảnh hưởng đến những
cá nhân khác và lan tỏa rộng, tác động đến quá trình tín nhiệm cá nhân ở cơ sở Các cá nhân thông qua mạng lưới xã hội của mình có thể thúc đẩy đoàn kết xã hội theo hướng
tự giác, tự nguyện chứ không đơn thuần là mối quan hệ đồng nghiệp, ràng buộc trách nhiệm công việc, do đó sức mạnh này rất lớn và tạo ra nhiều giá trị thiết thực
Thêm vào đó, khi nguồn nhân lực trẻ có vị thế xã hội thuận lợi thì làm cho vốn xã hội của họ tốt lên Đồng thời, khi nguồn nhân lực trẻ tham gia vào mạng lưới
xã hội lớn thì vị thế xã hội của họ sẽ có nhiều cơ hội phát triển hơn
1.2.3 Lý thuyết Vai trò xã hội [33]
Đại diện tiêu biểu cho lý thuyết này là Merton và Talcott Parson Theo các tác giả, vai trò xã hội của cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng Nó chính là mặt động của vị thế xã hội vì luôn biến đổi trong xã hội khác nhau, thậm chí qua các nhóm xã hội khác nhau Để thực hiện những quyền và nghĩa vụ của từng vị thế xã hội, mỗi cá nhân cần phải thực hiện những hành động nhất định Điều đó có nghĩa là tương ứng với từng vị thế sẽ có mô hình hành vi được xã hội mong đợi Mô hình hành vi được xã hội mong đợi này chính là vai trò tương ứng của vị thế xã hội đó Vậy vai trò xã hội là mô hình hành vi được xác lập một cách khách quan căn cứ vào đòi hỏi của xã hội đối với từng vị thế nhất định, để thực hiện quyền và nghĩa vụ tương ứng với các vị thế đó
Như vậy, vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội Những đòi hỏi này được xác định căn cứ vào các chuẩn mực xã hội Ở các xã hội
Trang 38số vai trò đòi hỏi cách ứng xử đặc biệt vì những quan hệ đặc biệt với họ Các vai trò khác nhau thì có những động cơ khác nhau
Áp dụng lý thuyết vai trò vào đề tài nghiên cứu:
Mỗi cá nhân trong mạng lưới xã hội sẽ có những vị thế xã hội riêng đi đôi với quyền và nghĩa vụ riêng Nói cách khác, một cá nhân tham gia vào mạng xã hội
có những nhiệm vụ rieng chuẩn mực riêng được xã hội mong đợi như có thể có những tác động tích cực về mặt công việc, về đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn, về sự thích ứng với yêu cầu công việc, về cơ hội tham gia vào các hoạt động
xã hội hoặc về đáp ứng các nhu cầu cá nhân, tạo dựng nguồn vốn xã hội mới…
Bản thân cá nhân cũng có những vai trò nhất định trong tổ chức vì vậy để đạt được những mong đợi, mục đích của cá nhân, cá nhân đó phải có mô hình hành động thích hợp nhằm tích hợp và liên kết vốn xã hội của cá nhân để phát triển Việc huy động nguồn vốn xã hội có thể bắt nguồn từ nhiều vai trò khác nhau của cá nhân, tương ứng với mô hình hành động khác nhau, có thể là vị thế sẵn có, hoặc có thể là
vị thế đạt được
1.3 Sơ lƣợc về địa bàn nghiên cứu
Tỉnh Nghệ An nằm ở trung tâm khu vực Bắc Trung Bộ, đất rộng, người
thứ tư cả nước; là quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh; hội tụ đầy đủ các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường biển, đường thủy nội địa; điều kiện tự nhiên phong phú đa dạng như một Việt Nam thu nhỏ Nghệ An
có nhiều tiềm năng và lợi thế để thu hút đầu tư và ngày càng có nhiều nhà đầu tư
Trang 39Về sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và thủy sản: Mặc dù sản xuất nông
nghiệp gặp điều kiện thời tiết không thuận lợi nhưng tổng sản lượng lương thực cả năm ước đạt 1178614 tấn, tăng 0,6% cùng kỳ Các loại cây công nghiệp hàng năm được tập trung chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh và phát triển khá Tổng diện tích cây lâu năm ước đạt 38422 ha, tăng 5,8% cùng kỳ Sản lượng thịt hơi xuất chuồng ước đạt 201.196 tấn, tăng 2,9% cùng kỳ Các địa phương bao vây, dập dịch, kiểm soát chặt chẽ đàn gia súc, gia cầm và các sản phẩm liên quan đến lưu thông trên địa bàn Diện tích trồng rừng tập trung, chăm sóc, khoanh nuôi bảo vệ rừng tăng so với cùng
kỳ Tổng sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản đạt 126766 tấn, tăng 8,9% so với cùng kỳ
Sản xuất công nghiệp: Năm 2013, tình hình sản xuất công nghiệp trong tỉnh
tiếp tục gặp khó khăn: giá nhiên liệu (điện, xăng) tăng cao, chủ trương chính sách đối với ngành khai khoáng, giá thiếc thị trường thế giới xuống thấp, Tuy vậy, một
số sản phẩm có tỷ trọng trong giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh như bia, điện sản xuất, sữa tươi vẫn tăng khá Năng lực mới tăng của ngành công nghiệp có khởi sắc
từ các dự án bắt đầu hoàn thành và đi vào hoạt động như: Thủy điện Hủa Na, thủy điện Khe Bố, nhà máy may Hanoisimex, nhà máy may MLB Tenergy, Nhà máy sữa tươi sạch TH, nhà máy nhựa tiền phong
Về xây dựng cơ bản: Năm 2013 là năm thứ 2 thực hiện tái cơ cấu đầu tư
công theo Chỉ thị số 1792/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ; nguồn vốn ngân sách địa phương được UBND tỉnh giao sớm và từng bước được khắc phục đầu tư dàn
Trang 4037
trải Tiến độ các công trình XDCB đã được quan tâm chỉ đạo thực hiện Tổng nguồn vốn huy động toàn xã hội năm 2013 ước đạt 31539 tỷ đồng, tăng 8,54% so với năm 2012 Khối lượng thực hiện nguồn vốn ngân sách nhà nước và trái phiếu chính phủ ước đạt 4292 tỷ đồng, bằng 122,91% kế hoạch, giải ngân đạt tỷ lệ 83,5% kế hoạch vốn
Khu vực dịch vụ: Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ cả năm ước đạt
47.158,5 tỷ đồng, tăng 19,32% so với năm 2012 Kim ngạch xuất khẩu cả năm ước đạt 460 triệu USD đạt kế hoạch; trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đat 344,369 triệu USD Giá trị nhập khẩu ước 197,1 triệu USD Lĩnh vực du lịch, vận tải, thông tin truyền thông tăng trưởng khá Doanh thu các dịch vụ du lịch ước đạt 1899,96 tỷ đồng, tăng 15% so cùng kỳ; doanh thu ngành bưu chính, viễn thong và công nghệ thông tin ước đạt 3190,64 tỷ đồng; doanh thu vận tải hành hóa và hành khách ước đạt 5723,54 tỷ đồng, tăng 20,8% cùng kỳ [49]
1.4 Khái lƣợc về nguồn nhân lực trẻ Nghệ An và đặc điểm khách thể nghiên cứu
1.4.1 Khái lƣợc về nguồn nhân lực trẻ ở Nghệ An hiện nay [49]
Về quy mô và phân bố lực lượng lao động, theo kết quả Tổng điều tra dân
số và nhà ở năm 2009, số dân trong độ tuổi lao động của tỉnh Nghệ An (từ 15-64 tuổi) là 1949617 người, chiếm 67,0% trên tổng quy mô dân số toàn tỉnh
Lực lượng lao động bao gồm toàn bộ những người từ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc Năm 2009, số người đang trực tiếp tham gia vào quá trình lao động hay còn gọi là tham gia vào hoạt động kinh tế của tỉnh Nghệ An là 1651527 người, chiếm 56,7% tổng dân số của tỉnh Tỉ lệ tham gia lực lượng lao động (tỉ số giữa những người thuộc lực lượng lao động và tổng dân số từ 15 tuổi trở lên) của Nghệ An năm 2009 là 76,6%, trong đó, tỉ lệ lao động nam tham gia nhiều hơn so với nữ (nam là 78,67% và nữ 74,62%) và tỉ lệ tham gia lực lượng lao động của dân số khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị (78,97% so với 61,48%) Các kết quả thống kê cũng cho thấy, lực lượng lao động của Nghệ An chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn Năm 2009, lực lượng lao động ở