LỜI CẢM ƠN Sau quá trình học tập và nghiên cứu hết sức nghiêm túc, tôi đã hoàn thành báo cáo với chuyên đề: “Vai trò của dòng họ đối với việc thực hiện nhóm tiêu chí “văn hóa - xã hội- m
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THU HIỀN
VAI TRÕ CỦA DÕNG HỌ ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN NHÓM TIÊU CHÍ “VĂN HÓA – XÃ HỘI – MÔI TRƯỜNG” TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở XÃ THIÊN LỘC, HUYỆN CAN LỘC,
TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THU HIỀN
VAI TRÕ CỦA DÕNG HỌ ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN NHÓM TIÊU CHÍ “VĂN HÓA – XÃ HỘI – MÔI TRƯỜNG” TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở XÃ THIÊN LỘC, HUYỆN CAN LỘC,
TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Xuân Bình
Hà Nội – 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập và nghiên cứu hết sức nghiêm túc, tôi đã hoàn thành báo cáo với chuyên đề: “Vai trò của dòng họ đối với việc thực hiện nhóm tiêu chí “văn hóa - xã hội- môi trường” trong xây dựng nông thôn mới ở xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay”
Trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo trong khoa Xã hội học, cũng như các cán bộ xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy giáo – PGS.TS Trần Xuân Bình, người đã tận tình chỉ bảo và chia sẻ cho tôi những kinh nghiệm trong suốt quá trình học tập, cũng như trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên quan tâm khích
lệ tôi giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này
Trong quá trình thực hiện luận văn, mặc dù đã rất cố gắng nhưng luận văn này không thể tránh khỏi thiếu sót Vì thế tôi rất mong nhận được ý kiến đánh giá của các thầy cô giáo cũng như các học viên quan tâm Đó sẽ là những ý kiến quý báu giúp tôi học hỏi những kinh nghiệm và hoàn thiện hơn nữa trong những nghiên cứu sau Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 9 năm 2014 Học viên thực hiện Nguyễn Thu Hiền
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Xuân Bình
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, khoa học, dựa vào kết quả khảo sát thực tế Các tài liệu tham khảo đều
có xuất xứ rõ ràng
Học viên thực hiện
Nguyễn Thu Hiền
Trang 5MỤC LỤC
Trang PHẦN MỞ ĐẦU 01
1 Lý do chọn đề tài 01
2 Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài 03
2.1 Nghiên cứu ngoài nước về vai trò của dòng họ 03
2.2 Nghiên cứu trong nước về vai trò của dòng họ 04
2.3 Nghiên cứu về vai trò của dòng họ xây dựng nông thôn mới ở xã Thiên Lộc – Can Lộc – Hà Tĩnh 07
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 08
4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 08
5 Mục tiêu nghiên cứu 09
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 09
7 Câu hỏi nghiên cứu 09
8 Giả thuyết nghiên cứu 09
9 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 10
9.1 Phương pháp luận 10
9.2 Phương pháp nghiên cứu 10
10 Khung lý thuyết 13
11 Kết cấu luận văn 13
PHẦN NỘI DUNG 14
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 14
1.1 Cơ sở lý luận 14
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài 14
1.1.2 Những quan điểm lý thuyết được vận dụng trong đề tài 18
1.2 Cơ sở thực tiễn 22
1.2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 22
1.2.2 Một số văn bản quy định của Đảng và Nhà nước xây dựng nông thôn mới 23 CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG CỦA DÕNG HỌ THỰC HIỆN VĂN HÓA, XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG TẠI XÃ THIÊN LỘC HIỆN NAY 25
2.1 Các hoạt động của dòng họ trong lĩnh vực giáo dục 26
2.1.1 Nâng cao công tác khuyến học, khuyến tài 26
2.1.2 Nâng cao ý thức về truyền thống, lịch sử của dòng họ 30
2.1.3 Nâng cao ý thức tự quản của dòng họ 38
2.2 Các hoạt động của dòng họ trong lĩnh vực y tế 45
2.2.1 Khuyến khích người dân tham gia các loại Bảo hiểm y tế 45
Trang 62.2.2 Chia sẻ tri thức địa phương trong chăm sóc sức khỏe của gia đình 47
2.3 Các hoạt động của dòng họ trong lĩnh vực văn hóa 50
2.3.1 Tham gia các phong trào thi đua của dòng họ 50
2.3.2 Dòng họ giúp nhau phát triển kinh tế 56
2.3.3 Xây dựng nếp sống văn minh, môi trường văn hóa nông thôn 59
2.3.4 Quan hệ dòng họ với việc tổ chức quyền lực địa phương 63
2.4 Các hoạt động của dòng họ trong lĩnh vực môi trường 66
2.4.1 Tham gia công tác phát triển vệ sinh môi trường của thôn 66
2.4.2 Nghĩa trang dòng họ được xây dựng theo quy hoạch 69
2.5 Thuận lợi và khó khăn của dòng họ trong thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới tại xã Thiên Lộc 71
2.5.1 Thuận lợi 71
2.5.2 Khó khăn 73
2.6 Tiểu kết chương 2 75
CHƯƠNG 3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ HỆ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÕ CỦA DÕNG HỌ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ THIÊN LỘC HIỆN NAY 77
3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò của dòng họ trong xây dựng nông thôn mới tại xã Thiên Lộc 77
3.1.1 Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp và các bên liên quan tại địa bàn nông thôn mới Thiên Lộc 77
3.1.2 Tác động của môi trường văn hóa địa phương 81
3.1.3 Nội lực của dòng họ 82
3.2 Hệ giải pháp nâng cao vai trò của dòng họ trong xây dựng nông thôn mới tại xã Thiên Lộc 93
3.2.1 Cơ sở đưa ra hệ giải pháp 93
3.2.2 Các giải pháp cụ thể 94
3.3 Tiểu kết chương 3 96
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
1 Kết luận 98
2 Kiến nghị 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Dung lượng mẫu nghiên cứu từng thôn ở xã Thiên Lộc 12
Bảng 1.1: Các nhóm tiêu chí văn hóa – xã hội – môi trường 18
Bảng 2.1: Hiệu quả hoạt động khen thưởng cá nhân và dòng họ xét theo nhóm tuổi 43
Bảng 2.2: Đối tượng hợp tác khi có cơ hội nâng cao cuộc sống của người dân xét theo độ tuổi .58
Bảng 2.3: Mong muốn của người dân về đối tượng giúp đỡ khi có các công việc quan trọng .62
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Thứ tự ưu tiên các hoạt động của dòng họ trong nông thôn mới 25
Biểu đồ 2.2: Đánh giá các hoạt động khuyến học theo giới tính người được hỏi 29
Biểu đồ 2.3 Đánh giá hiệu quả hoạt động viết lịch sử dòng họ 34
Biểu đồ 2.4: Hoạt động dòng họ khuyến khích người dân tham gia bảo hiểm y tế .46
Biểu đồ 2.5: Các đối tượng người dân mong muốn nhận giúp đỡ khi đau ốm 47
Biểu đồ 2.6: Các gia đình đăng ký phấn đấu “gia đình hiếu học” 51
Biểu đồ 2.7: Các hoạt động xây dựng văn hóa nông thôn mới của dòng họ .54
Biểu đồ 2.8: Đối tượng người dân hợp tác khi có cơ hội nâng cao đời sống .57
Biểu đồ 2.9: Ứng xử của người dân khi trong dòng họ có người kết hôn bị phản đối 60 Biểu đồ 2.10: Ứng xử của cá nhân khi trong dòng họ có các công việc chung 62
Biểu đồ 2.11: Thái độ khi trong dòng họ có người lãnh đạo chính quyền .64
Biểu đồ 2.12: Tiêu chí bầu cử tổ chức chính quyền địa phương của người dân 65
Biểu đồ 2.13: Tầm quan trọng các hoạt động bảo vệ môi trường của dòng họ 68
Biểu đồ 2.14: Đánh giá về hoạt động xây dựng nghĩa trang theo quy hoạch 70
Biểu đồ 2.15: Khó khăn của dòng họ trong xây dựng nông thôn mới 74
Biểu đồ 2.16: Sắp xếp thứ tự ưu tiên các nguồn lực trong nông thôn mới Thiên Lộc 78
Biểu đồ 2.17: Đánh giá hiệu quả sự quan tâm của chính quyền đối với các dòng họ 80
Biểu đồ 2.18: Mục đích hoạt động giáo dục truyền thống cho con cháu của dòng họ 84 Biểu đồ 2.19: Đánh giá ảnh hưởng của yếu tố ý thức của thành viên, ý kiến người cao tuổi và nhân lực trong dòng họ 84
Biểu đồ 2.20: Cơ cấu kinh tế của người dân Thiên Lộc 91
Trang
Trang 9DANH MỤC HỘP
Hộp 2.1: Xây dựng tủ sách dòng họ 29
Hộp 2.2: Quy định riêng của dòng họ về cúng giỗ 32
Hộp 2.3: Nguồn gốc nhà thờ họ Võ Nhân 36
Hộp 2.4: Cơ cấu và công việc của hội đồng gia tộc 39
Hộp 2.5: Phong trào thi đua giữa các dòng họ tại Thiên Lộc 50
Hộp 2.6: Các dòng họ giao lưu văn nghệ, thể thao 55
Hộp 2.7: Ý thức bảo vệ môi trường của người dân 69
Hộp 2.8: Nền nếp sinh hoạt của các dòng họ 73
Hộp 2.9: Khó khăn về kinh tế của người dân các dòng họ 75
Hộp 2.10: Ý nghĩa phong trào liên kết các dòng họ ở Thiên Lộc 79
Hộp 2.11: Truyền thống, lịch sử dòng họ định hướng cho con cháu phấn đấu 83
Hộp 2.12: Trình độ học vấn của con cháu trong dòng họ 87
Hộp 2.13: Lợi thế của tộc trưởng khi nắm giữ các chức vụ xã hội khác 90
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xây dựng nông thôn mới (NTM) là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (NT) đã
khẳng định:“Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và NT
vẫn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, NT Xây dựng NTM kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội (XH) hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch;
XH NT ổn định, giàu bản sắc văn hóa (VH) dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường (MT) sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở NT dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường” Để cụ thể hóa mục tiêu này, ngày 16/4/2009 Thủ tướng
Chính phủ đã có Quyết định số 491/QĐ-TTg về việc Ban hành Bộ tiêu chí quốc gia
về NTM
Trong những năm đầu thực hiện, bức tranh NT đã có nhiều sự thay đổi từ cơ
sở hạ tầng đến điều kiện dân trí, VH, MT nhưng vẫn còn gặp rất nhiều bất cập như: về cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, NT; vấn đề ứng dụng khoa học kỹ thuật trong quá trình sản xuất; vai trò của cấp ủy Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo; sự tham gia của nông dân Đặc biệt, xây dựng NTM đã phần nào phá vỡ các quan hệ làng xã NT truyền thống, trong đó có vai trò của các dòng họ (DH) NT Trong bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng NTM không hề có tiêu chí nào liên quan đến
DH, vai trò của DH đã bị lu mờ và đây chính là một “lỗ hổng” cần được quan tâm Nước ta có 54 dân tộc anh em với 209 DH Mỗi dòng họ lại có hàng trăm chi, phái, sống xen kẽ rải rác trên khắp miền đất nước, một số ở nước ngoài [1, tr.30] Hơn nữa, DH là một hiện tượng lịch sử XH mang tính phổ quát toàn nhân loại và liên thời đại Đối với đời sống cộng đồng NT, vai trò của gia đình (GĐ) không lớn bằng vai trò của DH Sự phát triển của mỗi DH và mối quan hệ đồng tâm, đồng chí, đồng hành giữa các DH lại có một ý nghĩa quan trọng nhất trong mọi diễn biến lịch sử Không chỉ vậy, cách thức đồng quản lý ở làng xã với cấp độ khác nhau của các thiết chế XH gồm có: Hệ thống chính quyền các cấp; hệ thống quản lý có tính chất kinh tế và hệ thống DH với hội đồng tộc làng Từ vị trí đồng quản lý đó có thể nói
Trang 11rằng trong lịch sử “tông tộc mới thật là hạt nhân cơ bản của làng mạc, của XH, là chỗ dựa tinh thần vững chắc và vĩnh hằng của từng cá nhân” [38, tr.44] DH và VH DH là nhân tố nội sinh thúc đẩy sự phát triển VH và XH Việt Nam Đặc biệt, xây dựng VH
- XH - MT trong đời sống NT là đặc trưng nổi bật của DH Với vai trò quan trọng của
DH như vậy tại sao trong xây dựng NTM lại không có tiêu chí nào đề cập đến DH và hội đồng tộc làng?
Xã Thiên Lộc là “điểm sáng” trong xây dựng NTM ở huyện Can Lộc nói riêng
và tỉnh Hà Tĩnh nói chung với nhiều thuận lợi như có sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền, kinh nghiệm thực hiện các chính sách, sự đóng góp của người dân, đặc biệt là có sự tham gia của các DH Vấn đề nâng cao sự tham gia của các DH trong xây dựng NTM ở đây vẫn chưa được cụ thể hóa một cách chi tiết, chưa được
mô phỏng thành một cách thức thực hiện có tính đồng bộ, thống nhất, phù hợp với tình hình thực tế Đã có nhiều cấp, nhiều ban ngành đề cập vấn đề này qua các hội thảo chuyên đề, người dân cũng nhắc đến thông qua các cuộc họp làng họp họ và đề cập đến ngay trong đời sống sinh hoạt hàng ngày nên yêu cầu được đặt ra là: cần phải quan tâm vai trò của DH trong xây dựng NTM Tham gia vào xây dựng NTM,
DH đã thể hiện vai trò của mình như thế nào? Thực tế, vai trò của DH đã được XH ghi nhận hay chưa? Vai trò của DH được vinh danh có tương xứng với những đóng góp của họ hay không và liệu có được nâng cao hơn nữa không? Điều đó đòi hỏi phải có những nghiên cứu để đánh giá đúng vai trò của DH trong xây dựng NTM, qua đó đề xuất những giải pháp để nhằm cải thiện về chủ trương chính sách phát triển NTM
Cho đến thời điểm hiện tại, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của
DH trong đời sống XH với tên tuổi của các tác giả như Trần Từ, Mai Văn Hai, Vũ Khiêu, Nguyễn Tuấn Anh Những nghiên cứu đó bước đầu nêu lên được sự tham gia của DH vào các hoạt động GD trong đời sống, từ đó tìm hiểu được vai trò của DH nói chung Tuy nhiên, các báo cáo tham gia hội thảo hoặc các công trình đã công bố mới chỉ dừng lại ở cách đặt vấn đề, riêng khía cạnh khảo sát vai trò của DH trong xây dựng NTM vẫn chưa có nghiên cứu khoa học nào đề cập đến một cách chính thức, chưa có nghiên cứu khảo sát chuyên sâu nào Trên địa bàn xã Thiên Lộc không có những nghiên cứu, tìm hiểu về vai trò của DH trong xây dựng NTM tại địa phương Đến thời điểm hiện tại, bản thân nhà nghiên cứu chưa tiếp nhận các đề tài về lĩnh vực này Vì vậy, việc tiến hành nghiên cứu tìm hiểu về vai trò của DH trong xây dựng
Trang 12NTM hiện nay là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng góp phần xây dựng cách nhìn nhận đúng đắn về đóng góp của DH, qua đó có những kiến nghị góp phần cải thiện chủ trương, chính sách nâng cao vai trò DH đối với làng xã Trong lịch sử và trong hệ thống khoa học XH về NT đã đề cập đến DH, vậy mà trong điều kiện nước ta đang xây dựng NTM thì lại không nhắc đến DH và VH DH Khi không có những nghiên cứu để tổng hợp vấn đề này thì liệu chúng ta có cần một nghiên cứu bổ sung hay chăng?
Từ những yếu tố xuất phát về mă ̣t lý lu ận và thực tiễn như vậy, đề tài “Vai trò
của DH đối với việc thực hiện nhóm tiêu chí “VH – XH – MT” trong xây dựng NTM
ở xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay” được thực hiện làm luận
văn tốt nghiệp chuyên ngành XH học
2 Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Nghiên cứu ngoài nước về vai trò của dòng họ
Trong hơn một thập kỷ qua, giới khoa học nhân văn nước ngoài đã tập trung một phần đáng kể công sức của mình vào việc nghiên cứu vấn đề nông dân và làng
xã Châu Á, trong đó, vấn đề nông dân và làng xã Việt Nam mặc nhiên trở thành trung tâm của cuộc tranh luận cho đến nay vẫn còn tiếp diễn Những công trình nghiên cứu của nước ngoài viết về vai trò của DH gắn liền các tác giả tên tuổi Có
thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu như L.Morgan với “XH cổ đại”, Ph.Engel với
“Nguồn gốc của GĐ, chế độ tư hữu nhà nước”, Levi Strauss với “Những cấu trúc
cơ bản của DH”, MV.Kriukop với “Hệ thống thân tộc ở Trung Hoa” v.v
“A Comparative Study of the structure and change of lineage villages in Vietnam and Korea: with reference to structure of lineage groups and lineage consciousness” (Cơ cấu tổ chức và ý thức cộng đồng của làng DH Việt Nam) của
GS Do Huyn Han ở Viện Nghiên cứu Hàn Quốc học Trung ương là bài viết dựa trên những khảo cứu thực nghiệm đưa ra nhiều nội dung làm rõ về Làng DH Việt Nam, đặc biệt là những suy nghĩ về mối quan hệ của tổ chức DH với làng Việt Nam Bằng việc nghiên cứu so sánh những điểm giống và khác nhau giữa làng DH
và quan hệ huyết tộc của Việt Nam với Hàn Quốc và Trung Quốc đã đưa đến khẳng định: DH có tầm quan trọng rất to lớn đối với cộng đồng làng xã Tác giả trình bày
về cơ cấu tổ chức và ý thức cộng đồng của Làng DH như: ý thức nối dõi tông đường, ý thức thờ cúng tổ tiên; số lượng và mật độ phân bố của DH trong cộng
Trang 13đồng, ý thức cố kết DH bảo tồn từ đường, nhà trưởng họ, bia văn, mồ mả, ruộng
họ, gia phả và duy trì việc giỗ tổ
Bài viết đã kết luận được rằng trong làng DH của Việt Nam có nhiều DH cùng sinh sống với nhau và ý thức đồng hương phát triển mạnh mẽ hơn so với làng DH của Hàn Quốc, còn những đặc trưng gần giống với làng DH của Hàn Quốc thì rõ ràng đang tồn tại Làng DH được chọn làm đối tượng nghiên cứu được lựa chọn một cách ngẫu nhiên nên khó có thể cho rằng làng này đã phản ánh được những nét đặc trưng tiêu biểu cho làng DH Việt Nam Mặc dù có những hạn chế như vậy nhưng bài viết này lại mang một ý nghĩa là bài nghiên cứu bước đầu tìm hiểu về làng DH Việt Nam [11]
2.2 Nghiên cứu trong nước về vai trò của dòng họ
Những công trình nghiên cứu khoa học ở Việt Nam tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau có nhiều bài viết rất sâu sắc về DH
Trước hết, phải kể đến nhà nghiên cứu Trần Từ qua cuốn sách “Cơ cấu tổ
chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc bộ”(1984) được coi là một cống hiến lớn lao
vào việc tìm hiểu làng Việt cổ truyền đã xác định lại vai trò của DH Trong mục
“Tập hợp người theo huyết thống: HỌ” của tác phẩm này, tác giả cho rằng DH đóng một vai trò nhất định trong lịch sử xây dựng làng mới và còn là “một chỗ dựa tinh thần và đôi khi chính trị nữa” cho các thành viên trong làng Việt cổ truyền vốn chằng chịt vô vàn mâu thuẫn Vai trò của DH dừng lại ở đây, “ngoài tác dụng lịch
sử ấy ra”, tác giả “chưa thấy đâu là vai trò tích cực của tổ chức họ trong mâu thuẫn làng mạc” Trần Từ cho rằng DH không phải là một “đơn vị kinh tế”, DH chỉ đóng vai trò hết sức quan trọng trong tâm tưởng chứ không phải trong hành vi thực tế của con người Điều còn thiếu ở công trình này là những gì Trần Từ cung cấp cho người đọc gồm những nhận xét chung, khái quát hóa từ nhiều làng mà tách rời các địa danh thực Bên cạnh những ý kiến sâu sắc và xác đáng về DH, Trần Từ cũng có một vài nhận xét chưa được sự hậu thuẫn của tài liệu thực nghiệm, nhất là bằng định lượng và do đấy chưa thật đủ sức thuyết phục [38]
Nghiên cứu của Phan Đại Doãn với “Làng Việt Nam – Đa nguyên và chặt” đã
tìm hiểu về DH ở NT, về cấu trúc XH cùng loại hình nông công thương có sự liên kết chặt chẽ với nhau; làng xã là tổ chức có tính tự trị, tự quản từ nguồn gốc xa xưa được thể hiện qua hương ước Tác giả đã nhấn mạnh: Làng Việt Nam là một sự phức hợp của nhiều tổ chức XH mà trước hết là DH Các mối liên kết trong làng có
Trang 14nghề nghiệp, tín ngưỡng tôn giáo, địa vực láng giềng, xóm, giáp, đơn vị hành chính làng xã và họ hàng dòng máu nhưng mối liên kết họ hàng vẫn là bền vững nhất Có thể coi cộng đồng làng trước tiên là tập hợp của DH [13]
Bài viết “Mấy vấn đề về quan hệ thân tộc ở NT” của tác giả Trịnh Thị Quang
đăng trên tạp chí XH học số 2 năm 1984 dựa trên cơ sở số liệu định lượng từ nhiều cuộc điều tra XH học khác nhau đã tìm hiểu vai trò của DH và quan hệ DH mà tác giả gọi là “tổ chức thân tộc” trong những năm 80 Tác giả cho rằng quan hệ thân tộc vốn thường đảm nhận 3 chức năng: là một cộng đồng pháp lý, một cộng đồng kinh tế; cộng đồng sinh sống, đạo đức và tôn giáo và xem xét những chức năng đó đã và đang biến đổi như thế nào Về mặt phương pháp luận, bài viết có nhiều điều gây hoài nghi do tác giả không khảo sát một hay một số làng cụ thể mà triển khai luận điểm của mình trên cơ sở số liệu thực nghiệm bằng định lượng ở nhiều nơi khác nhau, rồi ghép lại thành một bức tranh chung Với khiếm khuyết này, ở mức độ nào đấy, đã giảm sức thuyết phục trong luận điểm bài viết đưa ra [33, tr.47-52]
Tác giả Mai Văn Hai và các cộng sự nghiên cứu về “Quan hệ DH ở châu thổ
sông Hồng” được đánh giá cao khi đã dày công thu thập các bằng chứng thực
nghiệm tại hai làng cổ ở châu thổ sông Hồng: Đào Xá và Tứ Kỳ trong giai đoạn từ năm 1992 đến 1997 Đây là một nghiên cứu có giá trị về cả nội dung lẫn phương pháp tiếp cận Trước hết, các tác giả phân tích những khía cạnh quan trọng bậc nhất của các quan hệ DH như trong không gian cư trú, trong hoạt động kinh tế, trong tổ chức quyền lực và quản lý làng xã, trong đời sống VH tín ngưỡng Khi bàn về vai trò của DH trong đời sống VH tín ngưỡng, tác giả cho thấy sức sống của các cố kết
DH trong đời sống tâm linh và sự thích ứng của nó đối với các điều kiện kinh tế XH đang thay đổi nhanh chóng hiện nay Tác giả đã nghiên cứu một làng ở ven đô và một làng ở vùng sâu vùng xa để tiến hành khảo sát cho phép đưa ra sự so sánh về tác động của công nghiệp hóa và đô thị hóa tới quan hệ DH Nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở tổng hợp công phu, có phê phán các công trình nghiên cứu trước đó
và sử dụng phối hợp các phương pháp thu thập, phân tích thông tin khác nhau của chuyên ngành XH học, nhân học VH qua đó có những kết luận khách quan, khoa học, logic Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một nghiên cứu trường hợp nên những nghiên cứu tiếp theo ở địa bàn khác là cần thiết để đối sánh – điều này đã được chính các tác giả thừa nhận [17]
Trang 15Cùng nghiên cứu ở đồng bằng châu thổ sông Hồng còn có “Kinh tế hộ GĐ và
các quan hệ XH ở NT đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ Đổi mới” của Nguyễn
Đức Truyến lại xem xét GĐ như là một cộng đồng và mỗi thành viên trong GĐ là những cá nhân Tác giả cũng đề cao vai trò của cộng đồng khi đặt trong bối cảnh tái cấu trúc các quan hệ làng xã Đặc biệt, sự tái cấu trúc trong quan hệ họ hàng được xem xét về tổ chức và chức năng của DH như kiểm soát hôn nhân, duy trì sự cố kết của DH, tương trợ và bảo vệ lẫn nhau Quan hệ họ hàng ở thời kỳ hợp tác hóa và thời kỳ đổi mới có những nét riêng biệt ở nhóm hộ thuần nông, nhóm hộ kinh doanh hỗn hợp và nhóm hộ phi nông nghiệp Tác giả còn đề cập đến biến đổi kinh tế xã hội NT và sự tăng cường quan hệ họ hàng Đây là cuốn sách được đánh giá cao với
cơ sở khai thác số liệu và kết quả nghiên cứu sẵn có, xử lý thứ cấp và phân tích sâu giàu giá trị khoa học [37]
Luận văn “Vai trò của DH trong đời sống cộng đồng làng xã: Nghiên cứu
trường hợp làng Quỳnh Đôi, xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An” của
tác giả Nguyễn Tuấn Anh (2000) là một công trình có giá trị về chủ đề DH Tác giả
đã bàn luận sâu về sự phục hưng của DH ở NT và qua sự phục hưng này thì DH có vai trò gì đối với đời sống cộng đồng làng xã hiện nay Trước hết, nghiên cứu đã nhận định rằng kể từ khi tiến hành đổi mới đất nước đến nay, xu hướng trở về cội nguồn, phục hưng các DH diễn ra sôi nổi Ba nguyên nhân chính dẫn đến sự phục hưng DH gồm: do sự khẳng định vai trò của hộ GĐ NT; do XH NT cần một thế tĩnh
để cân bằng và một sự điều hòa ở mỗi con người trong xu thế vận động của đổi mới; do những chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc phục hưng các giá trị VH dân tộc Bằng phương pháp khảo sát XH học, công trình còn tìm hiểu ảnh hưởng của DH đến một số khía cạnh của đời sống VH làng xã như: đối với đời sống kinh tế hộ GĐ; với đời sống chính trị và quản lý làng xã; trong xây dựng lối sống VH Tác giả đi đến kết luận khẳng định được DH thực sự có vai trò to lớn không chỉ trong quá khứ mà còn ngay trong thời kỳ hiện tại nên cần có sự khuyến khích để DH và các quan hệ DH được tự do phát triển, góp phần vào sự phát triển chung của đất nước Đặc biệt, đề tài đã có gợi mở những hướng nghiên cứu mới khi tìm hiểu về DH ở NT hiện nay [2]
Bên cạnh đó, tác giả còn có nhiều bài viết cùng chủ đề về DH đăng trên các
tạp chí chuyên ngành như: “Vài nét về quan hệ DH trong đời sống cộng đồng làng
xã hiện nay”, “Quan hệ họ hàng – một nguồn vốn XH trong phát triển kinh tế hộ
Trang 16GĐ NT”, “Quan hệ DH với đời sống kinh tế hộ GĐ NT ở một làng Bắc Trung Bộ”,
“Quan hệ họ hàng với việc dồn điền đổi thửa và sử dụng ruộng đất dưới góc nhìn vốn XH ở một làng Bắc Trung Bộ”, “Quan hệ DH với việc tổ chức quyền lực địa phương”, “Tộc ước trong đời sống cộng đồng làng xã quan nghiên cứu tại một làng
ở Bắc Trung Bộ”,“DH ở Việt Nam qua một số nghiên cứu gần đây”
Có thể nhận thấy rằng, lưu lượng công trình nghiên cứu bàn về vai trò của DH trong đời sống cộng đồng làng xã NT là khá lớn Tuy vậy, số lượng những nghiên cứu đề cập trực tiếp hoặc xem vai trò của DH như là đối tượng nghiên cứu chính còn rất hạn chế Hầu hết, những công trình đều chỉ xem vai trò của DH như là một khía cạnh cần phải có khi tìm hiểu về làng xã Việt Nam, khi đề cập đến XH NT
2.3 Nghiên cứu về vai trò dòng họ xây dựng nông thôn mới ở Thiên Lộc – Can Lộc – Hà Tĩnh
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai trò DH, tuy nhiên, đề cập đến vai trò của DH trong thực hiện xây dựng NTM khá khan hiếm Tại Thiên Lộc, chỉ có một
số bài viết về xây dựng NTM đăng tải trên các chuyên trang như: “Vai trò của
doanh nghiệp trong xây dựng NTM”, “Thiên Lộc huy động nguồn lực xây dựng NTM đăng tại nongthonmoihatinh.vn Các bài viết này chủ yếu là mang tính chất
điểm tin, trao đổi về NTM nói chung chứ không nghiên cứu, phân tích sâu vấn đề xây dựng NTM hay là vai trò của DH như thế nào?
Ngoài ra, còn có nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu và bài viết về vai trò cũng như quan hệ DH được đăng trên các tạp chí, các trang báo và các hình thức khác Những nghiên cứu khoa học trên đây đã cho thấy những nghiên cứu về DH của các tác giả nước ngoài và Việt Nam khá phong phú, ngày càng có tính hệ thống,
đi vào chiều sâu hơn Điểm qua các bài viết trong khuôn khổ tài liệu mà tác giả tiếp cận được ở trên, phải thừa nhận rằng vai trò của DH trong đời sống cộng đồng làng
xã là những vấn đề đã và đang được quan tâm trong các công trình nghiên cứu XH học Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới chỉ nêu lên vai trò của DH trong đời sống cộng đồng nói chung, đề cập đến bản chất, nguồn gốc, cơ cấu tổ chức, xu hướng vận động, biến đổi của DH Một vài cuộc nghiên cứu đã có đánh giá và nhận diện vai trò của DH đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống XH Tuy nhiên, riêng khía cạnh khảo sát vai trò của DH trong tham gia thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta nói chung và chương trình xây dựng NTM nói riêng thì chưa có nghiên cứu khoa học nào đề cập đến một cách chính thức, chưa có
Trang 17nghiên cứu khảo sát chuyên sâu nào Ở địa bàn khảo sát, chưa hề có một nghiên cứu
nào về vai trò của DH trong xây dựng NTM Chính vì vậy, đề tài “Vai trò của DH
đối với việc thực hiện nhóm tiêu chí “VH – XH – MT” trong xây dựng NTM ở xã
Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay” sẽ tìm hiểu sâu hơn vấn đề
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn từ việc đóng góp về mặt khái niệm “vai trò của DH trong xây dựng
NTM” sẽ mở ra một chuyên đề mới, bổ sung thêm nguồn tài liệu nghiên cứu về NT
cho các cán bộ, sinh viên và môn XH học NT Trên cơ sở tiếp cận của XH học sẽ giúp cho XH học NT có hướng nghiên cứu thực nghiệm mới Đề tài còn là dẫn chứng khoa học rất thuyết phục của việc vận dụng một số lý thuyết XH học như: Lý thuyết về vai trò - vị thế XH, lý thuyết cấu trúc chức năng, lý thuyết mạng lưới XH vào giải thích các vấn đề XH
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần thỏa mãn nhu cầu thực tế của cộng đồng địa phương và các cấp quản lý về nhận thức, giải thích và thay đổi thực trạng việc người dân trong DH có ý thức được vai trò trong tiến trình xây dựng NTM Bên cạnh đó, còn giúp các nhà hoạch định chính sách có cơ sở để nghiên cứu, đưa vai trò của DH vào sự phát triển chung của địa phương Đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các cá nhân, tổ chức quan tâm khi nghiên cứu về vai trò DH trong cộng đồng làng xã
4 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
Giới hạn về không gian: xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
Giới hạn về thời gian khảo sát: Từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014
Trang 18Giới hạn vấn đề nghiên cứu: đề tài tập trung vào nghiên cứu vai trò của DH đối với việc thực hiện nhóm tiêu chí “VH – XH – MT” trong xây dựng NTM ở xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2009 đến 2013
5 Mục tiêu nghiên cứu
Làm rõ hoạt động của DH thực hiện các tiêu chí “VH – XH – MT” trong xây dựng NTM
Xác định các yếu tố tác động đến vai trò của DH trong xây dựng NTM
Dự báo xu hướng biến đổi và đề xuất giải pháp nâng cao vai trò của DH trong quá trình xây dựng NTM hiê ̣n nay
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích những hoạt động của DH thực hiện giúp địa phương hoàn thiện
“VH-XH-MT” trong xây dựng NTM tại xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
Chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện vai trò của DH trong xây dựng NTM ở xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
Dự báo xu hướng thực hiện vai trò và đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của DH xây dựng “VH - XH - MT” trong NTM ở xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
7 Câu hỏi nghiên cứu
Các hoạt động của DH thực hiện “VH – XH – MT” trong xây dựng NTM hiện nay là gì?
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến vai trò DH với các hoạt động “VH – XH - MT” trong xây dựng NTM?
Vai trò của DH sẽ thay đổi ra sao trong quá trình tiếp tục thực hiện xây dựng NTM?
8 Giả thuyết nghiên cứu
Xây dựng NTM không thể thiếu vai trò của DH và ở nhóm tiêu chí “VH - XH -
MT”, hoạt động quan trọng nhất của DH thực hiện trong nội dung tiêu chí về “GD”
Vai trò của DH trong xây dựng NTM luôn luôn thay đổi dưới sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau
Trang 19DH tiếp tục thực hiện các hoạt động “VH – XH – MT” đóng góp cho sự phát triển của NTM nói riêng và làng xã NT nói chung
9 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
9.1 Phương pháp luận
Nguyên lý chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử với tư cách là thế giới quan và phương pháp luận của đề tài Đây chính là thế giới quan đặc biệt quan trọng trong việc nghiên cứu về con người, nhấn mạnh vai trò và địa vị XH của cá nhân, tổ chức trong sự tổng hòa các mối quan hệ XH, các sự vật luôn luôn vận động biến đổi theo quy luật của nó và được đặt trong bối cảnh lịch sử
cụ thể
Tìm hiểu về vai trò của DH trong xây dựng NTM, đề tài còn vận dụng các lý thuyết XH học chuyên ngành gồm: lý thuyết vai trò; lý thuyết cấu trúc – chức năng;
lý thuyết về mạng lưới XH để làm phương pháp luận nghiên cứu
9.2 Phương pháp nghiên cứu
9.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Nguồn tài liệu sử dụng trong đề tài này gồm các tài liệu văn tự và tài liệu phi văn tự Nguồn tài liệu văn tự ở đây là các tài liệu văn bản, các báo cáo tổng kết hàng năm của cơ quan chức năng tại địa phương liên quan đến xây dựng NTM và DH Đề tài còn sử dụng các công trình nghiên cứu, tạp chí, bài báo hay cuốn sách của các tác giả liên quan Tài liệu phi văn tự là những tranh ảnh về các hoạt động liên quan đến xây dựng NTM và DH ở địa phương được giới thiệu trên các phòng truyền thống xã và tại các địa điểm công cộng trên địa bàn Những tài liệu trên được phân tích bằng phương pháp truyền thống
9.2.2 Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được sử dụng để thu thập thông tin về các công việc, cách thức, thời gian tiến hành và những hoạt động cụ thể về VH, XH, MT của DH trong xây dựng NTM Công cụ quan sát là bản hướng dẫn quan sát được thiết kế sẵn [Xem phụ lục số 2] Nghiên cứu được tiến hành bằng quan sát tham dự và quan sát nhiều lần, có ghi lại biên bản kèm theo hình ảnh chân thực về các hoạt động
9.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Trang 20Phương pháp phỏng vấn sâu (PVS) được tiến hành để thu thập thông tin nhằm tìm hiểu đời sống và các đóng góp của DH trong xây dựng NTM, những thuận lợi
và khó khăn, các kiến nghị của DH và chính quyền Nghiên cứu đã tiến hành PVS 8 trường hợp, trong đó có 3 PVS dành cho chính quyền và 5 PVS dành cho đại diện các DH được lựa chọn dựa trên các tiêu chí về chức vụ, độ tuổi, ngành nghề, trình
độ học vấn Công cụ thu thập thông tin là bảng hướng dẫn PVS được thiết kế sẵn [Xem phụ lục số 3 và số 4] Các biên bản PVS được xử lý theo phương pháp truyền thống
9.2.4 Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA)
Để làm rõ mục tiêu, nghiên cứu đã tiến hành 2 cuộc thảo luận nhóm tập trung (TLNTT) gồm: 1 TLNTT dành cho người dân và 1 TLNTT dành cho các cán bộ phụ trách NTM và quản lý DH của xã Thiên Lộc Công cụ thu thập là bảng hướng dẫn TLNTT được thiết kế sẵn [Xem phụ lục số 5 và 6] Các biên bản TLNTT được
xử lý theo phương pháp truyền thống
Để thu thập được những thông tin cần thiết và đạt hiệu quả cao hơn thì trong TLNTT có sử dụng kết hợp với công cụ SWOT để xác định những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của DH và sơ đồ VENN để phân tích vai trò của các bên liên quan trong tham gia xây dựng NTM Thông tin thu được sẽ được minh họa trong đề tài bằng cách trích dẫn và hình ảnh
9.2.5 Phương pháp khảo sát xã hội học
Phương pháp khảo sát xã hội học là phương pháp nghiên cứu chủ đạo để thu thập các thông tin cho nghiên cứu này
Công cụ thu thập thông tin là bảng hỏi được thiết kế sẵn nhằm đo lường thực trạng; tìm các yếu tố tác động, tìm các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của DH trong xây dựng NTM
Dung lượng mẫu: Tính đến tháng 1/2014, số hộ GĐ xã Thiên Lộc là 1992 hộ, với độ tin cậy 95%, sai số chọn mẫu không vượt quá 6%, để được mẫu đại diện đề tài áp dụng cách thức chọn mẫu tỉ lệ với công thức sau:
)1(
)1(
2 2
2
p p
t N
p p
t N n
Trang 21Trong đó: N : Tổng số hộ dân
t : Độ tin cậy p; 1- p : Phương án trả lời nhị phân
ε : Sai số trong chọn mẫu Theo công thức ta có: n = 1992 x 22 x0,25 = 243
1992 x (0,06)2 + 22 x 0,25
Như vậy, dung lượng mẫu nghiên cứu của đề tài này là 243 mẫu Cụ thể:
Bảng 1 Dung lượng mẫu nghiên cứu từng thôn ở xã Thiên Lộc
Thôn Trường Lộc
Thôn Trung Hải
Thôn Yên Đình
Thôn Thiên Hương
Thôn Trung Thiên
Thôn Hòa Thịnh
Thôn Hồng Tân
Thôn Tân Thượng
Thôn Đoàn Kết
60 tuổi); về số thế hệ trong GĐ (1 thế hệ 7,0%, 2 thế hệ 44,9%, 3 thế hệ 42,8%, 4 thế hệ 5,3%) Do đặc điểm của địa bàn, để tránh những sai sót trong quá trình thu thập thông tin, đề tài tính thêm 10% mẫu phụ so với mẫu chính, tương đương với 24 mẫu
Thu thập thông tin được tiến hành bằng cách điều tra viên tiếp cận từng đối tượng
để ghi các câu trả lời vào phiếu thu thập thông tin Toàn bộ phiếu điều tra được tổng
hợp, làm sạch, mã hóa và được xử lý theo chương trình SPSS 16.0 Trong báo cáo, thông tin được minh họa bằng biểu bảng và biểu đồ
Trang 2210 Khung lý thuyết
11 Kết cấu luận văn
Toàn bộ nội dung luận văn được trình bày trong 3 phần gồm: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và khuyến nghị Trong phần nội dung có 3 chương sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2 Hoạt động của dòng họ thực hiện văn hóa, xã hội và môi trường tại
xã Thiên Lộc hiện nay
Chương 3 Các yếu tố ảnh hưởng và hệ giải pháp nâng cao vai trò của dòng họ trong xây dựng nông thôn mới tại xã Thiên Lộc hiện nay
Kết cấu luận văn được triển khai dựa trên mục tiêu và nội dung nghiên cứu theo logic từ tìm hiểu thực trạng, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc đề xuất
giải pháp nhằm nâng cao vai trò của DH trong xây dựng NTM
Điều kiện kinh tế - xã hội
Nội dung tiêu chí giáo dục Đặc điểm nhân
Nội dung tiêu chí môi trường
Giải pháp nâng cao vai trò của dòng họ trong xây dựng nông thôn mới
Trang 23PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài
“Vai trò”
Từ cuối những năm 1940 đến đầu những năm 1960, khái niệm “vai trò” đã giữ một vị trí quan trọng trong XH học Trong đó, thường có nhiều khái niệm liên quan như “vai trò XH”, “vai trò giới” Để hiểu về khái niệm “vai trò” ở đề tài này, trước hết cần hiểu về khái niệm “vai trò XH”
Người đề xuất thực sự khái niệm vai trò là nhà nhân học VH Ralph Linton (1893 – 1953), ông đã đưa ra định nghĩa vai trò trong tác phẩm “Study of Man” (1936)
“Thuật ngữ vai trò sẽ được dùng để chỉ ra toàn bộ tổng số về hình mẫu VH được tạo nên với một địa vị cụ thể Do vậy, nó bao gồm các quan điểm, các giá trị hành vi được
XH gán cho mỗi cá nhân và tất cả các cá nhân đang chiếm giữ nó” [9, tr.35] Sau này trong bản thảo được biên soạn lại (1945) khái niệm này được thể hiện như sau: “Từ nay trở đi chúng ta gọi vị trí do một cá nhân chiếm lĩnh vào một thời gian cụ thể, trong một
hệ thống cụ thể là trạng thái của cá nhân đó…Vế thứ hai, vai trò được coi là tổng thể của những khuôn mẫu VH gắn liền với một trạng thái cụ thể Như vậy vai trò XH sẽ
bao gồm “những quan điểm, ước lệ về giá trị và phương thức hành động được XH quy
định cho chủ nhân của trạng thái này” [9, tr.35]
Theo D.J.Levinson cho rằng, trong XH học hiện đại, tối thiểu chúng ta cũng có
ba định nghĩa về vai trò Định nghĩa thứ nhất, coi vai trò như một hệ thống các yêu cầu (những quy tắc, những đòi hỏi…) gắn liền với một vị trí XH nhất định Đó là hệ thống tác động đến cá nhân từ bên ngoài, gồm những nhân tố tạo thuận lợi và kìm hãm, điều chỉnh hoạt động của cá nhân như là nhân cách Định nghĩa thứ hai, xác định vai trò như là sự định hướng hoặc quan niệm về cá nhân ở chỗ cá nhân đó phải đóng góp gì cho XH Định nghĩa thứ ba, vai trò như là một hệ thống hành động của
cá nhân được xem xét trong sự liên hệ với hệ thống giá trị và quy tắc nào đó từ bên ngoài Ở đây, vai trò dành để chỉ các phương thức hành động của cá nhân đang giữ một vị trí XH nhất định phù hợp hoặc không phù hợp với hệ thống quy tắc đó [9, tr.46]
Trang 24Theo Dalrendort: vai trò XH là “một tập hợp những kỳ vọng ở trong một XH gắn với hành vi của những người mang các địa vị… ở mức độ này thì mỗi vai trò riêng là một tổ hợp hay nhóm các kỳ vọng hành vi [28, tr.32]
I.Robentsons cho rằng vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, nghĩa vụ
và quyền lợi gắn với một vị thế nhất định [28, tr.32]
Một cách định nghĩa khác coi vai trò là một tập hợp những mong đợi, các quyền lợi và những nghĩa vụ được gán cho một địa vị cụ thể Hay vai trò XH là chức năng
XH, là mô hình hành vi được xác lập một cách khách quan bởi vị thế của các cá nhân trong hệ thống quan hệ XH hoặc quan hệ giữa cá nhân với cá nhân [28, tr.32]
J.H Fischer cho rằng sự phối hợp và tương tác qua lại của các khuôn mẫu được tập trung thành một nhiệm vụ XH gọi là vai trò Hay nói cách khác vai trò là những hành động, hành vi, ứng xử những khuôn mẫu tác phong mà XH chờ đợi hay đòi hỏi ở một người hay một nhóm XH nào đó phải thực hiện trên cơ sở vị thế của họ [28, tr.32] Trong các định nghĩa này, chỉ có “vai trò” theo cách hiểu của J.H Fischer
có đề cập đến nhóm XH
Như vậy, nói đến vai trò XH có nghĩa là nói đến những hành vi mà XH mong đợi
ở một cá nhân hoặc nhóm XH nào đó DH là một tổ chức, một thiết chế bao gồm tập
hợp các cá nhân với những vai trò XH cụ thể, vậy vai trò của DH ở đề tài này được hiểu là tập hợp những mong đợi, chức năng, quyền hạn và nghĩa vụ của DH được thực hiện trên cơ sở vị thế của DH
“Dòng họ”
Tính đến thời điểm này có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm “DH” của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Có thể kể đến một số định nghĩa tiêu biểu sau:
Theo Từ điển Tiếng Việt: DH là từ dùng để chỉ “toàn thể nói chung những người cùng huyết thống làm thành các thế hệ nối tiếp nhau” [34, tr.45]
Nelly Krowolski định nghĩa: “Tộc hay DH tập hợp toàn thể con cháu bên nội của cùng một ông tổ được thừa nhận.” [23, tr 62]
Nguyễn Từ Chi quan niệm: “Họ, quá lắm cũng chỉ có thể xem là một dạng đặc biệt của GĐ mở rộng, mà tác dụng chính đối với các thành viên của nó (tức là các
GĐ nhỏ hợp thành nó) là tạo ra một niềm cộng cảm dựa trên huyết thống.” [10, tr 72]
Trang 25Phan Đại Doãn đã viết: “Theo nghĩa rộng thì DH, ngoài mối liên hệ ngang lại
có mối liên hệ dọc đứng đến 9 đời (cửu tộc), ngoài ra còn có quan hệ nội ngoại, nhưng huyết thống bên nội là quan hệ quyết định nhất.” [13, tr 41]
GS Phan Văn Các trong cuộc hội thảo VH DH ở Nghệ An tổ chức tại Vinh
ngày 4 và 5 tháng 3 năm 1997, đã cho rằng: “DH là một hiện tượng lịch sử XH đặc biệt mang tính phổ quát của nhân loại Ý thức về DH là dấu hiệu quan trọng đánh dấu bước phát triển của XH loài người từ mông muội đến văn minh.” [2, tr 21] Tác giả Mai Văn Hai xác định rằng: “DH là toàn thể những người cùng huyết thống với nhau Mỗi DH thường bắt nguồn từ một thủy tổ thường là người có công
“khai sơn phá thạch”, khởi đầu DH tại một địa vực nhất định, mặc dù khái niệm vị thủy tổ chỉ mang ý nghĩa hết sức tương đối Theo thời gian DH có thể sinh sôi nảy
nở bao gồm nhiều chi ngành, thế hệ nối tiếp thế hệ.” [47, tr 67]
Theo cách hiểu của Nguyễn Tuấn Anh: “DH là một thiết chế XH mang tính phổ quát toàn nhân loại Là một cộng đồng người hình thành trên cơ sở quan hệ huyết thống thể hiện qua ý niệm về dòng dõi từ một ông tổ chung DH là một thực thể vừa mang tính sinh học vừa mang tính XH và biến đổi qua thời đại.” [2, tr.22] Như vậy, ở đề tài này có thể hiểu khái niệm “DH” theo cách hiểu của Nguyễn Tuấn Anh, nghĩa là DH như một thiết chế XH, có quan hệ huyết thống với ý niệm
về ông tổ chung và biến đổi qua thời gian
“Nông thôn”
Theo Wirth (1938: 7): “NT là nơi xa xôi so với các trung tâm thành phố, là nơi
có mật độ dân số thấp, sản xuất các mặt hàng giản đơn và liên quan nhiều đến nông nghiệp; có ít dịch vụ XH; duy trì kiểm soát XH bằng cách phi chính thức và tính tổ chức rất giản đơn.” [22, tr 16]
Theo Osipov (1976: 94): “ NT là một cộng đồng XH-lãnh thổ được hình thành một cách nhất định về lịch sử trong quá trình phân công lao động XH và đặc điểm của nó là số lượng dân cư ít ỏi, mật độ dân cư tương đối thấp với vai trò đáng kể của lao động nông nghiệp.” [22, tr 16]
Howard Newby (1988:17-25) đã tập hợp các khái niệm và rút ra 4 đặc điểm chung nhận dạng NT mà hầu hết các khái niệm đều có: 1/ Sản xuất nông nghiệp hoặc có liên quan nhiều đến nông nghiệp dựa trên đất đai, 2/ Cộng đồng quy mô nhỏ và có mật độ dân số tương đối thấp, 3/ VH truyền thống thuần nhất và biến đổi
Trang 26chậm chạp, 4/ MT sống chưa bị mất cân bằng, hài hòa giữa con người và tự nhiên Yếu tố sản xuất nông nghiệp hoặc có liên quan nhiều đến nông nghiệp dựa trên đất đai được ghi nhận là đặc trưng cơ bản nhất để nhận diện NT [22, tr 17]
GS.Tô Duy Hợp đã bổ sung thêm 2 tiêu chí dựa trên 4 đặc điểm nhận dạng NT
mà Howard Newby đã đưa ra, đó là: 1/Cơ sở hạ tầng và dịch vụ XH thấp kém, 2/ Làng, xã là hành chính đơn vị cơ bản [22, tr 18]
Theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, NT: “NT là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành
chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã.” [52]
Ở đề tài này, NT được hiểu là một tiểu XH đặc thù trong XH tổng thể có người nông dân là chủ thể, sản xuất nông nghiệp là chính, mang dấu ấn kinh tế, VH, XH,
lối sống và MT nằm trong sự so sánh với đô thị
“Nông thôn mới”
Hiện nay, chưa có một định nghĩa chính thức về NTM Tuy nhiên, theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/T.Ư của Trung ương, “NTM là khu vực NT có kết cấu hạ tầng kinh tế - XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển NT với đô thị theo quy hoạch; XH NT dân chủ, ổn định, giàu bản sắc VH dân tộc; MT sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng XH chủ nghĩa.”[52]
Nhóm tiêu chí “Văn hóa – xã hội – môi trường”
Ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về NTM bao gồm 19 tiêu chí và được chia thành 5 nhóm
cụ thể: Nhóm tiêu chí về quy hoạch; về hạ tầng kinh tế - XH; về kinh tế và tổ chức sản xuất; về VH - XH - MT và về hệ thống chính trị [37]
Ở đề tài này chỉ quan tâm đến nhóm tiêu chí “VH – XH – MT” với nội dung
cụ thể như sau:
Trang 27Bảng 1.1: Các nhóm tiêu chí văn hóa – xã hội – môi trường
15 YT Tỷ lệ người tham gia các hình thức bảo hiểm YT 20%
16 VH Xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng
VH theo quy định của Bộ VH thể thao và du lịch Đạt
Tỷ lệ người dân được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh
Các cơ sở sản xuất – kinh doanh đạt tiêu chuẩn về MT Đạt Không có các hoạt động gây suy giảm MT và có các
hoạt động phát triển MT xanh, sạch đẹp Đạt Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch Đạt Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy
Vai trò của DH trong tiêu chí “VH – XH – MT” ở xã Thiên Lộc được hiểu là các hoạt động cụ thể được DH thực hiện để đạt các nội dung tiêu chí trên: Trong lĩnh vực GD, DH xây dựng Hội khuyến học, có học bổng, khen thưởng con cháu học giỏi ; Trong lĩnh vực YT, DH khuyến khích con cháu tham gia bảo hiểm y tế, chia sẻ tri thức địa phương; Trong lĩnh vực VH, DH tiến hành các phong trào thi đua thường niên; Trong lĩnh vực MT, DH tham gia vệ sinh đường làng ngõ xóm, đặc biệt xây dựng nghĩa trang theo quy hoạch NTM
1.1.2 Những quan điểm lý thuyết đƣợc vận dụng trong đề tài
Lý thuyết về vị thế và vai trò xã hội
Nhà nhân học Ralph Linton (1893 - 1953) là người có công đầu trong việc đưa ra khái niệm vị thế và vai trò XH Ngoài ra còn có các đại diện tiêu biểu khác
như Parsons, Merton Trong cuốn sách Nghiên cứu về con người (1936) Linton
định nghĩa vị thế là vị trí đối cực trong khuôn mẫu hành vi tương tác, do vị thế được hiểu theo nghĩa cụ thể và nghĩa trừu tượng nên vai trò cũng được hiểu theo nghĩa tương tự: theo nghĩa này một người phải thực hiện nhiều vai trò cụ thể tương ứng với những vị thế cụ thể mà người đó chiếm giữ; song theo nghĩa khác vai trò của một người là tổng hợp các vai trò mà người đó thực hiện Theo ông, bằng cách nào
Trang 28hay cơ chế nào mà XH quy định hành vi của con người đó là con người luôn phải thực hiện những vai trò tương ứng với vị thế gán cho hay giành được từ XH Con người có thể tích cực chủ động tham gia vào các quan hệ với XH và bằng những nỗ lực của mình để giành lấy những vị thế không gán cho họ Linton cho rằng vị thế là
vị trí trong cấu trúc XH với những quyền lợi và nghĩa vụ tương ứng và vai trò là kiểu hành vi hướng tới sự mong đợi của những người khác xung quanh
Trong cuốn sách Hệ thống XH xuất bản năm 1951, Parsons cho rằng những gì
mà một nhân vật thực hiện trong mối liên hệ với các nhân vật khác trong bối cảnh
có ý nghĩa chức năng đối với hệ thống XH Cấu trúc XH của hệ thống XH bao gồm
4 đơn vị: Hành động XH, tập hợp vị thế vai trò, bản thân nhân vật và một tập thể Như vậy, vị thế và vai trò không phải là thuộc tính của hệ thống XH mà là hai mặt của mỗi một đơn vị của hệ thống XH
Lý thuyết cấp trung bình của Robert Merton về vai trò tập hợp đã được phân
tích trong tập sách Bàn về XH học lý thuyết xuất bản lần thứ ba năm 1967 Theo
ông, ông mở rộng khái niệm vai trò của Ralph Linton và cho rằng mỗi một vị thế đòi hỏi không chỉ một vai trò mà hàng loạt vai trò mà ông gọi là vai trò tập hợp Lý thuyết trung gian về vai trò tập hợp của Merton cho biết vị trí một người chiếm giữ trong cấu trúc XH sẽ quyết định vai trò tập hợp của người đó và sự khác nhau đến mức mâu thuẫn và đối kháng về lợi ích đều bắt nguồn từ sự khác nhau về vị thế XH trong cấu trúc XH vĩ mô Nhưng trong khi Linton cho rằng mỗi một vị thế có một vai trò tương ứng thì Merton quan niệm rằng có một vị thế có nhiều vai trò mà ông gọi là hệ vai trò Merton đưa ra khái niệm “hệ vai trò” để chỉ một cấu trúc gồm các vai trò và các quan hệ của chúng mà cá nhân thực hiện khi nắm giữ một vị thế XH nhất định Ông đặc biệt quan tâm tới hệ vai trò bởi vì khái niệm này liên quan trực tiếp tới chức năng Vai trò chính là chức năng mà hành vi cá nhân hay thiết chế XH đảm nhận thực hiện Hệ vai trò thực chất là hệ thống các chức năng và phản chức
năng, chức năng trội và chức năng lặn có liên quan chặt chẽ [25, tr.239]
Vận dụng quan điểm lý thuyết về vai trò và vị thế XH của các nhà nghiên cứu trên vào đề tài, có thể giúp lý giải được những vai trò cụ thể của DH trong hệ thống các thiết chế XH xây dựng NTM Xác định được vai trò đó do chủ thể nào thực hiện
và thực hiện như thế nào để đảm bảo các vai trò gán cho và đạt được mà DH đảm nhận
Lý thuyết cấu trúc - chức năng
Trang 29Lý thuyết cấu trúc - chức năng hình thành từ thế kỷ XXI Sau các cuộc cách mạng tư sản, thế giới bước vào một thời kỳ phát triển mới, lý thuyết cấu trúc chức năng như một nỗ lực để giải thích và hiểu về XH con người Nói đến trường phái cấu trúc - chức năng phải nói đến tên tuổi của Auguste Comte; Emilie Durkheim; Talcott Parsons…
Trước hết, các nhà cấu trúc - chức năng đưa ra quan niệm về XH và cấu trúc của nó “Lý thuyết cấu trúc - chức năng nhìn XH như một hệ thống hoàn chỉnh của nhiều bộ phận khác nhau nhưng liên kết chặt chẽ với nhau” [25, tr.217] Các tác giả đều nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ của các bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể
mà mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định, bền vững Từ luận điểm này,
lý thuyết cấu trúc – chức năng coi con người như những bộ phận khác nhau tạo nên
hệ thống XH
Chủ thuyết này đòi hỏi phải tìm hiểu cơ chế hoạt động của từng thành phần để biết chúng có chức năng gì, tác dụng gì đối với sự tồn tại một cách cân bằng, ổn định của cấu trúc XH Theo quan điểm của T.Parsons về hệ thống XH nhìn nhận đó
là sự tương tác XH, ông dùng phức hợp địa vị - vai trò (status - role) như là đơn vị
cơ bản của hệ thống Đây không phải là một khía cạnh của các tác nhân hành động
mà cũng không phải là khía cạnh của sự tương tác mà đúng hơn là một thành tố mang tính cấu trúc của hệ thống XH Địa vị chỉ một vị trí cấu trúc trong lòng hệ thống XH và vai trò là các actor – tác nhân hành động thực hiện ở một vị trí như thế, nhìn trong ngữ cảnh về tầm quan trọng chức năng đối với hệ thống lớn hơn
“Actor” được nhìn nhận không phạm vi hành động mà thay vì thế (ít nhất trong phạm vi của vị trí hệ thống XH), không phải là gì ngoài một tập hợp các địa vị và vai trò
Vận dụng cách hiểu theo lý thuyết cấu trúc – chức năng để nghiên cứu về DH trong xây dựng NTM ở địa bàn nghiên cứu sẽ giúp chúng ta hiểu được những công việc mà DH tham gia, thực hiện, đảm nhận trong nội tộc và ngoài XH; đồng thời cũng giúp chúng ta hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện “hệ vai trò” của
DH với những mối quan hệ khác nhau trong cơ cấu kinh tế ở địa phương, trong xu hướng thực hiện chủ trương chính sách xây dựng NTM của Đảng và Nhà nước như truyền thống, ý thức cộng đồng, trình độ học vấn Như vậy, khi vận dụng lý thuyết
Trang 30cấu trúc – chức năng sẽ làm cơ sở lý luận cho những dẫn chứng được đưa ra trong nghiên cứu này
Lý thuyết Mạng lưới xã hội
Khái niệm mạng lưới XH dùng để chỉ phức hợp các mối quan hệ XH do con người xây dựng, duy trì và phát triển trong cuộc sống thực của họ với tư cách là thành viên của XH Phân tích về mạng lưới XH đã có từ đầu thế kỷ XX gắn liền với nhà XH học Đức Georg Simmel với việc đưa ra khái niệm tính liên hệ XH Ông đã khắc họa hình thức mạng tương tác XH, tức là nhấn mạnh đến các kiểu, hình thức của mạng lưới gồm các mối liên hệ giữa các cá nhân, nhóm XH với nhau Còn Emile Durkheim chú trọng đến cấu hình XH hay loại hình XH với các kiểu hình thức đoàn kết XH Mạng lưới quan hệ chức năng đặc trưng cho các XH hiện đại với hình thức phân công lao động XH phức tạp và mạng lưới phi chức năng đặc trưng cho kiểu đoàn kết máy móc trong các XH truyền thống với sự phân công lao động giản đơn Trên cấp độ vĩ mô, nghiên cứu của Mark Granovetter về mật độ và cường
độ của mạng lưới XH cho biết những đặc điểm của mạng lưới XH có tác dụng khác nhau đối với sự giao tiếp XH và sự hội nhập XH Ông cho rằng, những người có mạng lưới XH dày đặc sẽ tạo ra sự hạn chế trong việc trao đổi thông tin và hạn chế với thế giới bên ngoài Nhưng ngược lại, một mạng lưới XH bao gồm các mối liên
hệ thưa thớt, lỏng lẻo lại có thể tạo ra lợi thế cho sự trao đổi thông tin và tạo ra sự
hội nhập với XH mà Granovetter gọi hiện tượng này là “Hiệu ứng của các mối liên
hệ yếu ớt” Có thể thấy đây là một cách hiểu trái với quan niệm thông thường
Các mạng lưới XH gồm các quan hệ đan chéo chằng chịt từ quan hệ GĐ, thân tộc, bạn bè, láng giềng đến các quan hệ trong tổ chức, đoàn thể, hiệp hội, đảng phái, nghề nghiệp… Nhìn chung, các kiểu liên kết về quan hệ bao gồm quan hệ thân tộc, giao tiếp, bạn hữu, đẳng cấp và quan hệ tính dục Các mạng lưới XH là một phần quan trọng của cơ cấu XH Nó hữu ích cho các cá nhân và quan trọng trong hầu hết các XH vì thông qua mạng lưới XH, thông tin, kiến thức và các nguồn nhân lực được chia sẻ giữa các cá nhân và các nhóm XH, từ đó tăng sức mạnh cho cá nhân và cho cả XH; mặt khác, làm XH vận hành một cách gắn bó, hài hòa, trôi chảy
Vận dụng lý thuyết mạng lưới XH vào đề tài có thể thấy được quan hệ mạng lưới giữa các thành viên trong cùng DH, giữa DH này với DH khác và giữa DH với các tổ chức XH khác ở NT tạo ra các cơ hội trong cuộc sống cho người dân, từ đó
sẽ phát huy các nguồn lực để làm XH phát triển, trước hết là trong xây dựng NTM
Trang 311.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
Thiên Lộc là một xã miền núi thuộc phía Đông Bắc huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh Phía Đông giáp xã Phúc Lộc, phía Nam giáp với Thị trấn Nghèn, phía Tây giáp xã Vượng Lộc và phía Bắc giáp thị xã Hồng Lĩnh Thiên Lộc nằm cách trung tâm Thị trấn Nghèn 3 km và cách thành phố Hà Tĩnh 25km về phía Bắc [Xem phụ lục số 1] Vùng núi Thiên Lộc nghiêng dần từ phía Tây về phía Đông với điểm cao
nhất là núi Hồng Lĩnh Xã có đường quốc lộ 1A, đường tỉnh lộ 7 và đường Thiên
An đi qua - đây là những con đường huyết mạch cơ bản, là điều kiện giao thông thuận tiện để tiến hành giao dịch buôn bán, trao đổi hàng hóa với các xã và huyện
lân cận nhằm nâng cao điều kiện kinh tế cho người dân
Về tài nguyên thiên nhiên: Theo số liệu từ phòng thống kê của Xã, diện tích
đất tự nhiên là 3351,46 ha, trong đó đất canh tác 710 ha, đất lâm nghiệp 1279 ha Rừng ở Thiên Lộc có nhiều gỗ quý và nhiều loại động vật quý hiếm và có phong cảnh đẹp với dãy núi Hồng gắn liền với danh thắng chùa Hương Tích Đây là tiềm năng để phát triển du lịch ở Thiên Lộc Hiện có 10 cơ quan, doanh nghiệp đóng trên địa bàn vừa làm dịch vụ vừa là sản xuất kinh doanh, khai thác vật liệu Xã có Trung tâm Thương mại Hạ vàng, Nhà máy chế biến xuất khẩu gạo, nhà máy chế biến thức
ăn gia súc và có nhiều tiềm năng về khoáng sản, nhất là đá granit với trữ lượng cao, là điều kiện để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp thu hút được đầu tư của các doanh nghiệp - một nguồn huy động vốn lớn trong NTM và tạo nhiều việc làm cho người dân địa phương
Đến thời điểm 1/4/2014, tổng dân số của xã là 2060 hộ với 7744 nhân khẩu
được phân bố trên 10 thôn Thành phần dân cư 100% dân tộc Kinh và 100% lương giáo nên có tính thuần nhất cao trong quản lý Nhân dân Thiên Lộc cần cù, ham học, có truyền thống cách mạng, là đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang và anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới nên các DH càng nỗ lực phát huy vai trò để tiếp nối
truyền thống ấy
Kinh tế của xã phát triển với tốc độ khá cao, cơ cấu tỷ trọng các ngành chuyển
dịch theo hướng tích cực: Năm 2013 tổng diện tích gieo trồng 627/627 ha đạt 100%
kế hoạch, chăn nuôi có tổng đàn trâu bò 1.113 con, đàn lợn 1.045 con, gia cầm tổng
đàn 15.000 con Diện tích nuôi trồng thuỷ sản 18,2 ha, các hộ nuôi trồng có diện tích trang trại lớn Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại đều đạt doanh thu
Trang 32khá cao Đặc biệt, việc xây dựng, xúc tiến đầu tư đã triển khai xây dựng các công
trình theo kế hoạch năm 2013 đạt 23,360 tỷ đồng Trong đó: gói bổ sung dự án nước sạch NT 6 tỷ đồng, Ủy ban nhân dân xã tổ chức xây dựng 5 tuyến kênh bê tông; triển khai xây dựng 09 công trình Nhân dân tập trung đóng góp và xây dựng hàng trăm ngôi nhà mới, tổng giá trị xây dựng toàn xã đạt 50 tỷ đồng Đây là nhờ vào huy động đóng góp về tinh thần và vật chất từ người dân với sự động viên rất lớn của các DH tại địa phương
Các hoạt động văn hoá, thể thao được triển khai rộng khắp, sôi nổi chào mừng
ngày thành lập Đảng, mừng năm mới, lễ hội Chùa Hương và các ngày lễ lớn trong năm Chính quyền, DH và người dân phối kết hợp tổ chức, thu hút sự quan tâm của
nhiều du khách đến tham gia
Xã luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ GD, đào tạo các năm học Cả 3 trường
tiếp tục đạt kết quả cao xếp vào tốp đầu của huyện, số học sinh giỏi dẫn đầu toàn huyện, đặc biệt trường Tiểu học và trường Mầm non, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS đạt 99% Phong trào khuyến học của các DH đóng góp không nhỏ vào thành tích chung này
Về công tác YT: Trạm YT xã đã tổ chức khám 2,468 lượt, điều trị tại trạm 527
ca, thực hiện tốt các chương trình YT tiêm chủng, sinh sản, vệ sinh YT cộng đồng; lập thủ tục cấp phát 72 thẻ Bảo hiểm YT cho trẻ < 6 tuổi Các DH động viên con
cháu tham gia đóng các loại bảo hiểm YT và đảm bảo sức khỏe cộng đồng
Về quốc phòng – an ninh: Năm 2013, động viên 10 thanh niên lên đường, đón
3 quân nhân hoàn thành nghĩa vụ trở về địa phương Thành lập mới 8/10 tổ tự quản theo Nghị quyết Hội đồng Nhân dân xã; thực hiện tốt công tác tuần tra bảo vệ tốt an toàn trong dịp tết Nguyên đán, Lễ hội Chùa Hương, tình hình An ninh trật tự tương đối ổn định [42, tr.2]
1.2.2 Một số văn bản quy định của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới
Ngày 5/8/2008: Nghị quyết số 26-NQ/TW của BCH TƯ Đảng khóa X “về nông nghiệp, nông dân, NT”
Ngày 16/4/2009: Quyết định 491/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành bộ tiêu chí quốc gia về NTM
Trang 33Ngày 4/6/2010: Quyết định số 800/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về Phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020 Ngày 2/12/2011: Thông tư số 17/2011/TT-BVHTTDL của Bộ VH – thể thao
và du lịch quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục xét và công nhận “Xã đạt chuẩn VH NTM”
Ngày 20/2/2013: Quyết định số 342/QQĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ v/v Quyết định sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM
Ngày 4/10/2013: Thông tư 41/2013/TT-BNNPTNT của Bộ nông nghiệp và Phát triển NT v/v Hướng dẫn bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM
Ngày 6/11/2013: Công văn số 255/VPDP v/v hướng dẫn xây dựng Khu dân cư kiểu mẫu
Ngày 5/12/2013: Công văn 11/BCĐ-VPĐP v/v Báo cáo kết quả thực hiện chương trình NTM từ 2011 – 2013
Ngày 14/3/2014: Quyết định số 372/QĐ-TTg của Chính phủ v/v xét công nhận
và công bố địa phương đạt chuẩn NTM
Ngày 5/5/2014: Quyết định số 639/QĐ-TTg của Chính phủ v/v Ban hành Chương trình công tác năm 2014 của Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM
…
Những Quyết định, Nghị quyết, Thông tư, công văn quy định về xây dựng NTM do các Ban ngành liên quan từ Trung ương cho đến địa phương ban hành trở thành định hướng chỉ đạo cho việc thực hiện các hoạt động cụ thể xây dựng NTM ở Thiên Lộc Đây là “kim chỉ nam” cho thành tích xây dựng NTM mà Ủy ban nhân dân xã kết hợp với các tổ chức đoàn thể địa phương, trong đó có các DH phấn đấu đạt được
Trang 34CHƯƠNG 2 HOẠT ĐỘNG CỦA DÕNG HỌ THỰC HIỆN VĂN HÓA, XÃ HỘI, MÔI
TRƯỜNG TẠI XÃ THIÊN LỘC HIỆN NAY
Trong xu hướng kinh tế - XH mới với nhiều biến đổi, quan hệ DH ngày càng được quan tâm phục hưng, củng cố và phát triển Đặc biệt, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia XDNTM, DH trở thành một trong những nguồn lực quan trọng tham gia các hoạt động chính trị - XH Trong đó, các hoạt động về GD, YT, VH và
MT được DH tiếp tục thực hiện mạnh mẽ hơn kể từ khi tham gia vào XDNTM, càng ngày càng thể hiện được vai trò của DH đối với đời sống người dân nói riêng
và sự phát triển của làng xã NT nói chung
Báo cáo thành tích XDNTM của xã Thiên Lộc nhấn mạnh đến việc “ưu tiên các tiêu chí phù hợp với điều kiện địa phương tạo được sự đồng thuận cao trong quần chúng nhân dân.”[8, tr.9] Qua khảo sát ý kiến người dân cho biết DH cũng có
sự sắp xếp thứ tự ưu tiên các hoạt động tham gia tiêu chí “VH – XH – MT” trong xây dựng NTM: Ưu tiên thứ nhất là hoạt động GD, thứ hai là hoạt động VH, thứ ba
là hoạt động YT và cuối cùng là hoạt động MT
Biểu đồ 2.1: Thứ tự ưu tiên các hoạt động của dòng họ trong nông thôn mới
[Nguồn: Số liệu khảo sát, 2014] Theo đó, DH đã triển khai các hoạt động cụ thể phù hợp thứ tự ưu tiên với từng nội dung của tiêu chí đề ra nhằm đạt hiệu quả cao nhất, khẳng định được vai trò DH
Trang 352.1 Các hoạt động của dòng họ trong lĩnh vực giáo dục
2.1.1 Nâng cao công tác khuyến học, khuyến tài
Truyền thống hiếu học là một nét đẹp của dân tộc Việt Nam nói chung và DH nói riêng Từ bao đời nay, các DH luôn đề cao việc học, tôn trọng nhân tài và có tinh thần “tôn sư trọng đạo” nên có những GĐ, những DH dù hoàn cảnh kinh tế khó khăn đến đâu cũng cố gắng cho con cái ăn học đường hoàng Thậm chí, nhiều DH
dù “sáng khoai, trưa khoai, tối khoai, khoai ba bữa nhưng cha đỗ, con đỗ, cháu đỗ,
đỗ cả nhà.” [2, tr.47] Để xây dựng cả nước thành một “XH học tập”, phong trào
“DH khuyến học” và “GĐ hiếu học” do hội khuyến học Việt Nam phát động đã được khắp nơi hưởng ứng và trở thành một phong trào quần chúng rộng khắp trong
cả nước Năm 2007, đã có 1,7 triệu GĐ được công nhận là “GĐ hiếu học”, 16.000
DH được công nhận là “DH khuyến học”, trong đó có 151 GĐ là “GĐ hiếu học” tiêu biểu toàn quốc và 70 DH là “DH khuyến học” tiêu biểu toàn quốc [1, tr 200]
Thành lập chi hội khuyến học của dòng họ và có quỹ riêng dành cho giáo dục
Phong trào khuyến học xã Thiên Lộc khởi lên từ rất sớm và có những DH luôn giữ vững cờ đầu Đây là vùng đất hiếu học từ bao đời nay, quê hương nhà chí sỹ yêu nước Võ Liêm Sơn - thầy giáo của các học trò xuất sắc như Trần Phú, Hà Huy Tập, Võ Nguyên Giáp Ngay từ những ngày đầu khởi dựng làng việc học hành đã được ông tổ các DH quan tâm Mục đích học hành được đặt ra rõ ràng là học để lập thân, lập nghiệp cả về danh và lợi Việc học dần trở thành phong trào trong đó có cả việc đua tranh giữa các GĐ, các DH Tiếp nối truyền thống ấy, hoạt động GD truyền thống hiếu học ở xã được tiến hành rất mạnh mẽ, phát triển rộng khắp với việc thành lập các chi hội khuyến học Theo thống kê, năm 2013 có 1450 hộ GĐ đăng ký phấn đấu trở thành GĐ hiếu học, đạt 80,0% số hộ GĐ toàn xã Có 61/70
DH thành lập chi hội khuyến học, đạt 88,0% số DH với nhiều hoạt động phong phú, thiết thực như xây dựng quỹ khuyến học, hỗ trợ các GĐ khó khăn nhằm tạo điều kiện cho con em học tập, hàng năm phát thưởng cho con em có thành tích xuất sắc trong học tập, lập sổ vàng ghi danh những người đạt học vị Tiến sỹ, Giáo sư, tổ chức học tập, tuyên dương những gương điển hình của DH về hiếu học và khoa
bảng “Chi hội khuyến học” đã được xã Thiên Lộc chủ trương từ lâu, mỗi DH là
Trang 36một chi hội Hiện nay đã có 61 chi hội khuyến học, chỉ có một số họ do còn ít người quá nên chưa thành lập được.”[PVS số 3, nam, 43 tuổi]
Đi vào từng hoạt động cụ thể thì có đến 97,5% người được hỏi cho rằng DH mình có thành lập chi hội khuyến học và tương ứng 92,6% có quỹ riêng dành cho
GD Số tiền quỹ dành cho khuyến học của DH chủ yếu là do sự đóng góp tùy tâm của bà con trong họ hoặc được trích ra từ quỹ chung của DH với các mức khác nhau Có DH tiền quỹ khuyến học lên đến hàng chục triệu đồng như họ Võ, họ Đặng, họ Nguyễn
“Từ công đức con cháu, từ tiền hương khói 30 ngàn/đinh/năm thì DH trích ra
một khoản riêng dành cho khuyến học của họ Quỹ khuyến học trung bình hàng năm đạt khoảng 20 đến 30 triệu đồng, có năm con cháu đóng góp được nhiều hơn lên đến 50 triệu đồng.” [PVS số 4, nam, 39 tuổi]
Một số DH nhỏ hơn (họ Hoàng, họ Hồ, họ Trương ) dù công tác khuyến học cũng rất được quan tâm nhưng do điều kiện kinh tế còn khó khăn nên quỹ dành riêng cho GD nằm chung trong quỹ hoạt động của DH, khi có công việc cần thiết sẽ trích ra cho phù hợp từng công việc cụ thể Mỗi DH có quỹ dành cho khuyến học khác nhau nhưng mục đích và hiệu quả sử dụng đều như nhau với mong muốn động viên con cháu phấn đấu trong học tập và rèn luyện
Khen thưởng những tấm gương sáng, con cháu học giỏi trong dòng họ
Từ thành lập chi hội khuyến học, các DH còn có hoạt động khen thưởng dành cho những tấm gương sáng, con cháu học giỏi trong họ với 79,0% ý kiến của người được hỏi Hàng năm, vào dịp giỗ họ, dịp Tết Nguyên đán thì các DH đều triển khai hoạt động khen thưởng con cháu Giá trị của phần thưởng tuy nhỏ, có thể chỉ là tập sách vở, bút viết dành cho năm học mới hoặc số tiền từ khoảng 100 đến 200 nghìn đồng/suất nhưng giá trị tinh thần rất to lớn, đó không chỉ là sự thi đua giữa các GĐ trong DH, là niềm tự hào của GĐ, DH mà còn là động lực để con cháu càng phấn đấu học giỏi hơn, đạt nhiều thành tích cao hơn nữa
“Việc GD con cháu họ nào cũng thực hiện, cách triển khai dẫu có khác nhau đều vì mong cho con cháu mình được tốt hơn Với họ bác thì chủ trương thành lập được hội khuyến học của họ, khen thưởng thành tích học tập giỏi của con cháu trong lễ giỗ họ, hỗ trợ học sinh nghèo vượt khó, người học giỏi có điều kiện học tập
Trang 37rồi nhưng ở những GĐ nào khó khăn thì mình càng phải động viên [PVS số 3,
nam, 43 tuổi]
Trao học bổng cho học sinh giỏi
Với phương châm “học vì ngày mai lập nghiệp”, các họ tộc đã vận động 100% con cháu đến trường Bằng nhiều cách thức khác nhau, nhiều họ tộc huy động con cháu thành đạt đang làm ăn sinh sống ở mọi miền đất nước đóng góp để giúp đỡ hộ nghèo có con học giỏi, thi đỗ đại học Và, không chỉ khen thưởng mà DH còn trao
nhiều suất học bổng khuyến học, khuyến tài “có ông chú ở bên Đức cấp cho mấy
suất học bổng dành cho các cháu học giỏi, đậu đại học mà nhà hoàn cảnh quá, mỗi suất là 2 triệu đồng/tháng và kéo dài cho đến hết 4 năm học đại học luôn.” [PVS số
7, nữ, 45 tuổi] Đặc biệt, DH Phạm với học bổng Phạm Dương và học bổng Phạm
Thị Cầu có nguồn tiền lớn do con cháu thành đạt ở xa quê xây dựng nên không chỉ
có học bổng dành riêng cho con cháu trong DH mà còn cung cấp học bổng cho con
em toàn xã hàng năm Năm 2013, học bổng Phạm Dương trao 19 suất với số tiền là 3.800.000 đồng, học bổng Phạm Thị Cầu trao 6 suất với số tiền là 3.000.000 đồng [41, tr.3] Năm 2014, các DH tiếp tục trao nhiều học bổng hơn đến từng con em học
giỏi có hoàn cảnh khó khăn Những hoạt động khen thưởng và cấp học bổng cho con cháu trong DH học giỏi luôn được duy trì, để con cháu cố gắng phấn đấu
Phong trào xây dựng “tủ sách dòng họ”
Mấy năm gần đây, mô hình “tủ sách DH” đã và đang được hình thành ở nhiều làng quê Đó là một mô hình hay, cần khuyến khích bởi không những góp phần nâng cao dân trí mà còn góp phần hình thành VH đọc ở NT Đến nay, mô hình đã
và đang phát triển, hoạt động hiệu quả tại nhiều địa phương trong cả nước và các
DH ở xã Thiên Lộc cũng không là ngoại lệ
Nếu như đến năm 2009, thống kê trên 20 tỉnh trong cả nước có 67 tủ sách DH thì cuối năm 2013, mô hình Tủ sách DH đã được nhân rộng thành hơn 100 tủ sách Đặc biệt phải kể đến một số tủ sách DH tiêu biểu như: tủ sách của DH Đinh (thôn Khê Ngoại, Văn Khê, Mê Linh, Hà Nội), tủ sách họ Hoàng ở xã Diễn Cát (Diễn Châu, Nghệ An); tủ sách DH Đỗ (thôn Cổ Đẳng, Đồng Tiến, Quỳnh Phụ, Thái Bình) …[45]
Tại xã Thiên Lộc có 21,0% người được hỏi cho biết DH có xây dựng được tủ sách riêng và chủ yếu là DH lớn như họ Đặng, họ Võ
Trang 38Hộp 2.1: Xây dựng tủ sách dòng họ
“Họ cũng có tủ sách bao gồm những giấy tờ liên quan của họ, tạp chí, sách báo bà con đóng góp và có người quản lý chung Sách ở đây chủ yếu là những quyển ghi chép lại lịch sử gia tộc là chính Bà con muốn mượn sách ngày nào, giờ nào cũng được vì tủ sách đặt ở nhà thờ họ, có người quản lý túc trực nên ai cũng thoải mái khi đọc sách.” [PVS số 3, nam, 43 tuổi]
“Trong họ có tủ sách của DH gồm các văn bản GD pháp luật, thư báo và đặt ở nhà thờ Sách thì còn ít, con cháu hay bà con có sách gì hay thì đóng góp ủng
hộ là chính, kinh phí còn hạn hẹp nên chưa có khoản dành mua sách mới, nhưng
“cũ người mới ta”, sách nào cũng là vốn quý, không chỉ người trong họ mới được đọc sách mà cả hàng xóm láng giềng hay người họ khác cũng mượn đọc được” [PVS số 4, nam, 39 tuổi]
Mô hình “Tủ sách DH” tuy còn ít hơn so với các hoạt động khác về khuyến học, nhưng đang ngày càng được các DH quan tâm đầu tư nhân rộng trong địa bàn toàn xã DH này học tập mô hình của DH khác và nhận được sự hưởng ứng của chính quyền cũng như bà con địa phương
Quan tâm đến giới tính của người được hỏi, kết quả thu được như sau:
21,6
98,6 95,9
85,1 82,4
93,9
20,0
94,7
83,2 73,7
90,5 100,0
Trao học bổng HSG
Lập quỹ khuyến học
Khen thưởng Nhắc truyền
thống dòng họ
Hoạt động
%
Nam Nữ
Biểu đồ 2.2: Đánh giá các hoạt động khuyến học theo giới tính người được hỏi
[Nguồn: Số liệu khảo sát, 2014]
Từ biểu đồ trên cho thấy, đa số tỷ lệ nam giới đánh giá các hoạt động khuyến học của DH cao hơn so với nữ giới, chỉ có công tác thành lập hội khuyến học là hoạt động phổ biến có từ lâu đời nên nữ giới đánh giá cao hơn (100,0%) so với nam giới (95,9%) nhưng sự chênh lệch không đáng kể
Trang 39Quan tâm đến độ tuổi của người được hỏi thì trong các hoạt động có hội khuyến học, trao học bổng cho học sinh giỏi, khen thưởng những tấm gương sáng, con cháu học giỏi trong DH thì đa số các nhóm tuổi đều đánh giá cao Nhưng, trong hoạt động “xây dựng tủ sách riêng cho DH” thì nhóm tuổi từ 18 – 25 tuổi có tỷ lệ đánh giá cao nhất (35,5%), nhóm tuổi từ 26 – 35 tuổi có tỷ lệ đánh giá cao thứ hai (22,6%) Trong hoạt động “có quỹ riêng dành cho GD” thì nhóm tuổi trên 60 tuổi
có đánh giá cao nhất (92,3%) so với các nhóm tuổi còn lại, nhóm tuổi từ 46 – 60 tuổi có 82,5% ý kiến cao thứ hai và các nhóm tuổi trẻ hơn với 72,9% và 77,4% ý kiến Đa số các nhóm tuổi đều đánh giá cao các hoạt động khuyến học của DH nhưng hoạt động mới được xây dựng “tủ sách DH” thì nhóm trẻ tuổi đánh giá cao hơn, hoạt động có quỹ riêng dành cho GD lại được nhóm cao tuổi coi trọng hơn Quan tâm đến nghề nghiệp của người được hỏi, có thể thấy giữa các nhóm nghề nghiệp khác nhau chủ yếu đánh giá cao các hoạt động khuyến học của DH, nhưng hoạt động “xây dựng tủ sách DH” thì ý kiến nhóm bộ đội, công an (83,3%); cán bộ công chức Nhà nước (25,8%), sinh viên (50,0%), đặc biệt là nhóm lao động
tự do đánh giá cao hoạt động này với 38,2% Hoạt động “có quỹ riêng dành cho GD” thì đánh giá thấp nhất là nghề sinh viên (50,0%) và giáo viên (57,1%)
Khuyến học được xem là hoạt động phát triển mạnh nhất hiện nay của hầu hết
DH trên địa bàn Xã Thiên Lộc và với những dẫn chứng nêu trên càng khẳng định được DH có vai trò to lớn trong GD truyền thống hiếu học cho con cháu
2.1.2 Nâng cao ý thức về truyền thống, lịch sử của dòng họ
“Xu thế toàn cầu hóa và nền kinh tế thị trường hiện nay đã tạo dựng cho thế hệ trẻ nhiều giá trị quan trọng để bước vào nền kinh tế thị trường đó là sự nhạy bén, tiếp thu cái mới rất nhanh, có đầu óc sáng tạo, dám nghĩ dám làm, bên cạnh đó điều
đáng lo ngại là trong lớp trẻ có xu hướng tỏ ra thờ ơ với truyền thống VH cha ông”
[21, tr.363-364] Trong bối cảnh đó, vai trò của DH càng trở nên quan trọng hơn nhằm GD con cháu ý thức về lịch sử của các thế hệ đi trước, gìn giữ và phát huy truyền thống DH Các DH đã có nhiều hoạt động cụ thể từ nhắc nhở cho đến thực hiện để truyền thống DH luôn gắn liền tinh thần “uống nước nhớ nguồn” thấm nhuần đối với con cháu
Nhắc nhở con cháu về truyền thống, lịch sử dòng họ
Trang 40Theo số liệu khảo sát, với 243 người được hỏi có đến 205 ý kiến (84,4%) cho biết DH có hoạt động nhắc lại truyền thống, lịch sử của DH vào mỗi dịp giỗ họ, lễ Tết Người đảm nhận công việc này là Tộc trưởng hoặc đại diện người cao tuổi, có
uy tín trong họ hoặc là thành viên của hội đồng gia tộc Trong chương trình họp họ thì luôn luôn có thời gian để các vị cao niên đọc lại lịch sử DH để con cháu biết, đặc biệt với những con cháu ở xa về
“Sau khi làm lễ nhà thờ xong, trong lúc chờ đợi, tộc trưởng luôn là người đọc
lại truyền thống, lịch sử DH để con cháu biết, ghi nhớ để ai hỏi còn biết trả lời, để nhìn vào đó mà phấn đấu cho xứng đáng với cha ông Con cháu ở xa mấy khi về tham dự nên họ càng phải nhắc lại truyền thống của cha ông mình.” [PVS số 3,
nam, 43 tuổi]
GD truyền thống không chỉ là nhắc lại lịch sử DH mà còn được biểu hiện qua những hoạt động cụ thể như thờ cúng ông bà tổ tiên, người thân ruột thịt đã mất; viết lịch sử DH, viết gia phả, xây dựng nhà thờ họ, sửa sang mồ mả tổ tiên
Thờ cúng ông bà tổ tiên, người thân ruột thịt đã mất
Trong cuốn Phong tục Việt Nam (Quan-Hôn-Tang-Tế) tác giả Trương Đình
Tín cho rằng “Việc thờ và cúng giỗ tổ tiên là một trong những nghĩa vụ quan trọng của con cháu đối với người đã khuất trong nhà, trong DH mình Việc cúng giỗ được duy trì góp một phần trong việc bảo tồn nền VH của dân tộc giúp chúng ta không quên cội nguồn.” [36, tr.158-160]
Việc thờ cúng tổ tiên nuôi dưỡng ý thức hướng về cội nguồn được các DH đặc biệt quan tâm nên khi đánh giá về hiệu quả công việc này có đến 98,8% cho rằng rất hiệu quả, 1,2% trả lời bình thường Hầu hết người được hỏi đều đánh giá cao hiệu quả, ý nghĩa quan trọng của việc thờ cúng tổ tiên, đã tạo dựng ý thức thường trực về
gia phong Học giả Phan Ngọc trong tác phẩm “Bản sắc VH Việt Nam” đã nhận xét:
“Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên không phải là tín ngưỡng đầu tiên của Đông Nam Á, nhưng ở Việt Nam có hiện tượng mọi tín ngưỡng tôn giáo đều lấy nó làm nền tảng.” [33, tr.102] Với đặc trưng là 100% dân số là người Kinh và đều theo Lương giáo thì thờ cúng tổ tiên càng có điều kiện được thực hiện chu đáo hơn, hiệu quả hơn ở Thiên Lộc
Khi xem xét đến DH của người được hỏi, họ Đặng, họ Võ, họ Trần và họ Nguyễn có 100,0% ý kiến đánh giá hiệu quả Còn tập hợp ý kiến các họ khác có đến