Trong cuốn Tản Đà trong lòng thời đại, tác giả Huỳnh Phan Anh nhiều lần nhắc đến thú chơi trong thơ Tản Đà: “Dường như trong văn chương của ông hàm chứa những cuộc chơi kì thú”, những t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
TRẦN THỊ THU HƯƠNG
“THƠ CHƠI” CỦA TẢN ĐÀ TỪ GÓC NHÌN
TƯ DUY NGHỆ THUẬT
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 01 21 Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Bá Thành
Hà Nội - 2014
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích nghiên cứu 9
4 Phương pháp nghiên cứu: 9
5 Kết cấu của luận văn 9
PHẦN NỘI DUNG 10
Chương 1 Khái niệm về tư duy thơ và thơ chơi Tản Đà 10
1.1 Khái niệm về tư duy thơ 10
1.1.1 Tư duy nghệ thuật 10
1.1.2 Tư duy thơ 11
1.1.3 Sự chi phối của quan niệm thơ đối với tư duy thơ 13
1.2 Thơ chơi như một “tiểu thể loại” 15
1.2.1 Thơ chơi là sự kết hợp giữa yếu tố trữ tình và yếu tố trào lộng 15
1.2.2 Thơ chơi trong văn học dân gian và trong văn học bác học truyền thống 18
1.2.3 Thơ chơi và chơi thơ 27
1.3 Thơ chơi của Tản Đà 30
1.3.1 Tản Đà – một nhà thơ lớn 30
1.3.2 Quan niệm thơ chơi của Tản Đà 34
1.3.3 Vị trí của thơ chơi trong sáng tác Tản Đà 37
Tiểu kết chương I 39
Chương 2 Cảm hứng chủ đạo và nhân vật trữ tình trong 40
thơ chơi của Tản Đà 40
2.1 Cảm hứng chủ đạo 40
2.1.1.Cảm hứng về quê hương đất nước và con người thời đại trong thơ chơi Tản Đà 40
2.1.2 Chữ tài, chữ tình và nhân tình thế thái trong thơ chơi 47
Trang 42.2 Cái tôi trữ tình giang hồ, phiêu bạt và ngông nghênh 53
2.2.1 Mẫu nhà Nho tài tử cuối cùng: đi nhiều, thất vọng và chán đời 53
2.2.2 Chơi là một cách giải sầu, giải thoát, tận hưởng 57
2.2.3 Tự hạ mình, giễu mình, yếu tố thị dân con buôn 59
2.3 Những nhân vật trữ tình đặc biệt 65
2.3.1 Nhân vật ông Trời 65
2.3.2 Nhân vật mĩ nhân tưởng tượng 69
Tiểu kết chương II 74
Chương 3 Thể loại, ngôn ngữ và biểu tượng 75
trong thơ chơi của Tản Đà 75
3.1 Thể loại 75
3.2 Ngôn ngữ 80
3.3 Biểu tượng 90
Tiểu kết chương III 99
PHẦN KẾT LUẬN 100
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mở đầu cuốn Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh, Hoài Chân đã viết: “Từ bao giờ đến bây giờ, từ Hô – mê – rơ đến Kinh Thi đến ca dao, thơ vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại Nó ra đời giữa những buồn vui của loài người
và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế” [63, 45].Thật vậy, thơ ca từ xưa đến nay và mãi đến muôn đời sau vẫn là bạn đồng hành với những hỉ, nộ, ái, ố của cuộc đời Dẫu trong xã hội hiện đại ngày nay khi mà con người ta bị “cơ khí hóa” đến cả tâm hồn – nói theo cách của Nguyễn Tuân thì nàng thơ vẫn khẳng định một chỗ đứng cho riêng mình Thơ - nay không chỉ dành cho các văn nhân, tao nhân mặc khách mà thơ đã là “của chung” mọi người Thơ không phải để
“ngôn chí” mà thơ để nói đời, nói những cái “ối a ba phèng”, người ta hay gọi là thơ chơi Có thể khẳng định thơ chơi là một hiện tượng trong văn học Việt Nam, góp nên một tiếng thơ mới cho nền văn học đương đại Nói như nhà thơ Phùng Quán:
… Một ngày tôi hết nửa ngày say Nằm dài chiếu vầu ngắm trời mây Hứng lên múa bút, thơ lên cót Thơ rượu, thơ tình, thơ cỏ cây !
(Thơ chơi, Phùng Quán) Thơ rượu, thơ tình, thơ cỏ cây… ngày càng trở nên phổ biến trong cuộc sống Do đó chúng ta cần xem xét thơ chơi như một hiện tượng, một thể loại văn học không thể thiếu để từ đó thấy được đặc điểm cũng như vai trò của nó trong đời sống và trong văn học
Không ai có thể phủ nhận được vị trí “bản lề” của nhà thơ Tản Đà trong văn học giao thời Chính vì thế Hoài Thanh đã thành kính thắp nén hương chiêu hồn anh Tản Đà trong hội tao đàn của Thơ mới và trịnh trọng gọi thi nhân là “người của hai thế kỉ” Không chỉ khép lại cánh cửa thơ ca của cửa Khổng sân Trình thống trị hàng nghìn năm và đưa văn học bén duyên với cái Tây, cái mới; Mà
Trang 6trong nền văn học dõn tộc, Tản Đà cũn được xem như là một trong những người
cú cụng phỏt triển loại thơ chơi
Là người tài hoa, cú cỏ tớnh độc đỏo, cú một vị trớ quan trọng trong đời sống văn chương thời đú, Tản Đà đó mở ra một lối sống mới, một cỏch thể hiện mới làm cho bộ mặt thơ ca cú phần thay đổi Bước vào sõn khấu cuộc đời với chộn rượu khật khưỡng trong tay, với “tỳi thơ đeo khắp ba kỡ”, thi sĩ của sụng Đà, nỳi Tản thực sự đó để lại một dấu ấn cỏ nhõn riờng
Cú rất nhiều ý kiến nghiên cứu thơ Tản Đà (như Trần Đình Sử, Trần Đình Hượu, Xuân Diệu, Huy Cận, Trần Ngọc Vương…) song, từ trước tới nay chưa ai
hệ thống húa nội dung thơ chơi trong sự nghiệp Tản Đà và đỏnh giỏ vị trớ vai trũ của nú trong sự nghiệp của nhà thơ Qua thơ chơi, người đọc được tiếp cận gần hơn với con người đời thường của Tản Đà và ngược lại, cũng từ việc tiếp cận con người trong thơ ụng, người đọc ngày hụm nay sẽ cú một cỏi nhỡn sõu sắc và cụ thể hơn về thơ Tản Đà trong tiến trỡnh thơ ca Việt Nam trung đại, hiện đại và cả đương đại Bộ phận thơ chơi của Tản Đà là nhõn tố tạo nờn hồn cốt, phong cỏch thơ đặc sắc của ụng
Thực hiện đề tài này - một đề tài thuộc chuyên ngành văn học Việt Nam, chúng tôi muốn nghiờn cứu hiện tượng thơ chơi của Tản Đà và đặt nú trong văn mạch núi chung để thấy được xu hướng thơ ca hiện đại từ gúc nhỡn tư duy nghệ
thuật Giải quyết đề tài “Thơ chơi” của Tản Đà từ gúc nhỡn tư duy nghệ thuật,
chúng tôi còn nhằm mục đích góp phần trang bị thêm lý luận, kiến thức nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy phần thơ Tản Đà trong các cấp học hiện nay đặc biệt là cấp phổ thông cơ sở
Xuất phát từ lý do này, luận văn của chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là:
“Thơ chơi” của Tản Đà từ gúc nhỡn tư duy nghệ thuật
2 Lịch sử vấn đề
Trong lịch sử nghiờn cứu văn học, cú một số tỏc giả đó đề cập đến hiện tượng “thơ chơi” hoặc chữ “chơi” trong văn học một cỏch khỏi quỏt “Cú thể núi, chưa bao giờ, loại thơ vui, thơ giải trớ hay gọi là thơ chơi lại phỏt triển phong phỳ
Trang 7và đa dạng như bây giờ Thơ vui, thơ chơi là loại thơ mang tính dân gian, tính chất
trào lộng, tính khôi hài” [57; 584] Trong cuốn Tư duy thơ và tư duy thơ Việt Nam
hiện đại, tác giả Nguyễn Bá Thành đưa ra quan niệm, mà theo ông, loại thơ chơi
ông đề cập đến là những bài thơ “mang tính trào lộng, tự trào, đôi khi có ý bông đùa, giễu nhại” Nhà nghiên cứu khẳng định: thơ chơi không chỉ xuất hiện như một loại sáng tác, một “tiểu thể loại”, một chủng loại mà nó như là một thứ gia vị, một hoạt chất mới có rất nhiều trong các sáng tác thơ hiện nay Đây là những gợi
mở vô cùng quý báu và là định hướng để chúng tôi thực hiện luận văn này
Một tài liệu khác bàn về chữ “chơi” trong văn học mà chúng tôi được dịp
tiếp cận đó là bài viết của tác giả Trần Ngọc Hiếu (in lần đầu trên Tạp chí Nghiên
cứu văn học 11-2011, trang 16-27) Trong bài viết của mình, tác giả Trần Ngọc
Hiếu đã cắt nghĩa “sự chơi”, theo quan niệm của Johan Huizinga, được hiểu là
“…một hoạt động tự do, tách ra một cách tương đối khỏi cuộc đời „thường nhật‟ như là một sự „không nghiêm trọng‟ song đồng thời lại có khả năng cuốn hút người chơi mãnh liệt và tuyệt đối Nó là một hoạt động không gắn với một quan tâm vật chất nào và vụ lợi nào Nó triển diễn bên trong những giới hạn không gian
và thời gian của riêng mình, tuân theo những luật lệ cố định và theo một cách thức mang tính mệnh lệnh” Từ diễn giải về sự chơi như thế, có thể thấy chơi được định nghĩa như là sự đối lập với thực tại, với cái nghiêm trọng, nghiêm túc Sự chơi tạm thời đưa con người bước ra khỏi quỹ đạo của cuộc đời thường nhật với những giới hạn không-thời gian, những quy luật, tất yếu của nó, để thâm nhập vào một thế giới khác vừa ở trong mà cũng vừa ở ngoài thực tại, mang tính tự trị tương đối (có không gian-thời gian riêng, có những luật lệ riêng) Con người chơi để được là mình, để không bị quy giản thành một thực thể duy lý vì “chơi là phi duy lý” Con người chơi như một cách để tìm kiếm ý nghĩa sự tồn tại của chính mình, như một cách để tạo nghĩa cho chính thế giới mà y tồn tại trong đó Con người chơi để khai phá sự tự do khi vượt qua những tất yếu của thực tại, để phát hiện những khả thể của bản thân và của chính thế giới Với tài liệu này, ý nghĩa của sự chơi trong thơ ngày càng hiển hiện sắc nét hơn, định hướng cho vấn đề chúng tôi nghiên cứu
Trang 8Mặt khỏc, chỳng tụi tiếp cận gần hơn với vấn đề khi đọc được những gợi
mở của tỏc giả Trần Ngọc Hiếu trong luận ỏn Lý thuyết trũ chơi và một số hiện
tượng thơ Việt Nam đương đại [28] Trong luận ỏn, tỏc giả Trần Ngọc Hiếu đó chỉ
ra về cơ bản “chơi trong thơ trung đại là chơi với, chơi trong những luật đó hỡnh thành trước, đó rắn lại, nhà thơ chấp nhận những thỏch đố của thể loại, của cụng thức và giải quyết chỳng trờn văn bản” [28, 91] “Tinh thần giải thoỏt thực tại là một biểu hiện đặc trưng của ý niệm trũ chơi trong thơ ca trung đại và hỡnh ảnh nhà nho tài tử” [28, 90] Nếu như trũ chơi trong trung đại nhỡn chung là cuộc chơi của tỏc giả, chấp nhận những thỏch đố của thể loại và giải quyết chỳng trờn văn bản thỡ quan sỏt diễn tiến của thơ đương đại, cú thể nhận thấy một xu hướng: thơ khụng hẳn chỉ là trũ chơi với/trong những luật lệ, quy ước đó sẵn cú; thơ cũn thiết lập nờn những luật lệ mới, quy ước mới, thậm chớ chưa từng tiền lập Những cụng trỡnh nghiờn cứu đó gợi mở cho chỳng tụi một cỏi nhỡn sõu sắc và toàn diện về hiện tượng “chơi” trong văn học và từ đú, chỳng tụi cú mối liờn hệ với thơ chơi Tản
Đà
Cỏc cụng trỡnh nghiờn cứu về Tản Đà chủ yếu khỏm phỏ phương diện phong cỏch, cỏ tớnh, thi phỏp Theo sự thống kờ của Nguyễn Ái Học trong luận ỏn
tiến sĩ Thi phỏp thơ Tản Đà [24], cho đến nay đã có hơn 300 công trình đề cập,
giới thiệu, nghiên cứu, phê bình, bình luận - ở cỏc cấp, từ bỏo cỏo khoa học đến luận ỏn tiến sĩ… về cuộc đời và thơ văn Tản Đà - một khối lượng không thể coi là nhỏ Điều đú khẳng định thơ Tản Đà đã có sức sống mãnh liệt, sâu sắc trong lòng bạn đọc qua nhiều thế hệ Ở đõy, tỏc giả đó chia lịch sử nghiên cứu thơ Tản Đà làm
3 hướng chính: Thứ nhất: nghiờn cứu thơ Tản Đà theo hướng khỏm phỏ, phõn tớch cỏi Tụi ngụng nghờnh, tài hoa, cỏ tớnh của Tản Đà Thứ hai: nghiên cứu thơ Tản Đà theo hướng tìm hiểu tư tưởng, loại hình nhà văn - xã hội Thứ ba: nghiên cứu thơ Tản Đà theo hướng phân tích, bình luận, bình giảng các tác phẩm thơ Tản Đà trên các mặt nội dung và nghệ thuật, theo từng chủ đề, vấn đề - phần nhiều theo lối thưởng thức, cảm thụ chủ quan Chúng ta có thể nói đến công trình của các tác giả
Trang 9theo xu hướng này- kể từ khi thơ Tản Đà xuất hiện cho đến nay như: Trương Tửu, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Xuân Diệu
Sầu và mộng là một đặc điểm dễ thấy trong văn chương Tản Đà – một “nhà
văn” mang đậm dấu ấn cỏ nhõn Trong bài viết Sầu - Mộng và sự hiện diện của cỏi
Tụi cỏ nhõn [60] Trần Văn Toàn khẳng định: Dấu vết của loại hỡnh văn chương
chức năng vẫn tồn tại ở Tản Đà một cỏch khỏ rừ nột (chủ yếu ở những tỏc phẩm thuộc loại văn vị đời) nhưng những sỏng tỏc cú ý nghĩa văn học sử quan trọng nhất của ụng lại thuộc về loại hỡnh văn chương nghệ thuật Chớnh nhờ những tỏc phẩm thuộc loại này mà cỏi Tụi cỏ nhõn bắt đầu hiện diện như một tiờu điểm thẩm mỹ trong những sỏng tỏc của Tản Đà qua hai phạm trự thẩm mỹ chớnh: Sầu - Mộng Văn chương nghệ thuật mà nhà nghiờn cứu núi đến ở đõy chớnh là văn chơi theo quan niệm của luận văn, nú đối lập với văn vị đời Chớnh ở mảng văn chơi, sỏng tỏc của ụng đó đạt đến đỉnh cao nghệ thuật và cú ý nghĩa quan trọng tạo nờn bản sắc riờng của thi sĩ
Khi tỡm hiểu sự nghiệp của Tản Đà, ngoài yếu tố sầu và mộng, sự lóng mạn cũng được nhắc đến như một đặc trưng phong cỏch của thi nhõn Xuõn Diệu qua
bài viết của mỡnh trong cuốn Bỡnh luận cỏc nhà thơ cổ điển Việt Nam [9] đó khẳng định chất lóng mạn trong ngũi bỳt Tản Đà: “Chất lóng mạn thỡ vạn đại vốn cú ở
trong giú mõy sấm chớp của trời đất, vốn cú trong thơ Nguyễn Khuyến, thơ Nguyễn Trói, Nguyễn Du… nhưng chủ nghĩa lóng mạn với cỏi tụi, cỏi bệnh của thế kỉ… với cỏi buồn mơ màng, cỏi xỳc cảm chơi vơi của cỏi tụi thỡ phải thời hiện đại của thế giới mới cú, ở Việt Nam, phải những chục năm đầu của thế kỷ 20 với
Tản Đà, mới cú” [9; 631] Xuõn Diệu phỏt hiện ra “cỏi nhỡn hiện thực tinh quỏi và
khụng thiếu cỏi hơi tỏn ghẹo” và những cuộc chơi kỡ thỳ trong thơ Tản Đà Những vần thơ ấy mang dỏng dấp của thơ chơi từ nội dung đến hỡnh thức Nhiều bỡnh luận sõu sắc và tinh tế của Xuõn Diệu đó giỳp chỳng tụi trong quỏ trỡnh tỡm hiểu thơ chơi của Tản Đà
Nhiều cuốn sỏch tổng hợp cỏc bài nghiờn cứu về Tản Đà và thơ văn của
ụng, tiờu biểu là cuốn Tản Đà, khối mõu thuẫn lớn [11] Cỏc tỏc giả đó chỉ rừ
Trang 10những yếu tố thời đại ảnh hưởng đến sự nghiệp, cá tính sáng tác của Tản Đà Qua cuốn sách này, chúng tôi hiểu hơn về những chặng đường văn chương của Tản Đà
và phần nào thấy được vị trí của thơ chơi trong tiến trình sự nghiệp sáng tác của thi sĩ Tác giả cuốn sách nhận định: “Tản Đà là nhà văn đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam có can đảm sinh sống bằng ngòi bút của mình Tản Đà chính là nhà
văn thứ nhất mà “vợ dại con thơ, sự sinh hoạt trông nhờ một ngòi bút” [11; 33]
Bắt đầu từ Tản Đà, quan niệm văn chương là một trò du hí trong những lúc trà dư
tửu hậu đã được thay thế bằng một quan niệm thực nghiệp: “Bán văn buôn chữ
kiếm tiền tiêu” (Lo văn ế) Một lần nữa, chúng tôi càng có cơ sở khẳng định: Tản
Đà có quan niệm văn chương là một trò chơi du hí Mặc dù sau này bị gánh nặng cơm áo ghì sát đất nhưng chất “chơi” trong sáng tác của Tản Đà nói chung và trong thơ ca nói riêng vẫn còn dấu ấn rất đậm nét Điều đó đã thể hiện một phần cá tính con người Tản Đà Bên cạnh đó, tác giả cuốn sách mượn lời Xuân Diệu để nhấn mạnh: “… Lần đầu tiên Tản Đà dám vẩn vơ, dám mơ mộng, dám cho trái tim
và linh hồn được có quyền sống cái đời riêng của chúng, cái đời phóng khoáng như “gió, trăng, mây, nước”, chứ không phải chỉ có cuộc sống vật chất mà thôi…” [11; 167] Từ đó, tác giả cuốn sách khẳng định: có nhân tố lãng mạn trong sáng tác của Tản Đà Đây chính là một trong những cơ sở tạo nên thơ chơi của Tản Đà Bởi nếu không có tầm hồn lãng mạn thì sao những vần thơ chơi kia có thể trụ lại mãi cùng thời gian được? thơ chơi hay chính là tâm hồn phóng khoáng, bay bổng, không vướng bận cơ mưu tư dục của thi sĩ
Cuộc đời, sự nghiệp, các giai thoại và những bình luận về Tản Đà có lẽ
được tập hợp đầy đủ nhất trong cuốn Tản Đà trong lòng thời đại [80] Các bài viết
cho chúng tôi cái nhìn đa diện, nhiều chiều về con người và sự nghiệp sáng tác của Tản Đà Tản Đà là một trong những tác gia văn học lớn, thơ ca của ông có vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học dân tộc giai đoạn giao thời Là một nhà nho chuyển
ra viết báo, viết văn, sáng tác của ông cũng mang dấu vết của bước chuyển đổi Sự chuyển đổi của thời buổi giao thời ảnh hưởng rất lớn đến sáng tác cũng như quan niệm của Tản Đà Mảng thơ chơi từ văn học trung đại đến Tản Đà vì thế trở nên rõ
Trang 11nét hơn, đậm đặc hơn và định hình như một thể loại Trong cuốn sách này, chúng tôi được tiếp cận cụ thể hơn về cuộc đời, văn nghiệp của một “nhà nho đem văn chương bán phố phường” Cuốn sách tổng hợp rất nhiều bài nghiên cứu của các học giả nổi tiếng như: Nguyễn Khắc Xương, Trần Ngọc Vương, Trần Đình Hượu… Từ đó tạo cơ sở khoa học chắc chắn để chúng tôi giải quyết những vấn đề đặt ra trong luận văn
Tìm hiểu sáng tác của Tản Đà, nhiều tác giả đã chỉ ra sự hiện diện của yếu
tố “chơi” Trong cuốn Tản Đà trong lòng thời đại, tác giả Huỳnh Phan Anh nhiều
lần nhắc đến thú chơi trong thơ Tản Đà: “Dường như trong văn chương của ông hàm chứa những cuộc chơi kì thú”, những thú chơi của ông cũng mang nhiều nét thi vị Cho nên rất có thể người đọc sẽ dễ dàng rơi vào chỗ lúng túng lo âu khi nghe Tản Đà nói về ông:
“Văn chương thời nôm na Thú chơi có sơn hà”
Người đọc lúng túng lo âu vì không biết bằng từng ấy chữ ông muốn ám chỉ về cái
gì, ông muốn giới thiệu với người đọc khía cạnh nào của tâm hồn ông, sự nghiệp nào của đời ông Và Huỳnh Phan Anh nhận định: “Có phải là văn chương và thú chơi nhập làm một ở Tản Đà? Hơn thế nữa, đó chính là văn chương như một thú chơi, và thú chơi như một thể văn chương Ở đây không còn ranh giới nào cách ngăn giữa người thơ và cuộc đời, giữa sống và viết, giữa việc làm thơ và làm người” [80, 354] Như vậy, đọc thơ Tản Đà, người ta không thể không nhớ tới, kể tới cuộc đời của ông trên những bước thăng trầm trải qua khắp các miền đất nước Cuộc đời đó, với những biến động và xê dịch nối tiếp nhau không ngưng nghỉ, đã
để lại trên văn chương ông những dấu vết đậm đà Cuộc đời đó dường như lúc nào cũng hiển hiện trong thơ ông như một cái bóng trung thành Tản Đà không ngần ngại mang vào trong thơ ông cả những chi tiết nhỏ nhặt làm nên cái nếp sống thường ngày vô cùng phong phú của chính ông Qua bài viết của Huỳnh Phan Anh chúng tôi được dịp hiểu sâu hơn về văn chơi của Tản Đà Từ đó, chúng tôi càng thêm niềm tin để khẳng định rằng thơ chơi là một phần sự nghiệp của Tản Đà và
Trang 12Tản Đà làm mảng thơ ấy một cách hoàn toàn có ý thức Bởi bản thân Tản Đà tự
nhận: Ðời chưa chán tớ, tớ còn chơi (Còn chơi)
Có thể nói, thú ăn chơi đã ngấm vào con người Tản Đà, trong thơ ông, người ta thấy rất nhiều cuộc chơi: chơi Hòa Bình, chơi trăng, chơi Huế… và với ông thơ cũng là một thú chơi Thú chơi thơ của Tản Đà không giống với thú chơi thơ của các tao nhân mặc khách xưa như trong: cầm, kì, thi, họa, mà thơ đối với Tản Đà như một thú giải trí, tiêu khiển, mua vui Từ khảo sát đó, chúng tôi nhận thấy, nội dung trong thơ chơi Tản Đà là một vấn đề thực sự đáng nghiên cứu, vì bản thân thi sĩ cũng tự ý thức tìm tòi, thể hiện mình trong mảng thơ này Tuy nhiên bài viết của Huỳnh Phan Anh mới chỉ dừng lại ở việc khám phá, phát hiện ra điều
lí thú này trong thơ Tản Đà, khuôn khổ chật hẹp của bài viết không cho phép tác giả đi sâu – điều mà chúng tôi sẽ làm rõ trong luận văn này
Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra quan niệm của Tản Đà về loại văn chơi, trong đó chúng tôi đặc biệt chú ý đến nhận định của tác giả Trần Đình Hượu
trong cuốn Thơ Tản Đà – Tác phẩm và lời bình Bài viết của Trần Đình Hượu đã
chỉ ra: “Văn Nôm từ thế kỷ XVII-XVIII cho đến Tản Đà là miếng đất dành cho những tình cảm thiết tha, cho tự do, cho cá nhân, cho tình yêu và cho cả những lời chua cay, mỉa mai, khinh bạc trước thói đời nữa… Văn Nôm chỉ là thứ văn viết chơi” [59, 142] Qua bài viết của Trần Đình Hượu, chúng tôi có cơ sở để khẳng định văn chơi, trong đó có thơ chơi – là một bộ phận quan trọng trong sáng tác của
Nhìn chung những công trình nghiên cứu chúng tôi được dịp tiếp cận đã cung cấp rất nhiều tư liệu quý báu về cuộc đời và văn nghiệp của Tản Đà và đặc biệt cho chúng tôi thấy được tính chất ngông, sầu, mộng trong thơ của thi nhân Và trong suốt cuộc đời ngắn ngủi, gói trọn trong nửa phần thế kỉ của mình, phải chăng thi sĩ chỉ muốn khẳng định một điều: văn chương và thú chơi chỉ là một Người thơ của núi Tản sông Đà đã mang túi đi rong chơi trên khắp ba miền đất nước, không mệt mỏi, không bỏ cuộc Tản Đà đã đánh cuộc với đời, với thơ, ông đã sống
và thách thức chính đời sống Ông đã làm thơ và thách thức chính thơ Thơ chỉ là một cuộc chơi hay không là gì cả Cuộc chơi, đó chính là bộ mặt thật, hiện hữu
Trang 13thật, sự thật của đời sống và của thơ Cuộc chơi, đó chính là nền tảng của cuộc đời
và tác phẩm
Qua quá trình tìm hiểu lịch sử nghiên cứu thơ Tản Đà, chúng tôi nhận thấy
đa số các nhà nghiên cứu , phê bình chủ yếu tiếp cận thơ ông từ góc độ tiểu sử - cuộc đời, phong cách , thể loại, để đi vào thế giới nghệ thuật , chứ chưa có công trình nào nghiên cứu riêng mảng thơ chơi của Tản Đà từ góc độ tư duy nghệ thuật Chính vì vậy, nghiên cứu thơ chơi của Tản Đà từ góc độ tư duy thơ , chúng tôi hy vọng sẽ hé mở được nhiều vấn đề lý thú trong thế giới nghệ thuật còn nhiều bí ẩn
3 Mục đích nghiên cứu
3.1 Với đề tài này, trước hết, chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu một vấn đề đã xuất hiện từ lâu nhưng đến giờ vẫn còn mang tính thời sự, rất thiết thực trong văn học Việt Nam: đó là hiện tượng thơ chơi
3.2 Chúng tôi khảo sát thơ chơi trong toàn bộ sáng tác của Tản Đà và khẳng định đây là một nét độc đáo, đặc sắc trong sự nghiệp của thi sĩ đồng thời thấy được vai trò của thi sĩ như là cầu nối giữa thơ chơi trung đại và hiện đại
3.3 Từ việc tìm hiểu thơ chơi của Tản Đà, chúng tôi hi vọng có thể sẽ tiếp tục phát hiện, khai thác những đề tài khác gợi mở từ đề tài trên
4 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu lịch sử xã hội
Phương pháp thống kê phân loại
Phương pháp nghiên cứu loại hình
Phương pháp liên ngành
Phương pháp tiểu sử tác giả
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1 Khái niệm về tư duy thơ và thơ chơi Tản Đà
Chương 2 Cảm hứng chủ đạo và nhân vật trữ tình trong thơ chơi của Tản Đà Chương 3 Thể loại, ngôn ngữ và biểu tượng trong thơ chơi của Tản Đà
Trang 14PHẦN NỘI DUNG Chương 1 Khái niệm về tư duy thơ và thơ chơi Tản Đà
1.1 Khái niệm về tư duy thơ
1.1.1 Tư duy nghệ thuật
“Tôi tư duy, vậy thì tôi tồn tại” hoặc: “Tôi tư duy, nên tôi tồn tại” (tiếng
Latin: Cogito, ergo sum) là một phát biểu được René Descartes sử dụng đã trở thành yếu tố nền tảng cho triết học Tây phương Câu nói bất hủ và cũng là nguyên
lý chính trong học thuyết của ông - triết học duy lý với tinh thần hoài nghi – một nguyên lý triết học đã ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, đặc biệt
là trong lối tư duy lý tính của người phương Tây, thậm chí trở thành một phong cách sống của con người hiện đại Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 4 (NXB
Từ điển bách khoa Hà Nội 2005): “Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt -Bộ não người- Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận.v.v ” Theo triết học duy tâm khách quan, tư duy là sản phẩm của “ý niệm tuyệt đối” với tư cách là bản năng siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật chất Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy là một trong các đặc tính của vật chất phát triển đến trình
độ tổ chức cao
Trong cuốn Tư duy thơ và tư duy thơ Việt Nam hiện đại, tác giả Nguyễn Bá
Thành dẫn theo Từ điển triết học: “Tư duy là hoạt động nhận thức lý tính của con người Khí quan của tư duy chính là bộ óc người với một hệ thống tinh vi của gần
16 tỉ tế bào thần kinh” Tư duy không chỉ là một sản phẩm của xã hội hay chỉ là sản phẩm tự nhiên, mà là sản phẩm có tính tổng hòa của quá trình lịch sử nhân loại [57; 38]
Tư duy không chỉ là đối tượng nghiên cứu của khoa học tâm lý , triết học…mà còn là đối tượng nghiên cứu của lĩnh vực nghệ thuật Tư duy nghệ thuật
là phương thức sáng tạo của con người trong lĩnh vực nghệ thuật Đặc trưng tư duy
là phản ánh các mối quan hệ của con người đối với thế giới khách quan , quan hệ
Trang 15con người với con người và quan hệ giữa các sự vật hiện tượng Tư duy nghệ thuật trước hết được hiểu như một phương pháp tư duy phân biệt và đối trọng với tư duy khoa học Nếu như tư duy khoa học thiên về cái tất yếu, cái tất nhiên, cái nguyên nhân thì tư duy nghệ thuật thiên về cái ngẫu nhiên Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về tư duy nghệ thuật; tác giả Nguyễn Bá Thành đã cho rằng: “Tư duy nghệ thuật là sự khôi phục và sáng tạo những biểu tượng trực quan, là sự hình tượng hoá hiện thực khách quan theo nhận thức chủ quan Tư duy nghệ thuật chịu sự chi phối mạnh mẽ của thế giới quan và nhân sinh quan của người sáng tạo” [57; 36] Tư duy nghệ thuật một mặt là hoạt động nhận thức của nhà văn, là quá trình đấu tranh, tìm tòi để nhận thức hiện thực và khái quát hiện thực một cách nghệ thuật theo logic chủ quan, mặt khác tư duy nghệ thuật chính là quá trình nhận thức của độc giả về tác phẩm nghệ thuật, có thể nói tư duy nghệ thuật là “dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật”[57; 381] Tư duy nghệ thuật khác với tư duy khoa họ c là: “Tư tưởng tình cảm không chỉ là năng lượng của tư duy mà còn là đối tượng nhận thức của tư duy…” [57; 54]
Ngay từ khi xuất hiện, tư duy đã gắn liền với ngôn ngữ và được thực hiện thông qua ngôn ngữ Ngôn ngữ chính là cái vỏ hình thức của tư duy Ở thời kỳ sơ khai, tư duy đuợc hình thành thông qua hoạt động vật chất của con người và từng bước được ghi lại bằng các ký hiệu từ đơn giản đến phức tạp, từ đơn lẻ đến tập hợp, từ cụ thể đến trừu tượng Hệ thống các ký hiệu đó thông qua quá trình xã hội hóa và trở thành ngôn ngữ Sự ra đời của ngôn ngữ đánh dấu bước phát triển nhảy vọt của tư duy và tư duy cũng phụ thuộc và ngôn ngữ Ngôn ngữ với tư cách là hệ thống tín hiệu thứ hai trở thành công cụ giao tiếp chủ yếu giữa con người với con người, phát triển cùng với như cầu của nền sản xuất xã hội cũng như sự xã hội hóa lao động
1.1.2 Tư duy thơ
Tư duy thơ là phương thức biểu hiện của tư duy nghệ thuật “Tư duy thơ là phương thức nhận thức và biểu lộ tình cảm của con người bằng hình tượng ngôn ngữ” Đặc điểm quan trọng nhất của tư duy thơ là sự thể hiện cái tôi trữ tình , cái
Trang 16tôi cảm xúc , cái tôi đang tư duy… Cái tôi trữ tình trong thơ được biểu hiện dưới dạng thức chủ yếu là cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp… [57; 59] Do sự chi phối củ a quan niệm th ơ và phương pháp t ư duy của từng thời đại
mà vị trí của cái tôi trữ tình có sự thay đổi nhất định Thơ trữ tình coi trọng sự biểu hiện của cái chủ thể đến mức như là nhân vật số một trong mọi bài thơ Tư duy thơ phản ánh những tình cảm cộng đồng và tư duy thời đại Tìm hiểu tư duy thơ là tìm hiểu sự vận động của hình tượng thơ Tư duy thơ là “sự khôi phục và sáng tạo nên các biểu tượng trực quan để biểu hiện tư tưởng và cảm xúc, nhưng không phải do nhận thức cảm tính quyết định” [57; 61]
Tư duy thơ cơ bản cũng dựa trên ba yếu tố của hoạt động tư duy Con người/ nhà thơ là sản phẩm của tự nhiên và xã hội, là chủ thể của hoạt động tư duy Khi xem xét nhà thơ trong tư cách là con người xã hội thì yếu tố căn bản chi phối mạnh mẽ đến tư duy nghệ thuật thơ chính là quan niệm nghệ thuật của nhà thơ Hiện thực khách quan là đối tượng của hoạt động tư duy Đối với nhà thơ, nhu cầu chính yếu nhất là giãi bày tâm trạng, thể hiện tư tưởng – tình cảm Tư duy thơ
là phương thức nhận thức và biểu lộ tình cảm của con người bằng hình tượng ngôn ngữ Sự sáng tạo nghệ thuật không cần phải dâng lễ vật cho Nàng Thơ để cầu xin như Platon đã nói, cũng không cần bất cứ nguồn gốc ngoại tại nào để thuyết minh
về sự linh cảm Vì nguồn gốc của tính sáng tạo nghệ thuật là tính trực giác, hay cũng gọi là trực giác thi ca Tính trực giác ấy thể hiện rất rõ trong tư duy thơ của Tản Đà
Qua nghiên cứu của tác giả Nguyễn Bá Thành, chúng tôi tiếp thu được hai phương diện quan trọng trong tư duy thơ, đó là yếu tố cá nhân và yếu tố cộng đồng: “Tư duy thơ phản ánh những tình cảm cộng đồng và tư duy thời đại” Như vậy, nghiên cứu thơ chơi của Tản Đà từ góc nhìn tư duy nghệ thuật, chúng tôi có thể thấy được tư duy của người đương thời và bức tranh thời đại rộng lớn đầy biến động mà nhà thơ sinh sống Tác giả khẳng định: tìm hiểu tư duy thơ là tìm hiểu sự vận động của hình tượng thơ Sự vận động của hình tượng thơ vốn tuân theo sự dẫn dắt của đường dây liên tưởng [57; 76] Hình tượng thơ có thể là những biểu
Trang 17tượng có tính khái quát cao, qua đó nhà văn thể hiện cái nhìn khái quát về cuộc đời
1.1.3 Sự chi phối của quan niệm thơ đối với tư duy thơ
Quan niệm “Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí” đã trở thành quan niệm chính thống của văn học trung đại Việt Nam Văn chương trung đại phải có một nội dung xã hội nào đó và phải phục vụ cho mục đích xã hội cao cả Nói như Nguyễn Đình Chiểu: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/ Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” Hầu hết các tác phẩm đều chứa đựng những nội dung răn dạy, giáo huấn Các tác giả văn học trung đại như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du… đều đề cao nhân cách con người Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành, với quan niệm như thế, văn học trung đại thiên về tính lí tưởng, coi trọng
cổ nhân, coi thường hiện tại, coi trọng thiên nhiên, xem thường xã hội Chính quan niệm thơ ca đã chi phối tư duy thơ của các thi nhân Đúng như nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành đã nhận xét: Hầu hết các nhà văn, nhà thơ của ta thời kỳ phong kiến đều là những bậc trí thức, quan công khanh và sĩ đại phu, những người thông thạo chữ Hán, họ làm văn như một sự thể hiện phẩm chất cao quý, sang trọng của mình “Bởi thế văn chương thường có tính cách cao quý, phong cảnh hùng vĩ, thanh tao (núi sông, hoa cỏ, danh lam thắng cảnh) chứ ít khi tả đến cuộc sống, sinh hoạt của kẻ bình dân, người lao động và những cảnh vật thông thường trông thấy hàng ngày quanh mình (cảnh đồng áng, chợ búa, cày bừa, cấy gặt)”… [57; 137] Tất cả những gì tác giả miêu tả đều chỉ để tượng trưng cho những điều lớn lao Tư duy thơ ca trung đại là tư duy hướng nội, các nhà thơ lấy cái tôi làm trung tâm biểu biện, khoác lên sự vật hiện tượng những màu sắc chủ quan
Quan niệm thơ sẽ chi phối cách nhìn, cách nghĩ của nhà thơ về cuộc đời Bên cạnh đó, cũng phải kể đến sự ảnh hưởng của yếu tố thời đại Tác giả Nguyễn Khuyến và Tú Xương có nhiều điểm tương đồng về tư duy thơ Cả hai ông đều khai thác cái hài, đều thiên về phê phán đạo đức, sự xuống cấp, lố lăng của cuộc sống buổi giao thời Nhưng Tú Xương, sinh ra và lớn lên ở đất Vị Hoàng nên thơ của ông thiên về phản ánh cuộc sống thị dân, còn Nguyễn Khuyến gắn bó với
Trang 18mảnh đất Yên Đổ, Bình Lục nên thơ ông nhắc nhiều đến tầng lớp quan lại và nông dân Tư duy thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương hướng tới chuyện đạo, nhưng đó là cái đạo của thời nay, cái lỗi đạo của con người, của xã hội vào thời buổi đất nước suy vi chứ không phải là cái “đạo” mà văn chương xưa nay phải “chở” Với quan niệm dùng văn chương để truyền bá tư tưởng độc lập và dân chủ, tư duy thơ của Phan Bội Châu giai đoạn đầu chịu ảnh hưởng lớn của tư duy chính trị Ở giai đoạn cuối đời, tư duy nghệ thuật thiên về tư duy Nho giáo
Tản Đà xếp thơ vào loại “văn chơi”, để đối lập với “văn vị đời” Ảnh hưởng của quan niệm văn học cũ ở Tản Đà biểu hiện rõ nhất trong cách phân biệt sáng tác ra “văn chơi” và “văn vị đời” Nếu nói Tản Đà vẫn còn ảnh hưởng của văn học nhà Nho “thi dĩ ngôn chí” thì cái chí của Tản Đà là cái chí ăn chơi Trong bài “Hầu
Trời” nhà thơ trình bày có văn thuyết lý là “Hai quyển “Khối tình”, văn chơi có
“Hai “Khối tình con”, “Đài gương”, “Lên sáu” văn vị đời… Cũng giống quan
niệm của các nhà thơ xưa, Tản Đà coi văn vị đời, văn có ích là những tác phẩm nói
về tư tưởng, đạo lý, có tác dụng giáo huấn như ông liệt kê ở trên Với quan niệm văn chương như thế, toàn bộ tư duy thơ của Tản đà đã ưu tiên cho loại “văn chơi” Ông “chơi ngông” ông “say”, ông “đưa thư cho người tình nhân”, ông biến thơ thành các bài hát “xẩm” Ông “hỏi gió”, ông “hầu trời”, để rồi thốt lên “thơ thẩn”,
“đời đáng chán” [57; 168] Tản Đà đã báo hiệu sự đổi mới tư duy thơ Việt Nam
mà theo nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành, đó là “một bước phát triển mới của tư duy hình tượng” Thơ từ chỗ ráp từ ngữ theo khuôn cố định đã bung ra để biểu
Trang 19chuyển sang một bước ngoặt, một bước nhảy trong quá trình phát triển chậm chạp của tư duy thơ Việt Nam” [57; 175]
1.2 Thơ chơi như một “tiểu thể loại”
1.2.1 Thơ chơi là sự kết hợp giữa yếu tố trữ tình và yếu tố trào lộng
“Thơ chơi” là một khái niệm chưa hình thành thể loại, nên ở tên luận văn chúng tôi có sử dụng dấu ngoặc kép (“thơ chơi”) Trong quá trình làm luận văn, chúng tôi ghi nhận thơ chơi như một “tiểu thể loại” của thơ ca
Có thể nói, chưa bao giờ, loại thơ vui, thơ chơi lại phát triển phong phú và
đa dạng như bây giờ Theo tác giả Nguyễn Bá Thành, thơ chơi là loại thơ “mang tính chất dân gian, tính chất trào lộng, tính khôi hài” [57; 584] Thơ chơi, thơ vui
mà chúng tôi muốn nói tới đây là những bài thơ mang tính trào lộng, tự trào, đôi khi có ý bông đùa, giễu nhại Trong điều kiện hội nhập, tự do thì thơ chơi là biểu hiện của tinh thần dân chủ, mặt khác nó thể hiện một xu hướng vui chơi, giải trí, một trò tiêu khiển khá tiêu biểu của người Việt Nam Đối tượng hướng tới của thơ chơi rất phong phú đa dạng, đó có thể là toàn bộ thế giới tự nhiên hay thế giới con người, có thể là xã hội hoặc thế giới tâm hồn sâu thẳm của chính con người Nhiều bài thơ chơi hiện đại viết về những đề tài mang màu sắc dân gian, về cuộc sống vợ chồng hay tình yêu lứa đôi nhưng không thô tục mà thanh nhã, trong sáng Tuy nhiên thơ chơi ở đây không dừng ở thứ thơ thuần giải trí, thơ mua vui, mà tính chất “chơi” thể hiện ở thái độ đứng cao hơn đời, nhìn cuộc sống bằng con mắt của một người nắm rõ quy luật, sự biến thiên của cuộc sống, chứ không phải là thứ thơ của một kẻ tập tành văn chương Chính vì thế chúng tôi xác định, Thơ chơi ở ranh giới giữa trào phúng và trữ tình Thơ chơi mang tính chất uy-mua (humour) có mức độ phê phán nhẹ nhàng, chủ yếu gây cười, mua vui Nó khác cái nghịch dị ở tính chất kín đáo, thâm trầm, không lộ liễu, khác cái châm biếm ở mức độ nhẹ nhàng, đùa vui, thiện ý Thơ chơi đối lập với thơ vị đời, thơ chơi giải phóng con người khỏi những ràng buộc, những khuôn khổ, đạo đức, lễ giáo, để con người được là chính mình “Chơi” hay thơ chơi là sản phẩm của trí tuệ con người, là dấu hiệu của tài năng và biểu hiện của tinh thần lạc quan Người viết khéo léo, nhẹ
Trang 20nhàng vạch ra các mâu thuẫn, tạo ra cái cười bất ngờ, giúp người đọc nhận ra sự trớ trêu của tình huống, mỉm cười nhận ra sự đúng sai của tình huống Chơi thơ là một cách để người nghệ sĩ tìm kiếm ý nghĩa sự tồn tại của chính mình, qua đó thể hiện tài năng người nghệ sĩ
Thơ chơi ở cấp độ thấp nhất là những bài chế nhạo, những lời bông đùa hóm hỉnh, mượn lời của những bài thơ nổi tiếng nhằm mang đến sự hài hước, giải trí Những bài thơ này thường lấy những mô – típ mở đầu trong ca dao, trong những bài thơ nổi tiếng để “nhại” lại nhằm đem đến một tiếng cười sảng khoái, hài hước Bài thơ sau nhại bài “Hai sắc hoa ti gôn” của T.K.Kh:
“Nếu biết rằng em sắp lấy chồng Anh về bắt vịt nhổ sạch lông Tiết canh làm được vài ba đĩa Mượn rượu cho nguôi vết thương lòng Nếu biết rằng em đã lấy chồng
Dại gì mà nghĩ “Thế là xong!”
Email cứ viết, phone cứ gọi Cũng có ngày em… ly dị chồng”
[57; 590], (Dẫn theo cuốn sách của tác giả Nguyễn Bá Thành)
Những bài thơ này không nhằm chế giễu, cười nhạo mỉa mai đối tượng mà chủ yếu đem đến cho người đọc một không khí mới khác với văn bản gốc, từ đó tạo nên tính chất giải trí nhẹ nhàng Có loại thơ chơi không phải mang tính dân gian, tính truyền miệng, mà là có tên tuổi tác giả, có tuyên ngôn của tác giả Nhà Thơ Hữu Ước có viết lời đề từ cho tập thơ chơi của mình:
“Ngẫm mình mỏng sức nông tài Thơ chơi làm tặng con vài ba câu”
Thơ chơi chính là nơi để thi nhân làm nhẹ đi những nỗi đau nhân tình Ở trong thơ, tạm thời thi nhân quên đi những bể dâu cuộc đời để đắm mình trong thế giới của nghệ thuật Với khía cạnh này, thơ chơi đã hoàn thành “sứ mệnh” chức năng của nó, đó là chức năng giải trí Ở góc độ khác, thơ chơi lại thể hiện cái nhìn
Trang 21sắc sảo của tác giả về cuộc đời Thi nhân viết để “chơi”, “chơi văn ngâm chán lại chơi trăng”… nhưng cái “chơi” ấy không chỉ là cái sự chơi bời, hưởng thụ đơn thuần, hay là cái nhìn thờ ơ mà “chơi” ở đây đôi khi lại là “nỗi đau thế sự” được thi nhân gói ghém cẩn thận trong lớp vỏ ngôn từ Như vậy, ta có thể thấy, thơ chơi không chỉ dừng lại ở sự giải trí, mà nó thể hiện một cách sống, một kiểu hoạt động trí tuệ của tác giả Thơ chơi không chỉ xuất hiện như một loại sáng tác, một “tiểu thể loại”, một “chủng loại”, mà nó như là một thứ gia vị, một hoạt chất mới có rất nhiều trong các sáng tác thơ hiện nay Từ các nhà thơ nổi tiếng đến các nhà thơ mới xuất hiện, “thơ chơi và chơi thơ như là một nét hào hoa của thi nhân, thi sĩ thời nay” [57; 593] Thơ chơi đã phá vỡ cái không khí diễn ngôn, đại ngôn, đại tự
sự của những chính khách mà đi vào trạng thái hồn nhiên đời thường để thực sự giao lưu, trao đổi một cách thân thiên và hiệu quả, bỏ qua mọi cản trở có tính ngoại giao, xã giao để hòa nhập, thậm chí hòa tan cái tôi vào trong một cái ta có tính chất phường hội Và ở đó thơ chơi mang màu sắc của lễ hội carnaval rất rõ Con người, cả tác giả và độc giả đều bị cuốn vào một không gian thân mật, thậm chí suồng sã Và nhờ đó, thơ được kéo lại gần hơn với cuộc đời Không chỉ có thi nhân mới làm được thơ, người có học mới đọc được thơ mà thơ chơi “mở cửa tự do” cho mọi đối tượng Chính vì thế, một chức năng quan trọng của thơ chơi chính
là giải trí, sự giải trí vừa là đối với tác giả, vừa là đối với độc giả Nhưng ngay trong sự “dường như không nghiêm túc” ấy ẩn chứa những thái độ nghiêm túc, đáng suy nghĩ về cuộc đời, nhân sinh, về các mối quan hệ Do đó, thơ chơi là một bài học có ý nghĩa sâu sắc, nhưng mang màu sắc châm biếm nhẹ nhàng về các giá trị trong cuộc sống để từ đó, độc giả có thể tự “soi gương” chính mình
Thơ chơi không đả kích hay châm biếm sâu cay đối tượng, mà thơ chơi chỉ như một tiếng cười hóm nhẹ, thể hiện thái độ vô tư, hài hước của tác giả trước cuộc đời Vì thế, thơ chơi nằm trên ranh giới của thơ trào phúng và thơ trữ tình Trào lộng và trữ tình là một nét tiêu biểu của tính cách Việt Nam đã được biểu hiện trong văn học dân tộc “Trữ tình là tình cảm chứa chất, con người trữ tình là con người sống giàu tình cảm” [56, 246] Trong khi đó, trào phúng là tiếng cười
Trang 22bông đùa, khôi hài, giải trí Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành, “về phương diện mĩ học, cái cười được coi là khoái cảm của thắng lợi, khoái cảm của trí tuệ” [56, 255] Thơ chơi Tản Đà mang hai yếu tố quen thuộc của tính cách Việt, thơ ca Việt Tuy nhiên, trong thơ chơi, yếu tố trữ tình đậm đặc hơn yếu tố trào lộng Như vậy, thơ chơi - những vần thơ khoáng hoạt mang chức năng chính là giải trí với tính uy – mua và giễu nhại nhẹ nhàng không nhằm lật đổ đối tượng mà chủ yếu gợi cho người đọc một cách nhìn nhận khác về cuộc sống, nhân sinh Thơ chơi mang mục đích chủ yếu là giải tỏa tâm lý của người cầm bút, họ dạo chơi trong câu chữ để tìm kiếm chính mình Người đọc tìm đến với thơ chơi cũng mong muốn được hưởng thụ và đắm chìm trong một cuộc chơi thực sự
1.2.2 Thơ chơi trong văn học dân gian và trong văn học bác học truyền thống
Trong xã hội đấu tranh giai cấp, đấu tranh tư tưởng, người ta thường xếp thơ trào phúng vào loại thơ chống phong kiến, thơ phê phán hiện thực xã hội… Những bài dân ca trữ tình, những lời ghẹo, những câu hát giao duyên của trai gái dưới ánh trăng, bên cối gạo đều được xếp vào văn học dân gian Theo chúng tôi, đây chính
là những nhân tố tiền đề của thơ chơi Rõ ràng, dân gian ta xưa rất có ý thức hưởng thụ cuộc sống, mượn thơ để thỏa sức “chơi” Cuộc đời thực với quá nhiều vất vả đắng cay đã thôi thúc họ phải “dạo chơi” trong những vần thơ để tạm quên
đi nỗi nhọc nhằn, vì thế, những vần thơ người lao động làm ra mang tính giải trí đơn thuần, để gây cười là chính Tác giả Nguyễn Bá Thành khẳng định: “Có thể nói trữ tình và trào lộng là hai khả năng, hai nét tiêu biểu của tính cách Việt Nam” [57; 585] Trong văn hóa dân gian, số lượng các truyện tiếu lâm, truyện cười và thơ trào lộng chiếm một tỉ lệ lớn Những vần thơ chơi dân gian ấy đã phản ánh nét sinh hoạt và tư duy, tâm lí của người Việt Bên cạnh đó, văn học dân gian còn có những bài ca dao mang màu sắc chế giễu nhẹ nhàng:
“Chồng người bể Sở sông Ngô Chồng em ngồi bếp rang ngô cháy quần”
Trang 23Người xưa không ném cái nhìn khinh bỉ, miệt thị hay chế giễu những người đàn ông hèn yếu, mà lời thơ nhẹ nhàng chỉ như lời nhắc nhở khéo léo Với những hình ảnh so sánh tương phản độc đáo giữa “chồng em – chồng người” và thủ pháp nói quá “rang ngô cháy quần, sờ đuôi con mèo”, dân gian đã khắc họa hết sức ấn tượng bức chân dung những anh chồng yếu đuối, lười nhác Những bài ca dao đã thể hiện cái nhìn phóng khoáng, hài hước của tác giả dân gian về đủ loại đối tượng trong cuộc sống, từ người vợ, người chồng đến bà già, ông lão, thậm chí là cậu học trò:
“Học hành ba chữ lem nhem Thấy gái thì thèm như chửa thèm chua”
Dân gian không cay nghiệt, không đả phá, lời thơ như chơi, như bông đùa ấy đã tạo nên tiếng cười sảng khoái nơi người thưởng thức Bên cạnh đó, văn học dân gian còn mang nội dung hài hước, cười những người phụ nữ thiếu đoan chính:
“Hai tay cầm hai quả hồng, Quả chát phần chồng, quả ngọt phần trai
Đêm nằm vuốt bụng thở dài, Thương chồng thì ít, nhớ trai thì nhiều”
Các cặp hình ảnh tương phản đối lập “Quả chát phần chồng, quả ngọt phần trai” hay “Nhớ chồng thì ít, nhớ trai thì nhiều” đã làm bật lên tiếng cười Những vần ca dao này đã thể hiện xu hướng vui chơi giải trí, một trò tiêu khiển khá tiêu biểu đối với người dân Việt Nam Nó tạo nên tiếng cười giải trí, mua vui Những tiếng cười như thế rất cần trong cuộc sống lao động vốn đã nhọc nhằn cực khổ của họ Những lời ca cất lên trong môi trường lao động nhọc nhằn, trong hoàn cảnh sống khó khăn giống như một dòng nước tươi mát, tưới đẫm tâm hồn của người dân cùng khổ Chính những vần ca ấy đã giúp họ tạm quên đi nỗi cực khổ để hòa mình vào bầu không khí tươi vui, lạc quan Và phải chăng đây là môi trường đầu tiên hình
thành nên những vần thơ chơi, thơ vui “Những lời nói bông đùa như vậy, Kho
tàng ca dao người Việt đã thống kê được 54 bài” [56, 256]
Trang 24Bên cạnh đó còn có những lời thơ châm biếm nhẹ nhàng hoặc phê phán những thói hư tật xấu của con người trong xã hội, giúp con người nhận ra những thói hư tật xấu của mình để từ đó sửa đổi Lời thơ không nặng nề mà vẫn mang giá trị giáo dục, cảnh báo sâu sắc Chính vì thế đây là một ưu thế giúp những vần thơ
ấy có sức sống và sức lưu truyền mạnh mẽ trong nhân dân:
“Quan nhất thời, dân vạn đại” – câu nói đã khẳng định sự trường tồn, sức sống bền
bỉ của những thành quả lao động của “dân” Văn học dân gian trải qua bao thăng trầm của lịch sử vẫn tồn tại và phát triển Bản thân dòng văn học dân gian ấy đã tự định hình, hình thành một lối thơ chơi riêng, độc đáo và hấp dẫn, trở thành những vần thơ của vạn nhà Nói như vậy không có nghĩa là thơ chơi chỉ xuất hiện trong văn học dân gian mà thơ chơi còn hình thành như một “tiểu thể loại” của văn học bác học truyền thống
Trong xã hội phong kiến, với dòng văn học chính thống quan trường, thơ chơi bị hạn chế bởi quan niệm muôn thuở: “Thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo” Ngay
từ thế kỉ XV, xu hướng thơ chơi đã manh nha xuất hiện trong những sáng tác và quan niệm của hội Tao Đàn Bên cạnh lòng tự hào dân tộc, thơ của hội Tao Đàn cũng thể hiện tình yêu với thiên nhiên, các nhà thơ trong hội vịnh thiên nhiên theo những đề tài nhất định như vịnh bốn mùa, vịnh 12 tháng, vịnh năm canh, vịnh đào nguyên bát cảnh Ngoài ra thơ của hội Tao Đàn cũng đề cập đến cả tình yêu lứa đôi hay quyền bình đẳng của người phụ nữ trong xã hội, đây là lần đầu tiên đề tài này xuất hiện trong văn học Việt Nam Trong thơ ca trung đại có thể nói các thi
Trang 25nhân chưa được chơi và chơi hết mình bởi họ bị ràng buộc bởi thứ luật lệ khắt khe của quan niệm phong kiến
Làm thơ ở thời cổ điển, về cơ bản, là chinh phục luật lệ của thể loại; luật ngặt nghèo, nhiều sức ép là phép thử sự tinh vi, thiện nghệ của nhà thơ như “một người thợ trong xưởng thợ của mình” (Trần Đình Sử) (Dẫn theo 29) Do đó, trong văn học trung đại, chơi thơ là gắn với thú “trà dư tửu hậu” Thi nhân chơi thơ và làm thơ nhưng vẫn bị gò bó trong những khuôn khổ, luật lệ nhất định chứ chưa được giải phóng cái tôi ra ràng buộc của lễ giáo phong kiến Khi ý thức cá nhân phát triển, các nhà thơ có xu hướng chơi ngông với đời và từ đó, thơ chơi mới xuất hiện Chữ “chơi” xuất hiện với tần số cao trong sáng tác của những gương mặt tải
tử tiêu biểu như Nguyễn Công Trứ, Tản Đà… Nói đến thú chơi, thơ chơi, không thể không nhắc đến một trong những người khởi đầu, có công tiên phong, đó chính
là Nguyễn Công Trứ Đặt sáng tác của Nguyễn Công Trứ trong một bối cảnh văn học văn hoá rộng hơn, ta sẽ thấy thái độ đề cao thú chơi của ông có một ý nghĩa tích cực, vượt lên cái khuôn khổ đạo lí “khắc kỉ, phục lễ” khô cứng và hẹp hòi Nếu như sách thánh hiền xưa đề cao, ca ngợi người quân tử ở sự chăm lo đạo đức cao thượng mà hạ thấp kẻ tiểu nhân ở chỗ chỉ lo ăn sung mặc sướng thì Nguyễn Công Trứ lại xem trọng cả hai Nếu người xưa chủ trương sống khổ hạnh theo kiểu
an bần lạc đạo, khắc kỉ phục lễ, trên kính dưới nhường thì Nguyễn Công Trứ lại xem cuộc đời này là một cuộc chơi Chính ở điểm này, Tản Đà đã gặp tiền bối Nguyễn Công Trứ Có thể nói rằng đằng sau ngôn ngữ mang hình thức nhà Nho kia, Nguyễn Công Trứ đã gửi gắm vào đấy cái ý thức cá nhân mới mang quan niệm nhân sinh tích cực Bởi thế Nguyễn Công Trứ đã từng phát biểu một cách
thẳng thắn rằng: Thuỳ năng thế thượng vong danh lợi
Tiện thị nhân gian nhất hóa công (Trên đời ai quên được danh lợi, hẳn chỉ có mình ông trời)
Coi cuộc đời này như một túi tiền hữu hạn mà mãi đến năm 42 tuổi vẫn chưa
thành đạt gì, “Nhân sinh ba vạn sáu nghìn thôi/ Vạn sáu tiêu nhăng hết cả rồi”,
còn quá nhiều việc phải làm, nên ông :
Trang 26Chơi cho lịch mới là chơi Chơi cho đài các, cho người biết tay
(Cầm kì thi tửu)
Đọc thơ hành lạc, thơ nói về thú uống rượu, thú đánh tổ tôm của Nguyễn Công Trứ, người đọc dể nhận ra cái khẩu khí hào mại trước cái cảm hứng anh hùng
không giả tạo: “Cuộc hành lạc vẫy vùng cho phỉ chí/ Cuộc hành lạc bao nhiêu là
lãi đấy/ Nếu không chơi thiệt ấy ai bù” Những chữ “hành lạc, chơi” cứ lặp đi lặp
lại trong thơ của Nguyễn Công Trứ như một tuyên ngôn của ông với đời Chữ
“chơi” ở đây không nên hiểu theo nghĩa dung tục, là lối ăn chơi trác táng, bạt mạng Cuộc chơi, tiếng cười ở đây mang màu sắc hội hè Rõ ràng, chúng khẳng định mình một cách quyết liệt trước hiện thực cuộc sống thường nhật với lối sống
ki bo cóp nhặt của người đời, những lễ giáo, tục lệ nghiêm trang chán ngắt trong
xã hội Con người sống ở trên đời cần chơi và phải biết chơi Nguyễn Công Trứ coi cả cuộc đời này là một cuộc chơi lớn và cứ “chơi là lãi” Thơ chơi của Nguyễn Công Trứ rất phong phú, đa dạng và cũng là một gợi mở hay nhưng trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi chưa có điều kiện đi sâu tìm hiểu Có thể khẳng định, trong văn học trung đại, Nguyễn Công Trứ là một đại diện tiêu biểu của xu hướng thơ chơi Cái chơi trong thơ ông không phải là sự phóng dục buông tuồng, ngược lại, nó đòi hỏi một sự làm chủ bản thân cao độ, sự hun đúc ý chí, mài dũa tài nghệ không ngơi Trong sự chơi ấy, đằng sau cái say mê là sự tỉnh táo, đằng sau cái hăm
hở là sự bình tĩnh, bên cạnh chí hiếu thắng là thái độ sẵn sàng chấp nhận sự thất bại, thái độ nhập cuộc nghiêm túc cực độ song hành với cái nhìn thanh thản, nhẹ nhõm, cười cợt đối với cuộc chơi
Bên cạnh Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát cũng có một cái nhìn phóng khoáng đối với văn chương và cuộc đời, chính điều đó đã tạo nên hơi hướng thơ chơi trong sáng tác của ông Không phải là những chuyện kinh bang tế thế, vũ trụ,
mà là những cái nhìn mới mẻ khác: Khi hồi tưởng lại chuyến đi Indonesia, đến thủ
đo Jakarta nhìn vũ trụ bao la, ông mới thấy văn chương trước kia là trò trẻ con: Rõ
trò chơi từ trước chuyện văn chương Trong tâm thức Cao Bá Quát, cuộc sống bấy
Trang 27giờ quá chật chội, mất tự do, cho nên đọc sách người, ông thấy núi rộng sông dài,
xê dịch đến nơi đất lạ, ông thấy “sáu cõi mênh mông” Ông muốn đổi thay cuộc sống, đổi mới văn chương Cao Bá Quát nổi tiếng giỏi Hán văn: “Văn như Siêu Quát ” Nhưng trong bài “May rủi”, ở cái chỗ câu “chữ thánh hiền” thường “cao
ngạo”, ta bất ngờ gặp câu chữ Nôm:
Nằm khểnh ngâm thơ cho vợ ngủ, Ngồi rù uống rượu với con chơi
(May rủi) Cái chất men say lãng tử rất mới, rất phóng khoáng của một trang nam tử chí tang bồng là đây Hát nói thuần Nôm đầu tiên là đây chăng? Dù sao, mãi đến Tản Ðà
nó vẫn hiếm “Chơi” là cách để Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát… ngạo thế, thị tài, phản ánh tinh thần tự do, nội tâm khoáng đạt, vô vi không vướng tục Các thi nhân qua đó thể hiện ý thức vượt khỏi khuôn khổ cứng nhắc của hệ tư tưởng thống trị với những nguyên tắc đạo đức kìm hãm sự độc đáo của cá tính Theo ý kiến của tác giả Trần Ngọc Hiếu, chính sự phát triển của ý thức chơi trong văn học trung đại Việt Nam đã dẫn đến sự hình thành một thể thơ mang tính chất trò chơi điển hình: hát nói Sở dĩ gọi nó là thể loại trò chơi bởi nó mang tính trình diễn, nó được sinh ra và nuôi dưỡng trong môi trường du hí, giải trí của đời sống thị dân, nó mang hình thức tự do nhất trong các thể thơ trung đại và một trong những nội dung nổi bật của hát nói là thể hiện cái tôi hưởng lạc, phong lưu, cá tính, đa tình, hay nói theo ngôn ngữ hiện đại, đó là cái tôi tay chơi của các nhà Nho tài tử
Sang đến Tú Xương thì thú ăn chơi lại càng rõ Ở đây chúng tôi không muốn nhắc đến mảng thơ thuần túy trào phúng hay trữ tình của ông Tú bởi như trên chúng tôi định nghĩa: thơ chơi nằm giữa thơ trào phúng và trữ tình Tuy nhiên, phương diện trữ tình ở thơ chơi đậm đặc hơn ở thơ trào phúng Tú Xương tự trào
là kẻ “cao lâu thường ăn quịt, thổ đĩ lại chơi lường”, những “tật xấu” của các anh
đàn ông là những cái lăng nhăng “quấy phá” chúng ta: Một trà, một rượu, một đàn
bà Chất “chơi” của ông Tú Thành Nam trong cuộc sống lẫn văn chương vốn “nổi
tiếng” xưa nay Ở ông có cái ngông nghênh thị tài của anh khóa bảy lần thi trượt
Trang 28lại vừa có cái tình dạt dào nồng thắm của người chồng “ở bạc” Chất uy-mua nhẹ nhàng mà thâm thúy làm nên những vần thơ rất “chơi” theo phong cách riêng của ông Tú Qua việc tìm hiểu sơ lược ba tác giả tiêu biểu: Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Tú Xương, văn học trung đại, có thể thấy thơ chơi càng ở giai đoạn sau càng rời xa quỹ đạo của cửa Khổng sân Trình để tiệm cận gần hơn với cuộc đời Thơ đang thực sự trở thành một thú chơi tự do của người nghệ sĩ và phải chăng lúc này thơ ca mới trở về bản chất thực sự của nó?
Sau thời kỳ hoàng kim của Thơ Mới, những năm 1945 – 1975, thơ ca thiên
về phản ánh cuộc chiến tranh vĩ đại của dân tộc, là tiếng nói chung của cả dân tộc,
cả thế hệ cầm súng bảo vệ Tổ quốc Thơ ca có một mặc định ngầm gán với một trách nhiệm, truyền tải một nội dung yêu nước mà ít có chỗ cho những điều riêng
tư và “ít nghiêm túc” như thơ chơi cho nên thơ chơi trong thời kì này bị hạn chế Thơ chơi thời kỳ này theo quan sát của chúng tôi tạm thời “ẩn” dưới dạng những bài vè, những bài ca dao, dân ca, những câu hát trong quá trình đấu tranh, lao động Đó là những sáng tác thơ vui lưu truyền trong dân gian được sáng tác theo lối thơ của tác giả Bút Tre (1911 - 1987) Người ta nhớ Bút Tre, không phải vì những bài thơ trữ tình, cũng không vì thơ ông gần với những bài ca dao, mà vì cách làm thơ, gieo vần của ông thật bất ngờ, thường mang đến cho những người nghe sự sảng khoái sau những giờ lao động mệt nhọc căng thẳng Câu lục bát nổi tiếng nhất mà có rất nhiều người thuộc khi nhắc đến ông là câu nói về Đại
tướng Võ Nguyên Giáp: Hoan hô đại tướng Võ Nguyên
Giáp ta thắng trận Điện Biên trở về
Thơ của ông có khi là tiếng nói hài hước mang chút châm biếm nhẹ nhàng:
Làng ta có cái núi voi
Đủ cả đầu đuôi, đủ cả vòi Voi cũng hăng say đua sản xuất Đầu thì trồng sắn đít trồng khoai
Nhiều người không gọi thơ Bút Tre là thơ, chỉ gọi là vè Nhưng dẫu sao, lối thơ (hay vè) của Bút Tre đã cùng tồn tại với rộng rãi người dân Việt Nam suốt nửa
Trang 29cuối XX và có thể sẽ còn lâu hơn nữa trong cách sống lạc quan mang lại niềm vui ngày thường cho nhiều người Việt Nam Cho đến ngày nay, những vần thơ sáng tác theo lối thơ Bút Tre vẫn có một sức hấp dẫn đặc biệt đối với độc giả mọi lứa tuổi Bởi người ta quan niệm, đến với thơ không phải chỉ đắm chìm trong thế
giới nghệ thuật mà còn để “hưởng thụ”, để được “chơi”
Trong xã hội hiện đại, con người có nhiều khoảng trống hơn để trở về với cái Tôi riêng tư thì thơ chơi bắt đầu trở thành một xu hướng, một trào lưu mới Đối với các nhà thơ hiện đại, cấu trúc thơ (bao gồm cấu trúc ngôn ngữ, cấu trúc hình
tượng, thiết tạo văn bản,…) được hình dung như những cuộc chơi, những trò
chơi bất tận Dĩ nhiên, để chơi được và chơi hay trong lĩnh vực nghệ thuật là
chuyện không hề đơn giản, bởi “Nghề chơi cũng lắm công phu” (Nguyễn Du)
Trong những năm gần đây, đời sống thơ ca nước ta có những cách tân mạnh mẽ
Đó là hiện tượng thơ “dòng chữ”, thơ chơi… về thực chất, các nhà thơ này đề cao vai trò của ngôn ngữ nghệ thuật, chống lại sự mòn cũ trong các diễn ngôn đã có Bởi thế, không nên quá sốt ruột và tìm cách phủ định những nỗ lực của họ trong việc làm mới thơ ca, nhất là khi thơ đang rơi vào tình trạng ảm đạm như hiện nay Thơ chơi trong nền văn học đương đại ngày càng mở rộng phạm vi phản ánh Điều
đó đã thể hiện tinh thần dân chủ, tự do trong xã hội mới Nội dung thơ linh hoạt với những vấn đề gần gũi trong sinh hoạt thường ngày Thơ vui, thơ chơi thu hút
sự quan tâm không chỉ của văn nghệ sĩ chuyên nghiệp mà còn của cả những tác giả vô danh, những người lao động bình thường, những học sinh, sinh viên… Thơ
vì thế không chỉ truyền đến “lỗ tai” của nhà phê bình, của thi nhân mà còn chạm đến được những người lao động bình dân mọi lứa tuổi Thơ chơi trong nền văn học hiện đại chủ yếu hướng tới những chuyện thế sự đời tư, những vần thơ cất lên mang tính chất bông đùa, giải trí rất rõ:
Vợ mình là con người ta Con mình do vợ đẻ ra Suy đi tính lại chẳng bà con chi Không ăn thì để làm gì?
Trang 30Thơ không phải là địa hạt của những gì huyền bí cao xa, mà gần gũi ngay giữa cuộc đời này Thơ đích thực là thơ không chấp nhận sự phân loại: sang / hèn Thi ca và nghệ thuật nói chung mà làm “sang”, lên mặt đạo đức là tự giết mình Thơ đời tư – thế sự, về mặt hình thức gần với thơ dân gian, với lối nói hàng ngày, dân dã, chứ không trau chuốt về hình thức, không tu từ quá nhiều Nó ưa lối nói tự nhiên, gần ngôn ngữ đời sống hàng ngày Phải chăng vì thế, thơ chơi chạm đến trái tim người đọc, dù bạn có là cha, hay là con, là anh hay là em… cũng đều cảm nhận trong những vần thơ ấy biết bao xúc cảm gần gũi, thân thương Với ý nghĩa như thế, thơ chơi có lẽ sẽ còn cần, và sẽ còn trụ mãi cùng thời gian Ý nghĩa của nghệ thuật cũng như lý do tồn tại của thơ nằm chính trong những trò chơi ngôn từ tưởng như ngẫu hứng song kỳ thực hàm chứa trong đó tư tưởng giải phóng cá tính sáng tạo của nhà thơ Trong thơ xuất hiện nhiều sự ngẫu hứng và hàng loạt kết hợp độc đáo giữa cổ và kim, giữa ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ đời thường, giữa cách nói thông dụng và cách nói lái, giữa nghiêm trang và bỡn cợt… cũng như ý thức xóa mờ ranh giới thể loại Các nhà thơ hiện đại làm thơ để trả thơ về với hơi
thở tự nhiên vốn có không cần cố gắng đắp điếm, thơ như chính sữa của mẹ “Lời
ru của mẹ cất vào tuổi thơ” Xuất phát của thi ca là sự thực của cuộc đời này, thi
nhân làm thơ mà như đang chơi với thơ:
Mặc ai lắm chữ thực hư mặt người Chơi thơ để nhẹ nỗi đau nhân tình
(Hữu Ước)
Có thể thấy trong xã hội hiện đại, thơ chơi gần với nghĩa thơ của những thi sĩ nghiệp dư, nhưng như vậy không có nghĩa thơ chỉ là một trò chơi tiêu khiển lúc nhàn rỗi như nhiều người vẫn quan niệm Thơ chơi ở đây mang đầy hơi thở tự nhiên của cuộc đời nhưng không vì thế mà mất đi tính nghệ thuật vốn có của thơ
ca Ở đây, “chơi” là một hình thức phiêu lưu trong nghệ thuật, là hình thức mở
rộng tưởng tượng, là một nẻo đường nhà thơ vượt qua khỏi những quy phạm nghệ thuật Vì thế, để chơi một cách thực sự, nhà thơ vừa đầy ngẫu hứng vừa hết sức chặt chẽ trong tổ chức diễn ngôn nghệ thuật của mình Như vậy, đó không phải là
Trang 31thứ trò chơi “vô tăm tích” mà phải là thứ trò chơi có nghĩa Những tầng nghĩa trùng điệp ấy được xây dựng trên cơ sở giải phóng trí tưởng tượng và cảm nhận về
tự do của con người, cả về phương diện sáng tạo lẫn thưởng thức nghệ thuật
1.2.3 Thơ chơi và chơi thơ
Hai khái niệm thơ chơi và “chơi thơ” rõ ràng không trùng khít Trong số các thể loại văn học thì thơ là thể loại mang tính luật lệ rõ nét nhất Thơ phải có thi luật ví dụ như một bài thơ Đường luật phải tuân thủ những quy tắc như niêm, luật, đối Điều này thể hiện rõ đặc trưng của luật chơi Nếu không tuân thủ đúng luật thơ Đường thì bài thơ đó sẽ được gọi là bài thơ phá luật, không được coi trọng và không thể hiện được tài năng của người nghệ sĩ Từ xưa đến nay, người ta vẫn ca ngợi sự chỉn chu, chỉnh tề trong phép đối ý, đối chữ của thơ Lí Bạch hay Đỗ Phủ Với thơ ca trung đại Việt Nam, Bà Huyện Thanh Quan vẫn được coi là tấm gương
về sự mực thước, đăng đối chỉnh tề trong thơ Có người nói rằng: ngay cả trong những hình thức thơ hiện đại, nơi mà những bó buộc về luật lệ được nới lỏng đến
độ nhiều khi không nhận thấy ngay được áp lực của nó, dẫn đến sự hình thành ý niệm “thơ tự do” thì thơ vẫn được coi là “thứ ngôn từ mang tính tổ chức cao”, vẫn chịu những khống chế, quy phạm nhất định Bởi lẽ đó mà T.S.Eliot đã lưu ý:
“Chẳng có thơ nào là hoàn toàn tự do với những người muốn làm thơ đích thực” Theo chúng tôi, chữ “chơi” trong thơ chơi của Tản Đà rất gần gũi với quan niệm
“chơi” của dân gian
“Chơi” trong thơ Tản Đà giống nghĩa của từ “chơi” trong từ điển ở mục đích vui chơi, tiêu khiển, đây là hoạt động chỉ nhằm cho vui, chứ ngoài ra không
có mục đích khác Có khi “chơi” của Tản Đà gắn với hoạt động vui chơi nhằm cho vui, nhưng cũng mang ý nghĩa “chơi khăm” ở những vần thơ châm biếm nhẹ nhàng Ngoài ra, đây cũng là một thú vui tiêu khiển, giải trí của thi sĩ theo nghĩa thứ hai của từ điển Tiếng Việt Sâu xa hơn, “Chơi” trong thơ chơi của Tản Đà được hiểu là hoạt động tự do, tách ra một cách tương đối khỏi cuộc đời “thường nhật” Chơi được định nghĩa như là sự đối lập với thực tại, với cái nghiêm trọng, nghiêm túc “Sự chơi tạm thời đưa con người bước ra khỏi quỹ đạo của cuộc đời
Trang 32thường nhật với những giới hạn không-thời gian, những quy luật, tất yếu của nó,
để thâm nhập vào một thế giới khác vừa ở trong mà cũng vừa ở ngoài thực tại, mang tính tự trị tương đối (có không gian-thời gian riêng, có những luật lệ riêng)” [28, 49] Con người chơi để được là mình, để không bị quy giản thành một thực thể duy lý vì “chơi là phi duy lý” “Con người chơi như một cách để tìm kiếm ý nghĩa sự tồn tại của chính mình, như một cách để tạo nghĩa cho chính thế giới mà
y tồn tại trong đó Con người chơi để khai phá sự tự do khi vượt qua những tất yếu của thực tại, để phát hiện những khả thể của bản thân và của chính thế giới” [28, 49] Như vậy, bản thân chữ “chơi” trong thơ chơi mặc dù có nghĩa là sự tự do, nhưng thực chất nó cũng hàm ý tuân thủ theo một thứ “luật chơi” nhất định của thơ ca “Chơi” không phải là sự phóng túng, buông tuồng, không phải là sự chơi bời, cẩu thả hay một kiểu lập dị khác đời Tác giả Trần Ngọc Hiếu trong bài viết của mình có liên hệ: Chữ “chơi” ở đây gợi nhớ đến chữ “du” trong triết học của Trang Tử: nó vừa bao hàm hứng thú xê dịch, phiêu lưu, vừa mang nét nghĩa thể hiện sự say đắm, hưởng thụ vẻ đẹp của cuộc đời, vừa biểu lộ một tâm thái tự do, chỉ sống theo tiếng gọi của cảm hứng, theo nhu cầu phô diễn sự giàu có của cảm xúc “Chơi” của các nhà thơ lãng mạn phân biệt với các thi nhân xưa, chơi là để tự
do sống với thế giới cảm xúc, tưởng tượng; sự chơi mở ra không gian để ngay cả những trạng thái tinh thần mơ hồ, vu vơ, nhỏ bé nhất được phơi bày Trong truyền thống, ý niệm chơi được nhấn mạnh ở sự tương phản của nó với cái nghiêm túc, tiếng gọi của trò chơi đưa con người ta thoát khỏi sự gò bó của công danh, gánh nặng của những bổn phận, nghĩa vụ Họ chơi để quên đi thực tại, để được sống là chính mình trong cái thế giới mình tự vẽ ra và trong thế giới ấy, họ được là chính mình nhất
Khái niệm “chơi thơ” mang nội dung ý nghĩa rộng hơn so với thơ chơi
“Chơi thơ để nhẹ nỗi đau nhân tình”, thật vậy, nhiều bài thơ tác giả làm ra chẳng
mong để lại tên tuổi, hay đóng dấu ấn của mình lên bản đồ văn học, mà làm thơ đơn giản chỉ để giải tỏa, để tâm sự cho nhẹ bớt cõi lòng Chơi thơ đối với họ là một trong những niềm say mê, chơi thơ cũng như các thú chơi khác nhằm mục
Trang 33đích tiêu khiển, mua vui như nghĩa: chơi tem, chơi cây trong từ điển Chơi thơ là một cái thú trong rất nhiều thú chơi của con người Có người thích chơi những bài thơ hài hước, châm biếm, có người lại thích chơi thơ tình… Chơi thơ gì phụ thuộc vào cái “gu” riêng của từng người Trong khi đó, thơ chơi, như trên chúng tôi quan niệm, là “tiểu thể loại” có sự pha trộn giữa chất trào phúng và chất trữ tình
Thơ có khi viết về chuyện người mẹ, chuyện người vợ, người con, người cháu, có khi là cảnh nợ nần chồng chất dẫn đến tan cửa nát nhà Thơ chơi không chỉ để biểu hiện cái vui ồn ào mà có thể bộc lộ cả nỗi buồn lặng lẽ “cười ra nước mắt” Những vần thơ hóm hỉnh giúp người ta giải tỏa, chấp nhận mọi trải nghiệm Nguyễn Bá Thành là một trong những tác giả có thú chơi thơ và thường bộc bạch, gửi gắm nỗi niềm của mình trong thơ Ông đã ghi lại một thời sóng gió của cuộc đời đau xót trong những vần thơ chơi chơi:
Không tiền mà phải chia tay Vừa tẻ, vừa nhạt, vừa cay, vừa nồng Một đời làm lụng khổ công
Về già lại hoá tay không từ đầu Không khanh tướng, chẳng công hầu Không nhà, không vợ, không trâu, không cày
(Chia tay không tiền)
Cuộc đời “lục thập” của ông đã trải nghiệm đủ mọi vui buồn, đắng cay có khi đến trắng tay Những chữ “không” cứ lặp đi lặp lại từ đầu đến cuối bài thơ một cách chao chát Những vần thơ theo tư duy hướng nội thể hiện sự nhạy cảm trước cái hài của một con người bản lĩnh, và vì thế ông mới dám mang cái bản ngã, con người cá nhân của mình ra để cười cợt, giễu đùa… Rõ ràng, đó không phải là những vần thơ chơi mà đó là những trải nghiệm nặng nề, chua chát về cuộc đời Chơi thơ đối với ông là một cách để giải tỏa những ưu phiền trong cuộc sống Ông
đã trút bỏ mọi gánh nặng tâm sự trong thơ Chơi thơ trước hết như nghĩa gốc của
từ “chơi” là một cách để thi nhân giải trí, “mua vui cũng được một vài trống
Trang 34canh”, là cách để thi nhân tự giãi bày lòng mình mà không phải gò ép vào bất kì một khuôn khổ, một luật lệ nào cả
Như vậy, cũng như chức năng của văn học nói chung, thơ chơi bộc lộ cái nhìn của nhà thơ về đời tư, con người cá nhân, thế sự, về chính tâm hồn mình bằng một cách nói đầy tính uy – mua Thơ chơi đã hình thành một lối thơ mới, thay đổi quy phạm vốn có của thơ Từ góc nhìn tư duy nghệ thuật, thơ chơi có xu hướng dung hòa giữa chất trào phúng và chất trữ tình Thơ chơi giải phóng con người khỏi những trạng thái âu lo, sầu buồn, giúp tâm hồn trở nên an nhiên tự tại, khoáng hoạt hơn Nếu ngôn ngữ là công cụ của tư duy thì, học giả Huizinga đã lưu ý chúng ta việc dùng ngôn ngữ để gọi tên sự vật, đưa sự vật vào địa hạt của cái tinh thần, về bản chất, là một sự chơi “Lúc này, vật đã bị “bứng khỏi” thực tại vật lý, được dịch chuyển vào địa hạt của thực tại tinh thần, một thực tại “ảo” “Đằng sau mỗi hình thức diễn đạt trừu tượng là những ẩn dụ rõ nét, và mỗi ẩn dụ lại là một trò chơi trên ngôn từ” [28; 50]
Thơ chơi trong quan niệm hiện đại rõ ràng không chỉ là một thú vui như phần trên chúng tôi trình bày về đặc điểm thơ, mà làm thơ chơi là một “công phu” Đúng như nhà thơ Lê Đạt cho rằng: “Thơ không sống bằng phủ định loại trừ mà bằng khẳng định bổ sung Không phải chỉ có một cách hiện đại mà có nhiều cách hiện đại Không có một tổng công ty độc quyền phát hành tín phiếu hiện đại Thơ hiện đại không phải một trường hợp phải khép kín Mà một trường hợp phải mở” [1] Và ông khẳng định, một trong những cách để hiện đại thơ ca đó là: “Người làm thơ chơi những phép tu từ như một thứ bẫy vô thức Anh ta sinh sự với ngữ nghĩa và ngữ pháp để tạo ra một sự sinh mới cho thơ” [1] Người làm thơ phải chơi với ngữ nghĩa và ngữ pháp, đó là một cách để giúp cho thơ ca của anh ta
“nằm ngoài quy luật của sự băng hoại”
1.3 Thơ chơi của Tản Đà
1.3.1 Tản Đà – một nhà thơ lớn
Tản Đà sinh vào thời mưa Âu gió Á – có thể nói đây là một giai đoạn chuyển mình vĩ đại của lịch sử khi mà tất cả những giá trị đã có trở nên lung lay và
Trang 35thay vào đó là một bảng giá trị hoàn toàn mới Sự xâm nhập của văn hóa Tây phương đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng trong đời sống kinh tế cũng như văn hóa, tinh thần của một dân tộc vốn đang bình lặng Cũng như tất cả những nhà nho thời bấy giờ, vào đầu những năm 20 của thế kỉ XX, Tản Đà bị choáng ngợp trước văn minh Âu – Mỹ Văn hóa Tây phương với những tiến bộ của khoa học kĩ thuật và vẻ hào nhoáng của nó trong đời sống, văn hóa đã khiến Tản Đà – một nhà nho Đông phương hào hứng và hết lòng tin tưởng:
Một mai rồi văn minh Trăm sự nhờ Bảo hộ”
(Lên tám)
Tuy nhiên, thực tế cuộc sống không đáng ao ước và kỳ vọng như Tản Đà mong chờ Ông Tú Vị Xuyên đã ghi lại những nét vẽ chân thực nhất bức tranh thời
đại Từ cảnh đô thị hóa: “Sông kia rày đã nên đồng/ Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng
ngô khoai” (Sông lấp), chuyện ngoài đường: Keo cú người đâu như cứt sắt/ Tham lam chuyện thở rặt hơi đồng (Đất Vị Hoàng) đến chuyện trong nhà: Nhà kia lỗi phép con khinh bố/ Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng (Đất Vị Hoàng) Và quả
thực, Tản Đà sớm hay muộn cũng nhận ra mặt trái của xã hội tư sản Vừa hăm hở bước vào thực tế, các ảo tưởng cứ vỡ dần Thực tế cuộc sống thành thị đã dễ dàng làm một cậu ấm thành nhà văn mang túi thơ đi khắp ba kì nhưng không dễ dàng thay đổi tư tưởng và tác phong nhà nho trong ông Tản Đà chưa có cái thực dụng, cái ích kỉ, cái vô tình của giai cấp tư sản Tản Đà là một nhà nho tài tử thị tài và sống với nhiều ảo tưởng Nhưng sản phẩm của nền giáo dục bảo hộ với các ông đồ Tây khiến Tản Đà chán chường Chính bối cảnh ấy đã sinh ra một Tản Đà, không kiêu ngạo thị tài như Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát, tuy đa tình nhưng cũng không quá khó tính đến mức cố chấp Cái ngông của Tản Đà hiền lành, ít chống đối hơn Thời đại, cuộc sống của xã hội tư sản, giai cấp và hoàn cảnh riêng của ông làm cho người tài tử vấp váp, cùng quẫn ấy không phát triển theo hướng thị tài, ngông nghênh phá phách mà theo hướng đa tình và cuối cùng phóng túng, hưởng lạc Tản Đà là nhà nho nhưng không phải loại nhà nho chính thống hành
Trang 36đạo ẩn dật Ông là nhà nho tài tử, nhà nho tài tử sống trong một môi trường khác trước: xã hội tư sản
Điểm xuất phát của Tản Đà vẫn là cái tôi cậy tài, vẫn là chủ nghĩa cá nhân của thời đại mới Lý tưởng sống của người tư sản là làm ra tiền, hưởng thụ vật chất
và hưởng thụ ngay, không phải đắn đo gì nhiều về chuyện đạo đức, về kẻ khác, về con cháu mai sau Tản Đà là nhà nho dám công khai nói đến sự sung sướng, nói đến cái “thú” ở đời, nói đến thú ăn ngon, thú hưởng thụ những bữa tiệc có “có con
ca xứ Huế, cô đầu tỉnh Thanh” Tản Đà đã không dè bỉu, khinh miệt hay che giấu cái “sung sướng chung thường” là giàu sang, vinh hoa, ăn mặc, thanh sắc như các nhà nho xưa Ông nói đến những thú vui trần tục đó với tất cả khoái cảm và sự ham muốn Trong thơ ông lúc nào cũng có cái vội vã, giục giã:
Chơi đi thôi Chơi mau đi thôi Cho trống thủng Cho chiêng long Cho cờ quấn ngược Kẻo cái già xồng xộc nó thì theo sau (Chơi xuân kẻo hết xuân đi)
Người ta tìm thấy trong những lời thơ táo bạo và giục giã của Tản Đà một cái gì rất tươi trẻ, rất mới, với quan niệm: sống là phải hưởng thụ, phải “chơi” Phải chăng đó là điểm gặp gỡ kì diệu giữa Tản Đà với thi sĩ Xuân Diệu sau này? Tản Đà đã trút khỏi thơ cái vỏ trang nghiêm, cái vẻ đạo mạo của người quân tử
Có thể nói, Tản Đà là một nghệ sĩ thực sự, một con người tài năng của thế kỉ “có khả năng trở thành một đại thi hào ở Việt Nam” [57; 167] Là một nhà thơ lớn, đóng vai trò là cầu nối giữa hai thế kỉ, Tản Đà là người chuẩn bị cho phong trào Thơ Mới, mà các nhà thơ lãng mạn Việt Nam coi thi sĩ là một người Anh, một người mở đường mà họ hết sức kính trọng
Trong tình hình khủng hoảng và cũng là vào thời tàn mạt của thơ cổ, của Hán học, Tản Đà đã đến để hồi sinh cho thơ Tản Đà đưa thơ tình cảm thay cho
Trang 37thơ duy lý, đưa cái cá nhân – cá thể là cái tôi của tác giả thay cho cái ta chung chung, nói về mình, diễn tả mình chứ không phải là nói về các nhân vật trữ tình khác Những tình cảm mới được cá thể hóa đem lại tính chân thực cao chống lại tính ước lệ, khuôn sáo của thơ cổ… “Vai trò lịch sử của Tản Đà là chôn cất thơ cũ lần cuối với tất cả vẻ đẹp huy hoàng của nó và mở đường cho thơ mới ra đời” Ở Tản Đà, có những vần thơ lãng mạn, bay bổng tới thiên đình đùa cười, cợt giỡn với trăng với trời và cũng có những vần thơ phản ánh hiện thực trần trụi, đi vào những chuyện đời thường sát đất Nhà thơ đã nhận vào mình sứ mệnh tiên phong đưa văn thơ ra thị trường, chuyển văn học thành tiếng nói của số đông, đáp ứng nhu cầu của một lớp độc giả mới trong các giới trí thức và trong đời sống thành thị… Với Tản Đà, lần đầu tiên bạn đọc đến với văn chương không phải như đến với người đứng cao hơn mình, những người từ những trọng trách, những chí lớn, những tầm cao để đánh thức, để kêu gọi, để khuyến dụ, để chỉ giáo, răn dạy… Bạn đọc đến với Tản Đà như một bạn thơ bình đẳng để trang trải hộ mình những nỗi niềm và những suy tư, những ao ước và mê say, những băn khoăn hoặc thất vọng… Bạn đọc thấy ở Tản Đà sự tồn tại của thi ca như một nhu cầu bình thường,
tự nhiên của sinh hoạt tinh thần và người làm thơ, các thế hệ nối tiếp của những năm ba mươi, thấy ở Tản Đà người khởi xướng, người mở đường cho một thời đại mới, thời đại được xác lập bởi những nhu cầu mới và những mối quan hệ mới với công chúng, độc giả Tản Đà đã đưa ra một cái Tôi - chân dung cực kì thành thật, không xấu hổ, không che đậy Bạn đọc đến với thơ Tản Đà để làm bạn, để chia sẻ,
để tri kỉ với nhà thơ, một người lạ mà quen, cũng như đến với mình, đến với những ước nguyện, ham muốn và tự thú về mình
Với sự nghiệp đồ sộ gồm thơ, văn, báo chí, dịch thuật Tản Đà chính là ngọn núi Ba Vì sừng sững của nền văn học Việt Nam Sau Nguyễn Khuyến, Tú Xương, nếu không có Tản Đà, nền thi ca Việt Nam sẽ có một khoảng trống lớn không gì bù đắp được Đương thời, các nhà thơ khác như Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế,… thậm chí nhiều nhà thơ thuộc thế hệ sau như Quách Tấn, Ngân Giang… vẫn giữ lập trường thủ cựu,
Trang 38sáng tác theo phong cách thơ cổ điển Nếu không có Tản Đà, dễ gì thơ mới
1932-1945 đạt được thành quả to lớn như nó từng có Tản Đà là cột mốc lớn, gạch nối lớn, trạm trung chuyển lớn giữa nền thơ xưa dân tộc và thơ mới
1.3.2 Quan niệm thơ chơi của Tản Đà
Trong bối cảnh xã hội đương thời, quan niệm văn học của Tản Đà hết sức độc đáo Tản Đà từng viết: “Có văn có ích, có văn chơi” Văn có ích của Tản Đà không giống với văn Á Nam Trần Tuấn Khải, Phan Bội Châu hay nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục Đọc thơ Tản Đà người ta chỉ toàn thấy thú ăn chơi, toàn có rượu, có say, có ngông, có sầu, cái sầu trích tiên bị đầy hạ giới nhưng bên cạnh đó, Tản Đà cũng là một nhà thơ yêu nước Văn vị đời của Tản Đà không “đanh thép, đao to búa lớn” mà nhẹ nhàng sâu lắng, “Thề non nước” là một bài thơ tiêu biểu
Cả bài thơ là tấm lòng thương nước, nhớ nước, mong lấy lại đất nước để cho trọn niềm Nước Non Tình cảm non nước bàng bạc suốt trong thơ Tản Đà, như một vết thương, một niềm quan hoài khôn xiết, một ngóng vọng tưởng tuyệt vọng mà vẫn mong chờ Ai cũng biết việc Tản Đà treo một bức địa đồ Việt Nam rách rưới trên chỗ làm việc, đi đâu vô Nam ra Bắc ông cũng mang theo:
Non sông thề với hai vai Quyết đem bút sắt mà mài lòng son
Dư đồ rách, nước non tô lại Đồng bào xa trai gái kêu lên Doanh hoàn là cuộc đua chen Rồng Tiên phải giống ngu hèn, mà cam
(Xuân sầu) Những vần thơ in công khai, khó khăn lắm mới thoát khỏi lưỡi kéo kiểm duyệt của thực dân Pháp, lại mang tính chiến đấu nhường ấy, ai bảo thơ Tản Đà không yêu
nước? Nhà thơ vạch lá cờ quẻ li Nam triều ra mà gói nỗi tủi nhục của vua hề: “Cờ
vàng dấu đỏ đế vương suông” Ông dùng thơ văn công khai, báo chí công khai mà
vạch mặt bọn tay sai bán nước theo voi Tây ăn bã mía:
Rón chân những chực khi voi nhả
Trang 39Rát lưỡi đành xơi cái ngọt thừa
Ấy đã theo đuôi thời phải hít Còn đâu nên tấm nữa mà vơ
(Theo voi ăn bã mía) Tản Đà cố gắng thức tỉnh bọn người trót dại làm tay sai cho ngoại bang trong bài
“Chim họa mi trong lồng”:
Lồng son cửa đỏ thảnh thơi
Mi bay mi nhảy sướng đời nhà mi Nghĩ cho mi cũng gặp thì Rừng xanh mi có nhớ gì nữa không ?
Là một nhà nhân đạo chủ nghĩa, tuy ghét bọn họa mi hót trong lồng ngoại bang kiếm ăn này, song Tản Đà vẫn để ngỏ hi vọng vào nỗi nhớ “rừng xanh” trong chúng, nhắc chúng nhớ rằng mình là dân mất nước mà nuôi khát vọng tự do Nhiều vần thơ yêu nước của Tản Đà đã đả kích chế độ thực dân phong kiến, nêu gương những anh hùng xưa Đúng như nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành nhận xét: “Ông là nhà thơ có tâm hồn lớn, mang trong mình sự trăn trở thời cuộc sâu sắc Ông có một tình cảm dân tộc cao không kém Phan Bội Châu và Nguyễn Đình Chiểu” [57; 168] Trong thơ vị đời của Tản Đà có những nỗi đau của một nhà thơ khi nhận rõ một thời kì lịch sử đen tối, bi kịch của dân tộc mà ông đã kín đáo gửi gắm nỗi niềm tâm sự trong một bức dư đồ bị rách hay hình tượng non nước Qua lời của Chu Kiều Oanh: “Văn chương có trọng giá, không phải là một sự đùa vui trong ý thú, không phải là một sự đùa vui trong phẩm bình, mà phải có bóng mây hơi nước đến dân xã Sao cho nhân tâm, phong tục được thuần chính, dân trí tư tưởng được khai minh, là chức trách của ngòi bút đại văn gia” [dẫn theo 61], Tản
Đà đã thể hiện rõ quan điểm của mình về giá trị của văn chương Theo đó, giá trị của một tác phẩm văn chương là ở chức năng giáo huấn, ở khả năng khai minh, chính tâm cho xã hội - một sự tái hiện trọn vẹn cho mệnh đề “văn dĩ tải đạo” quen thuộc của Nho gia
Trang 40Nếu xem văn chương chỉ là một cách chơi thì cái chơi đó lại rất có nhã thú Trong nhã thú văn chương, Tản Đà lại xem trọng văn xuôi hơn Đã có lúc Tản Đà
ví mình như một du tử, “tay cầm chai rượu văn xuôi” đến với người tình Là một chủ soái trên thi đàn lúc ấy mà ông coi thơ chỉ là một thứ trò chơi Theo quan niệm văn học của ông, thơ ca tuy là “một món nghệ thuật cao quý hơn hết”, có “năng lực linh động rất thần kỳ”, nhưng cũng chỉ là “văn chơi” Chức trách của ngòi bút đại gia văn gia trước phải đối đáp với xã hội sao cho “nhân tâm được thuần chính, dân trí, tư tưởng được khai minh” Trong bài thơ “Hầu trời”, tác giả nhắc đến hai loại văn: văn vị đời và văn chơi:
Đọc hết văn vần lại văn xuôi Hết văn thuyết lý lại văn chơi
Vì “văn chương không phải là một sự chơi riêng trong ý thú, không phải là
sự vui đùa trong phẩm bình mà phải có bóng mây hơi nước đến dân xã”, cho nên viết báo đối với Tản Đà có ý nghĩa lập sự nghiệp văn chương còn có ích cho nhân dân cho xã hội hơn cả những tập thơ Chính vì coi thơ chỉ là thứ văn chơi nên ông muốn dành những vấn đề nghiêm chỉnh như yêu nước, cứu đời cho tản văn Nhưng Tản Đà là một thi sĩ đích thực, là một người sống hết mình với nghệ thuật, văn chương, cho nên, chỉ trong thơ chúng ta mới gặp đúng con người Tản Đà Chính ở trong thơ chơi chứ không phải trong “văn thuyết lý”, tư tưởng cải lương sai lầm của ông mới bị hạn chế mà nghệ thuật tài tình của ông mới phát huy sức lôi cuốn, xúc động
Bên cạnh quan niệm về “văn vị đời và văn chơi”, Tản Đà là người đầu tiên coi làm thơ là một nghề nghiệp Vượt ra khỏi quan niệm của những nhà nho phong kiến, thi sĩ đem đến cho người đọc một cái nhìn mới mẻ về thơ ca Chính nhà thơ
đã “làm những bài thơ để sống chứ không phải sống để làm những bài thơ” [57; 168]
Văn chương rút ruột kiếm xu tiêu Nghề nghiệp làm ăn khó đủ điều Tốn kém vì văn ai có biết