Tuy nhiên, đã hơn 10 năm kể từ ngày ra đi cho tới thời điểm hiện tại, chưa có một công trình khoa học đầy đủ và toàn diện tìm hiểu những đóng góp của Đỗ Đức Hiểu đối với sự nghiệp nghiê
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN HỮU TIỆP
ĐỨC HIỂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-NGUYỄN HỮU TIỆP
Trang 3Lời cảm ơn
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ, tôi
đã nhận được sự giúp đỡ tận tình, chu đáo của nhiều cá nhân, tập thể:
Trước tiên, tôi xin gửi lời tri ân, biết ơn chân thành nhất tới giáo viên hướng dẫn, Thầy Phó Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Bá Thành- người đã tận tình
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành Luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, các cô trong khoa Văn học, phòng Đào tạo Sau Đại học cùng các phòng, ban, khoa khác trong Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành Luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới gia đình và bạn bè - những người luôn bên cạnh động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn
Mặc dù tôi đã hoàn thành Luận văn này bằng tất cả tâm huyết và năng
lực của mình, song không thể tránh khỏi những khiếm khuyết Vậy rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô và bạn bè
Trân trọng cảm ơn!
Trang 4Lời cam đoan
Đây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi thực hiện, không sử dụng, sao chép nội dung của người khác Trong quá trình thực hiện công trình nghiên cứu của mình, tôi thực hiện đầy đủ các qui định về trích dẫn và sử dụng tài liệu theo yêu cầu nghiên cứu khoa học
Nếu trong Luận văn Thạc sĩ của mình có những dấu hiệu vi phạm về
việc sao chép, cắt xén, xuyên tạc nội dung trích dẫn, tôi xin chịu mọi hình thức kỉ luật của hội đồng nghiên cứu khoa học
Hà Nội, ngày……tháng……năm 2014
Người thực hiện
Nguyễn Hữu Tiệp
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Đỗ Đức Hiểu là một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về văn học Pháp ở Việt Nam Ông đã có những đóng góp quan trọng trong việc đưa văn học Pháp nói riêng và văn học phương Tây nói chung vào hệ thống giảng dạy cho sinh viên ở các trường Đại học
Trong 50 năm nghiên cứu và giảng dạy, Đỗ Đức Hiểu đã để lại nhiều công trình nghiên cứu về văn học Phương Tây, văn học Pháp có giá trị Đồng thời, Đỗ Đức Hiểu còn là một nhà nghiên cứu văn học nặng lòng với nền văn học Việt Nam Một số công trình nghiên cứu và phê bình văn học Việt Nam của ông được đánh giá cao như bình giảng Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương, kịch Vũ Như Tô…Qua đây, chúng ta thấy được diện mạo phong phú, tài năng sáng tạo trên nhiều lĩnh vực của ông Tuy nhiên, đã hơn 10 năm kể từ ngày ra
đi cho tới thời điểm hiện tại, chưa có một công trình khoa học đầy đủ và toàn diện tìm hiểu những đóng góp của Đỗ Đức Hiểu đối với sự nghiệp nghiên cứu
và phê bình văn học nước nhà Chúng tôi thiết nghĩ thật là một sự khiếm khuyết lớn cho việc nghiên cứu văn học hiện nay Bởi những đóng góp của nhà nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa có ý nghĩa quan trọng về nhận thức mà còn có ý nghĩa về tư duy trong nghiên cứu và phê bình văn học Sẽ là một thiệt thòi lớn, thiếu sót lớn cho những thế hệ sau khi đi tìm hiểu về cuộc đời nghiên cứu-phê bình văn học của một trong những nhà khoa học hàng đầu của Việt Nam Vấn đề cấp thiết có tính khoa học được đặt ra là liệu chăng chúng
ta có cần một công trình khảo cứu toàn diện những đóng góp của Đỗ Đức Hiểu? Chúng tôi thiết nghĩ là cần thiết trong bối cảnh nghiên cứu hiện nay khi chúng ta đang tiến hành tổng kết và nhìn lại những điểm đã đạt được và hạn chế trong nghiên cứu văn học một chặng đường dài sau Đổi mới Với tinh thần khách quan, công tâm, chúng ta sẽ có một công trình khoa học có ý
Trang 6nghĩa thực tiễn trong việc nghiên cứu văn học hiện nay ở nước ta Đây cũng là
cơ hội quí báu để chúng ta tưởng nhớ một người thầy tận tuỵ, tâm huyết, một nhà giáo mẫu mực, một nhà nghiên cứu nghiêm khắc với chính những công trình của mình
Với sự cố gắng cao nhất trong khả năng, chúng tôi đi vào tìm hiểu toàn bộ những đóng góp của Đỗ Đức Hiểu đối với sự nghiệp nghiên cứu và phê bình văn học Hơn bao giờ hết, chúng tôi mong muốn và hi vọng qua công trình của mình sẽ đưa tới cho người đọc một cái nhìn minh triết khách quan, một công cụ cần thiết, những trang khảo cứu hữu hiệu cho nghiên cứu văn học Đồng thời, đây cũng là một công trình khoa học tri ân và tưởng nhớ của chúng tôi tới nhà nghiên cứu tâm huyết, tài năng, đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu và phê bình văn học ở Việt Nam Đây chính là lí do, chúng
tôi chọn đề tài Sự nghiệp nghiên cứu và phê bình văn học của Đỗ Đức Hiểu là
lĩnh vực nghiên cứu cho mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong hành trình không ngừng nghỉ của một nhà nghiên cứu đã từng
“thâm canh” qua rất nhiều vùng đất mới của văn chương với một tâm thế, một bản năng mẫn tiệp, minh triết luôn khao khát vươn tới ánh sáng của trí tuệ, một linh cảm tinh tế phát hiện “hạt vàng” của văn chương sau những “lớp sóng ngôn từ”, Đỗ Đức Hiểu đã để lại hàng nghìn trang viết có giá trị Những đóng góp của Đỗ Đức Hiểu đối với nghiên cứu và phê bình văn học là không thể phủ nhận được Tuy nhiên, kể từ ngày Đỗ Đức Hiểu mất đến nay chưa có một công trình nào thực sự đầy đủ đánh giá hết tầm vóc, vai trò và vị thế của
Đỗ Đức Hiểu Gần đây, cũng có xuất hiện một số bài viết nhận định, đánh giá của một số nhà nghiên cứu khoa học trong nước về những công trình của Đỗ Đức Hiểu
Trang 7Trong bài viết Nhớ Đỗ Đức Hiểu- dịch giả, nhà nghiên cứu Lê Hồng
Sâm đã nhận xét rất thành tâm về tài năng và phẩm chất của người dịch giả này “Không kể những chuyện nổi tiếng dành cho thiếu nhi, các tác phẩm anh
dịch thuộc một số tác giả tiêu biểu trong lịch sử văn học Pháp: Tartuffe, Anh
ghét đời, Lão hà tiện của Môlie (thế kỉ XVII), Paul và Virginie của Barnardin
de Saint- Pierre (thế kỉ XVIII), kịch Marion Delorme và tiểu thuyết Những
người khốn khổ (dịch chung) của Victo-Huygo (thế kỉ XIX)… Trong bộ Tuyển tác phẩm văn học Pháp song ngữ, do anh và tôi phụ trách, anh chủ biên
và dịch phần lớn tập II (thế kỉ XVII) Anh đã dịch những trang cuối cùng của cuộc đời mình vào dịp kỉ niệm 200 năm sinh Banlzac, đó là Lời nói đầu bộ
Tấn trò đời” [51, tr 23-24]
Trong bài viết Hình dung người “Đổi mới phê bình văn học” của nhà
phê bình Đỗ Lai Thuý đăng trên tạp chí văn học số 6 -1994 Nhà phê bình đã đưa ra nhận định khái quát nhất về vai trò của Đỗ Đức Hiểu đối với sự nghiệp nghiên cứu và phê bình ở nước ta vào những năm đầu thời kì đổi mới “
Những năm gần đây, anh Đỗ Đức Hiểu đã cùng lúc làm một hành trình kép:
Từ nghiên cứu đến phê bình và từ phương Tây về Việt Nam Hành trình đầu
có vẻ ngược với hệ giá trị hiện hành của số đông những người làm văn học cỡ tuổi anh, thường khởi nghiệp bằng “phê bình” và dựng nghiệp bằng “nghiên cứu” Hành trình sau chẳng những phù hợp với ứng xử “nội thể ngoại dụng” của cả vùng Đông Nam Á trước Phương Tây, mà còn góp thêm một minh chứng cho cơ chế phát triển của Việt Nam là mỗi bước đi lên đều là kết quả hỗn dung của các nhân tố nội sinh và ngoại sinh Toạ độ của cả hai lộ trình này là lòng yêu tiếng mẹ đẻ và nỗi mong văn chương Việt vào nhịp với thế giới hiện đại Điểm đến của cả hai cuộc đi này là đổi mới phê bình văn học” [87, tr 17] Trong bài viết này, Đỗ Lai Thuý đã đánh giá cao “con mắt xanh” của nhà nghiên cứu “Anh Đỗ Đức Hiểu đã nhìn thấy ở Phương Tây một cái gì
Trang 8vừa là nó vừa lớn hơn chính nó, nhất là một phương Tây đang hướng về phương Đông: Phương Tây đồng nghĩa với hiện đại” [ 87, tr.17-18]
Trong bài viết Với Đỗ Đức Hiểu, chân lí không trừu tượng đăng trên
tạp chí Văn học số 4- 2003, nhà nghiên cứu Phan Quí Bích đã đưa ra một nhận định khá thú vị về cuộc đời làm khoa học của Đỗ Đức Hiểu “Trong cuộc đời làm khoa học của mình, Đỗ Đức Hiểu (1924- 2003) đã hai lần lên tiếng đối thoại với phương Tây và thể hiện lập trường khác nhau trước những thành tựu của trí tuệ phương Tây: Ông nói không với chủ nghĩa hiện sinh và ông tán thành với phê bình đổi mới (…) Nói không hay tán thành cũng không có gì lạ
vì phương Tây có nhiều khuôn mặt Nhưng điều đáng suy nghĩ là, sự phủ định của ông lại nhằm vào chủ nghĩa hiện sinh, một tư trào được xem là nhân văn;
sự khẳng định của ông lại nhằm vào thi pháp, một hướng tìm tòi bắt nguồn từ các quan điểm hình thức chủ nghĩa về văn chương” [8, tr 32] Nhà nghiên cứu Phan Quý Bích đánh giá cao việc vận dụng thi pháp hiện đại của Đỗ Đức Hiểu “Ông là một trong những người đầu tiên ở ta tìm hiểu thi pháp và ứng dụng nó trong phê bình, nghiên cứu Và thi pháp đã thực sự nở hoa trong nhiều trang viết của ông.” [8, tr 38]
Nguyễn Hữu Đạt trong bài viết Đỗ Đức Hiểu âm thầm một bàn tay
minh triết in trên tạp chí Văn hoá Nghệ An đã đưa ra nhận định hết sức tinh
tế, minh triết về người “thầy cũ” của mình, tác giả đánh giá cao quá trình tự đổi mới của Đỗ Đức Hiểu với hai tập sách phê bình “Đỗ Đức Hiểu là một chứng nhân lịch sử của trí thức hiện đại Việt Nam Ông sống hơn hai phần ba thế kỷ trong khung cảnh lịch sử của một đất nước đầy biến động, làm nên những kỳ tích bởi cả chất bi và chất hùng Con người ông chính là hội tụ của của nhiều luồng tư tưởng, đa dạng, phức tạp Bộ óc ông là một bộ óc trác việt dung chứa nhiều kiến thức thẳm sâu của hai nền văn hoá Đông- Tây Bởi thế, tuy là một chuyên gia cỡ đầu ngành về Văn học Phương Tây ông vẫn có nhiều
Trang 9bài viết gây dư luận về Văn học Việt Nam ( ) Sau thời kỳ đất nước Đổi mới, ngòi bút ông không ngớt trăn trở Ông hăm hở lao vào mặt trận nóng bỏng: mặt trận phê bình và cho xuất bản một loạt những công trình tiêu biểu như: Phê bình I, Phê bình II ” [24]
Nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Thạch trong bài viết Đỗ Đức Hiểu và tác
phẩm Đổi mới phê bình văn học đăng trên trang www.trieuxuan.info, đã nhận
định về tầm vóc của Đỗ Đức Hiểu đối với sự nghiệp Đổi mới phê bình ở nước
ta “Vào cuối những năm 80 đầu 90 của thê kỉ XX Trên diễn đàn văn học xuất hiện một tiếng nói phê bình độc đáo: vừa thâm trầm uyên bác vừa mạnh mẽ, nồng nhiệt và đầy sức cuốn hút Đó là những bài phê bình văn học của Đỗ Đức Hiểu Ông là cán bộ giảng dạy văn học Phương Tây của khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Mặc dù tuổi đã cao (sinh năm 1924 mất năm 2003) và trước đây không chuyên viết phê bình văn học, dường như bị cao trào đổi mới của đời sống văn học cuốn hút, Giáo sư đã góp phần đáng kể cho diễn đàn phê bình văn học trở nên sôi động và có bản sắc mới, tạo ra một
xu hướng “Phê bình mới” khác hẳn lối phê bình cũ, khuôn sáo trước đây
Cuốn Đổi mới phê bình văn học là sự tuyển chọn phần lớn những bài viết của
Giáo sư trong hai thập niên cuối thế kỉ trước (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội liên kết với NXB Mũi Cà Mau, 1993, Nhà xuất bản Hội nhà văn tái bản), giá trị cuốn sách đã được khẳng định, giới nghiên cứu và phê bình văn học thừa nhận sự sáng tạo của Đỗ Đức Hiểu là ở tầm vóc Đại bàng trên con đường đổi mới Tư duy nghệ thuật” [84 ]
Nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Thạch trong một bài viết đáng chú ý khác Thi
pháp học- Lịch sử và vấn đề in trên www.vanchuongviet.org đã đánh giá
những thành tựu của Đỗ Đức Hiểu trên một phương diện khác Tác giả Đỗ Ngọc Thạch đánh giá vai trò đi đầu của nhà nghiên cứu khi tiếp cận thi pháp
học vào nghiên cứu ở Việt Nam “Còn các nhà nghiên cứu, phê bình văn học đi
Trang 10vào thi pháp học khá đông đảo và cũng đạt được những kết quả bước đầu rất đáng chú ý: Hoàng Trinh, Bùi Công Hùng, Nguyễn Kim Đính, Đỗ Đức Hiểu, v.v…” [86]
Trong bài viết Sartre và văn học, nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Thạch cũng
thể hiện sự bênh vực của mình đối với công trình nghiên cứu của Đỗ Đức Hiểu về Văn học Hiện sinh “Đỗ Đức Hiểu - chuyên gia hàng đầu về văn học
Phương Tây- có cuốn "Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa" (NXB Văn học
H.1978) Tuy nhiên, trong những chuyên đề về văn học hiện sinh, văn học phi
lý của ông tại Khoa Ngữ văn (Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội) mà chúng tôi được thọ giảng (năm 1972) thì không hề có ý phê phán Có thể hiểu cuốn sách đó là “nhiệm vụ chính trị” mà ông phải thực hiện-“thân bất do kỷ” (…) Không riêng gì cuốn sách của Đỗ Đức Hiểu, một thời gian khá dài, tất cả những gì thuộc về “Phương Tây” đều bị coi là “Tư sản phản động” cần phải phê phán” [85]
Tác giả Trần Hinh, trong bài viết Đỗ Đức Hiểu- Nhà nghiên cứu phê
bình mơ mộng và sáng tạo [51], cho chúng ta một góc nhìn khá đầy đủ về đời
tư, cá tính sáng tạo trong nghiên cứu và phê bình văn học của nhà nghiên cứu
“Đỗ Đức Hiểu là một người biết suy tư, mơ mộng, thậm chí, đôi khi, tiềm năng mơ mộng và sáng tạo của ông vượt qua ranh giới của sự cực đoan Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, nếu không có sự cực đoan đáng yêu đó, sẽ thật khó
có một Đỗ Đức Hiểu như chúng ta đã biết Trong nghiên cứu khoa học nói chung và văn học nói riêng, cực đoan đôi khi cũng gắn liền với sự sáng tạo” [51, tr 25] Tác giả bài viết khẳng định những đóng góp của ông, với vai trò
là một trong những nhà nghiên cứu đi đầu cho đổi mới và phê bình “Đỗ Đức Hiểu trong mười năm liền, từ năm 1990 đến năm 2000, nghĩa là ở thập niên cuối cùng của thế kỉ XX, đã góp phần đem đến cho giới nghiên cứu và phê bình văn học Việt Nam một diện mạo hoàn toàn mới mẻ” [51, tr 21]
Trang 11Trong cuốn Thi pháp hiện đại một số vấn đề lí luận và ứng dụng, phần
vĩ thanh- Chân trời vắng một cánh bay, tác giả Trần Hinh cũng đã đưa ra
nhận định xúc động đầy tinh tế, suy tư về “một cánh bay” vắng bóng “chân trời” văn chương “Thế là từ nay, có một chân trời vắng bóng một cánh bay
Từ nay, giới nghiên cứu và giảng dạy và những người yêu thích văn học Pháp
sẽ không còn có cơ hội được chia sẻ, thưởng thức những dòng suy tư mới mẻ, tươi mát đầy sáng tạo của một trong những nhà nghiên cứu văn học Phương Tây hàng đầu ở Việt Nam” [51, tr 692]
Trong cuốn Các tác giả văn chương Việt Nam của nhà nghiên cứu
Nguyễn Mạnh Thường đã nhận định một cách khá khách quan và về vai trò của Đỗ Đức Hiểu đối với nghiên cứu và phê bình văn học “Đỗ Đức Hiểu, là một trong những người đi tiên phong trong việc đề xuất cần đổi mới về cách đọc và cách phê bình văn học lâu nay của chúng ta” [91]
Nhà nghiên cứu Đặng Thị Hảo trong cuốn Từ điển văn học (bộ mới) đã
chỉ ra sự thay đổi trong tư duy tiếp nhận của Đỗ Đức Hiểu sau Đổi mới “Về nghiên cứu văn học, Đỗ Đứu Hiểu là một trong số ít người ngay từ đầu những năm 80, sau chuyến đi nghiên cứu ở Pháp, tham dự hội thảo quốc tế về Xtăngđan, đã dứt khoát từ bỏ lối nghiên cứu xã hội học dung tục, tự phủ định cái cũ của bản thân, nhanh chóng tiếp cận trào lưu nghiên cứu phê bình mới cuả phương Tây với chủ trương tiếp cận văn chương từ góc độ thi pháp” [47,
tr 437] Trong cuốn sách, nhà nghiên cứu cũng chỉ ra những đóng góp của ông đối với nghiên cứu và phê bình văn học Việt Nam “Đối với văn học Việt
Nam, ông cũng có nhiều kiến giải riêng Các bài viết Thế giới thơ nôm Hồ
Xuân Hương, Những con đường ra đi của Thuý Kiều, Bị kịch Vũ Như Tô, Những lớp sóng ngôn từ trong Số đỏ, Phiên chợ Giát, Thân phận tình yêu của Bảo Ninh không chỉ được dư luận chú ý về mặt nêu luận điểm mà còn có
văn phong mở và đa giọng điệu Các tầng nghĩa, giá trị mĩ học của văn bản
Trang 12nghệ thuật được phân tích tỉ mỉ, đặc biệt từ góc độ ngôn ngữ học, đã cho thấy một trình độ kiến thức của một người vừa am tường văn học và nền lí luận phong phú của phương Tây lại cũng giàu tình yêu, lòng quí trọng dòng văn chương đậm chất nhân văn của Việt Nam”[47, tr 437]
Nhà nghiên cứu Đào Duy Hiệp trong bài viết Giáo sư Đỗ Đức Hiểu đã
qua đời (1924-2003) đã đưa ra nhận định đầy xúc động về quá trình sáng tạo
trong nghệ thuật của Đỗ Đức Hiểu “Với ông, nghiên cứu cũng là sáng tạo, sáng tạo lại “mẫu gốc” Thời gian chạm khắc vào ông, ông chạm khắc vào văn chương nghiên cứu một sáng tạo ( ) Gần nửa thế kỉ qua ông là người chèo đò nhẫn nại giăng mắc trên dòng sông có hai bờ văn hoá ấy Như bao đời dòng sông và lòng người không phải bao giờ cũng hiền hoà, êm ả Song ông được đồng nghiệp quý nể, được học trò kính trọng, được người đời tìm đến với tư cách là nhà khoa học lớn có uy tín, trách nhiệm Hàng mấy trăm bài báo, tạp chí, hàng mấy chục đầu sách dịch và viết, đến nay hỏi ông cũng lắc đầu không nhớ hết” [36] Khi nhận định về phong cách trong phê bình cuả
Đỗ Đức Hiểu, nhà nghiên cứu đã rất tinh tế “Văn chương nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu động đậy, âm vang về phía trăn trở, trái ngang Ông nhìn vẻ đẹp văn chương bằng ánh sáng của tâm linh dịu dàng và đau khổ”[ 36]
Nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành trong cuốn Bản sắc Việt Nam qua
giao lưu văn học đã nhìn nhận vai trò quan trọng của Đỗ Đức Hiểu trong giao
lưu văn học Đông -Tây Ông đã đưa ra nhận xét hết sức tinh tế về những đóng góp của Đỗ Đức Hiểu trong sự nghiệp nghiên cứu và phê bình văn học “Đỗ Đức Hiểu là người chuyên nghiên cứu về văn học Pháp nhưng là một người rất yêu thích văn học nước nhà Ông có một bài bình thơ hết sức nổi tiếng về bức tranh phong cảnh và tâm trạng nhân vật Thuý Kiều với đầu đề là bình
văn: Buồn trông…Ông tỏ ra rất tinh tế và nhạy cảm trong khi chỉ ra cái hay, cái đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân Ông
Trang 13đã có nhiều bài viết về văn học lãng mạn giai đoạn 1930-1945, đặc biệt là tiểu thuyết của Nhất Linh Ông chăm chú theo dõi sự đổi mới của văn học Việt Nam sau năm 1985 về sau Có thể nói, Đỗ Đức Hiểu là một bậc thầy trong thẩm định văn chương Ông đã nhìn ra xu thế hoà nhập tất yếu của văn học, văn hoá nhân loại trong những năm cuối thế kỉ XX” [83, tr 570] Kết lại bài viết, nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thành đánh giá cao tư cách nhà khoa học của ông và vai trò của ông với sự nghiệp hoà nhập, giao lưu văn hoá Đông- Tây
Nhà nghiên cứu Mai Anh Tuấn trong bài viết Khuynh hướng phê bình
thi pháp trong phê bình văn học của người Việt Nam ở nước ngoài in trên tạp
chí Nghiên cứu Văn hoá đã nhận định một cách tinh tế đối với công trình
nghiên cứu sau đổi mới của Đỗ Đức Hiểu “Trong Thi pháp hiện đại, những
trang viết sôi nổi nhất lại dành cho thơ Hồ Xuân Hương, Lưu Trọng Lư, Vũ Đình Liên… Nhạy cảm của nhà phê bình thi pháp phải chăng xuất phát từ thực tế: thơ vẫn là thể loại lấn át văn xuôi (đặc biệt là tiểu thuyết) trong sinh hoạt văn chương Việt Nam ?” [97]
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử trong bài viết Thi pháp hiện đại trong
nghiên cứu văn học ở Việt Nam thế kỉ 20- Qua góc nhìn của một người nghiên cứu, tác giả bài viết đã đánh giá Đỗ Đức Hiểu là một trong những
người đã vận dụng thi pháp học một cách tinh tế trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam “Đỗ Đức Hiểu đi vào phê bình mới khá muộn màng ( ) Thành công của Đỗ Đức Hiểu có thể do ông có trực cảm nhạy bén về ngôn ngữ hơn
là vận dụng lí thuyết, bởi lí thuyết của ông vừa thiếu hệ thống, vừa sơ lược (…) Ông đã có một số phát hiện khá lí thú về nghệ thuật ngôn từ trong sáng tác Vũ Trọng Phụng, Hồ Xuân Hương” [80]
Trong một bài tiểu luận Lược sử thi pháp học Việt Nam của Phạm Ngọc
Hiền, tác giả bài viết coi Đỗ Đức Hiểu là một trong những người đi tiên
Trang 14phong trong việc mở đường cho Thi pháp học tiến vào nước ta “Đỗ Đức Hiểu
có một số bài về thi pháp gây chú ý trên báo Văn nghệ như: Một số vấn đề Thi
pháp học, Thi pháp là gì ? (số 16/1992), Thi pháp học, thi pháp thơ (số
17/1992) Sau này tập hợp in trong cuốn Thi pháp hiện đại (2000)” [34]
Tựu chung lại, mặc dù với nhiều hướng tiếp cận khác nhau, phương pháp nghiên cứu khác nhau, tới những nhận định kiến giải khác nhau về những đóng góp và những công trình nghiên cứu phê bình văn học của Đỗ Đức Hiểu nhưng điểm chung hướng tới trong những bài viết đó đề cập tới những nội dung khoa học sau:
-Thứ nhất: Khẳng định những đóng góp quan trọng của Đỗ Đức Hiểu trong việc tổ chức, biên soạn và giới thiệu văn học phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp vào Việt Nam
-Thứ hai: Đóng góp của Đỗ Đức Hiểu với việc vận dụng lí thuyết thi pháp hiện đại của phương Tây vào nghiên cứu và phê bình văn học Việt Nam
-Thứ ba: Nhiều bài viết đã chỉ ra được một số nét tiêu biểu về phong cách nghiên cứu và phê bình văn học của Đỗ Đức Hiểu
- Thứ tư: Một số bài viết đã đánh giá rất cao nhân cách thành thực trong nghiên cứu khoa học của Đỗ Đức Hiểu
Có thể thấy rằng những nhận định của các nhà nghiên cứu trên đã có những phát hiện, thể hiện nhãn quan khoa học sâu sắc Nhiều bài viết đã đưa
ra nhận định có phần tinh tế trên cơ sở am hiểu sâu sắc nhà nghiên cứu, người thầy Đỗ Đức Hiểu Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng đây mới chỉ là những nhận định, đánh giá ý kiến mang tính khái quát chung chung, tản mạn, chưa có tính
hệ thống, nhiều bài viết còn mang tính cảm xúc chủ quan, những nhận định còn mơ hồ xét trên tinh thần khoa học, nhiều khi thiên về cảm tính chưa phải
là những công trình có tính chất khoa học Bởi vậy, những bài viết chỉ dừng lại là những tài liệu tham khảo quan trọng trong việc tìm hiểu thêm về Đỗ
Trang 15Đức Hiểu, nó không thể trở thành một công trình khoa học thực thụ, toàn diện
về sự nghiệp của nhà nghiên cứu Trong quá trình hoàn thiện công trình nghiên cứu khoa học của mình, chúng tôi rất coi trọng những nhận định, những bài viết, những công trình nghiên cứu quí báu này để làm nền tảng hoàn thiện và củng cố cho những luận điểm đưa ra nhằm tăng tính thuyết
phục cho Luận văn
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Khảo sát những công trình nghiên cứu và phê bình văn học của Đỗ Đức Hiểu ở cả hai giai đoạn trước và sau Đổi mới (năm 1986)
3.2 Phạm vi
Phạm vi nghiên cứu trong đề tài này gồm chủ yếu những công trình nghiên cứu và phê bình văn học của Đỗ Đức Hiểu:
-Văn học Công xã Pari (1978)
-Phê phán văn học Hiện sinh chủ nghĩa (1978)
-Đổi mới Phê bình văn học (1993)
- Đổi mới Đọc và Bình văn (1998)
-Thi pháp hiện đại (2000)
- Thi pháp hiện đại một số vấn đề lí luận và ứng dụng (2012)
(Thi pháp hiện đại của Đỗ Đức Hiểu được tác giả Trần Hinh tập hợp, tuyển chọn và giới thiệu)
Trang 16- Thấy được phong cách nghiên cứu và phê bình văn học của Đỗ Đức Hiểu
- Thấy được sự chuyển biến từ phương pháp phê bình Mác-xít sang phương pháp nghiên cứu thi pháp học của Đỗ Đức Hiểu
5 Đóng góp của luận văn
Chọn đề tài Sự nghiệp nghiên cứu và phê bình văn học của Đỗ Đức
Hiểu, chúng tôi muốn đem đến cho nghiên cứu và phê bình văn học một tài
liệu khảo cứu chuyên biệt, hữu ích trong việc tìm hiểu những cống hiến to lớn
và quan trọng của Đỗ Đức Hiểu Chúng tôi thực tâm mong muốn và hi vọng đây là một công trình đầy đủ nhất, chuyên sâu sâu nhất trong việc tìm hiểu những cống hiến của Đỗ Đức Hiểu Đồng thời, điểm mới và đóng góp trong công trình nghiên cứu của chúng tôi là việc đi sâu vào tìm hiểu phong cách,
cá tính sáng tạo trong nghiên cứu và phê bình văn học Đỗ Đức Hiểu Cùng với đó, xem xét các công trình của Đỗ Đức Hiểu trong suốt quá trình sáng tạo Công trình này, trên cơ sở kế thừa tính tích cực, hạt nhân khoa học, hợp lí các quan điểm nhận định của các nhà nghiên cứu trước đó, chúng tôi đưa ra những kiến giải riêng, luận điểm cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện một công trình chuyên biệt, chuyên sâu về sự nghiệp nghiên cứu và phê bình văn học của Đỗ Đức Hiểu Chúng tôi hi vọng và tin tưởng nó sẽ trở thành một nguồn khảo cứu quan trọng trong nghiên cứu văn học hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn của mình, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu khoa học sau :
-Phương pháp lịch sử xã hội: Trong luận văn, phương pháp lịch sử xã hội sẽ là một phương pháp quan trọng trong việc nhìn nhận một cách đúng đắn nhất những đóng góp của Đỗ Đức Hiểu qua các thời kì, giai đoạn lịch sử khác nhau
Trang 17-Phương pháp hệ thống: Góp phần quan trọng trong việc hệ thống hoá những đóng góp trên nhiều phương diện, lĩnh vực nghiên cứu và phê bình văn học của Đỗ Đức Hiểu
-Phương pháp so sánh đối chiếu: Góp phần quan trọng trong việc đối chiếu những công trình của Đỗ Đức Hiểu với những nhà nghiên cứu khác để thấy được đóng góp và phong cách nghiên cứu văn học của Đỗ Đức Hiểu
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần tài liệu tham khảo, kết cấu
Trang 18PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: Phương pháp luận Mác-xít và thành tựu trong nghiên cứu- phê bình văn học của Đỗ Đức Hiểu trước năm 1986
1.1 Sơ lược về tiểu sử và quá trình nghiên cứu của Đỗ Đức Hiểu
Đỗ Đức Hiểu sinh ngày 16 tháng 9 năm 1924 trong một gia đình công chức tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội Ngay từ rất sớm, ông được làm quen với tiếng Pháp và văn hoá Pháp Năm 17 tuổi, ông vào học trường Bưởi (tiền thân là trường Chu Văn An), một ngôi trường nổi tiếng của Hà Nội lúc bấy giờ Tốt nghiệp tú tài năm 1943, ông nộp đơn vào ban Luật Cách mạng tháng tám nổ ra và thành công, ông rời trường lên chiến khu kháng chiến theo tiếng gọi của Đảng và Chính phủ Đem sức lực và khả năng của mình phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân Từ năm 1946-1950, ông dạy học một loạt các trường chiến khu Việt Bắc: Trường Trung học Hùng Vương-Phú Thọ, Trường Lương Ngọc Quyến-Thái Nguyên…Những ngôi
trường được coi là cái nôi thân thương của ngành giáo dục thời kháng chiến
Năm 1954 hoà bình lập lại, Đỗ Đức Hiểu được phân công về làm việc tại ban Tu thư của Bộ giáo dục, chuyên trách biên soạn sách giáo khoa bậc Trung học Phổ thông Cũng trong thời gian này, ông và một số nhà nghiên cứu khác như Vũ Đình Liên, Huỳnh Lí, Lê Thước, Lê Trí Viễn… thành lập nhóm Lê Quí Đôn, chuyên làm công việc biên soạn, hiệu đính, sưu tầm và dịch thuật Đây là một nhóm học thuật tự nguyện vì tình yêu khoa học và giáo dục nước nhà Trong những năm này, Đỗ Đức Hiểu cùng nhóm Lê Quí Đôn
đã có công lớn dịch thuật một loạt các tác phẩm văn học nước ngoài sang
Tiếng Việt Một số tác phẩm như: Những người khốn khổ, Nhà thờ Đức Bà
Pari của Victo-Huygô, Túp lều bác Tôm của Mác-tuyên, một số vở kịch của
Môlie Đặc biệt là công trình Sơ thảo văn học Việt Nam đầu tiên có tính hệ
thống và một số bản dịch chuẩn mực nhất đã hình thành từ đây
Trang 19Năm 1959, sau khi hoàn thành nhiệm vụ tại Ban Tu thư, Đỗ Đức Hiểu
về làm việc tại Khoa Ngữ Văn, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Trong thời gian này, ông có điều kiện đựơc làm việc với những nhà nghiên cứu hàng đầu của nước ta lúc bấy giờ như Hoàng Xuân Nhị, Hoàng Như Mai, Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Gia Khánh…Trong hoàn cảnh của cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, việc đóng cửa quan hệ với các nước tư bản chủ nghĩa phương Tây khiến cho nguồn tài liệu tri thức, sách vở về văn học Phương Tây ở nước ta lúc đó trở nên khan hiếm, Đỗ Đức Hiểu cùng một số
bạn đồng nghiệp đã biên soạn cuốn Lịch sử Văn học Phương Tây Nó như
một cuốn giáo trình cung cấp những tri thức về văn học phương Tây, đặc biệt
là văn học Pháp để đáp ứng sự nghiệp giảng dạy văn học Phương Tây cho sinh viên các trường Đại học Cuốn sách mang nội dung súc tích, có giá trị lịch sử cao về văn học, lúc bấy giờ đã đem đến cho sinh viên “một cái nhìn tương đối hệ thống về diện mạo tổng thể, đặc trưng của nền văn học này” [47]
Từ năm 1964- 1967, ông được cử sang giảng dạy tiếng Pháp tại Đại học Nam Kinh Trung Quốc Một thời gian ngắn sau cách mạng văn hoá Trung Quốc, ông về nước công tác tại khoa Ngữ văn Đại học Sư phạm Hà Nội Từ năm 1970, ông trở lại khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội cho tới lúc nghỉ hưu (năm 1990) Trong những năm 1970 đến năm 1978, ông tham gia công tác quản lí khoa Ngữ văn với cương vị Phó Chủ nhiệm phụ trách đào tạo Trong thời gian khoảng năm mươi năm nghiên cứu và giảng dạy, Đỗ Đức Hiểu đã để lại nhiều công trình dịch thuật, nghiên cứu và phê bình có giá trị
Năm 1978, Đỗ Đức Hiểu cho xuất bản hai tập nghiên cứu: Phê phán
văn học Hiện sinh chủ nghĩa, Văn học Công xã Pari Đứng trên lập trường
Mác-xít, xã hội học, Đỗ Đức Hiểu đã phê phán kịch liệt văn học Hiện sinh
Trang 20chủ nghĩa “Phải kịp thời phê phán triệt để, có hệ thống, có khoa học những tàn dư của sự xâm lăng của một trào lưu tư tưởng suy đồi nhập cảng từ phương Tây” [43, tr.178] Mặt khác, đối với văn học Công xã Pari, Đỗ Đức Hiểu coi đây là thứ văn học “mầm mống xanh tốt” cho văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa sau này “Văn học Công xã Pari mở đường mới cho văn học” [38, tr 100]
Sau năm 1986, đặc biệt là kể trừ khi trở về từ Pháp sau khi tham dự hội thảo quốc tế về Stendhal (1783- 1842) Ông là một trong số ít nhà nghiên cứu thấy được sự cần thiết vận dụng thi pháp học phương Tây vào đổi mới nghiên
cứu và phê bình văn học Đỗ Đức Hiểu đã có những sự nhìn lại, nghĩ lại
những trang viết trong sự nghiệp nghiên cứu văn học của mình Đó là nhìn nhận lại văn học Hiện sinh chủ nghĩa “một thứ văn học suy đồi của Tư sản đang giãy giụa khi đi vào bước đường cùng” [46] Đặc biệt, trong giai đoạn này, ông cho ra đời ba công trình nghiên cứu có tính chất đột phá trong
nghiên cứu và phê bình văn học Đó là ba cuốn: Đổi mới phê bình văn học (NXB Khoa học Xã hội- NXB Mũi Cà Mau, 1993), Đổi mới Đọc và Bình văn (NXB Hội Nhà văn, 1999) và Thi pháp hiện đại (NXB Hội Nhà văn, 2000)
Với ba công trình này, đã có một sự thay đổi lớn trong tư duy nghiên cứu, Đỗ Đức Hiểu bắt đầu ứng dụng lí thuyết thi pháp học vào nghiên cứu và phê bình
văn học, những lí thuyết mà trước đây nhà nghiên cứu chối từ, khước bỏ nay
ông lại say mê với nó Nhưng Đỗ Đức Hiểu không đi sâu vào lí thuyết như một số nhà nghiên cứu, mà nhà nghiên cứu tập trung đi sâu vào phần ứng dụng lí luận vào nghiên cứu-phê bình văn học và đạt được nhiều thành tựu
Ngoài ra, còn phải kể tới những công trình Đỗ Đức Hiểu tham gia biên
soạn, Điển tích văn học (1990), Lịch sử văn học Pháp (Đồng chủ biên, 5 tập, năm 1990-1992) Đặc biệt phải kể tới cuốn Từ điển Văn học (2 tập, NXB
KHXH, năm 1983) Đây là một cuốn từ điển có giá trị cao trong nghiên cứu
Trang 21khoa học Công trình này là kết quả làm việc nghiêm túc của đội ngũ những người biên soạn, trong đó phải kể tới công lao chủ biên của Đỗ Đức Hiểu Hiện nay, đây vẫn là một cuốn tài liệu khảo cứu quí báu trong nghiên cứu văn học Với dung lượng kiến thức đồ sộ, ngôn từ hàm súc cô đọng đã thể hiện một diện mạo văn học nhiều vẻ đa dạng của các khuynh hướng, trào lưu, tác giả, tác phẩm của Việt Nam và thế giới
Với 50 năm cầm bút, Đỗ Đức Hiểu đã để lại cho giới nghiên cứu và phê bình văn học nước nhà hàng ngàn trang viết tài hoa, tinh tế Những đóng góp của Đỗ Đức Hiểu không dừng lại ở số lượng vài nghìn trang viết của mình, mà người đọc, giới nghiên cứu và phê bình tưởng nhớ tới nhà nghiên cứu là những trang viết thăng hoa, những trang văn mộng mơ sâu lắng, một tâm hồn tươi trẻ, một phong cách khoa học được định hình luôn khát khao vươn tới sự thay đổi, thậm chí là thay đổi cả “mẫu gốc”, sáng tạo đổi mới chính bản thân mình để phù hợp với xu thế chung của nhân loại Có lẽ người đọc sẽ không bao giờ quên những trang viết mà trong đó là thế giới những ngôn từ “sống động, trẻ trung” của nhà nghiên cứu Với những thành tựu đạt được, Đỗ Đức Hiểu xứng đáng có một chỗ đứng trang trọng và đáng kính trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam
1.2 Khái niệm về phương pháp luận Mác-xít
Sự nghiệp nghiên cứu và phê bình văn học của Đỗ Đức Hiểu, theo chúng tôi có thể được chia thành hai chặng đường lớn: trước và sau Đổi mới (năm 1986) Trước năm 1986, Đỗ Đức Hiểu chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu Mác-xít, xã hội học trong nghiên cứu văn học Sau Đổi mới (năm 1986), Đỗ Đức Hiểu đi vào vận dụng những thành tựu thi pháp hiện đại của phương Tây ứng dụng vào nghiên cứu văn học Đây là thứ lí thuyết bị phê phán kịch liệt trong giai đoạn trước năm 1986, nó thiên về nghiên cứu hình thức tác phẩm, đề cao giá trị hình thức nghệ thuật của tác phẩm, ít chú ý tới
Trang 22giá trị nội dung và tư tưởng của tác phẩm, chủ yếu khai thác các yếu tố bên trong, nội tại của văn bản Vấn đề được đặt ra là tại sao trong sự nghiệp nghiên cứu của Đỗ Đức Hiểu lại dường như lại có sự mâu thuẫn nhau, đối lập, phủ định nhau ở hai chặng đường nghiên cứu văn học như vậy Sự mâu thuẫn này xuất phát từ nhận thức của nhà nghiên cứu, hay xuất phát từ hoàn cảnh thực tiễn lịch sử xã hội nghiên cứu? Sự mâu thuẫn này có phủ định triệt để hoàn toàn những đóng góp của Đỗ Đức Hiểu? Để đi tìm lời đáp cho những câu hỏi này, chúng ta hãy đặt sự nghiệp của Đỗ Đức Hiểu vào trong chính
không gian sinh thành, bối cảnh hình thành những trang viết dường như xa lạ,
ngược chiều xuyên suốt cuộc đời nhà nghiên cứu
Văn học nói riêng và nghệ thuật nói chung là một hình thái ý thức xã hôị, nó chịu sự chi phối mạnh mẽ của các điều kiện xã hội Là một hình thái ý thức xã hôị, vì thế nó cũng chịu sự tác động của các hình thái ý thức xã hội khác và ngược lại Trong các hình thái ý thức xã hội, chính trị là hình thái ý thức xã hội có vai trò tiên quyết, quyết định các hình thái ý thức xã hội khác, trong đó có văn học Vì vậy, văn học và chính trị có mối quan hệ mật thiết và thống nhất với nhau
Đảng cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội Vì vậy, chủ nghĩa Mác- Lênin trở thành tư tưởng độc tôn, giữ vai trò chính thống điều chỉnh mọi đường lối chính sách phát triển của đất nước “ Tinh thần dân tộc và tinh thần quốc tế vô sản có những mối liên hệ chặt chẽ, thấm sâu vào nhau, nâng đỡ nhau và trở thành một sức mạnh kì diệu” [40, tr 82] Cùng với việc giữ vị thế độc tôn chủ nghĩa Mác, thời kì này chúng ta kịch liệt phê phán những học thuyết, hệ tư tưởnghình thành trước Mác, chúng
ta phủ nhận triệt để các học thuyết tư tưởng không cùng quan điểm, đặc biệt
là những tư tưởng mang hơi hướng của tư bản phương Tây Nghiên cứu nói
Trang 23chung và nghiên cứu văn học nói riêng cũng không nằm ngoài xu thế vận động đó, chủ nghĩa Mác- Lênin, với phương pháp luận Mác-xít đã giữ vai trò duy nhất trong tiếp nhận văn học trong suốt một thời kì dài trước Đổi mới
Chính trị thời kì này đã ảnh hưởng và tác động sâu sắc tới mọi lĩnh vực đời sống xã hội Văn học nói chung và nghiên cứu văn học nói riêng chịu sự quản lí chặt chẽ của chính trị Văn học phục vụ đắc lực cuộc đấu tranh dân tộc
và đấu tranh giai cấp Văn học nghệ thuật là một mặt trận đấu tranh hữu hiệu
cần thiết, hiệu quả phục vụ cuộc đấu tranh chung “vóc nhà thơ đứng ngang
tầm chiến luỹ”, “Nhà thơ cũng phải biết xung phong”, “ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà”… Trong một
cuộc nói chuyện với văn nghệ sĩ năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cho rằng “Văn học nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy” [70] Chính vì vậy, nghiên cứu và phê bình văn học miền Bắc Việt Nam trước năm 1975, và thống nhất đất nước sau năm 1975 đến trước thời kì Đổi mới (năm 1986) đều lấy phương pháp luận Mác-xít làm kim chỉ nam cho những công trình nghiên cứu Điều này được cụ thể hoá bằng các Nghị quyết các kì Đại hội của Đảng Cộng Sản Việt Nam Trong nghị quyết Đại hội IV Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định “Không chỉ ngợi ca những con người mới, những việc làm tốt, mà còn phải phê phán nghiêm khắc những hiện tượng tiêu cực trong đời sống, những di hại của văn hoá, văn nghệ
tư sản phong kiến, thực dân cũ, mới đứng trên lập trường cách mạng và bằng phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa vạch đúng nguồn gốc của cái xấu, bồi đắp lòng tin tuyệt đối vào chủ nghĩa xã hội” [43, tr 1] Chính vì vậy, phương pháp nghiên cứu Mác-xít và phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa ăn sâu bám rễ vào mọi hoạt động nghiên cứu phê bình và sáng tác văn nghệ trong thời kì này Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu giai đoạn này cũng không là ngoại lệ, đứng trên lập trường tư tưởng thời đại, ông đã thực hiện
Trang 24trọn vẹn vai trò “chính trị” của mình trong sự nghiệp “phò chính, trừ tà” lúc bấy giờ
Phương pháp nghiên cứu văn học theo quan điểm Mác-xít chính là việc quán triệt quan điểm của C Mác, Ph Ăng-ghen vào sáng tác văn học Sau đó được tiếp tục cụ thể hoá trong những công trình, bài báo, bài phát biểu của V Lênin, Hồ Chí Minh và các nhà nghiên ở nhiều nước trên thế giới tán thành học thuyết Mác- Lênin, đặc biệt là ở các nước Xã hội chủ nghĩa
Quan điểm Mác-xít về văn học nói riêng và về nghệ thuật nói chung dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, trên phản ánh luận Mác-xit, coi văn học nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội, nó phản ánh và chịu sự qui định của tồn tại xã hội của thực tế cuộc sống, xét đến cùng là các điều kiện kinh tế Coi văn học nghệ thuật là ý thức, đương nhiên quan điểm của Mác-xit nhấn mạnh một mặt mối quan hệ giữa văn học nghệ thuật với cuộc sống, trước hết là xã hội, tức là đề cao giá trị nhận thức, chức năng nhận thức của văn học Tinh thần của chủ nghĩa Mác là kết hợp tính khoa học và tính cách mạng, không chỉ giải thích thể giới mà còn cải tạo thế giới Do đó vừa yêu cầu phải nhận thức đúng qui luật khách quan của sự vật, vừa coi trọng năng lực chủ quan, lí tưởng, ý chí của con người trong hoạt động nghiên cứu cũng như sáng tạo C Mác, Ph Ăng-ghen, V Lênin luôn nhấn mạnh mối quan hệ có ý nghĩa sống còn của văn học nghệ thuật với cuộc sống, với thực
tế xã hội, đề cao chủ nghĩa hiện thực trong sáng tác văn học
Phương pháp luận Mác- xít với một quan niệm có tính nguyên tắc và linh hoạt như vậy có khả năng rộng rãi trong việc nghiên cứu văn học trên nhiều bình diện và cấp độ khác nhau, từ tác phẩm được xem như một công trình nghệ thuật đến quá trình sáng tác và tiếp nhận, từ chủ đề, hình tượng, nhân vật, đến cốt truyện, kết cấu, giọng điệu, ngôn ngữ phong cách, phương
Trang 25pháp sáng tác, từ tác giả tới khuynh hướng và trào lưu văn học, thời kì văn học…
Có thể thấy, trong sự nghiệp nghiên cứu và phê bình văn học trước năm
1986, Đỗ Đức Hiểu triệt để sử dụng phương pháp nghiên cứu văn học theo quan điểm Mác-xít, đứng trên lập trường Mác-xit để đánh giá, xem xét các hiện tượng văn học Chính Đỗ Đức Hiểu đã khẳng định vai trò và tầm quan trọng của “vũ khí tư tưởng” trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng xã hội thúc đẩy tiến bộ xã hội “Người nghiên cứu và phê bình văn học phải ngợi ca những sáng tác văn học đóng góp cho cuộc sống thêm tươi đẹp, và cũng có nhiệm vụ phê phán những tư tưởng độc hại cho xã hội, góp phần loại trừ nó” [43, tr 262]
Sự nghiệp nghiên cứu và phê bình văn học trước năm 1986, Đỗ Đức Hiểu tập trung chủ yếu vào việc vận dụng phương pháp nghiên cứu Mác- xít vào tìm hiểu văn học Phương Tây, đặc biệt là văn học Pháp với các trào lưu, khuynh hướng, tác giả văn học đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần cung cấp những tri thức quí báu về nền văn học này
1.3 Biên dịch và tiếp nhận văn học cổ điển Pháp
Văn học Pháp là một trong những nền văn học đạt được nhiều thành tựu trong tiến trình phát triển Nơi đây là “cái nôi” của nhiều trào lưu, khuynh hướng văn học trên thế giới Văn học Pháp không chỉ là trung tâm của văn học Phương Tây mà còn là “trung tâm ánh sáng” của văn học thế giới Chính
vì vậy, sức hút từ nền văn học Pháp có sức lan toả mạnh mẽ tới các nền văn học các nước khác trên thế giới Trong khi đó, đến giữa thế kỉ XX, văn học Việt Nam vẫn chỉ là một nền văn học “già nua”, “chậm chạp” theo dòng chảy
“sôi động” của văn học thế giới Như một tất yếu, từ nhu cầu nội tại và nhu cầu thời đại “ánh sáng phát quang” của Văn học Pháp như một “cơn gió lạ”
đã đem tới cho văn học nước ta những làn gió mới “mát mẻ, trong lành”
Trang 26Chính từ sự dung hợp ấy đã góp phần làm nên một cuộc “cách mạng” trong
“thi ca Việt Nam” Từ đây, nền văn học Việt Nam đã có những bước đi nhanh chóng, khẩn trương tiếp cận với “người khổng lồ” của văn học thế giới
Đỗ Đức Hiểu là một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về văn học Pháp Trong cuộc đời nghiên cứu và giảng dạy văn học Pháp của mình, Đỗ Đức Hiểu đã có nhiều công lao quan trọng trong biên dịch, dịch thuật và những công trình khảo cứu có giá trị về Văn học Pháp Về các công trình dịch thuật của Đỗ Đức Hiểu có thể kể tới một số công trình tiêu biểu: Những tác
phẩm dịch chung của Đỗ Đức Hiểu cùng với nhóm Lê Quí Đôn (một nhóm
dịch thuật tự nguyện thành lập những năm 50, 60 - Lê Thước, Huỳnh Lí, Vũ
Đình Liên…) đã dịch thuật nhiều tác phẩm của V Huygô như Những người
khốn khổ, Nhà thờ Đức Bà…Dịch những vở kịch của Môlie như Anh ghét đời, Táctuýp, Lão hà tiện…Tác phẩm Tấn trò đời của Banzac… Bên cạnh sự
nghiệp dịch thuật, Đỗ Đức Hiểu đã có những công trình đồ sộ, công phu về văn học Pháp như : Văn học Công xã Pari, Văn học lãng mạn Pháp, Văn học
cổ điển Pháp…
Những đóng góp này đã góp phần quan trọng trong việc truyền bá những tri thức về văn học Pháp ở nước ta lúc bấy giờ Đỗ Đức Hiểu với tinh thần khoa học, với tình yêu văn chương đã đem tới cho người đọc những tri thức quí báu về nền văn học Phương Tây, đặc biệt là ánh sáng “rực rỡ” của nền văn học Pháp
1.3.1 Văn học Cổ điển Pháp
Văn học Pháp thể kỉ XVII hình thành và phát triển trong một thời kì lịch sử rạng rỡ của quốc gia Pháp Đây được coi là thời kì thống nhất và phồn thịnh của nước Pháp Điều kiện khách quan thuận lợi này đã góp phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển trào lưu văn học mới ở Tây Âu, trong đó nước Pháp chính là trung tâm của trào lưu văn học này Thế kỉ XVII
Trang 27nước Pháp trở thành “trung tâm ánh sáng” của châu Âu Đồng thời, nước Pháp lúc này còn là “kinh đô ánh sáng” của văn học châu Âu và thế giới Văn học cổ điển ra đời với những thành tựu rực rỡ của nó đã góp tiếng nói quan trọng trong tiến trình phát triển văn học ở phương Tây Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu đã ca ngợi thời đại của “lí trí, trật tự, kỉ cương” thấm nhuần chủ nghĩa nhân đạo và sức sống của dân tộc “Gôloa”
Văn học Cổ điển phát triển hoàn chỉnh những năm 1660- 1685, là hội
tụ tinh hoa của nhiều khuynh hướng văn học tồn tại suốt trên nửa thế kỉ trước
đó Các khuynh hướng này rất khác nhau, đối lập nhau ở nhiều điểm: Văn chương xa lông đài các, Văn chương đường phố trào lộng, Văn chương triết lí phản kháng, và các trào lưu tư tưởng nửa đầu thế kỉ cũng diễn ra sôi nổi: Tư tưởng Port-Royal, Duy lí của Descartes, triết lí tự nhiên của Gassendi Các nhà văn Cổ điển tiêu biểu thời kì này phải kể tới: Môlie, Boileau, Racine, La Fontaine… đã sống trong những năm đầy biến động Mỗi nhà văn lại chọn cho mình những khuynh hướng riêng trong sáng tạo nghệ thuật góp phần tạo nên bộ mặt phong phú nhiều vẻ của nền văn học Pháp trong thế kỉ này Giá trị của Văn học Cổ điển, theo Đỗ Đức Hiểu đó chính là giá trị hiện thực Hiện thực nước Pháp thế kỉ XVII với những bức tranh biếm hoạ, với những tông màu nhem nhúa, phản cảm, một bức hoạ với những đường nét “méo mó”, một
âm thanh hỗn tạp, nhiều bè với những “ngổn ngang”, “dị hợm” vang lên từ chính mặt trái của xã hội Điều đáng nói là, những nhà văn thời kì này đã đưa vào bức tranh hiện thực cuộc sống đa chiều “xấu xí”, “kệch kỡm”, “lở loét” phản ánh mâu thuẫn xã hội sâu sắc không thể dung hoà được của nước Pháp dưới triều đại của Louis XIII và XIV
Nhà văn tiêu biểu nhất của Văn học cổ điển Pháp thế kỉ XVII là Môlie Nhà nghiên cứu Đỗ Đức hiểu rất quan tâm và coi trọng những tác phẩm nghệ thuật của “người hề vĩ đại của nước Pháp” Đỗ Đức Hiểu đánh giá khá cao tài
Trang 28năng nhà viết hài kịch khi đã góp phần “thức tỉnh con người” Ở Môlie là một nhà văn, một người nghệ sĩ chân chính phục vụ những lí tưởng cao đẹp “yêu thương con người và sáng tạo nghệ thuật” thông qua thế giới hình tượng nhân vật trong những tác phẩm của mình Đỗ Đức Hiểu nhìn nhận Môlie như một người chiến sĩ vinh quang đấu tranh trên mặt trận tư tưởng chống kẻ thù của
tiến bộ, một nhà văn nhập cuộc không lùi một bước trước kẻ thù, cuộc đời “
người nghệ sĩ vinh quang” thời đại vạch trần “tấn hài kịch” của nước Pháp
Đỗ Đức Hiểu đánh giá cao giá trị hiện thực trong sáng tác của người hề
nước Pháp Môlie phê phán kịch liệt xã hội đương thời “lố lăng, dởm đời,
kệch kỡm” bằng cái cười mỉa mai châm biếm Xã hội Pháp thể kỉ XVII hoạt động, nhốn nháo, với bao nhiêu chân dung lố lăng, bao nhiêu tiếng cười, bao nhiêu bi kịch Một thiên tài không bao giờ nằm ngoài thời đại của mình và Môlie cũng vậy “hài kịch của Môlie là bức tranh xã hội thời Louis XIV: cung đình, thành thị, tỉnh lẻ, nông thôn (…) và có những người tư sản giàu sụ với một tâm địa kinh hãi, có những thầy cò, thầy kiện, thầy triết học rởm đời, thầy múa kiếm, thợ may, bà mối, đám thanh niên nam nữ trong sạch, những cô sen thông minh, đáng yêu, những cô thôn nữ hồn nhiên” [51, tr 400-401] Chính
vì vậy mục đích cao nhất trong sáng tác của Môlie hướng tới thức tỉnh những con người lao động nghèo khổ bị bóc lột tàn tệ bởi quý tộc và tư sản Nghệ sĩ Môlie muốn thức tỉnh con người, khuyâý đảo bất công, muốn mọi người nhận thức tự do và thấy được sự thật tàn bạo, chính sách ngu dân ẩn nấp dưới những “lời hoa mĩ mị dân” Đó là thứ hiện thực tiến bộ nhân văn, đứng về phía nhân dân và chống lại bạo tàn Hài kịch của Môlie là bức hoạ chân thực
về một cung đình ăn bám, xấu xa “huyênh hoang, trống rỗng, ngu xuẩn, ăn hại như nấm độc loè loẹt bám vào một thân cây mục nát” [51, tr 432]
Nhận định như vậy không có nghĩa là hài kịch Môlie không có những hạn chế Theo Đỗ Đức Hiểu, hài kịch của Môlie sáng tác và biểu diễn dưới
Trang 29chế độ quân chủ chuyên chế, và chịu nhiều ảnh hưởng triết học duy lí, siêu hình của Descartes nên không thể thoát khỏi những hạn chế của thời đại và bản thân tác giả Những hạn chế trong kịch của Môlie là hạn chế của lịch sử, ông không hiểu rõ được “bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội” và “nếu như phẩm chất của con người là sản phẩm của hoàn cảnh thì rõ ràng cần phải làn cho hoàn cảnh trở thành hoàn cảnh có tính người” [51, tr 445] Chính vì quan điểm như vậy nên Môlie cũng giống những nhà văn Cổ điển cùng thời đều tin “lí trí, lương tri trong sáng, tình cảm tốt đẹp” của con người có thể cải tạo được xã hội Mặc dù còn những hạn chế không tránh
khỏi, nhưng Đỗ Đức Hiểu vẫn đánh giá cao tính hiện thực, sinh động trong những sáng tác của người hề vĩ đại “có tính hiện thực hơn là tính trừu tượng,
chân thực hơn là giả tạo, sinh động hơn là trừu tượng” [51, tr 445] Cuộc đời ông là một tấm gương sáng của một người nghệ sĩ chân chính luôn bảo vệ chân lí thời đại, chống lại các thế lực tiêu cực
Với những đóng góp đối với văn học Pháp, Đỗ Đức Hiểu đánh giá cao tài năng của Môlie, nhà nghiên cứu đồng thời đánh giá cao sức sống và giá trị của một nền văn học nhân văn tiến bộ Theo nhà nghiên cứu, văn học Pháp thế kỉ này là văn học của “người hề vĩ đại”, chính Môlie đã đưa truyền thống tốt đẹp nhân văn, giàu sức sống của dân tộc mình gửi gắm qua những tác
phẩm bi hài kịch góp phần “đưa văn học dân tộc Pháp lên một bước đường
mới” [51, tr 436]
1.3.2 Văn học Lãng mạn Pháp
Nửa đầu thế kỉ XIX, ở Pháp xuất hiện trào lưu văn học Lãng mạn “ tiếng nói dạt dào tình cảm của những giấc mơ” Song chủ nghĩa lãng mạn sớm chia thành hai khuynh hướng Khuynh hướng thứ nhất là là “oán thán rền rĩ, tiếng kêu thất vọng, thương tiếc thời đại vàng son đã qua”- thời kì phong kiến không còn nữa Theo Đỗ Đức Hiểu thì khuynh hướng lãng mạn này là khuynh
Trang 30hướng “lãng mạn tiêu cực” mang tính “thần bí hoặc kiêu ngạo” trước cuộc sống tư sản tầm thường “của một chế độ đang ở buổi hoàng hôn”
Đối lập với khuynh hướng lãng mạn tiêu cực là khuynh hướng lãng mạn tích cực “trẻ trung, yêu cuộc sống sôi nổi và đầy nhiệt tình” V.Huy-gô là cây bút đại diện tiểu biểu xuất sắc cho trào lưu văn học này Thế kỉ XIX và tình hình nước Pháp thể kỉ này đã được phản ánh tập trung sinh động trong những sáng tạo nghệ thuật của Đại thi hào V Huygo Tính chiến đấu chính là một đặc trưng quan trọng của văn học theo khuynh hướng sáng tác hiện thực
xã hội chủ nghĩa Văn học phải góp tiếng nói của mình vào cuộc đấu tranh
“cải tạo xã hội” Trước hết, tính chiến đấu trong những sáng tác của ông, theo
Đỗ Đức Hiểu đó là thành công trong việc xây dựng những hình tượng bất hủ
về những con người lao động nghèo khổ V Huygô đã để lại trong tác phẩm của mình những hình tượng bất hủ về con người nghèo khổ, bị truy nã, tù tội, đầy đoạ lâm vào những hoàn cảnh bi thảm Đó là hình tượng nhân vật Giăng-văn-giăng một người tử tù của chính quyền tư sản bị kết án tới 19 năm tù vì
ăn trộm một chiếc bánh mì cứu đứa cháu khỏi chết đói Hình tượng Făng-tin người đàn bà, người mẹ bất hạnh bị xã hội tư sản đẩy ra khỏi xã hội, phải bán răng, bán tóc, bán cả thân thể của mình để duy trì sự sống cho đứa con nhỏ của mình… Tất cả những nhân vật này đã lột tẩy bộ mặt đương thời của xã hội tư sản phương Tây
Đỗ Đức Hiểu đánh giá cao tính hiện thực và chủ nghĩa tình thương trong sáng tác của nhà văn Cái nhìn của V Huygô đối với những người lao động nghèo khổ là cái nhìn của tình thương, cảm hoá và hi vọng của một trái tim nhân đạo cao cả của phương Tây trong thế kỉ XIX Đứng trên nguyên lí của tình thương, nhà văn bênh vực cho những con người nghèo khổ bị “ruồng bỏ”, đấu tranh cho họ có một cuộc sống tốt đẹp hơn đó là khát vọng hướng tới
“tự do” và “công lí” Hình ảnh con người trong thơ ca của Vícto-Huygô cũng
Trang 31là sự phản ánh quan điểm của ông về con người “cao thượng”, khao khát “ công lí và tự do” Con người đó luôn là con người vận động từ bóng tối của khổ đau, áp bức vận động tới một tương lai tươi sáng hơn, tốt đẹp hơn “Dù hiện tại đen tối tới đâu, đến một lúc nào đó, công lí, sự thật và tự do sẽ trỗi dậy và trở về rạng rỡ nơi chân trời” [44, tr 130]
Chính vì vậy, khi Công xã pari nổ ra, tuy không hiểu hết Công xã nhưng ông có một mối tình cảm sâu sắc với công xã V Huy-gô ngợi ca Pari khởi nghĩa, với những bức tranh và những bức chân dung tuyệt vời về những người phụ nữ và những em bé anh hùng của Công xã một em bé dũng cảm
“trên một chiến luỹ”, một người phụ nữ “mạnh hơn nam nhi” Bài thơ Tặng
những ai bị giày xéo được Huygô viết ít ngày sau “Tuần lễ máu”, cuộc tàn sát
của chính phủ với Công Xã:
Vâng, tôi đứng về phía những người chiến bại
…Tôi là bạn cả những người đau thương
Là người của những ai đau khổ và những kẻ cô đơn
(Tặng những ai bị giày xéo- V Huy-gô) Thơ ông xót thương cho những người thất bị bị truy nã Ông tố cáo tội
ác của bọn Tư bản đao phủ đang hò hét kêu gọi trả thù Ông thương xót cho những người đấu tranh bảo vệ Công Xã của nhân dân Đỗ Đức Hiểu đã đánh giá cao những tình cảm của Huy-gô và coi đó là thứ tình cảm “trong sáng, lành mạnh, tràn đầy niềm tin” và nó là “trái tim ý chí” của nhân dân Pháp
Tuy nhiên, Đỗ Đức Hiểu đã nhận ra cái bản chất nhân đạo trừu tượng của nhà văn “V Huy gô chưa vượt lên trên cái huyền thoại về con người chung chung, và chủ nghĩa nhân đạo trừu tượng” [51,tr 133] Vì không đứng trên lập trường vô sản, không thấy được bản chất tốt đẹp trong sứ mệnh của giai cấp vô sản nên trong nhận thức của Huygô có những sai lầm, ông đánh giá ngang bằng những kẻ phản bội Véc-xây với những nhà Cách mạng Công
Trang 32xã V Huy-gô không nhận thức được chính bọn Chi-e đã gây nên nội chiến phản cách mạng và chính Công xã là người đứng lên bảo vệ nền cộng hoà và phẩm giá con người Chính vì không có tính giai cấp nên ông chỉ thấy hai bên
chém giết nhau, ông chỉ thấy lâu đài, nhà cửa tan hoang Trong bài thơ Một
tiếng kêu, ông hốt hoảng can ngăn:
Các người giống như những ngon lửa thiêu cháy những cánh đồng lúa chín
Các ngươi giết chết danh dự, lẽ phải và hi vọng
(Một tiếng kêu- V.Huy-gô) Chính vì tình thương “siêu hình” đó nên theo Đỗ Đức Hiểu trong quan điểm của Huygô có nhiều mâu thuẫn, do dự một mặt vẫn những “lời ca tha thiết và hùng hồn”, vẫn những hình tượng to lớn và phi thường, vẫn những tương phản kịch liệt, vẫn một niềm tin vào ngày mai tốt đẹp hơn, mặt khác ông lại cho rằng “Về nguyên tắc tôi đứng về phía công xã,… và tôi chống lại công xã về biện pháp thực hiện” [44, tr 132] Chính điều mà “nhân loại sẽ mãi mãi trân trọng tư tưởng cao quí của ông”, Đỗ Đức Hiểu đã chỉ ra những hạn chế trong tư tưởng tình thương đó “Ông ngây thơ đòi hỏi giai cấp tư sản phải trung thành với những nguyên tắc nó đã đề ra, yêu cầu nó nhân đạo hơn (…) Ông không tin ở sức mạnh của giai cấp vô sản” [44, tr.130] Đỗ Đức
Hiểu đứng trên lập trường Mác-xít về tính giai cấp của văn học, cũng chỉ ra
những hạn chế của khuynh hướng văn học này “Nhân vật lí tưởng của văn học lãng mạn là con người thượng đẳng Trong tác phẩm lãng mạn, xung đột giữa thiện và ác, tinh thần và vật chất, xung đột giữa cái ác thường nghiệm và cái siêu nghiệm chứ không phải xung đột giai cấp.” [43, tr 114]
Trang 33Đỗ Đức Hiểu đứng trên lập trường phương pháp luận Mác-xít đánh giá cao khuynh hướng văn học lãng mạn nói chung và đóng góp của “người khổng lồ thời đại” nói riêng Mặc dù còn những hạn chế bởi những quan điểm
“trừu tượng”, “siêu nghiệm” về con người, nhưng “tiếng nói của tình thương dạt dào” là một âm thanh tích cực vang lên báo hiệu một “thời đại thi ca mới”
V Huy gô xứng đáng là đại diện ưu tú nhất, là tấm gương phản chiếu linh hồn nhân văn cao cả của nước Pháp thế kỉ này
1.3.3 Văn học Công xã Pari
Trong sự nghiệp nghiên cứu văn học của mình, Đỗ Đức Hiểu dành một tình cảm đặc biệt với Văn học Công xã Pari và đánh giá cao khuynh hướng văn học này đối với nền văn học Pháp nói riêng và văn học hiện thực xã hội
chủ nghĩa sau này nói chung Đỗ Đức Hiểu coi đây là nền văn học của những
khổng lồ “xông lên đoạt trời” Chính Đỗ Đức Hiểu là nhà nghiên cứu đầu tiên
có công lao giới thiệu đầy đủ, hệ thống Văn học Công xã ở Việt Nam
Văn học công xã Pari là một khuynh hướng văn học ra đời cùng cuộc cách mạng Công xã Pari (năm 1871) Tuy kết thúc trong thất bại nhưng cuộc cách mạng này có ý nghĩa quan trọng trong lich sử thế giới hiện đại V Lênin nhận định “Sự nghiệp của Công xã Pari là sự nghiệp cách mạng xã hội, sự nghiệp giải phóng hoàn toàn về chính trị và kinh tế của người lao động, sự nghiệp của giai cấp vô sản toàn thế giới” [42, tr 100] Phong trào văn học ra đời trong thời kì này, cổ vũ ca ngợi thời kì này được gọi là văn học Công xã Pari Một xu hướng văn học tiến bộ trên thế giới lúc bấy giờ Sự ra đời của Văn học Công xã Pari là một thời đại thi ca “đoạn tuyệt với thơ ca tư sản suy đồi” lúc bấy giờ Văn học Công xã Pari là đã xây dựng đựơc những hình tượng con người mới xuất hiện trong văn học, mà theo Đỗ Đức Hiểu đó là
“anh hùng ca của thời đại mới”, là sự tiếp nối anh hùng ca của Hô-me trong kỉ nguyên hiện đại “Chưa bao giờ hình ảnh con người được xây dựng chân thực,
Trang 34đẹp đẽ, phong phú, đa dạng, khoẻ mạnh và hùng hồn như thế” [42, tr 106] Người lao động đã trở thành chủ thể sáng tạo và thụ hưởng văn học, phần lớn nhà thơ, nhà văn Công xã là những người lao động nghèo khổ được trưởngthành trong phong trào cách mạng Người lao động chính là trung tâm của sự sáng tạo của người nghệ sĩ Công chúng lao động vừa là đối tượng quan trọng sáng tạo không ngừng nghỉ của người nghệ sĩ, đồng thời là lực lượng đông đảo trong việc tiếp nhận những tác phẩm do người nghệ sĩ sáng tạo Bởi vậy,
đó là thứ văn học gần gũi đời sống lao động nên nó “tràn đầy sức sống”
Đỗ Đức Hiểu đánh giá cao những hình tượng “con người lí tưởng” mà nhà văn Công xã xây dựng Con người lí tưởng trong văn học Công xã không phải là những con người trừu tượng, con người siêu nhiên thoát li cuộc sống
đó là những con người thực tế cuộc sống lao động, chiến đấu Nhân vật lí tưởng trong văn học Công xã Pari là những người lao động nghèo khổ đấu tranh chống lại giai cấp phản động “hi sinh tất cả cho lí tưởng của loài người” Thơ văn Công xã phản ánh thời kì giao tranh quyết liệt giữa hai lực lượng xã hội chính trong xã hội hiện đại đó là giai cấp công nhân và giai cấp
tư sản Nó không dừng lại ở việc phản ánh hiện thực lớn lao, mà theo ông nó còn thể hiện ước vọng sâu xa của nhân loại, là một nền văn học hiện thực tiến bộ “mang tính đảng vô sản (…) một nền văn học biểu hiện được nhân vật điển hình công phá dữ dội và cải tạo triệt để hoàn cảnh xã hội, quyết tâm xây dựng thế giới mới” [38, tr.102]
Đỗ Đức Hiểu đề cao ý thức đấu tranh giai cấp được nhà văn Công xã gửi gắm “màu sắc”, “âm điệu” mới vào những tác phẩm văn học Văn học Công xã mang tính chất tiên quyết trong việc khẳng định lập trường của một hình thức văn chương tiến bộ “đánh đổ chủ nghĩa tư bản thối nát” và “xây dựng thế giới mới” Hình tượng người anh hùng trong văn học Công xã cũng
là những người anh hùng trong cuộc sống lao động chiến đấu trong những
Trang 35ngày Pari sục sôi trong trận quyết chiến chống lại kẻ thù khát máu Họ sẵn sàng hiến dâng bản thân mình vì lí tưởng cao cả “người anh hùng ấy sống hiên ngang, không khuất phục trước cường quyền, sẵn sàng hi sinh ung dung trước mũi súng kẻ thù, với niềm vui và niềm tin không bờ bến” [42, tr 181] Xây dựng những người anh hùng lí tưởng, những người khổng lồ “xông lên đoạt trời”, Công xã Pari hướng tới việc ngợi ca xã hội, thời đại cách mạng tiến bộ là nguồn cơn thúc đẩy sự ra đời của một nền văn học giàu sự sống, một mầm xanh khoẻ mạnh, tươi tốt, một người khổng lồ của ngày mai, của tương lai “đấng thiên thần bé nhỏ” sẽ là “người khổng lồ” của ngày mai
Không chỉ sáng tạo ra một hình tượng người anh hùng kiểu mới, theo
Đỗ Đức Hiểu văn học Công xã đã có sự thay đổi những phạm trù mĩ học “Cái anh hùng trở thành cái đẹp chủ yếu, bao trùm cả thơ văn công xã “[ 42, tr 183] Trong văn học Phương Tây trước đó, cái anh hùng thường gắn với cái
bi kịch Người anh hùng thường trải qua những đau xót, nghi ngờ, day dứt và tuyệt vọng rồi đi đến sụp đổ Người anh hùng bi kịch trước đấy thường là người cô độc bị thế lực phản động bao vây, tiêu diệt Bởi vậy người anh hùng trong văn học trước đó gây sự xót thương và ghê sợ Chỉ đến người anh hùng của Công xã Pari không có con người bi kịch khi trải qua thất bại Có sự hi sinh mất mát đó nhưng đó là cái nhìn khâm phục và gieo vào đó niềm tin của
sự sống, cống hiến Đó là những hình tượng con người “dù sắp hi sinh vẫn đùa vui” bởi vì “lí tưởng chiến đấu chiếu rọi cuộc đời anh” Họ luôn ý thức được sự hi sinh của mình là cần thiết để “vun trồng cho sự sống”
Mặc dù đạt được những thành tựu to lớn như vậy, tuy nhiên đứng trên lập trường Mác-xít, Đỗ Đức Hiểu còn thấy những hạn chế của văn học Công
xã, khi chưa có một hệ tư tưởng khoa học, tiến bộ dẫn đường nên nhiều nhà văn thời kì này muốn “giương lá cờ đen”, mơ tưởng một thứ “tự do tuyệt đối không tưởng”: “Nhiều nhà thơ, nhà văn, kể cả những nhà văn có tên tuổi của
Trang 36Công xã, như Lu-i-dơ Mi-sen, Giuyn Va-lét, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng, của chủ nghĩa P’ru-đông hay chủ nghĩa Bơ-lăng-ki” [38, tr 105]
Tính chiến đấu là một trong những nhiệm vụ được đặt ra đối với bất cứ nền văn học tiến bộ nào, và văn học công xã Pari cũng là một “công cụ tư tưởng” phục vụ hiệu quả cuộc đấu tranh giai cấp “Văn học được quan niệm một cách không che giấu, là một mặt trận chiến đấu mà nhà văn là chiến sĩ trên mặt trận ấy” [42, tr 108] Đồng thời, Đỗ Đức Hiểu cũng thừa nhận vai trò, sức chiến đấu mạnh mẽ, nhà thơ nghệ sĩ phải tham gia cuộc đấu tranh ấy
“văn học có nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục lí tưởng cao đẹp, động viên chiến đấu, để ước mơ trở thành hiện thực” [42, tr 167]
Đỗ Đức Hiểu đứng trên lập trường Mác-xít đã nhận thức gần đầy đủ những đặc điểm của một nền văn học hiện thực trong Văn học Công xã Pari
Đỗ Đức Hiểu đánh giá và ca ngợi một nền văn học tiến bộ “mầm mống xanh tốt của văn học hiện thực chủ nghĩa”
1.4 Biên dịch và tiếp nhận văn học hiện đại Pháp
Giữa những năm 50 của thế kỉ XX trên thế giới, sau chiến tranh thế giới thứ 2, xuất hiện ở Phương Tây một trào lưu văn học đặc biệt Đó chính là văn học Hiện sinh chủ nghĩa Khi mới ra đời, những nhà nghiên cứu phương Tây coi đây là một trào lưu “nhân văn mới” của văn học thế kỉ XX, khi nó đi sâu vào khai thác thân phận con người
Đỗ Đức Hiểu đã đứng trên lập trường quan điểm Mác-xít đón nhận trào
lưu văn học “nhân văn mới” này Ông kịch liệt Phê phán văn học Hiện sinh
chủ nghĩa, coi nó là thứ văn học “suy đồi”, thứ văn học sinh ra từ đổ nát, điêu
tàn của một Châu Âu đã bị tàn phá một cách khủng khiếp trong Đại chiến thế giới thứ 2 Chính vì vậy, Đỗ Đức Hiểu phủ định hoàn toàn, triệt để trào lưu
Trang 37sản sinh từ chủ nghĩa tư bản lúc suy tàn, đổ vỡ “làm con người ta xấu đi, yếu đuối đi; nó khinh rẻ, giày xéo lên khả năng vô tận của con người” [43, tr 176]
Nguồn gốc của văn học hiện sinh chủ nghĩa xuất phát từ những triết học Hiện sinh chủ nghĩa của một số nhà triết học phương Tây đầu thế kỉ XX
để xuất Phải kể tới Kiêc-kơ-gơ, nhà triết học được coi là cha đẻ của chủ nghĩa Hiện sinh với “Phạm trù hiện sinh”, quan điểm Nitsê về con người
“siêu nhân”, Phân tâm học của Phrớt, Bexông và triết học trực giác, Hiện tượng học cuả Hútxéc… Đây là những phạm trù triết học là nền tảng để hình thành khuynh hướng văn học hiện sinh chủ nghĩa sau này Đỗ Đức Hiểu đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của học thuyết Mác- Lênin đã kịch liệt phê phán thứ triết học được sản sinh bởi chế độ tư sản đang giãy chết “Cái hoa hoè, hoa sói héo tàn, nước sơn loang lở, nó không cứu vớt được ai” [43, tr 22]
Đỗ Đức Hiểu trước khi đi vào phê phán khuynh hướng văn học này, nhà nghiên cứu đã chỉ ra những “phi lí” của chính nền tảng triết học tạo ra nó
Đó là những nhà triết học hiện sinh chủ nghĩa Đối với Kiếc-kơ-gơ cha đẻ của triết học hiện sinh Kiếc-kơ-gơ đã đưa ra một số phạm trù “hiện sinh”, phạm
trù cái duy nhất, nhà triết học quan niệm con người là một hữu thể đơn độc,
con người bị cắt đứt với “toàn bộ mối quan hệ xã hội” đã sáng tạo ra nó và
trong đó nó hoạt động tích cực Phạm trù cái huyền bí, nhà triết học quan
niệm mỗi người là một vũ trụ đóng kín, mỗi ý thức là một thế giới không thông tin đầy đủ với bên ngoài Ngoài ra, nhà triết học còn đề cập tới một số
phạm trù về cái sinh thành, phạm trù lựa chọn, phạm trù lo âu Theo như Đỗ
Đức Hiểu thì đó là những quan niệm hết sức “bi đát” về con người, đó là thứ triết lí của những người bất lực “lo âu và run rẩy” trước cuộc sống nên tìm nơi trú ẩn trong “siêu hình học và tôn giáo”
Trang 38Với Phân tâm học, nhà nghiên cứu đã chỉ ra bản chất, hạt nhân cơ bản trong học thuyết của Phrớt “trong tâm thần con người, ngoài khu vực của ý thức, còn là khu vực của tiềm thức, vô thức” [43, tr 34-35] Từ đó, Đỗ Đức Hiểu chỉ ra sự “phi lí” trong quan điểm của Phrớt khi coi sáng tác văn học, nghệ thuật là sự “bài ức những ham mê tính dục lúc nào cũng hoạt động ngấm ngầm, không hề bị tiêu diệt, mà chỉ bị xã hội kìm hãm” [43, tr 36]
Về Becxông và thuyết trực giác, Đỗ Đức Hiểu cũng đi vào lí giải bản chất “hiện sinh” của học thuyết triết học này “Ông cho rằng tư duy con người chỉ có thể nhận thức được thế giới vật chất, môi trường sống và phải thích nghi, và nó hoàn toàn bất lực trước những cái phi vật chất, không nắm bắt được dòng ý thức sâu xa của dòng ý thức đời sống “bên trong” ”[43, tr 40-41] Từ quan điểm đó, Becxông chủ trương khai thác triệt để “thế giới bên trong”, “siêu hình học” trong tâm linh của con người dưới khái niệm “thời biến”, “dòng ý thức”, “thuyết đồng hiện” Đỗ Đức Hiểu đứng trên lập trường khẳng định cái lí trí của mĩ học Mác-xít phê phán tính chất “siêu hình học” của học thuyết “hiện sinh” này khi “lí trí bị coi rẻ”, những bản năng tiềm thức, trực giác bị “tuyệt đối hoá”
Hiện tượng học của Hútxéc là một lí thuyết triết học góp phần hình thành triết học Hiện sinh Đỗ Đức Hiểu đã chỉ ra bản chất của học thuyết này
là “thứ kinh nghiệm độc đáo, duy tâm một cách cực đoan”, “một phương pháp phi lí tính của nhận thức” Nhà triết học quan niệm thế giới là “tập hợp của những cảm giác” hay “một giấc mơ liên tục” và “sự tồn tại của nó là hoài nghi” Đỗ Đức Hiểu đi tới phê phán “ý thức thuần tuý”, “thế giới để trong ngoặc đơn”, hay “sự rút gọn hiện tượng học” trong học thuyết của Hútxéc “là một thứ kinh nghiệm “hiện đại”, nó dừng lại ở hiện tượng, phủ nhận tư duy lí luận, phủ nhận khái quát hoá và trừu tượng hoá” [43, tr 49]
Trang 39Về Kapka, Đỗ Đức Hiểu cũng đã chỉ ra những hạn chế trong sáng tác của “nhà văn tiền bối” của chủ nghĩa hiện sinh “Thế giới Kápka là một thế giới phi lí; có thể nói tác phẩm của ông là những âm vang mênh mông vô tận, những hình bóng nhảy múa nửa hư, nửa thực” [37, tr 89] Ông phê phán cái nhìn bế tắc tuyệt vọng của các nhân vật trong tiểu thuyết “thứ lo âu siêu hình, không nguyên nhân cụ thể, không thể lí giải cái lo âu “bản thể luận” gắn liền với con người [43, tr 89] Nhân vật trong tiểu thuyết của kapka sống trong một xã hội “ở ngoài xã hội, xa lạ với hết thảy”
Xáctơrơ nhà văn lớn của chủ nghĩa hiện sinh Một trong những đặc
điểm của học thuyết hiện sinh chủ nghĩa của Xáctơrơ là khái niệm dấn thân, hay nhập cuộc Ông luôn coi “nghệ thuật thuần tuý là nghệ thuật trống rỗng”
Ông đã tham gia sáng tác để thể hiện sự “nhập cuộc” của văn học vào thực
tiễn, Đỗ Đức Hiểu coi đó là một hành trình tuyệt vọng “Nhập cuộc của
Xáctơrơ là thứ nhập cuộc nửa vời, dấn thân của ông là thứ dấn thân tả khuynh, tiểu tư sản, không mục đích, không hi vọng” [43, tr 93] Vì vậy, nhân vật trong các tác phẩm hiện sinh của Xáctơrơ luôn “ở tình trạng hoang mang cực độ, ở tình thế bi đát không lối thoát, cuối cùng chết hoặt thất bại thảm hại” [43, tr.101]
Tác phẩm Buồn nôn là một trong những tiểu thuyết tiêu biểu “minh
hoạ” cho tư tưởng triết học của Xáctơrơ Tiểu thuyết xuất hiện dưới hình thức một tiểu thuyết nhật kí của Rôcăngtanh – nhân vật chính Anh luôn thấy day dứt trong người: những sự vật xung quanh anh bỗng có những hình thái lạ lùng, xuất hiện dưới mắt anh với một ý nghĩa to lớn và ghê sợ, anh không hiểu nổi Một cảm giác khỏ tả, nặng nề, đầy lo âu, bàng hoàng và kinh hãi, đột nhiên xâm nhập anh, anh “buồn nôn” Đỗ Đức Hiểu đã phê phán thứ cảm
giác “buồn nôn” phi lí ấy “Buồn nôn vén một bức màn sắt vẫn che lấp bấy lâu
nay cái thế giới thực ấy (…) Cả thế giới là cái phi lí” [43, tr 104]
Trang 40Anbe Camuy, nhà văn tiêu biểu của chủ nghĩa hiện sinh Đỗ Đức Hiểu cũng chỉ ra cái tiêu cực, cần phê phán lên án trong quan niệm “hiện sinh” của Camuy “cái phi lí của Ca muy diễn đạt- nói đến mức sâu nhất- mối quan hệ giữa con người và xã hội (…) Cuộc sống là vô nghĩa”[43, tr.109] Tuy nhiên trong những sáng tác của Camuy, Đỗ Đức Hiểu cũng chỉ ra những điểm sáng, tích cực “nó đứng ở bên kia chủ nghĩa phát xít, nó không đồng tình với bất công và tội ác, với chiến tranh phi nghĩa, với khủng bố dã man” [43, tr.119] Tuy nhiên, hạn chế trong sáng tác của Camuy là không tránh khỏi, đó là hạn chế chung, những tiêu cực chung của chủ nghĩa Hiện sinh Đỗ Đức Hiểu nhận định “Camuy phản kháng bạo lực phi nghĩa mà ông gọi là lịch sử phi lí tính, song đồng thời, ông cũng cự tuyệt bạo lực chính nghĩa mà ông gọi là lịch sử lí tính, ông đánh giá ngang bằng hai thứ bạo lực ấy” [43, tr.119-120] Đỗ Đức Hiểu cũng khẳng định tinh thần của nhà văn đi ngược lại với tinh thần của chủ nghĩa Mác- Lênin, ông coi những lập luận của Camuy “Những lập luận siêu hình, phi lịch sử và phi giai cấp’[43, tr 122] Nó chỉ chỉ ra được hiện tượng, tình cảm, nó luôn trốn tránh nguyên nhân và triển vọng “Đáng lẽ phải phân tích, lí giải những hiện tượng và tìm cách khắc phục những nguyên nhân, chủ nghĩa hiện sinh quan niệm con người là một hữu thể bất lực trong một “thế giới im lặng khủng khiếp”, “giữa bãi sa mạc mênh mông” [43, tr.117]
Kịch phi lí là một trào lưu gắn liền với văn học hiện sinh chủ nghĩa ra đời vào những năm 50 của thế kỉ XX Kịch phi lí ra đời ở Pari, năm 1950, với
vở Nữ ca sĩ hói đầu của Iônexcô Sau đó, không tuyên bố, không tập hợp tập
hợp một loạt những nhà viết kịch khác tạo thành một “trường phái nghệ thuật”, với nhiều nhà viết kịch: Iônexcô, Bêckét, Ađamốp, Xinê, Kôpit, Giăng Vilar, Nicôlai Baita Trong vở kịch của Iônexcô, ông phủ nhận lí trí, phủ nhận nhận thức của con người, phủ nhận giá trị tình cảm, phủ nhận ngôn ngữ, tinh thần của con người Iônexcô đã đưa lên sân khấu “nhà Logic học ngớ