Trong đó, truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ được lấy làm dẫn chứng để phân tích các đặc điểm chung của trần thuật như điểm nhìn, người kể chuyện, nhân vật, ngôn ngữ.. Cùng với đó, các luận
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 03
1.Lý do chọn đề tài 03
2.Lịch sử vấn đề 05
3.Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu 10
4.Phương pháp nghiên cứu 11
5.Cấu trúc luận văn 11
CHƯƠNG 1: NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ 12
1.1.Vấn đề người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 12
1.1.1.Khái lược về người kể chuyện trong tác phẩm tự sự 12
1.1.2.Người kể chuyện hiện diện trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 14
1.1.3.Người kể chuyện tiềm ẩn trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 22
1.2.Vấn đề điểm nhìn trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 26
1.2.1 Khái lược về điểm nhìn trong tác phẩm tự sự 26
1.2.2 Điểm nhìn bên trong trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 28
1.2.3 Điểm nhìn bên ngoài trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 31
1.2.4 Sự kết hợp và dịch chuyển điểm nhìn trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 35
CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM NGHỆ THUẬT VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ 37
2.1.Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ 37
2.2.Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 42
2.2.1.Sự phong phú của thế giới nhân vật 44
2.2.1.1.Nhân vật bi kịch 44
2.2.1.2.Nhân vật tha hóa 49
2.2.1.3.Nhân vật vượt lên hoàn cảnh 53
2.2.2.Nghệ thuật xây dựng nhân vật 55
2.2.2.1.Nghệ thuật miêu tả tâm lý 55
2.2.2.2.Nghệ thuật xây dựng tình huống 61
Trang 3CHƯƠNG 3: KẾT CẤU VÀ GIỌNG ĐIỆU TRONG TRUYỆN NGẮN
NGUYỄN THỊ THU HUỆ 64
3.1.Nghệ thuật tổ chức kết cấu 64
3.1.1.Kết cấu đảo trật tự thời gian của sự kiện 66
3.1.2.Kết cấu tâm lý 71
3.1.3.Kết cấu phân mảnh 74
3.1.4.Kết cấu mở (kiểu kết thúc để ngỏ) 78
3.2.Giọng điệu trần thuật 81
3.2.1.Giọng trữ tình đằm thắm, xót xa 82
3.2.2.Giọng chiêm nghiệm, triết lý 85
3.2.3.Giọng suồng sã, hài hước, châm biếm 86
3.2.4.Giọng lạnh lùng vô âm sắc 89
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 4MỞ ĐẦU 1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1.Năm 1986 được coi là dấu mốc của sự đổi mới toàn diện đất nước Nền kinh tế chuyển từ mô hình bao cấp sang kinh tế thị trường Công nghiệp hóa – hiện đại hóa được đẩy mạnh kéo theo đà tăng tốc của quá trình đô thị hóa Tinh thần dân chủ được coi trọng, tạo một luồng sinh khí mới ở nhiều lĩnh vực của đời sống, trong
đó có văn học Là bộ phận nhạy cảm nhất của xã hội, văn học nghệ thuật hưởng ứng hết sức mạnh mẽ đường lối cách mạng và thực thi ngay tư tưởng đổi mới trong sáng tác, trong tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch, nhà lý luận phê bình Dần dần đến lượt mình, văn học cũng tự biến đổi trong công cuộc đổi mới, có thêm những tác phẩm mới, có những đặc điểm về phong cách và nội dung khác với thời kỳ trước, cho phép nói về một giai đoạn mới trong văn học.[41, 16]
Đến lúc này, hiện thực đối với người cầm bút không chỉ là chiến tranh với những người anh hùng trận mạc Hiện thực là toàn bộ dòng chảy cuộc sống đời thường phức tạp, xô bồ, là những con người cá nhân ẩn chứa cả “rồng phượng lẫn rắn rết”, là những mối quan hệ chằng chịt hay đứt gãy của những số phận nhỏ nhoi
Sự phong phú, nhiều bí ẩn của đời sống đã khiến nhiều thể loại văn học, đặc biệt là truyện ngắn phải đổi mới về các phương thức nghệ thuật cấu thành Trong đó, nghệ thuật trần thuật đóng vai trò quan trọng làm nên sự mới mẻ của truyện ngắn từ năm
1986 so với thời kỳ trước
1.2.Từ sau năm 1986, trên văn đàn dân tộc, cùng với sự vững vàng chín chắn của những nhà văn lớp trước như: Tô Hoài, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Xuân Thiều là sự xuất hiện của hàng loạt các cây bút mới đầy triển vọng như: Nguyễn Huy Thiệp, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Lý Lan Đặc
biệt, đây chính là thời kỳ “văn học mang gương mặt nữ” (chữ dùng của Bùi Việt Thắng), khi sáng lên bên cạnh một Vũ Thị Thường sắc sảo cô đọng, một Nguyễn Thị Ngọc Tú chân chất mộc mạc, một Lê Minh Khuê giàu chất chiêm nghiệm, một Nguyễn Thị Ấm với lối viết tài hoa mang chút giễu cợt đầy thiện ý là một Nguyễn Thị Thu Huệ chao chát dịu dàng và từng trải, một Y Ban đằm thắm và khắc khoải, một Vàng Anh với lối viết lạnh lùng, trí tuệ và hóm hỉnh, một Lý Lan hồn hậu và sắc sảo [46, 35]
Dung nhan của thể loại truyện ngắn đã được tô vẽ bằng những mảng màu của các cây bút nữ mang phong cách khác nhau “Găm” lại được trong lòng người đọc
Trang 5là một Y Ban lúc bạo liệt táo tợn, lại có lúc dịu dàng đến bất ngờ; một Phan Thị Vàng Anh biết lạ hóa những điều quen thuộc, biết làm cho da diết những điều tưởng chừng nhạt nhẽo; và một Nguyễn Thị Thu Huệ “bụi bặm trong tả chân”, nó toát ra
từ tâm hồn người đang đứng giữa ranh giới thiếu nữ - phụ nữ
Vừa mới xuất hiện nơi địa hạt văn chương, Nguyễn Thị Thu Huệ đã sớm giành được những thành công Chị giành giải nhất cuộc thi truyện ngắn do Tạp chí
Văn nghệ quân đội tổ chức năm 1992-1994 với hai tác phẩm Hậu thiên đường và Mùa đông ấm áp
Từ đó đến nay, cây bút ấy vẫn tiếp tục say sưa với từng trang viết Sáu tập truyện ngắn lần lượt ra đời đã cho thấy hoạt động nghệ thuật không ngừng nghỉ của
chị Mới đây nhất, năm 2012, tập truyện ngắn Thành phố đi vắng đã đạt giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam So với năm tập truyện ngắn trước (Cát đợi, Phù thủy, Hậu thiên đường, Nào, ta cùng lãng quên, 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ), tập Thành phố đi vắng đã thể hiện một ngã rẽ mới của cây bút này khi thay
đổi về vùng hiện thực, cảm hứng sáng tác và bút pháp nghệ thuật Do vậy, khi tìm hiểu nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, chúng tôi muốn khám phá sự chuyển đổi về một phương diện trong hình thức nghệ thuật để thấy được sự tự đổi mới của cây bút vốn lao động nghệ thuật nghiêm túc và đầy trách nhiệm này
1.3.Thực tế, từ trước đến nay, không ít các nhà nghiên cứu, nhà phê bình và bạn đọc trong cả nước phân tích truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ Thế nhưng, việc nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở các bài báo, bài nghiên cứu nhỏ hoặc lấy truyện của Nguyễn Thị Thu Huệ để làm dẫn chứng cho các luận văn, luận án mang quy mô tổng hợp Vì vậy, các nhà khoa học và bạn đọc mới chỉ dừng lại ở việc phân tích một số đặc điểm nổi bật về nội dung và nghệ thuật, với những ý kiến khen, chê khác nhau Mặt khác, xét riêng về góc độ nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, cho đến nay, chưa có một công trình nào lấy đó làm đề tài nguyên cứu chuyên sâu Chính điều này là cơ sở để chúng tôi lựa chọn khai thác truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ từ góc độ nghệ thuật trần thuật
1.4 Với đề tài Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, chúng tôi sẽ phân tích những đặc điểm nổi bật trong bút pháp trần thuật, cho
thấy nét riêng trong phong cách nghệ thuật của nhà văn, từ đó chỉ ra những đóng góp của nữ tác giả đối với truyện ngắn Việt Nam hiện đại
Trang 62.LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Nguyễn Thị Thu Huệ sinh ngày 12/8/1966, quê ở xã Thạch Phong, huyện Thạch Phú, tỉnh Bến Tre, trú quán: Hà Nội Chị tốt nghiệp Đại học tổng hợp Hà Nội, khoa Ngữ Văn Chị là một trong số những tác giả nữ gặt hái được nhiều thành công khi tuổi đời còn khá trẻ:
-Giải thưởng truyện ngắn Hội văn học nghệ thuật Hà Nội-1986
-Giải nhì cuộc thi truyện ngắn Tác phẩm tuổi xanh báo Tiền phong – 1993 -Giải nhất cuộc thi truyện ngắn Tạp chí văn nghệ quân đội 1992-1994
-Tặng thưởng Hội nhà văn - 1994
-Giải thưởng Hội nhà văn – 2012
Đến nay, Nguyễn Thị Thu Huệ đã cho ra mắt bạn đọc sáu tập truyện ngắn: Cát đợi, Phù thủy, Hậu thiên đường, Nào, ta cùng lãng quên, 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Thành phố đi vắng
Ngay từ thời kỳ đổi mới, khi xuất hiện không lâu trên văn đàn, Nguyễn Thị Thu Huệ đã gây một tiếng vang lớn khi giành giải nhất cuộc thi truyện ngắn lần thứ
5 (1992-1994) do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức với hai truyện ngắn: Hậu thiên đường và Mùa đông ấm áp Không dừng lại ở các giải thưởng, chị tiếp tục
khẳng định mình bằng một loạt các sáng tác có giá trị khác
Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ đã và đang cuốn hút người đọc bởi một lối
viết riêng, một phong cách riêng Ngay từ năm 1993, trong bài viết Khi người ta trẻ
đăng trên báo Văn nghệ số 43, nhà phê bình Bùi Việt Thắng đã nhận diện Nguyễn
Thị Thu Huệ là một trong các cây bút làm nên sự khởi sắc của truyện ngắn Ở đó,
nhà văn nữ trẻ cùng với thế hệ của mình đã “mê say được tham dự, được hòa nhập vào những nỗi niềm đau khổ và hy vọng của con người Sự hòa nhập ấy là chất men nồng ủ ấp trong họ bao yêu thương và cả sự phẫn nộ trong cái xấu cái ác đến „thét lên một tiếng thật to” [37]
Tiếp đó, trong cuốn “Truyện ngắn, những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại”, Bùi Việt Thắng lại một lần nữa khẳng định đối tượng mà Thu Huệ quan tâm
và hướng ngòi bút tới là “những thiên đường và hậu thiên đường của đời sống con người, đặc biệt là người phụ nữ” “Truyện ngắn Thu Huệ luôn có hai mặt như thế - vừa bụi bặm trong tả chân, vừa trữ tình đằm thắm, vừa táo tợn vừa thanh khiết”
“Chất lãng mạn trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ tương đối đặc biệt, nó toát
ra từ tâm hồn người đang đứng giữa ranh giới thiếu nữ - phụ nữ” [36]
Trang 7Năm 2002, trong bài viết Tứ tử trình làng giới thiệu tập Truyện ngắn bốn cây bút nữ, nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng đã phát hiện trong tác phẩm của
Nguyễn Thị Thu Huệ một đặc tính “chao chát và dịu dàng, thơ ngây và từng trải, đớn đau và tin tưởng cứ trộn lẫn trong văn Nguyễn Thị Thu Huệ tạo nên tính đa cực của ngòi bút nữ có duyên trong lĩnh vực truyện ngắn Đọc Nguyễn Thị Thu Huệ ta
bị cuốn vào trong niềm vui và nỗi buồn bất tận Đời sống hiện lên trên từng trang sách của chị bề bộn, ngồn ngang, ấy vậy mà ngẫm kỹ nó đâu vào đấy Nhà văn nghiêng viết về con người trong khối mâu thuẫn vừa cố kết dính với gia đình như một “hang ổ cuối cùng”, lại vừa bị nhiều ngoại lực giằng xé, lôi kéo ”[38] Lời
nhận xét ấy đã phần nào khái quát toàn bộ tinh thần truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Ngoài ra, nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng còn chỉ rõ những phương diện nghệ thuật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ Đó là tình huống tuy hẹp nhưng đặc sắc, ngôn ngữ có độ căng của nhịp điệu, câu thường ngắn, cấu trúc đơn giản, thông tin cao hoạt động trong giọng điệu Đồng thời, ông cũng nhận thấy hạn chế trong văn của Nguyễn Thị Thu Huệ: Cây bút này hơi tham, chưa dám gạt bỏ, còn muốn nói nhiều, nói hết trong truyện
Nhà nghiên cứu Đoàn Hương cũng có bài Những ngôi sao nước mắt (báo
Văn nghệ trẻ ra ngày 25/3/1996) Ở bài viết này, tác giả cũng chỉ ra một số khía
cạnh cơ bản trong sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ Nhà nghiên cứu đánh giá đây
là một cây bút tài hoa với cách viết như “lên đồng” mang khuynh hướng hiện đại Mặc dù chưa trở thành một “hiện tượng” của văn học nước nhà song Nguyễn Thị Thu Huệ đã có đóng góp trên nhiều phương diện và đã cho ra đời một số tác phẩm
có giá trị, được nhiều độc giả yêu thích
Với bài viết Thi pháp truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ được in trên báo
Văn nghệ số 35 ra ngày 21/3/ 2002, tác giả Hồ Sỹ Vịnh đã nhìn nhận và đánh giá
Nguyễn Thị Thu Huệ là một nhà văn “độc đáo tài hoa” Đồng thời, ông còn cho rằng: Nếu phong cách nghệ thuật là đại lượng thẩm mỹ, thể hiện sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của phương tiện biểu hiện nghệ thuật, các yếu tố độc đáo lặp đi lặp lại, nói lên cách nhìn, cách cảm trong sáng tạo của một nhà văn, của một tác phẩm cụ thể thì ở Thu Huệ người đọc tìm thấy những dấu
Ngoài ra, còn nhiều bài viết khác về Nguyễn Thị Thu Huệ như bài viết của tác giả
Trang 8Lý Hoài Thu đăng trên Tạp chí văn học với tựa đề Những truyện ngắn hay; bài của Dương Quỳnh Trang: Một nửa nhân loại qua truyện ngắn dự thi của một cây bút
nữ đăng trên Tạp chí Văn nghệ quân đội tháng 6/1994; Kim Dung với bài Đọc hồi
ức binh nhì và Bến trần gian đăng trên Văn nghệ trẻ ngày 25/3/1996; Xuân Cang với bài viết Nguyễn Thị Thu Huệ nhà văn của những vận bĩ trong “Tám chữ hà
lạc và quỹ đạo đời người”, Nxb Văn hóa thông tin, (2000) Các bài viết này đều
đánh giá Nguyễn Thị Thu Huệ là một cây bút có tài năng Tuy nhiên, các bài nghiên cứu này phần lớn chủ yếu chỉ ra những nét độc đáo về mặt nội dung mà chưa chú trọng đến nghệ thuật, trong đó, nổi bật là nghệ thuật trần thuật
Cũng trong xu hướng tương tự, một loạt các luận án, luận văn cũng chú ý đến Nguyễn Thị Thu Huệ ở góc độ là một đối tượng nghiên cứu nhỏ trong một đề tài rộng lớn hơn Cho đến nay, luận án mới nhất đề cập đến Nguyễn Thị Thu Huệ ở góc
độ trần thuật là luận án tiến sĩ của Hoàng Dĩ Đình năm 2012 với đề tài Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (trên tư liệu truyện ngắn ba nhà văn nữ) Trong đó, truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ được lấy làm dẫn chứng để
phân tích các đặc điểm chung của trần thuật như điểm nhìn, người kể chuyện, nhân vật, ngôn ngữ Công trình không chỉ ra đặc điểm riêng trong nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ
Cùng với đó, các luận văn của Lê Thị Tuyết Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư và Đỗ Hoàng Diệu (2010), Tìm hiểu một
số cách tân nghệ thuật trong truyện ngắn của một số cây bút nữ thời kỳ
1986-2006 (Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Bích Thúy) của Nguyễn Thanh Hồng (2009), Quan niệm nhân sinh của người phụ nữ qua các sáng tác văn xuôi thời kỳ đổi mới qua sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Nguyễn Ngọc Tư của Bùi Phương Anh năm 2009 đều cho rằng, truyện của Nguyễn Thị
Thu Huệ đều tích hợp các loại hình nhân vật lý tưởng, tha hóa, bi kịch, nhân vật nữ mang màu sắc nữ quyền Để xây dựng nhân vật, Nguyễn Thị Thu Huệ cũng như các nhà văn khác đều miêu tả ngoại hình, phân tích tâm lý và xây dựng tình huống Giọng điệu trong truyện của các nhà văn nữ đều có giọng hài hước, châm biếm, mỉa mai, trữ tình, suy tư, chiêm nghiệm Như vậy, điểm qua có thể thấy, truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ đã được quan tâm nhiều nhưng cây bút này mới chỉ được nhìn nhận như một bông hoa góp chút hương sắc cho một vườn hoa đẹp mà chưa được
Trang 9phân tích ở góc độ một đối tượng nghiên cứu riêng biệt, nhất là về nghệ thuật trần thuật
Không chỉ được nhắc đến nhiều trên các ấn phẩm in, các công trình luận văn, luận án, Nguyễn Thị Thu Huệ còn là đề tài nhiều sức cuốn hút của bạn đọc trên các trang mạng điện tử Ý kiến về tác giả này có thể chia làm giai đoạn, một là nhận xét
về 5 tập truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ đã xuất bản từ năm 1992 đến 2004,
bao gồm: Cát đợi (1992), Hậu thiên đường (1993), Phù thủy (1995), Nào ta cùng lãng quên (2003), 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ (2004); hai là nhận xét về tập truyện ngắn mới nhất của chị Thành phố đi vắng (2012)
Đối với 5 tập truyện ngắn trước, người đọc trên các trang mạng đều cho rằng
Nguyễn Thị Thu Huệ là một cây bút luôn khắc khoải, mạnh mẽ, da diết với số phận
người phụ nữ chới với và tha thiết trong tình yêu, mái ấm gia đình Trong bài Một góc nhìn về văn xuôi nữ đăng trên www.tonvinhvanhoadoc.vn, Trần Thục đã nhận
ra nét riêng biệt về nhân vật của Nguyễn Thị Thu Huệ: “Nếu nhân vật của Y Ban
dám lên tiếng đòi quyền hạnh phúc, thì người phụ nữ trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ cũng không kém phần táo bạo Nhân vật nữ của chị khao khát, mong mỏi có được một tình yêu đích thực, sống hết mình với nó nhưng kết quả lại không như mong đợi, mà chỉ toàn là bi kịch” [65]
Không chỉ nhạy cảm với những vấn đề về nội dung trong tác phẩn của Nguyễn Thị Thu Huệ, nhiều người đọc còn đi sâu phân tích nghệ thuật trong truyện của chị
Lê Na trong bài viết Ngôn ngữ độc thoại trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ đăng trên website www.vanvn.net đã chỉ ra, truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ
sử dụng ngôn ngữ độc thoại đời thường một cách phổ biến Việc lựa chọn ngôn ngữ này xuất phát từ tư duy hướng vào đời tư, bám sát hiện thực đời sống Nguyễn Thị Thu Huệ đã đưa vào tác phẩm của mình tiếng nói của đời sống thường nhật, dung nạp nhiều khẩu ngữ tự nhiên, làm độc giả không mấy khó khăn khi tiếp cận tác phẩm
Nguyễn Thị Thu Huệ - Nhà văn của nồng ấm tính yêu là một bài viết đáng
chú ý của Nguyên Hương đăng trên www.vanhocviet.org Viết về phụ nữ hiện đại
với những vấn đề đương đại nhưng Nguyễn Thị Thu Huệ sử dụng lối viết khá truyền thống Phần lớn truyện ngắn của chị có kết cấu chặt chẽ, lô-gích, có thể xáo trộn về thời gian, không gian nhưng vẫn dễ dàng tìm ra trật tự tuyến tính của cốt truyện Tính cách nhân vật khá nhất quán, số phận nhân vật thường đặt trong mối
Trang 10quan hệ nhân quả, có thể đoán biết trước Sự hấp dẫn của truyện ngắn Thu Huệ nằm
ở lối viết đằm thắm, nồng nàn hơi ấm nữ tính Mỗi truyện như một lời tâm tình, chia
sẻ hướng tới những tri âm Sôi nổi, nồng nàn, nồng nàn ngay cả trong hoàn cảnh cay đắng và chua chát nhất là giọng điệu chính chi phối sáng tác Nguyễn Thị Thu Huệ Giọng điệu ấy khiến truyện ngắn của chị dù đề cập đến nhiều đổ vỡ, mất mát nhưng vẫn là sợi dây neo đậu niềm tin vào hạnh phúc và tình yêu
Sau 5 tập truyện đầu đã xuất bản, Nguyễn Thị Thu Huệ đã lưu dấu ấn đậm nét,
độc đáo và nữ tính trong lòng người đọc Thế nhưng, đến tập Thành phố đi vắng,
dư luận lại phân ra hai luồng ý kiến khen chê trái chiều
Thực hiện cuộc phỏng vấn với nhà văn trên báo Tuổi trẻ, phóng viên Việt
Hoài xa xót: Thành phố còn đây, nhưng tình người đi vắng Cùng chung nguồn
cảm xúc ấy, Nguyên Hương tinh tế khi nhận thấy, thay vì kiếm tìm tình yêu, tập truyện là những ưu tư về tình người ngày một cạn kiệt thậm chí biến mất trong đô thành hiện đại
Dương Thị Thùy Chi trong bài viết Nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ: Lạnh lùng câu chữ, xa xót tâm can, nhận xét: “Ở Thành phố đi vắng chị sử dụng lối
viết khách quan, trung tính, tiết chế cảm xúc tối đa, mỗi truyện ngắn như một bản tường thuật đời sống” [54]
Với bài Nguyễn Thị Thu Huệ trở lại, Khải Ly cho rằng, Thành phố đi vắng
được khắc họa bằng lối kể chuyện mang tính giả tưởng, một lối kể đan xen thật, giả
và mở, không khí lạnh lùng như một cuộc mổ xẻ của nhà pháp y trên con chữ Thế nhưng, đây đó vẫn nhận ra một Nguyễn Thị Thu Huệ đầy nữ tính trong các truyện
ngắn: X-Men có mùi trường đua, Của cha, của con và những cành vạn niên thanh hết sức ưu ái những người con gái bán thân lấy tiền Trong khi nhiều bạn đọc nhận chân các giá trị mới của tập truyện Thành phố đi vắng thì một số độc giả khác
lại cho rằng, tập truyện còn nhiều khiếm khuyết
Khi Thành phố đi vắng đạt giải thưởng của Hội Nhà văn năm 2012, nhà thơ
Đỗ Hoàng cho rằng, Thành phố đi vắng của Nguyễn Thị Thu Huệ: Đơn sơ, nhiều lỗi, nhạt nhèo/ Cũ càng con cóc lộn lèo văn chương Trong đó, truyện cũ kỹ và lộn xộn nhất là truyện X- Men có mùi trường đua, có chất lượng nội dung, nghệ thuật rất thấp Truyện Chúng ta cần suy nghĩ về chuyện này là một mẩu không ra
truyện ngắn, không ra mẩu phóng sự, cảm văn không ra cảm văn Nhạt nhẽo vô
cùng Truyện Cú mèo và rượu hoa kể dài lê thê, cũ kỹ, rời rạc, vô cảm, vô hồn,
Trang 11không có gửi gắm một thông điệp gì Truyện lạnh lùng vô cảm nhất là truyện Trong lúc ăn một bát phở gia truyền Về nghệ thuật, Thành phố đi vắng không mang lại
điều gì mới Tác giả chỉ thay khi hỏi và đối thoại không xuống dòng, viết liền tù tì,
ai hiểu thế nào thì hiểu Chấm câu lung tung, vô tội vạ Tóm lại, Thành phố đi vắng
là một tập truyện ngắn chưa đạt trung bình
Như vậy, khảo sát hình ảnh truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ ở nhiều phương tiện thông tin, có thể khẳng định: Đã có nhiều ý kiến phê bình, nghiên cứu về những đổi mới, cách tân về nội dung và nghệ thuật trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ Với các quan điểm khác nhau, các bài viết, công trình nghiên cứu dù “khen”, hay “chê” đều cho thấy Nguyễn Thị Thu Huệ là một cây bút có sức thu hút mạnh
mẽ Thêm vào đó, rõ ràng, việc tìm hiểu nghệ thuật trần thuật vẫn là khía cạnh nghiên cứu mới ở một ngòi bút đã trưởng thành và dày dạn kinh nghiệm này
3.ĐỐI TƢỢNG, MỤC ĐÍCH, PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
-Luận văn tập trung tìm hiểu về nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ để thấy rõ những nét độc đáo của ngòi bút trên các phương diện: người kể chuyện và điểm nhìn, quan điểm nghệ thuật và thế giới nhân vật, kết cấu và giọng điệu Đây là những đặc điểm cho thấy nét đặc sắc riêng của cách trần thuật được Nguyễn Thị Thu Huệ vận dụng, góp phần làm nổi bật phong cách nghệ thuật của nhà văn, đồng thời khẳng định đóng góp truyện ngắn của chị trong dòng chảy của văn học Việt Nam hiện đại
- Luận văn tập trung phân tích sáu tập truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ:
Cát đợi (Nxb Hà Nội, 1992), Hậu thiên đường (Nxb Hội Nhà văn, 1993), Phù thủy (Nxb Văn học, 1995), Nào ta cùng lãng quên (2003), 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ (Nxb Văn học, 2004); Thành phố đi vắng (Nxb Trẻ, 2012) Do 5 tập
truyện đầu xuất bản có sự lặp lại các truyện nên chúng tôi đã tổng hợp được 45
truyện ngắn được in Riêng tập Thành phố đi vắng gồm 16 truyện ngắn Như vậy,
có tất cả 61 truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ được nghiên cứu trong luận văn này
- Với đề tài Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ,
chúng tôi sẽ so sánh giữa bút pháp trần thuật ở 45 truyện ngắn trong 5 tập truyện
đầu với 16 truyện ngắn trong tập truyện mới đây Thành phố đi vắng để chỉ ra sự
chuyển biến trong nghệ thuật trần thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ Đây cũng là cách
tự làm mới mình của chị, cho thấy chị luôn luôn sáng tạo và không chịu cũ mòn
Trang 124.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã phối hợp vận dụng các phương pháp sau:
4.1.Phương pháp thống kê:
-Ở luận văn này, Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
sẽ khai thác khía cạnh người kể chuyện và điểm nhìn trong 61 truyện ngắn Với phương pháp thống kê, chúng tôi sẽ xác định được tỷ lệ vận dụng các loại người kể chuyện và điểm nhìn, từ đó, chỉ ra dụng ý nghệ thuật của nhà văn
4.2.Phương pháp so sánh:
Để chỉ ra sự khác biệt trong bút pháp trần thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ với các nhà văn khác, chúng tôi sử dụng phương pháp so sánh Đặc biệt, bởi hành trình sáng tác của chị có sự gián đoạn và thay đổi, vì vậy, phương pháp so sánh sẽ giúp người viết khám phá những chuyển biến về phương thức nghệ thuật từ khi cầm bút đến nay
4.3 Phương pháp loại hình:
Truyện ngắn với những đặc trưng của nó, vốn đã riêng biệt về hình thức so với các loại hình văn chương khác như tiểu thuyết, tự truyện Truyện ngắn hiện đại lại mang trong mình những nét độc đáo khác Do vậy, chúng tôi dùng phương pháp loại hình để làm sáng rõ cách trần thuật trong thể loại truyện ngắn của riêng nhà văn nữ
4.4.Phương pháp phân tích tổng hợp:
Nghệ thuật trần thuật vốn là vấn đề tổng hợp, tích hợp nhiều biểu hiện khác nhau như điểm nhìn, người kể chuyện, nhân vật, giọng điệu, kết cấu Phương pháp phân tích tổng hợp giúp chúng tôi thấy được sự thống nhất của các phương diện này
để khái quát nên đặc trưng riêng trong ngòi bút trần thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ
5.CẤU TRÚC LUẬN VĂN:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chính của luận văn được
Trang 13CHƯƠNG 1: NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TRONG
TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ
1.1.Vấn đề người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ 1.1.1 Khái lược về người kể chuyện trong tác phẩm tự sự
Gérard Genette (sinh năm 1930 – một nhà tự sự học hàng đầu của Pháp Trong
bộ ba “Phương thức tu từ” (FiguresI, 1966; Figures II, 1969, Figures III, 1972), Genette đi sâu vào các yếu tố tạo thành chất văn học của tự sự Theo tác giả này, cấu trúc ngôn bản tự sự do ba lớp tạo thành: cốt truyện (histoire), truyện hay câu chuyện (récit) và tự sự hay kể chuyện (narration)
Một hàm nghĩa nổi bật nhất, quan trọng nhất và cũng được chú ý nhiều nhất của tự sự là nó đảm nhiệm bằng miệng hoặc chữ viết công việc trình bày về một hay một chuỗi sự kiện/sự tình Rõ ràng với nghĩa như thế, tự sự là chỉ hành động trần thuật Không có hành động trần thuật thì không có trần thuật, có khi thậm chí không
có nội dung trần thuật Có hành động trần thuật thì phải có chủ thể trần thuật – đó là người trần thuật (người kể chuyện) Genette quan niệm, không thể có những tự sự
không có người trần thuật “Nếu không có người trần thuật, tự sự sẽ không thể thực hiện được và đó sẽ là một hành động vô trần thuật, vì thế, nó dứt khoát là một trần thuật không có hành động giao tiếp” [10]
Nhận định của Genette đã khẳng định vai trò quan trọng của người trần thuật – người kể chuyện trong tác phẩm tự sự Đây là vai đã để lại nhiều dấu vết trong quá trình sản sinh ngôn ngữ trần thuật Nó có thể dễ dàng nhận ra qua các yếu tố như thời gian trần thuật, cấp bậc trần thuật và ngôi
Genette đã phân loại người trần thuật – chủ thể của trần thuật dựa trên ngôi/ nhân xưng trong tác phẩm văn học Theo đó, có thể chia ra hai loại người trần thuật: (1) Người trần thuật không xuất hiện trong truyện là người trần thuật dị câu chuyện (tức người trần thuật ngoài câu chuyện) (2) Người trần thuật xuất hiện trong truyện với tư cách một nhân vật của truyện là người trần thuật đồng câu chuyện (tức người trần thuật trong câu chuyện) Xét về mặt ngôn ngữ, người trần thuật đồng câu chuyện thường xưng “tôi” khi kể
Căn cứ vào vị trí hoặc cấp bậc trần thuật và trình độ tham gia vào truyện của người trần thuật, có thể chia ra các loại hình người trần thuật khác nhau như:
-Người trần thuật bên ngoài – Người trần thuật bên trong
Trang 14-Người trần thuật hiện diện – Người trần thuật tiềm ẩn
- Người trần thuật đáng tin cậy – Người trần thuật đáng nghi ngờ
Với việc phân chia như vậy, ở luận văn này, chúng tôi phân tích vấn đề người
kể chuyện (người trần thuật) trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ dựa trên phương diện: Người trần thuật hiện diện và người trần thuật tiềm ẩn
Người trần thuật hiện diện (overt narrator) chính là người trần thuật đồng câu chuyện Người trần thuật xuất hiện trong câu chuyện là một nhân vật tham gia vào trong truyện Vai này không chỉ đảm nhiệm chức vụ trần thuật mà còn là một nhân vật của sự kiện đang được kể, có những hoạt động trong truyện và giao lưu với các nhân vật khác Thông thường, kiểu người trần thuật này xuất hiện trong truyện thường xưng “tôi”, kể về những sự kiện có liên quan đến bản thân mình có mặt trong ấy Vì vậy, việc trần thuật của kiểu người trần thuật này thường để lại ấn tượng chân thực cho người tiếp nhận trần thuật và hình ảnh của người trần thuật cũng trở nên sinh động hơn
Lợi thế của người trần thuật hiện diện là người trần thuật có bản ngã cá nhân,
có khi “đột nhập” vào truyện đánh giá một cách công khai về các sự kiện và nhân vật khác Tuy nhiên, hạn chế của người trần thuật này là do kể bằng lăng kính cá nhân nên không thể bao quát hết những nội dung trần thuật vượt qua sự từng trải cá nhân, vì vậy, truyện mang nặng tính chủ quan
Xét về phạm vi hoạt động và mức độ hoạt động của người kể chuyện hiện diện,
có thể chia ra hai loại: Người kể chuyện đứng bên trong truyện đóng vai nhân vật chính và Người kể chuyện đứng bên trong truyện đóng vai người quan sát
Ngược lại với người kể chuyện hiện diện, người kể chuyện tiềm ẩn (covert narrator) hay còn gọi là người trần thuật dị câu chuyện, người trần thuật ngôi thứ ba thường không để lại vết tích trong văn bản Người kể của truyện biết hết nhưng không xuất hiện, để câu chuyện tự triển khai theo logic tự thân, nhân vật tự hoạt động Cũng có khi, người kể chuyện không trực tiếp xuất hiện mà như đứng kín đáo
ở một chỗ nào đấy, chứng kiến hết mọi chuyện xảy ra và kể lại Đó cũng là lý do để
trong bài viết của mình về Sự biến mất của chủ thể phát ngôn và vấn đề người trần thuật, trích trong cuốn Logic học về các thể loại văn học, Kate Hamburger đã
huyền thoại hóa “người kể chuyện như thượng đế” Ông trích dẫn ý của J.Petersen khi so sánh người trần thuật với người chủ trò đứng trên sàn diễn giữa các nhân vật của ông ta và chỉ dẫn cho chúng về vị trí, động tác, ngữ điệu Giống như là họa sỹ
Trang 15sử dụng màu và bút vẽ làm công cụ để tạo nên những kiệt tác nghệ thuật bất hủ, người kể chuyện cũng điều khiển nhân vật, sự kiện, chi tiết, để làm nên một tác phẩm tự sự đặc sắc và sinh động
Honore de Balzac - ngôi sao chói lọi của văn đàn Pháp tác giả đã sáng tác Tấn trò đời bất hủ đã không bỏ sót một hoàn cảnh nào, một giới xã hội nào của thời đại
ông Những Raphaen de Valangtanh, Đơ Raxtinhac, Poline… được kể lại một cách đầy đủ trọn vẹn, đã hình thành cả một thế giới nghìn lẻ một đêm của phương Tây
Và ai là người mô tả cái thế giới ấy trong tiểu thuyết của Balzac? Ai là người trần thuật thông hiểu hết mọi việc, có mặt ở khắp mọi nơi cùng một lúc, ai là người cùng một lúc nhìn thấy cả mặt phải lẫn mặt trái của các sự vật, ai biết đồng thời cả hiện
tại, quá khứ lẫn tương lai của các cuộc phiêu lưu trong Tấn trò đời? Theo A.Robble
- Grillet: đó chỉ có thể là Thượng đế Không ai có thể nhìn thấy được thượng đế, nhưng người ta vẫn tin rằng có Thượng đế ở trên đời Cũng vậy, không thấy xuất hiện cụ thể người trần thuật ngôi thứ ba trong tác phẩm tự sự, song người đọc vẫn nhận thấy có một người trần thuật ẩn tàng Vì ẩn tàng nên có khi người trần thuật ở ngôi thứ ba phải mượn điểm nhìn của nhân vật trong truyện để kể Người kể chuyện
đã hòa vào nhân vật đến mức ta khó phân biệt giọng kể của anh ta với giọng kể của nhân vật, và vì thế, giọng nhân vật thường nổi trội hơn
Nếu như người trần thuật hiện diện đem lại ý nghĩa màu sắc chủ quan thì người trần thuật tiềm ẩn đem lại ý nghĩa khách quan tối đa Dung lượng phản ánh trong truyện cũng không bị hạn chế Với ưu thế riêng, người kể chuyện tiềm ẩn dễ dàng thâm nhập vào đời sống nội tâm và các mối quan hệ của nhân vật, tạo cảm giác trực tiếp, gần gũi với thế giới nhân vật, khiến ta có cảm giác không phải đang nghe kể mà là đang trực tiếp chứng kiến Tuy vậy, cách kể này vẫn mắc phải hạn chế, đó là vấn đề mà nhà văn trực tiếp thực hiện điểm nhìn thì tính thuyết phục không cao
Ở truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, cả hai loại hình người kể chuyện diện diện và người kể chuyện tiềm ẩn đều phát huy vai trò của nó để làm nên sức cuốn hút của những câu chuyện giàu sinh khí đời sống hiện đại
1.1.2.Người kể chuyện hiện diện trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Trong nghệ thuật trần thuật, sáng tạo của nhà văn trước hết thể hiện ở cách
“ứng xử” với câu chuyện: chuyện được trần thuật ở góc độ nào, theo lời kể của ai?
Tự sự truyền thống đa số được kể từ người kể chuyện ngôi thứ ba, thông tỏ mạch truyện và số phận của nhân vật Quyền phán truyền chân lý vì vậy thuộc về
Trang 16nhà văn – người duy nhất biết trước tất cả và luôn luôn đúng (Nguyễn Thị Bình) Người kể chuyện luôn đứng cao hơn bạn đọc Anh ta không bao giờ kể với thái độ
do dự hay hoài nghi, anh ta tuyệt đối tin vào mình và tuyệt đối không để cho người khác “cãi lại” Hiện thực trong tác phẩm là hiện thực “hoàn kết” Cấu trúc trần thuật như vậy nhiều khi tạo ra cái nhìn áp đặt, thiếu dân chủ trong mối quan hệ nhà văn
và bạn đọc
Trần thuật hiện đại đã mở ra một chân trời mới cho sáng tạo nghệ thuật Người
kể chuyện được xây dựng chân dung mang tính cá thể rõ nét, là “tôi” trong câu chuyện đang diễn biến phức tạp đa chiều Chính những cái “tôi” đang kể đã đem lại chiều sâu không cùng cho thể loại truyện ngắn vốn hạn chế về dung lượng
Sống trong không khí của thời đổi mới, trong sự tự do sáng tạo nghệ thuật, Nguyễn Thị Thu Huệ cùng với nhiều nhà văn nữ khác đã “tự ăn mình” khi khai thác sâu sắc cái tôi nội cảm, cái tôi nữ giới nhiều đa cảm, đa đoan Truyện của Nguyễn Thị Thu Huệ xuất hiện nhiều cái tôi đang kể chuyện Người kể chuyện ngôi thứ nhất hiện diện với đầy đủ đường nét về khuôn dạng, tâm hồn đến cuộc đời đã cho thấy ý thức cá nhân mạnh mẽ trong phương thức trần thuật của chị
Khảo sát 61 truyện ngắn trong 6 tập truyện đã xuất bản, chúng tôi nhận thấy
có 28/61 truyện ngắn được trần thuật theo lời kể của nhân vật xưng “tôi”, chiếm
46 % tổng số truyện Trong đó, ở 5 tập truyện đầu, có 24/45 truyện có người kể
chuyện xưng “tôi” Tỷ lệ này ở tập Thành phố đi vắng là 4/16 truyện
Xét về sự ra đời của các tập truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, dựa trên các sắc thái về vùng hiện thực, nhân vật, vấn đề đặt ra trong truyện, có thế nhận thấy một Nguyễn Thị Thu Huệ đã thay đổi bút pháp trần thuật từ 45 truyện ngắn đầu đến 16 truyện ngắn gần đây nhất Người kể chuyện xưng “tôi” trong tác phẩm của chị tuy có sự tương đồng về mật độ xuất hiện ở hai giai đoạn sáng tác nhưng bản chất của mỗi cái tôi kể chuyện ấy lại có sự khác biệt rõ nét
Người kể chuyện hiện diện trong 24 truyện ngắn thuộc 5 tập truyện đầu đã định hình những chân dung khá đủ đầy về hình dạng, tính cách
Đó là “tôi” – một người phụ nữ sau bao năm vẫn giữ cho mình một tình yêu huyền thoại với một người đàn ông đã có vợ Thỉnh thoảng, “tôi” lại bay vào Sài Gòn để gặp anh, chỉ chốc lát thôi nhưng tình yêu hời hợt từ phía người đàn ông kia
đủ sức mạnh để khiến “tôi” hàng năm tìm kiếm (Huyền thoại) Trong Nước mắt đàn ông – người xưng “tôi” là đứa cháu kể về cậu ruột của mình Dẫu giàu có
Trang 17nhưng ông lại luôn đau đớn vì phải sống trong một gia đình không hạnh phúc với một người vợ ghê gớm đến quá quắt, những đứa con ăn chơi và chỉ biết tiêu tiền Tình yêu của riêng ông với người phụ nữ khác đã không đủ cho ông sức mạnh để giữ người ấy ở bên mình Nước mắt ông rơi khi con chó – kỷ niệm duy nhất của người yêu trao lại bị vợ ông giết, ăn uống hỉ hả Sự trống rỗng, cô đơn bủa vây lấy con người chỉ còn biết thả hồn mình vào cánh buồm đỏ cô đơn trôi trên hồ khi
giông bão Hậu thiên đường là cái tôi của người mẹ tự kể về cuộc đời của mình sau
những chuỗi dài được sống trong thiên đường ở tuổi hai mươi tư đã rơi xuống một hậu thiên đường tăm tối, quạnh hiu Mười sáu năm trước, chị cũng yêu say đắm, trao thân cho người đó để rồi bẽ bàng nhận ra mình chỉ là cái ô giữa trời mưa, người đàn ông tán tận kia vào trú trong chiếc ô đó, vui say thỏa thích rồi bỏ đi, chỉ còn lại mình chị cô đơn trống vắng Khi con gái lớn lên, chị vẫn say sưa trong những đêm
nhảy đầm, để rồi chợt nhận ra, con gái mình đã lớn Đau khổ hơn, khi thấy “con gái tôi thành đàn bà thật rồi” Nó giống mẹ ngày xưa, đang ngây ngất trong vòng tay
của người đàn ông đã có vợ, đi đêm thường xuyên và nở nụ cười hạnh phúc trong cái nôi thiên đường mà không hề hay biết “hậu thiên đường” sẽ là vô vàn cạm bẫy, chông gai, là vựa thẳm hố sâu, là muôn vàn nanh độc đang chầu chực nuốt chửng cô vào đó Cái “tôi” kể chuyện muốn cứu con, lôi con ra khỏi cái thiên đường địa ngục
đó nhưng không kịp: Cái “tôi” ấy đã chết trên đường đi tìm con Câu chuyện xót xa với muôn vàn cung bậc của đớn đau, vây bủa trái tim người mẹ đã được trần thuật lại đầy chân thực và cảm động
24 truyện ngắn trong 5 tập truyện đầu của Nguyễn Thị Thu Huệ được kể theo ngôi thứ nhất đã hoàn toàn phát huy ưu thế khi người kể chuyện là những cái tôi người phụ nữ kể về chuyện của cá nhân mình 13 truyện được kể bởi những cái tôi phụ nữ đa sầu, đa cảm, đa đoan Đó có thể là những người phụ nữ đã trải qua bao thăng trầm của cuộc sống, bao xa xót của cuộc đời, bao đổ vỡ trong tình yêu và
cũng từng nồng nàn khát khao hạnh phúc như trong Người đi tìm giấc mơ, Người xưa, Hình bóng cuộc đời, Đêm dịu dàng, Hậu thiên đường
Mở đầu truyện ngắn Người đi tìm giấc mơ là lời kể của nhân vật “tôi” – một
người con gái nghèo sống đơn độc với bà, chấp nhận lấy một người đàn ông tật nguyền nhưng giàu có, mong đổi đời Do không sinh được con nên cô bị nhà chồng
đuổi đi “Tôi đi ra đường, trên người là chiếc áo mỏng dính, gần rách Chiếc quần tôi mặc co lại vì ngắn và cũ Tôi chẳng có gì ngoài hai thứ đó Tôi đi” Những lời
Trang 18kể đầu tiên đã giúp người đọc hình dung về một người tàn tạ, nghèo khổ đi vô định hướng Ngoại hình nhân vật đã tạo ấn tượng mạnh để tiếp nối vào mạch kể về số phận đắng cay Tất cả quá khứ đều hiện về trong tâm trí người đàn bà tội nghiệp:
„Những cái tát, những trận phang gậy vào người gần hai năm nay tôi đã quen” Người thân duy nhất của cô là người bà, nhưng “Đêm ấy Tại tôi nên bà chết” Hành trình đi của tôi mà những người xung quanh gọi là “kẻ điên” đã đến nơi “Bờ sông cao Khô khốc Dưới kia Nước sông Hồng đỏ đặc phù sa Tôi thường tưởng tượng ra một ngày nào đó mình sẽ ở trên thiên đường và tự hỏi: Nếu chết linh hồn mình sẽ đi đâu khỏi cái xác thối rữa?” Kết thúc truyện là hình ảnh cô đang ngủ và
tiếp tục mơ về những điều tươi đẹp hơn, hạnh phúc hơn
Người kể chuyện xưng “tôi” – đồng thời là nhân vật chính trong chuyện, hầu hết là những phụ nữ bất hạnh trong tình yêu Cái tôi kể chuyện và cái tôi từng trải
đã hòa nhập làm một trong những trang văn chất chứa nỗi niềm Không phải ngẫu
nhiên mà nhà phê hình Bùi Việt Thắng nhận xét: “Truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ luôn có hai mặt như thế - vừa bụi bặm trong tả chân, vừa trữ tình đằm thắm, vừa táo tợn, vừa thanh khiết” Cái bụi bặm hiện lên qua lời kể của người mẹ trong
Hậu thiên đường về những va vấp của tuổi trẻ để đến 16 năm sau chị phải sống
trong đơn côi lạnh lẽo Sự tả chân đã đem lại cho người đọc cảm giác vỡ mộng khi
người kể chuyện xưng “em” trong Một chiều mưa đang hụt hẫng, tan nát vì phát
hiện vị cứu tinh của mình đang ngồi cạnh một người con gái khác “Cô ta tóc rất ngắn, còn ngắn hơn cả tóc em, xinh và tươi rói Em chết lặng” Lời kể của nhân vật
xưng “tôi” cũng thắm đượm vẻ trữ tình đằm thắm khi kể về những mong ước,
những khát khao tình yêu và hạnh phúc rất con gái: “Tôi luôn ao ước được đi chơi với anh Tất cả những lần chúng tôi rong ruổi trên các con đường Lúc sáng tinh
mơ Lúc nhập nhoạng tối Tôi đều thấy các con đường, các hàng cây thật đáng yêu
và tuyệt đẹp Cũng như bây giờ Suốt thời gian đã qua của tôi chưa bao giờ trăng
đẹp như thế” (Còn lại một vầng trăng)
Những trang văn của Nguyễn Thị Thu Huệ thanh khiết khi kể về những cái tôi – những người con gái, những người phụ nữ còn rất trẻ tự kể về mình Trong 13 truyện có người kể chuyện là nhân vật nữ xưng “tôi” thì có 7 truyện được trần thuật
từ người kể chuyện là những cô gái trẻ tuổi, trẻ lòng, đầy mộng mơ và ước vọng về tình yêu Đó là cô bé sắp tròn mười tám tuổi vào ngày mai, mơ thấy người mẹ bỏ hai bố con theo tình cũ Đôi giày đỏ mẹ chưa kịp đi khi vội vã theo người ta trong
Trang 19dịp sinh nhật con, mẹ tặng lại cho con (Đôi giày đỏ) Trong Biển ấm, người kể
chuyện là cô gái mới hai mươi tuổi, dám tự tìm đến với người yêu – người đàn ông hơn cô mười hai tuổi Đất Quảng Ninh với những hầm than là thế giới của anh Với
cô lúc ấy tất cả thấm đẫm một sắc màu huyền ảo bởi “tôi” nhìn chúng bằng ánh mắt
kẻ đang yêu “Tôi” trong Còn lại một vầng trăng cũng hồn nhiên bày tỏ niềm hạnh
phúc của mình: “Tôi biết mơ mộng từ ngày yêu anh Biết nhớ mong, dỗi hờn từ ngày
có anh Và đêm nay Biết trăng đẹp vì đi bên anh” Hoàng hôn màu cỏ úa lại là
cảm nhận của người kể chuyện xưng „tôi” trong một buổi chiều chia tay cuối cấp ba
đong đầy bao kỷ niệm Thành phố không mùa đông là câu chuyện của cô gái trẻ
ngỡ ngàng biết tin cha mẹ chia tay nhau, cô theo người bạn lên công viên để khuây
khỏa những nỗi buồn vẫn nghẹn thắt con tim Cát đợi là lời kể của người con gái đã trao thân mình ở một vũng cát bên bờ biển khi đang ở độ tuổi học trò Trong Một chiều mưa, “em” đứng dưới gốc dâu da con con có mấy chùm hoa trắng như hoa
sấu để đợi anh mà không thấy anh đến Chợt gặp anh tình tứ với người con gái khác,
“em” mới biết mình bị mắc lừa một kẻ Sở Khanh
Không đi vào những chuyện quá lớn lao, nhân vật con gái – đàn bà trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ tự kể về câu chuyện nhỏ bé rất riêng của mình
Là tình yêu trong sáng nguyên sơ nhưng bị lừa lọc bởi những người đàn ông từng trải Là khát khao hạnh phúc vừa trẻ con, vừa ngây thơ lại rất đỗi đàn bà
Là sai lầm vì bồng bột và cả tin Tất cả những trái ngang, những mộng mơ, những hụt hẫng và đau đớn sâu kín nhất của người phụ nữ đều được những nhân vật xưng “tôi” tỏ bày trên trang viết Truyện thiên vể kể, tâm sự nên lời văn thấm đẫm cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật Đối thoại trong truyện ít Những sự kiện, biến cố xảy ra chỉ là “cái cớ” để người kể chuyện bộc lộ tâm trạng và suy
tư cá nhân Có lẽ vì thế mà ở một số truyện, người đọc có cảm giác đọc truyện như đang bước vào những trang nhật ký của người phụ nữ đầy chân thực, chân thành, cảm động Nói lúc này, Nguyễn Thị Thu Huệ đang “rút ruột” ra để viết cũng không sai Nữ giới – viêt văn là họ “tự ăn mình”
Trong 24 truyện ngắn được trần thuật từ ngôi thứ nhất tập hợp từ 5 tập truyện trước, ngoài 13 truyện được kể bằng lời nhân vật nữ, còn 11 truyện có người kể chuyện xưng “tôi” là nhân vật nam Trong đó, người kể chuyện đứng bên trong
truyện đóng vai nhân vật chính xuất hiện ở 5 truyện (Người đàn bà ám khói, Sơ-ri đắng, Ám ảnh, Minu xinh đẹp, Những đêm thắp nắng) Người kể chuyện đứng
Trang 20bên trong truyện đóng vai người quan sát xuất hiện ở 6 truyện (Nước mắt đàn ông,
Dĩ vãng, Chị tôi, Một chuyến đi, Cõi mê, Màu ngả sắc đỏ)
Với vai trò là một nhân vật chính của truyện, người kể chuyện là một nhân vật nam xưng “tôi” thường kể về những câu chuyện của bản thân có liên quan đến nhân vật khác là người phụ nữ Đối thoại trong truyện được xây dựng nhiều hơn nhằm
bộc lộ suy nghĩ và tính cách, bản chất của người đàn ông Người đàn bà ám khói là
hình ảnh của người tình cũ trong mắt người kể chuyện là “tôi” khi gặp lại trong một đám tang Người kể chuyện bộc lộ là một kẻ nghiệt ngã, vô tình, sĩ diện và tàn nhẫn
Sơ-ri đắng là cảm nhận của người kể chuyện xưng “tôi” khi giữ mãi tình yêu với người con gái đã chết vì một kẻ vô lại, vô tình Trong Những đêm thắp nắng –
nhân vật “tôi” kể về câu chuyện của chính mình khi bị một phụ nữ có gia đình bội
bạc và dối trá ngay trước mặt Riêng hai truyện Ám ảnh và Minu xinh đẹp, người
kể chuyện lại kể về câu chuyện khác, không phải là tình yêu Ám ảnh là câu chuyện
của chàng trai tên Thành mơ về người cha tàn nhẫn, hắt hủi mẹ để đi với người tình, anh vừa qua tuổi vị thành niên đã bắn chết hai mẹ con người tình của bố Anh bị kết
tội tử hình, lúc chết chỉ kịp gọi hai tiếng “Mẹ ơi” Minu xinh đẹp được kể bằng lời
của nhân vật xưng “tôi” – một thiếu tá đã về hưu, mong đổi đời nhờ nuôi chó nhưng thất bại Những nhân vật này góp phần khắc họa thế giới đàn ông đa dạng trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Đối với hình tượng người kể chuyện xưng “tôi” chỉ đóng vai trò là người quan
sát, 6 truyện được trần thuật lại một cách tương đối khách quan Trong Nước mắt đàn ông, “tôi” – một đứa cháu ruột kể về nỗi đau riêng của cậu mình khi không
hạnh phúc trong cuộc sống gia đình, khi người yêu bỏ đi và vật chứng của tình yêu
bị giết bởi chính tay người vợ Dĩ vãng được kể bằng nhân vật “tôi” – một anh lính
đến thăm thủ trưởng của mình – ông Xung đang sống trong cô đơn tột độ Nhờ người kể chuyện là người chứng kiến ở hai khoảng đời của nhân vật chính nên
những thay đổi của nhân vật chính được trần thuật lại rất chi tiết, cụ thể Chị tôi là
câu chuyện của người kể chuyện xưng “tôi” – một sinh viên đại học sống nhờ đồng tiền buôn thuốc lá dạo của chị ở bến tàu Chị chết vì tại nạn lúc qua đường, để lại nỗi ân hận và thương xót vô bờ trong lòng “tôi” Người kể chuyện hiện diện trong
Một chuyến đi là chàng trai vừa tròn 18 tuổi, kể về người cậu đi bộ đội, lúc trở về
đã là thương binh Cõi mê là câu chuyện về người cô bị điên được một người đàn
ông khỏe mạnh, bình thường cưới làm vợ Người trần thuật trong truyện là đứa cháu
Trang 21ruột của cô Người kể chuyện xưng “tôi” trong Màu ngà sắc đỏ là một người đã
cứu vớt một người con gái tên Hạnh phải nạo phá thai vì yêu Hưởng Câu chuyện chủ yếu diễn ra trong đối thoại giữa tôi và Hưởng, từ đó những vấn đề của câu chuyện tình yêu tình yêu riêng tư, bản chất của người đàn ông làm Hạnh khổ lộ diện
“Tôi” đóng vai trò là người cật vấn, nói lên tiếng nói của cá nhân nhưng cũng là băn khoăn và cảm nhận của số đông khi biết chuyện này Thương Hạnh và trách móc, giận người đàn ông bao nhiêu, “tôi” càng hỏi dồn dập bấy nhiêu Lúc đầu, cán cân đối thoại nghiêng về “tôi” vì tôi là là kẻ nắm bằng chứng, “tôi” đã làm một hành động cao thượng là cứu Hạnh Hưởng lúc này là kẻ tội đồ Thế nhưng dần dần, qua
sự kể lể giải thích của Hưởng, cán cân ấy lại nghiêng về phía người đàn ông đã có
vợ và vô trách nhiệm với người tình “Tôi” từ bực bội đã chuyển sang thương cảm cho anh
Khảo sát một loạt hình ảnh người kể chuyện xưng “tôi” với vai trò là nhân chứng ở 5 tập truyện đầu, dễ nhận thấy, những cái tôi trần thuật này dù chỉ là kể lại câu chuyện theo sự chứng kiến của mình nhưng với cách nhìn riêng đầy nhân bản, với sự rung động chân thực nên câu chuyện vẫn cuốn hút người đọc Người kể chuyện xưng “tôi” vẫn bộc lộ, suy nghĩ của mình về nhân vật chính và câu chuyện
mà anh ta được chứng kiến, vì vậy truyện được kể lại không phải chỉ là cái vỏ sự kiện mà còn chứa đựng nhiều tâm tư, nỗi niềm của nhân vật chính do nhân vật này
có giao tiếp với người kể chuyện Người kể chuyện hiện diện tinh tế, đồng cảm và chân thành với mỗi câu chuyện kể ra, vì vậy mà người kể chuyện ngôi thứ nhất đóng vai trò quan sát cũng cho thấy tính cá nhân hóa của mình
Sau 5 tập truyện đầu ra đời, đến năm 2012, tập Thành phố đi vắng mới ra mắt
độc giả Cách viết khác về một vùng hiện thực mới đã khiến năm truyện được trần thuật theo ngôi thứ nhất mang một màu sắc khác Cũng là những cái tôi kể về câu chuyện của mình hoặc của người khác nhưng thay vì kể những câu chuyện là tình yêu, là khát khao, là mong ước một gia đình, một sự giàu sang hay giản đơn là sống
cho tốt, nhân hậu và đơn giản thì người kể chuyện ở 4 truyện trong Thành phố đi vắng lại kể những chuyện trong cuộc sống chốn thị thành đang trôi như con thoi,
trong đó, con người hoạt động nhanh, suy nghĩ nhanh, ít khi có thời gian ngừng lại
để mộng mơ hay ngẫm nghĩ sâu xa về một điều gì đó Không còn những trang văn rất nữ tính, rất đàn bà, không còn những cái tôi phụ nữ chia sẻ về mọi ngõ nẻo trong tâm hồn mình Những cái tôi kể chuyện tham gia vào câu chuyện, hoạt động bề
Trang 22ngoài như nhiều nhân vật khác, rất ít suy tư, rất ít cảm xúc và rất ít khi rung động
“Tôi” kể về những việc mình làm và những việc người khác làm thản nhiên, có khi lạnh lùng và lạnh nhạt Đó có phải là chân dung của con người ngày nay? Con người hiện đại? Hời hợt và vô cảm?
Rồi cũng tới nơi thôi – tiêu đề truyện được lấy từ lời nói của nhân vật bố cục
chặt – một người đàn ông ở một một mình nơi miền núi sương lạnh “Tôi” – người phụ nữ chốn thị thành, vì nhớ ông mà tìm lên, cùng tâm sự những chuyện chẳng đâu vào đâu Rồi ông bỏ đi nơi khác vì không chịu nổi nỗi nhớ nhân vật “tôi” vu vơ xâm chiếm
Câu chuyện đại chiến được trần thuật lại từ người kể chuyện xưng “tôi” có
biệt danh ở nhà là “lười” Ở nhà, “tôi” đảm nhận cho cá, mèo, chó của anh trai ăn Rồi anh rủ “tôi” đi xem phim Xích Bích với ba người bạn gái khác Sau đó, “tôi” đi
du học ở Thụy Điển Anh trai lấy chị Hường – người phụ nữ có máy chạy tim trong lồng ngực vì nếu anh không, ai lấy chị ấy
Không thể kết thúc qua lời kể của nhân vật “tôi”, bức tranh của một gia đình
rạn vỡ về tình cảm và đạo đức được khắc họa một cách sinh động Chỉ vì nhà có bọ chét mà không ai dám dọn Họ quan tâm đến bọ chét nhiều hơn là bệnh tật của người mẹ già nay đã phó thác cho người giúp việc Bán nhà, mỗi người một nơi, người cô đơn, người phát điên là hậu quả tất yếu của sự đứt đoạn sợi dây liên kết gia đình.Vợ chồng, tiền bạc và sự nguội lạnh tình người tự nó kéo con người ra xa nhau, tự đưa con người vào bi kịch
Thu xếp cuối đời là đối thoại giữa “tôi” và Hoa trong phòng xông hơi về
những thường nhật trong cuộc sống bộn bề Không còn những đoạn độc thoại nội tâm kéo dài, không còn những tâm sự thiết tha, da diết mà không kém phần chua xót, tất cả bức tranh cuộc sống hiện lên rõ ràng như một cuốn phim thời sự Trong 4
truyện ngắn ở tập Thành phố đi vắng, không còn dạng người trần thuật xưng “tôi”
tự kể về mình với những trở trăn, những yêu thương, những ước ao, mong đợi, hụt hẫng, tuyệt vọng, đớn đau Người trần thuật – hiện diện là nhân vật tham gia vào câu chuyện chỉ đóng vai trò đồng đẳng với những nhân vật khác Trần thuật về mình, về gia đình mình nhưng chủ yếu đi vào sự kiện, biến cố mà ít bày tỏ suy nghĩ
và cảm xúc cá nhân, nếu có bảy tỏ thì cũng không sâu sắc Người kể chuyện lúc này góp phần xây dựng chân dung của đời sống đô thị phồn hoa, lạnh lẽo, nhạt nhẽo tình người, thậm chí trơ lì cảm xúc
Trang 23Như vậy, phân tích 28 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ được trần thuật từ người kể chuyện ngôi thứ nhất, có thể nhận thấy sự khác biệt trong người kể chuyện xưng “tôi” ở 45 truyện đầu và 16 truyện sau Người kể chuyện đã làm tốt vai trò của mình trong việc kể chuyện với từng bối cảnh khác nhau
1.1.3 Người kể chuyện tiềm ẩn trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Khác với người kể chuyện là một nhân vật trong truyện, xuất hiện trực tiếp, được nói năng, chia sẻ mọi vấn đề thuộc về mình, người kể chuyện ngôi thứ ba – người kể chuyện tiềm ẩn chỉ thực hiện hành vi kể lại Lúc này, người kể chuyện ẩn
đi, đứng đằng sau nhân vật và các sự kiện để kể, bằng cách đẩy nhân vật ra trước độc giả Vì thế, trước mắt độc giả, không thấy người nói, chỉ thấy hiện thực được trình bày
Khảo sát 61 truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ, kết quả cho thấy: người kể chuyện tiềm ẩn chiếm số lượng tương đương với người kể chuyện xưng “tôi” (33/61 truyện, chiếm 54%)
Ở 5 tập truyện đầu của Nguyễn Thị Thu Huệ, truyện kể có người kể chuyện tiềm ẩn gồm 21/45 truyện (chiếm 46,6%) Trong 21 truyện ngắn này, người kể chuyện thường mượn điểm nhìn nhân vật để kể chuyện Chính vì thế, người kể chuyện tiềm ẩn đã hòa vào nhân vật khiến mỗi trang văn dường như là lời của nhân vật đang tự kể về mình Bằng sự nhạy cảm của một ngòi bút nữ có thế mạnh rất riêng khi viết về những câu chuyện liên quan đến nữ giới, Nguyễn Thị Thu Huệ “thất thường, lóe sáng và tý chút đỏng đảnh” ấy đã đưa người đọc vào một đời sống hiện thực giàu cảm xúc, nghĩ suy của người phụ nữ về tình yêu, về hôn nhân, hạnh phúc
“Đừng đi anh.Hãy tin em.Hãy tha lỗi cho em Em yêu anh!” Lời của người
con gái tên Hoài với trạng thái đang nức nở, ánh nước loang loáng hiện ra trên
khuôn mặt có những nét rất đẹp nhưng thoáng vẻ nhầu nhò đã mở đầu truyện Xin hãy tin em rất tự nhiên mà xúc động Người kể chuyện ngôi thứ ba đã mượn điểm
nhìn của Hoài để kể về đời sống và tính cách của cô ấy Hoài – một cô sinh viên
vốn cá tính “uống hàng lít rượu trắng không say, hút thuốc lào không mệt mỏi, nhảy đầm thâu đêm và đánh đu với những người đàn ông nào chịu được cô” Hoài chỉ
thay đổi khi tình yêu với Thắng – chàng kỹ sư vô tuyến điện cứ lớn dần Trong lần đầu về ra mắt gia đình Thắng đúng dịp sinh nhật mẹ anh, Hoài đã bộc lộ bản chất thớt-trơ vốn đã giấu kỹ hơn một năm nay Tình yêu tan vỡ Hoài cố níu kéo Nhưng
Trang 24anh không tin cô, vì “Tôi định lấy vợ chứ không định lấy…đĩ” Rốt cuộc, cô lại trở
về bên chén rượu
Cũng tựa vào điểm nhìn của nhân vật để kể, người kể chuyện tiềm ẩn trong
Phù thủy đã dễ dàng thâm nhập vào đời sống của một cô bé mười hai tuổi Cô bé
sống trong một gia đình bố mẹ sắp ly hôn, ngày nào cũng cãi nhau và đánh mắng con Trong mắt họ, cô là yêu tinh, là con quái thai Tất cả mọi suy nghĩ của cô bé về
bố mẹ thay đổi khi ban đêm, cô phát hiện ra họ ngủ với nhau êm đềm Họ chính là phù thủy
Hiện rõ trên trang truyện không còn là cái tôi đang kể chuyện, Nguyễn Thị Thu Huệ đã trao quyền cho nhân vật để nhân vật dường như tự kể, tự sẻ chia Người
kể chuyện đã ẩn tàng sau trang viết, để trong Cầu thang, Trân như đang trải lòng về
cuộc sống mỏi mệt, xô bồ Ngày nào cô cũng cố leo lên sáu mươi tám bậc cầu thang
để đến với người yêu, leo đủ bảy tầng gác để tới phòng làm việc Tâm lý của cô chỉ hồi sinh khi anh bạn đồng nghiệp đặt một chiếc hôn lên môi cô
Với lối trần thuật từ người kể chuyện ngôi thứ ba, những dòng chảy cảm xúc của nhân vật vẫn được tuôn chảy dạt dào trên câu chữ Đây là thế mạnh của Nguyễn Thị Thu Huệ khi chị viết về những mảnh đời, những người phụ nữ say đắm hay tuyệt vọng trong tình yêu, đổ vỡ trong cuộc sống gia đình
Sao – nhân vật chính trong truyện Giai nhân được khắc họa dường như bằng
chính lời của cô Cô sống trong một không gian nhộn nhạo, nơi là đám tang khói hương nghi ngút, nơi là quán bún chả với khói thịt mỡ bốc lên Cô – một người phụ
nữ luôn chiến thắng trong những cuộc tình, thích tự do, giờ đây mới thấm thía cái
cảm giác cô đơn của một giai nhân không còn được ai để ý tới Cô nức lên: “Khốn nạn Sao người mỗi ngày một đông như kiến mà tôi thì cô đơn thế này Ai đến với tôi bây giờ Chẳng lẽ Cuộc đời của tôi Một người đàn bà 38 tuổi thế này mãi sao?”.Trong những dòng độc thoại nội tâm này, người kể chuyện tiềm ẩn đã im bặt, để
không gian nghệ thuật trong truyện là không gian riêng cái tôi đang cảm xúc tột độ Không còn bóng dáng người kể chuyện trong những dòng văn miêu tả suy
nghĩ của nhân vật một cách trực tiếp và sâu sắc như thế này: “Mại nghĩ - Ai lại có thể ngủ với một người đàn ông chỉ gặp nhau loáng thoáng trong những cuộc họp công ty Ngày mai, ngày kia và sau này nữa, mỗi lần gặp Hưng, mình sẽ thế nào?
Và nhỡ mình yêu Hưng thì sao?” Cái tôi nội cảm của nhân vật như những con sóng
trào lên, cuộn xuống, khi mạnh mẽ khi bấy yếu, khi sôi nổi nồng nàn, khi dịu dàng
Trang 25trầm lặng Người kể chuyện tiềm ẩn đã phát huy vai trò khi tạo cảm giác cho người đọc về một cuộc sống mà ở đó, chính con người không ngại giãi bày, tâm sự, sẻ chia, như muốn kiếm tìm một sự đồng cảm trong chuỗi bất hạnh của thân phận
Trong tập Thành phố đi vắng, người kể chuyện ngôi thứ ba đặc biệt chiếm ưu
thế Trong 16 truyện ngắn có 12 truyện được trần thuật người kể chuyện tiềm ẩn, chiếm 75% Nếu như trong 5 tập truyện đầu, người kể chuyện ngôi thứ ba thường mượn điểm nhìn của nhân vật chính để tự kể về câu chuyện của cá nhân nhân vật ấy cùng đủ đầy những suy nghĩ phức tạp, những rung động tế vi trong tâm hồn thì người kể chuyện tiềm ẩn ở 12 truyện mới đây lại mang một khuôn hình khác Ở đây, chúng tôi phân chia người kể chuyện trong 12 truyện thành 2 loại: người kể chuyện
tiềm ẩn dựa vào điểm nhìn của nhân vật đẻ kể (Một đời sống khác, Trong lúc ăn một bát phở gia truyền, Coi như không biết, Chúng ta cần suy nghĩ về chuyện này, Chủ nhật được xem phim hoạt hình, Với tay là đến, Của cha của Con những cành vạn niên thanh, Thành phố đi vắng); người kể chuyện tiềm ẩn dựa vào điểm nhìn của chính mình (X-Men có mùi trường đua, Sống gửi thác về, Phòng chiếu phim số 9, Cú mèo và rượu hoa)
Dù cùng sử dụng chung người kể chuyện tiềm ẩn dựa vào điểm nhìn của nhân vật nhưng ở hai thời điểm sáng tác khác nhau, truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ lại mang những sắc màu riêng biệt Không còn những trang viết mà ở đó nhân vật giãi bày những góc khuất ẩn sâu trong tâm hồn, những rung động thầm kín, những ước
ao bỏng cháy về tình yêu hôn nhân, hạnh phúc Thay vào đó, người kể chuyện tiềm
ẩn lại mượn điểm nhìn nhân vật để kể về cuộc sống bộn bề, đầy ắp sự kiện, dồn dập hành động, chằng chịt các mối quan hệ nhưng lại thiếu tình người Chính bản thân nhân vật được người kể chuyện đặt điểm nhìn để kể cũng là những con người hiện đại thiếu sâu sắc trong cuộc sống Truyện chỉ kể những cơn đau đầu do những giấc
mơ vặt vãnh của Mai (Một đời sống khác), chuyện một cô gái vừa ăn phở vừa
chứng kiến cảnh bát vỡ, rồi sợ hãi một đám thanh niên có vẻ cướp giật mà mấy
ngày sau cô biết trong bọn chúng có kẻ giết người (Trong lúc ăn một bát phở gia truyền) Một cô gái xa thành phố ba năm, khi quay trở lại, tất cả như đông máu (Thành phố đi vắng)
Trong tập Thành phố đi vắng, bên cạnh những câu chuyện quá lạnh lùng, vẫn
có những trang viết rưng rưng tình người – tình đời dẫu muôn vàn đắng cay Người
kể chuyện ngôi thứ ba kể những chuyện đầy xúc động Của cha của Con những
Trang 26cành vạn niên thanh kể về cuộc sống của hai cha con sau khi mẹ bỏ đi, cha đã
trồng cây vạn niên thanh để giữ cho con có một khoảng trời riêng thoáng đãng, cũng là giữ cho tâm hồn con khỏi hoen ố vì những cảnh người lớn bên nhà hàng xóm đêm đêm Nhưng mọi cố gắng của cha đều thất bại khi con gái đã làm chuyện
ấy với người hàng xóm khi cha đi chở khách, bị chém trọng thương, liệt nửa người vĩnh viễn
Vẫn viết về tình yêu nhưng tình yêu trong tập truyện Thành phố đi vắng cay
đắng hơn, chát chúa hơn Người kể chuyện không còn kể những lời lãng mạn, trong sáng, những ước mơ thanh khiết, những rung động tế vi, những hi vọng về hạnh
phúc với cuộc sống màu hồng như trong 5 tập truyện đầu Đến truyện Coi như không biết, tình yêu là sự éo le của anh tiến sỹ với cô gái điếm, cô chết còn anh thì hóa điên Chúng ta cần suy nghĩ về chuyện này – mượn câu nói của nhân vật làm
tựa đề của truyện, tác phẩm kể về mối tình không hôn thú của hai người sau tám năm Thỉnh thoảng, Hân bỏ đi rồi lại trở về bên anh Lần này, đã một tháng, anh chưa về Cô ra đi vĩnh viễn vì anh không còn là anh nữa
Khắc họa tâm trạng con người trong những hoàn cảnh éo le luôn là thế mạnh của Nguyễn Thị Thu Huệ Người kể chuyện tiềm ẩn đã nhập vào nhân vật Đại Dương – một chàng nghiện để kể về chuyến thăm quê cuối cùng trước khi vào trại Tất cả những kỷ niệm của tuổi thơ, về cha mẹ, về biển cả bao la ùa về trong tâm trí, khơi gợi trong con bao nhớ nhung tiếc nuối lẫn đớn đau trên hành trình đến với những tháng ngày khủng khiếp nhất của cuộc đời Cha mẹ tin con được đi du học, rồi sẽ trở về nên được hồi sinh Còn con, trong trại, quá khứ và ước mơ tưởng như chỉ cần với tay là đến
Nếu như 8 truyện được trần thuật từ người kể chuyện ngôi thứ ba sử dụng điểm nhìn của nhân vật để kể đã gieo vào lòng người đọc những câu chuyện của cá nhân xúc động, về tình yêu và đời sống, về mỗi mảnh đời có những bất hạnh riêng thì 4 truyện có người kể chuyện tiềm ẩn sử dụng điểm nhìn của chính mình lại
mang đến cảm giác lạnh lùng, thậm chí là ghê rợn X-Men có mùi trường đua kể về
mối tình của một cô cave với X-men – vừa nuôi chó, vừa giết người Kẻ giết người
nói đến cái chết, đến chuyện giết nhẹ như không: “Anh giết đấy” Cũng nói đến
chuyện giết người, Phòng chiếu phim số 9 gây cảm giác lạnh buốt sống lưng như
đọc truyện trinh thám, pha chút ma quái Một đôi trai gái yêu nhau đi xem phim rồi đột nhiên chàng trai bị đâm chết bởi một nhát dao, cô gái biến mất
Trang 27Cú mèo và rượu hoa cũng do người kể chuyện tiềm ẩn kể theo điểm nhìn của
chính mình Truyện được kể rất phức tạp, trải dài trên một biên độ thời gian rộng, từ lúc ông Nhân còn trẻ đến lúc cuối đời Để hoàn thành câu chuyện dài và nhiều sự kiện này, người kể chuyện phải sử dụng điểm nhìn của chính mình mới thông tỏ mọi sự việc và trần thuật một cách khách quan Tương tự, trong câu chuyện về gia
đình Tân – Luyến (Sống gửi thác về), người kể chuyện đã soi chiếu vào mọi ngóc
ngách trong đời sống thường ngày của nhân vật để khắc họa một bức tranh cuộc sống nhàm chán, vô vị, u tối
Như vậy, qua việc phân tích vấn đề người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, có thể khẳng định nhà văn nữ đã rất linh hoạt khi kể chuyện Người kể chuyện hiện diện và người kể chuyện tiềm ẩn đều được xây dựng phù hợp với mỗi cốt truyện, kết cấu, nhân vật Do vậy, từ mối tình sáng trong của tuổi trẻ đến những tình yêu éo le của những người đã có quá nhiều trải nghiệm, từ những tâm sự rất bình dị, bình thường đến những chuyện khủng khiếp nhất như giết người đều được trần thuật sinh động Những luồng cảm xúc của độc giả khi hạnh phúc, ấm
áp, khi đau khổ, sợ hãi, ghê lạnh đều đến nhờ cách kể của tác giả Người kể chuyện trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ đã thực sự đem lại cho tác phẩm một cái nhìn và sự đánh giá bổ sung về mặt tâm lý, nghề nghiệp hay lập trường xã hội cho cái nhìn tác giả, làm cho sự trình bày, tái tạo con người và đời sống trong tác phẩm thêm phong phú, nhiều bối cảnh
1.2.Vấn đề điểm nhìn trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
1.2.1.Khái lƣợc về điểm nhìn trong tác phẩm tự sự
Điểm nhìn đóng vai trò rất quan trọng trong sáng tác văn học bởi đó chính là
vị trí, là kỹ thuật chọn chỗ đứng, là xuất phát điểm để nhà văn quan sát hiện thực Đây là một khái niệm đã được đề cập khá sớm, đặc biệt trong văn học Anh, Mỹ
Theo M.H.Abrahams, điểm nhìn chỉ ra “cách thức mà một câu chuyện được kể đến – một hay nhiều phương thức được thiết lập bởi tác giả bằng ý nghĩa mà độc giả được giới thiệu với những cá tính, đối thoại, những hành động Sự sắp đặt và những
sự kiện mà trần thuật cấu thành trong một tác phẩm hư cấu” [14, 44]
Bakhtin khi bàn về tiểu thuyết Doxtoiepxki đã xem điểm nhìn như là “cái lập trường mà xuất phát từ đó câu chuyện được kể, hình tượng được miêu tả hay sự kiện được thông báo” [7]
“Không thể có trần thuật nếu không có điểm nhìn bởi nó thể hiện sự chú ý quan tâm và đặc điểm của chủ thể trong việc tạo ra cái nhìn nghệ thuật Giá trị của
Trang 28sáng tạo nghệ thuật một phần không nhỏ là do đem lại cho người thưởng thức một cái nhìn mới đối với cuộc sống Sự thay đổi của nghệ thuật bắt đầu từ sự thay đổi điểm nhìn” [3, 141]
Trong tiến trình lịch sử văn học, tự sự truyền thống đa số được triển khai từ cái nhìn tương đối ổn định, cái nhìn “biết trước” Do vậy, hiện thực trong tác phẩm
là hiện thực “hoàn kết” Cấu trúc trần thuật như vậy nhiều khi tạo ra cái nhìn áp đặt, thiếu dân chủ trong mối quan hệ nhà văn và bạn đọc
Văn học Việt Nam sau năm 1975, trần thuật đã có nhiều thay đổi Ý thức đối thoại gia tăng Tác phẩm văn học tồn tại nhiều tiếng nói, trong đó có tiếng nói của tác giả, tiếng nói của nhân vật, tiếng nói bên trong, tiếng nói bên ngoài, thậm chí, tạo cơ hội cho người đọc lên tiếng Ý thức tạo dựng điểm nhìn, dịch chuyển điểm nhìn, tạo dựng mối tương tác giữa điểm nhìn của nhân vật và điểm nhìn tác giả đã
mở ra sự phám phá bất ngờ, lý thú về con người
Đặc biệt, từ sau đổi mới, điểm nhìn được đa dạng hóa một cách mạnh mẽ Sức hấp dẫn của cách tổ chức điểm nhìn nhiều khi là “khối vuông rubic” của hiện thực, của lòng người đọc phơi lộ nhiều chiều kích Nó thể hiện nhu cầu khám phá bản chất cuộc sống một cách sâu sắc, thận trọng và nhu cầu bình đẳng giữa nhà văn và độc giả
Về việc phân loại điểm nhìn trần thuật, dựa trên các khía cạnh khác nhau, mỗi
nhà nghiên cứu lại có sự phân chia khác biệt Theo GS.Phương Lựu trong cuốn Lý luận văn học, điểm nhìn được phân chia dựa trên hai bình diện:
*Xét về bình diện trường nhìn nhân vật: Trần thuật được chia thành hai loại: trường nhình tác giả và trường nhìn nhân vật Trong đó, trường nhìn tác giả là người trần thuật đứng ngoài câu chuyện để quan sát đối tượng Kiểu trần thuật này mang tính khách quan tối đa cho lời trần thuật Trường nhìn nhân vật: Người trần thuật nhìn sự vật, hiện tượng theo quan điểm của một nhân vật trong tác phẩm Trần thuật theo điểm nhìn nhân vật mang đậm sắc thái tâm lý, chất trữ tình hoặc châm biếm do
sự chi phối bởi địa vị, hiểu biết, lập trường của nhân vật
*Xét về bình diện tâm lý, có thể phân biệt thành điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài:
-Điểm nhìn bên trong: Người trần thuật nhìn thấy đối tượng qua lăng kính của một tâm trạng cụ thể, dễ dàng tái hiện diễn biến trong tâm hồn nhân vật
-Điểm nhìn bên ngoài: Chủ thể trần thuật giữ cái nhìn khách quan từ vị trí bên ngoài có khoảng cách nhất định với đối tượng trần thuật
Trang 29GS.Trần Đình Sử thì chia điểm nhìn trần thuật thành 5 loại: Điểm nhìn của người trần thuật, tác giả hay của nhân vật trần thuật; điểm nhìn không gian, thời gian; Điểm nhìn bên trong, bên ngoài; điểm nhìn đánh giá tư tưởng, cảm xúc; điểm nhìn ngôn từ
Genette phân chia thành 3 loại điểm nhìn: Điểm nhìn bên trong, điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn toàn tri
Tất cả các sự phân biệt về điểm nhìn trần thuật hoàn toàn mang tính tương đối Trong nghệ thuật kể chuyện, có những tác phẩm chỉ có một kiểu điểm nhìn từ đầu đến cuối, có những tác phẩm phối hợp nhiều kiểu điểm nhìn, luân chuyển các kiểu điểm nhìn Chính sự kết hợp và dịch chuyển các loại điểm nhìn đã mở rộng chiều kích của hiện thực, khắc họa rõ nét những mảng màu của đời sống và những diễn biến trong tâm hồn con người Trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, chúng tôi
sẽ phân tích điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài, sự dịch chuyển hai loại điểm nhìn này để thấy được nét độc đáo riêng ở những trang viết đậm chất nữ tính
và cũng rất thức thời
1.2.2.Điểm nhìn bên trong trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Theo lý thuyết tự sự học, truyện có điểm nhìn bên trong khi người kể chuyện
là nhân vật ngay trong câu chuyện hoặc người kể chuyện không phải là nhân vật trong câu chuyện nhưng người kể chuyện tiềm ẩn ấy lại tựa vào điểm nhìn của nhân vật để kể Trong văn học hiện đại, điểm nhìn bên trong chiếm đa số Đây là hệ quả của sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật, khi văn học vốn từ con người tập thể chuyển thành con người cá thể, quan tâm nhiều hơn đến chủ thể sáng tạo và sự sống
cá nhân
Vốn nhạy cảm và bắt kịp rất nhanh với tinh thần đổi mới, Nguyễn Thị Thu Huệ đã viết truyện với điểm nhìn bên trong là chủ yếu Trong 61 truyện ngắn của chị thì có 57 truyện được trần thuật từ điểm nhìn bên trong (chiếm 93,4%) Điều này chứng tỏ nỗ lực của nhà văn khi cố gắng đưa thế giới nội tâm của nhân vật lên trang viết
Điểm nhìn bên trong bộc lộ rõ nhất khi người kể chuyện xưng “tôi” tự kể về câu chuyện của cá nhân mình Cũng như Y Ban, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu Nguyễn Thị Thu Huệ rất “mạnh” khi viết về cái
tôi của người phụ nữ luôn chân thành, đắm đuối trong tình yêu Cát đợi hoàn toàn
được bao bọc bởi điểm nhìn của người con gái đã trao cái quý nhất của đời mình
Trang 30cho người con trai khi đang ở tuổi học trò Tiếp đó, cô lại đến với tình yêu mới Từ điểm nhìn bên trong nhân vật “tôi”, những bước chân bước đi trên cát, cái ánh mắt tìm kiếm và chờ đợi dấu vết của tình yêu trên cát ngày hôm qua hiện rõ trên từng
câu chữ “Chiếc giường trong đêm tân hôn” – “tôi hồi hộp chờ mong sẽ thấy cái hõm nơi tôi nằm xuống”, nơi “tôi” dự định sẽ trồng một cây dương kỷ niệm đã bị
sóng cuốn trôi “Tôi” rơi vào trạng thái cô đơn và nghĩ mình hạnh phúc vì “yêu và
được yêu” Bi kịch lần thứ hai lại đến, vì “Đêm nay Tôi sẽ sửa lại ban thờ Một ban thờ không có bản liên khúc đánh số Một ban thờ mới Thờ anh”
Bằng điểm nhìn bên trong, Còn lại một vầng trăng đem lại cho hai đọc trên
trường cảm xúc của nhân vật xưng “tôi” – một cô gái trẻ vừa đắm chìm trong tình
yêu, vừa đau đớn khi mất cha “Bố ra đi trong sự đau khổ và tuyệt vọng của mẹ Còn tôi, tôi không khóc Tôi thấy lòng trống rỗng 20 tuổi nhưng đây là lần đầu tiên tôi chứng kiến cái chết”
Lời kể của nhân vật là lời tâm sự của chính cá nhân, là lời độc thoại nội tâm tự mình nói với mình Chính những lời thể hiện nội tâm của nhân vật với cách miêu tả đặc trưng đã bộc lộ rõ điểm nhìn bên trong
Xét trên bình diện ngôn ngữ, những hành vi bên trong của nhân vật như: cảm thấy, thấy, hiểu, biết… hay các trạng thái nội tâm xuất hiện với tần số cao trong tác phẩm
Trong Cầu thang, khi điểm nhìn của người kể chuyện đã nhập vào điểm nhìn
của nhân vật Trân, câu chuyện về cô được kể bởi chính nhân vật này Trong truyện,
xuất hiện dày đặc những động từ cảm – nghĩ: “Còn nhớ…/Họ đâu biết là cô được cảm thấy mình là mình nhất khi đi ở những bậc cầu thang./ Lúc Trân tưởng anh ăn cơm thì đến bậc 81 cầu thang gỗ, Trân nghe thấy anh hát vống lên một bài gì đó…/
Cô lại thấy ở anh điều gì đó để chạy xuống 68 bậc thang và mong chờ ngày mai”
Không chỉ sử dụng các động từ chỉ cảm nghĩ, truyện của Nguyễn Thị Thu Huệ được trần thuật từ điểm nhìn bên trong còn mô tả trực tiếp những hành vi hay trạng
thái bên trong của nhân vật Ví dụ: “Trân rùng mình, nhìn sang người đàn ông Chợt thấy gần vô cùng mà cũng xa quá Môi cô bỗng khô ran, chỉ muốn nứt ra vì bỏng Cô thấy nóng toàn thân Rồi cô chợt chùng người xuống khi đôi môi người đàn ông đặt lên môi cô, cũng nóng bỏng và cuống quít”
Những câu văn miêu tả trực tiếp nội tâm của nhân vật luôn giúp người đọc hiểu tường tận những cảm xúc, cảm giác mà nhân vật đang trải qua Cách miêu tả
Trang 31trạng thái nội tâm như thế này của truyện được kể theo điểm nhìn bên trong là xuất phát từ điểm nhìn cận cảnh, giúp người đọc thấy được thế giới tâm trạng của nhân vật một cách cụ thể, trực tiếp như đang nhìn được nhìn trực tiếp chứ không phải như đang tả lại, thuật lại Nói cách khác, lời văn miêu tả thế giới nội tâm nhân vật đã bộc
lộ trực tiếp cái thế giới bên trong ấy của nhân vật
Trong 5 tập truyện đầu của Nguyễn Thị Thu Huệ, toàn bộ 45 truyện đều được trần thuật theo điểm nhìn bên trong Truyện của chị trong giai đoạn này không thiên
về kể sự kiện, hành động, người kể vừa kể vừa tả mà lại thiên về tả nhiều hơn Sự kiện chỉ là cái cớ để nhân vật bộ lộ suy nghĩ, cảm xúc cá nhân Các hình thức bình luận đánh giá luôn đi kèm khiến cho lời văn kể dài, tỉ mỉ, chi tiết mà lại viết ít sự kiện được miêu tả Điều này nhằm khắc họa sâu sắc nội tâm nhân vật
Phù thủy là truyện ngắn được kể từ điểm nhìn bên trong của nhân vật “nó” –
một cô bé mới 12 tuổi Bố mẹ đang lo thủ tục ly hôn, ban ngày thì chửi nhau thậm
tệ, nhưng một đêm, nó phát hiện mẹ ngủ yên bình bên bố không một mảnh vải che
thân Sự kiện này là tiêu điểm để kéo theo một loạt suy nghĩ của nó: “Không thể hiểu nổi Nó quay về giường và nhìn thấy bên chiếc gối của nó, là gối của mẹ Ngay ngắn và đúng vị trí như thể nó ở đấy bao nhiêu năm nay Người lớn, hình như họ có quyền mình làm bất cứ một việc gì ngoài những thứ họ quy định thì đều phải trả lời
về nó một cách rành mạch, không thì ăn đòn ngay”
Nguyễn Thị Thu Huệ đã dành ba trang viết để khắc họa suy nghĩ của con bé
về cha mẹ nó, về người lớn, từ khi nó nhận định: “Họ chính là phù thủy” Đầu óc
non nớt của con bé quá bất ngờ khi phát hiện ra những điều “kì dị” của cuộc sống
đối với nó “Bỗng nhiên nó thấy cuộc sống này thật bí ẩn Con người như những bóng ma mà không hiểu ngày hay đêm họ hiện nguyên hình Không thể hiểu nổi Người lớn Đấy là cả một thế giới Thế giới của phù thủy”
Những suy nghĩ của nhân vật trải dài trên trang truyện Tâm hồn con người –
từ nhân vật già như người bác trong Nước mắt đàn ông, những người phụ nữ đã
từng trải qua va vấp trong tình đời như người mẹ trong Hậu thiên đường đến những cô gái tuổi đời còn rất trẻ như trong Rượu cúc, Biển ấm, Đôi giày đỏ đều
được Nguyễn Thị Thu Huệ khắc họa một cách phong phú và tinh tế Điểm nhìn bên trong là phương thức quan trọng giúp nhà văn khơi mở và tạo tác những thế giới cá nhân lắm suy tư, đa cảm
Đến Thành phố đi vắng, 16 truyện thì có 12 truyện được trần thuật từ điểm
nhìn bên trong Cũng là những cái tôi tự kể chuyện hoặc người kể chuyện tựa vào
Trang 32điểm nhìn của nhân vật để kể nhưng tác phẩm lại thiên về kể nhiều hơn Sự kiện và hành động cũng dày hơn so với năm tập truyện đầu
Một đời sống khác được kể từ điểm nhìn của nhân vật Mai Mai hay bị những
giấc mơ hành hạ Cô kể lại một giấc mơ về bố: “Đêm qua Rõ ràng là bố cô đi cùng
cô, trên một con đường nhỏ, hai bên là những ruộng lúa chín, có ruộng đã gặt, ai
đó đã đốt những bụi rơm nên khói xông cay mắt Bố vừa đi, nghiêng ngả dáng gầy, như người đi trên dây trong rạp xiếc, để không rơi xuống ruộng Mai lại đi cạnh bố, chân đạp lên những thân rạ cứng dưới ruộng lúa đã cắt Bố cười Nói rất nhiều Mai cũng vậy Có nhiều người quen đi dưới ruộng cùng Mai Cũng có người đi trên đường như bố” Đoạn văn ngắn có mười câu (tính theo dấu hiệu là mỗi câu kết thúc
bằng một dấu chấm) thì có chín hành động Lời văn theo điểm nhìn bên trong hoàn toàn là lời miêu tả hành động, tuyệt nhiên “im bặt” cảm xúc
Với điểm nhìn bên trong, trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ,
sự kiện được trần thuật có khi là trọng tâm của lời kể Thành phố đi vắng được kể
theo điểm nhìn bên trong của cô gái xa thành phố ba năm, khi trở lại, tất cả đã đổi thay Tình người biến mất, thành phố xô bồ, không gian lạnh lẽo, con người như những cỗ máy di động Lời văn được miêu tả theo điểm nhìn bên trong cho thấy cảm giác của nhân vật nhưng luôn đi kèm với đó là một hiện thực – một hành động
rất phũ phàng của một kẻ khác: “Cô chồm người, muốn bay qua khung cửa Người nóng bừng rồi run rẩy vì lạnh Người đàn bà ôm con chó đi trên vỉa hè, lúc ẩn lúc hiện cạnh những gốc cây to, đen thẫm Rồi biến mất” Lúc này, sự kiện thậm chí
còn gây ấn tượng mạnh với người đọc hơn là cảm xúc, tâm trạng của nhân vật chính
Sự thay đổi trong tính chất điểm nhìn từ 5 tập truyện đầu đến tập truyện sau
(Thành phố đi vắng) phản ánh đúng mục đích trần thuật của nhà văn Sau một thời
gian khá dài viết về giới mình, về những sự lỉnh kỉnh, dở dang của đời sống, lấy tâm trạng, tâm hồn của con người là tâm điểm trần thuật, Nguyễn Thị Thu Huệ đã xoay sang tô đậm một trạng thái của đời sống hiện đại hôm nay: con người hoạt động nhiều, sống gấp hơn nhưng cạn kiệt tình người Chỉ còn trên trang viết là lớp vỏ của
sự kiện xô bồ, trống rỗng
1.2.3.Điểm nhìn bên ngoài trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Không đi sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật, không nhằm đưa lên trang giấy những câu văn chứa đựng những nụ cười hạnh phúc hay nước mắt đắng cay, khơi gợi trong lòng người đọc cả tình thương, tình yêu lẫn giận hờn, trách móc, điểm nhìn bên ngoài chỉ cốt đưa thông tin nhằm phơi bày trạng thái đời sống, xã hội
Trang 33Với mục đích ấy, điểm nhìn bên ngoài luôn tạo khoảng cách giữa người trần thuật và nhân vật Các nhân vật, sự kiện hiện lên với vẻ bề ngoài mà không có sự phân tích nội tâm bên trong Bản chất, suy nghĩ của con người chỉ được hiện diện qua lời nói, hành động, cử chỉ trong các mối quan hệ
Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Thị Thu Huệ lựa chọn điểm nhìn trần
thuật bên ngoài cho 4 truyện ngắn (X-Men có mùi trường đua, Sống gửi thác về, Phòng chiếu phim số 9, Cú mèo và rượu hoa) trong tập Thành phố đi vắng Thành phố đi vắng là một bản tường thuật về đời sống hiện đại Thay vì khắc họa
những chân dung con người trên hành trình kiếm tìm tình yêu và hạnh phúc, tập truyện là những ưu tư về tình người ngày một cạn kiệt, thậm chí biến mất trong đời sống thị thành Tình người băng giá, sự vô cảm, nỗi bất an và cái chết trở thành những ám ảnh sâu sắc Với lối viết khách quan, trung tính, tiết chế cảm cảm xúc tối
đa, nhà văn chỉ làm một nhiệm vụ duy nhất là trần thuật trung thành, không tham dự, không mách nước người đọc Bởi vậy, lựa chọn điểm nhìn bên ngoài để trần thuật hoàn toàn phù hợp với cách viết đảm bảo tính khách quan của sự kiện, từ đó, thể hiện sự trơ lì của xã hội
Với điểm nhìn bên ngoài, tác giả giống một nhà quay phim, hướng ống kính vào những mảng đời sống khác nhau, cặm cụi, tỉ mỉ ghi hình Mỗi truyện ngắn đưa người đọc tiếp cận gần nhất với đời sống đô thị cùng những vấn đề phức tạp của nó
X-men có mùi trường đua là sự song hành của cái ác và sự tầm thường Với
bối cảnh miền biển, cô cave đặc biệt yêu anh mê trò đua chó – tên là X-men Hơn bốn trang mở đầu truyện ngắn, tác giả trần thuật lại hoàn toàn một cảnh đua chó X-men và nàng xuất hiện khi say sưa với đàn chó đua nhau chạy Con người trong không gian này là nhân vật phụ, chó là nhân vật chính, là tâm điểm của đám đông,
là tất cả sự hy vọng và niềm say mê của con người
Kể về nàng – một cô cave, điểm nhìn bên ngoài không soi chiếu tâm hồn, vì thực chất nàng là người sống bản năng và buông thả, suy nghĩ đơn giản và chỉ biết
hưởng thụ cho ngày hôm nay: “Nàng cao 1m7, tóc suôn dài, đọc sách tâm lý tình cảm nhiều, đọc báo hàng ngày, xem ti vi các chương trình thời sự, phóng sự, nàng
có giá riêng Khóc than hay tạo dựng bất cứ một lý lịch ái ố mĩ miều nào, giá cũng chẳng tăng” Nàng về ở với X-Men vì nàng nghĩ anh “sạch sẽ”, vì “mùi của anh giống mùi sâm” (trong khi X-Men tự nhận anh sặc mùi chó) Sống với X-Men, nàng chỉ biết X-Men là huấn luyện viên đua chó, nàng mê “mùi hương cà phê cháy đậm
Trang 34đặc” của anh mà không biết rằng: X-Men là kẻ giết người Chuyện giết người được
nhắc đến – chưa bao giờ lại nhẹ nhàng và thản nhiên đến vậy Vụ giết người thứ nhất là khi xuất hiện một cái xác phụ nữ khỏa thân trôi trên biển Nàng sợ hãi, còn
“X-Men nhìn xoáy vào nàng, thì thầm: Anh giết đấy” Lời tự thú dửng dưng tột độ
này không khiến nàng tin Đến lần thứ hai, X-Men đã giết người yêu cũ của nàng vì
hắn đòi giết nàng X-Men thừa nhận: “Anh cũng giết rồi
Có nghĩa không phải anh giết một lần mà là nhiều lần?
Không nhớ nhiều thế nào Mà này, anh phải làm gì, hay nói thế nào, em mới chịu tin, là anh đã giết cô gái trôi ngoài biển ấy nhỉ?”
Truyện kết thúc bằng một đối thoại ngắn của hai nhân vật Một bên nghi hoặc, một bên cố chứng minh là mình đã giết người Điểm nhìn bên ngoài giúp việc trần thuật lại đối thoại một cách quá lạnh lùng Nói đến cái chết, đến tội ác, đến việc kết liễu một sinh mạng con người mà nhẹ như không, như bông đùa, khiến người đọc
“lạnh sống lưng” Truyện ám ảnh vì đem lại cảm giác ai cũng có nguy cơ thành nạn nhân của cái ác
Cũng viết về cái chết, về một vụ giết người, Phòng chiếu phim số 9 còn gây
cảm giác ớn lạnh, rùng rợn, sợ hãi khi có những chi tiết kinh dị, ma quái Điểm nhìn bên ngoài đem tới một lối kể lạnh tanh, không cảm xúc Không miêu tả tâm trạng, lời văn hoàn toàn chỉ miêu tả bề ngoài và hành động của nhân vật Một vụ giết người trực tiếp, một xác chết vừa bị giết, một hồn ma quẩn quanh, một người phụ
nữ hóa điên, một ông chủ lao đầu vào xe con trai mà chết Điểm nhìn bên ngoài giúp người kể chuyện làm một việc duy nhất là trần thuật lại chi tiết, sự kiện, ngoài
ra, không mảy may miêu tả cảm xúc cá nhân Truyện kết thúc, vẫn đọng lại trong lòng người đọc câu hỏi về hung thủ đã giết chàng trai, về vai trò của hai ông bà già với ánh mắt tối sâu hun hút Tất cả diễn ra như một cuốn phim sống động mà điểm nhìn bên ngoài đã trao cho người kể chuyện quyền năng được tỏ tường mọi việc ở một góc quan sát nào đó và chỉ kể lại câu chuyện ở một phần nổi nào đó của một tảng băng chìm
Trong xã hội hiện đại, con người nhiều khi sống như cái máy cũ mòn, ngày
này lặp lại ngày kia nhàm chán Sống gửi thác về là chuyện của gia đình nhà Tân –
Luyến với thằng con trai Thái Dương Cuộc sống của gia đình này trôi theo vòng quay giống hệt nhau Biến động lớn nhất là Luyến chết vì ung thư gan Cái chết của một con người vốn sinh ra làm ngọn lửa giữ ấm cho gia đình không ai lường trước
Trang 35được như một điểm thắt trên chiếc đồng hồ cát để rồi mọi thứ hoàn toàn đảo lộn cuộc sống của “hai thằng đàn ông trong nhà” – một lớn một bé mà nếu chỉ nghe cách xưng hô thì không ai biết ai là cha, ai là con Một sự thiếu vắng đến tội nghiệp, cùng với ảnh hưởng của cái văn minh từ chiếc ti vi, máy tính mà ông ngoại mang về
đã làm con người sống như những cỗ máy vô tri Hành động bản năng, không hề suy nghĩ, không cảm xúc, con người dật dờ như những cái bóng Con người cá nhân
ở đây, đến cái “tôi”, cái “cá thể” cũng không tồn tại Trang truyện chỉ còn là sự sống của những thân xác vô cảm Điểm nhìn bên ngoài trong truyện ngắn đã góp phần khắc họa chân dung đời sống nhạt nhòa
Bằng điểm nhìn bên ngoài, truyện Cú mèo và rượu hoa đem đến cho người
đọc một câu chuyện nhiều bi kịch Đó là người đàn ông tên Nhân vô tâm bỏ vợ con
đi suốt mười năm để theo đuổi sự nghiệp riêng, người vợ ở nhà hóa dại trong căn
nhà 200 mét vuông bốn bề gió thổi để rồi “lao từ trên lan can lầu hai xuống sân chết ngay, hai mắt mở trừng trừng không làm sao mà kéo cho lại” Tái giá với chị Túy – người đàn bà có chồng chết vì “nhè đất mà phi xuống”, ông Nhân lại bị vợ
chặt đứt gân chân để theo bồ Hai người em trở về, cô vợ có một mắt “cú mèo”, rồi cũng chết rũ trên cây Một cô gái bị điên vì bị xương người rơi trúng đầu Hàng loạt những nhân vật, chi tiết, sự kiện được trần thuật lại bằng điểm nhìn bên ngoài, gợi không khí truyện ma quái Chính điểm nhìn bên ngoài đã giúp độc giả cảm nhận được hiệu lực mạnh mẽ của ngôn từ chuyển đổi rất nhanh những chi tiết, những sự kiện bị nén lại Truyện ngắn như một file nén (zip), dồn chặt thông tin và chỉ cảm hết được thông báo của nó khi người đọc giải nén (unzip) bằng cảm thụ của chính mình Một thứ không gian mê cung rối rắm và phức hợp, một cảm xúc vô tính, trơ lì, phập phồng bất an trải trên mỗi trang truyện
Khác với điểm nhìn bên trong lấy lời nói bên trong để bộc lộ tâm lý, tính cách của nhân vật, điểm nhìn bên ngoài thường thể hiện ở những lời nói bên ngoài và các hành động vật lý được kể lại Sử dụng điểm nhìn bên ngoài không có nghĩa là nhà văn không am hiểu đời sống nội tâm của nhân vật Vì nhân vật hành động nhiều nhưng nghĩ ít, trơ lì, vô cảm nên điểm nhìn bên ngoài là phương tiện đắc lực để tác
giả khắc họa một đời sống hiện đại hào nhoáng nhưng “cái tình trong cỏ cây, vạn vật, trong không gian, trong chính cái đám đông ngày càng đông lại dần mất Sự vô cảm bao trùm Mức độ tàn nhẫn của con người ngày càng tăng Người tốt trở nên
Trang 36nhỏ bé, đôi khi cô độc Dần dần, chính những người tốt cũng phải vô cảm để sống cho yên” [58]
1.2.4.Sự kết hợp và dịch chuyển điểm nhìn trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Trong nghệ thuật trần thuật, sáng tạo của nhà văn trước hết thể hiện ở cách ứng xử với câu chuyện để tạo ra sự đa dạng của các điểm nhìn nghệ thuật Có điểm nhìn bên trong, điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn của tác giả, điểm nhìn nhân vật, điểm nhìn không gian, điểm nhìn thời gian Các loại điểm nhìn này có thể kết hợp trong cùng một truyện ngắn Sự dịch chuyển điểm nhìn cho thấy cách tiếp cận hiện thực đa chiều của nhà văn và sự khéo léo tổ chức truyện của người cầm bút
Trong 61 truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu huệ, nhiều truyện có sự dịch
chuyển hai loại điểm nhìn bên trong và bên ngoài Hậu thiên đường là nỗi lòng của
người mẹ bất hạnh từng trải qua cõi thiên đường ở tuổi 24, giờ đây khi con gái 16 tuổi, cũng bước chân vào thiên đường ấy Trải suốt toàn truyện là suy nghĩ, tâm sự của người đà bà từng vô tâm mà không để ý đến sự phát triển của con Điểm nhìn bên trong đã phơi tỏ những suy nghĩ và cảm xúc chồng xếp trong lòng nhân vật về sai lầm của tuổi trẻ, về con gái Lật dở từng trang nhật ký của con, người mẹ mới
cay đắng nhận ra “Con tôi rồi sao giờ tôi mới biết điều đó” Cho đến khi sự thật được lộ rõ thì chị mới ngỡ ngàng và đau đớn khôn cùng: “Tôi lặng người nhìn nó Xong rồi, con gái tôi thành đàn bà thật rồi”
Điểm nhìn của nhân vật “tôi” – người kể chuyện – người mẹ đã soi chiếu
những lớp sóng lòng cuộn dâng: “Tôi cảm giác như mình đang bắt đầu đứng ở cuối con đường, nhìn thấy con mình đang dẫm chân lên những nơi mà tôi đã đi qua, nhưng không sao ngăn nó lại được” Dòng lệ chảy trên gò má đã hằn in dấu vết của
thời gian, chị đau đớn tưởng tượng ra cảnh con gái nước mắt nhòe nhoẹt trên mi –
“anh ấy bỏ con rồi”, “con sắp chết rồi mẹ ơi” Trong tâm lý hoảng loạn, người mẹ
đi tìm con: “Con ơi, con ở đâu? Ai cứu con tôi bây giờ? Ai giúp tôi lôi nó ra khỏi cái thiên đường địa ngục đó bây giờ? Tôi phải làm gì đây hả trời? Không phải con đang chập chững ở miệng vực thẳm nữa mà con đang ở trong vực rồi” – người mẹ
kêu lên những tiếng ân hận, vô vọng cuối đời của mình
Người mẹ chết, điểm nhìn của bên trong của nhân vật “tôi” chấm dứt vai trò, nhưng truyện còn chưa dừng lại Điểm nhìn đến cuối truyện đã chuyển sang điểm nhìn bên ngoài Lời văn trần thuật lạnh lùng, vô cảm Điểm nhìn bên ngoài đã hoàn
Trang 37thành nhiệm vụ báo tử của “tôi”, dẫn dắt tiếp câu chuyện của người con gái Sự dịch chuyển từ điểm nhìn bên trong sang điểm nhìn bên ngoài đã làm tăng thêm tính bi kịch của truyện
Cũng với kiểu dịch chuyển điểm nhìn từ bên trong ra bên ngoài, Người đi tìm giấc mơ – câu chuyện của người con gái nghèo ôm giấc mơ đổi đời nhờ lấy chồng
giàu nhưng bị tật nguyền, tác giả đã đưa lên trang viết nhưng lời kể của nhân vật
“tôi” từ khi sinh ra đến lúc lấy chồng, bị gia đình chồng đuổi đi vì không sinh được con, lang thang, thành một người điên trong mắt mọi người Điểm nhìn bên trong đã giúp người đọc cảm nhận rõ khát khao hạnh phúc của cô, ước mơ của một người con gái nghèo cho đến nỗi đau thể xác và tinh thần mà “tôi” phải chịu đựng Kết thúc tác phẩm, điểm nhìn của người kể chuyện xưng “tôi” chấm dứt, điểm nhìn bên
ngoài thay thế để miêu tả rõ hình ảnh của “tôi” đang ngủ: “Ở một con đường nhỏ bên bờ đê, người ta nhìn thấy một người đàn bà còn trẻ Mặt hiền từ phẳng lặng nằm ngủ Trên người không một mảnh vải che Hai bầu vú là hai bông hoa Phía dưới là cái lá sen đã khô
Hình như cô đang mơ Những người tò mò nhìn thấy đôi lúc miệng cô lại nhoẻn cười”
Điểm nhìn bên ngoài giúp độc giả hình dung về chân dung một người phụ nữ trẻ đang đón nhận một giấc ngủ yên mình với giấc mơ đẹp đẽ Cảm nhận này đã được tác giả trao cho người đọc tự rung cảm và nghĩ suy Sự khách quan trong trần thuật được đảm bảo nhờ điểm nhìn bên ngoài đã thay thế cho điểm nhìn bên trong
Sự dịch chuyển điểm nhìn trong truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ cho thấy tính sáng tạo của nhà văn Phá cách hơn so với văn học truyền thống vốn được trần thuật từ điểm nhìn tương đối ổn định – cái nhìn “biết trước”, Nguyễn Thị Thu Huệ
đã sử dụng cả đa dạng các loại điểm nhìn Việc phối hợp và di chuyển các loại điểm nhìn này giúp cho nhà văn có điều kiện trổ nhiều ô cửa để khám phá đời sống từ những góc độ khác nhau Theo đó, tác giả có điều kiện để đào sâu cả tầng vô thức cũng như những biến đổi trong tâm trạng đầy tinh vi của nhân vật Từ phương diện nào đó, có thể nói, sự đan xen và dịch chuyển liên tục điểm nhìn cũng là một cách thức để tạo nên tính phức điệu của truyện ngắn hiện đại
Trang 38CHƯƠNG 2: QUAN ĐIỂM NGHỆ THUẬT VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN THỊ THU HUỆ
2.1.Quan điểm nghệ thuật của Nguyễn Thị Thu Huệ
“Văn chương luôn làm ấm lòng tôi Với tôi, văn chương chưa bao giờ là những điều thần bí, chỉ đơn giản đó là một phần cuộc sống mà ai đã trót mang nặng kiếp người đều lấy đó để cất bớt đi gánh nặng đa mang” [56] – Nguyễn Thị
Thu Huệ đã bộc bạch như vậy khi chia sẻ về nghiệp văn của mình
Nguyễn Thị Thu Huệ là cái tên mà mẹ chị - nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Tú đặt
cho con theo nhân vật chính trong cuốn Cô giáo Huệ của bà Chị có khiếu văn
chương từ nhỏ, nhưng chị lại mê hội họa hơn cả và thích trở thành họa sĩ Chị kể:
“Mình không nghĩ sau này sẽ là nhà văn, thế hệ bọn mình lúc đó hồn nhiên lắm, không bao giờ có ước mơ trở thành người nổi tiếng, giàu sang gì đâu” [55]
Vừa tốt nghiệp khoa Văn Đại học Tổng hợp, chị giấu bố mẹ đăng hai truyện
ngắn Mưa trái mùa và Mùa hoa sấu rụng trên báo Văn nghệ khiến văn đàn xôn
xao một thời Nhưng con đường trở thành nhà văn bị ngắt quãng bởi đám cưới sớm hơn dự định khi chị mới hai mươi tuổi
Sau hai năm ở nhà trông con, chị quyết định vào làm tại tạp chí Văn hóa nghệ thuật với chân biên tập viên sân khấu Cuộc sống nhàn hạ cứ thế trôi đi nếu không
có một lần chị thấy mẹ buồn Mẹ tủi thân vì thấy nhiều người bằng tuổi con mình đã
có tiếng tăm, còn con mình dường như quên hẳn văn chương Vậy là chị viết, “viết như điên” Cứ mỗi chiều, sau khi cơm nước xong, chị đạp xe lên cơ quan, mượn
chiếc máy chữ và lạch cạch gõ đến tận khuya “Lúc đó tôi đã viết như lên đồng, ý
tưởng tuôn trào không kịp nghĩ” [55] Những truyện ngắn Hậu thiên đường, Cõi
mê, Phù thủy, Cát đợi ra đời trong hoàn cảnh đó
Rồi chị chuyển sang làm tại hãng phim truyền hình Việt Nam Ba tập truyện
ngắn ra mắt và truyện Của để dành đã được chuyển thể thành phim, sau đó là Nước mắt đàn ông cũng đến với khán giả và đạt huy chương vàng liên hoan phim truyền
hình Sự nghiệp của Nguyễn Thị Thu Huệ cứ thế tiến lên Hiện nay, chị là Phó Ban Thư ký biên tập VTV, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu kịch bản phim xã hội hóa của VTV, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, phụ trách Trung tâm bản quyền tác giả văn hóa hãng phim Hội Nhà văn, Giám đốc kênh truyền hình VTC9 Let‟s Việt Bận rộn với hàng loạt vai trò khác nhau nhưng niềm đam mê mà Nguyễn
Trang 39Thị Thu Huệ dành cho văn chương vẫn chẳng thể nào vơi cạn Chị bảo, “văn chương là tri kỷ rồi nên không thể bỏ nhau được” [52]
Hơn hai mươi năm cầm bút, Nguyễn Thị Thu Huệ sáng tác không nhiều Toàn
bộ truyện ngắn của chị được tập hợp trong 6 tập truyện: Cát đợi (1992), Hậu thiên đường (1993), Phù thủy (1995), Nào ta cùng lãng quên (2003), 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ (2004), Thành phố đi vắng (2012) Với 61 truyện ngắn, chị
đã tạo được một phong cách riêng Giải thưởng đến với chị như một cái duyên đối với người phụ nữ nhiều may mắn và tài năng này
Trong quá trình hoạt động nghệ thuật, Nguyễn Thị Thu Huệ đã không ngừng
cố gắng, không ngừng trăn trở và viết Không ít lần, chị trả lời phỏng vấn của báo chí, bày tỏ những nghĩ suy, quan niệm của mình về văn chương nghệ thuât Chị cho
rằng: “Nhà văn dù viết gì đi nữa thì cũng là trên cái nền của thực tế đời sống mà họ trải nghiệm” Trước những áp lực của đời sống mà tốc độ đang làm thay đổi tâm
tính con người, khi con người không còn tin vào cái thiện, cái đẹp, cái tử tế thì
“nhiệm vụ của nhà văn, theo tôi, là gọi lại nhưng niềm tin đã mất ấy nơi con người”
[52]
Theo Nguyễn Thị Thu Huệ “với một nhà văn có tài và chuyên nghiệp thì điều
gì xảy ra xung quanh, họ cũng biết cách để đưa vào tác phẩm của mình” Chị nói:
“Tôi không bao giờ nghĩ to tát chuyện có nhà văn có bừng sáng lên bằng một vài truyện ngắn hay cuốn tiểu thuyết ,mấy bài thơ rồi tắt vì điều này điều nọ Cuộc sống bao giờ cũng ngồn ngộn chất liệu ,một chuyện nhỏ xíu” như người ta đánh bạc cả triệu đô rồi bị bắt, rồi bị xử, theo tôi, đánh bạc nhưng không ai hỏi là người đấy lấy tiền đâu mà đánh bạc,truy nguồn gốc thu nhập cho đến những chuyện lớn lao hơn như cây cầu Văn Thánh suốt ngày sửa bằng nghìn tỷ Nếu gọi để cần có những tác phẩm để đời tôi thấy chất liệu thời nào cũng nhiều Thời chiến tranh có chất liệu thời chiến tranh Thời bình có chất liệu thời bình [ ] Vậy thì cái gì làm
ra một tác phẩm lớn? Tôi thấy, duy nhất, để có một tác phẩm lớn, chỉ cần một điều
Là có nhà văn lớn Vậy thôi Khi có một nhà văn lớn, với vốn hiểu biết về vấn đề họ định viết như lịch sử, chiến tranh, môi trường hay thế giới động vật cộng thêm một cái nền căn bản là sự suy luận mọi chuyện qua đời sống chính cá nhân họ, những thăng trầm, được mất họ cũng biết sẽ làm gì, bỏ gì, tưởng tượng ra những gì từ hiện thực cuộc sống.”[62]
Trang 40“Chất văn”- Cái hồn cốt làm nên tác phẩm văn chương, theo Nguyễn Thị Thu
Huệ: “Nếu văn chương nói về vấn đề thời đại mà chất văn không có, tác phẩm sẽ mang tính ký sự Ngược lại, văn chương điệu đà quá sẽ giống như môt nồi nước phở không có xương hầm, chỉ có vị phở, váng mỡ, cũng chỉ đánh lừa người ăn một bát
mà thôi” [56]
Quan niệm về vấn đề cách tân trong văn học, Nguyễn Thị Thu Huệ hiểu một
cách giản dị: “Cách tân - với tôi - là làm sao người ta đọc xong một tác phẩm phải thấy thích trong lúc đọc Đọc xong, nhớ được một nhân vật, hay nhớ nguyên một cốt truyện, hoặc một chi tiết Tóm lại, cách tân là cách mà nhà văn và tác phẩm của mình đến được với người đọc Còn cách tân kiểu gì là tùy vào quan niệm và tài năng của người viết đó” [62] Với quan điểm này thì Nguyễn Thị Thu Huệ đã thực
hiện việc cách tân thành công vì người đọc vẫn nhớ, vẫn bị ám ảnh về một con bé gọi cha mẹ mình là phù thủy, về Mại yêu đến mấy lần mà vẫn nhẹ dạ và thiết tha, về một X-Men vừa nuôi chó vừa giết người, một thành phố trơ lì và cạn ráo tình người
Trong hành trình sáng tác văn học của mình, Nguyễn Thị Thu Huệ tự chia ra
hai giai đoạn sáng tác “Giai đoạn thứ nhất là lúc mọi thứ bùng nổ ra bên ngoài Giai đoạn thứ hai là mọi thứ được nuốt vào trong, có cái gì cay đắng, thấm thía hơn” Âm hưởng buồn phủ trùm cả hai giai đoạn, thế nên: “Ngày trước, những câu chuyện của đời sống đến với tôi và tôi kể lại chúng theo cách nhìn của một người trẻ, trong một xã hội ít bất an, đâu đó còn nhiều góc bình yên Bây giờ, đời sống của đám đông, của những thân phận bị trồi lên trụt xuống quẫy đạp nhằm tồn tại trong những cơn sóng táp thẳng, khiến tôi chao đảo, buồn bã và đau đớn Và tôi đã
kể những chuyện qua lăng kính của tôi, những ngày tháng này Lạnh lùng ở câu chữ, nhưng xa xót trong tâm can Tuy vậy, tôi chưa mất hẳn niềm tin vào con người Rải rác ở đâu đó vẫn còn những người đau đáu làm điều tốt, làm ra những thứ có ích cho cộng đồng” [54]
Chị chiêm nghiệm: “Khi người ta hai mươi tuổi – ba mươi tuổi, người ta có thể làm mọi điều mình muốn, nhưng khi bốn mươi – năm mươi tuổi, dù có sẵn sàng hành động đến đâu đi nữa, nhưng mình lại bị mệt chẳng hạn, vậy là đành phải dừng,
dù ta không muốn” Chị bảo “người như tôi từng trải qua ba thời kỳ, thời bao cấp, thời đổi mới và cho đến bây giờ thì có thể thấy rõ sự thay đổi đó Mình thấy cái gì cũng hơn trước Mình bị ức chế, bị ngộp Nó thấm vào mình như không khí, như hơi