Trong ba truyện thơ Nôm do Nguyễn Đình Chiểu sáng tác, cho đến nay hầu hết độc giả cũng như giới nghiên cứu thường quan tâm chủ yếu đến Lục Vân Tiên còn Dương Từ - Hà Mậu và Ngư Tiều vấn
Trang 1đại học quốc gia Hà Nội Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
ĐỖ THỊ HUYỀN
NGUYỄN ĐèNH CHIỂU TRONG THỂ LOẠI TRUYỆN NễM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYấN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM
Hà Nội – 2014
Trang 2đại học quốc gia Hà Nội Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
ĐỖ THỊ HUYỀN
NGUYỄN ĐèNH CHIỂU TRONG THỂ LOẠI TRUYỆN NễM
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60 22 01 21
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS TRẦN HẢI YẾN
Hà Nội – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan nội dung của luận văn là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Mọi ý tưởng hay câu chữ của người khác nếu được sử dụng lại đều có chú thích cụ thể, rõ ràng
Nếu có bất cứ vấn đề gì liên quan đến bản quyền xảy ra, tôi sẽ chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật
Đỗ Thị Huyền
Trang 4LỜI CẢM ƠN Xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới cô Trần Hải Yến – người đã hết long chỉ bảo, hướng dẫn em hoàn thành luận văn này
Cảm ơn gia đình và những người bạn đã ở bên tôi những năm tháng nhọc nhằn nhưng dấu yêu này
Đỗ Thị Huyền
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Lịch sử nghiên cứu truyện thơ cu ̉ a Nguyễn Đình Chiểu 8
3 Mục đích nghiên cứu 13
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
5 Phương pháp nghiên cứu 13
6 Đo ́ ng góp của luâ ̣n văn 14
7 Cấu trúc của luận văn 14
NỘI DUNG 15
Chương 1 KHUNG CẢNH VĂN HÓA, VĂN CHƯƠNG VÙNG ĐẤT MỚI PHƯƠNG NAM THẾ KỶ XIX 15
1.1 Vùng đất mới - khảo sát từ văn hóa cộng đồng cư dân 15
1.1.1 Cộng đồng dân cư ở Nam Kỳ 15
1.1.2 Đời sống của người dân Nam Kỳ 17
1.2 Những nội dung và hình thức chính của văn chương của Nguyễn Đình Chiểu 25
1.2.1 Tiểu sử Nguyễn Đình Chiểu 25
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu 26
Tiểu kết: 29
Chương 2 NHỮNG CÂU CHUYỆN BẰNG THƠ CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU 30
2.1 Những câu chuyện của Nguyễn Đình Chiểu 32
2.1.1 Câu chuyện tình yêu 35
2.1.2 Chủ đề đạo nghĩa 40
Trang 62.2 Các hình thức kể chuyện của Nguyễn Đình Chiểu 47
2.2.1 Phương thức kiến tạo cốt truyện 47
2.2.2 Xây dựng nhân vật 50
2.2.3 Cách dẫn dắt chuyện 53
2.2.4 Thế giới biểu tượng 56
Tiểu kết: 58
Chương 3 CHUYỆN KỂ CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỀU TRONG GIAI ĐOẠN HẬU KỲ TRUYỆN THƠ NÔM 59
3.1 Các hình thức kể chuyện ở vùng đất mơ ́ i 59
3.1.1 Kể chuyện bằng văn vần 59
3.1.2 Kể chuyện bằng văn xuôi 60
3.1.3 Kể chuyện bằng nghệ thuật trình diễn 61
3.2 Những con đường lưu truyền truyện thơ của Nguyễn Đình Chiểu 62
3.2.1 Các hình thức định bản hay công chúng đọc truyện thơ Nguyễn Đình Chiểu 62
3.2.2 Các phiên bản nghệ thuật trình diễn hay công chúng nghe nhìn “chuyện kể” của Nguyễn Đình Chiểu 69
Tiểu kết: 77
KẾT LUẬN 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Truyện thơ Nôm là một trong những hình thức kể chuyện độc đáo của văn học Việt Nam thời trung đại Mở đầu với tác giả Nguyễn Hữu Hào (?-1713), thể loại này được coi là kết thúc với Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) Với ba truyện
Nôm Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu và Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca hay còn được gọi là Ngư Tiều y thuật vấn đáp, Nguyễn Đình Chiểu đươ ̣c coi là ngư ời
viết truyện Nôm quan trọng cuối cùng trước khi lịch sử chuyển sang thời cận hiện đại và văn tự dân tộc được thay thế bằng chữ quốc ngữ Latin hóa Nói cách khác, Nguyễn Đình Chiểu đã đem l ại những giá trị riêng cho thể loại này Và bên c ạnh việc kế thừa các yếu tố ổn định của thể loại, Nguyễn Đình Chiểu còn mang đến cho
nó những nét mới
Trước Nguyễn Đình Chiểu , truyê ̣n Nôm đã là mô ̣t hình thức đi ̣nh hình cả về
nô ̣i dung và hình thức ở Đàng ngoài , với thành tựu đỉnh cao là Truyê ̣n Kiều Đến
Nguyễn Đình Chiểu lối kể chuyê ̣n bằng thơ chuyển vào mô ̣t đi ̣a bàn mới , mở rô ̣ng sự lưu truyền thể loa ̣i cả trong không gian và thời gian Mă ̣t khác, việc một tác giả
có hoàn cảnh đặc biệt: bị mù cả hai mắt mà có tới ba truyện thơ dài khiến độc giả
có thể nghĩ đến một hứng thú với hình thức này Vậy sự lựa chọn, đeo đẳng đó có quan hệ gì với hoàn cảnh xã hội khi đó, với không gian văn hóa mà nó được sinh ra? Thông qua ba tác phẩm truyện thơ Nôm của ông, chúng tôi muốn đi tìm cách trả lời cho câu hỏi trên
Trong ba truyện thơ Nôm do Nguyễn Đình Chiểu sáng tác, cho đến nay hầu
hết độc giả cũng như giới nghiên cứu thường quan tâm chủ yếu đến Lục Vân Tiên còn Dương Từ - Hà Mậu và Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca mới chỉ được giới
thiệu về văn bản của tác phẩm cũng như hoàn cảnh ra đời chứ chưa đi sâu vào tác phẩm, trong khi thực tế vấn đề đươ ̣c tác giả quan tâm ở ba câu chuyê ̣n là không
hoàn toàn như nhất Vì vậy, với đề tài Nguyễn Đình Chiểu trong thể loại truyện
Trang 8Nôm này, chúng tôi sẽ khảo sát cả “thế giới” truy ện Nôm của Nguyễn Đình Chiểu,
để tìm hiểu ông muốn đem la ̣i những khả năng gì cho hình thức thể loa ̣i này
2 Lịch sử nghiên cứu truyện thơ của Nguyễn Đình Chiểu
Kỷ niệm 75 năm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu, Phạm Văn Đồng trong
bài Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc, đã viết: “Trên
trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng” [60, tr.9] Nguyễn
Đình Chiểu là tác giả lớn của nền văn học Việt Nam nói chung và Nam Kỳ nói
riêng Trước khi thực dân Pháp xâm lược Nam Kỳ, Nguyễn Đình Chiểu viết Lục
Vân Tiên và Dương Từ - Hà Mậu, hai tác phẩm này đã được đông đảo quần chúng
đón nhận, đặc biệt là Lục Vân Tiên Sau khi Pháp xâm lược Nam Kỳ, Nguyễn Đình
Chiểu được biết đến là một tác giả đứng đầu trong văn học yêu nước với thể loại
văn tế Cho đến nay, có thể coi cuốn Nguyễn Đình Chiểu về tác gia và tác phẩm
(2003) do Nguyễn Ngọc Thiện biên soạn là một công trình tổng hợp khá đầy đủ những bài viết, những bài phê bình nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu Đặc biệt, trong phần thứ II, tác giả đã tập hợp tương đối đầy đủ những bài viết của các nhà
nghiên cứu, phê bình về các truyện thơ: Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu và
Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca Phần viết của chúng tôi sẽ dựa c hủ yếu trên công
trình mang tính tư liệu này
- Về tác phẩm Lục Vân Tiên
Về nguồn gốc của tác phẩn Lục Vân Tiên, có hai luồng ý kiến trái chiều Một
số nhà nghiên cứu cho rằng, Lục Vân Tiên được Nguyễn Đình Chiểu sáng tác dựa
vào một cốt truyện có sẵn, và một số nhà nghiên cứu khác thì cho rằng tác phẩm là
do chính Nguyễn Đình Chiểu sáng tác Ba nhà nghiên cứu tiêu biểu cho hai luồng
ý kiến đó là: Nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm trong bài viết “Lục Vân
Tiên”của Nguyễn Đình Chiểu (1941) cho rằng: “Nhân đọc một cuốn tiểu thuyết nhan là “Tây minh” (trước đèn đọc truyện Tây minh L.V.T.c.1) thấy vai chính trong truyện là Lục Vân Tiên gặp cảnh ngộ thảm thương tựa thân thế mình, bèn theo đấy mà thảo ra bản truyện Nôm” [50, tr.359] Tuy đưa ra nhận định đó, nhưng
Trang 9trong bài viết, Dương Quảng Hàm chưa đưa ra được cuốn tiểu thuyết có tên Tây
minh của Trung Quốc 22 năm sau, Trần Nghĩa viết bài Thử bàn về nguồn gốc truyện “Lục Vân Tiên” (1963) đã đưa ra những lập luận khoa học để giải thích
nguyên nhân và trình bày nguồn gốc của chữ “Tây minh” mà Nguyễn Đình Chiểu
đã sử dụng Tác giả viết: “Tây minh trước hết không phải là một “cuốn truyện”
hay một cuốn “tiểu thuyết” Tây minh rõ ràng là một cuốn sách thuộc phạm trù đạo đức, triết học” [50, tr.363] Năm 1978, Nguyễn Thạch Giang viết Nguyễn Đình Chiểu – Thân thế và sự nghiệp đã chỉ ra Tây minh là một thiên trong cuốn Tính lý tiết yếu của Trương Tái Trong Tây minh, Trường Tái bàn về đạo lý, đặc biệt nhắc
đến “đồng bào” Trương Tái quan niệm rằng, đồng bào là những người sinh ra trong cùng một bọc nên phải yêu thương nhau, con người phải hiếu thảo với cha
mẹ, thuận hòa với anh em, bà con làng xóm Với việc chỉ ra nguồn gốc và nội dung
của Tây minh, Nguyễn Thạch Giang viết: “Tư tưởng về “đồng bào” đó của Trương
Tái rất phù hợp với tư tưởng nhân nghĩa truyền thống của dân gắn với đức tính truyền thống của Gia Định mà Nguyễn Đình Chiểu hấp thu được Cho nên khi sáng tác Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu đã thấm thía về tình nghĩa đối với dân, đối với đồng bào Do đó mà tác giả Lục Vân Tiên khi mở đầu tập thơ của mình đã lấy Tây minh làm chuẩn mực triết lý – đạo đức” [50, tr.51] Tác giả còn khẳng
định: “Ngoài Lục Vân Tiên ra, triết lý Tây minh còn ảnh hưởng đến Dương Từ -
Hà Mậu, Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca và toàn bộ thơ, văn tế của ông” [50,
tr.51]
Theo chúng tôi, những tư liê ̣u và lâ ̣p luâ ̣n của Trần Nghĩa và Nguyễn Tha ̣ch Giang là những căn cứ đủ thuyết phục để khẳng định Lục Vân Tiên là tác phẩm do
Nguyễn Đình Chiểu sáng tác
Bàn về nô ̣i dung, tư tưởng của tác phẩm, các nhà nghiên cứu tập trung vào tác
phẩm Lục Vân Tiên ở góc độ xây dựng hệ thống nhân vật chính diện và phản diện
để giải thích vì sao tác phẩm lại được mến mộ, đặc biệt là nhân dân Nam Kỳ Phạm
Văn Đồng với bài viết Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ dân tộc (1963) đã nhận định về tác phẩm Lục Vân Tiên như sau: “Đây là một bản trường
ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quý trọng ở đời, ca ngợi những người
Trang 10trung nghĩa” [60, tr.26] Cũng trong năm đó Hoài Thanh viết Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ lớn, một tấm gương chói ngời tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam, tác giả cũng khẳng định: “Nhưng trong Lục Vân Tiên, không phải chỉ có tiếng chửi, Lục Vân Tiên còn là lời ca, ca ngợi những con người hay thương người, biết quên mình vì nghĩa” [60, tr.24] Trần Văn Giàu trong Vì sao tôi thích đọc Nguyễn Đình Chiểu (1963) viết: “Xét kỹ Lục Vân Tiên, chủ yếu không phải là chuyện trung hiếu tiết hạnh, mà chủ yếu là chuyện nhân nghĩa, còn trung hiếu tiết hạnh ở đây lại phụ thuộc vào nhân nghĩa…” [60, tr.55] Nguyễn Thạch Giang
trong bài Nguyễn Đình Chiểu, thân thế và sự nghiệp (1998) đưa ra nhận xét về tác phẩm Lục Vân Tiên dưới góc nhìn của tư tưởng nhân nghĩa: “Những con người tốt
trong Lục Vân Tiên kế tục những truyền thống cao quý của dân tộc về nhân nghĩa,
đó là những con người trong sạch, bình thường, làm việc nghĩa như một nhu cầu
mà không hề nghĩ đến nợi danh, ân huệ” [50, tr.40]
Nhìn nhận Lục Vân Tiên dưới góc nhìn văn hóa, văn học, các nhà nghiên cứu cho rằng, truyện Lục Vân Tiên chịu ảnh hưởng rất nhiều từ văn hóa , văn học dân
gian Nguyễn Quang Vinh trong Truyện thơ “Lục Vân Tiên” với văn hóa dân gian
(1972), đã kh ẳng định: “Lục Vân Tiên để lại nhiều dấu ấn trong văn hóa nghệ
thuật dân gian như kể vè, hò hát, diễn tích, trong tư duy hình tượng, trong tâm lý, trong khẩu ngữ và trong cả hành vi đạo đức của nhân dân nữa” [50, tr.369] Ca
Văn Thỉnh khi viết Truyền thống quật cường của Nam Bộ và Việt Nam với tinh
thần đấu tranh của Nguyễn Đình Chiểu (1972) nhấn mạnh: “Thơ Lục Vân Tiên mang tính chất dân gian rõ rệt” [50, tr.159] Cùng năm 1972, Cao Huy Đỉnh với
Đồ Chiểu với sự chuyển mình của văn hóa dân tộc viết: “Lục Vân Tiên kết tinh Đạo Người vốn là của nhân dân, nên ngày càng bén rễ trong nhân dân và biến hóa
ra nhiều hình thức sinh hoạt dân gian phong phú” [50, tr.190] Đặng Văn Lung
với Nguyễn Đình Chiểu và văn học dân gian (1982), đã khai thác chất dân gian trong cốt truyện của ba tác phẩm truyện thơ Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu và
Ngư Tiều y thuật vấn đáp Tác giả cho rằng: “Cốt truyện và nhân vật của Nguyễn Đình Chiểu còn ở dạng mô hình (Mô típ văn học dân gian) hơn là những kết cấu văn học, hình tượng văn học hoàn chỉnh” [50, tr.445] Lâm Vinh trong Truyện
Trang 11“Lục Vân Tiên” và vấn đề mối quan hệ giữa đạo đức và thẩm mỹ (1982), bàn về Lục Vân Tiên với quan hệ văn hóa dân gian: “Đây là một câu chuyện kể mang đậm màu sắc dân gian đã được đồng bào miền Nam tiếp nhận hết sức nồng nhiệt và ngay từ đầu đã được lưu truyền nhanh chóng, rộng khắp” [50, tr.382] Ngô Huy
Khánh với Nguyễn Đình Chiểu, nhà văn hóa lớn (1998) đã viết: “Trong một thời
gian khá dài từ đầu thế kỷ XX đến nay, truyện thơ Lục Vân Tiên đã trở thành một nội dung diễn xướng dân gian với các loại hình nói thơ, hò vè,…” [50, tr.319]
Nghiên cứu về ngôn ngữ, sự phổ biến của truyện Lục Vân Tiên, các tác giả Trần Văn Giàu, Nguyễn Lộc có chung ý kiến với Hoài Thanh trong bài Nguyễn
Đình Chiểu, một nhà thơ lớn, một tấm gương chói ngời tinh thần bất khuất của dân tộc Việt Nam (1963): “Lục Vân Tiên là một loại truyện kể Về lời thì còn có chỗ vụng về, về tình tiết có chỗ không chặt, về nhân vật có khi chưa thật sự có một đời sống riêng Mặc dầu vậy, nhân vật ấy đã trở nên rất sống trong lòng quần chúng”
[50, tr.86]
- Về Dương Từ - Hà Mậu
Không được phổ biến rộng rãi như Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu được
biết đến nhờ vào các công trình giới thiệu tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu
Trong cuốn Nguyễn Đình Chiểu toàn tập, tập 1 và Nguyễn Đình Chiểu về tác gia
và tác phẩm, cũng như một số công trình nghiên cứu khác của các tác giả như
Nguyễn Lộc, Trần Đình Hượu,… tác phẩm được giới thiệu hoàn cảnh sáng tác, nội
dung chính và văn bản tác phẩm Nguyễn Văn Hoàn, trong bài Từ “Lục Vân Tiên”
đến “Dương Từ - Hà Mậu” (1972), chú ý đến sự phát tri ển tư tưởng của Nguyễn
Đình Chiểu từ khi viết Lục Vân Tiên đến Dương Từ - Hà Mậu: “Được sáng tác
tiếp sau Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu cùng với Lục Vân Tiên là những tiếng nói kêu gọi bảo vệ đạo lý Khổng – Mạnh, thực chất là bảo vệ đạo đức, bảo vệ chính nghĩa…” [50, tr.424]
- Về Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca
Năm 1963, Bùi Thanh Ba trong Qua “Ngư Tiều vấn đáp”, tìm hiểu thế giới
quan Nguyễn Đình Chiểu đã giới thiệu nội dung tác phẩm và tập trung lý giải quan
Trang 12niệm thế giới quan của Nguyễn Đình Chiểu Tác giả cho rằng: “Viết Ngư Tiều vấn
đáp, Nguyễn Đình Chiểu đã để lộ một thế giới quan tiến bộ mà chúng ta không thể tìm thấy ở các nhà thơ khác cùng thời với ông Theo quan niệm của ông, trong vũ trụ có hai luồng hơi vận chuyển: hơi chính và hơi tà” [50, tr.416] Vớ i mối quan
tâm riêng về y ho ̣c , Lê Trần Đức khi biên soạn cuốn Nguyễn Đình Chiểu với Ngư
Tiều vấn đáp y thuật được nhà xuất bản Y học ấn hành năm 1983 đã đặc biệt chú
trọng đến nội dung y thuật của tác phẩm Cũng như Dương Từ - Hà Mậu, Ngư Tiều
vấn đáp nho y diễn ca cũng chỉ được giới thiệu trong một số cuốn tuyển tập những
sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu
Có thể thấy , những bài viết, công trình nghiên cứu về truyện thơ Nguyễn
Đình Chiểu thường chỉ tập trung vào Lục Vân Tiên mà ít quan tâm t ới hai truyê ̣n thơ còn la ̣i
Nghiên cứu chung về truyện thơ Nguyễn Đình Chiểu
Nghiên cứu về ngôn ngữ của truyện thơ Nôm Nguyễn Đình Chiểu phải kể đến
các công trình của các tác giả như: Đào Thản – Nguyễn Thế Lịch trong Chữ “dân”
và chữ “nước” trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu (1982) tập trung vào thống kê,
phân tính tần suất cũng như cách sử dụng chữ “dân” và chữ “Nước” Tác giả nhận
định: “Cái đẹp của ngôn từ trong văn thơ Nguyễn Đình Chiểu …, mộc mạc và bình
dị, chân thực và hồn nhiên lạ thường Đặc điểm này quán xuyến toàn bộ văn thơ Nguyễn Đình Chiểu từ Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu, Ngư Tiều y thuật vấn đáp đến những bài văn thơ yêu nước” [50, tr.545] Hoàng Tuệ, Phạm Văn Hảo, Lê
Văn Tường trong Tiếng địa phương miền Nam trong tác phẩm của Nguyễn Đình
Chiểu (1984), Nguyễn Phong Nam trong Hình tượng thời gian trong các truyện thơ Nôm của Nguyễn Đình Chiểu (1992), đã nhận định: “Điều đáng chú ý đầu tiên khi xét hình tượng thời gian trong tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu là chỗ rất ít khi ta thấy nhà văn để cho nhân vật có điều kiện cảm nhận về thời gian” [50, tr.448];
“Nhìn chung, thời gian trong truyện Nôm của Nguyễn Đình Chiểu là thời gian có
tính chất phiếm định” [50, tr.453] Năm 1998, Trần Đình Hượu đã có bài viết Bàn
về Nguyễn Đình Chiểu – người nghệ sĩ từ và trong truyện Nôm Trong bài viết này,
tác giả cho rằng Nguyễn Đình Chiểu hứng thú với thể loại truyện Nôm vì đó là
Trang 13hình thức rất gần gũi, quen thuộc để gửi gắm tâm sự, ước mơ, cách nhìn, quan niệm về cuộc đời Và nó thuận tiện cho nhu cầu nghe kể, diễn xướng để có thể truyền bá rộng rãi trong nhân dân Nhận định này tuy chỉ mới mang tính định đề nhưng lại có giá trị gợi dẫn quan trọng cho chúng tôi đi sâu tìm hiểu
3 Mục đích nghiên cứu
Tiến hành tìm hiểu đề tài Nguyễn Đình Chiểu trong thể loại truyện Nôm,
chúng tôi sẽ làm rõ hơn đóng góp của Nguyễn Đình Chiểu trong thể loại truyện Nôm đồng thời tìm hiểu nét riêng c ủa truyện thơ ở vùng đất mới, trong giai đoạn sau chót của hình thức văn học trung đại, qua ba tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Truyện Nôm của Nguyễn Đình Chiểu dưới góc nhìn thể loại
Phạm vi tư liệu: Đề tài tập trung tìm hiểu thể loại truyện Nôm với ba truyện
thơ Nguyễn Đình Chiều Đó là: Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu và Ngư Tiều
vấn đáp nho y diễn ca
Phạm vi vấn đề: Luận văn không triển khai tìm hiểu từng tác phẩm cụ thể mà tập trung vào nội dung, nghệ thuật và ý hướng của tác giả trong ba truyện Nôm như một thể thức tiếp cận và phản ánh hiện thực Bên canh đó, luận văn cũng chú ý
đến sự phổ biến đặc biệt của tác phẩm Lục Vân Tiên Thông qua nghiên cứu tiếp nhận, chúng tôi muốn làm rõ hơn ý nghĩa của hình thức văn chương này
5 Phương pháp nghiên cứu
Luâ ̣n văn sẽ sử du ̣ng cách tiếp câ ̣n văn ho ̣c sử, kết hợp nghiên cứu loại hình học thể loại để giải quyết những mục tiêu nghiên cứu đă ̣t ra
Các phương pháp tiếp cận nói trên sẽ được thể hiện bằng các thao tác cụ thể , như: thống kê , phân tích , so sánh để các vấn đề được sáng tỏ và có sức thuyết phục
Trang 146 Đóng góp của luâ ̣n văn
Trên cơ sở khả o sát truy ện thơ Lục Vân Tiên, Dương Từ - Hà Mậu và Ngư
Tiều vấn đáp nho y diễn ca về nội dung và phương thức chuyển tải, luâ ̣n văn sẽ chỉ
ra rằng Nguyễn Đình Chiểu viết truyê ̣n thơ với những nô ̣i dung không giống ma ̣ch
đi trước đó của thể loa ̣i (ông quan tâm đến luân thường, đến đạo làm người, đến sự
va cha ̣m của hê ̣ tư tưởng Nho giáo với thực tiễn xã hô ̣i , thực tiễn li ̣ch sử lúc đó ) Đồng thời, luâ ̣n văn cũng tìm cách lý giải : 1) Vì sao có sự chọn lựa đ ó ở Nguyễn Đình Chiểu, bằng tiểu sử tác giả, bằng thực tế xã hô ̣i văn hóa văn chương vùng đất Nam Kỳ xung quanh thời điểm ông sáng tác truyê ̣n thơ ; 2) Cách viết truyện thơ như vâ ̣y có ý nghĩa gì trong li ̣ch sử phát triển của thể loa ̣i
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung gồm
3 chương:
Chương 1 Khung cảnh văn hóa, văn chương vùng đất mới phương Nam thế
kỷ XIX
Chương 2 Những câu chuyện bằng thơ của Nguyễn Đình Chiểu
Chương 3 Chuyện kể của Nguyễn Đình Chiểu trong giai đoạn hậu kỳ truyện thơ Nôm
Trang 15NỘI DUNG
Chương 1
KHUNG CẢNH VĂN HÓA, VĂN CHƯƠNG VÙNG ĐẤT MỚI
PHƯƠNG NAM THẾ KỶ XIX
1.1 Vùng đất mới - khảo sát từ văn hóa cộng đồng cư dân
1.1.1 Cộng đồng dân cư ở Nam Kỳ
Nam Kỳ được hình thành và phát triển trong thời kỳ diễn ra cuộc phân tranh giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn Ở Đàng Ngoài, chúa Trịnh nắm giữ quyền hành, chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã mở rộng địa bàn vào Nam Kỳ để củng cố về tiềm lực kinh tế và quân sự Theo sử sách ghi lại, chúa Nguyễn chính thức xác lập về
mặt nhà nước chủ quyền vào năm 1698 Trong Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức viết: “Mậu Dần Hiển Tông Hiếu minh hoàng đế thứ 8 (1698) (Lê Huy
Tông Chính Hòa năm thứ 19, Đại Thanh Khang Hy năm thứ 37) mùa xuân, sai Thống suất chưởng cơ là Lễ Thanh hầu họ Nguyễn kinh lược nước Cao Miên, lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, đặt sứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long, dựng dinh Trấn Biên” [6, tr.77] Lúc này, dân lưu tán từ Bố Chánh, Quảng Bình trở vào
được chiêu mộ đến sinh sống khai hoang Lịch sử còn cho thấy, Gia Định xưa có người Cao Miên sống chung lẫn với lưu dân của nước ta Chưa hết, năm 1679, Dương Ngạn Địch và Trần Thắng Tài là hai tướng của Trung Hoa sống thời nhà Minh không chịu làm tôi tớ nhà Thanh nên đã đưa hơn 3000 quân lính và người nhà đến Đà Nẵng xin hàng phục Chúa Nguyễn cho nhóm di thần nhà Minh vào
Mỹ Tho và Đồng Nai khai hoang sinh sống Năm 1680, Mạc Cửu, cũng giống như Trần Thắng Tài và Dương Ngạn Địch, không chịu theo nhà Thanh đã chiêu mộ dân
Trang 16và sinh sống ở vùng Hà Tiên của nước ta Việc người Trung Hoa sinh sống ở đây
đã thúc đẩy buôn bán và Nam Kỳ dần hình thành xã hội thương nghiệp
Ngoài ra, với tài nguyên thiên nhiên phong phú, địa bàn thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán với các nước lân cận nên Nam Kỳ còn tiếp nhận một số cư dân ở các nước quanh khu vực đến buôn bán và định cư Thêm vào đó, việc chúa Nguyễn liên tục mở mang bờ cõi, đi xâm chiếm hoặc chiêu mộ dân ở các nước khác đến khai hoang cũng làm cho cộng đồng dân cư ở Nam Kỳ phong phú hơn Bởi vậy, cộng đồng dân cư ở Nam Kỳ rất đa dạng, có người Việt ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, có người Cao Miên, có người Trung Hoa, người Xiêm, người Khmer…, họ cùng nhau sinh sống và phát triển ở những vùng khác nhau Với nguồn gốc dân cư đa dạng như vậy nên văn hóa Nam Kỳ rất phong phú bởi với mỗi dân tộc đến sinh sống họ đều mang trong mình những phong tục, tập quán, tín ngưỡng riêng
Đi theo chiều thời gian hình thành Nam Kỳ, chúng ta sẽ thấy được thành phần
dân cư của vùng đất mới này Trong Tuyển Tập Nguyễn Văn Xuân phần Khi những
lưu dân trở lại, tác giả có viết: “Có lẽ tôi chẳng còn điều gì để nói trước khi đưa bạn đọc theo đoàn dân miền Trung, đa số ban đầu là lưu dân, tội đồ, dân Minh hương, dân nghèo đi tiên phong khai khẩn đất hoang rồi sau đó người Huế (làm chức việc, làm quan) và nông dân Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định xách gươm giáo, mang cuốc, mang cày, dẫn dắt trâu bò theo đường bộ, hay tính chuyện buôn bán theo đường ghe, lần lượt rời bỏ quê hương để trở thành dân chính thức của miền Nam” [65, tr.579 - 560] Nguyễn Văn Xuân còn khẳng định: “Đây, hầu hết là dân nghèo tù tội, hành khất, hạng lưu dân thoát vùng đất cũ với hy vọng của kẻ đánh bạc chẵn lẻ” [65, tr.544] Trước khi chúa Nguyễn chính thức đặt chính quyền
ở vùng đất Nam Kỳ và chiêu mộ dân thì ở đó đã có những người dân đói khổ từ Trung Kỳ vào khai hoang sinh sống, họ sống rải rác, lẻ tẻ không có tổ chức Bởi
trong cuốn Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Sơn Nam có viết: “Rõ ràng là trước khi
chúa Nguyễn và các vua triều Nguyễn thiết lập những đơn vi hành chánh và cai trị, khẳng định vai trò nhà nước chủ quyền trên mảnh đất phía Nam thì từ rất sớm,cư dân Việt, vốn là những nông dân xiêu tán, thợ thủ công cùng khổ, những binh lính
Trang 17lao dịch lưu đày… dưới sự áp bức bóc lột của giai cấp địa chủ của phong kiến, của chiến tranh địch họa, thiên tai đã buộc phải rời bỏ xóm làng vào Nam khẩn hoang lập nghiệp” [25, tr.6] Như vậy, thành phần dân cư ở Nam Kỳ hầu hết là tầng lớp
dưới của xã hội
1.1.2 Đời sống của người dân Nam Kỳ
vì nghĩa đối với nhau chứ không vì danh phận, địa vị Nhu cầu kết bạn khi đến một nơi mới là một điều hiển nhiên, cộng thêm với nguồn thiên nhiên trù phú1
, họ không quá bận tâm đến chuyện kiếm sống, do đó họ có cơ hội giao lưu, kết bạn để khám phá phong tục tập quán của các dân tộc khác đồng thời giới thiệu phong tục tập quán của dân tộc mình Bên cạnh đó, đa phần họ là những người có trình độ học vấn thấp trong xã hội, vì vậy việc hiếu học, coi trọng những người thông hiểu
sách vở là việc dễ hiểu Trong Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức viết:
“Gia Định ở về phương Nam vị trí Dương Minh, người đủ tính trung dũng khí tiết,
trọng nghĩa khinh tài, dẫu phụ nữ cũng thế” [6, tr.180] Trong cuốn Đại Nam nhất thống chí khi Trịnh Hoài Đức viết về tỉnh Gia Định đã khẳng định người dân ở đó
rất “chuộng khí tiết, trọng nghĩa khinh tài Học trò đọc sách, phần nhiều chú trọng
1 “So với Bắc và Trung phần thì Nam phần là nơi dễ sinh sống, đất rộng người thưa Người dân thảnh thơi “vừa làm vừa chơi” cũng đủ ăn” [26, tr.79] “Vùng Gia Định nước Việt ta đất rộng, thực vật phong phú, không lo đói rét, nên dân ít dự trữ, quen thói xa hoa, phong cách kẻ sĩ thì hiên ngang, do người từ bốn phương tụ lại nên mỗi nhà đều có phong tục riêng” [6, tr.179] “Người miền Nam làm việc trong những điều kiện thuận lợi mà số thu hoạch có thể gấp mấy lần Hơn thế nữa, chim trời, cá nước vốn không thiếu nên đời sống dễ dàng” [65, tr.579]
Trang 18sáng tỏ nghĩa lí mà vụng về văn chương Nhân dân đủ người bốn phương, mỗi nhà mỗi tục Dân nông thôn thì chất phác, dân thành thị thì hay chơi bời” [37, tr.200];
khi viết về tỉnh Vĩnh Long, Sơn Nam cũng nhấn mạnh: “Kẻ sĩ chăm học, dân thích
buôn bán, làm ruộng, đánh cá, đều nhằm mối lợi tự nhiên mà làm ăn, dùng sức ít
mà được lợi nhiều Đất đai rộng, thức ăn nhiều không biết chứa cất Quân tử thì trọng trung nghĩa danh tiết, tiểu nhân thì chơi bời xa hoa, không biết kiêng sợ”
[37, tr.124]; về tỉnh Hà Tiên: “Tính người nhẹ nhõm, ham thích phong lưu Không
ai gian tham, không ai trộm cướp, phần nhiều hào phóng và ưa chuộng xa hoa”
[37, tr.10]; về tỉnh Biên Hòa: “Kẻ sĩ chăm học, dân siêng canh cửi, thợ ở phố mà
làm việc; buôn bán tùy đất mà sinh nhai Tính thích múa hát, tục chuộng thờ phật”
[37, tr.41]
Việc hình thành phát triển thương nghiệp với xã hội thị dân cũng là một
nguyên nhân đáng kể trong việc định hình tính cách của con người Nam Kỳ “Tinh
thần tôn trọng đạo nghĩa, coi nhẹ lợi ích riêng tư và lối sống phóng khoáng tự do nhiều khi lấn át ý thức thượng tôn pháp luật như một hệ thống chuẩn mực phi chính thống phổ biến trong con người Nam Kỳ trước Cách mạng Tháng Tám chính
là một trong những hệ quả nổi bật của kiểu thức cấu trúc làng xã lỏng lẻo kết hợp với môi trường sinh hoạt thị dân này, và đáng nói là hệ quả ấy lại ít nhiều được những người đại diện của bộ phận Nho giáo nhân dân hóa tán thành và quy chuẩn hóa” [43, tr.413]
Có thể nói, đó là những tính cách điển hình của người Nam Kỳ Từ những tính cách điển hình này, họ hình thành quan niệm và thói quen về cuộc sống rất riêng, khác hẳn với người Trung và người Bắc
Thói quen
Về hình thức sinh hoạt văn hóa, văn nghệ ở Nam Kỳ có nhiều đặc điểm khác
so với Trung Kỳ và đặc biệt là Bắc Kỳ Lưu dân đến Nam Kỳ chọn hình thức ca hát, kể chuyện, diễn xướng làm món ăn tinh thần Khi nhận định về đối tượng và hình thức tiếp nhận văn nghệ, văn chương của người dân Nam Kỳ, Nguyễn Văn
Trang 19Xuân viết: “Mà đối tượng này không cần đọc, ngẫm nghĩ bằng xem, nghe xúc
động, cười cợt, hoa chân múa tay trước những bộ môn trình diễn, những bài thơ,
vè, kể chuyện ca hát, ca kịch…, rất dễ hiểu, rất cụ thể vui ra vui, buồn ra buồn rõ ràng Để họ khỏe khoắn tinh thần, tìm thấy giấc ngủ ngon hòng nuôi sức lực dành cho những tranh đấu, những biến cố trong vùng đất mới, khác hẳn cái vùng đã ổn định từ nghìn năm họ vừa mới rời bỏ” [65, tr.549] Hình thức ca hát, kể chuyện
truyền miệng, trình diễn cho người khác xem đã hình thành từ đó, và được người
Nam Kỳ rất ưa chuộng Nguyễn Văn Xuân viết: “Những buổi trình diễn khẩu chiến
dưới ánh trăng đã lôi kéo hàng trăm khán giả đêm này qua đêm khác, đã tạo cho văn nghệ nông thôn có sinh khí lạ lùng và đã nâng cao nền văn nghệ đó lên tột đỉnh với những diễn viên rất linh hoạt, thông minh mà tình tứ” [65, tr.555] Với
điều kiện thuận lợi về tài nguyên thiên nhiên, cuộc sống của những người dân nơi đây an nhàn và dư giả, vì vậy, họ có thời gian, tiền bạc để đi xem hát, nghe hát, ngồi nghe kể chuyện hoặc thuê gánh hát về biểu diễn Do đó, hình thức diễn xướng
ở Nam Kỳ càng phát triển và mạnh mẽ hơn hẳn Trung Kỳ và Bắc Kỳ
Khi tiếp nhận một tác phẩm văn chương, người Bắc Kỳ thường nghiền ngẫm cái hay cái đẹp ở cách dùng câu chữ Tác phẩm phải được suy ngẫm kỹ càng mới thấy hết cái hay, và người tiếp nhận thường một mình tâm đắc với cái hay cái đẹp
đó Như Nguyễn Văn Xuân đã khẳng định, văn chương Bắc kỳ “bao giờ cũng lấy
đối tượng tri thức làm căn bản” và “phương pháp của văn chương miền Bắc nặng
về xem, tức là độc giả có thể cầm tác phẩm tự mình đọc để suy tư và cái hay chính nằm trong lối xem và suy tư đó” [65, tr.551] Ngược lại, “văn chương miền Nam nặng về nói và trình diễn, tức độc giả thường chỉ thấy hay trong lối đọc to để tự mình nghe và để kẻ khác cùng nghe với mình và cái hay cũng nằm trong lối nghe
để dung cảm” [65, tr.551] Có thể thấy người dân Nam Kỳ thiên về kiểu thưởng
thức văn nghệ có diễn xướng, gắn với trình diễn
Tư tưởng – tín ngưỡng
Cư dân Việt cộng cư cùng nhiều nhóm dân cư với nguồn gốc, văn hóa, lịch
sử, phong tục và tín ngưỡng khác nhau nên rất khó tổ chức xã hội theo nguyên lý
Trang 20và trật tự tôn giáo Vì vậy, Nho giáo với thiết chế xã hội vô thần đã tổ chức xã hội
để nhất hòa nhiều tộc người ở địa phương vào một cộng đồng Việt Nam thống
nhất “ việc xây dựng một cộng đồng xã hội thống nhất trên cơ sở nhiều nhóm cư
dân và trong bối cảnh đa dân tộc như vậy rất khó có thể thực hiện với các mô hình
và phương thức tổ chức xã hội theo nguyên lý và trật tự tôn giáo Chính ở đây, Nho giáo với nhận thức luận – vũ trụ quan kiểu “vô thần” của nó đã nổi lên như thuyết – phương án tối ưu trong việc liên kết, tổ chức và từng bước hợp nhất các nhóm cư dân nông nghiệp ” [43, tr.408]; “Nho giáo nhờ vậy cũng có điều kiện để phát triển đồng thời thực hiện thông suốt chức năng của nó, mà ở đây có thể kể tới việc góp phần nhất hòa các nhóm dân tộc khác trong đó đặc biệt là người Hoa vào với cộng đồng Việt Nam như một ví dụ điển hình”; “Tình hình nói trên đặt ra trước cả Chính quyền Đàng Trong lẫn nhân dân địa phương một vấn đề phải giải quyết, đó
là việc hợp nhất tiến trình văn hóa với tiến trình xã hội, hay nói rõ hơn là xóa bỏ những khoảng cách giữa các nhóm dân tộc, quy tụ tất cả vào một cộng đồng Việt Nam thống nhất chung Và ở đây, Nho giáo đã phát huy vai trò là một hệ thống chuẩn mực xã hội của nó, mà kết quả đáng chú ý nhất là góp phần hoàn tất quá trình Việt hóa trước hết về mặt chính trị của những người Hoa mang quốc tịch Việt Nam” [43, tr.47] Với những điểm mạnh trên, Nho giáo được nhà Nguyễn sử dụng
như một phương án tối ưu để thống nhất cộng đồng ở Nam Kỳ
Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức, nhưng về khía cạnh tôn giáo, Nho giáo chủ trương thờ Trời Đất, sông núi, thờ cha mẹ, tổ tiên Tuy nhiên, với Nho giáo, con người không tìm được câu trả lời cho câu hỏi loài người ở đâu trước khi sinh ra và về đâu sau khi chết đi Do đó, mặc dù Nho giáo giữ vị trí đầu trong việc điều chỉnh hành vi, đạo đức và định hướng chuẩn mực xã hội ở Việt Nam cũng như Nam Kỳ nhưng tại đây vẫn tồn tại các tôn giáo khác, điển hình và đạt được dấu ấn mạnh trong xã hội là Phật giáo và Thiên chúa giáo Theo Cao Tự
Thanh: “Bên cạnh đề cao các chuẩn mực cương thường, lực lượng nòng cốt của
chính quyền Đàng Trong trong đó có các chúa Nguyễn đều là người sùng thượng đạo Phật” [64, tr.318]; “Tín ngưỡng ở Đàng Trong thế kỷ XVII – XVIII, dễ nhận
Trang 21thấy rằng mặc dù có hiện tượng suy thoái về mặt giáo lý, Phật giáo (chủ yếu là Phật giáo đại thừa) vẫn chiếm một địa vị quan trọng đồng thời đóng vai trò đáng
kể trong sinh hoạt tinh thần của nhiều tầng lớp nhân dân” [43, tr.18]; “Nho giáo không có một hệ thống thần linh nên họ phải thần thành hóa vương quyền bằng Phật giáo, từ đó làm nảy sinh cơ cấu chính trị - tôn giáo cũng như một thiết chế văn hóa – tư tưởng kiểu “Nho Thích song hành” [43, tr.28] Thiên chúa giáo là một
tôn giáo nhưng khi vào Nam Kỳ, nó mang ý nghĩa chính trị, bị giới cầm quyền thực dân lợi dụng với mục đích thôn tính các nước thuộc địa Vì vậy, Thiên chúa giáo đã phải trải qua những xung đột cả với thế quyền và thân quyền
Trở lại với Nho giáo Như nhiều nhà nghiên cứu đã phân tích, khi được sử dụng ở Nam Kỳ, nơi đa phần là binh lính cùng những nông dân ít học thì những
yếu tố chính thống của Nho giáo đã phải thay đổi Cao Tự Thanh nhận định: “Quá
trình dân tộc hóa đã khiến từ chiến tranh Lê Mạc trở đi Nho giáo ở Việt Nam dần dần mang một nội dung khác hẳn lý thuyết Nho giáo chính thống, và riêng ở Đàng Trong thì quá trình nhân dân hóa còn khiến nó trở thành một loại Nho giáo trong
đó các yếu tố nhân dân hóa dường như lấn át yếu tố quan phương” [43, tr.300] Ở
Nam Kỳ, nho sĩ có đời sống gần gũi với tầng lớp bình dân: “Cần nói thêm rằng
trong lực lượng hạt nhân của tập đoàn phong kiến Đàng Trong thì số xuất thân từ gia đình võ tướng nhiều hơn số xuất thân từ gia đình nho sĩ, vùng đất chỉ mới thực
sự có được một Tây Kinh từ chiến tranh Lê Mạc và chắc chắc là chưa “thấm nhuần” Nho giáo bằng khu vực Thăng Long – Đông Đô Việc tiếp nhận phổ biến, nhận thức và thực hiện các nguyên tắc Nho giáo – trong ý nghĩa là một hệ thống
“chuẩn mực xã hội” nơi những người này do đó cũng bị “sai lệch” nhiều so với quy tắc chính thống truyền thống, thậm chí ngay cả từ những ứng xử thường nhật”
[43, tr.18]; “Có thể nói chính lực lượng nông dân – tầng lớp bị trị người Việt đã
đem Nho giáo vào Nam bộ, và tại đây nó đã phát triển như một yếu tố nội tại, một
bộ phận cấu thành trong thiết chế văn hóa – tổ chức xã hội chính thức của cộng đồng Việt Nam ở địa phương” [43, tr.410] Theo học thuyết Nho giáo, quyền hành
luôn tập trung vào vua, sau đó là quan lại, và những nho sĩ thì được tuyển chọn kỹ
Trang 22càng Nhưng ở Gia Định, tầng lớp tướng lĩnh cũng được trọng dụng và có thể đảm nhiệm những chức vụ quan trọng từ trung ương đến địa phương Nhà Nguyễn ở Đàng Trong phủ định tín nhiệm về thiên chức và vai trò của tầng lớp nhà nho Trước khi chính quyền nhà Nguyễn chính thức xác lập chủ quyền ở Nam Kỳ thì một bộ phân lưu dân ở đây đã sử dụng Nho giáo để tự quản với nhiều yếu tố lệch chuẩn so với chính thống
Việc phát triển xã hội thị dân tại Nam Kỳ cũng là một yếu tố quan trọng trong
quá trình đẩy Nho giáo đi theo chiều hướng lệch chuẩn “Xu thế sản xuất vật chất
còn tạo ra các động thái mới trong sinh hoạt xã hội mà đặc biệt là ở các khu vực thương cảng hay đô thị và trước Hòa ước 1862 thì sự phát triển của xã hội thị dân
ở Nam Kỳ tự thân nó đã hàm chứa một nguy cơ tiềm ẩn đối với các quy phạm đạo đức Nho giáo cũng như những nguyên lý trị đạo Nho gia” [43, tr.413]
Theo Cao Tự Thanh, sự phát triển của Nho giáo ở Nam Kỳ được chia ra làm nhiều thời kỳ tương ứng với từng giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội của Nam
Kỳ
“Trước năm 1775, Nho giáo làm nhiệm vụ đồng nhất sự phát triển của nhiều
nhóm cư dân và tầng lớp xã hội khác nhau vào một định hướng văn hóa – xã hội cộng đồng thống nhất” [43, tr.419] Thời kỳ này về mặt lịch sử xã hội không có
nhiều biến động lớn, vì vậy, Nho giáo thực hiện rất tốt vai trò cố kết các cộng đồng dân tộc ở Nam Kỳ và từ đó bám rễ chắc trong xã hội đầy biến động ở giai đoạn sau này
“Thời nội chiến Tây Sơn – Nguyễn rồi Tây Sơn – Nguyễn Ánh từ 1775 rồi từ
1778 đến 1802, đó là yêu cầu quy tụ lực lượng và thống nhất ý chí – nâng cao chất lượng phát triển của xã hội nhằm kết thúc chiến tranh đồng thời xác định nội dung phát triển của cộng đồng Việt Nam ở Nam Bộ trong cuộc đấu tranh thống nhất quốc gia” [43, tr.419] Đây là thời kỳ các lớp nhà nho sống gần gũi với nhân dân
Họ là những trí thức của đời thường, “một loại trí thức mà học vấn và tài năng
thường xuyên được kiểm nghiệm qua thực tiễn hoạt động và nhiều khi vì miếng
Trang 23cơm manh áo trong đời sống thường nhật” [43, tr.72] Trong giai đoạn này, dù
Phật giáo và Thiên chúa giáo đồng thời tồn tại, nhưng Nho giáo vẫn không bị mất
đi vị trí của mình
“Giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX, đó là yêu cầu tập hợp và tổ chức các lực
lượng, thực hiện và điều chỉnh các phương án phát triển kinh tế - xã hội toàn diện hơn đồng thời tiếp tục góp phần thống nhất đất nước về mặt văn hóa và bảo vệ độc lập quốc gia trước hết trong phạm vi địa phương” [43, tr.419] Lúc này, đất nước
ổn định sau chiến thắng của tập đoàn Nguyễn Ánh với Tây Sơn, đồng thời được trao đổi, tiếp thu kinh nghiệm và kiến thức từ nho sĩ và Nho học của các miền trong cả nước và Trung Quốc đã thúc đẩy Nho giáo ở Gia Định phát triển theo định hướng học thuật – lý luận hoàn chỉnh hơn trước, cũng trên cơ sở đó mở rộng và điều chỉnh hệ thống chuẩn mực xã hội để phù hợp với nội dung phát triển và xu thế
lịch sử của đời sống Nam Kỳ “Sau hàng trăm năm phát triển theo tiến trình lịch
sử ở địa phương, đến giữa thế kỷ XIX Nho giáo đã bám rễ sâu hơn vào đời sống văn hóa – xã hội và trở nên quen thuộc với sinh hoạt của các tầng lớp nhân dân Gia Định Nhiều chuẩn mực xã hội Nho giáo về đạo đức, nghi lễ, ứng xử, lối sống… đã hội nhập vào đời sống tinh thần của quần chúng, góp phần đáng kể vào việc củng cố tổ chức xã hội và xác lập diện mạo văn hóa cộng đồng Việt Nam tại địa phương” [43, tr.183] Điều đáng chú ý ở thế kỷ XIX là ở Nam Kỳ nho sĩ con
nhà thường dân phổ biến hơn nho sĩ dòng dõi quan lại “Đội ngũ nho sĩ bình dân ở
địa phương như vậy đã hiện diện như một nhóm xã hội ổn định và có số lượng đông đảo, với sinh hoạt vật chất và tinh thần rất gần gũi với nhân dân” [43,
tr.185] Điều này cho thấy, nhà nho ở Gia Định có đời sống rất gắn bó với nhân dân lao động Ngay từ đầu, Nho giáo đã phát triển không theo chuẩn lý thuyết, bên cạnh đó, việc các nhà nho sống gần dân đã đưa Nho giáo tại Nam Kỳ tiến tới một
hệ thống chuẩn mực xã hội Nho giáo khác, ở đó các nguyên tắc chế định được xây
dựng với nhiều yếu tố thu được từ tinh thần thực tiễn của nhân dân “…Các nhà
nho Gia Định mà chủ yếu là bộ phận nho sĩ bình dân đã loại bỏ khá nhiều những xác tín của mình, khiến cho lý thuyết chính trị Nho gia ở đây dần dần chỉ còn là lý
Trang 24tưởng xã hội Nho giáo Cái phong cách “Nho mà không Nho, không Nho mà Nho” trong giới nho sĩ địa phương đã hình thành như thế đó” [43, tr.195]
Năm 1858 là một mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của xã hội cũng như Nho giáo ở Gia Định Trong công cuộc chống trả thực dân xâm lược, các nhà nho yêu nước đã đứng về phía nhân dân, ở vị trí lãnh đạo về tư tưởng cho nhân dân lao động khởi nghĩa Sự căm ghét xâm lược phương Tây làm cho nhân dân càng căm ghét đạo Thiên chúa Chính vì vậy, Thiên chúa giáo bị nhân dân Nam Kỳ tẩy chay mạnh mẽ vào nửa cuối thế kỷ XIX Trên cả nước, Nho giáo chính thống lạc hậu cộng với sự bất lực của triều Nguyễn đã dẫn tới chỗ không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn Trong khi đó, Nho giáo phi chính thống đã đứng về phía nhân dân, phản ánh, cổ vũ, khích lệ tinh thần của nhân dân trong cuộc đấu tranh đó
Mở đầu cho xu hướng chống đối quyết liệt đó là các nhà nho Nam Kỳ, “… đã
bước vào cuộc chiến đấu chống quân xâm lược nửa sau thế kỷ XX chỉ với một truyền thống chính trị duy nhất tôn phù triều đình Nguyễn và các chúa Nguyễn Đàng Trong Sự từ bỏ truyền thống này ở họ vì vậy cũng có ý nghĩa như một hành động chống lại mình…” [43, tr.250] Hòa theo phong trào đấu tranh vũ trang
“chống Pháp chẳng nghe Thiên tử chiếu” Nho giáo ở Nam Kỳ kết dính tinh thần cũng như truyền thống yêu nước, và nhờ vậy mà đã được đông đảo nhân dân địa phương tiếp nhận trong ý nghĩa là một truyền thống để chống lại ách thống trị và bóc lột của thực dân Tuy nhiên cuộc kháng chiến chống xâm lược thất bại đã đẩy Nho giáo ra khỏi địa vị thống trị, nhường chỗ cho những thiết chế mới
“Từ năm 1888 đến 1945, đó là yêu cầu bảo vệ truyền thống văn hóa dân tộc,
đồng thời xây dựng một nền học thuật mới ở Việt Nam trong những điều kiện ngặt nghèo của chế độ thuộc địa” [43, tr.419] Trong khoảng thời gian này chữ quốc
ngữ phát triển, dẫn đến nhiều thay đổi cơ bản trong các hoạt động khoa học, giáo dục và thông tin Cho đến đầu thế kỷ XIX Nho giáo vẫn xuất hiện thường xuyên trong sáng tạo và thẩm định, tổng kết và bảo lưu các giá trị tinh thần của xã hội, đặc biệt là ở khu vực nông thôn Nho giáo ở Nam Kỳ giai đoạn này vẫn được vận dụng như một phương tiện nhận thức quan trọng bên cạnh ý nghĩa là một hệ thống
Trang 25kinh nghiệm truyền thống, và vẫn được nhiều tầng lớp xã hội vận dụng như một hệ thống chuẩn mực hành động cũng như ứng xử dù đã bị loại bỏ ở phương diện thiết chế xã hội
1.2 Những nội dung và hình thức chính của văn chương của Nguyễn Đình Chiểu
1.2.1 Tiểu sử Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) tục gọi Đồ Chiểu, sau khi bị mù ông lấy hiệu là Hối Trai Nguyễn Đình Chiểu sinh ra tại làng Tân Khánh, tổng Bình Trị Thượng, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định và mất tại làng An Đức, tổng Bảo An, quận Ba Tri, tỉnh Bến Tre Quê của ông vốn ở xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
Cha của Nguyễn Đình Chiểu là Nguyễn Đình Huy, người xã Bồ Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế Cụ Nguyễn Đình Huy giữ chức thơ lại tại Văn hàn ty Tả quân Lê Văn Duyệt Năm 1802, cụ theo Tả quân Lê Văn Duyệt vào Gia Định, và lấy vợ (Trương Thị Thiệt) rồi sinh con đầu lòng là Nguyễn Đình Chiểu
Từ nhỏ Nguyễn Đình Chiểu sống nề nếp bên cạnh mẹ Ông thường nghe mẹ
kể những câu truyện cổ dân gian và được đi xem hát, qua đó, ông được mẹ giáo dục về những điều thiện ác, trung nịnh, chính tà, nhân nghĩa… Năm lên sáu, bảy tuổi, Nguyễn Đình Chiểu được theo học một ông đồ trong làng Việc nuôi dạy của
mẹ cùng sự giáo dục của người thầy đầu tiên này đã tác động rất lớn đến tư tưởng sau này của ông
Năm 1832, Lê Văn Duyệt chết, cụ Nguyễn Đình Huy bị cách chức Lúc này Nguyễn Đình Chiểu khoảng mười một, mười hai tuổi, được cha đưa ra Huế gửi vào gia đình một quan Thái phó, hàng ngày Nguyễn Đình Chiểu vừa giúp việc vừa học tập Sau một thời gian học tập ở Huế, Nguyễn Đình Chiểu về Sài Gòn tham dự khoa thi Quỹ mão (1843) và đỗ tú tài, lúc này ông 21 tuổi
Năm 1847, ông lại trở ra Huế để chuẩn bị dự kì thi năm Kỷ dậu (1849), trong khi miệt mài ôn tập chờ khoa thi, và ngày thi vừa đến thì Nguyễn Đình Chiều
Trang 26nhận được tin mẹ ông đã qua đời tại Sài Gòn (1848) Ông bỏ thi về chịu tang mẹ, giữa đường vì buồn và khóc thương mẹ nên mắc chứng đau mắt Ông đã phải xin trọ tại nhà của một người thầy thuốc thuộc dòng ngự y ở Quảng Nam để chữa bệnh Nhưng vì bệnh quá nặng nên đôi mắt của ông từ ấy vĩnh viễn không còn nhìn được nữa Cũng chính trong thời gian ở đây ông đã học nghề thuốc Đây cũng là khoảng thời gian ông bị vị hôn thê bội ước Năm 1851, khi mãn tang mẹ, Nguyễn Đình Chiểu mở trường dạy học và làm thuốc Khoảng năm 1854, ông lấy vợ Từ
đó trong gần chục năm, ông vừa dạy học, làm thuốc, vừa sáng tác
Năm 1859, quân Pháp sau khi đánh chiếm Đà Nẵng đã kéo vào Sài Gòn và chiếm Gia Định Từ đây ông bắt đầu sáng tác những tác phẩm gắn liền với từng sự kiện chống giặc ngoại xâm của đất nước
Năm 1859, thành Gia Định thất thủ, Nguyễn Đình Chiểu dọn về ở tại quê vợ thuộc Cần Giuộc Lúc này ông tiếp tục dạy học, làm thuốc và sáng tác thơ văn yêu nước
Sau hàng ước 1862, triều đình Nguyễn giao ba tỉnh miền Đông cho giặc Pháp, Nguyễn Đình Chiểu không thể sống trong vùng giặc chiếm đóng nên đã dọn
về ở tại Ba Tri, Bến Tre
Năm 1888, khi nghe tin Hàm Nghi bị bắt, ông đau buồn vô hạn, lại vốn mang bệnh, cơ thể hao mòn, ông trút hơi thở cuối cùng vào ngày 3-7
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu
Nguyễn Đình Chiểu là tác giả có sự nghiệp văn chương gắn liền với những biến cố của cuộc đời mình và biến cố của đất nước, của Nam Kỳ
Giai đoạn đầu: Thời kỳ Pháp chưa xâm lược Nam Kỳ
Có thể nói Lục Vân Tiên là tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Đình Chiểu
trong thời kỳ trước khi Pháp xâm lược Nam Kỳ Đây là một tác phẩm có yếu tố tự truyện nhưng nó không phải để giải quyết bi kịch của cá nhân, hoặc gửi gắm tâm
Trang 27sự riêng mà qua đây, Nguyễn Đình Chiểu muốn đề cao đạo đức trong đời sống xã hội Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Đình Chiểu phản ánh cuộc giao tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa chính nghĩa và phi nghĩa để ông khẳng định chắc chắn rằng: cái thiện, cái chính nghĩa luôn luôn thắng cái ác, cái phi nghĩa Theo Nguyễn Đình Chiểu, đã là con người thì trung với vua, hiếu với cha mẹ, thầy trò phải sống với nhau vì nghĩa, vợ chồng phải chung thủy, coi trọng bạn bè và hết lòng giúp dân giúp nước
Trong giai đoạn này, Nguyễn Đình Chiểu còn sáng tác Dương Từ - Hà Mậu,
nhưng khi thực dân Pháp vào xâm lược Nam Kỳ, tác phẩm này đã được ông sửa lại
để phù hợp với thực tế mới
Giai đoạn hai: Sau khi Pháp xâm lược Nam Kỳ
Nếu giai đoạn trước Nguyễn Đình Chiểu nêu cao ngọn cờ bảo vệ đạo đức của con người trong xã hội thì đến giai đoạn thứ hai này, ông tập trung vào thể hiện tinh thần yêu nước của nhân dân, đặc biệt là người nông dân và bên cạnh đó thì vấn đề bảo vệ đạo đức vẫn được nêu lên
Trần Văn Giàu viết: “Nguyễn Đình Chiểu chiếm đỉnh cao nhất trong lãnh
vực văn chương yêu nước, một loại văn chương cao quý mà chính Nguyễn Đình Chiểu là vị khai sáng Văn chương yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu được tiêu biểu rực rỡ bởi các bài văn tế và hi ̣ch” [60, tr.48] Nguyễn Đình Chiểu đã dùng thơ
văn làm vũ khí chiến đấu Hai câu thơ trong Dương Từ - Hà Mậu nói lên ý chí,
lòng yêu nước, sự căm phẫn của ông đối với giặc:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà
Ông kêu gọi đánh giặc, ông kêu gọi không hợp tác với giặc, ông tố cáo, vạch trần tội ác của giặc Ông phản ánh, ca ngợi những con người kiên cường, bất khuất, bền gan chiến đấu, hi sinh oanh liệt
Trang 28Để ca ngợi, ghi công các tướng lĩnh đã không tiếc mạng sống của mình mà
đứng về phía nhân dân chống giặc, Nguyễn Đình Chiểu đã viết Văn điếu Trương
Định, Thơ điếu Phan Tòng để ca ngợi tấm gương yêu nước và sự hi sinh dũng cảm,
làm động lòng bao nhiêu thế hệ người dân Chia sẻ, đồng cảm với những mất mát
đau thương của những người dân nghèo khổ vô tội, ông đã viết Văn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc, Văn tế nghĩa sĩ Lục tỉnh trận vong Trong đó, ông miêu tả nỗi đau đơn của
những người dân vô tội khi bị đánh đập, tra khảo, bắn giết làm cho người đọc không khỏi xót xa Tác phẩm cuối cùng trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình
Chiểu là Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca Trước nỗi đau mất nước, nhân dân lầm
than, xã hội loạn lạc, ông viết tác phẩm cuối cùng để nhắn nhủ con người trong xã hội phải biết yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ những người nghèo khổ Và ông luôn
hi vọng, một ngày không xa, đất nước sẽ thái bình để người dân được hưởng ấm
no, hạnh phúc
Toàn bộ thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu luôn chiến đấu cho chính nghĩa, cho đạo đức, chống lại gian tà Lý tưởng chủ đạo của Nguyễn Đình Chiểu là trung
hiếu tiết nghĩa, yêu nước thương dân, “cho nên, ngày đưa linh cụ, một cánh đồng
Ba –tri rợp trắng những khăn tang; môn đệ, bệnh nhân, đồng bào vĩnh biệt một con người mà cuộc đời trọn vẹn là tấm gương, chí công mài sắt, phục vụ không điều kiện, phò đời cứu dân, tấm gương tiết nghĩa dũng cảm !” [60, tr.47]
Nguyễn Đình Chiểu viết khá nhiều thể loại, riêng truyện thơ Nôm ông để lại
ba tác phẩm truyện Nôm với dung lượng lớn, Lục Vân Tiên gồm 2080 câu thơ lục bát, Dương Từ - Hà Mậu gồm 3456 câu thơ lục bát, Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn
ca gồm có 1822 câu lục bát cộng với 11 bài thất ngôn bát cú, 11 bài thất ngôn tuyệt
cú, 1 bài phú, 1 bài tự truyện, 2 bài luận và 100 bài ca Với dung lượng như vậy, chắc hẳn Nguyễn Đình Chiểu đã gửi gắm vào đó rất nhiều quan niệm, tư tưởng, tình cảm của mình
Trang 29Tiểu kết:
Qua chương 1, chúng tôi tìm hiểu và đưa ra những đặc điểm sơ bộ về vùng đất Nam Kỳ từ khi mới hình thành với những đặc điểm về nguồn gốc dân cư, tập quán, thói quen, tín ngưỡng – tôn giáo bởi đó là những yếu tố quan trọng hình thành nên truyền thống văn hóa, văn học ở vùng đất này Việc ưa chuộng chất dân
dã, thích nghệ thuật trình diễn, trọng khí tiết, chính nghĩa bắt nguồn từ đặc điểm về văn hóa, lối sống của vùng miền
Nguyễn Đình Chiểu có cuộc sống gắn bó với tầng lớp nhân dân lao động tại Nam Kỳ Những sáng tác của ông hướng đến là tầng lớp nhân dân lao động Đồng thời, là một nhà nho, lựa chọn sống và sáng tác văn chương của Nguyễn Đình Chiểu cũng được đặt trên nền tảng Nho giáo với những nét riêng vùng miền Do
đó, việc khảo sát cộng đồng dân cư ở Nam Kỳ và đời sống tinh thần của họ giúp chúng ta hiểu thêm quan niệm, tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu thể hiện trong truyện thơ Nôm mà chúng tôi sẽ trình bày một cách kỹ lưỡng ở chương 2
Trang 30Truyện Nôm được chia thành hai loại, truyện Nôm bác học và truyện Nôm
bình dân Truyện Nôm bác học phần lớn có tên tác giả Những tác giả này thuộc
tầng lớp trên của xã hội, đó là tầng lớp phong kiến quý tộc Họ thường lấy đề tài
dựa theo cốt truyện trong văn học cổ của Trung Quốc Truyện Nôm bình dân là những truyện hầu hết khuyết danh Tác giả thuộc tầng lớp dưới “Họ là những nho
sĩ trí thức bình dân, phần lớn có lẽ là các ông đồ dạy học ở vùng nông thôn” [21,
tr.507], nên tác phẩm của họ hầu hết được viết dựa trên cốt truyện dân gian Kiều
Thu Hoạch cho rằng: “Truyện Nôm bình dân phần nhiều do tầng lớp trí thức bình
dân sáng tác Đó là những ông đồ quê, chữ nghĩa chỉ đủ để gõ đầu trẻ kiếm ăn Đó
là những hàn sĩ lỡ dở đường công danh “văn chương chữ nghĩa chẳng hay…” Đó cũng có thể là những người nghệ nhân tuy chữ nghĩa chẳng có là bao, nhưng lại
có tài bẻ vè đặt chuyện Nói chung họ đều là những người sống gần gũi với quần chúng lao động, những người nông dân và những thợ thủ công Vì vậy, ngôn ngữ tác phẩm thường bình dị, mộc mạc, ít dùng điển cố và từ Hán, thảng hoặc có dùng thì cũng là những điển, những từ đã được Việt hóa, hoặc đã quen thuộc trong thơ
ca dân gian” [15, tr.222]
Trang 31Về đề tài, truyện Nôm thường tập trung vào những vấn đề đạo lý, thể hiện khát vọng tình yêu tự do vượt ra khỏi lễ giáo hà khắc Tác giả của truyện Nôm bác học khai thác cốt truyện của Trung Quốc và thể hiện các nhân vật theo kiểu tài tử - giai nhân Theo Trần Đình Hượu thì tài tử là nhân vật nam có tài văn võ, giỏi “cầm
kỳ thi họa” Người tài tử không chỉ đẹp trai mà còn rất phong tình Họ mơ ước công danh, nhưng không để ra làm quan, giúp dân, giúp nước mà là để thể hiện tài năng và thị tình Người tài tử luôn mong muốn có một tình yêu đẹp Giai nhân là nhân vật nữ có sắc đẹp và giỏi thơ, phú, đàn, họa và cũng có thể biết uống rượu đồng thời cũng khao khát có được tình yêu Ngược lại, với truyện Nôm bình dân xây dựng cặp trai anh hùng – gái thuyền quyên Nhân vật nam thường là những chàng học trò nghèo nhưng ham học và đạt được công danh để phò vua giúp nước, trong tình yêu họ rất mực chung thủy, không thay lòng đổi dạ cho dù khi đã trở nên cao sang, vương giả Nhân vật nữ thường là những người đẹp người lại đẹp nết, trọng hiếu, trọng tiết, chung thủy, đảm đang, kiên trinh đợi chờ chồng [63]
Ngoài đề tài về tình yêu đôi lứa, truyện Nôm còn phản ánh những bất công trong xã hội phong kiến cổ hủ lạc hậu, đề cao người phụ nữ và đặc biệt là tố cáo tội
ác man rợ, vạch trần những bộ mặt xấu xa, bỉ ổi của đám vua quan phong kiến Chưa hết, những người dân nghèo, những người ăn xin, tầng lớp thấp nhất của xã hội cũng là đối tượng mà truyện Nôm bình dân quan tâm
Về cốt truyện, “mở đầu truyện bao giờ cũng là cảnh trai gái gặp gỡ và hẹn
ước; sau đó họ gặp những trắc trở làm cho hai người phải chia ly; rồi cuối cùng
họ lại được cùng nhau đoàn tụ trong hạnh phúc gia đình êm ấm” [15, tr.192] Kết
thúc có hậu nhằm thỏa mãn mong muốn của những người dân nghèo trước những bất công trong xã hội
Yếu tố thần kỳ là một thủ pháp nghệ thuật không thể thiếu được trong quá trình sáng tác truyện Nôm Yếu tố này xuất hiện nhằm trợ giúp cho nhân vật chính diện vượt khỏi những khó khăn để đến với hạnh phúc, trong khi đó, với nhân vật phản diện, yếu tố thần kỳ được sử dụng để trừng phạt
Trang 32Một đặc điểm quan trọng nữa của truyện Nôm là có câu mở đầu và những lời kết thúc đều mang triết lý nhân sinh
Cốt truyện và tính thuật sự là hai đặc điểm nổi trội ở thể loại truyện Nôm,
nhất là truyện Nôm bình dân “Có thể nói, truyện Nôm bình dân sinh ra là để kể,
do đó mà ngôn ngữ tác phẩm cũng chủ yếu là ngôn ngữ kể chuyện Truyện Nôm bác học đương nhiên cũng lấy việc kể chuyện làm đầu: nhưng do tác giả thường là người có trình độ tu dưỡng nghệ thuật cao, cho nên họ quan tâm hơn đến việc văn chương, quan tâm hơn đến ngôn ngữ nghệ thuật” [15, tr.223] Chính vì vậy, trong
truyện Nôm bình dân, ngôn ngữ nói được sử dụng nhiều hơn ngôn ngữ viết “…
khác với truyện Nôm bác học, truyện Nôm bình dân thường sử dụng một ngôn ngữ giàu chất sống, mộc mạc, nôm na, có nhiều khẩu ngữ, nhiều thành ngữ, tục ngữ
Đó là thứ ngôn ngữ hàng ngày, ít lối nói cách điệu hóa, ít điển cố và từ Hán Việt Tuy nhiên, trong truyện Nôm bình dân, ngôn ngữ thường chưa được trau chuốt, chưa được gia công nghệ thuật nhiều” [15, tr.522]
Nhân vật trong truyện Nôm, đặc biệt là truyện Nôm bình dân, không được miêu tả kỹ về ngoại hình cũng như không được khắc họa rõ về mặt nội tâm Các nhân vật được nhận diện tốt hay xấu nhờ vào ngôn ngữ đối thoại hoặc độc thoại và hành động Vì vậy chúng ta thấy, ngôn ngữ độc thoại và đối thoại chiếm vị trí rất quan trọng trong truyện Nôm, và đa phần nhân vật trong truyện Nôm đều chưa có tính cách rõ rêt
2.1 Những câu chuyện của Nguyễn Đình Chiểu
Chúng ta đã biết, đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu
là thơ văn yêu nước với những bài văn tế, thơ điếu đưa ông trở thành nhà văn, nhà thơ yêu nước hàng đầu Tuy nhiên, thành công trong sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu không chỉ có vậy, ông còn để lại dấu ấn của mình với thể loại truyện Nôm
Lục Vân Tiên là tác phẩm đầu tiên của Nguyễn Đình Chiểu Trong tác phẩm
này, chúng ta thấy có yếu tố tự truyện
Trang 33Lục Vân Tiên là một học trò nghèo, có đức, có tài, văn võ song toàn Trên đường đi thi chàng gặp bọn cướp bắt Kiều Nguyệt Nga nên đánh tan lũ cướp cứu nàng Cảm động trước hành động dũng cảm, hào hiệp của Vân Tiên và vì Vân Tiên
“làm ơn há dễ trông người trả ơn”, Nguyệt Nga đã nguyện gắn bó cả đời với Lục
Vân Tiên Từ đó, Nguyệt Nga nguyện coi Vân Tiên là chồng và sống trọn tình, trọn nghĩa với Vân Tiên: nàng giúp đỡ Lục ông; khi phải đi cống Phiên, Nguyệt Nga đã dùng cái chết để giữ trọn trinh tiết; trốn vào rừng khi bị cha con Bùi Kiệm
ép duyên…
Đối lập với Vân Tiên, Nguyệt Nga và những người bạn chính trực, tốt bụng như Tử Trực, Hớn Minh; những tôi tớ hết lòng với chủ như Tiểu đồng, Kim Liên; những người sống trọn đời vì lẽ phải, vì nhân nghĩa như ông Quán, ông Ngư là gia đình nhà Võ Công, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm Gia đình Võ Công ham lợi mà bội ước, bất nhân đẩy Vân Tiên đến cái chết Người đời sẽ nhớ mãi và hả hê vì Võ Công chết trong nhục nhã, mẹ con Võ Thể Loan bị cọp tha Trịnh Hâm đang tâm trói Tiểu đồng trong rừng, đẩy Vân Tiên xuống sông thì cuối cùng cũng bị sóng vùi, cá nuốt Cha con Bùi Kiệm vì xấu hổ phải bỏ xứ mà đi
Thông qua hành động của ông Ngư, ông Tiều, đặc biệt là lời nói của ông Quán, Nguyễn Đình Chiểu nêu lên chân lý của cuộc sống ngàn đời “ở hiền gặp
lành, ác giả ác báo” Ông “ghét cay ghét đắng ghét vào tận tâm” những con người
sống không có tình người, không có trách nhiệm với xã hội, trong đó có cả những vua quan hung bạo, không biết lo cho dân cho nước
Dương Từ - Hà Mậu được Nguyễn Đình Chiểu viết để bảo vệ Nho giáo trước
sự xâm nhập của các tôn giáo khác, từ đó vạch trần âm mưu xâm lược của thực dân Pháp và nêu cao trách nhiệm của con người đối với gia đình, xã hội Tác phẩm xoay quanh hai nhân vật chính là Dương Từ và Hà Mậu Dương từ theo đạo Phật,
Hà Mậu theo Công giáo, nhưng cả hai đều hoài nghi về tôn giáo của mình và muốn
đi tìm chính đạo
Trang 34Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Đình Chiểu phản ánh ba tư tưởng – tôn giáo đó là Nho giáo, Thiên chúa giáo và Phật giáo Ông để cho Dương Từ và Hà Mậu đi khắp năm tầng trời: Thanh thiên, Xích thiên, Bạch thiên, Hắc thiên, Trung thiên nhưng chỉ thấy Khổng Tử chứ không hề thấy cổ nhân của đạo mình Họ tiếp tục đi xuống Địa ngục Ở đây, Dương Từ, Hà Mậu chứng kiến cảnh trừng phạt ghê rợn như bị bầy chó dữ nhai đầu ăn gan, mãng xà cắn thây…
Qua các ngục, họ thấy rất nhiều loại người bị hành tội: Bọn đồng bóng lừa người, bọn lang băm và bà mụ dốt làm người chết oan, bọn loạn luân, bọn con bất hiếu, bọn cho vay nặng lại, bọn trộm cướp giết người, bọn thơ lại và hoạn quan sâu dân mọt nước, bầy tội gian tà, bất trung Khác với lúc lên Thiên đường, ở đây Dương Từ, Hà Mậu lại gặp rất nhiều người quen: Châu Phan, chú ruột vị danh y Châu Kỳ, vì cắt lầm thuốc, hại oan mạng người, bị cho hóa kiếp làm dê đã nhờ Hà Mậu về nói với Châu Kỳ đốt kinh và trau dồi đạo Nho; hòa thượng Trần Kỷ bị ném cho rắn ăn tươi rồi hóa làm trâu trong chín kiếp Tại đây, Hà Mậu gặp ông nội của mình là Hà Năng, trước khi bị hành tội, Hà Năng không quên dặn Hà Mậu về nói với họ hàng bỏ đạo Thiên chúa để theo đạo Nho
Khi Dương Từ và Hà Mậu trở về trần gian, Xuân Tuyết và Thu Băng, con gái của Hà Mậu cùng Dương Trân và Dương Bửu, con trai của Dương Từ đã kết hôn với nhau và từ bỏ Phật giáo và Thiên chúa giáo để theo đạo Nho
Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca kể về hai nhân vật là Mộng Thê Triền và Bào
Tử Phược, vì đất U Yên bị chia cắt nên về làm ẩn sĩ Mộng Thê Triền làm tiều phu, Dương Tử Phược làm nghề chài lưới Vợ con ốm đau, chết chóc, nên họ đi tìm Nhân Sư để học nghề thuốc Nhân Sư là một danh y đồng thời cũng là một nhà yêu nước đã xông mù mắt để khỏi trông thấy cảnh nước mất nhà tan, và để từ chối chức ngự y mà quân xâm lược sắp ban cho ông
Để đi đến Đan Kỳ là nơi Nhân Sư ở, Ngư và Tiều đã trải qua nhiều chặng đường như ải Nhân Xu, truông Âm Chất, am Bảo Dưỡng… Trên đường đi, họ gặp hai người bạn cũ của mình và cũng là đệ tử của Nhân Sư đó là Chu Đạo Dẫn và
Trang 35Đường Nhập Môn Đạo Dẫn và Nhập Môn giảng giải cho Ngư và Tiều rất nhiều về nghề thuốc và đức làm người
Giữa đường, Đạo Dẫn đi tu tiên, Ngư và Tiều theo Nhập Môn tiếp tục đến Đan Kỳ tìm Nhân Sư Đến Đan Kỳ, họ gặp lại Đạo Dẫn và được Đạo Dẫn cho biết
vì vua Liêu nghe tiếng Nhân Sư giỏi chữa bệnh nên đến mời Nhân Sư vào làm ngự
y, nhưng Nhân Sư không để kẻ thù lợi dụng nên đã xông mù mắt, rồi lánh về ở Thiên Thai Tuy Ngư và Tiều không được gặp Nhân Sư, nhưng Nhân Sư đã để lại hai bài dạy phép dùng thuốc, họ nhận hai bài thuốc đó rồi trở về quê
Trên đường trở về Ngư, Tiều bị lạc trong rừng nên vào trong miếu ngủ và mơ màng thấy một toán quân dẫn thầy pháp, lang băm,… đi xử án vì ham tiền, chữa không đúng bệnh làm hại đến tính mạng của người dân Tỉnh ra, Ngư, Tiều mới biết đó là những lời răn, do đó khi về nhà, cả hai ra công học thuốc cho thật giỏi Ngư chữa bệnh nhi khoa, Tiều chữa bệnh phụ khoa Họ đều trở thành những thầy thuốc lành nghề và chân chính
Ba tác phẩm với ba cốt truyện khác nhau, chuyển tải những nội dung riêng nhưng cùng chung một mục đích, Nguyễn Đình Chiểu muốn bảo vệ đạo đức truyền thống, bảo vệ Nho giáo, bảo vệ đất nước
2.1.1 Câu chuyện tình yêu
Cũng như hầu hết các truyện Nôm trước Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu
xây dựng tác phẩm của mình xung quanh tình yêu của đôi nam nữ Tuy nhiên, tình yêu giữa Lục Vân Tiên và Nguyệt Nga khác với tình yêu của Thúy Kiều – Kim
Trọng trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du, khác với Lương Sinh và Dao Tiên trong tác phẩm Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự, và cũng khác với Phạm Kim
và Quỳnh Thư trong tác phẩm Sơ kính tân trang của Phạm Thái – những cặp đôi
tài tử giai nhân của một loại truyện Nôm đặc biệt Trong loại truyện Nôm này, cặp trai tài gái sắc thường được miêu tả trong tình yêu đôi lứa, họ khao khát được thể hiện, được sống với tình yêu của mình Họ yêu nhau từ cái nhìn đầu tiên và tìm
Trang 36mọi cách để được gặp nhau Họ có thể vượt qua những cản trở của lễ giáo để thỏa mãn cảm xúc yêu đương
Trong Sơ kính tân trang, Phạm Thái xây dựng mối tình giữa chàng Phạm
Kim và Quỳnh Thư với tình yêu vô cùng mãnh liệt Không chỉ có Phạm Kim đi tìm, săn đón tình yêu mà ngay cà nàng Quỳnh Thư cũng vô cùng sôi nổi và táo bạo Phạm Kim gửi cho Quỳnh Thư bức thư tình với những lời yêu thương chứa tran, ngọt ngào:
“Oanh yến véo von gọi khách,
Cỏ hoa hớn hở mừng ai, Gió xuân hây hẩy giục đưa người,
Dễ khiến lòng thơ bối rối
Thấp thoáng thoi oanh dệt liễu, Thung thăng phấn bướm dồi mai.”
Hay:
“Lửa ân dập mãi sao không tắt
Bể ái khơi mà cũng chẳng vơi…”
Nhận được thơ của Phạm Thái, Quỳnh Thư không e dè mà đáp lại:
“Im ỉm màn sương đợi khách
Thênh thang cửa nguyệt chờ ai
Giai nhân tài tử mấy lăm người?
Trạnh tưởng tâm tình thêm rối…”
Nguyễn Du với cặp Kim Kiều cũng có một lối biểu tả như vậy
Trang 37Nhưng khi xây dựng cuộc gặp gỡ giữa Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga Nguyễn Đình Chiểu không để cho họ sống trong tình cảm yêu đương đôi lứa Đặc biệt đối với Lục Vân Tiên, trước khi nghe cha kể về những việc làm của Nguyệt Nga, không có đoạn nào Nguyễn Đình Chiểu để Vân Tiên nghĩ tới Nguyệt Nga Trong lần gặp gỡ đầu tiên, ngay cả việc nhìn Nguyệt Nga, Vân Tiên cũng không làm và còn nhắc Nguyệt Nga:
“Khoan khoan ngồi đó chớ ra, Nàng là phận gái ta là phận trai.”
Từ giã Nguyệt Nga, Vân Tiên nghe theo cha mẹ nhận lời giao ước với Võ Thể Loan và rồi quyết chí thực thi con đường công danh của mình Không may gặp nạn, Vân Tiên vẫn chỉ nhớ tới gia đình Võ Thể Loan, tới mối nhân duyên do cha
mẹ định Đến khi biết tình nghĩa của Nguyệt Nga,Vân Tiên xúc động, cảm thương, tôn trọng Nguyệt Nga bởi cách cư xử trọng tình, trọng nghĩa, trọng hiếu, trọng trung, chứ không phải vì xao xuyến vì vẻ đẹp của Nguyệt Nga
Về phần Nguyệt Nga, sau khi được Vân Tiên cứu, vì cảm phục hành động trượng nghĩa của Vân Tiên mà “vương chữ tình” và vì thế, nàng nguyện gắn bó với
ân nhân của mình Ở Nguyệt Nga, tình yêu gắn liền với nghĩa, đạo vợ chồng chứ không phải là sự khao khát cảm xúc đôi lứa Khi biết tin Vân Tiên chết, Nguyệt Nga vì tình nghĩa vợ chồng mà về làm lễ cho Vân Tiên, và vì đạo làm con mà giúp Lục ông Chúng ta không khỏi bùi ngùi, thương xót và cảm phục tấm lòng của Nguyệt Nga:
“Ngày lành giờ Ngọ đăng đàn,
Ăn chay nằm đất cho chàng Vân Tiên.”
“Bảy ngày rồi việc ma chay,
Lại đem tiền bạc tạ rày Lục ông:
Trông chồng mà chẳng thấy chồng,
Trang 38Đã đành một nỗi má hồng vô duyên
Rày vua gả thiếp về Phiên, Quyết lòng xuống chốn cửu tuyền thấy nhau
Chẳng chi cũng gọi con dâu, Rộng lo nợ nước phải sau tình nhà
Một ngày một bước một xa, Của này để lại cho cha dưỡng già.”
Nguyệt Nga quyết thủ tiết với Vân Tiên nên đã tự tử trên đường đi đến nước
Ô Qua:
“Vân Tiên anh hỡi có hay,
Thiếp nguyền một tấm lòng ngay với chàng !
Than rồi lấy tượng vai mang, Nhằm dòng nước chảy vội vàng nhảy ngay.”
Nếu các cặp đôi khác của truyện Nôm đến với nhau bởi tình yêu thì Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga lại gắn kết với nhau bởi nghĩa Vân Tiên cứu Nguyệt Nga là một hành động rất tự nhiên như bản năng vốn có, nhưng hành động trượng nghĩa đó lại tạo được ấn tượng mạnh đối với Nguyệt Nga, và vì hành động đó mà Nguyệt Nga đã nguyện làm vợ Vân Tiên Sau này, cũng như Lục Vân Tiên, Nguyệt Nga làm lễ cho Vân Tiên, giúp đỡ Lục ông cũng là những hành động vô cùng tự nhiên và Vân Tiên cũng lại cảm phục Nguyệt Nga vì hành động mang đầy nghĩa tình đó Và nhờ nghĩa tình mà hai người có thể đến với nhau một cách toàn vẹn Dù nói đến cái tình, và câu chuyện xoay quanh hai nhân vật với mối tình chung thủy, nhưng ở đây, Nguyễn Đình Chiểu không đề cao khát khao yêu đương của cá nhân, mà là thể hiện con người ở mặt đạo đức, nhân nghĩa Tình cảm nảy sinh, duy trì, nuôi dưỡng bởi cách sống có tính có nghĩa, vẹn đức vẹn tài
Trang 39Trong cả ba truyện Nôm của mình, Nguyễn Đình Chiểu đều có câu chuyện
tình yêu, tình cảm gia đình nhưng trong đó chỉ có Lục Vân Tiên là truyện nói về chủ đề tình yêu đôi lứa Trong truyện Dương Từ - Hà Mậu, tác giả có nói về tình
yêu của Xuân Tuyết, Thu Băng và Dương Trân, Dương Bửu, nhưng đây không
phải là nội dung chính mà chỉ xuất hiện ở phần cuối của tác phẩm Dương Từ - Hà
Mậu là tác phẩm chủ yếu nói việc chọn đạo, Nguyễn Đình Chiểu viết tác phẩm là
muốn con người hướng đến Nho giáo, bài bác đạo Phật và đạo Thiên chúa Trong
tác phẩm Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca, ngoài nội dung dạy nghề làm thuốc,
Nguyễn Đình Chiểu thông qua đó thể hiện lòng yêu nước, thương dân trong cảnh loạn lạc, và muốn giáo dục những người thầy thuốc, giữ đúng đạo của mình để cứu dân độ thế
Ở hai tác phẩm đó, Nguyễn Đình Chiểu không cho nhân vật của mình thể hiện tình yêu cá nhân, mà tình yêu này gắn liền với đạo đức xã hội Tình yêu phải gắn với Trung, Hiếu, Tiết Nghĩa Nếu các tác giả thuộc tầng lớp quý tộc cảm thấy chật chội, gò bó bởi luật lệ hủ tục của thời phong kiến suy tàn, thì Nguyễn Đình Chiểu là nhà Nho có cuộc sống gần gũi với nhân dân, vì vậy đời sống không bị ngột ngạt bởi luật lệ, hủ tục của phong kiến Hơn nữa, đối với những người dân lao động nghèo khổ, có lẽ, tình yêu không phải là thứ duy nhất mà họ quan tâm Và
Nguyễn Đình Chiểu luôn ý thức “văn học có một nguồn gốc thiêng liêng, một chức
năng xã hội cao cả, tổ chức, hoàn thiện con người, hoàn thiện xã hội” [63, tr.36]
Vì thế, dù Lục Vân Tiên nói đến tình yêu đôi lứa, thì tình yêu này là để treo gương
cho con người trong xã hội Là tình yêu cá nhân nhưng đồng thời đi song hành, chịu ảnh hưởng của các mối quan hệ trong xã hội Với Nguyễn Đình Chiểu, hạnh phúc lứa đôi viên mãn khi họ đã thực hiện đúng và đủ tránh nhiệm của mình đối với người và với đời
Theo Trần Ngọc Vương: “Chủ đề quán xuyến toàn bộ sáng tác của Nguyễn
Đình Chiểu, vừa thể hiện lý tưởng chính trị xã hội của ông, vừa định hướng đam
mê của ông, hơn thế quy định hành vi đời sống của ông, là chủ đề bảo vệ và thực hành Nho giáo” [35, tr.25] Do đó, chúng ta thấy, không có một nhà nho khó tính
Trang 40nào có thể bắt bẻ được Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Tử Trực, Hớn Minh, Tiểu
đồng… Bên cạnh đó, Dương Từ - Hà Mậu, Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca là
những tác phẩm đề cao cách hành xử theo chuẩn mực của Nho giáo Nguyễn Đình Chiểu dùng cả cuộc đời của mình để bảo vệ Nho giáo, vì vậy Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga của ông không lẫn với Kim Trọng, Thúy Kiều, Lương Sinh, Đạo Tiên, Phạm Thái, Quỳnh Thư
Tình hình lịch sử - xã hội cuối thế kỷ XIX cũng là lý do tác động đến chủ đề trong sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu Văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX dùng để thể hiện tình yêu nước, yêu dân tộc Giai đoạn này Pháp xâm lược nước ta, tầng lớp thống trị mục nát và làm tay sai cho giặc, nhân dân lâm vào cảnh nước mất nhà tan Tình hình chính trị đòi hỏi những nhà nho yêu nước đứng về phía nhân dân để đấu tranh Vì vậy, chủ đề yêu nước trong văn học thời kỳ này phát triển mạnh mẽ Nếu cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX con người cá nhân được đặc biệt quan tâm, thì đến cuối thế kỷ XIX, lại đề cao con người sống theo bổn phận và nghĩa vụ, thủ tiêu cá nhân Cuối thế kỷ XIX, con người không phải là những giai nhân – tài tử hào hoa lịch thiệp, yêu đương tự do, đối lập với quan niệm khắt khe của Nho giáo, cũng không phải người anh hùng tung hoành ngang dọc mà
là những người yêu nước chống Pháp, những anh hùng chân chính của nhân dân, giúp dân giúp nước chống giặc ngoại xâm và bảo vệ đất nước
Những luận điểm trên cho chúng ta cái nhìn bao quát quan niệm của Nguyễn
Đình Chiểu về tình yêu đôi lứa và cũng có thể cắt nghĩa được tại sao Dương Từ -
Hà Mậu, Ngư Tiều vấn đáp nho y diễn ca không tập trung thể hiện chủ đề tình yêu
đôi lứa
2.1.2 Chủ đề đạo nghĩa
Là một nhà nho thấm nhuần tư tưởng của Khổng Tử nên Nguyễn Đình Chiểu muốn xã hội phát triển theo đường hướng đức trị Ba truyện Nôm của ông được sáng tác ở những thời điểm khác nhau trong giai đoạn lịch sử - xã hội đầy biến động Vì thế, ở mỗi một tác phẩm, đạo nghĩa theo quan niệm của ông được nhấn mạnh ở các phương diện khác nhau