1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát sự nghiệp dịch thuật và trước tác của Tùng Vân - Nguyễn Đôn Phục trên Nam phong tạp chí

112 510 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 828,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch sử vấn đề Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục như lúc đầu đã giới thiệu ông là một tác giả “có công” trên Nam Phong tạp chí tuy nhiên những bài nghiên cứu về ông còn thưa thớt.. Mục tiêu ng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐỖ THỊ LAN

KHẢO SÁT SỰ NGHIỆP DỊCH THUẬT VÀ TRƯỚC TÁC CỦA TÙNG VÂN – NGUYỄN ĐÔN

PHỤC TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐỖ THỊ LAN

KHẢO SÁT SỰ NGHIỆP DỊCH THUẬT VÀ TRƯỚC TÁC CỦA TÙNG VÂN – NGUYỄN ĐÔN

PHỤC TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Ngọc Vương

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được hoàn hành tại khoa Văn học trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trần Ngọc Vương

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến các thầy cô khoa Văn học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, đến gia đình và bạn bè đã giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, hoàn thành luận văn Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết

ơn tới thầy giáo hướng dẫn – GS.TS Trần Ngọc Vương, đã tận tình hướng dẫn, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Hà Nội, tháng 12 năm 2014

Tác giả luận văn

Đỗ Thị Lan

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

1 Lí do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 4

3 Mục tiêu nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 6

7 Giới thiệu luận văn 6

CHƯƠNG I: ĐỘI NGŨ TÁC GIẢ TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ VÀ ĐÔI NÉT VỀ TÙNG VÂN NGUYỄN ĐÔN PHỤC 8

1.Đôi nét về Nam Phong tạp chí 1917 – 1934 8

2.Lực lượng trước tác trên Nam Phong tạp chí 12

3.Tiểu sử, con người và sự nghiệp của Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục trên Nam Phong tạp chí 34

3.1 Đôi nét về tiểu sử của Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục 34

3.2 Những quan niệm về chữ nho, chữ quốc ngữ và quốc văn đương thời của nhà nho Nguyễn Đôn Phục 36

3.3 Sự nghiệp của Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục trên Nam Phong tạp chí.39 Tiểu kết 40

CHƯƠNG II: SỰ NGHIỆP DỊCH THUẬT VÀ BIÊN KHẢO CỦA TÙNG VÂN NGUYỄN ĐÔN PHỤC TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ 42

1 Đôi nét về tình hình dịch thuật trên Nam Phong tạp chí 42

2 Sự nghiệp dịch thuật của Nguyễn Đôn Phục trên Nam Phong tạp chí 46

2.1 Hệ thống những tác phẩm dịch của Nguyễn Đôn Phục trên Nam Phong tạp chí 46

Trang 5

2.2 Nét khác biệt trong việc dịch thuật của Tùng Vân trên Nam Phong

tạp chí so với đồng sự 55

3 Khảo cứu của Nguyễn Đôn phục trên Nam Phong tạp chí 62

3.1 Khảo cứu về hệ thống nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du và ca trù dân tộc 62

3.1.1 Khảo cứu về các nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du 62

3.1.2 Khảo cứu về hát ca trù dân tộc 66

3.2 Khảo cứu về nhân vật, lịch sử nước Tàu 69

Tiểu kết: 72

CHƯƠNG III: TRƯỚC TÁC CỦA NGUYỄN ĐÔN PHỤC TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ 73

1 Thể du kí trên Nam Phong tạp chí 73

2 Giá trị những bài kí của Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục trên Nam Phong tạp chí 75

2 1 Giá trị về nội dung 75

2.2 Đặc điểm chung về nghệ thuật những tác phẩm du ký của Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục trên Nam Phong tạp chí 86

3 Giá trị những sáng tác Hài văn của Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục trên Nam Phong tạp chí 99

Tiểu kết: 100

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 105

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nguyễn Đôn Phục là một tác giả cộng tác thường xuyên, tên tuổi của

ông xuất rất nhiều trên các trang Nam Phong tạp chí nhưng bạn đọc thế hệ

ngày nay ít người biết đến Ông là một trong số tác giả thuộc kiểu hữu

công vô danh trên Nam Phong tạp chí Không như cây bút chính kiêm chủ

bút Phạm Quỳnh phần chữ Nho, Nguyễn Bá Học phần chữ Hán được

người đọc biết đến bởi những tác giả này có mặt ngay từ khi Nam Phong

tạp chí còn trong thời kì trứng nước, đặt những viên gạch đầu tiên xây

dựng nền móng thành công của Nam Phong, tên tuổi của họ xuất hiện khá

nhiều, những bài báo của họ được tập hợp in thành những tuyển tập lớn vì thế độc giả ngay từ thời kì đó đến nay đều biết đến Không được như vậy nhưng Nguyễn Đôn Phục là một trong số những thành viên chính Ông

xuất hiện lần đầu tiên từ số báo 25 với tác phẩm dịch tiểu thuyết Tàu là Vợ

thầy cử Lư in trang 80 quyển số 5 Tác phẩm dịch đầu tiên đánh dấu mốc

quan trọng đối với sự nghiệp dịch thuật và sáng tác của ông Và từ đó cho tới số báo chót năm 1934 rất hiếm khi ông vắng mặt trên trang báo Với số lượng những bài Nguyễn Đôn Phục cho đăng trên báo khá đồ sộ đã nói

lên phần nào vai trò vị trí của Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục trên Nam

Phong tạp chí

Đến với những bài viết có danh Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục trên

báo Nam Phong ta sẽ thấy được một Nguyễn Đôn Phục am rất nhiều lĩnh

vực Chính vì vậy, ông đã cho ra đời nhiều tác phẩm văn học có giá trị với những bài thơ truyện ngắn hay về thể tài, pha trộn giữa truyền thống và hiện đại

Thực tiễn trên đã thôi thúc chúng tôi – tác giả của luận văn một tình yêu ham mê nghiên cứu, tìm hiểu và khảo lại, khẳng định và đưa Nguyễn

Trang 7

Đôn phục về với những vị trí vai trò quan trọng của ông, xứng đáng với

những gì ông đã cống hiến cho Nam Phong tạp chí

2 Lịch sử vấn đề

Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục như lúc đầu đã giới thiệu ông là một

tác giả “có công” trên Nam Phong tạp chí tuy nhiên những bài nghiên

cứu về ông còn thưa thớt Qua việc sưu tầm và tìm hiểu, chúng tôi gặp những tác phẩm của Nguyễn Đôn Phục xuất hiện trong những phần sau:

- Trong tập: “Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong” Nguyễn Khắc

Xuyên là người đầu tiên dành cho Nguyễn Đôn phục một vài câu chú giải

về một vài bài báo đăng trên tạp chí

- Trong cuốn sách : “Tìm hiểu tạp chí Nam Phong” Phạm Thị Ngoạn

đã giới thiệu tiểu sử và sự nghiệp của Nguyễn Đôn Phục từ trang 77 đến trang 84

- Trong cuốn: “Văn xuôi Hà Tây” do Hồ Phương và Phượng Vũ chủ

biên có dành một trang để giới thiệu về Nguyễn Đôn Phục và sưu tầm bài

“Khảo luận về cuộc hát ả đào” của ông từ trang 17 đến trang 44

- Trong cuốn: “Văn học Việt Nam thế kỷ 20” do Trịnh Bá Đĩnh chủ

biên đã sưu tầm toàn bộ những bài du ký của Tùng Vân từ trang 273 đến

401

- Trong cuốn: “Du ký Việt Nam” tập 1,2, 3 do Nguyễn Hữu Sơn sưu

tầm và giới thiệu đã sưu tầm những bài ký của ông

Tóm lại, trong thực tế các bài nghiên cứu Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục chưa nhiều, hoặc chỉ đề cập ở dạng sưu tầm đơn lẻ, chưa thật sự sâu

sắc và có tính hệ thống Chính vì vậy, đề tài “ Khảo sát sự nghiệp dịch

thuật và trước tác của Tùng Vân – Nguyễn Đôn Phục trên Nam Phong tạp chí” đối với chúng tôi là khá mới mẻ, hấp dẫn Chúng tôi cố gắng hết sức

để có một luận văn nghiên cứu sâu sắc toàn diện về sự nghiệp của Tùng

Vân Nguyễn Đôn Phục trên Nam Phong tạp chí

Trang 8

3 Mục tiêu nghiên cứu

Khảo sát toàn bộ sự nghiệp dịch thuật biên khảo cũng như những

sáng tác văn chương của Nguyễn Đôn Phục trên Nam Phong tạp chí

người viết muốn hướng đến các mục tiêu sau:

- Tìm hiểu tiểu sử con người, sự nghiệp và vị trí của Tùng Vân trên

- Tiến hành so sánh Tùng Vân với một số tác giả cùng thời để

khẳng định rõ được vai trò, sự nghiệp của ông trên tờ báo Nam Phong

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi luận văn, chúng tôi xin giới hạn đối tượng và phạm

vi nghiên cứu chính là toàn bộ những bài biên khảo dịch thuật và những

sáng tác của Nguyễn Đôn Phục trên tạp chí Nam Phong trong suốt thời

gian tồn tại 1917 – 1934

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi đã sử dụng kết hợp khá nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau Nhưng có một số phương pháp được chú trọng tập trung sử dụng như:

5.1 Phương pháp tập hợp thống kê phân loại:

Sự nghiệp biên khảo dịch thuật và sáng tác văn chương của Nguyễn Đôn Phục rất phong phú, đa dạng Phương pháp tập hợp thống kê phân loại sẽ giúp cho việc tập hợp, sắp xếp thống kê các tác phẩm dịch

Trang 9

thuật, sáng tác của Nguyễn Đôn Phục theo từng nhóm, từng vấn đề cần giải quyết để tăng cường tính chính xác khoa học hơn trong nghiên cứu 5.2 Phương pháp hệ thống

Người viết sẽ tập hợp sắp xếp lại những bài dịch, những tác phẩm văn chương của Nguyễn Đôn Phục theo hệ thống đáp ứng yêu cầu của luận văn

5.3 Phương pháp so sánh

So sáng đồng đại: So sánh phần dịch của Nguyễn Đôn Phục với phần dịch của người bạn đồng môn của ông đó chính là Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến để người đọc thấy được những đặc điểm riêng, những thành tựu của Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng nhiều các phương pháp khác trong quá trình nghiên cứu như: phương pháp liệt kê, phương pháp phân tích…

để hỗ trợ cho việc nghiên cứu đạt kết quả cao

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Qua việc khảo sát sự nghiệp dịch thuật và sáng tác văn chương của

Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục trên Nam Phong tạp chí ta có thể thấy rõ

được những tài sản lớn về văn chương cũng như dịch thuật của một tác giả có công nhưng bị lãng quên ít ai biết đến và nghiên cứu nhiều

7 Giới thiệu luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có các chương mục chính sau:

Trang 10

Chương I: Đội ngũ tác giả trên Nam Phong tạp chí và đôi nét về Tùng

Vân Nguyễn Đôn Phục

Chương II: Sự nghiệp dịch thuật và biên khảo của Tùng Vân Nguyễn Đôn

Phục trên Nam Phong tạp chí

Chương III: Trước tác của Nguyễn Đôn Phục trên Nam Phong tạp chí

Cuối cùng là phần Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 11

CHƯƠNG I

ĐỘI NGŨ TÁC GIẢ TRÊN NAM PHONG TẠP CHÍ VÀ ĐÔI NÉT

VỀ TÙNG VÂN NGUYỄN ĐÔN PHỤC

1 Đôi nét về Nam Phong tạp chí 1917 – 1934

Những năm đầu của thế kỉ XX được gọi là những năm đầy biến động, xã hội Việt Nam đã có những biến chuyển Do những biến đổi mới và thị hiếu thẩm mĩ của những bạn đọc đương thời mà có sự chuyển biến rõ rệt trong văn học, đó là chuyển từ văn học trung đại sang nền văn học hiện đại

và đồng thời, đây cũng là cơ hội cho báo chí hoạt động mạnh mẽ từ Bắc chí

Nam Có biết bao tờ báo ra đời trong lúc này như: Đăng cổ tùng báo,

(Nhật báo Hà Nội 1907 -1909, do Schereider sáng lập, Đào Nguyên Phổ

chủ bút phần Hán văn); Trung bắc tân văn (Hà Nội 1913, Scherider sáng

lập, Nguyễn Văn Vĩnh chủ bút, trong đó có cả chữ Hán và chữ Quốc

ngữ)… và trong đó ta không thể không nhắc đến Nam Phong tạp chí Nói

về vị trí của tờ báo Nam Phong tác giả cuốn sách “Nhà văn hiện đại” đã nói: “Nam Phong tạp chí sinh sau Đông Dương tạp chí bốn năm, nhưng

sống lâu hơn và ở thời điểm thích hợp nên ảnh hưởng về nền văn chương đối với quốc dân Việt Nam đã to tát hơn nhiều”

1917, Nam Phong tạp chí là một tờ nguyệt san xuất bản tại Việt Nam từ

ngày 1 tháng 7 năm 1917 đến tháng 12 năm 1934 thì đình bản Tờ báo ra đời do Đế quốc Pháp chủ trương, nhằm phục vụ chính sách cai trị của thực dân Pháp tại Việt Nam Tạp chí do Phạm Quỳnh làm chủ bút phần chữ Quốc ngữ và phần văn, Nguyễn Bá Trác làm chủ bút phần chữ nho Sau một thời gian ngắn hoạt động, với sự khéo léo của người đứng đầu, chủ bút Phạm Quỳnh đã chuyển nội dung của tạp chí hướng về học thuật, tìm hiểu các nền văn hóa Đông Tây, đặc biệt là văn hóa Việt Nam với mục đích nâng cao hiểu biết cho nhân dân Sau mười bảy năm tích cực

Trang 12

hoạt động liên tục (1917 – 1934) Nam Phong tạp chí đã xuất bản được

210 số báo, với khoảng 35.000 trang chữ Quốc ngữ, chữ Pháp và chữ Nho Đây là một tài liệu vô cùng quý giá về văn chương, đề cập nhằm đối mặt với văn minh cơ khí và và hóa phương Tây mà đế quốc Pháp muốn

áp đặt nhằm tẩy nền Nho học lâu đời của cha ông ta Giá trị của Nam

Phong rất lớn về mọi mặt: Chính trị xã hội, Lịch sử, Văn hóa…

Nam phong tạp chí kể từ khi ra đời đến khi đình bản đã trải qua 4 giai

đoạn chính:

- Giai đoạn 1917 – 1922: Thời kì thành lập và bành trướng của tờ báo

- Giai đoạn 1922 – 1925: Thời kỳ đề cao mục đích giáo huấn, khai hóa

quốc dân Tờ báo phát triển mạnh và truyền ra nước ngoài nhờ ảnh hưởng của Phạm Quỳnh

- Giai đoạn 1925 – 1932: Đây là giai đoạn hoạt động chính trị mạnh nhất

của tờ báo

- Giai đoạn 1932 – 1934: Giai đoạn suy yếu của tờ báo Quyền chủ bút

chuyển cho Nguyễn Trọng Thuật Tới tháng 12 năm 1934 thì tờ báo đình bản

* Về nội dung, Nam phong tạp chí đề cập đến rất nhiều vấn đề của đời

sống cũng như văn học, với nhiều tiểu mục khác nhau Chúng tôi có thể

hệ thống hóa lại như sau:

- Mục thứ nhất: Phần lược thuật: bàn chung những vấn đề có liên đến

thời thế, nhất là có những phần liên hệ đến riêng nhân dân ta để cho những người đọc báo trong cả nước có những hiểu biết và quan điểm rõ ràng về những vấn đề này

- Mục thứ hai: Phần đề cập đến những vấn đề văn chương lịch sử, có thể

hiểu những môn gọi chung là văn học

Trang 13

- Mục thứ ba: Phần triết học gồm những luận thuyết tư tưởng từ xưa đến

nay So sánh tư tưởng Âu – Á để giúp cho sự đề xướng một tư trào riêng cho nước ta Với mục đích tôn chỉ là giúp cho dân hiểu về trí thức đạo đức

- Mục thứ tư: Phần khoa học mục này đề cập vấn đề đại cương, nguyên

lí, lịch sử tiến hành của khoa học

- Mục thứ năm: Phần văn uyển là nơi sưu tầm và biên soạn lại những tác

phẩm thơ ca chữ Hán, chữ Nôm và đăng tải giới thiệu những bài thơ mới

- Mục thứ sáu: Phần tạp trở đăng những bài ký (du hành ký và du ký) nội

dung những bài ký là những câu chuyện mắt thấy tai nghe, cảnh đẹp, kiến thức lịch sử địa lí theo bước chân của tác giả bài kí trên những chuyến thăm quan, công tác… và những bài tựa, bài giới thiệu sách mới, những danh ngôn, bài giới thiệu sách mới, trích lục các sách

- Mục thứ bảy: Thời đàm gồm các bài báo bàn về tình hình thế sự trong

và ngoài nước Những bài viết này thể hiện một thái độ khá bình tĩnh khi trình bày những vấn đề khác nhau, tuy nhiên vẫn có chút, hơi hướng ca ngợi Pháp

- Mục thứ tám: Là phần tiểu thuyết, đây là phần dành riêng cho văn

chương, chuyên đăng tải những tác phẩm dịch các tiểu thuyết cận, hiện đại Trung Quốc và Pháp sang quốc văn, đăng tải một số tiểu thuyết mới

- Mục thứ chín: Phần từ vựng với mục đích là giải thích nghĩa những từ

mới và mở rộng vốn từ của dân tộc

Nam Phong tạp chí thiên về biên khảo dịch thuật và sáng tác văn học,

vì vậy đối với văn hóa và văn học dân tộc trong một giai đoạn hơn mười năm, nó đã có những ảnh hưởng không nhỏ Có thể nói đây là tờ báo gần như duy nhất trong những năm chuyển tiếp giữa thập kỷ 20 và 30 của thế

kỷ 20 cung cấp cho bạn đọc Việt Nam những kiến thức về văn chương, triết học, lịch sử, địa lý…phương Đông cũng như phương Tây, một cách

Trang 14

bài bản hệ thống và liên tục Phải qua Nam Phong, đạo Nho cổ truyền lần đầu tiên mới được trình bày hệ thống Cũng phải qua Nam Phong, các áng

văn thơ tinh hoa cổ điển của dân tộc mới được sưu tầm, phiên âm, phiên dịch và truyền bá sâu rộng trong lớp thanh niên tân học thuở bấy giờ

Nam Phong cũng là nơi thử thách, rèn luyện ngòi bút viết văn xuôi quốc

ngữ, văn xuôi nghệ thuật và cao hơn là văn xuôi lý luận, trong bước chuyển mình của văn xuôi quốc ngữ nước ta Thế hệ trí thức một thời, kể

cả những đại biểu xuất sắc của phong trào “Thơ mới” như Xuân Diệu, đã

coi Nam Phong như một “trường đào tạo” văn chương quan trọng

Trước cách mạng tháng Tám, nhiều người rất đề cao Nam Phong, cho rằng Nam Phong tạp chí như một ngôi trường, ở đó dạy cho người ta biết

bao kiến thức mới mẻ ở bên ngoài, từ ngôi trường bổ túc ấy mà có biết bao nhiêu nhà thơ đã trưởng thành đặc biệt có công lớn trong việc xây dựng nền quốc văn cho nước nhà Ngay từ năm 1933 tức là thời điểm

Nam Phong đang trong những ngày cho ra đời một vài số báo chót, trong

cuốn “Phê bình cảo luận”, Thiếu Sơn đã viết: “có nhiều người không biết

văn Tây văn Tàu, chỉ nhờ Nam Phong mà hun đúc được những kiến thức phổ thông tạm đủ sinh hoạt ở đời Có những ông đồ Nho chỉ coi Nam Phong mà cũng biết được đại khái văn chương học thuật” Thông qua lời

nhận xét ta thấy nhà nghiên cứu Thiếu Sơn đề cao vai trò của Nam Phong trong việc bổ túc, bồi dưỡng hun đúc tri thức cho những bạn đọc những kiến thức văn hóa, văn chương nước ngoài Đặc biệt là văn chương phương Tây

Sau tám năm sau khi Nam Phong đình bản tức năm 1942, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan vẫn đánh giá cao vai trò của Nam Phong tạp chí trong cuốn “Nhà văn hiện đại Việt Nam” như sau: “Nhiều thanh niên tri thức

đã có thể căn cứ vào Nam Phong tạp chí bồi bổ cái học còn khiếm khuyết của mình Thậm chí có người lấy Nam Phong làm sách học mà cũng thâu thái được tạm đủ tư tưởng học thuật Đông Tây Muốn hiểu những vấn đề

Trang 15

đạo giáo, muốn biết văn học sử cùng văn học nước Tàu, nước Nhật, nước Pháp, muốn đọc thi ca Việt Nam từ Lý, Trần cho đến ngày nay, muốn biết thêm lịch sử nước Nam, lịch sử các danh nhân nước nhà, muốn hiểu vẫn

đề chính trị xã hội Âu Tây và cả những học thuyết của mấy nhà hiền triết

cổ La Hi, chỉ cần đọc kĩ Nam Phong có thể hiểu biết được Một người chỉ biết đọc chữ quốc ngữ mà có khiếu thông minh có thể dùng tạp chí Nam Phong để mở mang kiến thức của mình Nam Phong tạp chí sinh sau Đông Dương tạp chí bốn năm, nhưng sống lâu hơn và ở thời thích hợp hơn nên ảnh hưởng về đường văn chương đối với quốc dân Việt Nam đã

to tát hơn nhiều” Bên cạnh những đó còn có những ý kiến trái chiều họ

phủ định một cách không công bằng những đóng góp của Nam Phong tạp

chí Tuy nhiên những năm gần đây Nam Phong tạp chí đã thật sự trở

thành đối tượng nghiên cứu vô cùng thú vị thu hút rất nhiều bài báo, luận văn và công trình nghiên cứu dựa trên cái nhìn khách quan, khoa học và

đánh giá công bằng

2 Lực lượng trước tác trên Nam Phong tạp chí

Có rất nhiều người đã nghiên cứu về đội ngũ sáng tác trên Nam Phong tạp chí Người ta thường chia đội ngũ ấy ra thành các lĩnh vực

khác nhau dựa trên những tiêu chí không giống nhau Có tác giả dựa trên

tiêu chí các giai đoạn phát triển của Nam Phong mà chia ra những nhóm

tác giả, có người lại dựa trên những thể loại, hoặc tiểu mục được đăng tải trên tờ báo để chia ra những tiểu nhóm tác giả khác nhau, tiêu biểu như

Nguyễn Khắc Xuyên – tác giả của Mục Lục phân tích tạp chí Nam Phong

lại dựa trên số lượng những bài được đăng tải hoặc là dựa trên thể loại

Ông cho rằng thể loại văn vần chiếm đã số trên Nam Phong tạp chí, đó cũng là một cơ sở để xếp nhóm nhà văn “Về các tác giả, trước hết phải

kể đến các nhà văn, và các nhà văn này, tiên vân phải nói đến Phạm Quỳnh, hiệu Hồng Nhân hoặc Thượng Chi, một trong ba người sáng lập

Trang 16

lại kiêm chủ bút phần Việt ngữ, trong đó ông Nguyễn Bá Trác phụ trách phần Hán ngữ Sau đó lần lượt phải chú trọng đến Nguyễn Hữu Tiến hiệu

là Đông Châu, Nguyễn Trọng Thuật hiệu là Đồ Nam, Nguyễn Bá Học và Nguyễn Đôn Phục hiệu là Tùng Vân” Sau khi liệt kê phân tích những

gương mặt chủ chốt tiêu biểu giữ các vị trí quan trọng trong tờ báo Nam

Phong hay nói khác đi đó là những người tạo nên hồn cốt diện mạo thì

nhà biên khảo đã điểm danh lại những gương mặt quen thuộc với người

đọc và có số lượng bài đăng tải cũng kha khá trên tờ báo “Sau đó chúng

ta phải nhắc tới Lâm Tấn Phác, hiệu Đông Hồ cùng với nhóm “Trí Đức học xá”; Phạm Duy Tốn, Nguyễn Văn Kiêm, hiệu Trọng Toàn; Lê Dư hiệu Sở Cuồng; Tương Phố Sau cùng chúng ta phải chú ý tới một số tác giả quen thuộc đã cộng tác với Nam Phong với những bài xuất sắc như Dương Bá Trạc hiệu Tuyết Huy, Dương Quảng Hàm, Hoàng Ngọc Phách,

Lê Thăng, Nguyễn Mạnh Bổng hiệu Mân Châu; Nguyễn Tiến Lãng hiệu Hán Thu, Nguyễn Triệu Luật, Thiện Đình, Thiếu Sơn, Trần Trọng Kim hiệu Lệ Thần, Trần Văn Ngoạn hiệu Tuyết Trang, Vũ Đình Long” Tới

mảng thơ thì tác giả cuốn sách họ Nguyễn cũng diểm danh khá tỉ mỉ chi

tiết, những nhà thơ không chỉ có nhiều bài được in ấn trên Nam Phong mà còn nổi tiếng vang danh trên thi đàn thơ ca một thời như: “Về các nhà

thơ, trước hết chúng ta phải kể đến các thi sĩ như: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Trần Kế Xương, nhóm “Hồng Đức” rồi trong rất nhiều thi gia nổi lên về lượng mà ít khi chúng ta nhắc tới theo thiện ý Chúng tôi phải có công cuộc khai thác mới, đó là những nhà thơ như: Dương Đình Tây, Đình Trai, Đoàn Nhữ Nam, Đoàn Tinh Canh,

Lê Đình Huyến, Minh Phượng, Mộng Lan, Nguyễn Bá Xuyến, Nguyễn Can Mộng hiệu Nông Sơn, Nguyễn Tiến, Nguyễn Trung Khuyến, Nguyễn Văn Đào, Nhàn Khanh, Nhàn Đình Vân, Trần Mỹ, Vũ Tích Cống Trong

Trang 17

số các văn gia cũng có một số đồng thời là thi gia như: Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Đôn Phục, Lâm Tấn Phác”

Theo Phạm Thị Ngoạn tác giả cuốn Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong lại

cho rằng cần phải dựng lại từng tác giả, bà đã thành công trong ý tưởng của mình Ở mỗi tác giả bà tái hiện lại tên thật, bút danh, năm sinh, năm mất, nguyên quán, nêu sơ qua về những sự kiện chính của cuộc đời và đi

tìm hiểu khái quát của mỗi cộng tác trên Nam Phong tạp chí, cuối cùng

tác giả trích dẫn những lời nhận xét đánh giá đặc sắc của một số nhà văn,

nhà nghiên kì cựu tờ báo Nam Phong nói riêng và diễn trình văn hóa văn

học Việt Nam thời bấy giờ nói riêng như: Nguyễn Khắc Xuyên, Vũ Ngọc Phan, Lại Văn Hùng đồng thời cũng không quên để lại những lời nhận xét đánh giá sắc sảo của bản thân mình

Hay trong cuốn “Truyện ngắn Nam Phong” của Lại Văn Hùng viết

năm 1989, tuy nội dung chủ yếu là tác giả sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu

nhưng ông vẫn điểm qua lực lựng trước tác trên Nam Phong Sau khi

điểm qua đôi nét về những tác giả trọng yếu như chủ bút và những trong

mục “Mấy nét sơ lược về nhóm Nam Phong” tác giả còn nêu tên một số

cây bút khác như: Phan Khôi, Trần Trọng Kim, Tản Đà, Hoàng Ngọc Phách, Đông Hồ, Tương Phố, Vũ Đình Long, Nguyễn Tiến Lãng… sau

đó tác giả có đưa nhận định “Những người này ít nhiều cũng từ “trường

học Nam Phong” mà thử thách, đào luyện để trở thành những nhà văn, học giả có tiếng tăm, có bản sắc trên văn đàn” Như vậy, đọc lời nhận xét

của tác giả ta có thể hiểu tác giả đề cập đến lực lượng cộng tác trên tờ

Nam Phong với hai lực lượng chủ yếu Đó là nhóm sáng tác (nhóm những

tác giả chính) và nhóm học tập tiếp thu kiến thức của tờ báo, qua đó khổ công rèn luyện, và nhờ những kiến thức học tập đó khiến họ cũng trở thành những người có tiếng tăm trên văn đàn đương thời Hay nói khác đi

Trang 18

đây là nhóm học trò cũng đồng thời là cộng tác của Nam Phong góp phần

bé nhỏ của mình tạo nên diện mạo của Nam Phong tạp chí

Tạp chí Nam Phong có lực lượng cầm bút cộng tác rất đông Cả những

trí thức Tây học và những trí thức Nho học, đặc biệt là những trí thức Nho học bởi việc bãi bỏ chế độ khoa cử cũ (1919) là một biến động dữ dội trong giới này đã gây ra không ít xáo trộn trong hàng ngũ của họ Trí thức Việt Nam thời bấy giờ đa số được đào tạo từ lò Nho học; nhưng Nho học

đã hết thời, các nhà Nho không còn nơi để thi thố tài năng, không có đất

để gieo mầm và sử dụng những vốn kiến thức quý giá mình đã học được

Khi Phạm Quỳnh đưa ra chủ trương “bảo tồn cổ học”, “quốc túy”, “dung

hòa Đông Tây”, họ cảm thấy đây là nơi duy nhất có thể giúp mình nói

nên được nỗi lòng Chính vì vậy, hàng loạt cây bút Nho học đã đến với

Nam Phong tạp chí, giữ các mục “Văn uyển”, “Tiểu thuyết”, “Văn học

bình luận”… và đem lại cho tờ báo cái “phong vị ngôn ngữ” cũng như

“tinh thần Hán học”: Dương Bá Trạc, Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Hữu

Tiến, Nguyễn Trọng Thuật, Thân Trọng Huề, Nguyễn Bá Học, Lê Dư…Về sau, một số người vừa có Tây học vừa có Hán học, hoặc chỉ có

Tây học, cũng ra cộng tác với Nam Phong: Phạm Duy Tốn, Trần Trọng

Kim, Vũ Đình Long, Nguyễn Tiến Lãng, Đồ Đình Thạch…Nam Phong

tạp chí ra hàng tháng, khổ lớn, dày trên dưới 100 trang, có một phần viết

bằng chữ Hán, và từ 1922 trở đi còn thêm một phần chữ Pháp Mục đích

trực tiếp của tờ báo là thay chân Đông Dương tạp chí tuyên truyền, giải

thích chính sách của Pháp ở Đông Dương sau Đại chiến I, cổ vũ công việc

“khai hóa” của Pháp Ba nhân vật quan trọng đóng vai trò sáng lập tờ báo là: Macty (Louis Marty), trùm mật thám Pháp ở Phủ toàn quyền lúc ấy, rồi đến Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác (?-1945) Hai người sau cũng

chính là những cây bút chủ chốt của Nhóm Nam Phong Phạm Quỳnh viết

Trang 19

nhiều, dịch nhiều về tất cả các vấn đề chính trị, văn học, lịch sử, triết học…nhưng không chuyên sâu một vấn đề gì, mà gặp đâu bàn đấy, nhằm giới thiệu những kiến thức phổ quát của văn hóa văn minh “Thái Tây”

cho công chúng đọc Nam Phong tạp chí lúc bấy giờ Phạm Quỳnh tán

dương chính sách “khai hóa” của Pháp, nhưng cũng chủ trương “bảo tồn quốc túy” “Quốc túy” mà ông quan niệm là tinh thần và đạo lý phương Đông đã tồn tại trên đất nước ta hàng ngàn năm, trong đó chủ yếu là Nho, Phật, Lão

Sau khi tìm hiểu và tiếp thu chọn lọc một số công trình nổi tiếng đề

cập đến vấn đề lực lượng trên Nam Phong tạp chí chúng tôi mạnh dạn

đưa ra ý kiến của mình Chúng tôi dựa trên tiêu chí gốc học thức và sự

nghiệp của các tác giả cống hiến Nam Phong mà phân chia lực lượng xây dựng nên Nam Phong tạp chí Chúng tôi không đi sâu vào nghiên cứu

từng tác giả về tiểu sử và điểm danh qua sự nghiệp như Phạm Thị Ngoạn

trong Tìm hiểu tạp chí Nam Phong, cũng không đi vào chia theo thể loại như Nguyễn Khắc Xuyên trong Mục lục phân tích tạp chí Nam Phong mà

chúng tôi sẽ chỉ ra những vấn đề tiêu biểu nhất về cuộc đời và sự nghiệp của từng tác giả Chúng tôi đi theo hai luận điểm chính: Lực lượng trước tác thuộc thế hệ cựu học và lực lượng trước tác thuộc thế hệ tân học Tuy nhiên, dù lấy tiêu chí gì phân chia đi chăng nữa thì không thể đạt được mức tuyệt đối mà chỉ có thể ở mức tương đối bởi có rất nhiều trường hợp trung gian, có gốc Nho học nhưng lại theo Tây học, có người gốc Tây học nhưng vẫn ngoái lại Nho học, họ nghiên cứu rộng khắp nhiều vấn đề,

chúng tôi chỉ có thể dựa vào sự cống hiến của họ trên Nam Phong mà

phân chia sắp xếp cho hợp lí Thượng Chi - Phạm Quỳnh là một ví dụ tiêu

biểu nhất Vì Phạm Quỳnh có vị trí to lớn trên tờ báo Nam Phong thông

qua những đóng góp của ông, tác giả này có rất nhiều vấn đề đáng bàn

Trang 20

nên chúng tôi sẽ không đặt tác giả vào mục cụ thể nào mà điểm qua đôi nét riêng

Phạm Quỳnh sinh 1892 mất 1945 có những bút danh Thượng Chi, Hồng Nhân, Hoa Đường, Lương Ngọc Nguyên quán họ Phạm là làng Lương Ngọc - Bình Giang - Hải Hưng, nay thuộc huyện Bình Giang Tỉnh Hải Dương Phạm Quỳnh là người con trai đầu lòng của cha Phạm Hữu Điển xuất thân tú tài Nho học và mẹ Vũ Thị Đoan Phạm Quỳnh sinh tại

Hà Nội, số nhà 17 phố hàng Trống, ngày 17/12/1892, năm Nhâm thìn Gia đình khi đó từ biệt làng Lương Ngọc để lên Hà Nội lập nghiệp và Phạm Quỳnh đã ra đời, khôn lớn tại Hà Nội

Nhờ vào vốn kiến thức sâu rộng cổ kim đông tây của mình, Phạm

Quỳnh đã đóng góp cho Nam Phong tạp chí một sản nghiệp lớn thuộc

nhiều lĩnh vực khác nhau Nếu như không có sự xuất hiện của Thượng

Chi chắc có lẽ không có một tạp chí Nam Phong giá trị như vậy Nhận

định về vai trò của ông trên tờ báo, Nguyễn Khắc Xuyên – Tác giả cuốn

sách Mục lục phân tích Nam Phong tạp chí đã từng nhấn mạnh: “Phạm

Quỳnh là như tiêu biểu cho tờ Nam Phong, là linh hồn của tất cả tờ báo”,

hay Nguyễn Tiến Lãng cũng nhận định: “Cho nên trước đây, cái tên Nam

Phong gần như lẫn với cái tên Thượng Chi, đó cũng là đích đáng vậy”

(NPTC số 119 trang 9), hoặc: “Cho hay một đời dễ có mấy Thượng Chi”

là lời khen của Hán Thu trong Nam Phong tạp chí số 188 trang 219- 222 nhìn chung vai trò của ông được rất nhiều các bạn bè đồng nghiệp

đương thời cũng như bạn đọc sau này nhận thấy và ca ngợi Phạm Quỳnh

có được sự ca ngợi ấy cũng dễ hiểu bởi sự đóng góp của ông cho Nam

Phong không hề nhỏ Ông đóng góp trên nhiều lĩnh vực khác nhau Đã có

rất nhiều nhà nghiên cứu Nam Phong nói chung, Phạm Quỳnh nói riêng,

họ đều chia những tác phẩm của Thượng Chi ra làm những mảng khác

Trang 21

nhau để dễ nghiên cứu như: Nguyễn Khắc Xuyên trong Mục Lục phân

tích tạp chí Nam Phong; Vũ Ngọc Phan trong Nhà văn hiện đại… và

chúng tôi hoàn toàn thống nhất đồng quan điểm với những vị tiền bối đi trước bởi họ đã phân chia rất khoa học chuẩn xác Sự nghiệp của Hồng Nhân gồm bốn phần: Phần thứ nhất: Những bài biên tập có tính chất lịch

sử xã hội chính trị như: Văn minh luận, Chính trị nước Pháp… Phần thứ hai: Những bài có tính chất văn học bao gồm: khảo cứu, dịch thuật, trước thuật, bình luận Phần thứ ba: những bài biên tập có tính chất triết học Phần cuối cùng là những sách Pháp văn Tuy nhiên cũng cần nhấn mạnh một số điểm như sau: cho dù viết ở mảng nào cho dù là chính trị, văn hóa văn học… và cho dù dùng chữ Quốc ngữ hay chữ Hán thì ông đều rất dè dặt, thận trong trong khi sử dụng câu chữ vào bài viết của mình Ông luôn

có ý thức giữ gìn nâng niu tiếng mẹ đẻ “…Từ hai mươi năm nay tôi chỉ

theo đuổi một mục đích, cố gắng cải tiến tiếng nước tôi, vì vậy tôi rất ít có dịp viết Pháp văn – vốn dĩ không phải tiếng nói của tôi…” Dù là viết ở

dạng bài nào thì ông cũng chỉ với một chủ đích mà suốt đời ông theo đuổi

là mang những kiến thức, những cái tiến bộ mới mẻ vào cho nhân dân, kiến tạo một nền quốc văn mới bằng chữ quốc ngữ điều này được thể hiện

ở cái chủ trương học thuyết của chính tác giả: “Đọc sách Tây để thâu thái

lấy tư tưởng, lấy cái văn hóa tinh thần Âu Tây, để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết để chọn lấy cái hay của người mà dung hòa với cái hay của mình, ngõ hầu giữ gìn cho cái học của mình, không mất bản sắc

mà vẫn có cơ tiến hóa được”

Nói chung, Phạm Quỳnh là một trường hợp đặc biệt bởi ông là một tri thức cựu học lẫn tân học, là người am hiểu về nhiều vấn đề văn hóa, lịch

sử, chính trị xã hội… bên ta bên tàu chính vì thế ông đã có những đóng

góp không nhỏ cho Nam Phong tạp chí nói riêng và việc đặt nền móng

Trang 22

cho việc hình thành nền quốc văn dân tộc nói chung Công lao của ông

đã được các học giả ngày này ghi nhận và biết ơn rất nhiều

a Lực lượng trước tác trên Nam Phong tạp chí thuộc thế hệ cựu học

Cựu học là thế hệ những nhà văn sống và thừa hưởng chế độ giáo dục thi cử cũ Họ là những người có kiến thức vốn Nho học do họ xuất thân từ gia đình có truyền thống Nho học từ cha anh đều theo đạo Khổng Mạnh, vậy là họ được thừa hưởng nền tảng Nho học từ gia đình từ nhỏ Khi đến tuổi đi học, họ vẫn trong thời đại học chữ Nho, thi chữ Nho và do chính bản thân các tác giả cũng thích tìm hiểu những cái hay cái đẹp của một nền văn hóa ăn sâu vào tiềm thức của dân tộc ta từ xưa đến nay Nho học vẫn luôn là một cái nôi nuôi dưỡng bồi đắp cho tâm hồn của họ và cho

đến ngay cả thời điểm lúc bấy giờ “Âu Á giao thời” chữ Nho vẫn giữ một

vị trí vô cùng quan trọng trong tâm hồn họ Họ luôn trân trọng, muốn bảo tồn, lưu giữ và phát huy, đi vào tiểu sử từng biên tập viên chính ta thấy rõ điều này

Như chúng ta đã biết, ở thời gian đầu cũng như thời điểm đỉnh cao rực

rỡ của Nam Phong thì chữ Nho vẫn giữ vai trò chủ đạo Điều này cũng dễ

hiểu và lí giải bởi lúc bấy giờ Nho học đang trên con đường xuống dốc hết thời, trong khi đó những trí thức nho học cuối cùng còn lại của chế độ thi cử nền giáo dục cũ vẫn rất nhiều Được học một đằng, lại sống trong

thời đại một nẻo khác chi họ là “người lạ” Họ không tìm được cho mình

một chỗ đứng chân để phát huy tài năng, sử dụng vốn có của bản thân, giãi bày tâm sự của cả một thế hệ Họ đang bơ vơ lạc lõng giữa xã hội

đang quằn quại chuyển mình Nam Phong tạp chí là tờ báo duy nhất nổi lên với chủ trương bảo tồn “quốc hồn”, “quốc túy” như vậy Nam Phong

khác gì chiếc cọc để cho họ víu lấy giữa dòng nước chảy siết, hay khác gì trang giấy trắng để họ có thể viết lên đó những gì mong muốn, giãi bày

Trang 23

Chính vì thế chúng ta thấy thời gian đầu lực lượng nho học trên Nam Phong

rất đông đảo góp phần tạo nên diện mạo cho tờ báo này

Bàn về đội ngũ sáng tác trên Nam Phong thuộc thế hệ cựu học không

thể bỏ qua người có công đặt viên gạch đầu tiên xây dựng tờ báo khi còn trong thời gian trứng nước Nguyễn Bá Trác sinh năm 1881 mất năm

1945 có bút danh là Tiên Đẩu, tuy chỉ cộng tác với Nam Phong tạp chí

một thời gian ngắn khoảng gần hai năm (tháng 9 năm 1919 ông từ giã tạp chí để vào Huế nhận nhiệm vụ của triều đình) và số lượng bài đăng trên

Nam Phong tạp chí không nhiều nhưng tác giả luận văn vẫn đưa ông lên

đầu mục nghiên cứu bởi Nguyễn Bá Trác có vai trò rất quan trọng trong việc sáng lập, có thể nói ông là một trong hai người sáng lập và kiêm chủ bút Ông là chủ bút phần chữ Hán và cũng có ảnh hưởng không ít đến phần chữ Quốc ngữ Tuy nhiên, vẫn chưa có một cuốn sách hay công trình nghiên cứu nào khảo lại sự nghiệp của ông, có chăng chỉ là những

bài viết hay công trình nghiên cứu Nam Phong nhắc tới tác giả mang tính

chất điểm danh, phác qua vai trò của ông trên diện mạo tờ báo Điều này

có thể được lí giải do thời hưng thịnh của Hán học đã qua đi nên số đông quần chúng không còn quan tâm nữa, ít người theo học và tìm hiểu hơn, chế độ thi cử đã đổi thay và đặc biệt chữ Quốc ngữ lúc bấy giờ dần thay đổi vào vị trí của chữ Hán Việc tìm hiểu lúc bấy giờ chỉ còn là những ông đồ Nho cũ, những chuyên viên tìm hiểu hoặc một phần nho nhỏ những người ngoái lại “vang bóng một thời” tìm những gì tốt đẹp trong quá khứ

Sự nghiệp của Nguyễn Bá Trác luôn gắn liền với thi cử thời Hán học Người ta gọi ông là cử Trác vì ông đã đậu cử nhân thi hương Ông có một khối kiến thức khá vững chắc, điều này khiến cho con người của ông luôn hướng về cội, đó cũng là lí do ông trở lại sau khi ông xuất ngoại để làm những công việc mà mình yêu thích được sử dụng chữ nghĩa hàng ngày

Trang 24

Công việc đầu tiên khi về nước sau những ngày tháng buôn ba đất khách quê người, ông đã cùng với Thượng Chi Phạm Quỳnh phụ trách phần phiên dịch ra chữ nho cuốn Histoire dela guèrre của Gabriel Hanotaux (cuốn sách được dịch ra là lịch sử chiến tranh) Trong thời gian làm chức thông dịch viên nha chính trị toàn quyền cho đến năm 1917 Nguyễn Bá Trác đã trưởng thành ở tổi 36 Ông cùng Phạm Quỳnh cùng là sáng lập viên kiêm chủ bút phần chữ Hán Có thể nói lúc đó tác giả rất già dặn, có phong cách của một nhà Nho thâm thúy khác thường trong cách trình bày với độc giả về tình cảm, tư tưởng và ngay cả những suy nghĩ sâu kín trong tận đáy lòng Với lối viết thâm trầm ngắn gọn xúc tích rất phù hợp với đặc trưng của văn chương trung đại Những tác phẩm của ông đã thu hút tạo ra những suy ngẫm thích thú cho giới văn chương đèn sách đương thời Nếu như nhà Nho đỗ đạt của thời kì trước thường mang tài sản chữ nghĩa của mình ra phò vua dạy dân hoặc có những nhà Nho thấy cuộc đời nhiều bất công ngang trái trong xã hội thường về ở ẩn với thú vui tao nhã cùng thiên nhiên cỏ cây với núi với rừng thì Nguyễn Bá Trác lại không thuộc mẫu người nào trong đó Ông cũng là người xuất thân từ gia đình Nho giáo có truyền thống Nho học Nguyễn Bá Trác đã từng đi bôn ba nhiều nước nhưng có lẽ tư tưởng chính trị của ông có nhiều điểm mâu thuẫn, giằng xé của thời cuộc Á – Âu, tân cựu giao tranh khiến cho ông trở về và trở thành một nhà Nho có chút bất mãn với thời cuộc, chán chường và hoài nghi với xã hội con người lúc bấy giờ Điều này được thể hiện rất rõ qua những tản văn của ông Tuy nhiên, dù cuộc đời có sóng gió đến như thế nào đi chăng nữa chúng ta cũng vẫn nhận thấy một nhà nho chân chính trong con người, nếp nghĩ và đặc biệt thông qua các sản phẩm tinh thần của ông Vẫn theo phong cách sáng tác của thời trung đại mọi sáng tác đều ngắn gọn, súc tích, ngụ ý thâm thúy, ngôn ngữ ít mà hiểu nhiều, chữ đọc đã hết mà ý nghĩa còn trải dài Ông mang những tâm

Trang 25

sự nỗi lòng thầm kín về cuộc đời thể hiện kín đáo qua hình ảnh cây bồ đề,

cô gái hát ả đào… đó chẳng phải là bút pháp quen thuộc trong văn học trung đại đó sao Lí do trở về quê hương đất nước sau những tháng ngày bôn ba nơi đất khách quê người cũng như nỗi lòng yêu và nhớ quê hương

của tác giả được thể hiện rõ trong bài “Tự tình với sông hương” in trong

số 2 báo Nam Phong Chỉ với ba mươi bảy dòng tản văn thật ngắn gọn,

ngôn ngữ bình dị dễ hiểu, nhà văn đã phơi trải tấm lòng khiến cho ai đã từng đọc cũng có thể hiểu thấu đáo được nguyên nhân sâu sắc khi ông trở

về Nhà văn đã từng sống ẩn náu bên Trung Quốc, ở nơi đất khách quê người chưa bao giờ nhà văn cảm thấy nhẹ lòng thanh thản điều này được

lí giải bởi ông là người luôn nặng lòng với quê hương, đất nước Khi trở lại kinh đô, ông tả quê hương mình trong niềm tự hào, luôn cho rằng không đâu đẹp bằng Huế - mảnh đất mộng mơ, phồn thịnh đáng nhớ

“Non Ngự Bình hãy còn xanh, nước sông Hương hãy còn trong, đình ta lâu đời mỗi ngày mỗi đẹp, thành quách cũ công nghiệp bản triều gây dựng trang nghiêm rực rỡ biết là bao…”

Những nỗi nhớ về thời thơ ấu luôn sống mãi trong kí ức ông, khoắc khoải nhìn và nhớ lạ kí ức xa xưa rồi chiêm nghiệm những gì đã qua, trằn trọc trong suy nghĩ hiện tại… tất cả được gửi gắm trong cuộc đối thoại

với cây đa: “Đến bây giờ cũng thuyền ấy, cũng bến ấy, cũng quen quen lạ

lạ mấy ả hữu tình, mà cung đàn giọng hát biết lựa làm sao Có cụm Bồ

Đề đó ta xin hỏi:

“Mấy năm nay hát bài nào?

Trăng làm sao? Nước làm sao? Hỡi chàng?

Bồ Đề nói:

Mấy năm nay tôi ở chốn này,

Khi nồng, khi lạnh, khi đầy, khi vơi

Mừng nay êm gió tạnh trời”…

Trang 26

Tuy chỉ cộng tác với Nam phong một thời gian ngắn khoảng gần 2 năm (tháng 9 năm 1919 Nguyễn Bá Trác từ giã Nam Phong để vào Huế)

và số lượng bài đăng của tác giả trên Nam phong tạp chí không nhiều

nhưng chúng tôi vẫn đưa ông lên đứng thứ nhất của tiểu mục nghiên cứu bởi Nguyễn Bá Trác có vai trò vô cùng quân trọng trong tờ báo này Có thể nói ông là một trong hai người (cùng với phạm Quỳnh) dày công xây dựng tờ báo ngay thuở ban đầu và tham gia vào những bài viết có ảnh hưởng tích cực lớn đến tôn chỉ, mục đích hoạt động của tờ báo

Nếu như Nguyễn Bá Trác là một người có nền kiến thức nho học rất

uyên thâm nhưng chỉ cộng tác với Nam Phong có hai năm thì Nguyễn

Hữu Tiến cũng là một học giả nho học không kém, cũng đã từng đỗ tú tài

và là một trong những thành viên tích cực nhất công tác với tờ báo danh tiếp này từ phút khai sinh cho đến dấu chấm kết thúc số mệnh của tờ báo Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến sinh năm 1875 mất 1941 Ngoài bút danh và tên thật người ta hay gọi ông bằng một tên thân mật nhưng cũng đầy kính cẩn, trân trọng là cụ cử Tiến, điều đó là dẫn chứng tiêu biểu chứng minh cho sự nổi danh của ông trong con đường thi cử học hành gắn bó với nền Nho học

Nguyễn Hữu Tiến sinh ra tại làng Đông Ngạc gần Hà Nội chính vì vậy, khi Nam Phong ra đời thì tác giả đã có nhiều điều kiện để hợp tác xây dựng ngay từ đầu đến cuối cho tờ báo này

Nguyễn Hữu Tiến bước chân vào nghiệp chữ nghĩa văn chương từ rất sớm, là một học giả uyên thâm, có tài năng nghiêng về dịch, trước khi

cộng tác với Nam Phong ông đã có những thành tích đáng kể như: xuất bản tập Thi tuyển Hồ Xuân Hương với nhan đề Giai nhân di mặc (vết tích

của một người đẹp) vào năm 1915, đến đầu năm 1916 ông cho xuất bản

vở kịch bằng thơ Đông A song phụng.Tạm dịch là: Hai con phượng hoàng

Trang 27

nhà Trần Vở kịch mang đậm nét cổ xưa thông qua hình thức thơ, văn xuôi và những câu thơ được làm theo thể thơ song thất biền ngẫu và đề cập đến một vấn đề liên quan đến lịch sử Từ 1916 – 1918 Nguyễn Hữu Tiến đầu tư công sức vào việc sưu tầm những bài thơ tiêu biểu của các nhà thơ nổi tiếng kết hợp với việc ghi chú tìm hiểu những phép tắc niêm

luật, cú pháp và in trong tập Cổ xúy nguyên âm

Có lẽ do vốn kiến thức chủ yếu là Hán học và sự hiểu biết sâu sắc về chữ nghĩa nên Nguyễn Hữu Tiến thiên về khảo cứu và phiên dịch các tác phẩm văn học Trung Hoa sang chữ quốc ngữ Nói đến bút danh Đông

Châu trên Nam Phong tạp chí là người ta thấy bút danh ấy xuất hiện dày

đặc trên các mục dịch Chính vì thế, nhà nghiên cứu phê bình văn học Vũ

Ngọc Phan đã từng ca ngợi trong cuốn Nhà văn hiện đại Việt Nam tập 1 – một cuốn sách gối đầu giường cho những ai nghiên cứu Nam Phong Tác giả viết:“Ông là nhà nhà văn đã cho chúng ta biết nhiều học thuyết tư

tưởng tàu nhiều hơn cả các nhà văn lối cũ”

Những bài khảo cứu biên khảo và dịch thuật của ông xuất hiện rất đều đặn trên các số báo này, đó là những bài có nội dung về phong tục, lịch

sử, văn minh luân lý, tôn giáo, văn chương nghệ thuật như: Nam âm thi

văn khảo luận (Nam Phong số 1); Nam âm thi thoại (Nam Phong số 26) ; Khảo về câu đối nôm (Nam Phong số 102); Việt Nam tổ quốc túy ngôn

(Nam Phong số 169); Thơ mới với thơ cũ (Nam Phong số 193) Bên cạnh

đó còn là một số bài khảo về âm nhạc, y học, danh nhân, danh nho, danh thần, danh lam thắng cảnh… Sự nghiệp của Nguyễn Hữu Tiến còn được

làm nên bởi phần lớn những những bài văn dịch từ Hán văn như: bộ Lĩnh

Nam dật sử được ông dịch từ số 52, Vũ trung tùy bút dịch từ số 121 Đối

văn ngoại quốc thì ông nổi lên với: Văn học tàu, Nguyên lưu chữ tàu, Mẹo

văn tàu, Các lối văn tàu, Lịch sử nước tàu, Câu đối chữ Hán, học thuật tư

Trang 28

tưởng nước tàu… Đỉnh cao sự nghiệp dịch thuật của ông là cùng với

Nguyễn Đôn Phục trường kì dịch Mạnh Tử quốc văn giải thích từ số 78 đến số 126 trên Nam Phong Ngoài ra với sự hiểu biết của mình, ông còn

giới thiệu nhiều nhân vật quan trọng trong học thuật tư tưởng Trung Hoa như: Khuất Nguyên, Vương Dương Minh, Tư Mã Quang, Tô Đông Pha…

Nguyễn Hữu Tiến có vai trò vô cùng quan trọng trên Nam Phong tạp

chí nói chung và riêng phần Hán học nói riêng Phạm Thị Ngoạn - tác giả

cuốn sách Tìm hiểu tạp chí Nam Phong đã từng có những nhận xét rất đúng về vai trò của Nguyễn Hữu Tiến: “Chúng ta không nói quá đáng khi

nhận xét có rất nhiều người không đọc Hán văn trong nguyên bản mà cũng thấu được Khổng học là nhờ ở cái tài hay dịch của Nguyễn Hữu Tiến, những tác phẩm này được coi là đáng giá nhất” Đúng như lời khẳng định

trên, những bài của ông dịch trên báo được các tác giả hậu sinh lựa chọn, sắp xếp và in thành từng quyển khác nhau rất khoa học quy mô với nhan đề

“Mạnh Tử quốc văn giải thích”(ghi chú, giảng giải và bình luận những tư

tưởng cuả đức Mạnh Tử) từ đây cuốn này có giá trị và được coi như là một cuốn từ điển Hán học về Mạnh Tử quốc văn cho những người yêu Hán học

Ngoài ra, Nguyễn Hữu Tiến còn cống hiến cho Nam Phong tạp chí rất nhiều bài biên khảo công phu tỉ mỉ mang lại cho những bạn đọc yêu mến Nam

Phong những kiến thức về quý giá trong cuộc sống

những đóng góp của ông cho tờ Nam Phong về rất nhiều lĩnh vực như: dịch

thuật, khảo cứu, sưu tầm, sáng tác… góp công sức tạo ra cho chiều hướng

của Nam Phong đi đúng và hợp với mong muốn của Phạm Quỳnh, bảo tồn phát huy những giá trị xưa cũ và không ngừng đổi mới, xây dựng một Nam

Phong tạp chí là của người Nam chứ không phải là công cụ hữu ích cho thực

dân Pháp như mục đích mà chúng đề ra

Trang 29

Cũng như Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Trọng

Thuật cũng là một cây bút cốt cán góp phần đáng kể trong việc duy trì

đường lối tổng quát của Nam Phong Ông là đồng hương quê cha đất tổ

mảnh đất Nam Sách - Hải Dương với Phạm Quỳnh Ông khởi sự bằng

con đường học tập thi cử Nho học rồi làm giáo viên, sau đó cũng có theo

học và đự một số kì thi của nền học mệnh danh là Pháp Việt Bút danh Đồ

Nam cũng như tên tuổi của Nguyễn Trọng Thuật được độc giả biết đến ở

số 30 báo Nam Phong tháng 12/1919 Đồ Nam là cây bút biên khảo, dịch

thuật thuộc phái cựu học Ông từng cho công bố trên Nam Phong những

bài khảo luận văn hóa phương Đông, những bản dịch văn học cổ của dân

tộc như Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác Năm 1925 danh tiếng của

ông thật sự nổi như cồn với giải thưởng văn chương của hội Khai Trí Tiến

Đức về tiểu thuyết Quả dưa đỏ Có thể nói ông là bậc thầy là một trong

những người đầu tiên đặt nền móng cho nền tiểu thuyết viết bằng chữ

quốc ngữ Từ đó, cứ nói đến Đồ Nam Nguyễn Trọng Thuật thì người ta sẽ

nhớ đến tiểu thuyết “Quả dưa đỏ” và ngược lại Tên tuổi của ông sống

mãi trong lòng người đọc

Phục, Đồ Nam Nguyễn Trọng Thuật ra lực lượng trước tác thuộc thế hệ

cựu học còn một số tên tuổi có vị trí quan trọng nữa như: Dương Bá Trạc,

Thân Trọng Huề, Nguyễn Bá Học, Lê Dư, Mân Châu Nguyễn Mạnh

Bổng… họ là những người thường xuyên cộng tác với Nam Phong xây

dựng nên một Nam Phong tạp chí thời kì đầu đậm chất Nho học và cũng

nhờ họ mà đạo Nho cổ truyền lần đầu tiên mới được trình bày hệ thống,

các áng văn thơ tinh hoa cổ điển của dân tộc mới được sưu tầm, phiên

dịch và truyền bá sâu rộng trong lớp thanh niên tân học đương thời

Trang 30

b Lực lượng trước tác trên Nam Phong tạp chí thuộc thế hệ tân học

Bên cạnh một lực lượng cựu học rất đông đảo với những nhà văn nhà báo kì cựu là một lực lượng cây bút trẻ hùng hậu không kém Nếu như thế

hệ cựu học xuất hiện trên báo từ những ngày đầu và hình thành nên nền tảng vững chắc cho tờ báo thì lực lượng tân học lại là những người xuất hiện sau kế tiếp, phát huy, xây dựng tiếp cho tờ báo ngày càng vững mạnh, mang những cái mới mẻ tính chất thời đại cho tờ báo

Lực lượng tân học là những người sinh ra lớn lên không liên quan đến những chữ nghĩa cổ xưa hoặc cũng có thể là những người đã từng theo nho học nhưng họ đi theo bước tiến của thời đại mà có những bài dịch, bài viết, sáng tác hiện đại hơn bắt nhịp với cuộc sống mới, có những tác phẩm phản ánh xã hội đương thời, phù hợp với nhu cầu thẩm mĩ của bạn đọc lúc bấy giờ Tiêu biểu cho lực lượng này có: Phạm Duy Tốn, Lâm Tấn Phác, Nguyễn Bá Học, Trần Trọng Kim, Vũ Đình Long, Nguyễn Tiến Lãng, Đỗ Đình Thạch… Chúng tôi sẽ đi vào điểm qua một số tác giả tiêu biểu cho lực lượng này

Thứ nhất ta phải nói đến Phạm Duy Tốn (1881- 1924) là nhà văn đầu tiên của nền văn học mới hồi đầu thế kỷ 20 Ông sinh tại 54 Rue Felloneau (Hàng Dầu), Hà Nội Năm 1901, Phạm Duy Tốn tốt nghiệp trường Thông ngôn ở Yên Phụ, được bổ làm thông ngôn ngạch tòa sứ Ninh Bình rồi sang Thị Cầu (toà sứ Bắc Ninh) Lúc ấy ông đã nổi tiếng là một thông ngôn có phong cách riêng Qua rất nhiều công việc, cuối cùng ông làm nghề viết báo và cũng là người từng viết những đoạn văn đầu tiên của thể loại truyện ngắn theo lối Tây phương Đầu thế kỷ 20, ở miền Bắc có câu phương ngôn lưu truyền: Quỳnh, Vĩnh, Tốn, Tố, nhằm chỉ Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn và Nguyễn Văn Tố là bốn người không những giỏi tiếng Pháp vào bậc nhất mà còn tinh thông

Trang 31

hán học Phạm Duy Tốn đã cùng với các chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Lương Ngọc Can, Nguyễn Quyền, Ngô Đức Kế, Dương Bá Trạc, Đào Nguyên Phổ, Hoàng Tăng Bí chủ xướng với sự hợp tác của một số tây học như Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Bá Học dạy ở trường Đông

Kinh Nghĩa Thục Sở dĩ ông viết đăng trên Nam Phong tạp chí không

nhiều nhưng chúng tôi vẫn đưa ông là một trong những tác giả tiêu biểu của lực lượng trước tác thuộc thế hệ tân học và tìm hiểu đôi nét về ông

bởi những tác phẩm đầu tay của ông đăng ở tạp chí Nam Phong là: “Sống chết mặc bay” (N P số 18 tháng 12-1918) , “Con người Sở

Khanh” (NP số 20 tháng 2-1919) và “Bực mình” (1914) đã gây xôn xao

dư luận lúc ấy giờ, những tác phẩm này được coi như mở đường cho lối viết truyện ngắn ở miền Bắc và cũng từ đó ông nổi tiếng trong văn đàn

Việt Nam Nhà văn Phạm Duy Tốn tham gia và cho đăng trên Nam Phong

tạp chí không nhiều nhưng để lại những ấn tượng rất sâu sắc trong lòng

người đọc Đã có rất nhiều bài báo nghiên cứu khoa học, những công trình nghiên cứu thể loại truyện ngắn hay tiến trình phát triển của văn học

Việt Nam đều nhắc nhắc đến tên tuổi của ông với tác phẩm Sống chết mặc

bay Tuy nhiên tác phẩm tạo nên tiếng tăm của tác giả cũng có nhiều ý

kiến phê bình trái chiều nhau, khen nhiều và chê cũng có Nhà phê bình

Vũ Ngọc Phan đã chỉ ra Sống chết mặc bay còn “Chưa thoát ly được

khuôn sáo cổ là cái lối nghị luận và lối xen những lời luân lí vào, làm cho cách kết cấu có vẻ thật thà và kém về nghệ thuật” và đoạn khác: “Đó thật là một thể nghị luận, một thể nghị luận bằng cách dàn hết các tài liệu

ra, và đặt câu hỏi và tự đáp lại” hoặc trong tác phẩm “Con người sở khanh” Vũ Ngọc Phan cũng có nhận xét: “ lại còn viết lối văn rất cổ nữa, lối vần vè ” Theo chúng tôi, những lời nhận xét của nhà nghiên cứu

họ Vũ không sai tuy nhiên do tác giả phê bình đứng ở góc độ nhìn nhận truyện ngắn thời hiện đại Phải chăng ông đòi hỏi về sự mới mẻ sáng tạo

Trang 32

trên tất cả phương diện cao quá chăng? Thực tế Phạm Duy Tốn lại là con chim đầu đàn trong việc sáng tác truyện ngắn và đặc biệt tác giả truyện ngắn trong hoàn cảnh cụ thể lúc bấy giờ đang ở thời chưa mấy tiến bộ về cách nhìn nhận thể loại thì sao có thể trọn vẹn được, còn có những hạn

chế là điều dễ hiểu Ta cần nhận thấy Sống chết mặc bay là một trong

những bông hoa đầu mùa ngát hương trên tờ báo thu hút đông đảo bạn

đọc Sống chết mặc bay là một trong hai đoản thiên tiểu thuyết thành công nhất trong toàn bộ 73 truyện với nhiều chủ đề khác nhau trên Nam Phong

tạp chí Tuy chỉ có hai tác giả phản ánh chân thực về đời sống của tầng

lớp thấp cổ bé họng trong xã hội lúc bấy giờ nhưng đã tạo ra một tiếng vang lớn, cho đến tận ngày nay hai tác phẩm vẫn giữ được vẹn nguyên giá trị và người đọc vẫn biết đến Nếu như Nguyễn Bá Học tái hiện cuộc sống khổ cực phải bán sức lao động một cách quá rẻ mạt của người công

nhân thợ dệt Nam Định trong “Câu chuyện một tối tân hôn” thì Phạm

Duy Tốn lại thấy được sự sống cái chết đang có ranh giới quá mỏng manh như sợi chỉ và thái độ thờ ơ của những tên quan mang danh cha mẹ của

dân Điều này được thể hiện rõ nét trong“Sống chết mặc bay” Tác phẩm

là một bức tranh sinh động tái hiện cảnh cơ cực của người nông dân suốt ngày bì bõm dưới bùn lầy để cứu đê chính là cứu mạng sống những người thân và cả chính mình Đê vỡ, đời sống của họ thật sự thê thảm, cảnh đê

vỡ “nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má

ngập hết…”, dẫn đến cảnh “kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn” tình cảnh thật là bi đát thảm sầu không tả xiết Bên cạnh cảnh màn

trời chiếu đất của nhân dân lam lũ là hình ảnh tên quan phụ mẫu sống xa hoa, sống thờ ơ vô trách nhiệm không xứng đáng với cái tên phụ mẫu Phải nói rằng Phạm Duy Tốn là một ngòi bút rất dũng cảm dám vạch trần những xấu xa tàn ác của bọn thống trị và cảm thông sâu sắc với số phận của những thân phận bé nhỏ bị ghì sát đất, thật đáng quý và đáng trân

Trang 33

trọng biết bao Ông không chỉ đặt nền móng đầu tiên cho thể loại truyện ngắn mà còn là một trong những người mở đầu trong việc xây dựng lên hình tượng những tên quan lại đểu cáng bóc lột vô lương tâm và cảnh bị bóc lột, cảnh cùng cực bần hàn của người nông dân cho những cây bút hiện thực phê phán sau này như: Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam Cao,

… tiếp nối hoàn thiện những hình tượng ấy trong những tác phẩm văn học để đời

Thứ hai, viết đoản thiên tiểu thuyết sớm nhất chúng ta không thể bỏ

qua tác giả Nguyễn Bá Học với truyện: “Câu chuyện gia tình” in trên số

10 của báo Nam Phong, sau đó hàng loạt các truyện khác như: “Truyện

ông Lý Chắm (N.P số 13), “Có gan làm giàu”(N.P số 23), “Câu chuyện nhà sư”(N.P số 26),“Dư sinh lịch hiểm kí”(N.P số 35), “Truyện cô Chiêu Nhì”(N.P số 43), “Câu chuyện một tối tân hôn”(N.P số 46),

“Truyện vui”, “À, chuyện chiêm bao”(N.P số 49) Ngoài ra, ông có

những bài viết về giáo dục, về Tùng đàm và những vấn đề luân lí đạo đức trong xã hội ít tính chất văn chương Tuy nhiên người ta biết tới ông với

tư cách là nhà văn thành công trong nhiều truyện ngắn Điều này đã được

chủ bút Phạm Quỳnh đã từng nói đến: “… Hay nhất, có giá trị nhất là

mấy bài đoản thiên tiểu thuyết, toàn những ngụ ý răn đời Lập ý đã hay, lời văn lại nhã Mỗi bài in ra, các bạn đọc báo lấy làm khoái trá vô cùng” (Nam Phong, số 50, trang 164) Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy

những đoản thiên tiểu thuyết của Nguyễn Bá Học hay và phù hợp với thị hiếu đương thời nhưng đến với xã hội hiện đại ngày nay, giá trị có phần suy giảm bởi truyện ít tố chất nghệ thuật và sa đà vào phô bày phân tích đúng sai, phân bua giải thích những luân lí đạo đức một cách rõ ràng như văn nghị luận Mặt khác, đôi chỗ lời lẽ và cách dẫn vào chuyện của ông

còn nặng nề lối giống như tiểu thuyết tàu như: “Cha tôi gọi tôi mà bảo

Trang 34

rằng…” ( trích “Dư sinh lịch hiểm kí” N.P số 35, năm 1920), hoặc: “Cổ nhân có câu cảnh ngôn rằng: “Con nhà giàu hay xa xỉ, con nhà sang hay kiêu căng” thật đúng như vậy…”( trích “Chuyện cô Chiêu Nhì” N.P số

43, năm 1921)… có thể rất mới và hấp dẫn với thời điểm lúc bấy giờ bởi

số đông độc giả thuộc thế hệ cựu học với tư tưởng cũ, chưa tiếp xúc nhiều

và bị cảm hóa bởi nghệ thuật của tiểu thuyết phương Tây Những vấn đề này cũng dễ được lí giải bởi những 25 năm đầu đời ông theo học Hán tự, thấm nhuần đạo học Khổng Tử, tiếp nhận tìm hiểu nhiều tiểu thuyết tàu Truyện ngắn của Nguyễn Bá Học tuy chưa mang đậm chất nghệ thuật nhưng không phải vì thế mà làm mờ đi công lao của ông trong việc đặt nền móng cho việc sáng tác truyện ngắn nước ta từ thời kì còn phôi thai, non nớt và mới mẻ Những tác phẩm của ông vẫn được nhiều nhà nghiên cứu thời nay tìm đến tiếp nhận một cách trân trọng

Tiếp đến tác giả luận văn tìm hiểu Đông Hồ Lâm Tấn Phác Ông là tác

giả một số bài thơ có giá trị trên Nam Phong tạp chí người của xứ Nam

kì Tên tuổi ông nổi lên và sống mãi trong lòng bạn đọc Nam Phong từ những bài như: bài lệ kí “Linh Phượng” (Nam Phong số 128 tháng 7 – 1928), Hồi ức lục: “Hoài cảm” (Nam Phong số 189, tháng 11 – 1933),

“Thăm đảo Phú Quốc”(Nam Phong số 124 năm 1927), “Hà tiên Mạc thi sử” (Nam Phong số 143 tháng 11 – 1929), một số bài thơ và bản dịch

Đông Hồ vốn là một nghệ sĩ đa sầu đa cảm, tình nghĩa đong đầy với những người xung quanh, đặc biệt là vợ mình Chính yếu tố tình

cảm này đã được đưa vào trong Linh Phượng và làm lên sức sống cho

tác phẩm Bài kí đi vào lòng người bởi từ đầu đến cuối tràn đầy những giọng thiết tha, ai oán Tuy những sự việc được kể đến không có gì là lớn lao kì vĩ xa xôi mà toàn là những việc nhỏ nhặt thường gặp trong

Trang 35

cuộc sống thực của mỗi chúng ta như: giặt giũ quần áo, chải đầu vấn tóc cho vợ sắp mất, lo thuốc thanh chạy chữa, nấu thuốc, nắn bóp chân tay cho đỡ mỏi… Những việc nhỏ ấy như là minh chứng tiêu biểu cho tình yêu thương, sự gắn bó khăng khít của người chồng đối với người sắp mất của mình Tình cảm vợ chồng đằm thắm gắn bó sâu nặng thiết tha không chỉ được thể hiện khi vợ còn sống mà có cả khi

đã mất tình cảm ấy được diễn tả trải dài trong những dòng văn ngay cả khi vợ mất Đó cũng là điểm khiến cho người đọc không khỏi bùi ngùi

thương xót khi đọc bài thơ trong lệ kí Linh Phượng:

Chăn gối cùng nhau những ấm êm Bỗng làm ngọc nát, bỗng châu chìm

Đầm đìa giọt thẳm khăn hồng thấm, Lạnh lẽo đêm xuân giấc mộng tìm

Hình dáng mơ màng khi thức ngủ, Tiếng hơi quanh quẩn nếp y xiêm

Bảy năm vui khổ, nghìn năm biệt, Sớm gió, chiều mưa những nỗi niềm

Tình cảm ấy đã lấy đi khá nhiều nước mắt của bạn đọc trong sự rung cảm xúc động từ sâu thẳm con tim Nói về cái hay, sự lâm ly buồn thương

của tác phẩm Phạm Quỳnh cũng có đôi lời giới thiệu ngợi khen: “Nước

tàu kia có bài văn khóc cháu của Hàn Thoái Chi, nước Nam ta há lại không có tập văn khóc vợ của Lâm Tấn Phác đó dư? ”

Ngoài ra, sự nghiệp Trác Chi Lâm Tân Phác còn là Tập thơ Đông Hồ (xuất bản năm 1933) trong đó đa số những bài thơ đã từng được in trên Nam

Phong tạp chí Tuy tập thơ có đôi chút “nhàm” nghĩa là thể loại, ngôn ngữ

và chủ đề của bài thơ rơi vào tình trạng quá quen thuộc với bạn đọc, gần như những bài thơ ấy đã bị pha loãng và giống với nhiều bài thơ khác trong thơ cũ

Trang 36

nên tạo ra cảm giác “quen thuộc” mà không có sự mới mẻ cho người tiếp nhận, đó là điều không mong muốn đối với người sáng tác ra nó Nhà nghiên

cứu Vũ Ngọc Phan đã nói rất rõ ý này trong cuốn “Nhà văn hiện đại” tập 1

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhận thấy sự chuyển biến đổi mới rõ nét trong

thơ ông ở giai đoạn sau tiêu biểu là tập: “Cô gái xuân” (xuất bản năm 1935) Phải chăng ông đã chịu ảnh hưởng ít nhiều từ thơ mới Đọc bài thơ: “Bốn cái

hôn” ta thấy rõ điều đó

“ Nay em đang ở giữa cảnh đêm xuân,

Gió trăng tình tứ đêm thanh tân

Trước vùng trời biển càng lồng lộng,

Cùng anh trao đổi tình ái ân

Khoác tay anh đi trên bãi cát, Cát bãi trăng soi màu trắng mát, Nghiêng đầu lơi lả tựa vai anh, Lặng nghe sóng bãi đưa dào dạt

Nước mây êm ái bóng trăng sao, Say xưa em nhìn lên trời cao, Buông khúc đàn lòng cùng nhịp gió, Giờ phút thần tiên hồn phiêu dao

Một hơi thở mát qua dịu dàng, Như cơn gió biển thoảng bay ngang, Rồi luồng điện ấm chạm lên má:

Ân ái môi anh kề nhẹ nhàng

Ngôn ngữ và nội dung thơ đọc dễ hiểu, quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày Tình yêu trai gái trong một đêm gió mát trăng thanh trên bãi biển cát trắng thật thơ mộng Lời thơ thật nhẹ nhàng như ru lên khúc ca tình yêu của đôi trai gái Giọng thơ thanh cao của lối thơ

cũ vẫn giữ được nhưng nội dung thơ có sự chuyển biến đổi mới, đã

Trang 37

dùng dùng biện pháp nghệ thuật tả chân của phong trào thơ mới Những

gì chân thực trong cuộc sống được đưa vào bài thơ tạo ra sự mới mẻ sức cuốn hút bạn đọc lúc bấy giờ

Việc đưa một số tác giả tiêu biểu: Phạm Duy Tốn, Lâm Tấn Phác,

Nguyễn Bá Học vào mục lực lượng trước tác trên Nam Phong tạp chí thuộc thế hệ tân học chỉ mang mức tương đối vì họ vẫn còn có những liên

quan mật thiết tới nho học nhưng bên cạnh đó, họ nổi danh và có những thành công nhất định nhờ mảng sáng tác đổi mới trên nhiều bình diện Họ

là những con chim đầu đàn trong thể loại truyện ngắn, đoản thiên tiểu thuyết, thơ hiện đại và đổi mới trong đề tài Những đề tài của họ gần gũi

và thiết thực trong cuộc sống con người hơn

3 Tiểu sử, con người và sự nghiệp của Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục

trên Nam Phong tạp chí

3.1 Đôi nét về tiểu sử của Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục

Chưa có một nhà văn, nhà báo hay nhà nghiên cứu nào có những bài viết, nghiên cứu sâu sắc về Nguyễn Đôn Phục, nên trong khi tiến hành đề tài chúng tôi đã gặp phải những khó khăn nhất định trong việc tìm tài liệu

về tiểu sử, trích ngang của tác giả Tuy nhiên, dựa trên những bài du kí

và quá trình tìm hiểu chúng tôi cũng có thể dựng lại một Nguyễn Đôn Phục đầy đủ nhất có thể

Trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỉ 20 do nhóm Trịnh Bá Đĩnh -

Cao Kim Lan – Tôn Thảo Miên – Nguyễn Hữu Sơn biên soạn đã sưu tầm toàn bộ những bài kí của Tùng Vân từ trang 266 đến trang 401, và trước

đó có trích ngang lí lịch: Nguyễn Đôn Phục (1878 – 1954) Nhà báo, nhà văn, tự Hy Cán hiệu là Tùng Vân, nguyên quán ở Thanh Hóa, sau rời ra làng Uy Nỗ Thượng, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Thuở nhỏ, vì bố làm Tri phủ miền Trung, Nguyễn Đôn Phục phải học chữ quốc ngữ ở nhà với mẹ Sau vụ án giết hại vua Hiệp Hòa

Trang 38

(năm 1883), người bố từ quan trở về làng mở trường dạy học chữ Hán, lúc đó ông mới bắt đầu theo học chữ Hán Năm 1900 đi thi Hương ở Nam Định nhưng chỉ làm bài thứ nhất rồi bỏ Sau đó được gửi ra La Đình ở Hà Đông để học tiếp Năm 1906 lại tiếp tục đi thi và đậu Tú tài Từ đó trở

thành cây bút đắc lực của tạp chí Nam Phong

Trong thực tế, tiểu sử về Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục chưa được kĩ lưỡng nhưng các tác giả trên dựng lên như vậy là điểm qua những nét chính nhất Dựa trên một số tài liệu chúng tôi dựng lại một Nguyễn Đôn Phục đầy đủ chi tiết nhất có thể, từ năm sinh năm mất, con đường sự nghiệp, con người của ông Tuy nhiên có chi tiết về quê quán thì thật khó thống nhất bởi có nhiều tài liệu nói khác nhau Có lẽ, đó là do Nguyễn Đôn Phục chưa được trú trọng nghiên cứu sâu và do việc ông có sinh ra trên một miền quê nhưng lại sống ở nhiều miền quê khác nhau

Nguyễn Đôn Phục sinh năm 1978 mất 1954, nguyên quán Thanh Hóa nhưng có một số tài liệu cho rằng ông là người sinh ra tại làng Uy Nỗ thượng Tổng Cầu – Từ Sơn – Bắc Ninh sau này được sát nhập vào Đông Anh trong một gia đình nhà nho, có nhiều người làm quan Đặc biệt, cha Nguyễn Đôn Phục đã từng giữ chức vụ tri phủ Điện Bàn tỉnh Quảng Nam Trong khoảng thời gian cha đi làm ăn xa Nguyễn Đôn Phục sống ở nhà với người mẹ hiền hậu mẫu mực Sau vụ án vua Hiệp Hòa bị giết hại, cha

từ chức về quê sống ẩn dật như những nhà tri thức đương thời, dạy học Năm 1883, lớp học của ông đồ nho làng ngày càng đông có quy mô gần như trường học Trong số học trò đông ấy có một trò ngang tàng bướng bỉnh rất đặc biệt, đó là Nguyễn Đôn Phục Như vậy ông bắt đầu học vào năm 6 tuổi

Năm 1900, Nam Định mở khoa thi hương, Nguyễn Đôn Phục cũng khăn gói đèn sách lên đường, nhưng mới chỉ làm được bài thi thứ nhất đã

Trang 39

bỏ thi về với lí do đề thi ra không đúng với ý học của ông Đó là một hành động cử chỉ hết sức ngang tàng, bướng bỉnh khiến cho ông đồ nho thân sinh vô cùng bực tức Cụ đã bắt Nguyễn Đôn Phục phải đến La Đình, thuộc Hà Đông (cũ) trông nom nhà cửa sớm biết lo liệu bản thân, bớt tính ham chơi Đúng như hướng giáo dục và niềm mong đợi của cụ, Nguyễn Đôn Phục rất chăm chỉ làm ăn, quán xuyến công việc trở thành điền chủ

và đặc biệt không quên nhiệm vụ đèn sách, ông đã thu nạp một số học trò lập một trường học để dạy dỗ đồng thời cũng ngày đêm rèn luyện bản thân chờ đến khoa thi Khoa thi đã đến, ông đi thi và đỗ đạt như gia đình mong đợi

Yếu tố thời đại, vẻ đẹp của quê hương, gia đình bạn bè đã tác động mạnh tới con người những suy nghĩ của tác giả Những điều này được ông tâm sự trong những bài ký của mình Những bài kí của Nguyễn Đôn Phục chính là những bài viết trải lòng của tác giả Qua những bài kí ấy chúng ta không chỉ có những phút giây trải nghiệm đó đây cùng bước chân của tác giả mà còn hiểu được cả thời đại lúc bấy giờ và những gì diễn ra xung quanh, hiểu được gia đình bản quán và những ý nguyện tâm

tư con người của tác giả

Sau khi đỗ ông tiếp tục sự nghiệp dạy chữ nho cho những học trò của

mình đến khi Nam Phong tạp chí ra đời được hơn một năm ông bắt đầu

cộng tác nhiệt tình tâm huyết không mệt mỏi đến tận số báo chót năm

1934 Tên tuổi Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục xuất hiện dày đặc trên các tiểu mục: Dịch, Đoản thiên tiểu thuyết, Thơ, Văn uyển và Hài văn Ông

trở thành cây bút cốt cán làm nên sự thành công của NamPhong tạp chí

3.2 Những quan niệm về chữ nho, chữ quốc ngữ và quốc văn đương

thời của nhà nho Nguyễn Đôn Phục

Sống trong thời đại đầy những biến động cả về chính trị, kinh tế đặc biệt là văn hóa, Tùng Vân cũng có những nhận định đánh giá của riêng

Trang 40

mình Ông có những quan điểm đánh giá nhìn nhận đúng mức xác đáng

về văn hóa văn học của dân tộc như: Vấn đề về chữ nho và chữ quốc ngữ, quan điểm đánh giá phân loại các nhà nho hay nhận định tầm quan trọng của sự giáo dục đối với mỗi con người…

một nhà nho nhưng ông có những quan điểm rất phân minh rạch ròi về tầm quan trọng vị trí của chữ Nho với chữ quốc ngữ trong cuộc sống và trong lĩnh vực văn hóa văn học Không giống nhiều nhà nho kì cựu theo

sự học cũ luôn đề cao chữ Nho và coi nhẹ chữ quốc ngữ, Nguyễn Đôn Phục luôn đề cao chữ Nho nhưng cũng đánh giá đúng vị trí tầm quan trọng của chữ quốc ngữ Với chữ Nho, tác giả cho rằng đó là thứ chữ làm nên linh hồn của dân tộc Nếu chữ Nho còn thì tinh thần dân tộc còn mà chữ Nho mất thì tinh thần dân tộc cũng vì thế mà không còn Trong bài:

“Lời phẩm bình sách quốc ngữ trong nhà giáo” in trong Nam Phong tạp chí số 69 Tùng Vân đã khẳng định rõ: “Do lai ngữ ngôn nước ta, phải pha chữ Nho vào mà làm tài liệu; không những để làm tài liệu, lại để làm tinh thần; chữ Nho mất thì tài liệu ngữ ngôn, tinh thần ngữ ngôn nước Nam mất; chữ Nho còn thì tài liệu ngữ ngôn, tinh thần ngữ ngôn nước nam ta còn; cái nguyên nhân ấy nên xét” Hoặc: “…Dân tộc ta nếu lìa chữ nho ra thì còn gì là quốc túy nữa, bảo rằng bảo tồn quốc văn, nếu lìa chữ nho ra thì còn gì quốc văn nữa…” ( trích “Vấn đề quốc văn Nam Phong tạp chí, số 126, năm 1928) Nhưng không vì thế mà nhà nho

Nguyễn Đôn Phục đóng cửa với chữ quốc ngữ Ngược lại, ông rất cởi mở đón nhận những gì mới mẻ do chữ quốc ngữ mang lại Tác giả nhận thấy

rõ vai trò của loại chữ này: “Nếu văn chương không đủ ngôn ngữ mà giải,

sách vở không đủ tài liệu mà làm, thì chắc là trí thức dân tộc ấy một ngày một thấp lui, não chất dân tộc ấy một ngày một xốp nổi, linh hồn dân tộc

ấy một ngày một ngẩn ngơ, nòi giống dân tộc ấy một ngày một hao mòn,

Ngày đăng: 07/07/2015, 11:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Gia Định báo (1890): Thƣ viện Quốc gia Hà Nội, kí hiệu J.160 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia Định báo
2. Nông cổ mín đàm (1901- 1907): Thƣ viện Viện Văn học Hà Nội, Vb 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông cổ mín đàm
3. Đông Dương tạp chí (1913 – 1917): Thƣ viện Viện văn học Hà Nội,Vt8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Dương tạp chí
4. Nam Phong tạp chí (1917 – 1934): Thƣ viện Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Phong tạp chí
5. An Nam tạp chí (1926- 1933): Thƣ viện Viện Văn học, Hà Nội, Vt1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Nam tạp chí
6. Đông Phương (1929 – 1933: Thƣ viện Quốc gia, Hà Nội, BV/262, BV256.B. SÁCH VÀ TẠP CHÍ, LUẬN ÁN NGHIÊN CỨU Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Phương
1. Vũ Tuấn Anh – Bích Thu (chủ biên), Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam, Nxb Văn học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
2. Lại Nguyên Ân (1998), “Vai trò của dịch thuật trong sự hình thành văn xuôi tiếng Việt”, Đọc lại người trước, đọc lại người xưa, Nxb Hội Nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của dịch thuật trong sự hình thành văn xuôi tiếng Việt”", Đọc lại người trước, đọc lại người xưa
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1998
3. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
4. Hoa Bằng (1942), “Những khuynh hướng trong văn học Việt Nam cận đại: Gia Định báo 1865, Nam Phong tạp chí 1917”, tạp chí Tri Tân số 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khuynh hướng trong văn học Việt Nam cận đại:" Gia Định báo "1865, "Nam Phong tạp chí "1917”, tạp chí "Tri Tân
Tác giả: Hoa Bằng
Năm: 1942
5. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin Hà Nội
Năm: 2001
7. Nguyễn Huệ Chi (1996), Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam, Nxb tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vẻ mặt thi ca Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb tác phẩm mới
Năm: 1996
8. Trường Chinh (1974), Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam, Nxb , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: Nxb
Năm: 1974
10. Nguyễn Đình Chú (chủ biên), Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyên An (1990), Tác giả văn học Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác giả văn học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Chú (chủ biên), Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyên An
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1990
11. Huỳnh Tịnh Của (1972), Chuyện giải buồn. Nxb Hoa Tiên, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện giải buồn
Tác giả: Huỳnh Tịnh Của
Nhà XB: Nxb Hoa Tiên
Năm: 1972
12. Phạm Văn Diêu (1961), Việt Nam văn học bình giảng, Nxb Tân Việt Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học bình giảng
Tác giả: Phạm Văn Diêu
Nhà XB: Nxb Tân Việt Sài Gòn
Năm: 1961
13. Xuân Diệu (1983), Tuyển tập, thơ (Hoàng Trung Thông giới thiệu), NxbVăn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, thơ
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: NxbVăn học
Năm: 1983
14. Nguyễn Du (1971), Truyện Kiều, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện Kiều
Tác giả: Nguyễn Du
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1971
15. Nguyễn Du (1999), Về tác giả tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tác giả tác phẩm
Tác giả: Nguyễn Du
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
16. Tôn Thất Dụng (1993), Sự hình thành và vận động của thể loại tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ giai đoạn từ cuối thế kỉ XIX đến 1932, Luận án PTS Ngữ Văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành và vận động của thể loại tiểu thuyết văn xuôi tiếng Việt ở Nam Bộ giai đoạn từ cuối thế kỉ XIX đến 1932
Tác giả: Tôn Thất Dụng
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w