Một điểm đặc biệt trong cuộc đời Phan Bội Châu ở chỗ ông như là con đẻ của các phong trào cứu nước, lại được sinh ra trên đất Nghệ Tĩnh – tâm điểm của phong trào “bình Tây sát tả” lúc bấ
Trang 1đại học quốc gia Hà Nội Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
NGUYỄN VĂN TUẤN
ĐỀ TÀI THIấN CHÚA GIÁO TRONG TRƯỚC TÁC PHAN BỘI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYấN NGÀNH VĂN HỌC VIỆT NAM
Hà Nội – 2014
Trang 2đại học quốc gia Hà Nội Tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
NGUYỄN VĂN TUẤN
ĐỀ TÀI THIấN CHÚA GIÁO TRONG TRƯỚC TÁC PHAN BỘI CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60 22 01 21
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: GS.TS TRẦN NGỌC VƯƠNG
Hà Nội – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trần Ngọc Vương Đề tài không trùng lặp với bất cứ công trình khoa học nào Những vấn đề trình bày trong luận văn này là kết quả do chúng tôi nghiên cứu, bảo đảm tính trung thực Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước những luận điểm khoa học nêu ra trong công trình này
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Tuấn
Trang 4Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2014
Nguyễn Văn Tuấn
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề 5
3 Phạm vi nghiên cứu 10
4 Phương pháp nghiên cứu 10
5 Đóng góp của đề tài 11
6 Cấu trúc luận văn 11
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: Sự du nhập của đạo Thiên chúa vào Việt Nam và sự hình thành mảng đề tài viết về Thiên chúa giáo trong văn học Việt Nam trung cận đại 13
1.1 Sự du nhập của đạo Thiên chúa vào Việt Nam 13
1.1.1 Những tiền đề và quá trình truyền bá đạo thiên chúa vào Việt Nam 13
1.1.1.1 Mầm mống của sự truyền bá đạo Thiên chúa ra vùng đất ngoại 13
1.1.1.2 Quá trình truyền bá đạo Thiên chúa vào Việt Nam 15
1.1.2 Đạo Thiên chúa và sự bành trướng thuộc địa của Pháp tại Việt Nam 16
1.1.2.1 Công cuộc truyền giáo với sự bành trướng thế lực của thực dân Pháp tại Việt Nam đến nửa đầu thế kỷ XIX 17
1.1.2.2 Những mưu toan chính trị của các thừa sai nửa cuối thế kỷ XIX 21
1.2 Sự hình thành mảng đề tài Thiên chúa giáo trong văn học Việt Nam trung cận đại 31
1.2.1 Sự ghi chép về Thiên chúa giáo trong các tư liệu lịch sử 31
1.2.2 Đề tài Thiên chúa giáo trong những sáng tác văn học 35
Chương 2: Quan niệm của Phan Bội Châu về Thiên chúa giáo 41
2.1 Vị trí Thiên chúa giáo trong trước tác Phan Bội Châu 41
2.2 Quan niệm của Phan Bội Châu về vấn đề văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo của đạo Thiên chúa 44
2.3 Thái độ của Phan Bội Châu trong mối quan hệ giữa đạo Thiên chúa và sự xâm lược của thực dân Pháp 50 Chương 3: Những điểm mới trong đề tài
Trang 6Thiên chúa giáo của Phan Bội Châu 59
3.1 Đoàn kết lương giáo – một tư tưởng tiến bộ của Phan Bội Châu chống kẻ thù xâm lược 59
3.1.1 Vấn đề lương – giáo trong phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX 60
3.1.2 Tư tưởng đoàn kết lương – giáo của Phan Bội Châu trong phong trào đấu tranh chống kẻ thù xâm lược 66
3.2 Điểm mới về Thiên chúa giáo của Phan Bội Châu so với các nhà Nho đương thời 74
3.2.1 Đạo Thiên chúa trong cái nhìn của vua quan triều Nguyễn và các các nhà Nho đương thời 74
3.2.2 Tư tưởng mới của Phan Bội Châu về đạo Thiên chúa 80
PHẦN KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
“Lịch sử của tôi hoàn toàn là lịch sử thất bại”
(Phan Bội Châu niên biểu)
Đây là lời nhận xét, tự đánh giá về mình của Phan Bội Châu, ông đã sống trọn vẹn trong một giai đoạn lịch sử đầy đau thương và cuộc đời ông đầy những thất bại như ông đã nói, nhưng lại là người bền gan chí chịu đựng mọi thất bại đó
Phan Bội Châu (1867 – 1940) sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho “đời đời theo nghiệp đọc sách” tại Nghệ An, cho nên, từ bé ông đã được đào tạo theo khuôn mẫu Nho giáo Tuy nhiên, ông lại là một trong những nhà yêu nước có hoàn cảnh đặc biệt nhất Ông được sinh ra sau 5 năm khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược Nam
Kỳ và mất trước 5 năm khi Cách mạng tháng Tám thành công Như vậy, cả cuộc đời ông nằm trong giai đoạn lịch sử đau thương của đất nước Thêm vào đó là ông được lớn lên trong không khí của chiến tranh và nỗi căm uất trước sự xâm lược của bọn
Đế quốc thực dân, dần dần Phan Bội Châu hiểu ra rằng “cần phải nuôi chí diệt thù”
để cứu nước, cứu dân tộc
Phan Bội Châu cũng là một nhà Nho, nhưng lại ở vào giai đoạn cuối thời khi
mà chế độ Phong kiến đã đi đến hồi kết thúc, nên ông khác với các nhà Nho khác
mà như Trần Đình Hượu đã viết: “Ông từ một nhà Nho, thành một người hoạt động
cứu nước, thành nhà chính trị, rồi ông trở thành một nhà văn Con đường trở thành nhà chính trị, nhà văn của Phan Bội Châu đã trải qua nhiều hoàn cảnh cụ thể mà qua đó, thời đại khắc họa những dấu ấn sâu sắc, làm cho ông khác những nhà Nho khác, mà cũng tiêu biểu nhất cho những nhà Nho đó” [32/135] Đối với lịch sử đấu
tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam, Phan Bội Châu như là người tiếp nối những
trang sử đó, ông “đã đóng một vai trò trọng đại, tiếp nối phong trào Cần Vương
cuối thế kỷ XIX, nuôi dưỡng truyền thống quật khởi, bất khuất, anh hùng của người Việt Nam trước đợt sóng dập dồn của nạn xâm lăng” [72/294] Đối với văn chương,
Phan Bội Châu là một tác gia lớn, một nhân cách lớn, ông có một sự nghiệp vĩ đại trong bước ngoặt của lịch sử văn chương dân tộc Phan Bội Châu là người viết nhiều với ý thức làm văn để phục vụ chính trị cứu nước, và rất ít tác phẩm của ông viết ra
để tiêu khiển, trừ những năm cuối đời bị giam lỏng ở Huế Cho nên, có thể nói văn
Trang 8chương của Phan Bội Châu là bộ phận khăng khít trong quá trình hoạt động cách mạng của ông:
Mõ chuông là cái lưỡi đây Lôi đình trên ngọn bút này nổi lên!
Những sáng tác của Phan Bội Châu chủ yếu nhằm xây dựng tư tưởng yêu nước
và tinh thần chiến đấu cho nhân dân chống quân xâm lược Ông ca ngợi những trang quốc sử oanh liệt, các bậc anh hùng của đất nước qua các thời đại Đồng thời, ông cũng tố cáo mọi chính sách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp, để mọi người dân thấy rõ bản chất của cuộc xâm lược, đồng thời thức tỉnh nhân dân không nên có một chút ảo tưởng về cái gọi là “sứ mệnh khai hóa văn minh” của Pháp Ông đã sáng tác rất nhiều những thơ văn yêu nước và cách mạng, thơ văn đó của ông không chỉ cổ
vũ cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trong giai đoạn lịch sử lúc bấy giờ,
mà nó còn “soi sáng cho những thời đại đến sau trên con đường đấu tranh vì đại
nghĩa” [72/294]
Phan Bội Châu hướng đến nhiều đối tượng trong quần chúng nhân dân nhằm tuyên truyền con đường cách mạng và cứu nước Trong đó, ông có hướng đến đối tượng là những đồng bào Thiên chúa giáo, những người mà có ảnh hưởng rất lớn tới
xã hội Việt Nam lúc bấy giờ, đặc biệt là ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Một điểm đặc biệt trong cuộc đời Phan Bội Châu ở chỗ ông như là con đẻ của các phong trào cứu nước, lại được sinh ra trên đất Nghệ Tĩnh – tâm điểm của phong trào “bình Tây sát tả” lúc bấy giờ đang sôi sục trên quê hương, nhưng ông lại có một ứng xử tiến bộ đối với người công giáo và đạo Thiên chúa mà các thế
hệ lãnh tụ cứu nước trước đó không có Ông có cái nhìn khách quan mang tính tích cực về con người cũng như tín ngưỡng của tôn giáo này Ông là người đã đề cập đến vấn đề giai cấp và đoàn kết dân tộc trong phong trào đấu tranh cứu nước đối với đồng bào Thiên chúa giáo Vấn đề Thiên chúa giáo trong trước tác của Phan Bội Châu có ý nghĩa vô cùng to lớn trong sự nghiệp cứu nước của dân tộc Tuy nhiên, cho đến nay, các nhà nghiên cứu mới chỉ có một vài công trình nhỏ nghiên cứu về Thiên chúa giáo trong sự nghiệp trước tác của ông, và các công trình này cũng mới chỉ giải quyết một phần nào về khía cạnh đoàn kết tôn giáo, mà chưa đi sâu vào những đóng góp tích cực của ông đối với vấn đề Thiên chúa giáo Tiếp tục công việc
trên, tôi đã chọn đề tài: Đề tài Thiên chúa giáo trong trước tác Phan Bội Châu để
tìm hiểu sâu hơn về vấn đề Thiên chúa giáo trong tư tưởng của Phan Bội Châu, đồng
Trang 9thời để thấy được những điểm mới của Phan Bội Châu về loại hình tôn giáo được du nhập từ phương Tây này so với các thế hệ nhà Nho trước đó trong thực tiễn đấu tranh cách mạng lúc bấy giờ
2 Lịch sử vấn đề
Xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là một trong những giai đoạn đầy biến động Thời kỳ này đã xuất hiện nhiều khuynh hướng, đường lối, và phương pháp duy tân đất nước của các nhà Nho yêu nước Tư tưởng của họ tuy có khác nhau nhưng cùng chung một mục đích là cứu dân, cứu nước và phát triển xã hội Trong đó, Phan Bội Châu được xem như một ngôi sao sáng, là ngọn cờ đầu trong phong trào duy tân, giải phóng dân tộc Phan Bội Châu đã để lại cho chúng ta một kho tư liệu quý giá và đồ sộ trên nhiều lĩnh vực như văn học, sử học, tư tưởng, triết luận Cho đến nay, lịch sử nghiên cứu về Phan Bội Châu vẫn đang tiếp tục và ngày càng thu hút được sự quan tâm của nhiều thế hệ chính trị gia, các nhà nghiên cứu, hay các văn nghệ sĩ đánh giá về toàn bộ sự nghiệp trước tác cũng như cuộc đời của ông
Người có nhiều công trình nghiên cứu về Phan Bội Châu nhất có lẽ là nhà sử học Chương Thâu Ông đã có trên 90 công trình nghiên cứu được đăng trên các báo, tạp chí và hội thảo khoa học, và hơn 40 công trình sách chuyên khảo, biên soạn hoặc viết riêng, hoặc viết chung với các nhà nghiên cứu khác về Phan Bội Châu và những vấn đề liên quan tới nhà ái quốc vĩ đại này Đồng thời, nhà sử học Chương Thâu
cũng là người sưu tầm và biên soạn bộ sách Phan Bội Châu toàn tập gồm 12 tập trong đó có 10 tập trước của Phan Bội Châu toàn tập được xuất bản năm 1990 (đến
nay đã tái bản nhiều lần) và hai tập bổ di 1 và bổ di 2 bổ xung một số thơ văn chưa được công bố trước đó, mà một trong hai tập bổ di này đã được xuất bản năm 2012
Với sự biên khảo sưu tầm Phan Bội Châu toàn tập này của nhà sử học Chương Thâu “xứng đáng được coi là một mẫu mực của niềm hiếu kính và say mê của một
nhà khoa học đối với bậc tiền liệt, cũng tiêu biểu cho tính toàn vẹn, khách quan và
độ tin cậy văn bản học mà một cá nhân nhà khoa học có thể làm trên tinh thần tự nguyện và về cơ bản là tự cấp tự túc” [70/491]
Một trong những công trình nghiên cứu về Phan Bội Châu được đánh giá cao nhất, đáng chú ý nhất là hai công trình nghiên cứu của giáo sư Đặng Thai Mai và
giáo sư Trần Đình Hượu mà theo giáo sư Trần Ngọc Vương cho rằng đây là “những
Trang 10công trình đã có nhiều phương diện đạt tới độ cơ bản cổ điển và tính hàm súc văn hóa” [70/490]
Trong công trình của mình với nhan đề Văn thơ Phan Bội Châu, Đặng Thai
Mai đã nhận xét một cách khá chắc chắn khi cho rằng Phan Bội Châu là người mở
đường về phương diện dùng văn chương phục vụ chính trị: “Một điều mà mọi người
đều có thể nhận thấy là với Phan Bội Châu, văn học bắt đầu có một nhiệm vụ xứng đáng, cao cả, nhiệm vụ phục vụ cho chính trị” [17/454] Ông là người dẫn đầu và
thành công rõ rệt hơn ai hết về thơ ca yêu nước Đặng Thai Mai đã chỉ ra sự thành công rõ rệt đó trong những sáng tác thơ ca của Phan bội Châu ở chỗ đã biểu hiện được tất cả cái tinh thần yêu nước nồng nàn của cả một dân tộc trong thời đại lúc
bấy giờ Cái yếu tố chan chứa trong thơ Phan Bội Châu là “tình cảm” và “tưởng
tượng”, có cả một pho tình cảm vĩ đại về hai phương diện yêu và ghét đó là “yêu nước nhà, yêu nòi giống, yêu nhân dân Việt Nam Ghét quân thực dân cướp nước với lũ tôi đòi của chúng” Qua thơ văn của Phan Bội Châu, nét đặc biệt nổi lên là
tấm lòng tin tưởng, không hoài nghi về tình đồng chí, đồng bào
Về ảnh hưởng đến tư tưởng Phan Bội Châu cũng như sự nghiệp văn chương của ông, ngoài quê hương ông là xứ Nghệ, với những sinh hoạt vật chất và tinh thần truyền thống đấu tranh của nhân dân xứ Nghệ trong các phong trào yêu nước, thì ông còn chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố của xã hội, thời đại Sự tiếp xúc với các nhà cải lương và các nhà cách mạng ở Trung Hoa, Nhật Bản cũng đã làm đổi mới
lời văn và tư tưởng của Phan Bội Châu, chính điều đấy mà: “Văn chương chữ Hán
Phan Bội Châu sẽ hùng hồn, lưu loát, khác hẳn với lối viết khúc mắc, nặng nề của các danh Nho lớp trước ở nước ta” [17/421]
Một phát hiện khá mới mẻ về sáng tác của Phan Bội Châu ở chỗ Đặng Thai Mai cho rằng Phan Bội Châu có thể xem như là nhà văn, nhà thi sĩ đầu tiên đã sáng
tác theo tinh thần lãng mạn cách mạng trong văn học nước nhà: “Tinh thần lãng mạn
cách mạng là đặc điểm và cũng là phần thành công, là giá trị của văn thơ Phan Sào Nam” [17/469], bởi theo tác giả thì có một dòng văn học lãng mạn xuất phát từ một
cơ sở hiện thực, từ một tình yêu vĩ đại là yêu Tổ quốc, yêu nhân loại, ghét cái giả
dối, hống hách, sự bóc lột, thù địch của nhân loại chân chính, cho nên: “Văn học
lãng mạn đó cũng có tác dụng tố cáo cái hiện thực xấu xa cần phải tiêu diệt”
[17/471] Thêm vào đó thì văn lãng mạn tích cực có thể làm cho người đời một hi vọng đẹp đẽ, củng cố lòng tin con người vào tương lai tươi sáng, mang lại cho họ
Trang 11tinh thần lạc quan và ý chí đấu tranh kiên quyết Hiện thực và tinh thần tích cực là
giá trị chân chính của văn học lãng mạn cách mạng và “văn thơ Phan Sào Nam,
trong một thời kỳ, quả có những yếu tố trữ tình hiện thực và tích cực đó” [17/471]
Trong giáo trình Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 – 1930, Trần Đình
Hượu đã dành 1 chương để viết về Phan Bội Châu Đây là một công trình nghiên cứu công phu, đầy đủ nhất từ con người và cuộc đời của Phan Bội Châu đến sự nghiệp cứu nước cũng như những đóng góp và cách tân trong văn chương của ông Với một sự nghiên cứu cần mẫn và nghiêm túc của mình, Trần Đình Hượu đã chỉ ra cuộc đời của Phan Bội Châu không giống như những nhà Nho lớp trước mặc
dù ông được sinh ra trong một gia đình truyền thống Nho học Từ một nhà Nho,
Phan Bội Châu trở thành một nhà hoạt động chính trị, rồi trở thành nhà văn, “con
đường trở thành nhà văn chính trị của Phan Bội Châu trải qua những hoàn cảnh cụ thể, độc đáo, qua đó, thời đại khắc lại nhiều dấu ấn sâu sắc, làm cho ông khác họ
mà lại tiêu biểu nhất cho họ” [32/135] Văn học của Phan Bội Châu là văn học gắn
với chính trị, Trần Đình Hượu đã phân tích con đường trở thành nhà văn chính trị của Phan Bội Châu, với gần 60 năm hoạt động trong lĩnh vực văn chương của mình, với sự đổi thay của thời đại, tư tưởng chính trị và sáng tác văn học của Phan Bội
Châu cũng có những bước thay đổi, thăng trầm, và ông là “người táo bạo đi đầu
không ngần ngại đổi mới” Sự đổi mới đó bắt nguồn từ những điều kiện tự nhiên,
lịch sử và xã hội đã ảnh hưởng đến con người ông Mà trong đó, có lẽ chính quê hương ông, quê hương xứ Nghệ đã làm thay đổi nhận thức của ông về thời cuộc và cách mạng Thêm vào đó, Phan Bội Châu lại là một danh sĩ, nổi tiếng về văn chương
và tinh thần yêu nước Chính vì thế mà “cá tính và màu sắc địa phương để lại dấu
ấn đậm nét trong văn chương của ông, tạo thành đặc sắc, nét nhất quán trong văn chương, từ thể phú của văn chương cử tử đến truyện thơ cổ động, đến cả tính cách nhân vật trong truyện ngắn và tiểu thuyết” [32/142]
Bắt nguồn từ lòng yêu nước tha thiết, từ tình cảnh không chịu cái nhục nô lệ mất nước mà Phan Bội Châu đã đứng lên đoàn kết dân tộc chống kẻ thù Trần Đình
Hượu đã đưa ra nhận xét về tư tưởng đoàn kết của Phan Bội Châu “tuy có những
nhược điểm lớn trong cơ sở lý luận, tư tưởng đoàn kết dân tộc của Phan Bội Châu
là một bước phát triển cao so với tư tưởng truyền thống ” [32/164] Phan Bội Châu
đã khôi phục được truyền thống đoàn kết trong nhân dân Bên cạnh đó Trần Đình Hượu cũng nói đến những cách tân văn chương trong các thể loại viết về người anh
Trang 12hùng cứu nước Những người cứu nước với phẩm chất đặc biệt sẽ được thể hiện
trong người cộng sản Việt Nam đó là “yêu nước, tình đồng chí, gắn bó với dân tộc”
[32/184]
Về đề tài Thiên chúa giáo cũng đã có một số bài viết nói về tư tưởng đoàn kết lương – giáo của Phan Bội Châu Trước hết ta kể đến bài nghiên cứu khá sớm về đề tài này vào năm 1967 trên Tạp chí nghiên cứu Lịch sử của tác giả Đặng Huy Vận
với nhan đề Phan Bội Châu và công cuộc vận động đồng bào Thiên chúa giáo đầu
thế kỷ XX1 Ở bài viết này, Đặng Huy Vận đã chỉ ra nguyên nhân của âm mưu chia
rẽ dân tộc là những bọn gián điệp đội lốt thầy tu lợi dụng chính sách cấm đạo của triều Nguyễn cũng như những phong trào yêu nước của các sĩ phu cuối thế kỷ XIX
Với những âm mưu chia rẽ đó đã “khiến cho những người sĩ phu kháng chiến không
đoàn kết được nhân dân chống Pháp mà còn để lại những hệ quả rất tai hại cho phong trào cách mạng sau này” [57/191] Trong bài viết, tác giả đã nêu chủ trương
của Phan Bội Châu về vấn đề đoàn kết lương giáo Đặng Huy Vận đã phân tích một cách sâu sắc những bằng chứng mà Phan Bội Châu đưa ra về tinh thần yêu nước của đồng bào công giáo cũng như việc thực dân Pháp lợi dụng tôn giáo để xâm chiếm
nước ta Mặc dù “Phan chưa thấy rõ được nguồn gốc xã hội cũng như chưa thấy rõ
được cơ sở giai cấp của vấn đề tôn giáo để đặt vấn đề đoàn kết tôn giáo” [57/203],
nhưng mặt khác Phan Bội Châu đã “khẳng định tinh thần yêu nước của những người
giáo dân và chủ trương đoàn kết lương giáo, nhưng một mặt ông cũng thấy khá rõ giã tâm và âm mưu chính trị của bọn gián điệp đội lốt thầy tu Ông đã vạch rõ thủ đoạn xảo quyệt của bọn thực dân Tư bản chủ nghĩa trong việc sử dụng tôn giáo làm công cụ xâm lược và bành trướng thuộc địa” [57/194] Đặng Huy Vận cũng đã chỉ
ra được quan điểm tích cực của Phan Bội Châu về đạo Thiên chúa so với các nhà
Nho đương thời: “Phan Bội Châu chủ trương mọi người đều được tự do tín ngưỡng
Tuy nhận thức của ông còn đơn giản, nhưng so với quan niệm cực đoan của những người sĩ phu yêu nước cuối thế kỷ XIX thì đã là một tiến bộ và có lợi cho việc đoàn kết lương giáo lúc bây giờ” [57/193] Chính vì thế mà phải sang đầu thế kỷ XX với
Phan Bội Châu “vấn đề đoàn kết lương giáo mới được đặt trong cương lĩnh đấu
tranh cách mạng và hố sâu chia rẽ giữa lương và giáo mới phần nào được giải quyết” [57/191] Bên cạnh đó, tác giả cũng đưa ra những bằng chứng, những tư liệu
1
: Bài viết này sẽ được lấy trong cuốn Phan Bội Châu trong lòng thời đại do Chương Thâu sưu tầm và
tuyển chọn [57]
Trang 13về phong trào yêu nước chống Pháp của đồng bào công giáo đầu thế kỷ XX Đó là những tư liệu quý giá để chúng ta tiếp tục nghiên cứu về mối quan hệ giữa người công giáo với phong trào chống Pháp đầu thế kỷ XX
Đề cập đến vấn đề đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo chống Pháp, Phạm Hồng
Tung trên Tạp chí nghiên cứu Lịch sử số 6 năm 1999 có bài viết: Tìm hiểu thêm về
Phan Bội Châu và vấn đề đoàn kết lương – giáo chống Pháp đầu thế kỷ XX Trong
bài viết, tác giả đã nói rõ về sự hình thành và nội dung tư tưởng đoàn kết lương – giáo của Phan Bội Châu Từ điều kiện gia đình, bản thân, đặc biệt là những bài học rút ra từ những thất bại các phong trào yêu nước, những trải nghiệm và suy ngẫm của bản thân, Phan Bội Châu đã sớm xướng lên ngọn cờ đoàn kết lương – giáo:
“Ngay từ những ngày đầu dấn thân vào con đường cứu nước, Phan đã có dịp thông
qua hoạt động thực tiễn để tìm hiểu, nắm bắt, cảm nhận được tình hình, tâm tư, đặc biệt là lòng yêu nước của giáo dân Việt Nam Đây chính là cơ sở quan trọng nhất của việc hình thành nên tư tưởng đoàn kết lương – giáo của Cụ” [66/77] Trên cơ sở
đó, tác giả đã phân tích nội dung tư tưởng đoàn kết lương – giáo thông qua ba tác
phẩm: Việt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư và Tân Việt Nam, nội dung đó là
vấn đề đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân Việt Nam, bất kể lương hay giáo, đoàn kết để đánh đuổi giặc Pháp
Bài viết của Phạm Hồng Tung đã nêu được những đóng góp lớn của Phan Bội Châu trong vấn đề đoàn kết dân tộc trước hết ở tính kịp thời và nhận ra rằng chính
Phan Bội Châu là “một trong số những người Việt Nam đầu tiên dũng cảm dương
lên ngọn cờ đoàn kết lương – giáo chống Pháp hồi cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX”
[66/77] Và cơ sở hình thành lên tư tưởng đoàn kết lương – giáo của Phan Bội Châu không chỉ bắt nguồn từ lòng yêu nước thương dân sâu sắc, từ lòng quyết tâm sắt đá muốn khôi phục lại giang sơn đất nước, hay từ sự nghiền ngẫm về các bài học kinh nghiệm rút ra từ những thất bại của các phong trào yêu nước cuối thể kỷ XIX, mà nó
còn là “kết quả của việc khảo sát thực tế, từ kinh nghiệm của chính bản thân Phan
khi mới bước vào hoạt động cứu nước trong những năm đầu của thế kỷ này”
[66/17]
Về vấn đề Thiên chúa giáo trong sáng tác của Phan Bội Châu cũng đề cập ít
nhiều trong một số bài viết khác như: Quan điểm của Phan Bội Châu về tôn giáo và
văn hóa tôn giáo của Lê Tuấn Đạt trên Nghiên cứu Tôn giáo số 4 năm 2010, Văn
Trang 14hóa tôn giáo và quan niệm của Phan Bội Châu và Trần Trọng Kim về văn hóa tôn giáo của Nguyễn Quang Hưng trên Nghiên cứu Tôn giáo số 3 năm 2013
Sẽ là quá dài dòng và lan man, thậm chí còn đi lạc đường nếu chúng ta phân tích hết các công trình nghiên cứu về Phan Bội Châu, cho nên, tôi chỉ đi vào một số công trình nghiên cứu quan trọng gần với đề tài mà luận văn thực hiện Mặt dù còn rất ít những bài viết nghiên cứu về vấn đề tôn giáo, đặc biệt là Thiên chúa giáo trong
sự nghiệp trước tác của Phan Bội Châu, nhưng những công trình trên cũng đã khái quát được những vấn đề căn bản mà Phan Bội Châu đã viết về đạo Thiên chúa, đã nêu bật được những điểm tích cực về vấn đề đoàn kết lương – giáo vào công cuộc cứu nước của các đồng bào công giáo so với các nhà Nho đương thời
3 Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi nghiên cứu đến một số vấn đề về Thiên chúa giáo trong trước tác của Phan Bội Châu, cách nhìn nhận, những quan niệm của Phan Bội Châu về đạo Thiên chúa và đồng bào Thiên chúa giáo, từ đó thấy được ý đồ của tác giả khi viết về mảng đề tài này Đề tài cũng có sự mở rộng đến những bài viết về Thiên chúa giáo trong những giai đoạn trước đó để chúng ta có thể hình dung những chặng đường phát triển trong nhận thức của các nhà Nho đối với đạo Thiên chúa, cũng như những điểm mới của Phan Bội Châu so với các thế hệ trước về một tôn
giáo mới được du nhập từ phương Tây
4 Phương pháp nghiên cứu
Đối với đề tài này, luận văn sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp lịch sử – xã hội: Sử dụng phương pháp nghiên cứu này là đặt hiện tượng văn học vào bối cảnh xã hội để nghiên cứu Phương pháp này giúp cho hiện tượng văn học bám chặt vào hoàn cảnh xã hội với những chứng cớ xác thực từ đời sống thực tiễn của con người và xã hội Phương pháp nghiên cứu này rất phù hợp khi nghiên cứu về nền văn học dân tộc, đặc biệt là văn học trong quá khứ, bởi văn học quá khứ có mối liên hệ mật thiết dường như không thể tách rời lịch sử xã hội
Sử dụng phương pháp này sẽ tránh cho chúng ta khỏi sa vào lối phê bình siêu hình,
xa rời thực tiễn, thậm chí sẽ đi quá xa vào việc bình luận vô căn cứ
Phương pháp so sánh: Sử dụng phương pháp này để chúng ta nhấn mạnh nét đặc thù của một nền văn học, một giai đoạn văn học hay một tác giả văn học so với giai đoạn trước đó hoặc cùng thời điểm đó So sánh là để “hiểu một sự vật thông qua các sự vật khác” Đồng thời, phương pháp này giúp cho chúng ta hiểu rõ bản chất và
Trang 15vị trí của một hiện tượng văn học, một giai đoạn văn học hay một tác giả văn học trong mối tương quan đa chiều của nó Cụ thể với đề tài này, sẽ so sánh cái nhìn, quan niệm, tư tưởng của Phan Bội Châu về đạo Thiên chúa với các thế hệ, các tác giả văn học nhà Nho ở giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX và trước đó Từ đó làm nổi bật nét đặc sắc về tư tưởng cũng như những đóng góp của Phan Bội Châu với đạo Thiên chúa
Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Đối với đề tài Thiên chúa giáo không chỉ
là vấn đề quan tâm của văn học với tư cách là một đề tài trong văn học, mà nó còn liên quan đến nhiều lĩnh vực khác như triết học, tôn giáo, lịch sử, tư tưởng Cho nên, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu liên ngành thì mới có thể nắm bắt được ý nghĩa rộng lớn và đích thực của nó Việc nghiên cứu từ nhiều góc độ sẽ cho phép ta tiếp cận được vấn đề về Thiên chúa giáo một cách thấu đáo
Bên cạnh đó bài viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như phương pháp tiểu sử, phương pháp tiếp cận văn hóa học kết hợp với các thao tác phân tích, bình luận văn học
5 Đóng góp của đề tài
Thực hiện đề tài này mang lại ý nghĩa nhất định trong nghiên cứu văn học cũng như nghiên cứu triết học, tôn giáo, lịch sử Đối với văn học, chúng ta sẽ tìm ra một mảng đề tài mới trong sáng tác văn học mà bấy lâu nay ít được chú ý và thấy được những đóng góp của Phan Bội Châu đối với văn học Việt Nam trung cận đại về phương diện chủ đề, đề tài Bên cạnh đó, đề tài này sẽ giúp cho chúng ta hình dung được con đường phát triển của tư tưởng các nhà Nho trên con đường nhận thức đấu tranh giải phóng dân tộc và thấy được cách ứng xử tiến bộ của Phan Bội Châu đối
với đạo Thiên chúa lúc bấy giờ
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Sự du nhập của đạo Thiên chúa vào Việt Nam và sự hình thành mảng đề tài viết về Thiên chúa giáo trong văn học Việt Nam trung cận đại Trong chương này chúng tôi nói những điểm khái quát về quá trình truyền bá đạo Thiên chúa vào Việt Nam với sự bành trướng thế lực của Pháp tại Việt Nam, và đề tài Thiên chúa giáo trong các tư liệu lịch sử cũng như trong sáng tác văn học giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX
Trang 16Chương 2: Quan niệm của Phan Bội Châu về Thiên chúa giáo Về quan niệm của Phan Bội Châu đối với đạo Thiên chúa được trình bày chủ yếu ở hai vấn đề là: quan niệm về văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo của đạo Thiên chúa và thái độ của ông đối với mối quan hệ giữa đạo Thiên chúa và sự xâm lược của thực dân Pháp
Chương 3: Những điểm mới về đề tài Thiên chúa giáo của Phan Bội Châu Ở chương này, luận văn đi sâu vào những điểm mới của Phan Bội Châu về đề tài Thiên chúa giáo, mà một trong những điểm mới nhất là vấn đề đoàn kết lương – giáo trong phong trào chống Pháp Bên cạnh đó, chương 3 này cũng trình bày quá trình chuyển biến tư tưởng của các nhà Nho nửa cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX trên con đường nhận thức trong cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc
Trang 17PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: SỰ DU NHẬP CỦA ĐẠO THIÊN CHÚA VÀO VIỆT NAM VÀ
SỰ HÌNH THÀNH MẢNG ĐỀ TÀI VIẾT VỀ THIÊN CHÚA GIÁO
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TRUNG CẬN ĐẠI
1.1 Sự du nhập của đạo Thiên chúa vào Việt Nam
1.1.1 Những tiền đề và quá trình truyền bá đạo Thiên chúa vào Việt Nam
1.1.1.1 Mầm mống của sự truyền bá đạo Thiên chúa ra vùng đất ngoại
Ở Tây Âu, từ giữa thế kỷ XV, khi nền kinh tế Phong kiến đang bắt đầu có dấu hiệu suy yếu, và có sự xuất hiện manh nha của nền kinh tế Tư bản chủ nghĩa Sự tước đoạt tư liệu sản xuất của nông dân tại chỗ cũng như lợi nhuận thương mãi trong vùng dường như không thể đáp ứng đủ nhu cầu của xã hội đang phát triển Cho nên, các thương nhân phương Tây muốn vươn tới những vùng đất mới giàu tài nguyên, hàng hóa quý hiếm có thể đưa lại lợi nhuận cao và nhanh, nhằm xúc tiến sự định hình của nền kinh tế Tư bản chủ nghĩa, đồng thời nâng cao địa vị chính trị của giai cấp Tư sản
Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của nền kinh tế Tư bản chủ nghĩa ở Tây
Âu, công nghiệp đóng tầu và kỹ thuật hàng hải đã có những bước tiến bộ lớn Nhiều loại máy móc, đồng hồ được sáng chế cho phép tính tương đối chính xác kinh tuyến,
vĩ tuyến, tọa độ, hướng đi của các tàu Những điều kiện ấy đã cho phép các nhà thám hiểm tổ chức những chuyến đi xa nhằm đáp ứng những nhu cầu của nền kinh
tế mới Năm 1497, Vasco de Gama – nhà hàng hải Bồ Đào Nha đã khám phá ra đường đi sang Ấn Độ bằng cách đi qua mũi Hải Vọng; năm 1500, Alvares Cabral tìm ra Brasilia Cuộc thám hiểm của Christophe Colomb đã tìm ra châu Mỹ Bên cạnh đó còn có các cuộc thám hiểm của Anh, Pháp Sự tồn tại của một tân lục địa mới (Châu Mỹ) cũng như con đường ngắn nhất để đến vùng Viễn Đông của các nhà thám hiểm đã khẳng định địa vị của các nước Tây Âu trên bản đồ thế giới [36/12 – 13]
Các cuộc phát kiến địa lý đó đã thúc đẩy các nhà chinh phục muốn tìm kiếm sự nghiệp và một cuộc sống mới ở các miền đất lạ, và các thương nhân hăm hở đi tìm những thị trường mới Cuộc chạy đua đó đã dẫn tới hiện tượng các nước phương Tây xô nhau đi xâm chiếm thuộc địa để mở rộng thị trường Trong các cuộc thám
Trang 18hiểm và chạy đua xâm lược thuộc địa đó không chỉ có mặt của các nhà chinh phục
và các thương nhân, mà còn thấy có mặt thường xuyên và đông đảo các giáo sĩ của các nước phương Tây được phái đi theo để thực hiện xứ mệnh truyền bá đạo Thiên chúa Cuộc truyền bá Thiên chúa giáo La Mã trên thế giới vẫn chủ yếu nằm dưới sự
đỡ đầu và điều hành của ba quốc gia lớn là Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Pháp Thế kỷ XVI – XVII, giáo hội Thiên chúa giáo La Mã đã mở rộng việc truyền đạo ra khắp ba châu lục: Á, Phi, Mỹ Sang thế kỷ XVIII, giáo hội Thiên chúa giáo
La Mã bị trào lưu tư tưởng triết học mới của giai cấp Tư sản phương Tây đả kích mạnh mẽ, và lại bị tấn công dữ dội trong cách mạng Tư sản Pháp 1789, hầu hết các giáo đoàn Thiên chúa giáo bị giải thể, khiến cuộc truyền giáo trên thế giới bị chậm lại một thời gian dài Tuy nhiên, từ sau thỏa hiệp ký kết giữa Napoléon I với tòa
thánh La Mã năm 1801, và sự ra đời tác phẩm Tinh thần Cơ Đốc giáo (Génie du
Christianisme) của Chateaubriand năm 1802, ca ngợi tính nhân văn của tôn giáo
này, thì vị thế của Thiên chúa giáo được phục hồi, các dòng tu, giáo đoàn được hoạt động trở lại, việc truyền giáo ra ngoài Châu Âu tiếp tục được đẩy mạnh
Như vậy, việc truyền bá đạo Thiên chúa luôn gắn bó mật thiết với các cuộc thám hiểm, và sau này là cuộc xâm lược thuộc địa, cũng như công cuộc thực dân ở các vùng đất ngoại của giai cấp Tư sản phương Tây Để có thể thực hiện được các cuộc truyền giáo ra vùng đất ngoại thì cần có sự giúp đỡ về vật chất của các quốc gia Thiên chúa giáo có nền kinh tế Tư bản sớm phát triển như: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Pháp Các quốc gia này đã đứng ra tổ chức và tài trợ cho các đoàn truyền giáo từ việc chuyên chở, nuôi dưỡng, bảo vệ cho các giáo đoàn đến cả việc phải cung cấp cho họ những tiền bạc, những tặng phẩm quý để họ lấy lòng các vua chúa bản địa Chính vì thế các giáo sĩ thừa sai trả ơn các việc làm đó bằng cách làm một số việc có lợi cho quốc gia đó như cung cấp cho các nhà chức trách những thông tin quan trọng về mọi mặt của miền đất truyền đạo hay làm môi giới cho việc buôn bán giữa thương nhân nước ấy với bản địa và trong nhiều trường hợp, họ đã tạo cớ cho một cuộc xâm lược vũ trang với tư cách là để bảo vệ các giáo sĩ thừa sai, bảo vệ giáo dân đang bị chính quyền bản địa gây khó dễ Đặc biệt, việc mở rộng sự truyền bá đạo Thiên chúa ra phạm vi toàn thế giới từ thế kỷ XV đến XIX đã có sự gắn kết chặt chẽ với sự bành trướng thế lực của chủ nghĩa thực dân phương Tây thể hiện ở động cơ và vai trò của nó trong sự hợp thức hóa chủ nghĩa thực dân và có phần đóng góp quan trọng vào thành công của sự bành trướng thực dân này [36/38]
Trang 191.1.1.2 Quá trình truyền bá đạo Thiên chúa vào Việt Nam
Bắt đầu từ thế kỷ XV, vùng Viễn Đông là nơi lui tới của nhiều đoàn thám hiểm, các thương nhân và các giáo sĩ đến từ phương Tây, để buôn bán, truyền đạo rồi qua
đó chiếm đất đai vùng này làm thuộc địa Philippines đã trở thành thuộc địa của Tây Ban Nha (1527), còn các giáo sĩ Bồ Đào Nha, lúc này chủ yếu thuộc dòng Jésuite2
đã thâm nhập vào Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản Việt Nam tuy nằm trong khu vực Viễn Đông, song cũng chưa được các giáo sĩ quan tâm Việc truyền bá đạo Thiên chúa vào Việt Nam mới được coi thực sự là bắt đầu từ năm 1615 khi trung tâm truyền giáo của Bồ Đào Nha cử hai giáo sĩ Francois Bujomi và Diego Carvalho sang Hải Phố thuộc tỉnh Quảng Nam để truyền giáo Sở dĩ hai giáo sĩ này sang Hải Phố là
do lúc này ở Nhật đang có cuộc bắt đạo rất gắt, các giáo dân Nhật Bản đã đến đây
cư trú, thêm vào đó, ở đây cũng có nhiều thương nhân Nhật Bản có đạo đến buôn bán Cho nên, hai giáo sĩ trên thay vì đi Nhật, họ được cử sang Hải Phố để duy trì đời sống đạo của những người này Nhân đó, họ (hai giáo sĩ trên) có nhiệm vụ khai thác thuận lợi để tiến hành cuộc truyền giáo ở đây, như một thương nhân Bồ Đào
Nha cho biết về “một triển vọng tốt đẹp của việc cải giáo cho vương quốc này”
[36/51] Và họ đã đạt được kết quả tốt đẹp, sau một năm với ba trăm người Việt đã cải giáo Trước tình hình thuận lợi đó, sáu giáo sĩ đã được gửi sang Đàng Trong từ
Ma Cao vào năm 1624, trong đó có giáo sĩ Alexandre de Rhodes – “người có vai trò
đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng nền móng cho giáo hội Thiên chúa giáo La
Mã ở Việt Nam, ở cả Đàng Trong và Đàng Ngoài trong nửa đầu thế kỷ XVII”
[36/52]
D Rhodes đã mở ra một trang sử mới trong sự phát triển của Thiên chúa giáo ở Viễn Đông nói chung và ở Việt Nam nói riêng khi ông có công to lớn trong cuộc vận động tòa thánh La Mã cử các thế diện tông tòa người Pháp đảm đương việc truyền giáo ở Viễn Đông (1658) khi mà Bồ Đào Nha không còn đủ sức đảm đương,
và sự ra đời của Hội Thừa sai Paris (1663) nhằm đào tạo các giáo sĩ thừa sai người Pháp đi làm nhiệm vụ truyền giáo ở vùng này
Sau cuộc vận động của tòa thánh Vatican đến năm 1658, Giáo hoàng đã đồng ý
cử các giáo sĩ Pháp sang Viễn Đông với điều kiện họ phải tự lo liệu về mặt vật chất
và phương tiện đi lại Ba giáo sĩ quốc tịch Pháp là Pallu, Lambert, Cotolendi được
2
: Dòng tu do Ignace de Loyola (người Tây Ban Nha) thành lập năm 1534, là dòng tu chiến đấu chống lại dị giáo, tuyệt đối trung thành với Giáo hoàng [36/14]
Trang 20cử làm thế diện Tông tòa ở Viễn Đông Do không thể vận động thành lập một công
ty thương mại để buôn bán và chuyên chở các giáo sĩ nên họ phải đi bộ sang Viễn Đông Cotolendi đã bị chết giữa đường còn hai giáo sĩ trên, Lambert đến Thái Lan vào năm 1662 và Pallu đến năm 1664 Tuy nhiên, trước khi đi Viễn Đông, vào tháng
10 năm 1663, Pallu đã cùng các giáo sĩ Pháp đứng ra thành lập hội Thừa sai Paris với việc đào tạo các giáo sĩ thừa sai để gửi đi Viễn Đông Hội Thừa sai Pari được nhà vua Pháp Louis XIV và các nhà quyền quý nhiệt liệt ủng hộ cả về vật chất lẫn tinh thần Điều này đánh dấu một bước ngoặt lớn của cuộc truyền bá đạo Thiên chúa vào Việt Nam Kể từ đây, nước Pháp nắm độc quyền truyền giáo cũng như bành
trướng thế lực ở đây [36/57] Như theo Thomazi nhận xét trong tác phẩm Sự chinh
phục xứ Đông Pháp nói: “Họ là những người giúp đỡ đắc lực nhất cho một chính sách thuộc địa Pháp, nếu không phải chính họ là những người đề xướng ra chính sách đó” [22/324] Hai phương diện truyền giáo và bành trướng thế lực đó không hề
tách rời trong nhận thức và hành động của các giáo sĩ thừa sai Pháp đến truyền giáo
ở Việt Nam
Trong cuộc đời hoạt động của Pallu, mặc dù chưa được đặt chân đến Việt Nam, nhưng Pallu cũng như Lambert đã có được những thành tựu lớn đóng góp vào cuộc truyền giáo ở Việt Nam Từ nửa sau thế kỷ XVII đến hết thế kỷ XVIII, mặc dù có những trở ngại lớn như chiến tranh và việc cấm đạo của các triều đại Phong kiến, việc truyền đạo vẫn được duy trì và mỗi khi có cơ hội thuận lợi lại được đẩy mạnh
và tiến triển dần dần
Quá trình truyền bá đạo Thiên chúa vào Việt Nam từ cuối thế kỷ XV tuy vẫn chưa tạo được nhiều thay đổi đáng kể trên bình diện đời sống văn hóa tinh thần của
cư dân người Việt Trong mấy trăm năm đó, Thiên chúa giáo mới chỉ bắt rễ vào
những người dân nghèo khổ và địa vị thấp kém, cho nên, suốt thời gian đó “Thiên
chúa giáo ở Việt Nam chỉ tồn tại như một thứ tín ngưỡng ít nhiều nguyên thủy mà không phải như một trong những tôn giáo có hệ thống giáo lý và hệ tư tưởng thần học phát triển vào bậc nhất các tôn giáo thế giới như nó vốn đạt tới trong thực tế”
[70/401] Tuy nhiên, với sự du nhập của Thiên chúa giáo vào Việt Nam đã bước đầu hình thành lên cộng đồng giáo dân bản xứ mà nó sẽ có tác động to lớn và lâu dài trong bước ngoặt của đời sống tinh thần người Việt
1.1.2 Đạo Thiên chúa và sự bành trướng thuộc địa của Pháp tại Việt Nam
Trang 21Trong thời kỳ lịch sử các giáo sĩ thừa sai của các dòng đạo ở phương Tây tìm luồng thương mãi của nước này hay nước khác, ngoài việc truyền đạo còn phải quan tâm thực hiện những gì có lợi cho những mục đích của nước đã cử họ đi Và, đóng góp quan trọng của các giáo sĩ thừa sai với lợi thế của họ, là môi giới cho việc thương mãi, cung cấp những thông tin nhiều mặt phục vụ đắc lực cho cuộc thực dân của các nước phương Tây A.de Rhodes đã cung cấp những thông tin về tài nguyên
và khả năng giao thương như sau: “Đây là chỗ nên chiếm lấy, nếu đến lập cơ sở
buôn bán ở đây, các lái buôn Âu Châu sẽ tìm thấy một nguồn lợi nhuận và của cải dồi dào” [36/121]
Như vậy, A.de Rhodes cũng như các giáo sĩ thừa sai phương Tây, ngoài việc truyền đạo thì việc làm của họ cũng đã đóng góp cho sự bành trướng của các thế lực phương Tây Đặc biệt, sau này, một số giáo sĩ của Hội thừa sai Paris sẽ tham gia trực tiếp vào công việc chính trị ở Việt Nam Khởi đầu của sự bành trướng thế lực của Pháp tại Việt Nam là các Thế diện tộng tòa và giáo sĩ thừa sai Pháp Khi họ ở Việt Nam, song song với sự điều hành việc đạo thì họ cũng luôn quan tâm tới việc tạo điều kiện thuận lợi như cung cấp thông tin, vạch kế hoạch cho sự bành trướng thế lực của Pháp tại Việt Nam
Lambert và Pallu là những người tiên phong dẫn dắt thực dân Pháp thâm nhập vào Việt Nam Các hoạt động truyền giáo của Lambert và Pallu luôn luôn gắn liền với yêu cầu bành trướng thế lực thực dân Pháp Bên cạnh Lambert và Pallu có hai giáo sĩ cùng đi sang Viễn Đông là Bourges và Deyblier Hai giáo sĩ này có quan hệ mật thiết với công ty Đông Ấn ở Ấn Độ3, họ luôn đề cao uy thế của Pháp và ra sức hoạt động tạo điều kiện thuận lợi cho thương nhân Pháp xâm nhập Việt Nam Cơ hội thuận lợi đã đến vào những năm 70 của thế kỷ XVIII, khi giáo mục Pigneau (Bá
Đa Lộc) thiết lập được mối quan hệ chặt chẽ với Nguyễn Ánh Pigneau thay mặt Nguyễn Ánh cầu viện Pháp, ký kết với Pháp hiệp ước Versailles 1787, rồi sau đó ra sức giúp Nguyễn Ánh phục hồi ngôi vua, đánh dấu sự can thiệp trực tiếp của chính quyền Pháp vào nội bộ chính trị Việt Nam
1.1.2.1 Công cuộc truyền giáo với sự bành trướng thế lực của thực dân Pháp tại Việt Nam đến nửa đầu thế kỷ XIX
3
: Công ty Đông Ấn thành lập năm 1664 với mục đích truyền giáo và thương mại Những thương điếm của công ty là căn cứ của hội truyền giáo Nếu ở trên bộ thì các giáo sĩ giả làm con buôn, mà thực tế thì họ cũng buôn bán ít nhiều [22/324]
Trang 22Khi Pigneau trở lại Hà Tiên lần thứ hai cũng là lúc tình hình Đàng Trong đang rối loạn, Nguyễn Ánh đang bị quân Tây Sơn truy đuổi Nhân đó, Pigneau đã dự kiến một kế hoạch lớn là giúp Nguyễn Ánh đánh đuổi nhà Tây Sơn, dành lấy ngôi vua
Bằng sự giúp đỡ đó, “Đức cha muốn phục hưng một triều đại, như thế, chế độ mới
tất yếu phải dành cho giáo hội quyền tự do truyền giáo, tự do ấy được đảm bảo bằng sự có mặt của người Pháp, đồng thời cũng đem lại những lợi ích không kém thiết thực cho đất nước ông” [11/29] Pigneau mong rằng Nguyễn Ánh sẽ cải giáo
và biến Đàng Trong thành một quốc gia Thiên chúa giáo thuộc Pháp
Sau khi giúp Nguyễn Ánh trốn thoát khỏi quân Tây Sơn ra đảo Phú Quốc, Pigneau thực sự trở thành cố vấn của Nguyễn Ánh kể từ đó Pigneau đã khuyên Nguyễn Ánh tha cấm đạo, giảm thuế cho dân, trừng trị bọn tham quan, tập hợp thêm lực lượng để tổ chức một đội hải quân mạnh Vị linh mục này cũng đã ra sức giúp
đỡ Nguyễn Ánh tổ chức lại quân sự, xây pháo đài, huấn luyện binh lính theo phương pháp Âu Châu, tổ chức cho Nguyễn Ánh đội quân tình nguyện người Hoa trấn giữ Bình Thuận và Phú Yên [36/137] Sau nhiều lần bị tấn công bởi nhà Tây Sơn, quân đội của Nguyễn Ánh dường như bị tan rã hoàn toàn ngay cả khi đã cầu viện một số nước ngoài Đứng vào bước đường cùng, Nguyễn Ánh đã đồng ý với Pigneau cầu viện nước Pháp và đã được Tòa thánh La Mã ủng hộ Hành động của Pigneau đã thực sự minh chứng về vai trò giữa việc truyền giáo với việc tham gia vào bộ máy chính trị, mà đây không phải là nhiệm vụ của một vị linh mục truyền giảng Phúc âm, cho nên, Pigneau đã vấp phải sự phản kháng của những người Bồ Đào Nha
Tháng 2 năm 1787, Pigneau đến Pháp, đầu tháng 5 ông được yết kiến vua cùng với sự có mặt của Bá tước Montmorin và thống chết De Castries Trong buổi gặp, Pigneau đã trình bày ý kiến của mình xung quanh lợi ích của việc làm chủ được xứ Đàng Trong Đây là một vị trí thương mãi và quân sự hết sức quan trọng đối với việc củng cố và phát triển thế lực của Pháp ở Viễn Đông Ông cho biết:
“Một căn cứ người Pháp ở Đàng Trong sẽ cho phép ta cân bằng được thế lực
đối với nước Anh trong việc kiểm soát vùng Ấn Độ, sẽ tìm thấy ở đây nguồn của cải đảm bảo hơn, sự viện trợ gần gũi hơn là sự viện trợ mà ta buộc phải trông chờ từ Châu Âu, cho phép ta thống trị cả vùng biển Trung Hoa và các bán đảo của nó, và, sau hết là làm chủ sự thương mãi của cả miền này Chúng ta sẽ có một địa điểm an toàn để đỗ tàu trong trường hợp có chiến tranh, để sửa chữa tàu với giá rẻ và ngay
cả đóng những cái mới Căn cứ này cũng còn cho ta những phương tiện dễ dàng để
Trang 23tiếp tế cho các hạm đội của chúng ta và cung cấp cho các thuộc địa Ấn Độ Dương
và Phi Châu của chúng ta những hàng hóa thật cần thiết
Như vậy, chúng ta sẽ có trong tay mọi phương tiện có hiệu quả không những để ngăn cản người Anh trong ý đồ đẩy chúng ta ra khỏi Ấn Độ để bành trướng thế lực của họ về phía Đông, mà còn làm cho họ sau này phải run sợ ngay ở Bengale, vị trí then chốt của thế lực của họ, miễn sao cái căn cứ Đàng Trong ấy được mọi người hiểu rõ và thực hiện đúng mức ” [36/141 – 142]
Những lời thuyết phục dài ngày cuối cùng cũng đã đạt được kết quả, ngày 28 tháng 11 năm 1787, đại diện cho nhà vua Pháp – Bá tước Montmorin đã ký một bản điều ước tương trợ với Pigneau – đại diện cho nhà vua Đàng Trong Trong đó có quy định một số điều như: vua Pháp sẽ viện trợ cho vua Đàng Trong lấy được ngai vàng; bù lại, vua Đàng Trong sẽ phải nhượng bộ cho người Pháp quyền sở hữu cửa biển Đà Nẵng và đảo Côn Lôn; người dân nước Pháp có quyền được tự do buôn bán; tất cả mọi tàu bè của nước ngoài đi lại, buôn bán ở đây đều phải đặt dưới quyền bảo trợ của nước Pháp Tuy nhiêu, điều ước đã không được thi hành bởi cuộc cách mạng ở Hà Lan và nguồn tài chính của Pháp đang bị hao hụt
Thất bại trong dự mưu tổ chức một cuộc can thiệp vũ trang vào Việt Nam, Pigneau lập một kế hoạch mới để giúp Nguyễn Ánh với ý đồ tự mình làm lên chuyện lớn, tạo ra những điều kiện thuận lợi để xác định vị thế của Pháp tại Đàng Trong Với số tiền ba trăm nghìn livres của Bộ ngoại giao cấp và hai triệu francs của vua Louis XVI cho, Pigneau mua súng đạn, mua chuộc binh lính, xúi giục họ đảo ngũ để theo Pigneau về Đàng Trong Ngày 24 tháng 7 năm 1789, Pigneau trở về Đàng Trong, từ đó Pigneau ra sức giúp đỡ Nguyễn Ánh khôi phục lại cơ đồ trong mười năm cuối cùng của đời mình Mặc dù bị lôi cuốn vào con đường chính trị, Pigneau vẫn không quên nhiệm vụ của một vị linh mục Thiên chúa giáo Pigneau vẫn ra sức lôi kéo Nguyễn Ánh theo đạo, thuyết phục Nguyễn Ánh công nhận Thiên chúa giáo là tôn giáo ưu việt Ông cũng tận tâm dạy dỗ hoàng tử Cảnh với hy vọng
sẽ cải giáo Như vậy, với những việc làm của Pigneau de Béhaine, chúng ta có thêm một dẫn chứng khá rõ ràng về mối quan hệ khá khăng khít giữa truyền giáo và thực dân ở Việt Nam
Bước sang đầu thế kỷ XIX, chính quyền Tư sản Pháp đã quan tâm trở lại vấn
đề bành trướng thuộc địa mà Việt Nam là một trọng điểm Và cũng chính các giáo sĩ thừa sai Pháp đã tạo cớ cho Pháp thực hiện cuộc xâm lược Việt Nam
Trang 24Năm 1802, Nguyễn Ánh đánh bại quân Tây Sơn, lên ngôi Hoàng đế, trong thời gian ở ngôi của mình, vua Gia Long đã để cho việc truyền đạo được tự do Song, nó
là sự đe dọa cho sự ổn định của chế độ Phong kiến ở Việt Nam Từ vua Minh Mạng ngày càng nhận rõ nguy cơ bên trong cũng như sự đe dọa từ bên ngoài của sự truyền giáo kết hợp với sự bành trướng thế lực thực dân phương Tây Từ vua Minh Mạng đến vua Thiệu Trị, những sắc lệnh cấm giáo sĩ truyền giáo và giáo dân theo đạo được ban hành Tuy nhiên các giáo sĩ Pháp không những không tuân theo mà càng hoạt động mạnh, các giáo dân vẫn kiên trì với đạo, che giấu giáo sĩ, ngang nhiên đối đầu với chính quyền Do đó mà chính sách cấm đạo của triều Nguyễn ngày trở lên gay gắt dẫn tới sự đổ máu đáng tiếc của giáo sĩ và giáo dân Trước tình hình đó, các giáo sĩ thừa sai Pháp đã kêu gọi sự giúp đỡ của chính quốc dẫn tới sự can thiệp của Pháp vào Việt Nam4
Tự Đức lên ngôi, việc cấm đạo trở lên gay gắt hơn Các giáo sĩ đã khẩn thiết cầu cứu nhà vua Pháp Napoléon III đã can thiệp vào Việt Nam, cử Montigny đi xem xét tình hình ở Viễn Đông, đồng thời có nhiệm vụ đến Việt Nam đưa yêu cầu được thông thương và đòi hỏi nhà vua Việt Nam phải đảm bảo an toàn cho các giáo
sĩ Sau những cuộc gặp gỡ giữa Montigny với triều đình Huế bị thất bại, Napoléon III quyết định can thiệp vũ trang vào Việt Nam Nhưng những người tích cực thúc đẩy chính quyền Pháp thực hiện cuộc viễn chinh lại chính là các giáo sĩ thừa sai Pháp mà tiêu biểu là hai giáo sĩ Huc và Pellerin5
Trong thư văn gửi lên hoàng đế, linh mục Huc đã nêu những thuận lợi về chiến
lược, kinh tế, thương mại và tôn giáo khi Pháp chiếm Việt Nam: “Đà Nẵng nằm
trong tay người Pháp sẽ là một hải cảng không ai tấn công nổi và là cứ điểm quan trọng nhất để chế ngự Bắc Á”, và “Lãnh thổ Cochinchine (Việt Nam) màu mỡ có thể
4
: Sự can thiệp của Pháp vào Việt Nam thể hiện rõ nhất bắt đầu từ tháng 2/1843, khi được tin triều đình Huế giam giữ năm giáo sĩ Pháp (Galy, Berneux, Charrier, Miche và Duclos), Favin Lévêque đem tàu đến Đà Nẵng yêu cầu được gặp quan trấn thủ để thương lượng Lévêque đòi tha năm giáo sĩ Pháp và
đe dọa sẽ làm dữ Trước tình hình đó, triều đình đã giao năm giáo sĩ này cho Lévêque Tuy nhiên, ba trong năm giáo sĩ trên đã quay lại Việt Nam hoạt động, chỉ có hai giáo sĩ về Pháp
Năm 1844, giáo sĩ Lefèbre – phó giám mục địa phận Nam Kỳ Hạ bị bắt giam đã gửi thư cầu cứu Cécille – chỉ huy hạm đội Pháp ở Đông Hải Lefèbre được tha nhưng sau đó lại trở lại Nam Kỳ Lefèbre một lần nữa lại bị bắt và giải về Huế Lần này, vua Thiệu Trị ra lệnh trục xuất Lefèbre cho người dẫn về Singapore năm 1847 Tưởng rằng Lefèbre chưa được tha, đô đốc Cécille cử hải quân đại tá Lapierre cùng với R.De.Genouilly đem hai chiến hạm đến Đà Nẵng bắn phá năm chiếc thuyền đồng của triều đình, làm chết và bị thương khá nhiều binh lính nhằm mục đích đòi thả tự do cho Lefèbre và đòi được tự do truyền đạo [36/151 – 152]
5
: Linh mục Huc là hội viên của Hội thánh Lazarre, cựu sứ bộ tòa thánh ở Trung Quốc, Tartarie và Tây
Tạng, đồng thời là tác giả của sách Gia Tô giáo ở Trung Quốc, Tartarie và Tây Tạng Giám mục
Pellerin là giám mục địa phận Đàng Trong [61/50]
Trang 25sánh vai với các vùng nhiệt đới giàu có nhất Xứ này thích hợp cho việc trồng trọt mọi sản phẩm thuộc địa Các sản phẩm chính và phương tiện trao đổi hiện có là đường, gạo, gỗ xây dựng, ngà voi, v.v ; sau hết là vàng và bạc mà các mỏ rất phong phú đã được khai thác từ lâu” [61/50] Thêm nữa là: “Dân chúng hiền hòa, cần mẫn, rất dễ dãi đối với việc truyền bá đức tin Gia Tô chỉ cần một ít thời gian
là có thể cải hóa toàn bộ thành tín đồ Gia Tô và con dân trung thành với Pháp”
[61/51] Còn giám mục Pellerin viết về tình trạng của các thừa sai và những người
theo đạo ở Việt Nam như sau: “Xin Hoàng thượng cho phép hạ thần nhắc lại một
lần nữa về những người mới cải đạo khốn khổ ở xứ Cochinchine và các thừa sai Pháp ở nước An Nam; hiện giờ máu họ đang đổ và tình cảnh họ còn kinh khủng hơn
từ khi có cuộc vận động sau chót của nước Pháp Nếu bây giờ chẳng ai làm gì cả cho chúng tôi, e rằng Gia Tô giáo sẽ bị tận diệt tại các vùng đất có vẻ rất sẵn sàng đón nhận ân đức của tôn giáo này và của văn minh Chúng tôi kính xin Hoàng thượng đừng bỏ rơi chúng tôi Điều mà Hoàng thượng ban cho chúng tôi sẽ khiến cho ân phúc của Thiên chúa ban xuống cho Hoàng thượng và triều đại huy hoàng của Hoàng thượng ”[61/53] Rõ ràng, những lời thỉnh cầu của hai vị linh mục trên
chứng tỏ họ rất mong muốn một cuộc viễn chinh thuộc địa vì: “Nó nhằm xây dựng
một thuộc địa Pháp vĩnh viễn ở góc này của Viễn Đông” [61/53]
Thêm vào đó là lời tuyên bố của hai vị linh mục này trước Ủy ban Nam Kỳ là cuộc xâm lăng này thật dễ dàng khi có tới 600.000 con chiên bản xứ, tuyệt đối trung thành với những thừa sai sẽ giúp đỡ người Pháp, và đặc biệt là dân chúng – những người bị đè nén dưới sự áp bức của triều đình và quan lại Huế, sẽ tiếp đón người Pháp như những người giải phóng Trước lời thỉnh cầu tha thiết của hai vị linh mục trên, thái độ của Ủy ban Nam Kỳ đã rất tán thành cuộc viễn chinh Và vào ngày 1 tháng 9 năm 1858, tiếng súng đại bác của liên quân Pháp – Tây Ban Nha đã nổ ra tại cửa biển Đà Nẵng, mở màn cho cuộc xâm lược Việt Nam Lúc này, các giáo sĩ thừa sai vẫn là những người cộng tác nhiệt tình và đắc lực cho thực dân Pháp
1.1.2.2 Những mưu toan chính trị của các thừa sai nửa cuối thế kỷ XIX
Trước những lời thỉnh cầu và lời hứa về một triển vọng khá tốt đẹp của một cuộc viễn chinh vào Viễn Đông, Rigault de Genouilly lên đường đến Nam Kỳ với
sứ mệnh bảo vệ sự truyền giáo của các thừa sai (bảo vệ bằng súng và đại bác) và mang ánh sáng văn minh đến cho dân tộc Việt Nam Nhân dịp này, ông thăm dò khả năng thiết lập một chế độ bảo hộ tại Nam Kỳ
Trang 26Trong khi Genouilly còn đang do dự về một cuộc can thiệp vũ trang vào Việt
Nam thì giáo mục địa phân Tây Bắc Kỳ, Retord gửi thư gợi ý như sau: “Nếu ngài đô
đốc muốn hành động một cách chắc chắn, lâu dài để đem lại vinh quang cho nước Pháp và cho tôn giáo, ngài nên chiếm đóng toàn bộ xứ này với danh nghĩa của nước Pháp và vì nước Pháp hoặc ngài sẽ suy tôn một ông vua theo đạo đặt dưới sự bảo
hộ của người Pháp; ông ta sẽ gìn giữ cho ta hải cảng và các đảo ở Đà Nẵng một cách vĩnh viễn” [36/157 – 158] Kèm theo bức thư này, Genouilly cũng được nhận
thêm những tài liệu quân sự quan trọng từ Retord và hứa sẽ cung cấp người theo đạo dẫn đường cho hải quân Pháp Thế là Genouilly quyết định tấn công cảng Đà Nẵng Sau khi đánh chiếm Đà Nẵng, tình hình lại thay đổi không như những lời hứa của hai vị linh mục Huc và Pellerin, quân đội Pháp bị chết rất nhiều bởi khí hậu nhiệt đới ở Đà Nẵng mà mắc các dịch bệnh, cho nên, họ không đảm bảo được việc phòng vệ ở Đà Nẵng cũng như không thể mở được các cuộc hành quân quan trọng khác Họ quyết định chuyển xuống Nam Kỳ – một vùng đất cực kỳ trù phú và nhiều thuận lợi hơn Tuy nhiên, phần lớn các thừa sai đều chống việc chiếm Sài Gòn, mà
họ muốn đánh ra Bắc Kỳ, bởi miền Nam dân chúng không mấy tiếp thu sự tuyên truyền của các thừa sai và họ cũng sống tương đối dễ dàng Còn ở Bắc Kỳ thì dân chúng ở đây nghèo nàn và thường bị xáo trộn bởi các cuộc nổi dậy của nhân dân, cho nên, đây sẽ là môi trường thuận lợi cho sự truyền bá đạo Thiên chúa Và ở Bắc
Kỳ, các thừa sai “mơ ước lập một quốc vương Gia Tô giáo độc lâp” [61/98] Do
các biến cố của nước Pháp và những khó khăn ở Đà Nẵng, quân đội Pháp không thể nằm mãi trong tình trạng chờ đợi bởi càng chờ đợi thì khó khăn càng lớn dần Cho nên Genouilly quyết định chiếm Sài Gòn – thủ phủ của Nam Kỳ
Sau khi chiếm Sài Gòn, triều đình Huế chấp nhận cuộc thương thuyết với Genouilly vào tháng 6 năm 1859, tuy nhiên, các thừa sai đã dựng lên những chướng
ngại để ngăn cản mọi liên lạc giữa hai bên: “Ngay sau khi những thừa sai ở đây nghi
rằng tôi (Thiếu tá Jau ré guiberry – viên Chỉ huy trưởng đoàn quân trú phòng Pháp tại Sài Gòn) bắt đầu thương thuyết, các vị đó gởi cho tôi, ngay giữa đêm khuya, những báo cáo dối trá có mục đích lôi kéo tôi vào một cuộc tấn công; các vị ngăn trở những người Hoa tìm đến tôi; những người Gia Tô An Nam đi cướp bóc và đốt nhà gần khu buôn bán của người Hoa và bảo rằng do tôi sai đi; tóm lại, họ cho tôi biết rõ ràng là họ không muốn hòa bình” [61/110] Và tất nhiên, cuộc thương thuyết
Trang 27đã gặp chướng ngại lớn về điều khoản tôn giáo6
Triều đình Huế không thể chấp nhận một điều khoản mà những thừa sai lại được tự do nhập cảnh và tự do truyền giáo trên đất nước mình Cuộc thương thuyết bị gián đoạn kéo dài đến đầu tháng 9 thì Genouilly quyết định tấn công vào tuyến phòng thủ của người Việt Nam ở đồn
Kỳ Hòa Phòng tuyến của Việt Nam bị tan, nhưng quân Pháp cũng phải trả một cái giá đắt Trước tình thế ngày càng nguy kịch, Genouilly phải giữ nguyên tình trạng như thế cho đến khi được thay thế bởi Phó đô đốc Page vào tháng 10 năm 1859 Theo lệnh của Paris, phó đô đốc Page cố nối lại các liên hệ với triều đình Huế Một lần nữa, cuộc thương thuyết vẫn gặp khó khăn về vấn đề tôn giáo Page đang có
ý định muốn chiếm toàn bộ Sài Gòn thì ông ta phải đi Trung Quốc Giải quyết xong phía Trung Quốc, Phó đô đốc Charner được lên đường cử sang Sài Gòn để tăng cường việc chiếm đóng Đến Sài Gòn vào tháng 2 năm 1861 và chỉ trong vòng mấy ngày cuối tháng 2, Charner đã chiếm được Kỳ Hòa, sau đó là thành phố Mỹ Tho Sau đó Phó đô đốc Bonard được thay thế cho Charner kèm theo mệnh lệnh phải chiếm được Biên Hòa Sau các cuộc tấn công dữ dội và phòng thủ giữa Pháp với phía triều đình, Biên Hòa rồi đến Vĩnh Long đều rơi vào tay Pháp
Sau những thắng lợi của Charner và Bonard, triều đình Huế buộc phải chấp nhận thương thuyết vào cuối tháng 5 năm 1962, hiệp ước 1862 ra đời Trong hiệp
ước 1862, tự do hành đạo được thừa nhận ở điều 2: “Công dân hai nước Pháp và
Tây Ban Nha có thể hành đạo Gia Tô trong nước An Nam; và công dân của nước này, bất luận ai, nếu muốn theo Gia Tô giáo thì theo và không bị ngăn trở; nhưng không được cưỡng bức ai trở thành tín đồ Gia Tô nếu người ấy không muốn”
[61/132] Nhưng các thừa sai không hài lòng, vì họ cho rằng điều khoản này không động chạm đến quyền hành của vua Tự Đức trên phần còn lại của vương quốc, tại đây, điều khoản về tôn giáo này phần nhiều sẽ có nguy cơ trở thành vô giá trị Vì
thế, hiệp ước này “được các giáo sĩ thừa sai đón nhận trong sự lạnh nhạt và hoài
nghi, họ muốn cái gì hơn là sự thừa nhận có tính lý thuyết quyền tự do của họ”
[61/132] Tuy nhiên, các biến cố sảy ra một cách dồn dập bởi các giáo sĩ thừa sai chống hiệp ước Chiến trận lại xảy ra đưa đến việc Pháp chiếm toàn bộ Nam Kỳ Sau những vụ tấn công năm 1867, thực dân Pháp tìm cách cho triều đình Huế thừa nhận chủ quyền của Pháp trên sáu tỉnh của Nam Kỳ bằng một hiệp ước mới
6
: Cuộc thương thuyết phía Pháp đưa ra 4 điều khoản: bổ nhiệm một đại diện toàn quyền; tự do truyền giáo cho những thừa sai và người Gia Tô; tự do thương mại; nhượng một phần lãnh thổ để đảm bảo việc thực hiện hiệp ước [61/110]
Trang 28Huế từ chối và với hy vọng là cuộc chiếm đóng chỉ thoáng qua, người Pháp nếu không rút lui hoàn toàn thì ít nhất cũng phải làm vài nhượng bộ quan trọng Các cuộc thương thuyết về một hiệp ước mới kéo dài mãi cho đến ngày Bắc Kỳ trở thành trung tâm chú ý của các thương nhân Pháp ở Nam Kỳ Năm 1873, Đô đốc Dupré – Thống sứ Nam Kỳ quyết định gửi một đoàn quân viễn chinh đầu tiên ra Bắc Sau vụ Dupuis dùng vũ lực chiếm đường Hà Nội, bắt giữ nhiều người Việt Nam và dọa sẽ bắn phá thành Hà Nội, Dupré đã gọi cho Thiếu tá Francis Garnier lúc này đang ở Trung Quốc và gửi một điện tín về Paris xin được khẩn cấp tiến chiến Bắc Kỳ Bất chấp những lời can ngăn từ chính quốc, Garnier quyết định tấn công Bắc
Kỳ với một đội quân ít ỏi Cuộc tấn công đã đạt được kết quả như mong muốn, tất nhiên là có sự giúp đỡ đắc lực của các giáo dân và thừa sai, đã có 2.000 người chủ yếu là giáo dân đến giúp Garnier, các giáo mục Pháp đã tự nguyện phục vụ quân Pháp7 Hàng ngàn tín đồ Gia Tô đã trương cờ tam tài, gia nhập vào đoàn quân viễn chinh của Pháp để chiến đấu bên cạnh người Pháp, đồng thời cũng để cướp bóc, đốt phá và giết hại hòng thỏa mãn ý muốn trả thù [61/259] Và chính giám mục Puginier cũng sung sướng khi thấy ảnh hưởng của nước Pháp lan rộng tới Bắc Kỳ Nhưng sau khi Garnier bị phục kích và chết, Bắc Kỳ ở trong tình trạng vô chính phủ, bị sáo trộn hoàn toàn và biến thành một bi kịch Philastre dưới lệnh của Bộ trưởng thuộc địa, đã quyết định rút quân khỏi Bắc Kỳ Khi được tin Pháp rút quân, giám mục
Puginier phản đối mạnh mẽ bằng một bức thư gửi cho Đô đốc Dupré: “Đa số dân
chúng hân hoan chào đón sự xuất hiện của quốc kỳ Pháp, như là một báo hiệu cho một thời đại thanh bình và thịnh vượng Uy tín của Pháp đã rất lớn, và nay vẫn còn lớn, nhưng để bảo vệ uy tín này toàn thể những người bị liên lụy đó cần phải được che chở đến cùng Nếu nước Pháp rút lui hoặc không hành động đúng như tình thế đòi hỏi thì điều ấy sẽ dẫn đến sự điêu tàn cho tất cả những con chiên, và sẽ tạo hỗn loạn cực kỳ lớn tại xứ này Tất cả dân chúng đã hân hoan khi Sứ giả của Ngài đến
sẽ mất mọi kính trọng đối với nước Pháp, và lòng thương mến của họ sẽ dễ dàng biến thành thù hận, nếu lòng tin cậy của họ đối với nước Pháp kết thúc một cách đau đớn bằng một lỗi thất vọng ê chề ” [61/299] Giám mục Puginier còn có những
lời lẽ xuyên tạc đánh lừa các Bộ trưởng về những hành động rút quân của Philastre
như sau: “Ông Philastre tỏ ra thù ghét giới công giáo, suốt thời gian ông ở Bắc Kỳ,
7
: Về sự giúp đỡ của các giáo dân: Ngày 21/11, sau khi đánh chiếm Hà Nội, Garnier viết: “Hôm nay,
gần 1.000 lính, hầu như toàn thể giáo dân, cờ Pháp đi đầu, đã kéo đến giúp đỡ tôi” [11/365]
Trang 29mặc dù tôi đã lặp lại cầu xin nhiều lần, nhưng ông vẫn thẳng thừng từ chối việc ngăn cản cuộc nổi dậy của đám văn thân, ngay khi còn trứng nước Khi tôi cảnh báo ông việc đó là không thể tránh khỏi, ông liền từ chối chặn đứng việc cướp bóc, đốt nhà giáo dân và tàn sát những tấm lòng”, và kết luận là “Philastre đã hành xử như một kẻ thù của giáo dân” [11/360]
Các thừa sai và người Pháp bị thâm nhiễm bởi các ý kiến của giám mục Puginier đã không ngừng tố cáo các trò hai mặt của các quan lại đồng lõa với các nhà Nho Cho nên, chính những thừa sai đó đã reo rắc các rối loạn, gây rắc rối giữa triều đình Huế với Pháp Những thừa sai đòi hỏi các nhà Nho phải giải giới, bắt giữ các lãnh tụ và đàn áp phong trào cách mạng Còn chính họ lại không giao nộp vũ khí với lý do là để tự vệ chống lại kẻ thù của họ Họ phóng đại nguy cơ những bi thảm của các nhà Nho mang đến cho họ Bằng cách đó, những thừa sai cố lôi kéo các viên chỉ huy quân sự Pháp vào các cuộc chinh chiến và họ tin rằng nhất định người Pháp
sẽ bị mắc kẹt trong chiến tranh nếu họ nổ súng Tuy nhiên, sự can thiệp của Pháp không thể thực hiện được bởi một số khó khăn về tàu chiến, quân đội không đủ và
sự can thiệp này chỉ làm trì hoãn chứ không tiêu diệt được nguy cơ, các xáo trộn chắc chắn sẽ tái diễn ngay sau khi Pháp rút quân khỏi Bắc Kỳ
Khi Philastre và Nguyễn Văn Tường vừa rời khỏi Bắc Kỳ, chiến tranh giữa bên lương và bên giáo lại nổ ra ở Nghệ An Thời điểm này, cũng là lúc triều đình Huế ký hiệp ước với Pháp, hiệp ước Giáp Tuất Vào tháng 3 năm 1874, Đảng văn thân do Trần Lưu và Đặng Như Mai lãnh đạo gồm hơn 3.000 nho sĩ cầm khí giới đứng lên chống lại triều đình Huế và đánh Pháp với khẩu hiệu “bình Tây sát tả” Trước tiên
họ đã tấn công vào các tín đồ Gia Tô bị kết tội là phản quốc Nhiều làng bên giáo đã
tự trang bị vũ trang, thành lập những đội quân tự vệ chống lại văn thân Kết hợp với quân triều đình, các văn thân bị đàn áp, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt vào khoảng cuối tháng 8 năm đó Sau khi cuộc khởi nghĩa bị dập tắt, dưới sự bảo hộ của Đô Đốc Duperré – thống sứ Nam Kỳ, những thừa sai tại Nghệ An đòi bồi thường thiệt hại cho giáo dân của họ Một lần nữa triều đình Huế lại phải nhượng bộ vì sự hòa bình của đất nước Một viên chức của triều đình đã ra lệnh tịch thu tất cả tài sản của những người phạm tội để trả cho những người bị hại Điều này đã làm sôi sục bất mãn trong dân chúng, tạo thêm những âm mưu khác chống triều đình Còn các tín
đồ Gia Tô thì được lợi ngày càng đòi hỏi vô độ: “Ngày nào họ cũng đưa ra các đòi
Trang 30hỏi mới, tố cáo mới, đến nỗi không thể tránh được nguy cơ vùng dậy của dân chúng nếu đi xa hơn nữa trong việc bồi thường” [61/353]
Mặc dù hiệp ước 1874 được tiến hành, nhưng vấn đế Gia Tô giáo vẫn gây khó khăn trong các buổi họp Điều 9 của hiệp ước về vấn đề tự do tôn giáo đem lại cho giáo sĩ thừa sai và tín đồ Gia Tô giáo một tự do tuyệt đối và không giới hạn Tuy nhiên nó lại là một nguy hiểm vì các thừa sai đã được ban một thế lực, một độc lập
quá lớn bởi: “Các thừa sai không bao giờ từ bỏ việc làm chính trị; tại vì họ tạo ra
những âm mưu trường kỳ nhằm lật đổ triều vua, được che đậy dưới tấm màn tôn giáo; tại vì họ thú nhận công khai là họ không thể sống chung hòa bình được với Tự Đức” [61/320] Chính vì thế, các thừa sai vẫn công khai biểu lộ sự chống đối hiệp
ước cùng chính sách của Pháp Họ lúc nào cũng mong muốn nước Pháp chiếm Bắc
Kỳ hoặc xúi dục dân chúng địa phương trong đó chủ yếu là người bên giáo nổi dậy nhằm lật đổ triều đình Huế và đưa lên một hậu duệ của triều đại trước
Sau hiệp ước 1874, các thừa sai vẫn muốn phá vỡ bầu không khí hòa dịu giữa chính phủ Pháp và triều đình Huế Họ đã cố thuyết phục người Pháp rằng sẽ bị sa vào cạm bẫy do triều đình Huế tạo nên Họ quả quyết rằng triều đình Huế là giả dối với những lời hứa giả dối Các thừa sai đã gửi cho giới chức Pháp những tài liệu của triều đình Huế hoặc của các quan lớn tìm cách đánh đổ người Pháp và những người theo đạo Giám mục Puginier đã gửi cho hai vị thống sứ Sài Gòn và Công sứ Pháp
tại Hà Nội những bức thư với thông điệp như sau: “Thưa Thống sứ, tôi xin ngài
đừng để chính sách xảo quyệt đó đánh lừa và đừng tin nơi bề ngoài tử tế mà triều đình Huế tỏ ra với ngài bằng cách chấp nhận và thỏa mãn nhỏ cho các đòi hỏi chính đáng của ngài: không phải chỉ hôm nay họ mới biết dùng mưu mẹo và dối trá
để che đậy chính sách thù nghịch của họ ”, và: “Xin ngài cho phép tôi được nói với ngài rằng các quan lại và các nhà Nho đều là kẻ thù của ngài cũng như của chúng tôi Họ biết rằng các con chiên yêu nước Pháp, và vì vậy họ muốn diệt các con chiên: dù họ thấy các con chiên gần như không được trợ giúp gì trong lúc khốn khổ, niềm tin sâu xa của họ là những tín đồ tâm tòng của chúng tôi vẫn còn yêu kính và
sẽ mãi mãi yêu kính người Pháp, bởi vì các ràng buộc nối kết các con chiên với người Pháp là các ràng buộc thiêng liêng Đó là nguyên nhân thật sự của lòng căm thù của họ và là mấu chốt thực sự của chính sách của họ; chính sách đó là tiếp tục làm suy yếu con chiên, nếu không muốn nói là tiêu diệt Mục đích của họ là làm cho
Trang 31nước Pháp mất đi những bạn bè đông đảo và trung thành, và xóa bỏ ảnh hưởng mà Pháp tạo dựng từ lâu tại vương quốc An Nam” [61/366 – 367]
Tình hình chiến sự tạm thời được yên ổn sau khi ký hiệp ước 1874 thì đến năm
1879 tham vọng thuộc địa lại trỗi dậy khiến Pháp có ý muốn bành trướng thế lực trên toàn nước An Nam Sự hiện diện bất ngờ của Rivière vào ngày 3 tháng 4 năm
1882, cùng với một lực lượng tùy tùng gồm hai đại đội có mặt tại Hà Nội làm triều đình Huế lo ngại Trước tình thế như thế, quân đội triều đình tại Hà Nội đã chuẩn bị phòng vệ để đề phòng một cuộc tấn công bất ngờ Khi phía triều đình còn đang im lặng thì ngày 25 tháng 4, Rivière tấn công và chiếm thành Hà Nội, tổng đốc Hoàng Diệu đã tự tử khi không bảo vệ được thành Sau đó, Rivière tiếp tục chiếm Nam Định, Hải Phòng, mỏ than Hòn Gai Tuy nhiên, đến ngày 19 tháng 5, ông đã bị vong mạng trong cùng hoàn cảnh như Garnier trước kia Tháng 8 năm 1883, một đội quân tăng viện của ủy viên Harmand đã đến Bắc Kỳ Lợi dụng tình hình xâu xé, chia rẽ của triều đình Huế từ khi vua Tự Đức mất, sau ba ngày chiến đấu, kinh đô thất thủ Mùa xuân năm 1884, viện quân Pháp lại đến Bắc Kỳ, với sự trợ giúp của các cộng đồng Gia Tô, tháng 3 Bắc Ninh thất thủ, đến tháng 4 Hưng Hóa cũng bị thất thủ Trước hai thắng lợi quân sự và ngoại giao của Pháp, triều đình Huế chịu công nhận thỏa ước đặt đất nước dưới quyền bảo hộ của Pháp vào ngày 6 tháng 1 năm 1884 [61/400]
Về phía triều đình Huế, các kế hoạch vạch ra cho những cuộc tổng nổi dậy một cách chu đáo của quân triều đình đều bị giám mục và thừa sai vạch trần Khi đô đốc
De Courcy đến Huế để trình Ủy nhiệm thư lên vua Hàm Nghi vào đầu tháng 7 năm
1885, Tôn Thất Thuyết quyết định ra tay tấn công quân đội của De Courcy Nhưng mưu toan bị thất bại, một tín đồ Gia Tô giáo đã đến báo trước cho De Courcy Quân đội Pháp đã đẩy lùi được tấn công, họ tiến chiếm nội thành và cung điện Tôn Thất Thuyết phải đưa vua và triều đình Huế ra Tân Sở Lúc này, chiếu Cần Vương đã
được ban ra, kêu gọi toàn dân kháng chiến, “người giàu đóng góp tiền của, người
mạnh khỏe đóng góp sức lực, người can đảm đóng góp cánh tay, để dành lại đất nước trong tay quân xâm lược” [61/409], kêu gọi mọi người yêu nước chống lại tín
đồ Gia Tô vì sự trợ giúp tích cực của họ đã dễ dàng tạo cho Pháp xâm lược
Phong trào khởi nghĩa được đông đảo văn thân, nho sĩ hưởng ứng và được sự ủng hộ đông đảo của mọi tầng lớp tham gia Trong các vùng đất nghèo ở phía Bắc Trung Bộ, các văn thân vẫn tiếp tục chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Phan Đình
Trang 32Phùng ở Hà Tĩnh, của Đề Thám ở rừng núi Yên Thế, Nguyễn Thiện Thuật ở Hải Dương, ở Nghệ An có Nguyễn Xuân Ôn, ở Quảng Bình có đề đốc Lê Trực Sau khi vua Hàm Nghi bị bắt, phong trào vẫn kéo dài trong gần 20 năm sau đó Mặc dù các phong trào lan rộng và được sự hưởng ứng của toàn dân những cuối cùng vẫn bị thất bại bởi sự yếu kém và mâu thuẫn nội bộ
Chiến thắng của thực dân Pháp trước Việt Nam cũng không thể không kể đến
công lao của các thừa sai – những người đã giúp đỡ một cách đắc lực nhất: “Sự giúp
đỡ mà những tín đồ Gia Tô đã mang lại cho quân đội Pháp ngay từ khi mới đến thật
là to lớn Và các cộng đồng con chiên tiếp tục sự hợp tác đó, lại còn gia tăng, sau
1885 Chính nhờ những cu – li do các làng Gia Tô giáo cung cấp mà các đội quân Pháp đã có thể chiếm được Ba Đình Đại úy Gosselin, một trong những người “đuổi bắt” Hàm Nghi, kể ông ta đã được giúp đỡ như thế nào bởi những tin tức tình báo của những giáo sĩ thừa sai, những tin tức mà họ đạt được qua lời xưng tội của những tín đồ của họ Mặc dù là thiểu số, những tín đồ Gia Tô người Việt cũng tạo nên một chướng ngại có tính quyết định cho sự thành công của kháng chiến, vì họ
đã đưa quân đội Pháp ra khỏi sự cô lập” [61/415]
Sau khi chính thức chiếm kinh đô Huế và đưa Đồng Khánh lên làm vua dưới sự bảo hộ của Pháp Một câu hỏi đặt ra là làm thế nào để đặt nền đô hộ đó trên một nền tảng vững chắc trong xứ An Nam này? Tất nhiên, giám mục Puginier sẽ chọn con đường có lợi nhất đảm bảo cho Pháp và Gia Tô giáo một tương lai sáng lại Tức là
sẽ cải hóa xứ An Nam theo quan niệm của riêng mình, và biến nơi đây thành một vùng đất của Pháp, và tất nhiên là không thể thiếu sự giúp đỡ của tôn giáo chính quốc Puginier đã đưa ra chính sách xâm lăng và vũ lực
Puginier đã cố chứng minh với Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa rằng Bắc Kỳ xứng đáng với mọi hi sinh của Pháp và cho rằng cuộc xâm lăng phải được tiến hành
mạnh mẽ và mau chóng, đánh một đòn mạnh vào An Nam: “Tôi thấy việc bình định
một cách toàn diện cả An Nam lẫn Bắc Kỳ còn dễ hơn là chỉ bình định Bắc Kỳ Kẻ thù không có sẵn lực lượng và phương tiện to lớn lắm, nên khi bị tấn công cùng một lúc ở khắp nơi, và không thể tiếp viện cũng như chỉnh đốn lại, sẽ phải kiệt sức nhanh chóng Dân chúng mà chúng tranh thủ được, vì quá mệt mỏi bởi tình trạng vô chính phủ mà họ là nạn nhân, sẽ từ bỏ chúng ngay nếu không bị liên lụy, và sẽ đứng vào phe của vua Đồng Khánh và của chế độ bảo hộ” [61/428 – 429] Và tất nhiên
cuộc bình định Bắc Kỳ sẽ được sự giúp sức của các thừa sai và giáo dân: “400 ngàn
Trang 33con chiên đã chứng tỏ lòng tận tụy và yêu thương của họ đối với nước Pháp”, “biết rằng nước Pháp đã có tại Bắc Kỳ một lực lượng quan trọng và thân hữu mà, nếu biết sử dụng, sẽ giúp cho nước Pháp được dễ dàng nhiều trong việc bình định xứ này, cũng như trong việc tạo lập ảnh hưởng, và sẽ góp phần giúp nước Pháp thu phục dần dần toàn thể dân chúng” [61/427]
Puginier đặc biệt chủ trương sử dụng những con chiên thực hiện cuộc săn lùng lớn lao từ Bắc chí Nam, để quét sạch những tàn dư của các phong trào chống Pháp
và những người theo đạo Ông cũng phản đối quyết liệt sự giảm bớt quân đội Pháp ở Bắc Kỳ Ông ta muốn, cần phải có chính sách quyết liệt hơn trong việc mở các cuộc viễn chinh kết liễu các Đảng kháng chiến và làm nản lòng dân chúng đang ủng hộ
các Đảng kháng chiến đó: “Tình hình (năm 1892) cứ luôn trầm trọng thêm một cách
đều đặn và mau chóng Ngày nay, nó đã trở nên cực kỳ khó khăn cho dân chúng và nguy hiểm cho quyền lợi của chế độ bảo hộ Theo tôi, trước hết cần phải có một hành động toàn diện, một cuộc săn lùng thật sự Một cuộc hành quân phối hợp, gồm nhiều tán quân nhỏ hỗ trợ nhau, và cùng nhằm vào nhiều làng của một vùng, sẽ làm cho bọn cướp rối loạn Sự tiếp diễn của các cuộc hành quân như vậy sẽ làm mất hết can đảm, dẫn tới việc đào ngũ đông đảo của bọn chúng Dân chúng, khi được đưa
ra khỏi ảnh hưởng của chúng, và không còn gì phải sợ chúng nữa, sẽ tố giác và bắt chúng đem nộp” [61/429 – 430] Nhưng theo Puginier cần phải có hành động quyết
liệt, mạnh mẽ cho đến khi thành công hoàn toàn, phải kéo dân chúng ra khỏi quân cướp, mang lại cho họ lòng tin tưởng và can đảm đã mất Cần phải tìm hiểu kĩ càng
và mau chóng bộ máy cai trị nhưng sáng suốt, trừng trị nghiêm khắc các Đảng phiến loạn để tạo nên tác dụng tốt trên dân chúng Puginier đã cổ vũ chính sách xâm lược
và sức mạnh để “cho các con chiên, rốt cuộc, sẽ nắm lấy một vai trò trọng yếu trong
đời sống chính trị, hành chính và quân sự ở Bắc Kỳ” [61/431]
Trong con mắt của Puginier toàn thể dân tộc Việt Nam ngoại trừ các tín đồ tôn giáo thì tất cả đều là kẻ thù của Pháp và kẻ thù chính là các quan lại và các nhà Nho, những người đã xướng lên phong trào nổi dậy chống Pháp và chống các tín đồ Thiên chúa giáo Sai lầm của giới chức Pháp là đặt niềm tin vào những người này (những nhà Nho và quan lại), người mà rất khôn khéo tỏ ra trung thành, theo Puginier nghĩ thế Những người này vẫn bí mật thường xuyên không ngừng vận động dân chúng
chống Pháp: “Rõ ràng là phần lớn các quan chức thuộc mọi cấp đều thực sự căm
thù trước nước Pháp Nơi vài người có thể đó là do lòng yêu nước bị thương tổn bởi
Trang 34sự hiện diện của người Pháp, nhưng nói chung đó là vì chúng ta làm họ khó chịu, chúng ta làm giảm uy tín họ trước người dân của họ Vì lý do chính trị mà họ che dấu tình cảm, và dù vì quyền lợi mà một cách bề ngoài họ tỏ ra trung thành, nhưng chắc chắn họ là những kẻ thù không đội trời chung của chúng ta, họ lợi dụng địa vị
để moi móc tiền bạc của những người bị cai trị Họ làm việc này với mức độ còn lớn hơn chế độ cũ, và trong nhiều trường hợp họ làm dưới bóng của giới chức Pháp Nhiều người đã công khai làm việc đó một cách trắng trợn, nhưng không lúc nào để lại bằng chứng giấy tờ hay chính thức”
“Họ bí mật thông tin với những kẻ làm loạn trong những vùng mà những kẻ
này hoạt động Họ cho những kẻ này biết những gì mà giới chức Pháp làm Họ báo tin kịp thời cho bọn này các cuộc tuần thám hoặc tảo nhanh mà chúng ta dự định”
[61/433]
Puginier cho rằng, không thể hợp tác được với bộ máy hành chính mà phải tiến
hành chính sách “thôn tính” nếu muốn duy trì ảnh hưởng Pháp ở Bắc Kỳ: “Sắp đặt
mọi việc một cách thông minh và thực tế, chúng ta có thể thiết lập một nền bảo hộ
mà bản chất là một sự sát nhập được chế giảm và che đậy dưới chiếc áo choàng vương quốc An Nam Chúng ta sẽ giữ lại luật pháp của xứ này và một ông vua hầu tránh những đụng chạm tinh thần trong tình cảm về chính thống và ái quốc của họ,
để từ đó lôi kéo dân chúng dễ dàng hơn Bằng chế độ bảo hộ, chúng ta có thể có được mọi cái lợi của sự thôn tính và nếu muốn và nếu biết cách làm, chúng ta khỏi phải gánh chịu những điều bất tiện Thực ra đây là vấn đề của từ ngữ, của khôn khéo, của sự biết làm và của thông minh thực tiễn” [61/435] Và đương nhiên, một
chế độ bảo hộ như thế chỉ được thiết lập khi phải thay đổi đội ngũ chính quyền Phải quyết tâm tiêu diệt nền đạo lý Nho giáo vốn đã tạo thành nền tảng của xã hội Việt Nam và thay vào đó bằng một sức mạnh tinh thần mới là Gia Tô giáo Nhờ sức
mạnh này mà “người Pháp có thể đồng hóa dần dần dân chúng Bắc Kỳ” và, trong một tương lai gần, thiết lập “một nước Pháp nhỏ” ở Bắc Kỳ: “Tôi xác định rằng khi
mà Bắc Kỳ trở thành Gia Tô giáo, thì nó cũng trở thành nước Pháp nhỏ của Viễn Đông, y hệt như quần đảo Phi Luật Tân đã là một Tây Ban Nha nhỏ” [61/437] Các
thừa sai muốn tách rời Bắc Kỳ ra khỏi nước An Nam để lập thành một nước độc lập, làm thành một lãnh địa của Gia Tô giáo
Như vậy, qua những dẫn chứng ở trên, thật dễ dàng để khẳng định một điều là vấn đề thuộc địa và vấn đề tôn giáo có mối quan hệ với nhau dường như không thể
Trang 35tách rời được Giáo sĩ thừa sai và nhà thuộc địa đã liên kết nhau trong một nỗ lực chung biến Việt Nam thành một mảnh đất thuộc Pháp và Gia Tô giáo ở Viễn Đông Đây cũng chính là lý do dẫn đến các cuộc xung đột giữa các tôn giáo trong đất nước
và những thái độ kỳ thị của vua quan cũng như những nhà Nho đối với Thiên chúa giáo trong xã hội lúc bấy giờ
1.2 Sự hình thành mảng đề tài Thiên chúa giáo trong văn học Việt Nam trung cận đại
Như chúng ta đã biết, thời trung đại, văn học có sự hỗn dung với nhiều lĩnh vực khác như lịch sử, chính trị, triết học, tôn giáo, đạo đức Trong các công trình nghiên cứu văn học sử trên thế giới cũng như ở Việt Nam, đối với việc nghiên cứu văn học trong quá khứ, một yêu cầu có tính bắt buộc là phải đặt các hiện tượng văn học, tiến trình văn học vào trong mối quan hệ với văn hóa, lịch sử, xã hội tại thời điểm đó Việc xuất hiện những hiện tượng văn học dường như không tách rời lịch sử
xã hội bởi văn học nó phản ánh xã hội một cách khách quan nhất Và người nghiên cứu phải tìm ra được đúng bản chất của những vấn đề, những hiện tượng trong văn học cũng như trong xã hội lúc bấy giờ
Không nằm ngoài quy luật trên, sự xuất hiện Thiên chúa giáo cũng là một hiện tượng đặc biệt trong xã hội Việt Nam Nó cũng sẽ là đề tài thu hút sự chú ý trong nhiều lĩnh vực như lịch sử, tư tưởng, tôn giáo, triết học, văn học Đặc biệt, sau sự can thiệp của những tín đồ Thiên chúa giáo vào nội bộ chính trị cũng như việc tạo
cớ cho những cuộc xâm lược vũ trang của Pháp vào Việt Nam, thì Thiên chúa giáo
đã trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của những nhà Nho, những người thuộc vào lĩnh vực lịch sử và văn học lúc bấy giờ
1.2.1 Sự ghi chép về Thiên chúa giáo trong các tư liệu lịch sử
Sự phát triển của chủ nghĩa Tư bản phương Tây cùng với đó là sự hiện diện của các nhà thám hiểm, các giáo sĩ thuộc các giáo đoàn truyền bá đạo Thiên chúa và các thương nhân đã bắt đầu tạo nên những dấu tích trong lịch sử về mối quan hệ giữa phương Tây vào Việt Nam Thiên chúa giáo du nhập vào Việt Nam từ năm 1533, đây không chỉ là vấn đề thuần túy của tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa mà là vấn đề chính trị – xã hội rất nhạy cảm qua các thời kỳ lịch sử có chế độ chính trị khác nhau Tính độc tôn và tính kiêu hãnh của Thiên chúa giáo cùng những nghi thức mang tính tương khắc với văn hóa truyền thống và sự lạm dụng chính trị của các thế lực bên ngoài đối với Thiên chúa giáo là nguyên nhân dẫn đến các chính sách đối với Thiên
Trang 36chúa giáo của nhà cầm quyền Việt Nam trong đó chủ yếu diễn ra dưới triều Nguyễn Thời kỳ này, Thiên chúa giáo đã được nghi lại trong các bộ sử nước ta
Sự ghi chép về Thiên chúa giáo trong các tài liệu lịch sử chủ yếu được ghi chép vào triều Nguyễn Bởi đất nước sau bao nhiêu năm chiến tranh đến triều Nguyễn mới được thống nhất và ổn định, thì lúc này, nhà nước Phong kiến mới bắt đầu quan tâm đến những vấn đề về văn hóa, lịch sử Sự du nhập của đạo Thiên chúa vào nước
ta đã được chép trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục như sau: “Theo
sách Dã Lục, thì ngày tháng 2 năm Nguyên Hòa thứ nhất (1533), đời Lê Trang Tông, người Tây Dương tên là Y – nê – xu lén lút đến xã Ninh Cường, xã Quần Anh huyện Nam Chân và xã Trà Lũ huyện Giao Thủy, ngấm ngầm truyền giáo về tả đạo Gia Tô” Đây là điểm mốc đầu tiên đánh dấu sự truyền bá Thiên chúa giáo vào Việt
Nam, bắt đầu cho sự xâm nhập các tín ngưỡng và sự giao lưu văn hóa giữa phương Đông và phương Tây
Trước đó khoảng một thế kỷ, trong Vân đài loại ngữ, chủ đề Thiên chúa giáo được đề cập trong phần bàn về Khu vũ loại, nói về các nhà truyền giáo phương Tây
Lê Quý Đôn đã nhắc đến các giáo sĩ Tây dương phục vụ trong triều đình Càn Long trong chuyến đi sứ Bắc Kinh Ông đã viết về Thiên chúa giáo xen kẽ với những đoạn giới thiệu các Tây nho và các ngành khoa học phương Tây Về vấn đề Thiên
chúa giáo, Lê Quý Đôn “không viết nhiều, song những điều ông viết ra (viết về
Thiên chúa giáo), dù trích sách hay do nhận xét riêng, bao giờ cũng chính xác và khách quan” [16/29] Lê Quý Đôn đã đề cập đến những khái niệm về Thiên chúa
giáo, giới thiệu về Gia Tô giáo ở Trung Quốc,ông đã nói tới cái đặc thù, cái cốt lõi
của một niềm tin mà không có ý gây lên sự đối chọi với các tôn giáo khác: “ Khi
Lị Mã Châu đến Bắc Kinh, xây dựng nhà thờ Thiên chúa giáo ở ngoài cửa Tuyền
Vũ Còn bọn Nam Hoài Nhân có làm bộ sách Khôn dư đồ thuyết gồm hai quyển Hắn tự xưng là Gia Tô hội sĩ (Giáo sĩ hội Gia Tô) Vì người nước Tỉ Lị Thì đều theo đạo Gia Tô, không thờ cúng bố mẹ, chỉ tôn Thiên chúa, phía bên hữu có giáo đường thờ Thánh Mẫu (Đức Mẹ), nét mặt như con gái, tay bồng một đứa trẻ, tức là thánh Gia Tô (Jésus Christ) Nhân dân đều thờ Thiên chúa, không ai biết ở Trung Quốc
có giáo Nho, Thích, Đạo Thiên chúa là chúa tể trước tiên, sinh ra người, sinh ra vật Họ làm miếu để thờ phụng chung” [1/117] Với những điều hết sức ngắn ngủi,
Lê Quý Đôn đã viết về Thiên chúa giáo trong Vân Đài loại ngữ, ông “tỏ ra là một
Trang 37nhà Nho uyên bác đã khách quan trình bày tín ngưỡng của đạo công giáo, đồng thời cũng tỏ ra có thiện cảm với các giáo sĩ Tây nho bác học” [16/31]
Các giáo sĩ phương Tây xâm nhập vào Việt Nam đã truyền bá một tứ đạo xa lạ, khác xa với các tôn giáo phương Đông, gây nguy hại cho ổn định đời sống văn hóa
và chính trị trong nước, đe dọa đến sự tồn vong của dân tộc Vì thế mà vấn đề Thiên
chúa giáo được đề cập khá nhiều trong Đại Nam thực lục bởi đây là một bộ sử lớn
nhất và bản thân bộ sử này ghi chép giai đoạn lịch sử mà thời kỳ Thiên chúa giáo đã
du nhập vào nước ta và nó (đạo Thiên chúa) “đã thật sự bước vào đời sống chính trị
xã hội và ảnh hưởng không nhỏ về nhiều mặt” [55/35]
Đối với triều đình nhà Nguyễn thì vấn đề Thiên chúa giáo vừa là vấn đề tín
ngưỡng tôn giáo, vừa là vấn đề xã hội quan trọng Trong bộ Đại Nam thực lục, đạo
Thiên chúa được nhắc đến khá nhiều qua một số đặc điểm xã hội như mối quan hệ giữa Thiên chúa giáo và triều đình, giữa những tín đồ của Thiên chúa giáo với những người không theo đạo Thiên chúa hay mối quan hệ giữa những vị đạo trưởng, linh mục với các thế lực thực dân phương Tây, lý do khác biệt của văn hóa tín ngưỡng tôn giáo Bộ sử đã đề cập một cách chi tiết tình hình xã hội và những hoạt
động của Thiên chúa giáo: “Phủ Thừa Thiên có dân xã Dương Sơn mê hoặc đạo
giáo Gia Tô đã lâu, xây nhà thờ, thờ Thiên chúa, suy tôn người Tây dương là Phạm Văn Kính làm đạo trưởng, họp nhau giảng đạo cầu kinh” (Đại Nam thực lục, tập 3,
trang 317), hay là sự phê phán đạo Thiên chúa trong sự mê tín dị đoan
Trong quá trình xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam đã thể hiện rõ mối quan hệ giữa truyền giáo và xâm lược thuộc địa của thực dân phương Tây Bên cạnh những thương nhân đến để buôn bán, trao đổi hàng hóa thì không thể thiếu mặt những giáo sĩ thừa sai đến để truyền đạo mở đường cho quân đội thực dân theo sau Trên thực tế thì triều đình Huế và các đại thần đều nhận thấy rõ nguy cơ đe dọa đến
sự ổn định của đất nước Ngay từ thời Minh Mạng đã có những chỉ dụ cấm đạo,
sang thời Tự Đức lại càng gay gắt hơn Lúc này, Đại Nam thực lục đề cập rất nhiều
đến những chỉ dụ cấm đạo của các vua triều Nguyễn cũng như những nhận xét về loại hình tôn giáo này: Dưới thời Gia Long, mùa xuân 1804 có một điều lệ về phong tục tập quán của Thiên chúa giáo, dưới thời Minh Mạng có 9 dụ và 2 điều lệ, dưới thời Thiệu Trị có 2 dụ, và nhiều nhất vẫn là dưới thời Tự Đức với 5 dụ, 4 điều lệ, 2
Trang 38điều cấm, 1 sức nhắc, 1 đinh lệ, 3 quốc thư, 3 hòa ước8
Tất cả những chỉ dụ trên đều nhằm đến Thiên chúa giáo và những tín đồ
Do tính chất phức tạp của tôn giáo dưới triều Nguyễn nên các văn bản của triều
Nguyễn khi đề cập đến đạo Thiên chúa là khá gay gắt Như trong Điều lệ hương
đảng, ban hành năm Giáp Tý (1804) thời vua Gia Long đã viết: “Lại như đạo Gia
Tô là tôn giáo nước khác truyền vào nước ta, bịa đặt ra thuyết thiên đường, địa ngục khiến kẻ ngu phu, ngu phụ chạy vạy như điên, tiêm nhiễm thành quen mê mà không biết” (Đại Nam thực lục, tập 1, trang 587) Thời vua Minh Mạng, năm 1834
ban hành dục dân chúng trên nền tảng Nho giáo và do vậy cũng đồng thời đả kích
công giáo, coi Thiên chúa giáo là tà đạo “làm cho bại hoại luân lý, hư hỏng giáo
hóa, không thể tin được” (Điều 7 – Sùng chính học) Nhìn nhận Thiên chúa giáo là
tà đạo, không thờ tổ tiên, không kính quỷ thần đặt ra thuyết thiên đường, nước phép… cũng được các vua Thiệu Trị, Tự Đức nhắc đến trong các chỉ dụ và được đề cập trong bộ sử lớn nhất triều Nguyễn này
Chính sách tôn giáo của triều Nguyễn và hệ quả của nó là vấn đề quan trọng trong lịch sử Việt Nam, liên quan đến thể chế chính trị và sự tồn vong của triều đại nhà Nguyễn trước sự nhòm ngó của các nước Tư bản phương Tây Những chính sách cấm đạo và cách giải quyết của triều Nguyễn và những báo cáo của địa phương
đối với đạo Thiên chúa cũng được ghi lại trong Châu bản triều Nguyễn9
Trong bối cảnh lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX với việc triều Nguyễn muốn đưa Nho giáo trở thành quốc giáo thì khó mà chấp nhận một tôn giáo ngoại lai Thêm vào đó là những
lý do chính trị, đó là mối quan hệ giữa truyền giáo và chủ nghĩa thực dân thì việc cấm đạo của triều Nguyễn mặc dù là sai lầm nhưng cũng là điều dễ hiểu Triều Nguyễn cấm đạo để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của Nho giáo và để giữ vững bờ cõi đất nước trước lòng tham thuộc địa của các nước phương Tây
Bên cạnh đó, vấn đề Thiên chúa giáo cũng được nhắc đến trong các công trình
nghiên cứu về văn hóa lịch sử của các tác giả Nho học đầu thế kỷ XX như trong Việt
Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng
Hàm, Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh
8
: Xem thêm: Lê Thị Thắm, Trở lại chính sách cấm đạo của nhà Nguyễn qua bộ Đại Nam thực lục,
Nghiên cứu Tôn giáo, số 2 – 2002, tr 35 – 46
9
: Về chính sách tôn giáo nói chung và chính sách đối với công giáo trong Châu bản triều Nguyễn xem thêm: Đỗ Bang, Về chính sách tôn giáo của triều Nguyễn những kinh nghiệm lịch sử, Nghiên cứu
Tôn giáo, số 6 – 2007, tr 23 – 30
Trang 391.2.2 Đề tài Thiên chúa giáo trong những sáng tác văn học
Sự xuất hiện của Thiên chúa giáo ở Việt Nam ngay từ buổi đầu đã là sự kiện tôn giáo đặc thù Đó là việc truyền bá một tôn giáo hoàn toàn xa lạ với các tôn giáo truyền thống Chẳng những thế, tôn giáo này đã không thừa nhận các tôn giáo đang hiện diện, mà lại coi tất cả là tà giáo, là đạo dối Về phía Nho giáo để bảo vệ nền tảng tư tưởng của mình, các nhà Nho mà đại biểu của nó là nhà vua và các Nho thần, tất nhiên cũng tấn công lại một cách mạnh mẽ những tư tưởng của Thiên chúa giáo
Từ đó hình thành nên cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng mang tính học thuật Sau khi Thiên chúa giáo được truyền vào Việt Nam cùng với nó là nguy cơ về mối
đe dọa của các nước phương Tây về vấn đề chủ quyền quốc gia, vấn đế Thiên chúa giáo được quan tâm trên hai vĩnh vực văn hóa tín ngưỡng tôn giáo và mối quan hệ với sự xâm lược của các nước phương Tây
Một tác phẩm viết về Thiên chúa giáo ra đời khá sớm vào cuối thế kỷ XVIII –
đầu thế kỷ XIX, cuốn Tây dương Gia Tô bí lục Tác phẩm được viết từ năm 1794 đến năm 1812 thì được bổ sung và khắc in Tác phẩm này nguyên là sách Gia Tô bí
pháp của hai tác giả Phạm Ngộ Hiên và Nguyễn Hòa Đường biên soạn sau đó lại
được Nguyễn Bá Am và Trần Trình Xuyên bổ sung thành Tây dương Gia Tô bí lục
Họ đều là những giáo sĩ sau đó bỏ đạo Thiên chúa trở về với Nho giáo Tác phẩm gồm 9 quyển, từ quyển 1 đến quyển 5 thuật lại truyện Giêsu sinh hóa và lập đạo, quyển 6 và 7 thuật lại truyện đạo Thiên chúa truyền qua phương Tây và ý đồ của các Giáo hoàng nhằm mở rộng Thiên chúa giáo, quyển 8 là sự bành trướng của đạo Thiên chúa và cuộc chiến đấu chống đạo Thiên chúa, quyển 9 là quá trình Thiên
chúa giáo xâm nhập vào Trung Quốc và Việt Nam Trong tác phẩm Tây dương Gia
Tô bí lục ngoại trừ những chỗ nhận xét về sự truyền bá đạo Thiên chúa vào nước ta
như một mưu đồ cướp nước của thực dân phương Tây hay như là sự bài trừ thuyết
mê tín Chúa lấy đất nặn ra người, và còn nói đến chế độ và tập quán của đạo Thiên chúa, thì tác giả không đi vào triết lý, thực chất của tôn giáo này [22]
Các tác giả Tây dương Gia Tô bí lục trước là những tín đồ của Thiên chúa giáo,
sau bỏ đạo Thiên chúa để trở về với Nho giáo Họ đã dùng cương thường của Nho giáo để phê phán Thiên chúa giáo, lấy giáo điều của Nho giáo mà đối chọi với giáo điều của Thiên chúa giáo, vì thế mà đôi chút tác giả đã tỏ ra quá khắt khe với đạo
Thiên chúa Tuy nhiên thì “Bộ Tây dương Gia Tô bí lục là cả một hệ thống lập luận
chống Thiên chúa giáo, tuy không có gì đặc sắc, tuy lắm chỗ sai lầm, nhưng khá
Trang 40sinh động, hấp dẫn, có chỗ lấy lý mà bẻ, có chỗ lấy tình mà đánh, có chỗ công kích bằng cái chọc cười, cuối cùng dắt đến một kết luận là Tây dương dùng đạo Thiên chúa để cướp nước ta, chớ không có mục đích gì khác” [22/327]
Tây dương Gia Tô bí lục đã vạch trần âm mưu xâm lược thực dân mà những
người truyền giáo phương Tây đã chuẩn bị một cách từ từ nhưng rất chắc chắn Cuốn sách có giá trị to lớn đúng như những gì tác giả mong muốn là nhằm mục đích
yêu nước, thức tỉnh người mê muội: “Chúng tôi già rồi, biết làm thế nào, chỉ mong
bậc thánh nhân ở ngôi, bậc tài giỏi giúp nước, trong lúc rảnh rỗi, sau trăm công nghìn việc, không bỏ những lời dông dài này, tha thứ những chỗ sai lầm, chọn những điều sở đắc để lập thành pháp luật của ta, xét đến sự thật để trừ giặc Tây, khiến cho non sông nước Nam thì vua Nam ở, và ngàn năm xã tắc vững âu vàng, cho muôn đời sau được nhớ mãi Đó là một tấm lòng chân thành canh cánh bên lòng của bốn người quê mùa chúng tôi” [22/329]
Sau tác phẩm Tây dương Gia Tô bí lục, trong xã hội xuất hiện thêm một cuốn viết về Thiên chúa giáo là Chư gia Thiên chúa bị khảo của Nguyễn Văn Siêu Ông
đã đã bỏ công ra sưu tầm những tài liệu Trung Quốc mà viết lên tác phẩm này Chư
gia Thiên chúa bị khảo nói về sự du nhập của mấy cánh Hiên giáo và Cảnh giáo của
đạo Gia Tô ở thời Đường, sự du nhập của chính Thiên chúa giáo La Mã dưới thời Minh, nói về hành trang của chúa Giêsu, hay nói về các thuyết cứu thế, chuộc tội Trong tác phẩm, dường như Nguyễn Văn Siêu đặt Phật giáo ngang hàng với Thiên chúa giáo, ông cho rằng cả hai tôn giáo trên là những đạo “hư vô”, hai đạo này cũng như nhau
Về vấn đề Thiên chúa giáo cũng được vua Tự Đức chú ý nhiều, không kể đến
những chỉ dụ cấm đạo Tác phẩm Đạo biện (biện luận về đạo) trong Tự Đức ngự chế
văn tập trên cơ sở luận về đạo để rồi Tự Đức phê phán tín lý công giáo: “Họ bảo Thiên chúa tức là Thượng đế, Thượng đế là chúa tể của trời, tức là sáng tạo ra trời đất, vạn vật Họ lại nói Thiên chúa không phải là trời, không phải là đất, không phải
là lý, không phải là đạo, không phải là khí, không phải là tính, không phải là người, không phải là vật, không phải là quỉ, không phải là thần, đó là đầu mối của vạn vật,
mà chính mình không bắt đầu từ đâu cả… đem so với Lão Tử khi nói “Vô danh là bắt đầu của trời vật, Đạo sinh ra một, một sinh ra hai” mới thấy thuyết của Gia Tô lại càng xuyên tạc thô sơ, họ chỉ biết mượn Thiên chúa để che giấu cái dấu tích Gia
Tô, và để làm văn hoa cho sự lầm lỗi vì đã thờ phụng xằng mà không kể gì đến gốc