1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Giải pháp đẩy mạnh tổ chức thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện văn giang tỉnh hưng yên

141 530 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy để việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên thực sự đi vào cuộc sống và trở thành một nề nếp thường xuyên, góp phần phát triển kinh tế

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

- -

HỒ THỊ VÂN ĐÔNG

GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LỆNH DÂN CHỦ Ở CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH

MÃ SỐ: 60.34.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS TRẦN HỮU CƯỜNG

HÀ NỘI, NĂM 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi trong những năm học tập Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn sâu sắc và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 25 tháng 09 năm 2014

Tác giả luận văn

Hồ Thị Vân Đông

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh của mình, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân

và tập thể, các cơ quan trong và ngoài Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Hữu Cường đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Ban Giám Hiệu trường, Viện Đào tạo Sau đại học, Khoa Kế toán - Quản trị kinh doanh và tập thể các thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi về thời gian cũng như kiến thức trong những năm học tập, thực hiện đề tài tại trường

Tôi xin thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Huyện Ủy Văn Giang và các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian học tập, thu thập tài liệu, số liệu, thông tin cần thiết và tổ chức các cuộc điều tra để thực hiện tốt đề tài của mình

Trong quá trình làm nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành luận văn, đã tham khảo nhiều tài liệu và đã trao đổi, tiếp thu ý kiến của thầy, cô và bạn bè đồng nghiệp Song, do điều kiện về thời gian và trình độ nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên nghiên cứu khó tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của thầy, cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 25 tháng 09 năm 2014

Tác giả luận văn

Hồ Thị Vân Đông

Trang 5

2.1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện pháp lệnh dân chủ ở

Trang 6

2.2 Cơ sở thực tiễn 38 2.2.1 Kinh nghiệm thực hiện dân chủ cơ sở ở Trung Quốc 38 2.2.2 Kinh nghiệm thực hiện dân chủ ở tỉnh Quảng Ninh 40

PHẦN III ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG

3.1 Đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội, dân cư huyện Văn

4.1 Thực trạng và kết quả quá trình triển khai, tổ chức thực hiện Pháp

lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện Văn Giang từ năm 2011

4.1.1 Quá trình triển khai, tổ chức thực hiện Pháp lệnh dân chủ 51 4.1.2 Kết quả thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện

4.1.3 Kết quả thực hiện Pháp lệnh dân chủ đối với việc nâng cao năng lực

lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, đổi mới hoạt động của

Trang 7

4.2.2 Hạn chế 88

4.3 Giải pháp đẩy mạnh việc tổ chức thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cấp

4.3.1 Giải pháp về tăng cường và đổi mới công tác kiểm tra, giám sát 91 4.3.2 Giải pháp về đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của hệ

4.3.3 Bồi dưỡng, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 95 4.3.4 Nâng cao trình độ dân trí, nhận thức của các tầng lớp nhân dân 97 4.3.5 Giải pháp về thực hiện dân chủ ở cấp xã gắn với sự nghiệp phát triển

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

2.1 Sự khác nhau giữa nền dân chủ tư sản và dân chủ XHCN 8

3.2 Trình độ học vấn của những người được phỏng vấn, điều tra 49 4.1 Mức độ hiểu biết và nhận thức của cán bộ cấp cơ sở về PLDC 59 4.2 Mức độ hiểu biết và nhận thức của nhân dân về PLDC 60

4.4 Mức độ dân bàn, dân quyết định về những nội dung công khai 65 4.5 Mức độ dân kiểm tra về những nội dung công khai 69 4.6 Tình hình phát triển văn hóa, xã hội trong 3 năm từ 2011-2013 của

4.7 Kết quả tham gia các loại quỹ nhân đạo từ thiện 72 4.8 Đánh giá của cán bộ cơ sở về chuyển biến của địa phương so với

4.9 Đánh giá của cán bộ cơ sở về mức độ thực hiện QCDC ở cơ sở 75 4.10 Đánh giá của nhân dân về kết quả thực hiện PLDC 76 4.11 Thống kê số liệu hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà cho hộ nghèo từ

4.12 Số liệu kết quả tiếp công dân và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo 81 4.13 Báo cáo số lượng, chất lượng cán bộ, công chức cấp xã năm 2014 83 4.14 Tình hình tiếp xúc cử tri với đại biểu HĐND các cấp 86

Trang 9

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

4.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong 3 năm 2011 - 2013 70 4.2 Cơ cấu kinh tế (NN-CNXD-TMDV) trong 3 năm 2011 - 2013 70 4.3 Giá trị thu trên 1ha đất canh tác, thu nhập bình quân đầu người

3.1 Sơ đồ vị trí địa lý huyện Văn Giang – tỉnh Hưng Yên 43

Trang 11

PHẦN I MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trải qua hơn 80 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã anh

dũng đấu tranh đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại độc lập dân tộc, thống

nhất đất nước Trong quá trình đó, Đảng ta luôn coi dân chủ là một nội dung

quan trọng trong đường lối lãnh đạo của mình mở rộng dân chủ XHCN, phát

huy quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu đồng thời là động lực đảm bảo

cho thắng lợi của cách mạng, của công cuộc đổi mới

Trong xã hội ta, xã hội do nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ thì dân

chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế -xã hội, vừa là cơ chế

và phương thức để vận hành quyền lực của nhân dân trong quản lý Nhà nước

và tổ chức đời sống xã hội Đảng ta đã sớm nhận thức về vị trí, vai trò của dân

chủ trong quá trình đấu tranh cách mạng, phát huy quyền làm chủ của nhân

dân, tạo điều kiện để nhân dân ngày càng tham gia nhiều hơn vào công việc

của Nhà nước như: Tham gia xây dựng luật pháp, chính sách, hưởng quyền

lợi và chủ động thực hiện tốt nghĩa vụ công dân

Bên cạnh những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực kinh tế- chính trị,

văn hoá- xã hội, an ninh, quốc phòng, sự nghiệp đổi mới của nước ta cũng

đang đứng trước những khó khăn, thách thức

Trong hệ thống chính trị nước ta xã, phường, thị trấn là cấp cơ sở, cấp

có vị trí vai trò rất quan trọng và được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm

Cơ sở là nơi tập trung đông đảo nhân dân sinh sống, nơi nảy sinh nhiều yêu

cầu bức xúc về đời sống chính trị, kinh tế- xã hội, nơi trực tiếp giải quyết các

mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân Cơ sở cũng là nơi tổ chức thực hiện

chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và là lực

lượng đông đảo của xã hội, là nơi thể hiện quyền làm chủ của nhân dân một

cách rộng rãi nhất

Trang 12

Trong điều kiện đổi mới cơ chế quản lý, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN, dân chủ cơ sở là một trong những nội dung thể hiện bản chất của Nhà nước ta, nhà nước của dân, do dân và vì dân, được xác định như là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình phát huy quyền làm chủ, phát huy sức sáng tạo của nhân dân, góp phần quan trọng vào xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN

Đứng trước xu thế mở cửa hội nhập, mở rộng giao lưu quốc tế thì mở rộng dân chủ là một tất yếu khách quan Trong những năm qua, nhất là những năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng bộ và nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên đã đạt được những thành tựu trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt

là trong xây dựng nông thôn mới Việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã cho thấy đây là một chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân và khẳng định nguồn lực trong dân là vô cùng lớn, đã từng bước khắc phục được tình trạng trông chờ, ỷ lạị; động viên sức mạnh các tầng lớp nhân dân vượt qua khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi cách nhiệm vụ cách mạng, đẩy lùi tiêu cực, suy thoái, xây dựng Đảng, chính quyền Mặt trận và cá đoàn thể ở cơ sở vững mạnh Thực hiện Pháp lệnh dân chủ là giải pháp quan trọng nhất để nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở

Từ thực tiễn triển khai, tổ chức thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên những năm qua đã đạt được nhiều kết quả, người dân đã tích cực đóng góp sức người, sức của vào sự nghiệp phát triển kinh tế- xã hội, huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên đã có nhiều biến đổi và khởi sắc Nhưng bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại, hạn chế, liên quan đến sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của bộ máy chính quyền; liên quan đến trình độ, đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức; liên quan đến sự nhận thức và ý thức của người dân về vấn đề thực hiện dân chủ

Là một cán bộ đang công tác trong cơ quan Đảng (Huyện ủy huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên), tác giả nhận thấy rõ ràng và trực tiếp vị trí và

Trang 13

tầm quan trọng của việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã; nơi gần dân nhất, nơi trực tiếp lắng nghe những tâm tư, nguyện vọng của những người làm chủ đất nước, những người như Nguyễn Trãi đã nói “Chèo thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” Vì vậy để việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên thực sự đi vào cuộc sống

và trở thành một nề nếp thường xuyên, góp phần phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, tác giả chọn đề tài

“Giải pháp đẩy mạnh tổ chức thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã, trên địa bàn huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên” với mong muốn, đề tài sẽ đề xuất

một số giải pháp, kiến nghị có tính khả thi trong việc tổ chức thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã, đồng thời giúp người dân thực hiện tốt hơn quyền làm chủ của mình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu thực trạng việc tổ chức thực hiện Pháp lệnh dân chủ trên địa bàn huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh việc tổ chức thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên những năm tiếp theo

Trang 14

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

1.3.1 Những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc tổ chức thực hiện PLDC

ở cấp xã trên địa bàn huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên?

1.3.2 Thực trạng việc tổ chức thực hiện PLDC ở cấp xã trên địa bàn huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên từ 2011-2013 như thế nào?

1.3.3 Đánh giá việc tổ chức thực hiện PLDC ở cấp xã từ 2011- 2013 trên địa bàn huyện Văn Giang như thế nào?

1.3.4 Có những giải pháp nào để đẩy mạnh việc tổ chức thực hiện PLDC ở cấp xã trên địa bàn huyện Văn Giang trong những năm tiếp theo ?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu quá trình tổ chức thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã từ năm 2011-2013 trên địa bàn huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu những nội dung trong việc tổ chức thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã (những nội dung phải công khai để nhân dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyết định; những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát; trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức cấp xã, của cán

bộ thôn, tổ dân phố, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ) ở cấp xã trên địa bàn huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên từ năm 2011-2013

Trang 15

PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số vấn đề lý luận về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa

Dân chủ là bản chất của Nhà nước XHCN mà cốt lõi của vấn đề dân chủ trong Nhà nước XHCN đó là “Dân làm chủ và dân là chủ” Vậy để hiểu rõ hơn

về các luận điểm này, trước tiên chúng ta cần tìm hiểu một số vấn đề sau:

2.1.1.1 Khái niệm dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa

a Khái niệm dân chủ

Dân chủ được bắt nguồn từ chữ Hy Lạp "demokrratia" (demos - nhân dân, Kratos - quyền lực) Như vậy, theo nguyên nghĩa của nó, dân chủ có nghĩa là quyền lực của nhân dân, hay quyền lực thuộc về nhân dân, nó nói lên rằng, nhân dân là chủ thể của quyền lực

Như vậy , từ nguyên gốc-dân chủ là quyền lực nhân dân- dân chủ trở thành khái niệm bao quát một nội dung rộng lớn Người ta thường tiếp cận khái niệm dân chủ ở những khía cạnh sau:

Một là, dân chủ là một khái niệm mang ý nghĩa chính trị, tuy đã có

mầm mống trong xã hội nguyên thuỷ (dân chủ quân sự), nhưng nó xuất hiện đầy đủ như một chế độ chính trị trong xã hội có giai cấp Ở phương diện này, tính chất của dân chủ phụ thuộc vào chỗ quyền lực chính trị thuộc về giai cấp nào Thực chất, đó là sự tập trung quyền lực chính trị vào tay giai cấp cầm quyền Chính vì vậy, người ta gọi là dân chủ chủ nô, dân chủ tư sản, dân chủ

vô sản (dân chủ XHCN)

Hai là, dân chủ được hiểu là một chế độ Nhà nước V.I Lenin từng nói: chế độ dân chủ là một hình thức Nhà nước, trong đó nổi bật mối quan hệ giữa nhà nước với dân, quan hệ giữa những người dân được điều tiết bởi một hệ thống luật pháp, đó là một thể chế nhà nước

Trang 16

Ba là, dân chủ là sự phản ánh trạng thái, mức độ giải phóng con người trong tiến trình phát triển của xã hội Nó thể hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi công dân, được quy định trong luật pháp Nhà nước cũng như được thể hiện trong cuộc sống

Bốn là, dân chủ là sự biểu thị thành quả của cuộc đấu tranh giữa một

bên là những người lao động và một bên là giai cấp bóc lột Vì vậy, dân chủ không chỉ đơn thuần là quyền lực, lợi ích thuộc về giai cấp cầm quyền, mà nó còn là phần quyền lực, lợi ích của đông đảo nhân dân, do chính họ giành được trong cuộc đấu tranh Ở đây dân chủ là một tương quan xã hội, so sánh giữa các lực lượng, các khuynh hướng xã hội

Năm là, dân chủ còn được hiểu với tính cách là nguyên tắc, phương thức

hoạt động của một tổ chức chính trị-xã hội Ví dụ: nguyên tắc dân chủ tập trung trong sinh hoạt đảng, quản lý nhà nước và liên quan đến bình đẳng xã hội

Đó là các khía cạnh khác nhau của khái niệm dân chủ, tuỳ bối cảnh mà người ta nhấn mạnh khía cạnh này hay khía cạnh khác

b Khái niệm dân chủ xã hội chủ nghĩa

Chủ nghĩa xã hội là giải phóng toàn bộ nhân loại khỏi mọi áp bức, bóc lột Vì thế, dân chủ XHCN là một nền dân chủ kiểu mới, một nền dân chủ của những con người thoát khỏi áp bức, bóc lột Mặc dù kế thừa các giá trị quý báu của mọi nền dân chủ đã có của nhân loại, nhưng dân chủ XHCN có đặc điểm riêng: Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN; dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng XHCN; dân chủ XHCN là nền dân chủ của dân, do dân và vì dân Vì vậy, không có dân chủ xã XHCN là không có chủ nghĩa xã hội Dân chủ XHCN chính là sự hiện thực hóa khát vọng dân chủ của toàn thể nhân dân lao động

Vậy, dân chủ XHCN ra đời như là kết quả tất yếu của lịch sử đấu tranh lâu dài của nhân dân lao động vì sự nghiệp giải phóng toàn thể nhân dân lao động Dân chủ XHCN được hình thành dần dần và từng bước được hoàn thiện cùng với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân

Trang 17

chủ được xây dựng và hình thành trong tiến trình xây dựng CNXH, mang bản chất của giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản để thực hiện và đảm bảo quyền làm chủ thực sự của đông đảo nhân dân đối với xã hội

Nền dân chủ XHCN hoạt động và thể hiện thực tế thông qua hệ thống chính trị XHCN Vậy, hệ thống chính trị XHCN là gì?

Hệ thống chính trị XHCN là một chỉnh thể bao gồm: Đảng Cộng sản, Nhà nước XHCN, các tổ chức Chính trị - xã hội hợp pháp, các tầng lớp nhân dân cùng các mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận đó, hoạt động trên nguyên tắc bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân và nhằm mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội

Đảng Cộng sản là hạt nhân của hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận lãnh đạo hệ thống chính trị Đảng Cộng sản lãnh đạo xã hội bằng việc đề ra chủ trương, đường lối, cương lĩnh, chiến lược, sách lược trên nền tảng của Chủ nghĩa Mac - LêNin

Nhà nước XHCN là cơ quan thể hiện và thực hiện quyền lực của nhân dân lao động; thay mặt nhân dân lao động, được nhân dân ủy quyền, chịu trách nhiệm trước nhân dân, quản lý mọi hoạt động của xã hội bằng hệ thống pháp luật và những thiết chế nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự bảo vệ, giám sát của nhân dân

Các tổ chức Chính trị - xã hội hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật

Đó là nơi làm chủ tập thể của nhân dân, là khâu trung gian nối liền Đảng Cộng sản, Nhà nước XHCN với quần chúng nhân dân Thông qua các tổ chức này, nhân dân giới thiệu các đại biểu của mình tham gia vào chính quyền, đóng góp ý kiến cho Đảng, nhà nước, đồng thời qua đây nhân dân thể hiện tâm tư, nguyện vọng của mình với Đảng, nhà nước

Ba bộ phận này cùng với cơ chế vận hành của chúng (Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - nhân dân lao động làm chủ) hợp thành hệ thống chính trị XHCN, gắn bó chặt chẽ với nhau vì mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong đó, Nhà nước XHCN là nhân tố cơ bản nhất để thực hiện quyền lực của nhân dân

Trang 18

Vậy “Dân chủ XHCN là nền dân chủ được xây dựng và hình thành trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, mang bản chất của giai cấp công nhân, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản để thực hiện và đảm bảo quyền làm chủ thực sự của đông đảo quần chúng nhân dân đối với xã hội”

2.1.1.2 Sự khác biệt giữa dân chủ XHCN và dân chủ tư sản

Đây là hai nền dân chủ đang tồn tại trong thực tiễn đời sống chính trị của nhân loại hiện nay Dân chủ XHCN ra đời có sự kế thừa một cách có chọn lọc những thành tựu của nền dân chủ trước đó, nhất là dân chủ tư sản Tuy nhiên hai nền dân chủ này có sự khác nhau về chất

Bảng 2.1 Sự khác nhau giữa nền dân chủ tư sản và dân chủ XHCN

1 Về mục tiêu phục vụ

Là nền dân chủ cho đại

đa số nhân dân lao động, phục vụ lợi ích cho đại

đa số

Là nền dân chủ cho thiểu số, phục vụ lợi ích thiểu số

- Dân chủ XHCN là nền dân chủ mang bản chất của giai cấp công nhân nhưng nó phục vụ lợi ích cho đa số, bởi vì lợi ích của giai cấp công nhân phù hợp với lợi ích của nhân dân lao động

và toàn dân tộc

- Dân chủ tư sản đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp công nhân và nhân dân lao động

- Dân chủ XHCN là nền dân chủ do Đảng cộng sản lãnh đạo, nhất nguyên về chính trị

- Dân chủ tư sản do các đảng của giai cấp tư sản lãnh đạo, thực hiện chế

độ đa đảng đối lập.nhân dân lao động

Trang 19

2 Về bản chất giai cấp,

bản chất chính trị

- Dân chủ XHCN được thực hiện thông qua Nhà

XHCN (có sự thống nhất và sự phân công phối hợp giữa 3 quyền lập pháp, hành pháp và

tư pháp)

- Dân chủ tư sản được thực hiện thông qua Nhà nước pháp quyền tư sản (tổ chức theo hình thức tam quyền phân lập)

3 Về cơ sở kinh tế

- Dân chủ XHCN được thực hiện trên cơ sở kinh tế là công hữu các

tư liệu sản xuất chủ yếu

- Dân chủ tư sản được thực hiện trên cơ sở kinh tế tư hữu hoá các

tư liệu sản xuất

- Dân chủ XHCN thực hiện nguyên tắc phân phối sản phẩm của xã hội chủ yếu theo kết quả lao động và các nguồn lực đóng góp

- Dân chủ tư sản thực hiện nguyên tắc này chủ yếu theo tài sản, tỷ lệ đóng góp kinh tế của mỗi cá nhân

4 Về tính pháp lý và

tính thực tiễn

- Nền dân chủ XHCN đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân về mặt pháp lý cũng như trên thực tế Hạn chế tối đa

sự khác biệt giữa văn bản luật và quyền thực

sự của người dân trong thực tế

- Dân chủ tư sản về mặt pháp lý, xây dựng rất nhiều quyền của con người, nhưng nó lại đưa

ra rất nhiều quy định để hạn chế tối đa việc thực hiện những quyền đó của công dân

Trang 20

2.1.1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ

Tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh hình thành và phát triển suốt toàn bộ cuộc đời hoạt động của Người Tuy nhiên, nói đến tư tưởng dân chủ thì phải kể đến Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam mà Người là đại diện gửi tới Hội nghị Quốc tế Vec-Xai năm 1919 Trong bản yêu sách này, Người nêu lên 8 điểm Trong đó, đáng lưu ý điểm thứ bẩy “Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ nói chung và về quyền làm chủ của nhân dân nói riêng là kết quả của sự nhận thức sâu sắc về vai trò của nhân dân trong lịch sử, là kết quả của sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa lý luận và thực tiễn, Người đã nâng tư tưởng dân chủ lên một tầm cao mới vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nhân văn sâu sắc Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong chế độ dân chủ, quyền lợi và nghĩa vụ của công dân bao giờ cũng

đi liền với nhau Do đó không thể xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh nếu mỗi công dân không tự giác thực hiện đúng luật pháp và hoàn thành nghĩa vụ của mình đối với xã hội Pháp luật có liên quan rất mật thiết với vấn đề dân chủ Yếu tố bảo đảm để dân chủ vận hành trong một hành lang

an toàn, không bị thiên lệch chính là pháp luật

Có thể khái quát tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh thành sáu phạm trù cơ bản sau đây:

Thứ nhất: Dân chủ là quý báu nhất của nhân dân

Thứ hai: Địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ

Thứ ba: Nhiệm vụ của chính quyền dân chủ là phục vụ nhân dân Thứ tư: Đảng cũng ở trong xã hội Đảng từ Trung ương đến xã do dân

tổ chức nên

Thứ năm: Đoàn thể là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vực

quyền lợi của dân, liên lạc mật thiết giữa dân với Chính phủ

Trang 21

Thứ sáu: Thực hiện những cải cách xã hội để nâng cao đời sống của

nhân dân, thực hiện dân chủ thực sự

Sáu luận điểm dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh với một hệ thống hàng trăm luận đề có nội dung phong phú, sâu sắc khác nhau, liên quan tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, là một kho báu có giá trị lớn lao, luôn được Đảng và Nhà nước ta vận dụng trong quá trình thực hành dân chủ cũng như xây dựng và phát triển đất nước

Tư tưởng Hồ Chí Minh: trong bài báo "Dân vận" (viết 15/10/1949) cách đây trên nửa thế kỷ, ngày 15/10/1949, ngay trong phần đầu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu một cách ngắn gọn nhưng rất xúc tích về chế độ dân chủ ở nước ta, người viết: Nước ta là nước dân chủ Điều đó có nghĩa là:

"Bao nhiêu lợi ích đều vì dân

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân

Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra

Ðoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân" !

Hồ Chí Minh cho rằng: "Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân" và trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân, thực hiện dân chủ là chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi khó khăn, dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng XHCN

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng cộng sản Việt Nam luôn xác định dân chủ XHCN vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển của xã hội Trong thời kỳ đổi mới dân chủ XHCN ngày càng được mở rộng

về nội dung; dân chủ cả trong chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và ở các cấp

từ Trung ương đến cơ sở; đến người dân bằng các hình thức dân chủ đại diện

và dân chủ trực tiếp Dân chủ ngày càng được thể hiện trong tất cả các mối

Trang 22

quan hệ xã hội Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, mở cửa hội nhập với thế giới và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân cũng là nhằm xây dựng nền dân chủ XHCN, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh

2.1.1.4 Dân chủ Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời được hiến định bởi Hiến pháp đầu tiên do Quốc hội thông qua ngày 9/1/1946 Người khai sinh ra nền cộng hoà dân chủ và bản Hiến pháp đầu tiên ấy là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà chính trị, nhà văn hoá kiệt xuất đã đưa dân tộc vào con đường phát triển hợp quy luật, xây dựng nước ta thành một nước dân chủ của nhân dân lao động,

bỏ qua nền dân chủ của giai cấp tư sản

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã nhận định rằng từ giữa thế kỷ XX, Việt Nam đã đạt tới những quan niệm dân chủ, sánh ngang với bất cứ một thể chế dân chủ nào trên thế giới Nổi bật ở đây là việc xác nhận về mặt pháp lý quyền làm chủ của nhân dân “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” Cùng với thời gian, vấn đề dân chủ tiếp tục được Đảng và Nhà nước quan tâm, được thể hiện trong đường lối lãnh đạo của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đặc biệt tiếp tục được thể hiện trong các bản Hiến pháp sửa đổi, bổ sung của nước ta

Nghị quyết Đại hội VI của Đảng - Đại hội đổi mới chỉ rõ: "Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng "lấy dân làm gốc", xây dựng

và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động” Đây chính là những tư tưởng trọng yếu làm cơ sở lý luận và thực tiễn để thực hiện dân chủ và phát huy dân chủ trong quá trình đổi mới đất nước Có thể thấy, từ giai đoạn này dân chủ

đã mang một sắc thái hoàn toàn mới, phù hợp với thực tế của đất nước

Trang 23

Từ khi Đảng và Nhà nước ta tiến hành đổi mới, nền kinh tế của đất nước từng bước phát triển, cùng với đó là đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện, đó chính là dân sinh Như một hệ quả tất yếu, kinh

tế phát triển sẽ kéo theo trình độ nhận thức của nhân dân được nâng lên rõ rệt

vì họ có điều kiện để học hành và tiếp xúc với nhiều kênh thông tin để nâng cao nhận thức Khi dân trí phát triển, người dân nâng cao nhận thức của mình

về các quyền công dân, quyền về kinh tế, chính trị - xã hội trong mối quan hệ với chính quyền và hệ thống chính trị Nói cách khác, đòi hỏi về thực hiện quyền dân chủ, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở càng ngày càng nâng cao như một tất yếu khách quan trên con đường phát triển của nước ta Bởi vậy, việc nhân dân tìm hiểu thế nào là dân chủ, làm thế nào để thực hiện dân chủ, làm thế nào để quyền dân chủ của họ không bị xâm phạm… được coi là nhu cầu chính đáng của người dân Những điều này được thể hiện rõ nhất tại các kỳ họp Quốc hội, HĐND các cấp, tại các Hội nghị tiếp xúc cử tri… người dân đã thông qua những đại biểu dân cử chất vấn Quốc hội, chất vấn những cá nhân,

tổ chức có thẩm quyền và đặc biệt hơn là người dân đã thực hiện tốt quyền khiếu nại, tố cáo đối với những cá nhân, tổ chức được coi là vi phạm pháp luật Đây có thể coi là bước tiến mới trong vấn đề dân chủ ở nước ta

Đại hội VII đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nội dung: "Toàn bộ tổ chức và hoạt động của

hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân Dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua hoạt động của nhà nước do dân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp"

Tại Đại hội VIII, Đảng ta khẳng định: "Xây dựng nền dân chủ XHCN

là nội dung cơ bản đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta Phải có cơ chế và cách làm cụ thể để thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân

Trang 24

kiểm tra" đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước” Tư tưởng quan trọng này chính là cơ sở của Chỉ thị 30-CT/TW, ngày 18/2/1998,

về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở Bộ Chính trị chỉ rõ phải ban hành Chỉ thị này là vì: "quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân vẫn đang phổ biến và nghiêm trọng mà chúng ta chưa đẩy lùi, ngăn chặn được Phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" chưa được cụ thể hóa và thể chế hóa thành luật pháp, chậm đi vào cuộc sống” và "Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền làm chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất Muốn vậy, Nhà nước cần ban hành QCDC

ở cơ sở có tính pháp lý, yêu cầu mọi người, mọi tổ chức ở cơ sở đều phải nghiêm chỉnh thực hiện”

Cùng với việc đề ra phương hướng, chiến lược phát triển đất nước một cách toàn diện và lâu dài, tại Đại hội IX, Đảng ta nhấn mạnh: "Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân gắn với việc phát huy dân chủ trong đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở tất cả các cấp, các ngành”

Ðáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ mới, Ðại hội X của Ðảng đã chỉ rõ: “Dân chủ XHCN vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối gắn bó giữa Ðảng, Nhà nước và nhân dân Nhà nước đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Ðảng Mọi đường lối, chính sách của Ðảng và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân”

Đại hội XI: Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị

Trang 25

trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

Từ khi xây dựng chế độ dân chủ và thực hành dân chủ, quan niệm về dân chủ và thực hành dân chủ ở nước ta cũng diễn biến cùng với những năm tháng đổi thay của đất nước Dân chủ và thực hành dân chủ là một quá trình cách mạng, không phải là một con đường thẳng tắp mà nhiều quanh co, phức tạp Dân chủ với tư cách là một chế độ chính trị thì việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, trong đó cả nhà nước và công dân đều phải có trách nhiệm xây dựng pháp luật và đặt mình dưới pháp luật, coi pháp luật là tối thượng để đảm bảo cho nhà nước thực sự là nước dân chủ Nghĩa là mọi tổ chức và công dân,

từ Nguyên thủ Quốc gia đến mỗi người dân đều phải “Tôn trọng Hiến pháp, tuân theo pháp luật”

2.1.2 Nội dung Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cấp xã (PL 34/2007/UBTVQH11)

Pháp Lệnh của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội phải được quá nửa tổng số thành viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành và phải được công bố chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày được thông qua

Trang 26

2.1.2.2 Khái niệm Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn

Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn là một văn bản pháp luật được Uỷ ban thường vụ Quốc hội Việt Nam khoá XI đã thông qua vào ngày 20 tháng 4 năm 2007 (Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11) và có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2007, và được Chủ tịch nước Việt Nam ra lệnh công bố trên toàn quốc Đây là văn bản quy định về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn và là văn bản pháp lý quan trọng nhằm phát huy quyền dân chủ của nhân dân ở xã, phường, thị trấn Tính đến nay Pháp lệnh là văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất (không kể Hiến pháp Việt Nam) quy định về vấn đề dân chủ ở cấp xã

2.1.2.3 Sự cần thiết của việc ban hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn

Ngày 18/2/1998 Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương (khoá VIII)

đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở;

để triển khai thực hiện Chỉ thị số 30 ở loại hình cơ sở là xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã), Chính phủ đã ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 15/5/1998 về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã; sau một thời gian triển khai thực hiện Nghị định số 29 cùng với một số văn bản hướng dẫn của các Bộ, Ngành liên quan, ngày 07/7/2003 Chính phủ ban hành Nghị định số 79/2003/NĐ-CP về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã (thay thế Nghị định số 29)

Trong thời gian gần đây nhiều vấn đề liên quan đến quyền làm chủ của nhân dân được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật như Luật Tổ chức HĐND và UBND; Luật Bầu cử đại biểu HĐND; Pháp lệnh Cán bộ, công chức; Luật Phòng chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Trong bối cảnh đó, các quy định về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn cần được nâng tầm hiệu lực pháp lý cao hơn Nghị định để điều chỉnh việc

Trang 27

thực hiện dân chủ, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền làm chủ của nhân dân ở xã, phường, thị trấn cho bảo đảm tính đồng bộ, hệ thống với những văn bản pháp luật khác

Ðồng thời, để tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được: “Ở những nơi làm tốt việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở, đã có sự chuyển biến đáng kể nhận thức của các thành viên trong hệ thống chính trị và của nhân dân về dân chủ, làm cho mọi người quan tâm và tham gia thực hiện tốt việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân từ cơ sở; các chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an ninh - quốc phòng được nhân dân hiểu biết rõ, hăng hái tham gia góp ý kiến và thi đua thực hiện nên đạt kết quả tốt hơn; phần lớn các tranh chấp, vướng mắc trong dân với nhau và với chính quyền được hòa giải, giải quyết ổn thỏa từ cơ sở,

đã góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tạo không khí chan hòa, cởi

mở trong cộng đồng, góp phần quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị, xã hội

Xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở cũng đã góp phần tác động tích cực tới việc củng cố, đổi mới, nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị ở cơ

sở, xây dựng, chỉnh đốn Đảng và thúc đẩy việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; củng cố, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh; thúc đẩy cải cách thủ tục hành chính, cải tiến sự chỉ đạo, quản lý, điều hành của chính quyền, làm chuyển biến tác phong công tác của cán bộ, đảng viên, công chức; đổi mới phương thức của cả hệ thống chính trị theo hướng “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”, là biện pháp quan trọng để khắc phục quan liêu, tham nhũng, lãng phí”; khắc phục những hạn chế, tồn tại trong nội dung QCDC và trong cách thức triển khai thực hiện QCDC những năm qua: “Những kết quả trong việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở chưa đồng đều và vững chắc Nhiều nơi quy chế đã xây dựng còn dập khuôn, máy móc, chưa phù hợp với thực tế, khó thực hiện Nhiều nơi còn tình trạng

Trang 28

khoán trắng việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở cho ban chỉ đạo, không kiểm tra thường xuyên để có chủ trương và giải pháp đồng bộ, thiết thực nên việc thực hiện còn mang nặng tính hình thức Tình trạng vi phạm quyền làm chủ của nhân dân vẫn còn nhiều, có khi nghiêm trọng; những biểu hiện quan liêu, tham nhũng, tiêu cực không được phát hiện và đấu tranh ngăn chặn, khắc phục kịp thời, làm giảm lòng tin, gây bất bình trong nhân dân, dẫn đến khiếu kiện kéo dài hoặc vượt cấp”; thể chế hóa những chủ trương, chính sách mới của Ðảng và Nhà nước về phát huy quyền làm chủ của nhân dân ngay từ cơ sở thì việc nghiên cứu hoàn thiện văn bản pháp luật về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, nâng cao hiệu lực pháp lý của văn bản ở cấp

độ Nghị định lên Pháp lệnh đặt ra yêu cầu bức thiết nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phát huy dân chủ trực tiếp và tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện tốt hơn quyền làm chủ của mình tại cơ sở xã, phường, thị trấn theo chủ trương của Ðảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay

Bên cạnh đó, một số quy định của QCDC còn hạn chế về mặt nội dung, chưa phù hợp với thực tiễn, không có tính khả thi khi áp dụng; hiệu lực pháp

lý mới chỉ dừng ở Nghị định của Chính phủ đã ít nhiều hạn chế tác động của Quy chế tới thực hiện quyền dân chủ của nhân dân ở cơ sở

Trên cơ sở đó, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (PL34/2007/UBTVQH11) được xây dựng và trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Tại phiên họp tháng 4/2007, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh này

Có thể nói, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn ra đời một lần nữa khẳng định vai trò và tầm quan trọng to lớn của việc thực hiện dân chủ

ở cấp xã; là một bước tiến mới trong việc hiện thực hóa các quan điểm của Ðảng, tư tưởng của Bác Hồ về nền dân chủ XHCN của nhân dân Dân là chủ thì dân phải được làm chủ, phải được hưởng quyền dân chủ trong mọi mặt của cuộc sống và cũng chỉ có như vậy bản chất tốt đẹp của Nhà nước mới được giữ vững, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc mới được củng cố, phát huy

Trang 29

Mở rộng và phát huy dân chủ là xu hướng khách quan của tiến bộ xã hội, nhất là hiện nay nước ta đang trong quá trình hội nhập khu vực và quốc

tế, mở rộng và nâng cao dân chủ sẽ góp phần nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế Đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ mới, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã khẳng định chủ trương “Xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán bộ, đảng viên và công chức phải thật

sự là công bộc của nhân dân Xác định các hình thức tổ chức và có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền dân chủ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá,

xã hội Đề cao trách nhiệm của các tổ chức Đảng, Nhà nước đối với nhân dân” và “Phát huy dân chủ là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với tiến trình phát triển nước ta”

2.1.2.4 Bố cục của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn

Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn gồm 6 chương, 28 điều Cụ thể là:

- Chương I: Những quy định chung

Gồm 4 điều (từ Điều 1 đến Điều 4) quy định phạm vi điều chỉnh, nguyên tắc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (cấp xã), trách nhiệm tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã, các hành vi bị nghiêm cấm

- Chương II: Nội dung công khai để nhân dân biết

Gồm những nội dung công khai để nhân dân biết, chương này có 5 điều (từ Điều 5 đến Điều 9) quy định những nội dung công khai, hình thức công khai, trách nhiệm thực hiện

- Chương III: Những nội dung nhân dân bàn và quyết định

Quy định về những nội dung nhân dân bàn và quyết định và được chia thành 3 mục, gồm 9 điều (từ Điều 10 đến Điều 18) quy định những nội dung nhân dân bàn và quyết định trực tiếp, hình thức nhân dân bàn và quyết định trực tiếp, giá trị thi hành, những nội dung nhân dân bàn, biểu quyết, hình thức bàn, biểu quyết

Trang 30

- Chương IV: Những nội dung nhân dân có ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định

Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định, gồm 4 điều (từ Điều 19 đến Điều 22)

- Chương V: Những nội dung nhân dân giám sát

Gồm 4 điều (từ Điều 23 đến Điều 26) quy định những nội dung nhân dân giám sát, hình thức để thực hiện việc giám sát của nhân dân

- Chương VI: Điều khoản thi hành

Gồm 2 điều (Điều 27 và Điều 28) quy định hiệu lực thi hành và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh

2.1.2.5 Phạm vi điều chỉnh

Phạm vi điều chỉnh quy định trong Pháp lệnh chủ yếu điều chỉnh mối quan hệ giữa chính quyền cấp xã và nhân dân ở xã, phường, thị trấn trong việc thực hiện các quyền dân chủ của nhân dân Cụ thể là Pháp lệnh này quy định những nội dung chính quyền cấp xã phải công khai để nhân dân biết những nội dung nhân dân bàn và quyết định, những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định, những nội dung nhân dân giám sát; trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, của cán bộ thôn, tổ dân phố, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan

và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cấp xã

2.1.2.6 Nguyên tắc và cấm đoán

Pháp lệnh này đã quy định cụ thể các nguyên tắc thực hiện dân chủ ở cấp

xã Các nguyên tắc này cũng chính là các tư tưởng chỉ đạo (của Đảng Cộng sản) xuyên suốt trong toàn bộ nội dung Pháp lệnh, bao gồm các nguyên tắc:

- Bảo đảm trật tự, kỷ cương, trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật

- Bảo đảm quyền của nhân dân được biết, tham gia ý kiến, quyết định, thực hiện và giám sát việc thực hiện dân chủ ở cấp xã

Trang 31

- Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,

cá nhân

- Công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện dân chủ ở cấp xã

- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước cộng sản

- Pháp lệnh này đã quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm trong quá trình thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn như:

- Không thực hiện hoặc làm trái các quy định của Pháp lệnh về thực hiện dân chủ

- Trù dập người khiếu nại, tố cáo

- Lợi dụng dân chủ để xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, xâm phạm lợi ích của nhà nước cộng sản, quyền và lợi ích hợp pháp của

tổ chức, cá nhân

2.1.2.7 Những nội dung cơ bản của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn

a Những nội dung công khai để nhân dân biết

Pháp lệnh quy định 11 nội dung chính quyền cấp xã phải công khai cho nhân dân trong xã biết, đây là những nội dung liên quan trực tiếp đến người dân, gắn liền với quyền và lợi ích của nhân dân, được nhân dân quan tâm, đó là:

- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã

- Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương

án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương

án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã

- Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân

Trang 32

- Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp

- Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất, xoá đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo hiểm y tế

- Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã

- Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND, Chủ tịch và Phó Chủ tịch UBND cấp xã

- Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn

đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy

ý kiến nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này

- Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cấp xã trực tiếp thu

- Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện

- Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết

* Những nội dung trên được công khai bằng hình thức:

Niêm yết công khai tại trụ sở HĐND, UBND cấp xã; Công khai trên

hệ thống truyền thanh của cấp xã; Công khai thông qua Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố để thông báo đến nhân dân; Chính quyền cấp xã có thể áp dụng đồng thời nhiều hình thức công khai, thực hiện việc cung cấp thông tin theo quy định

Trang 33

Về cách thức thông tin, nhân dân có quyền yêu cầu chính quyền sử dụng các phương tiện thông tin sẵn có ở xã, thôn để truyền tải những thông tin

mà nhân dân được quyền biết, đó là: trực tiếp bằng văn bản đến thôn, xã; niêm yết công khai tại trụ sở UBND xã hoặc ở những trung tâm dân cư; hệ thống truyền thanh xã, thôn; tại các cuộc họp tiếp xúc đại biểu HĐND xã

Về nội dung thông tin, nhân dân có quyền yêu cầu tất cả những thông tin mà dân được quyền biết Tuy nhiên không phải bất kỳ ai, bất kỳ lúc nào, hoặc bất kỳ loại thông tin nào cũng có thể được yêu cầu Có những loại thông tin được cung cấp định kỳ, như báo cáo công tác của HĐND, UBND xã Cũng

có những loại thông tin chỉ có thể được cung cấp sau một thời hạn nhất định, như dự toán, quyết toán thu chi ngân sách, hoặc dự án, công trình Có loại thông tin được cung cấp thông qua các tổ chức như Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát công trình, Ban công tác, mặt trận,

b Những nội dung nhân dân bàn và quyết định

Pháp lệnh này phân định hai nội dung, đó là những nội dung công việc

mà nhân dân bàn và quyết định trực tiếp và những nội dung công việc nhân dân sau khi bàn, biểu quyết đa số, phải được cấp có thẩm quyền công nhận mới có giá trị thi hành

- Nhân dân bàn và quyết định trực tiếp về chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng trong phạm vi cấp

xã, thôn, tổ dân phố do nhân dân đóng góp toàn bộ hoặc một phần kinh phí và các công việc khác trong nội bộ cộng đồng dân cư phù hợp với quy định của pháp luật

- Nhân dân bàn, biểu quyết để cấp có thẩm quyền quyết định:

+ Hương ước, quy ước của thôn, tổ dân phố

+ Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố

Trang 34

+ Bầu, bãi nhiệm thành viên Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu

c Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định

Pháp lệnh quy định 5 nội dung phải đưa ra lấy ý kiến nhân dân trước khi chính quyền cấp xã hoặc cơ quan có thẩm quyền quyết định, bao gồm:

- Dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cấp xã; phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất; đề án định canh, định cư, vùng kinh tế mới và phương án phát triển ngành nghề của cấp xã

- Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh; việc quản lý, sử dụng quỹ đất của cấp xã

- Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã; chủ trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ

sở hạ tầng, tái định cư; phương án quy hoạch khu dân cư

- Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp đến cấp xã

- Những nội dung khác cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết

* Hình thức để nhân dân tham gia ý kiến bao gồm:

Họp cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố và Phát phiếu lấy ý kiến cử tri hoặc cử tri đại diện hộ gia đình hoặc

có thể thông qua hòm thư góp ý

Trang 35

d Những nội dung nhân dân giám sát

Theo Pháp lệnh thì nhân dân được quyền giám sát tất cả những nội dung phải công khai để nhân dân biết, những nội dung nhân dân bàn và quyết định, những nội dung cơ quan có thẩm quyền phải đưa ra lấy ý kiến nhân dân quy định trong Pháp lệnh

Một số việc quan trọng mà nhân dân ở địa phương có quyền giám sát, kiểm tra:

- Hoạt động của đại biểu HĐND xã, cán bộ UBND xã

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo

- Dự toán và quyết toán ngân sách xã

- Kết quả nghiệm thu và quyết toán công trình do nhân dân đóng góp xây dựng và các chương trình dự án do nhà nước, các tổ chức và cá nhân đầu

tư tài trợ trực tiếp cho xã

* Việc giám sát có thể thực hiện bằng 2 hình thức là gián tiếp và trực tiếp:

- Hình thức gián tiếp là thông qua hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng

- Hình thức giám sát trực tiếp là thông qua quyền khiếu nại, tố cáo, kiến nghị với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hoặc kiến nghị thông qua Mặt trận Tổ quốc cấp xã, Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng

* Khi nhân dân thực hiện quyền giám sát thì Nhà nước phải có nhiệm vụ:

- Cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin, tài liệu cần thiết cho Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng

Trang 36

- Xem xét, giải quyết và trả lời kịp thời các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân, kiến nghị của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng, của Mặt trận tổ quốc xã hoặc tâu lại với cơ quan có thẩm quyền về những vấn đề không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình

Thành phần tham gia lấy phiếu tín nhiệm gồm các thành viên Mặt trận xã, Trưởng ban thanh tra nhân dân, Trưởng ban giám sát đầu tư của cộng đồng (nếu có), Bí thư chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam cấp xã, Trưởng thôn (hoặc trưởng khu phố, Trưởng Ban điều hành khu phố), Tổ trưởng tổ dân phố (trưởng ban điều hành tổ dân phố, Trưởng ban công tác mặt trận thôn, tổ dân phố

Sau khi tổ chức lấy phiếu tín nhiệm, Ban thường trực Mặt trận xã sẽ gửi kết quả lấy phiếu tín nhiệm và kiến nghị của mình tới Hội đồng nhân dân cùng cấp và các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm

2.1.3 Vai trò của Pháp lệnh thực hiện dân chủ với đời sống nhân dân

Qua vấn đề trên chúng ta có thể thấy rằng, những nội dung trong Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cấp xã được sắp xếp theo cấp độ tăng dần và toàn diện Những nội dung trên là cốt lõi của vấn đề dân chủ nói chung và dân chủ

ở cấp xã nói riêng Đó là việc “Dân biết => Dân bàn => Dân làm => Dân kiểm tra” như Bác Hồ đã từng khẳng định “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm” tra là bốn yếu tố cơ bản, có quan hệ thống nhất hữu cơ, biện chứng với nhau trong hệ thống tư tưởng "Dân chủ"

Trang 37

Muốn “Dân bàn” thì Dân phải biết; muốn “Dân làm” thì phải trên cơ

sở “Dân biết” và đã bàn bạc thấu đáo Dân không những được biết, được bàn, được làm mà còn được kiểm tra Có thể nói kiểm tra mọi vấn đề, mọi công việc của đất nước là biểu hiện cao nhất của tinh thần dân chủ Tuy nhiên, pháp luật là nhân tố quan trọng để nhân dân thể hiện quyền làm chủ của mình

Pháp lệnh quy định những nội dung phải công khai để dân biết, dân bàn, quyết định, dân tham gia ý kiến và giám sát Đồng thời, pháp lệnh cũng nêu rõ trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cấp xã

Có thể nói sự ra đời của QCDC ở cấp xã (Pháp lệnh thực hiện dân chủ

ở cấp xã) đã tạo khung pháp lý để thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và đặc biệt làm rõ hơn quyền làm chủ và cách thức tiến hành các quyền đó theo quy định của pháp luật

Việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện Văn Giang đã tạo nên sự gắn kết chặt chẽ giữa nhiệm vụ củng cố hệ thống chính trị cơ sở với tăng cường mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Đặc biệt, ý kiến của người dân từ các khu dân cư phản ánh về mức độ lắng nghe của cơ quan công quyền trong việc tiếp thu, lắng nghe và xử lý các ý kiến, kiến nghị của công dân ngày càng thiện cảm hơn

Mức độ hài lòng của người dân trong nhiều công việc, nhất là việc cải cách hành chính theo hướng một cửa, một cửa liên thông khá tốt Việc công khai các nội dung để nhân dân biết, bàn, tham gia trước khi cấp có thẩm quyền quyết định và nhân dân giám sát đặc biệt trong việc thực hiện các nội dung, tiêu chí xây dựng nông thôn mới; Việc tổ chức hội nghị lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh lãnh đạo xã, thị trấn ở nhiều nơi đạt tỷ lệ cao

Trang 38

Một số xã, thị trấn có vấn đề mới phát sinh cũng được cấp ủy, chính quyền, MTTQ, các đoàn thể từ huyện đến cơ sở phối hợp giải quyết nhanh, đúng quy định, hợp lòng dân

Thực trạng của đất nước hiện nay, tuy đã thu được nhiều thành quả trong công cuộc đổi mới, nhưng đời sống của đa số nhân dân còn nhiều khó khăn; nạn tham nhũng trầm trọng; trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp; nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước bị lạm dụng, bị "biến tướng"; cải cách hành chính ở mức thấp về trình độ, lại kém hiệu quả; công cuộc hội nhập quốc tế còn nhiều thách thức

Do đó, chủ trương "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" có vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển chung của đất nước, cần được Đảng

và nhà nước quan tâm hơn nữa, đồng thời được thực thi rộng khắp, có thực chất, để đạt những hiệu quả rõ rệt, tránh hình thức Cũng có thể khẳng định tính đúng đắn của phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” qua lịch sử đất nước mấy nghìn năm, nhất là từ ngày có Đảng, trải qua những cuộc chiến tranh vệ quốc ác liệt và đầy gian khổ, hy sinh, cũng như trong sự

nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế

2.1.4 Khái niệm đơn vị hành chính cơ sở, loại hình cơ sở xã, phường thị trấn và khái niệm thực hiện dân chủ ở cơ sở

2.1.4.1 Khái niệm đơn vị hành chính cơ sở

Đơn vị hành chính cơ sở có chức năng quản lý nhà nước thuộc phạm vi địa bàn hoạt động của mình Thông qua cấp cơ sở các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước mới đến với nhân dân, người lao động Tổ chức chính quyền cơ sở có quyền lực theo quy định của luật pháp giữ vai trò trụ cột trong

hệ thống chính trị tại cơ sở Cơ sở là nơi hàng ngày thực hiện các chủ trương, chính sách, luật pháp; tiến hành các hoạt động liên quan đến sản xuất, kinh

Trang 39

doanh, văn hóa, xã hội Do đó, cơ sở là cấp có liên quan trực tiếp tới chất lượng hiệu quả công việc

2.1.4.2 Loại hình cơ sở xã, phường, thị trấn

Là đơn vị hành chính cuối cùng trong hệ thống chính quyền 4 cấp Tại đây, có cơ quan quản lý nhà nước là Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn Đây là loại hình cơ sở có số lượng lớn nhất, có mặt trên địa bàn cả nước

2.1.4.3 Khái niệm thực hiện dân chủ ở cơ sở

Dân chủ cơ sở không phải là hình thức dân chủ mà là cấp độ thực hiện dân chủ thông qua hai hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp Phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" phải được cụ thể hoá

ở các cấp độ: Trung ương, địa phương và cơ sở Dân chủ- trước hết là một chế

độ chính trị Nhà nước là cơ quan đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; song nhà nước không thể hiểu hết được tâm tư nguyện vọng của nhân dân ở các vùng, miền địa phương có những đặc điểm, điều kiện kinh tế-xã hội, địa lý, tập quán khác nhau

Do đó phát huy và mở rộng dân chủ trực tiếp của nhân dân vừa là quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân vừa là cuộc vận động dân chủ phát huy tính sáng tạo, trí tuệ của muôn người trong xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Đồng thời qua đó là điều kiện tốt nhất để khắc phục bệnh quan liêu và chống tham những hiện tượng và hành vi phản dân chủ phát sinh trong bộ máy nhà nước Thực hiện dân chủ là việc thừa nhận và thực hiện thường xuyên các quyền làm chủ của công dân; tăng cường tính cộng đồng trách nhiệm giữa Nhà nước và công dân nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân ở cơ sở

Vậy có thể hiểu một cách khái quát về tổ chức thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cấp xã là quá trình tổ chức thực hiện các quy định của nhà nước về dân chủ tại các địa bàn dân cư, nơi mà người dân sinh sống, lao động, sản xuất ra

Trang 40

của cải, vật chất Hay có thể hiểu đó là việc thực hiện các biện pháp theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo “quyền làm chủ của người dân ở cơ sở” theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”

Do đặc thù của mô hình quản lý 4 cấp ở nước ta (Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã) đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nên việc tổ chức thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã nói chung và trên địa bàn huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên nói riêng được thực hiện theo các quy định của pháp luật và sự hướng dẫn, chỉ đạo của các cơ quan nhà nước cấp trên

Tuy nhiên, trong phạm vi, quyền hạn của mình pháp luật cũng đã quy định rõ ràng trách nhiệm của hệ thống chính quyền cấp xã trong việc tổ chức thực hiện Pháp lệnh dân chủ: HĐND, UBND, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã; phối hợp với Uỷ ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận cùng cấp trong việc tổ chức thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã; Uỷ ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm giám sát việc thực hiện và tham gia tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã

Ngoài ra, trách nhiệm của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, làng, ấp, bản, phun, sóc (gọi chung là thôn), tổ dân phố, khu phố, khối phố (gọi chung là tổ dân phố), của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cấp xã được quy định rất rõ ràng trong Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã (hiện nay là Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn)

Vậy có thể hiểu tổ chức thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị ở cấp xã theo quy định của pháp luật và sự hướng dẫn, chỉ đạo của cơ quan nhà nước cấp trên

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Hoàng Chí Bảo (2004), Hệ thống chính trị cơ sở ở nông thôn nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chính trị cơ sở "ở nông thôn nước ta hiện nay
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
17. Hoàng Chí Bảo (2007), Dân chủ và dân chủ cơ sở ở nông thôn trong tình hình đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và dân chủ cơ sở "ở nông thôn trong tình hình đổi "mới
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
19. Nguyễn Thu Cúc (2002), Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trong tình hình hiện nay - "một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Thu Cúc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
20. Hồng Hà (2000), Dân chủ và tập trung dân chủ, lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và tập trung dân chủ, lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hồng Hà
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
21. Vũ Văn Hiền (2005), Quy chế dân chủ ở cơ sở, vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế dân chủ ở cơ sở, vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Vũ Văn Hiền
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
22. Nguyễn Văn Lập (2006), Đảng Cộng sản Trung Quốc và vấn đề cải cách dân chủ, Nxb Thông tấn xã Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Trung Quốc và vấn "đề cải cách dân chủ
Tác giả: Nguyễn Văn Lập
Nhà XB: Nxb Thông tấn xã Việt Nam
Năm: 2006
23. Nguyễn Khắc Mai (1997), Dân chủ - Di sản văn hóa Hồ Chí Minh, Nxb Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ - Di sản văn hóa Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Khắc Mai
Nhà XB: Nxb Sự Thật
Năm: 1997
25. Hồ Chí Minh (1996): Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
26. Hồ Chí Minh (1986): Về Đảng cầm quyền, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Đảng cầm quyền
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1986
27. Hồ Chí Minh (1985): Nhà nước và pháp luật, Nxb Pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Pháp lý
Năm: 1985
28. Thái Ninh - Hoàng Chí Bảo (1991), Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Thái Ninh - Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
29. Nguyễn Tiến Phồn (2001), Dân chủ và tập trung dân chủ - lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và tập trung dân chủ - lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Tiến Phồn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
30. Nguyễn Văn Sáu (2005), Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Văn Sáu
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
31. Nguyễn Văn Sáu - Hồ Văn Thông (2003), Thực hiện Quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện Quy chế dân chủ và xây dựng "chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay
Tác giả: Nguyễn Văn Sáu - Hồ Văn Thông
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
32. Đỗ Tiến Sâm (2005), Vấn đề thực hiện dân chủ cơ sở ở nông thôn Trung Quốc, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề thực hiện dân chủ cơ sở ở nông thôn Trung Quốc
Tác giả: Đỗ Tiến Sâm
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2005
33. N.M. Voskresenskaia - N.B. Davletshina (2008), Chế độ dân chủ: Nhà nước và xã hội, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế độ dân chủ: Nhà nước và xã hội
Tác giả: N.M. Voskresenskaia - N.B. Davletshina
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2008
36. Trịnh Ngọc Anh, "Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh", tạp chí Cộng sản, (số 11, 4/2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh
37. Lê Minh Châu, “Dân chủ ở cơ sở là điểm mấu chốt để thực hiện quyền dân chủ”, tạp chí Quản lý nhà nước, (số 1/1999) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ ở cơ sở là điểm mấu chốt để thực hiện quyền dân chủ
38. Trần Bạch Đằng, "Dân chủ ở cơ sở một sức mạnh truyền thống của dân tộc Việt Nam", tạp chí Cộng sản, (số 35, 12/2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ ở cơ sở một sức mạnh truyền thống của dân tộc Việt Nam
39. Lê Xuân Đình, "Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và vấn đề thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở", tạp chí Cộng sản, (số 20, 10/2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và vấn đề thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 3.1. Sơ đồ vị trí địa lý huyện Văn Giang – tỉnh Hưng Yên - Giải pháp đẩy mạnh tổ chức thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện văn giang tỉnh hưng yên
Sơ đồ 3.1. Sơ đồ vị trí địa lý huyện Văn Giang – tỉnh Hưng Yên (Trang 53)
Sơ đồ 4.1. Cơ cấu Ban chỉ đạo thực hiện QCDC huyện và xã - Giải pháp đẩy mạnh tổ chức thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện văn giang tỉnh hưng yên
Sơ đồ 4.1. Cơ cấu Ban chỉ đạo thực hiện QCDC huyện và xã (Trang 64)
Bảng 4.1. Mức độ hiểu biết và nhận thức của cán bộ cấp cơ sở về PLDC - Giải pháp đẩy mạnh tổ chức thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện văn giang tỉnh hưng yên
Bảng 4.1. Mức độ hiểu biết và nhận thức của cán bộ cấp cơ sở về PLDC (Trang 69)
Bảng 4.2. Mức độ hiểu biết và nhận thức của nhân dân về PLDC - Giải pháp đẩy mạnh tổ chức thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện văn giang tỉnh hưng yên
Bảng 4.2. Mức độ hiểu biết và nhận thức của nhân dân về PLDC (Trang 70)
Bảng 4.4. Mức độ dân bàn, dân quyết định về những nội dung công khai - Giải pháp đẩy mạnh tổ chức thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện văn giang tỉnh hưng yên
Bảng 4.4. Mức độ dân bàn, dân quyết định về những nội dung công khai (Trang 75)
Bảng 4.6. Tình hình phát triển văn hóa, xã hội trong 3 năm - Giải pháp đẩy mạnh tổ chức thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện văn giang tỉnh hưng yên
Bảng 4.6. Tình hình phát triển văn hóa, xã hội trong 3 năm (Trang 81)
Bảng 4.7. Kết quả tham gia các loại quỹ nhân đạo từ thiện - Giải pháp đẩy mạnh tổ chức thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện văn giang tỉnh hưng yên
Bảng 4.7. Kết quả tham gia các loại quỹ nhân đạo từ thiện (Trang 82)
Bảng 4.8. Đánh giá của cán bộ cơ sở về chuyển biến của địa phương - Giải pháp đẩy mạnh tổ chức thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện văn giang tỉnh hưng yên
Bảng 4.8. Đánh giá của cán bộ cơ sở về chuyển biến của địa phương (Trang 84)
Bảng 4.9. Đánh giá của cán bộ cơ sở về mức độ thực hiện QCDC ở cơ sở - Giải pháp đẩy mạnh tổ chức thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện văn giang tỉnh hưng yên
Bảng 4.9. Đánh giá của cán bộ cơ sở về mức độ thực hiện QCDC ở cơ sở (Trang 85)
Bảng 4.10. Đánh giá của nhân dân về kết quả thực hiện PLDC - Giải pháp đẩy mạnh tổ chức thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện văn giang tỉnh hưng yên
Bảng 4.10. Đánh giá của nhân dân về kết quả thực hiện PLDC (Trang 86)
Bảng 4.13. Báo cáo số lượng, chất lượng cán bộ, công chức cấp xã năm 2014 - Giải pháp đẩy mạnh tổ chức thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện văn giang tỉnh hưng yên
Bảng 4.13. Báo cáo số lượng, chất lượng cán bộ, công chức cấp xã năm 2014 (Trang 93)
2. Hình thức thể hiện của Pháp lệnh - Giải pháp đẩy mạnh tổ chức thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện văn giang tỉnh hưng yên
2. Hình thức thể hiện của Pháp lệnh (Trang 123)
Bảng 4.1. Mức độ hiểu biết và nhận thức của cán bộ cấp cơ sở về PLDC - Giải pháp đẩy mạnh tổ chức thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện văn giang tỉnh hưng yên
Bảng 4.1. Mức độ hiểu biết và nhận thức của cán bộ cấp cơ sở về PLDC (Trang 136)
Bảng 4.9: Đánh giá của cán bộ cơ sở về mức độ thực hiện QCDC ở cơ sở - Giải pháp đẩy mạnh tổ chức thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn huyện văn giang tỉnh hưng yên
Bảng 4.9 Đánh giá của cán bộ cơ sở về mức độ thực hiện QCDC ở cơ sở (Trang 138)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm