1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đặc điểm dịch tễ và sự lưu hành virus newcastle ở gà tại một số cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc

82 575 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 762,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biswal G và Morrill C.C 1954, nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh Newcastle đến khả năng sinh sản của gà bằng chủng 11914 Califonia gây nhiễm vào xoang mũi gà mái tơ, thấy sản lượng trứng bị g

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Toàn bộ các số liệu và kết quả thu được là do bản thân tôi trực tiếp điều tra, thu thập với một thái độ hoàn toàn khách quan và trung thực, chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Vĩnh Phúc, tháng 10 năm 2014

Tác giả luận văn

Tạ Quốc Huy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi

luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo và

bạn bè đồng nghiệp Cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Nguyễn Bá Hiên, thầy đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi trong

suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Học viện Nông nghiệp Việt

Nam, Khoa Thú y cùng các Thầy Cô giáo đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong

suốt thời gian học tập ở trường

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo Chi cục Thú y

Vĩnh Phúc, Viện Thú y Quốc gia cùng toàn thể bạn bè, các đồng nghiệp đã

tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn tời người thân trong gia đình và bạn bè đã động

viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Vĩnh Phúc, tháng 10 năm 2014

Tác giả luận văn

Tạ Quốc Huy

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH vii

DANH MỤC VIẾT TẮT viii

MỞ ĐẦU 1

Tính cấp thiết của đề tài 1

Mục đích của đề tài 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tổng quát về bệnh Newcastle 3

1.1.1 Giới thiệu chung về bệnh Newcastle 3

1.1.2 Lịch sử bệnh Newcastle 3

1.2 Tình hình nghiên cứu dịch bệnh Newcastle trong nước và trên thế giới 4

1.3 Đặc tính sinh học của virus Newcastle 7

1.4 Dịch tễ học bệnh Newcastle 15

1.5 Triệu chứng, bệnh tích của bệnh Newcastle 20

1.6 Chẩn đoán bệnh 22

1.7 Biện pháp can thiệp và phòng bệnh Newcastle 25

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu 29

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 29

2.3 Nguyên liệu 29

2.4 Phương pháp nghiên cứu 30

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học 30

2.4.2 Phương pháp chẩn đoán dựa vào triệu chứng và bệnh tích 31

Trang 6

2.4.3 Phương pháp chẩn đoán huyết thanh học 31

2.4.4 Phương pháp phân lập vi rút trên phôi trứng 34

2.4.5 Phương pháp phân tích xử lý số liệu 35

Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36

3.1 Tình hình dịch bệnh trên đàn gà tại Vĩnh Phúc 36

3.1.1 Tình hình dịch bệnh chung trên đàn gia cầm 36

3.1.2 Tình hình dịch bệnh Newcastle ở gà từ năm 2011 - 6/2014 37

3.1.3 Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo giống 39

3.1.4 Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo lứa tuổi 41

3.1.5 Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo mùa vụ 42

3.1.6 Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo quy mô, hương thức chăn nuôi 44

3.1.7 Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo vùng sinh thái 46

3.2 Kết quả kiểm tra triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể của gà mắc bệnh Newcastle 47

3.2.1 Triệu chứng 47

3.2.2 Bệnh tích 50

3.3 Kiểm tra hiệu giá kháng thể chống Newcastle ở một số đàn gà nuôi tại Vĩnh Phúc 51

3.4 Kết quả giám sát sự lưu hành virus Newcastle ở gà trên địa bàn Vĩnh Phúc 55

3.4.1 Kết quả phân lập virus trên phôi trứng 55

3.4.2 Kết quả giám định virus Newcastle bằng phản ứng HI 58

3.5 Đề xuất một số biện pháp phòng chống bệnh Newcastle ở gà trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 59

3.5.1 Công tác quy hoạch chăn nuôi 59

3.5.2 Công tác thông tin tuyên truyền 60

3.5.3 Chủ động giám sát, phát hiện sớm bệnh 61

3.5.4 Vệ sinh phòng bệnh 61

3.5.5 Phòng bệnh bằng quản lý chăm sóc nuôi dưỡng 63

Trang 7

3.5.6 Phòng bệnh bằng vắc xin 65

3.5.7 Cơ chế chính sách 66

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 68

Kết luận 68

Đề nghị 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Các bệnh thường gặp ở gà tại Vĩnh Phúc từ 2011 - 6/2014 37

Bảng 3.2 Tình hình dịch bệnh Newcastle ở gà từ năm 2011 - 6/2014 38

Biểu 3.3 Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo giống 40

Bảng 3.4 Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo lứa tuổi 41

Bảng 3.5 Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo mùa vụ 43

Bảng 3.6 Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo quy mô và phương thức chăn nuôi 45

Bảng 3.7 Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo vùng sinh thái 46

Bảng 3.8 Triệu chứng lâm sàng của gà nghi mắc bệnh Newcastle 48

Bảng 3.9 Bệnh tích của gà nghi mắc bệnh Newcastle 50

Bảng 3.10 Hiệu giá kháng thể chống Newcastle của gà ở một số cơ sở chăn nuôi gà tại Vĩnh Phúc 52

Bảng 3.11 Kết quả phân lập virus trên phôi trứng 55

Bảng 3.12 Kết quả xác định tỷ lệ virus gây ngưng kết hồng cầu của các mẫu xét nghiệm 57

Bảng 3.13 Kết quả gám định virus Newcastle bằng phản ứng HI 58

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo giống 40 Hình 3.2 Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo lứa tuổi 41 Hình 3.3 Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo mùa vụ 43 Hình 3.4 Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo qui mô và phương thức

chăn nuôi 45 Hình 3.5 Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo vùng sinh thái 47

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ARN : Acid Ribonucleic

ATTP : An toàn thực phẩm

Bộ NN và PTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

GMT : Geometric Mean Titer

HA : Hemagglutination test

HI : Hemagglutination Inhibiion test

HN : Hemagglutination – Neuraminidase

MTD : Mean Death Time

EID50 : 50 prcent Embryo infective dose

CPI : Intravenous pathogenicyti index in day – old chicks IVPI : Intravenous pathogenicyti index in 6 week old chicks ELD50 : 50 prcent Embryo lethaldose

LD50 : 50 prcent lethal dose

Trang 11

MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây chăn nuôi gia cầm chiếm một vị trí quan trọng, chu kỳ sản xuất ngắn, tạo ra sản phẩm thực phẩm giàu dinh dưỡng phù hợp với xu thế tiêu dùng hiện nay…chăn nuôi gia cầm là nghề truyền thống ở Việt Nam, sản phẩm gia cầm, đặc biệt là thịt gà, trứng gà không chỉ

là nguồn cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao hàng ngày cho người dân mà còn in đậm trong đời sống xã hội bởi một nền văn hóa ẩm thực với cả yếu tố tâm linh, nó được sử dụng nhiều trong những ngày giỗ, ngày tết và lễ hội Với những lý do đó sản phẩm gia cầm luôn có vị trí trên thị trường tiêu thụ, đã góp phần thúc đẩy chăn nuôi phát triển, tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho người dân

Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng có tổng diện tích đất tự nhiên 123,86 ngàn ha Trong đó đất sản xuất nông nghiệp 49,69 ngàn ha, đất lâm nghiệp 32,43 ngàn ha, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng 41,74 ngàn ha Điều kiện tự nhiên của Vĩnh Phúc không những thuận lợi cho việc phát triển trồng trọt mà còn có thế mạnh để phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm Với lợi thế về kinh tế, vị trí địa lí, đất đai, khí hậu và con người, bên cạnh đó có nhiều Công ty lớn về sản xuất con giống và thức ăn chăn nuôi (Xí nghiệp gà giống Tam Đảo, Công ty Japfa Confeed Việt Nam ) đóng trên địa bàn tỉnh đã tạo điều kiện thúc đẩy ngành chăn nuôi gia cầm phát triển khá mạnh tại Vĩnh Phúc Tính đến thời điểm ngày 01/4/2014 Tổng đàn gia cầm: 8.823,3 ngàn con, trong đó gà các loại: 7.856 ngàn con, số gà nuôi

đẻ trứng trên: 2,4 triệu con Trên địa bàn Vĩnh Phúc hiện có trên 1.661 trang trại chăn nuôi gà với quy mô từ vài ngàn con đến vài chục ngàn con, tập trung chủ yếu ở các huyện Tam Dương, Tam Đảo, Yên Lạc, Bình Xuyên Tuy nhiên, một trong những nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của chăn nuôi gia cầm là vấn

Trang 12

đề dịch bệnh, một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như Cúm gia cầm, Newcastle, Gumboro, Marek, Tụ huyết trùng vẫn còn tiềm ẩn, gây bệnh làm thiệt hại không nhỏ cho người chăn nuôi

Hiện nay ngoài Cúm gia cầm ra thì một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác của gà Trong đó bệnh Newcastle là một bệnh thường xuyên xảy

ra, bệnh lây lan nhanh và làm chết hàng loạt gà ở mọi lứa tuổi Bệnh được phát hiện vào những năm 20 của thế kỷ XX, nhưng cho đến nay bệnh vẫn còn là mối đe dọa nguy hiểm cho ngành chăn nuôi gia cầm trên Thế Giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng Những ổ dịch ở địa phương thường xuyên xảy ra, gây tác hại và tổn thất vô cùng nghiêm trọng cho nền kinh tế Nông nghiệp nước ta

Mặc dù đã có rất nhiều biện pháp được đề ra nhằm ngăn chặn, khống chế bệnh nhưng bệnh vẫn xảy ra và gây tổn thất kinh tế lớn Cho đến nay tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về bệnh Newcastle ở gà nói chung và đặc biệt

là việc đánh giá được các đặc điểm dịch tễ và nắm được tần suất lưu hành của virus Newcastle còn rất ít Xuất phát từ tình hình thực tế trên, với mục đích đưa ra các biện pháp thích hợp cho việc quản lý, giám sát tình hình dịch bệnh, đảm bảo cho ngành chăn nuôi gia cầm của tỉnh phát triển bền vững, ổn định; hạn chế tối đa thiệt hại do bệnh xảy ra; chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Đặc điểm dịch tễ và sự lưu hành của vi rus Newcastle ở gà tại một số cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc”

Mục đích của đề tài

Cung cấp, hoàn thiện thêm các thông tin dịch tễ học về bệnh Newcastle

ở gà và đánh giá sự sự lưu hành của vi rus Newcastle trên địa bàn tỉnh

Từ kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các nhà quản lý đưa ra các biện pháp phòng, chống bệnh có hiệu quả, góp phần khống chế bệnh Newcastle ở gà trên địa bàn tỉnh

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quát về bệnh Newcastle

1.1.1 Giới thiệu chung về bệnh Newcastle

Bệnh Newcastle hay còn gọi là bệnh gà rù là một bệnh truyền nhiễm cấp tính lây lan rất nhanh của loài gà, do một loại virus thuộc nhóm paramixo gây ra Bệnh gây xáo trộn và hư hại trên đường tiêu hóa, hô hấp, thần kinh Bệnh là mối nguy hiểm thường trực cho ngành chăn nuôi gia cầm Bệnh gây chết với tỉ lệ cao 80 – 90% và nếu có nhiễm ghép với các bệnh khác thì tỉ lệ chết có thể lên đến 100%

1.1.2 Lịch sử bệnh Newcastle

1.1.2.1 Trên thế giới

Bệnh Newcastle được cho rằng xảy ra vụ dịch đầu tiên vào năm 1926 ở quần đảo Java (Indonesia) và ở Newcastle-upon-tyne (Anh) Tuy nhiên đã có nhiều báo cáo cho thấy bệnh tương tự đã xảy ra ở Trung Âu từ trước năm 1926; theo trích dẫn của Levine (1964), Ochi và Hashimoto đã phát hiện được bệnh ở Hàn Quốc vào năm 1924; Macpherson (1956) lại cho rằng nguyên nhân gây chết của gà tại các hòn đảo phía Tây Scotland vào năm 1896 là do bệnh Newcastle Căn bệnh này sau đó được phát hiện ở Hoa Kỳ vào năm 1944 Ngày nay thì căn bệnh Newcastle đã có ảnh hưởng và lây lan ra toàn cầu, vùng bị nặng nhất là Đông Nam Á (có Việt Nam trong này) và các nước vùng Trung

Mỹ Tỉ lệ tử vong cao từ 95 đến 100% cho gia cầm bị căn bệnh này

Năm 1927, Doyle đã phân lập được mầm bệnh trong ổ dịch của gà tại Newcastle (Anh) và chứng minh virus phân lập có tính kháng nguyên khác với bệnh Cúm gà

Bệnh dịch ở Anh xảy ra theo tài liệu ghi chép có liên quan tới một con tàu vận chuyển thịt đông lạnh mang theo gà nuôi từ châu Á đến cảng Newcastle (Alexander, 1988)

Trang 14

Bệnh Newcastle xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới, lưu hành ở châu Á, châu Phi với những biểu hiện lâm sàng không giống nhau đã dẫn đến sự nhầm lẫn trong việc phát hiện bệnh

1.1.2.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam bệnh đã xó từ lâu và lan truyền từ Bắc tới Nam Năm 1949 Jacotot đã chứng minh bệnh Newcastle ở Việt Nam bằng chẩn đoán thí nghiệm, năm 1956 Nguyễn Lương và Trần Quang Nhiên đã khẳng định lại sự

có mặt của bệnh ở các tỉnh miêng Bắc nước ta

1.2 Tình hình nghiên cứu dịch bệnh Newcastle trong nước và trên thế giới

1.2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh Newcastle trên thế giới

Bệnh Newcastle là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của gia cầm Để hạn chế thiệt hại của bệnh, với trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng tiên tiến,

đã có nhiều công trình nghiên cứu bệnh một cách đầy đủ và toàn diện

Năm 1927, Doyle đã phân lập được mần bệnh trong ổ dịch của gà tại Newcastle (Anh)

Ở Đài Loan trong 16 năm (từ 1970 – 1985) có 396 ổ dịch Newcastle trong đó 93% là ở gà, còn lại là ở gà lôi, bồ câu, gà tây, ngỗng và chim cút 82% gà mắc bệnh dưới hai tháng tuổi, virus gây bệnh thuộc nhóm Velogen hướng nội tạng và thần kinh

Tại Newzealand, Tisdal D.J (1988) phát hiện được kháng thể ngăn cản sự ngưng kết đối với virus Newcastle ở gà, gà lôi và công Các loài này không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng nhưng phân lập được virus Newcastle thuộc nhóm Lentogen

Theo báo cáo của Lukarev T (1987) năm 1985 – 1986 tại Macedonia, bệnh Newcastle xảy ra ở một trại gà 7 tuần tuổi, gà được miễn dịch bằng phương pháp khí dung lúc 17 ngày tuổi Bệnh ở 8 gian chuồng, mỗi gian chứa khoảng 9000 gà với tỉ lệ chết từ 75 – 96%

Trang 15

Năm 1989, ở Nigeria (Okoye và cộng sự, 1989) xảy ra ở ổ dịch Newcastle không điển hình, gà không có triệu chứng thần kinh, không xuất huyết dạ dày tuyến, chỉ có các dấu hiệu ủ rũ, ỉa phân xanh, tỉ lệ chết từ 50 – 83,6%; mổ khám thấy dịch thẩm xuất ở ống khí quản, lách teo, màng treo xuất huyết có dấu hiệu hoại tử, các tế bào lympho giảm; đã phân lập được virus Newcastle từ bệnh phẩm

Biswal G và Morrill C.C (1954), nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh Newcastle đến khả năng sinh sản của gà bằng chủng 11914 Califonia gây nhiễm vào xoang mũi gà mái tơ, thấy sản lượng trứng bị giảm từ 2 – 3 tuần, thời gian ảnh hưởng kéo dài đến 56 ngày, 27% gà bị nhiễm có thoái hóa những nang trứng, biểu hiện bề ngoài nang gồ ghề, nang trứng bị xung huyết, xuất huyết, trứng không bọc vỏ hoặc vỏ mềm, đôi khi xuất hiện lòng đỏ trong xoang bụng, ống dẫn trứng bị co lại, đôi khi bị phù nề ở ngày thứ 5- 7 kể từ sau khi nhiễm, thiếu dịch nhày và độ bóng sáng

1.2.2 Tình hình nghiên cứu bệnh Newcastle ở Việt Nam

Bệnh Newcastle được Phạm Văn Huyến đề cập lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1933 và gọi là bệnh dịch tả gà Đông Dương

Năm 1938, một vụ dịch gà ở Nam Bộ được Vitor mô tả có triệu chứng giống bệnh Newcastle

Năm 1949 tại Nha Trang, Jacotttot và Lelouet đã phân lập được virus Newcastle, sau dùng chủng này gây bệnh cho gà và tiêm truyền trên phôi trứng, bằng phản ứng ngưng kết hồng cầu và ức chế ngưng kết hồng cầu, tác giả đã xác định sự có mặt của virus Newcastle tại ổ dịch

Năm 1956, ở Sài Gòn, Notter và N.B.Lương đã phân lập được chủng virus Newcastle Từ năm 1955 – 1957 qua điều tra tình hình dịch bệnh ở 20 tỉnh thành, kiểm tra 189 bệnh phẩm các tác giả thấy có 58 mẫu có virus Newcastle

Trong đầu thập niên 70, chăn nuôi gà công nghiệp bắt đầu phát triển, một

số cơ sở chăn nuôi gà đã xảy ra các vụ dịch lớn về Newcastle Nguyễn Bá Huê

Trang 16

và cộng sự (1980), phân lập được 4 chủng virus Newcastle cường độc từ gà của các xí nghệp Cầu Diễn, Thành Tô, An Khánh, Đông Anh là các chủng CD, HP,

AK và ĐA Qua khảo sát trên gà và trên phôi trứng, tác giả nhận xét cả 4 chủng virus đều có độc lực mạnh, với giá trị ELD50= 8 - 8,2; LD50 = 7,2 – 7,6

Nguyễn Thu Hồng (1993) dùng vacxin Lasota và hệ 1 cho gà thấy có thể chống được các chủng virus nói trên Nếu uống vacxin Lasota để phòng bệnh Newcastle với liều 103 Từ 3 – 4 ml/con lúc gà 1 tuần tuổi thì đến hai tháng rưỡi còn khả năng bảo hộ là 63%, nếu uống lúc 2 tuần rưỡi tuổi thì đến 2 tháng rưỡi vẫn còn bảo hộ được 100%

Năm 1996, Phan Lục và cộng sự , đã theo dõi 6 cơ sở nuôi gà ở các tỉnh phía Bắc, từ năm 1980 – 1991 Các cơ sở đều đạt tiêu chuẩn vệ sinh thú y, quy cách chăn nuôi, nhưng đã xảy ra 5 vụ dịch Newcastle Trong số các vụ dịch này, có 4 vụ ở gà nhỏ, 1 vụ ở gà trưởng thành, dịch xảy ra vào các vụ đông xuân (từ tháng 10 – tháng 3 năm sau) Do đó, tác giả đã đề xuất lịch sử dụng vacxin thích hợp là: 7 ngày, 21 – 28 ngày, 50 – 58 ngày và 133- 140 ngày; Vacxin sử dụng là Lasota và hệ I, bằng phương pháp nhỏ mũi và tiêm dưới da tùy từng loại vacxin

Trong thí nghiệm so sánh hiệu quả dùng vacxin Lasota bằng phun sương, cho uống và nhỏ mũi; tác giả nhận thấy, phương pháp phun sương có hiệu quả hơn nhỏ và uống, sức miễn dịch chống virus cường độc Newcastle thu được do phương pháp phun sương và nhỏ mũi cao hơn phương pháp uống

Phạm Xuân Tý và CS (2000) đã nghiên cứu sản xuất chế phẩm sinh học phòng, trị bệnh Gumboro và Newcastle cho gà, trong đó: Hiệu giá kháng thể kháng Gumboro (ELISA) trung bình 1/11.755,1 ± 965,12, hiệu giá kháng thể kháng Newcastle (HI) trung bình 10,37log2 ± 0,69 Chế phẩm đã được đưa vào sử dụng trong sản xuất, bước đầu cho kết quả tốt

Nguyễn Huy Phương (2001), nghiên cứu lịch sử dụng vacxin cho đàn gà thịt đã khuyến cáo người chăn nuôi nên sử dụng vacxin 3 lần vào các ngày 7,

21 và 35 ngày tuổi

Trang 17

Trương Quang và CS (2005) cho biết những năm gần đây bệnh Newcastle xảy ra ở các đàn gà nuôi tập trung trong các hộ gia đình thường ở thể không điển hình Các nguyên nhân dẫn đến tình trạng bệnh trên là do: Lịch sử dụng vacxin không thích hợp

Một tỷ lệ nhất định (7,59 – 13,15%) gà sau khi uống vacxin có hàm lượng kháng thể thấp (< 3log2)

Con giống không rõ nguồn gốc

Đồng thời tác giả khuyến cáo những đàn gà nuôi trên ba tháng tuổi nên cho uống vacxin Lasota 3 lần lúc gà 7, 21 và 35 ngày tuổi sẽ an toàn bệnh Newcastle Nguyễn Hồng Minh ( 2012) đã nghiên cứu, sản xuất và thử nghiệm vacxin nhược độc đông khô đa giá phòng ba bệnh Newcastle, Gumboro và Viêm phế quản truyền nhiễm ở gà Kết quả cho biết gà sau khi tiêm vacxin vào lúc 7 và 14 ngày tuổi đều có hiệu giá kháng thể đạt tiêu chuẩn bảo hộ cả

ba bệnh theo tiêu chuẩn ngành và khuyến cáo của OIE, 2008

Kết quả nghiên cứu bệnh Newcastle, vacxin và sử dụng vacxin của các tác giả trong nước và trên thế giới đã góp phần to lớn để ngăn chặn và hạn chế thiệt hại về kinh tế của bệnh Newcastle

1.3 Đặc tính sinh học của virus Newcastle

1.3.1 Hình thái và phân loại

1.3.1.1 Hình thái, cấu trúc

Trang 18

Virus Newcastle thuộc họ Paramyxoviridae, phân nhóm PMV-1

(Alexander, 1982) [28] là một ARN virus sợi đơn, có cấu tạo xoắn Virus thường đa hình thái: hình tròn, hình trụ, hình sợi… Virus có vỏ bọc lipid bên ngoài Kích thước virion của virus từ 120 – 130nm, trung bình khoảng 180nm Virus có cấu trúc nucleocapsid dạng xoắn ốc, đường kính 17-18nm Vỏ bọc được phủ các gai (glycoprotein HN-F) dài 8 - 12nm

Hệ gen của virus Newcastle là chuỗi ARN có thể truyền thông tin ARN và mật mã di truyền các protein của virus Virus có trọng lượng phân

tử ARN nặng 5,2 – 5,7x106 dalton xấp xỉ 15 kilobaes (Kb) Mật mã di truyền của ARN virus chứa 6 gen mã hóa các thông tin di truyền tổng hợp các protein cấu trúc sau:

Hemagglutinin – Neuraminidase (HN): chiếm số lượng lớn trong tổng

số protein của virus Loại protein này có chức năng ngưng kết hồng cầu và

có hoạt tính của men Neuraminidase, tạo thành hai chỗ nhô ra lớn ở trên bề mặt hạt virus

Fusion protein (F): là phần nhô ra nhỏ hơn trên bề mặt hạt virus, có vai trò liên hợp các tế bào bị nhiễm virus Newcastle lại với nhau, hình thành tế bào khổng lồ đa nhân

Nucleocapsid protein (NP): giống như Histin là một protein bảo vệ ARN Gốc phosphoryl hóa (P): liên kết với nucleocapsid

Matrix protein (M): có tác dụng gắn ARN của virus với vỏ bọc

Large protein (L): là một ARN polymerase liên kết với nucleocapsid Những đơn vị cấu trúc của protein sắp xếp quanh một trục, ở giữa rỗng theo hình xoắn ốc, bên trong là axit nucleic quyết định hình dạng của virus

Vỏ ngoài của virus là lipid nên virion rất mẫn cảm với các chất hòa tan mỡ như ete, cồn, clorofor, merthiolate

Virus có thể qua được các màng lọc Berkerfeld, Chamberland và màng lọc Seitz

Trang 19

Phân loại

Họ Paramyxoviridae chia thành hai subfamily (dưới họ):

Subfamily Paramyxovirinae có 3 giống (chi):

Giống Rubulavirus bao gồm virus gây bệnh quai bị, parainfluenza 2 và 4

gây bệnh ở động vật có vú, virus gây bệnh Newcastle và các Avian Paramyxovirus (paramyxovirus gây bệnh ở gia cầm)

Giống Respirovirus gồm parainfluenza 1 và 3 gây bệnh ở động vật có vú Giống Morbillivirus gồm virus gây bệnh sởi, dịch tả trâu, bò và bệnh Care ở chó Giống thứ 4 gọi là Megamyxovirus gồm Nipah và Hendra virus cũng được

đề nghị xếp vào subfamily này Tuy nhiên, kết quả giải trình tự toàn bộ gen của virus Newcastle cho thấy paramyxovirus gây bệnh gia cầm hoàn toàn khác với các rubulavirus khác, đủ bằng chứng để xếp chúng vào một giống (chi) khác trong subfamily này

Có 9 serogroup đã được xác định trong các Avian Paramyxovirus từ APMV-1 đến APMV-9; trong đó virus Newcastle (APMV-1) là virus quan trọng nhất Ngoài ra các APMV-2, APMV-3, APMV-6, APMV-7 cũng có khả năng gây bệnh cho gà

- Subfamily Pneumorivinae gồm 2 giống: giống Pneumovirus gồm các virus gây viêm phổi ở động vật có vú và giống Metapneumovirus gồm các

virus gây viêm phổi ở gia cầm (vì vậy người ta có ý định gọi giống này là avian pneumovirus)

Virus Newcastle có nhiều chủng, các chủng này có độc lực khác nhau Căn

cứ vào tính độc và khả năng gây bệnh người ta chia làm 3 nhóm:

Nhóm Velogen: gồm các chủng có độc lực cao, đó chính là các chủng virus cường độc tự nhiên Thời gian gây chết phôi < 60h

Nhóm Mesogen: gồm các chủng có độc lực vừa, là những virus chỉ gây bệnh nhẹ cho gà trên 6 tuần tuổi như chủng H (Herfoshire), chủng M

Trang 20

(Mukteswar), hai chủng này khi tiêm cho phôi gà 10 – 11 ngày, làm chết phôi thai và xuất huyết toàn phôi thai Thời gian gây chết phôi từ 60 – 90h

Nhóm Lentogen: là các chủng có độc lực thấp gồm những virus không có khả năng gây bệnh hoặc chỉ gây bệnh nhẹ cho gà con mới nở như chủng B1, chủng Lasota, chủng F thời gian gây chết phôi > 90h

Để đánh giá độc lực của các chủng virus Newcastle, người ta căn cứ vào các chỉ số sau đây:

MTD (Mean Death Time – hr): thời gian gây chết phôi trung bình phôi gà với liều gây chết nhỏ nhất của virus

EID 50 (Embryo infective Dose): liều gây nhiễm cho 50% phôi gà

ICPI (Intracerebral pathogenicity index in day-old chicks): chỉ số gây chết khi tiêm vào não gà con 1 ngày tuổi

IVPI (intravenous pathogenicity index in 6 week old chickens): chỉ số gây chết khi tiêm vào tĩnh mạch gà 6 tuần tuổi

Các chủng virus Newcastle có ICPI ≥ 1,6 và IVPI có giá trị gần bằng 3 thì được xếp vào nhóm Velogen

1.3.2 Khả năng ngưng kết hồng cầu

Burner (1942) là người đầu tiên phát hiện ra đặc tính ngưng kết hồng cầu của virus Newcastle và kháng thể ức chế hiện tượng này

Virus Newcastle có khả năng làm ngưng kết hồng cầu của một số loài như hồng cầu gà, người, chuột bạch, chuột lang Không làm ngưng kết hồng cầu ngựa đây là đặc tính dễ phân biệt với virus dịch tả gà

Virus Newcastle có nhiều chủng, các chủng này có độc lực khác nhau Các chủng khác nhau thì có khả năng gây ngưng kết hồng cầu ở mức độ khác nhau, một đơn vị ngưng kết được xác định là độ pha loãng virus lớn nhất của hỗn dịch virus mà tại đó vẫn gây hiện tượng ngưng kết hồng cầu

Trang 21

Chỉ một vài chủng virus làm ngưng kết hồng cầu bò, dê, cừu, lợn Hồng cầu loài lưỡng thê, bò sát và loài chim bị ngưng kết với virus Newcastle ở các mức độ khác nhau

Phản ứng ngưng kết hồng cầu và hiệu giá HA của virus Newcastle dựa vào tính bán dính của protein HN với thụ thể có trên bề mặt hồng cầu Tuy nhiên với HN riêng rẽ thì phản ứng ngưng kết hồng cầu không thể xảy ra mà các HN phải được tập hợp với nhau trên một tiểu thể virus Có nghĩa là tiểu thể virus mới là chiếc cầu nối các hồng cầu với nhau và tạo thành mảng ngưng kết Điều đó có nghĩa là: hiệu số ngưng kết là con số phản ánh số lượng hạt virus (Virion) (Nguyễn Tiến Dũng và cộng sự, 1993)

Hiện tượng ngưng kết hồng cầu là do hồng cầu liên kết với điểm quyết định kháng nguyên trên bề mặt của virus Quá trình ngưng kết xảy ra qua hai giai đoạn:

Virus tìm điểm thụ cảm trên bề mặt của hồng cầu Haemagglutinin làm ngưng kết hồng cầu

Hoạt tính men Neuraminidaza: men Neuraminidaza hoạt động được giải phóng ra từ bề mặt của tế bào virus, phá hủy thụ thể và tách virus ra khỏi ngưng kết của hồng cầu Tùy từng chủng virus mà tốc độ phá hủy liên kết khác nhau, có thể từ 30 phút đến 24 giờ (Hanson, 1980)

Theo Tolba và Eskarous (1962), hoạt tính ngưng kết hồng cầu tùy theo từng chủng virus, không nhất thiết bị vô hoạt cùng thời gian với hoạt tính gây nhiễm Một vài chủng virus khi xử lý ở nhiệt độ 56oC trong 5 phút, hoạt tính ngưng kết hồng cầu bị phá hủy nhưng vẫn còn khả năng gây nhiễm phôi hoặc vật chủ khác Một số chủng được xử lý ở 56oC với thời gian 25 phút vẫn còn khả năng gây nhiễm và gây ngưng kết hồng cầu (Hanson and Spalatin, 1978) Đặc tính này dùng để phân biệt giữa các chủng virus Newcastle với nhau

và cũng là điểm khác nhau giữa virus Newcastle với virus Cúm

Trang 22

1.3.3 Dung giải hồng cầu

Virus Newcastle có khả năng dung giải hồng cầu ngưng kết với dung huyết tố Đặc tính này bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ, nồng độ muối của dung dịch hoặc khi làm đông tan, siêu âm, chiết rút sẽ làm hoạt tính tăng lên

1.3.4 Ức chế ngưng kết hồng cầu

Virus Newcastle bị trung hòa bởi huyết thanh dương tính Newcastle, khi

bị trung hòa virus không còn khả năng gây ngưng kết hồng cầu Bằng phản ứng HI sẽ phát hiện kháng thể làm ngăn trở ngưng kết hồng cầu gà Dựa vào đặc tính này sẽ phát hiện gián tiếp sự nhiễm virus Newcastle của đàn gà, xác định hiệu giá đáp ứng miễn dịch Newcastle với vacxin để phân biệt các chủng virus Newcastle Sự khác nhau giữa các chủng virus phụ thuộc vào nguồn gốc phát sinh bệnh

Phản ứng ngưng kết hồng cầu gà (HA) và phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu gà (HI) được sử dụng để phát hiệ kháng nguyên, kháng thể Newcastle, phản ứng có thể được thực hiện trong ống nghiệm hoặc đĩa ngưng kết 96 lỗ có đáy chữ U

1.3.5 Sự nhân lên của virus Newcastle trong tế bào

Virus là loại vi sinh vật ký sinh nội bào tuyệt đối Peeples (1988) đã nêu

rõ sự nhân lên của virus Newcastle trong tế bào: bước tấn công đầu tiên của virus là thụ thể của tế bào với sự giúp đỡ của protein HN Màng tế bào sẽ hấp thụ virus nhờ hoạt động của protein F, sau đó toàn bộ Nucleocapxit xâm nhập vào trong tế bào Virus thực hiện quá trình nhân lên tại nguyên sinh chất Tại đây sẽ diễn ra quá trình tổng hợp ARN và protein của virus

Virus nhân lên trong tế bào chất đạt mức tối đa lúc 5-6 giờ, trong 3-4 giờ đầu có thể phát hiện được kháng nguyên đặc hiệu bằng phản ứng kết hợp

bổ thể hay miễn dịch huỳnh quang Đầu tiên là kháng nguyên NP ở trong tế bào chất, gần nhân tế bào (Rott, 1964), rồi đến kháng nguyên HN ở khắp tế bào chất sau 4 giờ ở ngay bên trong màng tế bào đã xuất hiện cấu trúc giống

Trang 23

như virion thành thục (Wheelock, 1963) Sau khi nhiễm vào tế bào 4 giờ thì Virion bắt đầu xuất hiện và tiếp tục được giải phóng

Virus Newcastle có thể cấy truyền trên gà, phôi gà hoặc môi trường tế bào phôi gà 1 lớp Virus có thể gây nhiễm theo các caon đường khác nhau như: tiêm não, tiêm tĩnh mạch cho chuột (Bruner, 1942)

- Nuôi cấy trên phôi: tất cả các avian paramyxovirus đều nhân lên trên phôi gà Khi nuôi cấy virus Newcastle trên phôi gà 9-11 ngày tuổi bằng cách tiêm vào xoang niệu mô, khả năng và thời gian gây chết phôi của các chủng khác nhau là khác nhau Tùy theo độc lực của từng chủng virus mà phôi thai

có thể chết sau 48 – 96h Bệnh tích đặc trưng: phôi còi cọc, xuất huyết tổ chức liên kết dưới da vùng đầu, cổ, toàn thân, màng phôi thủy thũng sưng dày lên Phôi non thì khả năng gây nhiễm và thời gian chết phôi nhanh hơn, tỉ lễ chết phôi cũng cao hơn

Các chủng có độc lực cao thì thời gian gây chết phôi càng nhanh Khi cấy chuyển nhiều lần qua phôi gà, người ta thu được giống virus Newcastle nhược độc dùng để chế tạo vacxin phòng bệnh

Nuôi cấy trên môi trường tế bào: Virus Newcastle có khả năng nhân lên trên nhiều loại môi trường tế bào khác nhau như tế bào thận lợn, thận khỉ, tế bào sơ phôi gà một lớp Trên môi trường tế bào, Lancaster (1966) cho biết: có

18 tế bào có thể mẫn cảm với virus Newcastle Trên tế bào nuôi cấy, sau 24 giờ đến 72 giờ, virus làm hủy hoại tế bào, làm tế bào bị biến đổi hình thái, tế bào co tròn lại hoặc vỡ ra, hoặc tạo thành tế bào khổng lồ (Bankowski, 1964), (Nguyễn Như Thanh, 1997) Trên tế bào 1 lớp, virus hình thành plaque Plaque có 2 loại: trong và đỏ (Schloer and Hanson) Hình dạng, kích thước của plaque được sử dụng để nhận biết virus (Hanson, 1975) Người ta thấy những chủng virus Newcastle có độc lực yếu không hình thành plaque trong

tế bào, nếu môi trường tế bào không cho thêm DEAE (Diethy Amino Ethyl)

Trang 24

và Mg++ hoặc trypsin Reeve (1971) cho biết kích thước của plaque có liên quan đến độc lực của virus

Trên động vật trong phòng thí nghiệm, virus Newcastle có thể gây bệnh cho nhiều loài vật nhưng thường sử dụng gà để gây bệnh vì gà mắc bệnh tự nhiên

1.3.6 Gây hiện tượng cản nhiễm (Interference)

Sau khi cơ thể bị virus tấn công thì một số tế bào bị nhiễm virut, sinh ra

1 chất gọi là Cảm nhiễm tố (Interferon) có tác dụng bảo vệ các tế bào bên cạnh, ngăn cản quá trình nhân lên của virus Việc này được ứng dụng trong chống dịch, đối với những đàn gà đã nhận định nhiễm virus Newcastle cường độc, các bác sĩ thú y có chuyên môn sâu thường dùng vacxin nhược độc tiêm cho toàn bộ đàn gà sau khi đã chọn loại những con gà có triệu chứng điển hình (phương pháp "tiêm thẳng vacxin vào ổ dịch") Thực tiễn cho thấy việc ứng dụng này rất có hiệu quả trong công tác chống dịch

Virus Newcastle có khả năng cản trở sự nhân lên của virus khác hoặc ngược lại Cho nên, khi gà bị nhiễm virus Newcastle kết hợp với các loại virus khác, bệnh không biểu hiện rõ rệt (Hanson, 1972)

1.3.7 Khả năng chịu nhiệt

Khả năng chịu nhiệt của virus Newcastle được xác định bằng khả năng gây nhiễm và ngưng kết hồng cầu của virut (Hanson, 1949) Các chủng virus khác nhau, tính chịu nhiệt khác nhau (Hanson, 1978) Đây là một đặc tính để phân biệt chủng virus có độc lực với chủng virus không có độc lực

1.3.8 Sức đề kháng của virus Newcastle

Sức đề kháng của virus Newcastle được xác định bằng khả năng gây nhiễm của virus, tính ngưng kết hồng cầu, tính gây miễn dịch Các khả năng này bị phá hủy khi tiếp xúc trực tiếp với các yếu tố như nhiệt độ, ánh sáng, tia

tử ngoại, quá trình oxy hóa, độ PH của môi trường do virus có vỏ bọc ngoài

là Lipid nên rất mẫn cảm với các chất hóa học như ete, cồn, clorofor, formol

Trang 25

và phenol, làm mất khả năng gây nhiễm nhưng không làm ảnh hưởng tới khả năng sinh miễn dịch của virus

Virus bị tiêu diệt ở 60oC trong 30 phút, 100oC trong 1 phút, 4 - 20oC virus có thể tồn tại hàng tháng, ở nhiệt độ âm virus có thể tồn tại hàng năm

PH < 2 hoặc PH >10 làm virus mất khả năng gây nhiễm

Ánh sáng mặt trời có thể chiếu thẳng diệt virus trong 48 giờ nhưng ánh sáng của tháng 5 - 6 làm virus mất hoạt tính hoàn toàn trong 1 giờ

Với hóa chất như dung dịch NaOH 0,5% phá hủy sau 30 phút, lizon sau

20 phút… Khả năng chịu nhiệt của virus mang đặc tính di truyền cá biệt có chủng chịu nhiệt độ 56oC trong 6 giờ mà vẫn còn khả năng gây nhiễm, ứng dụng để chế vacxin chịu nhiệt chủng V4 phân lập từ Úc

Theo Lu Y.S (1986) từ năm 1970 – 1985 có 396 ổ dịch Newcastle ở Đài Loan trong đó 93% là ở gà, 82% gà mắc bệnh dưới 2 tháng tuổi, virus gây bệnh thuộc chủng Venlogen hướng nội tạng và thần kinh

Tại Newxealand, (Tisdal D.J., 1988) phát hiện được kháng thể ngăn trở ngưng kết hồng cầu đối với virus Newcastle ở gà, gà lôi và công Các loài này không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng nhưng vẫn phân lập được virus Newcastle thuộc nhóm Lentogen

Các nghiên cứu (Alexander, 1972; Estudillo, 1986) cho thấy, ở chim bồ câu thấy triệu chứng chủ yếu là thần kinh và ỉa chảy, ngoài ra còn triệu chứng

ở đường hô hấp, viêm mũi, viêm màng kết mạc mắt

Trang 26

Pearson J.E và CS (1987) báo cáo kết quả nghiên cứu chủng virus PMV-1 phân lập từ chim bồ câu có triệu chứng liệt, vẹo cổ, run rẩy, mất thăng bằng, và chết

Theo Kaleta và Baldauf (1988) cho biết có đến 241 loài của 27 trong số

50 bộ phim có thể mắc bệnh Newcastle

Theo Sharaway (1994) chim cút ít mẫn cảm với virus Newcastle hơn

gà, thời gian ủ bệnh trung bình từ 5-6 ngày Triệu chứng bệnh thay đổi tùy theo độc lực của chủng gây bệnh Nếu nhiễm virus có độc lực cao, chim cút

có biểu hiện ủ rũ, khó thở, bệnh kéo dài vài ngày rồi chết

Vịt, ngan, ngỗng cũng có thể bị bệnh nhưng không hoặc ít biểu hiện triệu chứng lâm sàng, mặc dù có thể mắc với chủng gây chết gà (một số vụ dịch Newcastle xảy ra ở vịt đã được Higgin mô tả chi tiết năm 1971)

Ngoài ra người và một số động vật có vú như chó, chuột…cũng có thể mắc bệnh Ở người thời gian nung bệnh từ 1-4 ngày với các triệu chứng lâm sàng biểu hiện ở mắt: một hoặc cả hai mắt đỏ, chảy nhiều nước mắt, mí mắt phù thũng, xuất huyết kết mạc mắt, đôi khi sốt và đau đầu

Suarez-Hernander M (1987) khảo sát huyết thanh học của virus Newcastle ở những công nhân chăn nuôi gà Kháng thể HI với virus bệnh Newcastle đã được tìm ra ở 73/277 (26,3%) người làm việc trực tiếp tại trại gà

và ở 110/230 (47,8%) người làm việc gián tiếp

Papacella V và CS (1987) theo dõi ảnh hưởng của bệnh đường hô hấp gia cầm đối với sức khỏe của con người thấy rằng : không chỉ bệnh cúm gà ảnh hưởng đến người mà bệnh Newcastle cũng có thể gây bệnh cho người, đầu tiên là ở mắt, sau đó có thể lan sang các tổ chức khác

Trang 27

bị tê liệt và chết sau 15-16 ngày Ngoài ra cũng có thể dùng chuột bạch để gây bệnh bằng cách tiêm vào óc hay phúc mạc sau 3-6 ngày chuột chết (Nguyễn Như Thanh và CS, 2001)

1.4.2 Chất chứa và bài xuất virus

Trong cơ thể gà bệnh, hầu hết các cơ quan phủ tạng đều chứa virus, thường 44 giờ sau khi nhiễm có thể tìm thấy virus ở thận, lách, túi Fabricius, đường hô hấp, tụy và não Máu chứ virus nhưng không thường xuyên

Virus được bài xuất qua phân, nước mắt, nước mũi Cơ thể bài xuất virus bắt đầu từ 20 – 24 giờ trước khi xuất hiện các triệu chứng lâm sàng và kéo dài suốt thời gian bị bệnh cho đến khi chết Gà lành bệnh trở thành động vật mang trùng và bài xuất virus ra môi trường xung quanh trong khoảng 2 tuần, có khi kéo dài đến 5 tuần (Lancaster, 1966)

1.4.3 Mùa vụ phát bệnh

Trước kia ở Việt Nam bệnh thường xảy ra vào vụ đông xuân nhưng hiện nay bệnh xảy ra quanh năm đặc biệt ở những trại chăn nuôi tập trung theo hướng công nghiệp

1.4.4 Đường xâm nhập và cách thức lây lan

Theo Alexander, 1988 virus có trong thức ăn, nước uống, phân theo đường tiêu hóa (miệng, hầu, thực quản) hoặc qua không khí theo đường hô hấp khi gia cầm hít thở sẽ xâm nhập vào cơ thể gây bệnh

Mức độ truyền lây phụ thuộc vào độc lực của virus, đường xâm nhập, liều lượng gây nhiễm và sức đề kháng của gia cầm

Việc lây truyền qua đường vận chuyển các sản phẩm của gia cầm như: thịt, xác chết, phân thải, thức ăn thừa hoặc tiếp xúc giữa các gia cầm nuôi với chim hoang dã

Gà có thể nhiễm bệnh khi uống nước có mầm bệnh Những nơi có nguồn nước công cộng là nơi dễ tiềm tàng mầm bệnh

Trang 28

Khả năng truyền dọc từ trứng nhiễm bệnh ở đường sinh dục mẹ chưa rõ ràng (Beard và Hanson, 1984) Gà mái nhiễm virus Newcastle chủng Lentogen

và có miễn dịch vẫn tiếp tục đẻ Phôi nhiễm bệnh trước khi nở thường bị chết, nhưng vẫn có thể nở khi không có độc lực (French và cộng sự, 1967)

Trên bề mặt trứng nhiễm virus Newcastle thì sau khi nở gà có thể mắc bệnh do virus từ phân bám vào vỏ trứng và sống trong thời gian ấp trúng Ngoại ký sinh trùng có thể làm lây lan virus Newcastle nhưng không quan trọng Muỗi cũng có thể truyền virus Newcastle

1.4.5 Độc lực của virus

Virus Newcastle được phân lập ở nhiều nước trên thế giới, chúng có mức độ độc lực và tính gây bệnh khác nhau Để thống nhất cách đánh giá các chủng virus phân lập, tổchức FAO (Allan, Lancaster và Toth, 1978), đã chuẩn

hoá cách đánh giá theo mức độ độc lực và phân virut thành 3 nhóm:

ICPI (Intracerebral Pathogenicity Index): Chỉ số gây bệnh khi tiêm não

gà con 1 ngày tuổi

IVPI (Intravenous Pathogenicity Index): Chỉ số gây bệnh khi tiêm tĩnh mạch gà 6 tuần tuổi

Trang 29

ở mức độ nặng nhẹ khác nhau, sau đều có biến đổi bệnh lý rõ và gây trở ngại hoạt động cơ năng của các cơ quan Rõ nhất là với hệ thần kinh, hệ võng mạc nội mô màng lưỡi, hệ tiêu hóa và hệ tuần hoàn máu

Những tổn thương bệnh lý ở hệ thần kinh làm rối loạn chức năng của hệ thống này và làm con vật suy nhược toàn thân, bỏ ăn, ủ rũ, tê liệt…, dẫn tới rối loạn cơ năng dinh dưỡng, cùng với rối loạn tuần hoàn làm các cơ quan thực thể bị tổn thương nặng

Ở hệ thống võng mạc nội mô, tổ chức lâm ba rối loạn, hoại tử, nên trở ngại nghiêm trọng đến cơ quan tạo máu và cơ năng phòng ngự thích ứng, làm giảm khả năng đáp ứng miễn dịch…dẫn đến làm giảm sức đề kháng của cơ thể Đối với hệ thống máu thì virus tấn công vào thành mạch máu, làm tổn thương thành mạch dẫn tới rối loạn tuần hoàn toàn thân Thấy rõ hiện tượng xung huyết tụ máu, xuất huyết, phù dẫn tới hậu quả nghiêm trọng là mất máu, mất nước, nhiễm độc máu, gây nên hàng loạt những rối loạn chuyển hóa, rối loạn dinh dưỡng trong cơ thể gia cầm Điều này thấy rõ nhất ở các cơ quan, bộ phận bị hoại tử

Trang 30

1.5 Triệu chứng, bệnh tích của bệnh Newcastle

1.5.1 Triệu chứng

Thời gian nung bệnh dao động từ 2 – 15 ngày (trung bình từ 5 – 6 ngày) sau khi nhiễm bệnh tự nhiên Thời gian nung bệnh dài hay ngắn phụ thuộc vào chủng virus, lứa tuổi và sức đề kháng của cơ thể; ngoài ra còn phụ thuộc vào hiện tượng nhiễm trùng kế phát, điều kiện môi trường, đường xâm nhập, số lượng virus xâm nhập

Bệnh thường tiến triển theo ba thể chính: thể quá cấp, thể cấp tính và thể mạn tính

1 Thể quá cấp tính: chỉ xuất hiện ở đầu ổ dịch, bệnh tiến triển rất nhanh, con vật ủ rũ cao độ sau vài giờ thì chết

2 Thể cấp tính: đây là bệnh phổ biến

Trong đàn xuất hiện một số con ủ rũ, kém hoạt động, bỏ ăn, lông xù lên, cánh xõa ra như khoác áo tơi Gà con chậm chạp đứng chụm lại thành đám, gà lớn thích đứng một mình, con trống thôi gáy, con mái ngừng đẻ Nền chuồng thấy nhiều bãi phân trắng như cứt cò Gà sốt cao 42,5 – 43oC Gà khó thở, chảy nước mũi màu đỏ nhạt hay trắng xám hơi nhớt, gà bệnh hắt hơi vẩy mỏ liên tục thường kêu thành tiếng “toác toác” Nếu kiểm tra có thể thấy màng giả fibrin màu sẫm ở niêm mạc miệng, hầu và họng

Gà bị rối loạn tiêu hóa trầm trọng: Bỏ ăn, uống nước nhiều, khi cầm chân dốc ngược lên mồm sẽ chảy ra một nước nhớt mùi chua khắm Bệnh kéo dài vài ngày thì sinh ỉa chảy màu trắng xám, lông đuôi dính bết phân, niêm mạc hậu môn xuất huyết có những tia máu đỏ Mào yếm tím bầm trong thời kì khó thở sau đó mào tái nhợt do mất máu Gà chết sau vài ba ngày và tỉ lệ chết có thể lên đến 100%

3 Thể mạn tính: Thường ở cuối ổ dịch với biểu hiện bệnh là rối loạn thần kinh trung ương Cơ năng chuyển động bất thường do tổn thương tiểu não như: vặn đầu ra sau, đang đi bỗng dừng lại, đi giật lùi, đi vòng tròn, mổ không trúng thức ăn, bị kích thích bới tiếng động thì ngã lăn ra đất… Gà đẻ tỉ

Trang 31

lệ đẻ giảm, bệnh kéo dài vài tuần, gà chết do đói hoặc kiệt sức, những con lành bệnh được miễn dịch suốt đời

Xác chết gầy, mào yếm tím bầm

Mắt: Gia cầm bị bệnh nặng, mắt thường viêm thể cùi nhãn, kết mạc mắt dày, đục lồi như cùi nhãn rất rõ

Bệnh tích điển hình thường tập trung ở đường tiêu hóa

Miệng: Trong miệng, màng khẩu cái, hầu, thực quản, diều đầu tiên là viêm cata có nhiều dịch nhờn, về sau chuyển sang viêm tơ huyết thể màng giả, và trên niêm mạc có những nốt loét bằng hạt đỗ, thưa thớt hoặc tụ thành đám, trên mặt vết loét có phủ màng mỏng màu vàng xám, cạo bỏ màng đi để lộ vết loét chảy máu Cùng với đường tiêu hóa trên, đường hô hấp trên do viêm cata nhầy, niêm mạc đường hô hấp và tiêu hóa trên phủ một lớp niêm mạc dịch nhầy đặc dính, trong suốt làm con vật khó thở

Diều : Chứa đầy thức ăn lỏng, chua và hôi, niêm mạc diều trắng bợt

Dạ dày tuyến: Có viêm cata xuất huyết rõ, có khi có cả viêm mủ Thường xuất hiện ở lớp gai giáp dạ dày cơ, nhiều khi xuất huyết sâu do chảy máu từ trong cổ tuyến, có thể thấy cả cục máu lớn đọng lại Tỷ lệ gà chết có xuất huyết dạ dày tuyến thường chiếm 60 - 85%

Dạ dày cơ: Niêm mạc khi boc lớp sừng đi sẽ thấy có những điểm, vệt hoặc

đã xuất huyết nhỏ, sau đó có thể thấy viêm thanh dịch tơ huyết

Ruột: Rõ nhất ở tá tràng, manh tràng và trực tràng là hiện tượng viêm cata

có xuất huyết Trên những nang kín lâm ba, mảng payer có những nốt loét, trên bề mặt có phủ một lớp dịch rỉ viêm đặc, mủ, đen sẫm

Trang 32

Riêng trực tràng: Nếu bệnh nhẹ có viêm cata, niêm mạc sưng xung huyết,

bề mặt có phủ niêm dịch Trường hợp bệnh nặng thường có xuất huyết điểm,

có khi có những vệt, đám hoại tử

Gan: Biến đổi không rõ ràng lắm, màu sắc thâm nhạt không đều, nếu bệnh nặng có hoại tử chấm nhỏ, có thể màu gan vàng úa do gan nhiễm mỡ, hoặc thoái hóa mỡ

Túi mật: Viêm cata, có khi có điểm hoại tử nhỏ, mật đặc dính

Tụy: Ít biến đổi, trường hợp bệnh nặng thì thấy nhưng nốt màu vàng trắng xám Lách: Nếu bệnh nhẹ thì lách sưng ít, một số trường hợp lách có thể sưng

to Nếu bệnh nặng, trên bề mặt lách thấy xuất hiện nốt, điểm trắng, nhỏ do lách bị hoại tử, nhưng lách không sưng

Thận: Viêm nặng, sung huyết

Tim: Mỡ vành tim đôi khi có sung huyết, xuất huyết, xoang tim giãn to, cơ tim thoái hóa hạt, tổ chức mỡ xung quanh có hiện tượng xuất huyết

Dịch hoàn và buồng trứng xuất huyết thành từng đám, nhiều trường hợp buồng trứng dính chặt với ống dẫn trứng, trứng non bị vỡ lòng đỏ chứa đầy xoang bụng

Hệ thần kinh: Bệnh tích ở hệ thần kinh trung ương đặc biệt là tiểu não, viêm não và cột sống không có mủ, có nốt hoại tử ở dây thần kinh đệm

Gà bệnh biểu hiện các triệu chứng điển hình của nhiễm trùng huyết: ủ rũ,

xù long, xã cánh như khoác áo tơi Gà khó thở, hay hắt hơi, vảy mỏ kêu thành tiếng “toác toác” Vật rối loạn tiêu hóa trầm trọng, kém ăn, thức ăn ở diều

Trang 33

không tiêu, khi dốc ngược gà thấy chảy ra chất nhờn mùi chua khắm, gà ỉa phân trắng như phân cò

Bệnh tích điển hình của bệnh là niêm mạc dạ dày tuyến xuất huyết to bằng đầu đinh ghim trùng với lỗ đổ ra của tuyến tiêu hóa Hoặc thành dải ở đầu và cuối cuống mề

1.6.2 Chẩn đoán phân biệt

Cần chẩn đoán phân biệt bệnh Newcastle với một số bệnh dễ nhầm lẫn: Bệnh thương hàn gà: lách thường sưng to hơn bình thường Ở gan, lách quan sát thấy nhiều ổ hoại tử màu trắng

Bệnh tụ huyết trùng: Con vật ở thể quá cấp có thể chết đột ngột không rõ triệu chứng, bệnh tích Ở giữa thời kỳ con vật có hiện tượng khó thở, miệng chảy ra dịch nhớt, phân có màu socola và bị viêm khớp Mổ khám thấy trên bề mặt gan có các điểm hoại tử to bằng đầu đinh ghim hoặc mũi kim màu trắng xám hoặc màu vàng nhạt Kiểm tra vi khuẩn học có thể dễ dàng xác định sự

có mặt của vi khuẩn Pasteurella trong bệnh phẩm

Bệnh cúm gia cầm: Gia cầm chết đột ngột, chết nhiều như bị ngộ độc Gà

có thể có triệu chứng cảm mạo như chảy nước mũi, dịch mũi nhầy màu xám, long xù, xơ xác, vùng da không có lông và da chân xung quanh xung huyết, thâm tím Sưng phù đầu, mào tích sưng phù, màu tím thẫm hơn gà bị Newcastle Mổ khám thấy gan, lách, tụy sưng to có những điểm hoại tử màu vàng hoặc màu xám Xuất huyết lớp mỡ vành tim, xuất huyết, hoại tử tuyến tụy, tuyến tụy có màu vàng, có các vệt màu sẫm Có thể sử dụng phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu (phản ứng HI) để chẩn đoán phân biệt

Bệnh đường hô hấp mạn tính ở gia cầm (CRD): biểu hiện các triệu chứng như khí quản có tiếng ran, chảy nước mũi và ho, mí mắt sưng phù chảy nước mắt, mắt có thể có hiện tượng xuất huyết Mổ khám thấy có hiện tượng có nhiều dịch chảy ra ở mũi, khí quản, phế quản, túi khí Viêm màng phổi, trong phổi có các vùng cứng đôi khi thành các u hạt, gan dính fibrin

Trang 34

hoặc lẫn mủ ngoài ra có thể thấy hiện tượng sưng khớp, viêm bao gân, viêm màng bao hoạt dịch

Bệnh viêm phế quản truyền nhiễm (IB): đặc điểm là khó thở, thở khò khè ngắt quãng, ho, hắt hơi, chảy nước mũi, chảy nước mắt, viêm hầu họng Gà mệt mỏi, thường đứng tụ lại dưới nguồn nhiệt Mổ khám thấy viêm niêm mạc mũi, viêm xoang, khí quản bị xung huyết, chứa dịch thẩm xuất có nhiều dịch

rỉ viêm Với gà đẻ trong xoang bụng có chứa dịch lòng đỏ

1.6.3 Chẩn đoán virus học

Lấy bệnh phẩm là phân, chất chứa đường tiêu hóa hoặc dịch ngoáy ổ nhớp, dịch ngoáy khí quản đối với gia cầm sống Lấy bệnh phẩm là não, gan, lách, phổi của gà bệnh mới chết Bệnh phẩm được nghiền với nước sinh lý thành huyễn dịch 1/10, xử lý kháng sinh (20% thể tích), để kháng sinh tác động ở nhiệt độ phòng trong vòng 1 - 2 giờ, ly tâm 1000 vòng/phút và lấy nước trong ở trên

Gây bệnh cho gà: yêu cầu gà khỏe mạnh không nằm trong vùng có dịch và chưa tiêm vacxin Tiêm 1ml vào dưới da hay bắp thịt Mỗi mẫu đem tiêm cho 2 -

3 gà Sau 2 - 3 ngày xuất hiện các dấu hiệu đầu tiên của bệnh Sau 7 - 10 ngày gà chết mổ khám thấy bệnh tích giống như của gà mắc bệnh ngoài tự nhiên

Gây bệnh cho phôi: dùng phôi gà 9 - 11 ngày tuổi của gà không có kháng thể Newcastle Mỗi mẫu tiêm 0,2 ml/phôi/5 phôi, tiêm vào xoang niệu mô Phôi chết sau 4 - 7 ngày, để lạnh ở 4oC rồi thu hoạch lấy nước trứng, kiểm tra bằng phản ứng ngưng kết hồng cầu (Hemagglutinin test – HA), nếu bệnh phẩm có virus, phản ứng HA dương tính Kiểm tra bệnh tích của phôi

Gây nhiễm cho môi trường tế bào: có thể sử dụng nhiều loại môi trường

tế bào nhưng thường sử dụng môi trường tế bào xơ phôi gà 1 lớp Nếu bệnh

phẩm có virus, sau 72 giờ gây nhiễm, virus gây bệnh tích tế bào

Trang 35

1.6.4 Chẩn đoán huyết thanh học

Có thể sử dụng nhiều phản ứng khác nhau: phản ứng kết tủa khuếch tán trong thạch, ELISA, phản ứng trung hòa, kỹ thuật RT- PCR…để phát hiện bệnh Newcastle, nhưng phổ biến nhất là dùng phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu (HI) để phát hiện kháng thể có trong huyết thanh Để làm phản ứng

HI trước hết ta phải làm phản ứng HA (phản ứng ngưng kết hồng cầu)

1.7 Biện pháp can thiệp và phòng bệnh Newcastle

1.7.1 Biện pháp can thiệp

Bệnh Newcastle là bệnh do virus nên không có thuốc điều trị đặc hiệu Có thể dùng kháng huyết thanh để điều trị kết hợp với dùng thuốc trợ sức, trợ lực, đảm bảo cân bằng chất điện giải, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể

Biện pháp dùng vacxin can thiệp trực tiếp vào ổ dịch cũng cho kết quả tốt, giúp bảo vệ những con chưa bị bệnh và nhanh chóng dập tắt ổ dịch

Theo Quyết định số 05/2011/TT – Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tại điều 11 khoản 4 trong thong tư hướng dẫn các biện pháp phòng chống bệnh Newcastle ở gia cầm quy định:

Tiêu hủy gà mắc bệnh, nghi mắc bệnh

Tiêm phòng gà khỏe mạnh trong ổ dịch và khu vực xung quanh

Vệ sinh, phun hóa chất khử trùng, tuần 2 lần

1.7.2 Phòng bệnh Newcastle

Phòng bệnh bằng vệ sinh:

Nguyên tắc chung là ngăn chặn kịp thời không cho dịch lây lan tại các vùng có lưu hành dịch bệnh và tạo miễn dịch cho đàn gia cầm chống lại virus Newcastle tại các địa phương, các cơ sở chăn nuôi gia cầm

Virus Newcastle có khả năng lây lan trực tiếp giữa gà bệnh và gà lành, vì vậy biện pháp tốt nhất là không để đàn gà khỏe tiếp xúc với mầm bệnh, cần cách ly, vệ sinh tiêu độc chuồng trại, hạn chế và ngăn chặn sự tiếp xúc với đàn

gà bệnh Biện pháp này có thể thực hiện tốt ở các xí nghiệp nuôi gà công

Trang 36

nghiệp, còn ở khu vực chăn nuôi gia đình thì khó thực hiện vì việc nghiêm cấm vận chuyển và khoanh vùng địa dư có gà bị bệnh là rất khó khăn (Nguyễn Như Thanh và CS, 2001)

Khi chưa có dịch xảy ra: Hạn chế người qua lại ở những nơi chăn nuôi

lớn, tập trung Người ra vào, công nhân chăn nuôi phải sát trùng kỹ tay chân, quần áo Công tác vận chuyển gà, trứng cần phải được thực hiện nghiêm ngặt, không lấy trứng từ những nơi nghi có bệnh, trứng lấy từ những nơi có nguồn gốc rõ ràng Gà nhập về phải nuôi cách ly ít nhất 10 ngày để theo dõi

Khi dịch đã xảy ra: Trường hợp gà mắc bệnh, để dập tắt dịch nhanh tốt

nhất nên tiêu diệt toàn bộ gà bị bệnh và nghi nhiễm bệnh Tiêm phòng vacxin, cách ly số còn lại Tổng tẩy uế tiêu độc chuồng trại Gia cầm chết phải được chôn sâu, lấp kỹ Không mang gà bệnh và các sản phẩm của chúng ra khỏi

vùng đang có dịch

Vacxin phòng bệnh:

Trên thế giới một số nước không cho phép sử dụng vacxin phòng bệnh cho đàn gà (Thụy Điển, Hà Lan) Một số nước Châu Âu chỉ cho phép sử dụng một loại vacxin sống, giống sản xuất vacxin phải đảm bảo tiêu chuẩn đề ra như chỉ số ICPI<0,4 (đối với vacxin nhược độc) và ICPI<0,7 (đối với vacxin vô hoạt) Hiện nay có nhiều loại vacxin để phòng bệnh Newcastle, các vacxin này được chia làm 2 loại đó là vacxin vô hoạt và vacxin nhược độc

Vacxin nhược độc:

Hiện nay các chủng virus vacxin nhược độc được biết nhiều là các chủng thuộc nhóm Lentogen như: chủng Lasota, chủng B1, chủng F (Asplin)… hoặc thuộc nhóm Mesogen như: chủng Mukterwar, chủng Hertforshire (chủng H), chủng Roakin, chủng Haifa…

Các chủng virus vacxin khác nhau, có độc lực khác nhau, quy trình sản xuất vacxin khác nhau và phương pháp sử dụng vacxin cũng khác nhau Do

đó chúng cũng cho đáp ứng miễn dịch cũng khác nhau Vì vậy tùy theo điều

Trang 37

kiện cụ thể của từng nước, từng vùng, từng địa phương mà người ta sử dụng các chủng virus vacxin Newcastle khác nhau để sản xuất vacxin phòng bệnh Căn cứ vào độc lực của virus, vacxin nhược độc được chia làm 2 nhóm Lentogen và Mesogen Virus vacxin thuộc nhóm Lentogen gồm nhiều chủng như chủng B1, chủng F, chủng Lasota Năm 1966 ở Úc đã phân lập được 1 chủng virus Newcastle trên đàn gà bình thường đặt tên là Queensland V4 Chủng này hoàn toàn không có độc lực, không có khả năng gây bệnh cho gà nhưng vẫn giữ được tính kháng nguyên và gây miễn Vacxin Newcastle chế

từ chủng V4 còn có 2 đặc tính ưu việt đó là tính chịu nhiệt dai và đặc tính thứ

2 là nó có tác dụng gây miễn dịch qua tiếp xúc trực tiếp

Trong cơ thể gà, virut nhóm lentogen chỉcó khảnăng nhân lên trong tế bào của một số mô nhất định như mô đường hô hấp, mô đường tiêu hóa (Rott, 1979) Vì vậy, khi sử dụng vacxin cho đàn gà bằng phương pháp nhỏ mắt, nhỏ mũi và cho uống đều cho đáp ứng miễn dịch tốt

Vacxin nhóm Lentogen khi sử dụng có ưu điểm rất an toàn, có thể dùng vacxin phòng bệnh cho gà ở mọi lứa tuổi Tuy nhiên, có nhược điểm độ dài miễn dịch ngắn hơn so với vacxin nhóm mesogen

Virus vacxin nhóm mesogen, được làm giảm độc khi tiêm truyền liên tục nhiều đời trên phôi hay cơ thể động vật Đại diện nhóm vacxin này là các chủng Mukteswar, được làm giảm độc sau nhiều đời cấy truyền qua phôi gà, chủng H (Hertfordshire) được làm giảm độc sau 33 đời cấy, chủng Komarov hay Haifa được làm giảm độc sau nhiều đời cấy chuyển qua óc vịt Đối với gà, độc lực của vacxin còn cao, nên khi dùng cho gà con dưới hai tháng tuổi dễ gây phản ứng

Trong cơ thể gà, virus nhóm mesogen có khả năng nhân lên trong tế bào của nhiều loại mô (Rott, 1979) Cho nên khi đưa vacxin vào cơ thể, có thể sử dụng nhiều phương pháp: nhỏ mắt, nhỏ mũi, tiêm dưới da, tiêm bắp đều tạo

được miễn dịch tốt

Trang 38

Vacxin vô hoạt:

Vacxin vô hoạt sản xuất từ những virus sống, được xử lý bằng formalin hoặc Betapropiolactone, sau đó bổ xung thêm chất bổ trợ để làm tăng tính miễn dịch của vacxin Lúc đầu để vô hoạt virus, thường dùng betapropiolactone và formalin (Hofstad, 1953) Sau đó Palhidy (1985) đã chứng minh vacxin dùng etilenimin để vô hoạt virus, gây đáp ứng miễn dịch tốt hơn so với betapropiolactone, formalin, etylentilenimin và đồng thời không gây biến đổi cấu trúc protein của virus

Trong vacxin vô hoạt, các chất bổ trợ có ảnh hưởng quyết định đến tác dụng gây miễn dịch của thành phần kháng nguyên (Franchini, 1995) Đầu tiên, chất bổ trợ được dùng là keo phèn (Aluminum hydroxit) (Alexander, 1991) Vacxin vô hoạt có chất bổ trợ là keo phèn, khi sử dụng phòng bệnh cho

gà, tạo đáp ứng miễn dịch thấp, độ dài miễn dịch ngắn

Theo Palhidy (1985) keo phèn kích thích sinh đáp ứng miễn dịch ở gia cầm kém Sau đó, vacxin có bổ trợ nhũ dầu được thay thế vì hiệu quả phòng bệnh cao hơn (Cross, 1988)

Virus Newcastle dùng để sản xuất vacxin nhũ dầu gồm các chủng virus vacxin thuộc nhóm Lentogen như: Ulster 2C, B1, Lasota, nhóm mesogen có Roakin và vài chủng virus có độc lực cao

Hiện nay hầu hết các vacxin Newcastle vô hoạt được sản xuất từ những chủng virus có độc lực yếu như: Lasota B1 Vacxin vô hoạt được sản xuất từ chủng virus độc lực yếu có ưu điểm rất an toàn

Alexander (1991) cho biết vacxin nhũ dầu cho đáp ứng miễn dịch cao, thời gian duy trì miễn dịch dài

Trang 39

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM,

NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và nội dung nghiên cứu

Đối tượng:

Gà bị bệnh Newcastle trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

Huyết thanh của một số đàn gà nuôi đã được tiêm phòng vắc xin Newcastle trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

Vi rus Newcastle phân lập từ gà trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

Nội dung:

1 Điều tra một số đặc điểm dịch tễ của bệnh Newcastle ở gà trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc với các chỉ tiêu: Triệu chứng, bệnh tích; tỷ lệ mắc bệnh theo lứa tuổi, giống gia cầm, phương thức chăn nuôi, quy mô chăn nuôi, mùa vụ và tỷ lệ chết của bệnh…

2 Xác định hàm lượng kháng thể Newcastle của một số đàn gà nuôi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

3 Giám sát sự lưu hành của virus gây bệnh Newcastle ở gà nuôi trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

4 Đề xuất các biện pháp phòng, chống dịch bệnh Newcastle trên địa bàn tỉnh

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu:

Bộ môn vi sinh vật - Truyền nhiễm, Khoa Thú y

Bộ môn Hóa sinh Miễn dịch Bệnh lý, Viện Thú Y Quốc gia

Các cơ sở chăn nuôi, hộ chăn nuôi gà tại Vĩnh Phúc, các Trạm Thú y huyện; Chi cục Thú y tỉnh Vĩnh Phúc

Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 10 năm 2014

2.3 Nguyên liệu

Gà bị bệnh Newcastle trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

Trang 40

Huyết thanh của một số đàn gà nuôi đã được tiêm phòng vắc xin Newcastle trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

Mẫu bệnh phẩm lấy từ ổ dịch để phân lập virus Newcastle ở gà

Mẫu dịch ổ nhớp và dịch hầu họng ở các đàn gà khỏe mạnh để xác định

sự lưu hành virus Newcastle ở gà

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu dịch tễ học

Sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả (Descriptive study), nghiên cứu dịch tễ học phân tích (Analytic study) và nghiên cứu dịch tễ học thực nghiệm

Lập biểu mẫu điều tra; điều tra theo phương pháp điều tra thống kê ngẫu nhiên tại 09 xã/09 huyện, thành, thị (mỗi huyện, thành, thị chọn 01 xã): Phương pháp điều tra gà theo đàn và cá thể Số đàn có gà mắc Newcastle và số con chết trong từng đàn

Phương pháp điều tra gà mắc Newcastle theo quy mô đàn nuôi (phân quy mô về số lượng con, hình thức chăn nuôi, kiểu chuồng nuôi )

Điều tra gà bị bệnh theo tình trạng vệ sinh chuồng trại, môi trường ở các mức độ (tốt, trung bình, kém); theo giống gà (gà ta, gà ta lai ); theo quy trình phòng bệnh Newcastle (loại vắc xin dùng ); theo mùa vụ (xuân, hè, thu,

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hồ Thị Việt Thu (2012), Tình hình bệnh Newcatle trên các giống gà thả vường tại Hậu Giang. Tạp chí khoa học năm 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh Newcatle trên các giống gà thả vường tại Hậu Giang
Tác giả: Hồ Thị Việt Thu
Năm: 2012
2. Lê Văn Năm (2004), 100 câu hỏi và đáp quan trọng dành cho cán bộ thú y và người chăn nuôi gà, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 câu hỏi và đáp quan trọng dành cho cán bộ thú y và người chăn nuôi gà
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2004
3. Mai Hoàng Việt (1999), Khảo sát bước đầu bệnh Newcatle trên đàn gà mắc bệnh tại An Giang. Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y, tập 4, số 3, năm 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát bước đầu bệnh Newcatle trên đàn gà mắc bệnh tại An Giang
Tác giả: Mai Hoàng Việt
Năm: 1999
4. Nguyễn Bá Hiên, Nguyễn Quốc Danh, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Thành, Chu Đình Tới (2009), Vi sinh vật – bệnh truyền nhiễm ở vật nuôi, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật – bệnh truyền nhiễm ở vật nuôi
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên, Nguyễn Quốc Danh, Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thị Kim Thành, Chu Đình Tới
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
5. Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương (2009), Miễn dịch học thú y, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn dịch học thú y
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2009
6. Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương (2010), Miễn dịch học ứng dụng, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Miễn dịch học ứng dụng
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2010
7. Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Lê Văn Lãnh, Đỗ Ngọc Thúy (2012), Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y. Nhà xuất bản ĐHNN Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y
Tác giả: Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ, Lê Văn Lãnh, Đỗ Ngọc Thúy
Nhà XB: Nhà xuất bản ĐHNN Hà Nội
Năm: 2012
8. Nguyễn Bá Huệ, Nguyễn Thu Hồng, Trần Thị Hường (1980), Các chủng virus cường độc Newcastle gây ra các vụ dịch lớn trong các xí nghiệp ở nước ta và hướng phòng bệnh, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật thú y 1968 -1978, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các chủng virus cường độc Newcastle gây ra các vụ dịch lớn trong các xí nghiệp ở nước ta và hướng phòng bệnh
Tác giả: Nguyễn Bá Huệ, Nguyễn Thu Hồng, Trần Thị Hường
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1980
9. Nguyễn Hữu Cường (2003), Khảo sát một số đặc tính sinh học của virus Newcastle chủng V4, tạp chí khoa học và phát triển năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát một số đặc tính sinh học của virus Newcastle chủng V4
Tác giả: Nguyễn Hữu Cường
Năm: 2003
11. Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương (2007), Vi sinh vật thú y, Trường ĐHNN, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi sinh vật thú y
Tác giả: Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2007
12. Nguyễn Thị Hương Sen (2007), Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý chủ yếu của bệnh Newcastle ở gà, Luận án thạc sỹ Nông nghiệp năm 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý chủ yếu của bệnh Newcastle ở gà
Tác giả: Nguyễn Thị Hương Sen
Năm: 2007
13. Nguyễn Thu Hồng (1993), Khảo sát virus Newcastle gây ra các ổ dịch lớn những năm 70 và nghiên cứu một số vacxin phòng bệnh cho gà ở nước ta, Luận án phó tiến s ỹ Khoa học Nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát virus Newcastle gây ra các ổ dịch lớn những năm 70 và nghiên cứu một số vacxin phòng bệnh cho gà ở nước ta
Tác giả: Nguyễn Thu Hồng
Năm: 1993
14. Nguyễn Tiến Dũng và Nguyễn Văn Quang(1993), Biến chủng virut Newcatle nhược độc chịu nhiệt. Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y, tập 1, số 1, năm 1993, trang 13-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến chủng virut Newcatle nhược độc chịu nhiệt
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng và Nguyễn Văn Quang
Năm: 1993
15. Nguyễn Tiến Dũng (1995), Ứng dụng phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu để đánh giá miễn dịch và sự lưu hành của virus Newcastle cường độc. Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y, tập 2 số 4 năm 1995, trang 24 -32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng phản ứng ức chế ngưng kết hồng cầu để đánh giá miễn dịch và sự lưu hành của virus Newcastle cường độc
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Năm: 1995
16. Nguyễn Vĩnh Phước, Hồ Đình Chúc, Nguyễn Văn Hanh và Đặng Thế Huynh (1978), Giáo trình bệnh truyền nhiễm gia súc, trang 387 -398, NXB Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh truyền nhiễm gia súc, trang 387 -398
Tác giả: Nguyễn Vĩnh Phước, Hồ Đình Chúc, Nguyễn Văn Hanh và Đặng Thế Huynh
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1978
17. Phan Văn Lục (1994), Một số đặc điểm của những vụ dịch Newcastle và lịch vacxin phòng bệnh thích hợp cho các cơ sở chăn nuôi gà công nghiệp, Luận án phó tiến sỹ Khoa học Nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm của những vụ dịch Newcastle và lịch vacxin phòng bệnh thích hợp cho các cơ sở chăn nuôi gà công nghiệp
Tác giả: Phan Văn Lục
Năm: 1994
18. Phan Văn Lục và cộng sự (1996), Mối tương quan giữa hàm lượng kháng thể lưu hành và sức bảo hộ chống virus cường độc Newcastle, Tuyển tập công trình nghiên cứu KHKT gia cầm, 1986- 1996, trang 216- 219, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối tương quan giữa hàm lượng kháng thể lưu hành và sức bảo hộ chống virus cường độc Newcastle, Tuyển tập công trình nghiên cứu KHKT gia cầm
Tác giả: Phan Văn Lục và cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1996
19. Phan Văn Lục và cộng sự (1996), So sánh hiệu quả dùng vacxin Lasota bằng phương pháp phun sương, cho uống và nhỏ mũi, Tuyển tập công trình nghiên cứu KHKT gia cầm, 1986- 1996, trang 219- 223, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh hiệu quả dùng vacxin Lasota bằng phương pháp phun sương, cho uống và nhỏ mũi, Tuyển tập công trình nghiên cứu KHKT gia cầm
Tác giả: Phan Văn Lục và cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1996
20. Trần Thị Lan Hương (2000), Một số yếu tố ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch phòng bệnh Newcastle. Tóm tắt luận án Tiến sỹ nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố ảnh hưởng đến đáp ứng miễn dịch phòng bệnh Newcastle
Tác giả: Trần Thị Lan Hương
Năm: 2000
21. Trương Quang (1999), Bệnh thương hàn gà, CRD và ảnh hưởng của chúng đến đáp ứng miễn dịch chống Newcastle của đàn gà Hybro và ISA, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật khoa Chăn nuôi- Thú y (1996- 1998), trang 90- 94 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh thương hàn gà, CRD và ảnh hưởng của chúng đến đáp ứng miễn dịch chống Newcastle của đàn gà Hybro và ISA, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật khoa Chăn nuôi- Thú y
Tác giả: Trương Quang
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.3.1.1. Hình thái, cấu trúc - Đặc điểm dịch tễ và sự lưu hành virus newcastle ở gà tại một số cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc
1.3.1.1. Hình thái, cấu trúc (Trang 17)
Bảng 3.1. Các bệnh thường gặp ở gà tại Vĩnh Phúc từ  2011 -  6/2014 - Đặc điểm dịch tễ và sự lưu hành virus newcastle ở gà tại một số cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.1. Các bệnh thường gặp ở gà tại Vĩnh Phúc từ 2011 - 6/2014 (Trang 47)
Bảng 3.2. Tình hình dịch bệnh Newcastle ở gà từ năm 2011 -  6/2014. - Đặc điểm dịch tễ và sự lưu hành virus newcastle ở gà tại một số cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.2. Tình hình dịch bệnh Newcastle ở gà từ năm 2011 - 6/2014 (Trang 48)
Hình 3.1. Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo giống - Đặc điểm dịch tễ và sự lưu hành virus newcastle ở gà tại một số cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc
Hình 3.1. Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo giống (Trang 50)
Bảng 3.4. Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo lứa tuổi - Đặc điểm dịch tễ và sự lưu hành virus newcastle ở gà tại một số cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.4. Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo lứa tuổi (Trang 51)
Bảng 3.5. Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo mùa vụ - Đặc điểm dịch tễ và sự lưu hành virus newcastle ở gà tại một số cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.5. Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo mùa vụ (Trang 53)
Hình 3.4. Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo qui mô và phương - Đặc điểm dịch tễ và sự lưu hành virus newcastle ở gà tại một số cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc
Hình 3.4. Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo qui mô và phương (Trang 55)
Bảng 3.6. Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo quy mô và phương - Đặc điểm dịch tễ và sự lưu hành virus newcastle ở gà tại một số cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.6. Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo quy mô và phương (Trang 55)
Bảng 3.7. Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo vùng sinh thái - Đặc điểm dịch tễ và sự lưu hành virus newcastle ở gà tại một số cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.7. Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo vùng sinh thái (Trang 56)
Hình 3.5. Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo vùng sinh thái - Đặc điểm dịch tễ và sự lưu hành virus newcastle ở gà tại một số cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc
Hình 3.5. Tỷ lệ gà mắc, chết vì bệnh Newcastle theo vùng sinh thái (Trang 57)
Bảng 3.8. Triệu chứng lâm sàng của gà nghi mắc bệnh Newcastle - Đặc điểm dịch tễ và sự lưu hành virus newcastle ở gà tại một số cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.8. Triệu chứng lâm sàng của gà nghi mắc bệnh Newcastle (Trang 58)
Bảng 3.10. Hiệu giá kháng thể chống Newcastle của gà ở một số cơ sở - Đặc điểm dịch tễ và sự lưu hành virus newcastle ở gà tại một số cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.10. Hiệu giá kháng thể chống Newcastle của gà ở một số cơ sở (Trang 62)
Bảng 3.11. Kết quả phân lập virus trên phôi trứng - Đặc điểm dịch tễ và sự lưu hành virus newcastle ở gà tại một số cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.11. Kết quả phân lập virus trên phôi trứng (Trang 65)
Bảng 3.12. Kết quả xác định tỷ lệ virus gây ngưng kết hồng cầu của các - Đặc điểm dịch tễ và sự lưu hành virus newcastle ở gà tại một số cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.12. Kết quả xác định tỷ lệ virus gây ngưng kết hồng cầu của các (Trang 67)
Bảng 3.13. Kết quả gám định virus Newcastle bằng phản ứng HI - Đặc điểm dịch tễ và sự lưu hành virus newcastle ở gà tại một số cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc
Bảng 3.13. Kết quả gám định virus Newcastle bằng phản ứng HI (Trang 68)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w