1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng của Phạm Quỳnh về vấn đề xây dựng nền văn hóa dân tộc

101 331 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Được biết đến như một trong bốn nhà trí thức Tây học lớn thời bấy giờ, bên cạnh Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Văn Tố, viết báo từ khi còn rất trẻ, lại là chủ bút của một tờ báo l

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- HOÀNG MINH QUÂN

TƯ TƯỞNG CỦA PHẠM QUỲNH VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Triết học

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HOÀNG MINH QUÂN

TƯ TƯỞNG CỦA PHẠM QUỲNH VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60 22 03 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Đỗ Thị Hòa

Hới

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ này là kết quả nghiên cứu của tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Đỗ Thị Hòa Hới Luận văn có sự kế thừa các công trình nghiên cứu của những người đi trước và có sự bổ sung những tư liệu được cập nhật mới nhất

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của đề tài

Người cam đoan

Hoàng Minh Quân

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, em xin chân thành cảm ơn quá trình dạy dỗ tận tình, thấu đáo của các thầy, cô giáo khoa Triết học, trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Đặc biệt, em gửi lời cảm ơn chân thành đến PGS,TS Đỗ Thị Hòa Hới, người

đã trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện luận văn thạc sĩ Sự chỉ bảo tận tình của cô đã tạo động lực và giúp đỡ em hoàn thành luận văn này

Luận văn này chắc chắn không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo để em có thể tiếp tục phát triển hướng nghiên cứu này

Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2014

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH TƯ

TƯỞNG CỦA PHẠM QUỲNH VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC

17

1.1 Những điều kiện, tiền đề khách quan: Bối cảnh chính trị,

kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng ở Việt Nam và thế giới đầu thế kỷ XX

di thảo của Phạm Quỳnh

36

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG

CỦA PHẠM QUỲNH VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC

39

2.1 Quan niệm của Phạm Quỳnh về những cơ sở xác lập cho

việc giải quyết vấn đề xây dựng nền văn hóa dân tộc

39

2.1.1 Về khái niệm văn hóa và mối quan hệ giữa văn hóa với

chính trị

39

2.1.2 Về văn hóa phương Đông, văn hóa phương Tây và mối

quan hệ giữa hai nền văn hóa Đông Tây

47

2.1.3 Về mối quan hệ giữa truyền thống với hiện đại và vấn đề

tiếp nhận văn hóa

55

2.2 Quan niệm của Phạm Quỳnh về đường hướng xây dựng nền

văn hóa dân tộc

59

2.2.1 Ý tưởng về một nền văn hóa mới trên cơ sở điều hòa văn

hóa Đông – Tây

59

2.2.2 Hai phương diện của việc xây dựng nền văn hóa dân tộc:

Thâu thái và bảo tồn

Trang 6

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Phạm Quỳnh (1892 – 1945) là một học giả lớn ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX Ông là nhân vật tiêu biểu cho tầng lớp trí thức Tây học, được đào tạo bởi nền giáo dục Pháp – Việt ở thời kỳ này Được biết đến như một trong bốn nhà trí thức Tây học lớn thời bấy giờ, bên cạnh Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Văn Tố, viết báo từ khi còn rất trẻ, lại là chủ bút của một tờ báo lớn là tạp

chí Nam Phong, Phạm Quỳnh thực sự có một tầm ảnh hưởng lớn đối với tầng lớp

thanh niên trí thức, cũng như nền văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX Di sản mà ông

để lại rất phong phú Ông là một người uyên bác, trước tác ở rất nhiều lĩnh vực khác nhau, như triết học, văn hóa, văn học, khảo cứu, phê bình, dịch thuật… Mặc dù không để lại một chuyên luận lớn nào, nhưng với sức viết đáng nể của mình, ông vẫn xây dựng được cho mình một hệ thống quan điểm riêng, khá nhất quán, thông qua những bài báo, bài tiểu luận Và mặc dù ngòi bút của ông được phân tán ra rất nhiều lĩnh vực, chúng ta vẫn có thể nhận ra văn hóa là mối quan tâm hàng đầu của ông

Qua những di sản Phạm Quỳnh để lại, chúng ta có thể nhận thấy, ông là nhà

tư tưởng có ý thức sâu sắc về vận mệnh của nền văn hóa dân tộc và vấn đề xây dựng nền văn hóa mới cho dân tộc Việt Nam trong bối cảnh hết sức phức tạp của những năm đầu thế kỷ XX Có thể nói đó là mối quan tâm hàng đầu của Phạm Quỳnh, là nội dung quan trọng, đặc sắc nhất trong tư tưởng của Phạm Quỳnh, cũng là lĩnh vực ghi dấu những đóng góp chủ yếu của ông Vì vậy, nghiên cứu sự nghiệp và tư tưởng Phạm Quỳnh, không thể bỏ qua tư tưởng của ông về vấn đề văn hóa nói chung, vấn

đề xây dựng nền văn hóa dân tộc nói riêng Thế nhưng những tư tưởng ấy của ông

đã nảy sinh trong một giai đoạn đầy phức tạp của lịch sử Việt Nam, và cách chọn lựa cho mình chỗ đứng trong giai đoạn ấy, cùng những hành trạng của Phạm Quỳnh,

đã khiến ông trở thành một nhân vật, một hiện tượng khó xét đoán Quả thực, xung quanh vấn đề đánh giá Phạm Quỳnh và tư tưởng của ông, cho đến nay, vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến trái ngược Có những quan điểm, trong khi phê phán lập trường chính trị của Phạm Quỳnh, đã phủ nhận những đóng góp của ông Bên cạnh đó, cũng có những ý kiến, đặc biệt là trong thời gian gần đây, dựa trên nhiều tư liệu mới,

đã khẳng định cách thể hiện tinh thần yêu nước của ông, đồng thời khẳng định

Trang 7

những đóng góp to lớn của ông cho nền văn hóa nước nhà Những tranh luận này đến nay dường như vẫn chưa hề ngã ngũ Phạm Quỳnh và tư tưởng của ông vẫn đồng thời nhận được cả những lời khen và chê Nhưng việc các tác phẩm của Phạm Quỳnh được sưu tầm và xuất bản một cách chính thức trong khoảng mười năm trở lại đây đã là cơ sở cho thấy sự thừa nhận của giới nghiên cứu đối với vị trí của ông trong tiến trình văn hóa dân tộc, cũng như cho thấy việc tiếp tục nghiên cứu làm rõ

tư tưởng và đóng góp của ông vẫn là một việc làm cần thiết Thực tế đó đã thúc đẩy chúng tôi đi vào tìm hiểu tư tưởng của Phạm Quỳnh, mà cụ thể hơn là tìm hiểu về

bộ phận quan trọng nhất của nó: tư tưởng về vấn đề xây dựng nền văn hóa dân tộc Chúng tôi thấy rằng, khi đọc các tác phẩm của ông, chúng ta không chỉ hiểu được phần nào các vấn đề văn hóa, tư tưởng, học thuật của dân tộc trong những năm đầu thế kỷ XX, mà còn có thể thấy trong đó nhiều gợi mở cho chúng ta khi đứng trước những vấn đề văn hóa đương đại Hơn nữa, nghiên cứu, tìm hiểu tư tưởng của Phạm Quỳnh về vấn đề xây dựng nền văn hóa dân tộc, một mặt, giúp chúng ta hiểu thêm

về một khuynh hướng xây dựng văn hóa dân tộc trong sự phát triển của tư tưởng ở nước ta thế kỷ XX, qua đó góp phần khẳng định những đóng góp của ông cho lịch

sử tư tưởng Việt Nam; mặt khác, từ đó góp phần giúp chúng ta có được những bài học, những kinh nghiệm khi đối mặt với những vấn đề văn hóa của dân tộc trong thời đại toàn cầu hóa Với những lý do đó, chúng tôi chọn vấn đề “Tư tưởng của Phạm Quỳnh về vấn đề xây dựng nền văn hóa dân tộc” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Là một học giả lớn ở nước ta những năm đầu thế kỷ XX, Phạm Quỳnh đã sớm nhận được sự quan tâm tìm hiểu của nhiều nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau Những nghiên cứu và đánh giá về Phạm Quỳnh nói chung, về sự nghiệp

và tư tưởng văn hóa của ông nói riêng, khảo sát theo tiến trình lịch sử, có thể thấy, bao gồm các giai đoạn: những nghiên cứu, đánh giá trước Cách mạng tháng Tám 1945; những nghiên cứu, đánh giá trong giai đoạn 1945 – 1975 (ở cả hai miền Nam, Bắc); những nghiên cứu từ 1975 đến nay

* Ở giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám 1945: Phạm Quỳnh được chú ý

nghiên cứu chủ yếu với tư cách một nhà văn Những công trình nghiên cứu văn học tiêu biểu của giai đoạn này đều đề cập đến Phạm Quỳnh và sự nghiệp của ông Tiêu

Trang 8

biểu nhất là hai công trình văn học sử: Nhà văn hiện đại (1942) của Vũ Ngọc Phan

và Việt Nam văn học sử yếu (1941) của Dương Quảng Hàm Vũ Ngọc Phan nhìn

nhận Phạm Quỳnh ở hai điểm chính: ghi nhận đóng góp của ông đối với nền quốc văn Việt Nam và khẳng định chủ trương văn hóa của Phạm Quỳnh: “Ông là người chủ trương cái thuyết: đọc sách Tây là để thâu thái lấy tư tưởng, lấy tinh thần văn hóa Âu Tây để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết, để chọn lấy cái hay của người mà dung hòa với cái hay của mình, ngõ hầu gìn giữ cho cái học của mình không mất bản sắc, mà vẫn có cơ tiến hóa được” [54, tr.82] Trong khi đó, Dương Quảng Hàm cũng chia sẻ với Vũ Ngọc Phan trong việc đánh giá vai trò của Phạm Quỳnh với nền quốc văn Mặt khác, ông ghi nhận Phạm Quỳnh như một người có thiên hướng về học thuật tư tưởng trong việc dịch thuật, và góp công phổ biến tư tưởng phương Tây ở Việt Nam: “ông Quỳnh thì có công dịch thuật các học thuyết

tư tưởng của Thái tây và luyện cho tiếng Nam có thể diễn được các ý tưởng mới” [13, tr.411] Như vậy, có thể thấy, cả Vũ Ngọc Phan và Dương Quảng Hàm không chỉ nói đến những đóng góp của Phạm Quỳnh đối với nền văn học Việt Nam, mà còn khẳng định những đóng góp của ông đối với nền văn hóa (trong việc đưa ra một chủ trương văn hóa) và tư tưởng (trong việc phổ biến tư tưởng) của dân tộc Cùng

với hai công trình này, cũng có thể nhắc đến cuốn Phê bình và cảo luận (1933) của

Thiếu Sơn Cuốn sách này là tuyển tập những bài phê bình của Thiếu Sơn về một số tác giả văn học nổi bật ở Việt Nam đương thời Trong cuốn sách này, Phạm Quỳnh được đặt ngay đầu cuốn sách Về nội dung, có lẽ phần phê bình Phạm Quỳnh trong

Phê bình và cảo luận đã cho thấy chân dung của học giả Phạm Quỳnh rõ nét hơn cả,

so với hai cuốn sách ở trên, bởi nó không chỉ nhìn nhận ông với tư cách một nhà văn thuần túy Thiếu Sơn đã chỉ ra, mấu chốt trong quan niệm của Phạm Quỳnh là chủ nghĩa quốc gia Từ đó, ông phân tích chủ trương văn hóa, chính trị của Phạm Quỳnh Việc phân tích quan điểm chính trị của Phạm Quỳnh là điều mà cả Vũ Ngọc Phan và Dương Quảng Hàm đều chưa nhắc đến Cũng ở sách này, Thiếu Sơn đã sớm đưa ra nhận định về việc Phạm Quỳnh tham gia vào quan trường Theo tác giả, việc dấn thân vào làm chính trị là một sai lầm của Phạm Quỳnh: “để cho ông ở cái địa vị hòa bình mà giúp nước, còn ích hơn bắt ông ra phấn đấu ở trên trường chánh trị, là thứ không hợp với cái khuynh hướng của ông” [85, tr.22] Nhìn chung, có thể

Trang 9

thấy, trong đánh giá của những nhà nghiên cứu giai đoạn trước năm 1945, Phạm Quỳnh là một học giả có nhiều đóng góp cho nền văn hóa dân tộc, nhất là trong văn học

Tuy nhiên, Phạm Quỳnh không phải là một nhà văn thuần túy Nói đúng hơn, Phạm Quỳnh không chỉ là người chuyên về một lĩnh vực nào đó Ông viết ở rất nhiều lĩnh vực khác nhau Điều đó khiến cho các bài viết của ông động đến rất nhiều vấn đề, chứ không chỉ là văn học: văn hóa, tư tưởng triết học, chính trị, giáo dục… Chính vì vậy, ở những khía cạnh khác, Phạm Quỳnh cũng nhận được sự đánh giá khác nhau từ nhiều học giả cùng thời, chứ không chỉ từ những nhà nghiên cứu văn học Trong số những đánh giá đó, nổi bật hơn, lại là những đánh giá mang tính phê phán Trước tiên, cần phải nhắc đến “vụ án Truyện Kiều”, một cuộc tranh luận

giữa các nhà Nho Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng với ông chủ bút Nam Phong,

xung quanh câu nói nổi tiếng của Phạm Quỳnh trong bài diễn thuyết nhân ngày giỗ Nguyễn Du năm 1924: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn” [64, tr.93] Đây không đơn thuần là những đánh giá ở khía cạnh văn học, trong một cuộc tranh luận văn học thuần túy Bởi, ngay cả trong quan niệm của những người xem Truyện Kiều là một kiệt tác văn học, chứ không phải “tà thư”, “dâm thư”, thì nhận định của Phạm Quỳnh cũng vẫn là đối tượng của sự phê phán Vấn đề không phải ở chỗ Phạm Quỳnh ca ngợi Truyện Kiều, mà ở chỗ ông gắn số phận của một đất nước với tác phẩm ấy Ngô Đức Kế, từ lập trường của một nhà Nho, đã phê phán Phạm Quỳnh một cách nặng nề: “một anh giả dối lóp lép, đứng đầu sùng bái Kiều, mà một bọn u mê hờ hững gào hơi rán sức để họa theo” [91, tr.309] Mấu chốt của sự tranh luận này là ở chỗ, Phạm Quỳnh và Ngô Đức Kế có cách tiếp cận khác nhau về Truyện Kiều, một bên nhìn nhận từ góc độ ngôn ngữ văn tự, một bên thiên về chuẩn mực luân lý Rốt cuộc, sự khác nhau trong cách tiếp cận của họ đã gây nên “vụ án Truyện Kiều” nổi tiếng Nhưng trước sự công kích từ phía Ngô Đức

Kế, Phạm Quỳnh đã không hồi đáp Đó là nguyên nhân dẫn đến sự phê phán tiếp

theo, từ phía một người đã từng là cộng sự của ông ở Nam Phong tạp chí: Phan

Khôi, và tiếp đến, một nhà chí sĩ lão thành: Huỳnh Thúc Kháng Trong bài viết

“Cảnh cáo các nhà học phiệt”, Phan Khôi hướng sự phê phán không phải vào nhận định của Phạm Quỳnh về Truyện Kiều, mà hướng vào thái độ “im lặng” của ông trước sự công kích của Ngô Đức Kế Vấn đề ông đặt ra không còn là vấn đề Truyện Kiều nữa, mà là vấn đề trách nhiệm và thái độ sẵn sàng đối thoại, tranh luận của

Trang 10

người trí thức Phạm Quỳnh đã có sự hồi đáp sự công kích này trên Nam Phong tạp

chí số 152 Tiếp sau bài viết đó, Huỳnh Thúc Kháng đã viết bài “Chánh học cùng tà thuyết có phải là vấn đề quan hệ chung không?” để phê phán Phạm Quỳnh Ở bài viết này, Huỳnh Thúc Kháng, đứng về phía Ngô Đức Kế, phê phán cách nhìn thuần túy ngôn ngữ, văn tự của Phạm Quỳnh về Truyện Kiều, đồng thời cũng phê phán cả nhân cách của Phạm Quỳnh Cũng phải thấy rằng, trong những đánh giá về Phạm Quỳnh, Phan Khôi giữ một thái độ có phần khách quan hơn Thậm chí, Phan Khôi sẵn sàng chia sẻ với Phạm Quỳnh ở những vấn đề mà hai ông cùng chung quan điểm Chính vì thế, chính Phan Khôi sau đó lại có bài phê phán bài viết phê phán Phạm Quỳnh của Huỳnh Thúc Kháng Như vậy, vấn đề Truyện Kiều, ở đây, đã ra ngoài địa hạt văn chương thuần túy Những tranh luận xung quanh nó liên quan đến một loạt những vấn đề rộng hơn: đạo đức, văn hóa, chính trị Sự bất đồng chủ yếu xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau của những nhà trí thức thời đó Và sự phức tạp của cuộc tranh luận này còn được thể hiện rõ hơn khi nó lại trở thành đề tài cho một cuộc tranh luận khác trong giới nghiên cứu Sài Gòn sau đó, vào năm 1962 “Vụ án Truyện Kiều” là một sự kiện có ảnh hưởng lớn đến Phạm Quỳnh và cách đánh giá

về Phạm Quỳnh Vì vậy, không khó hiểu khi cho đến những ngày cuối đời, những suy nghĩ về Kiều vẫn theo đuổi Phạm Quỳnh Trong bài “Cô Kiều với tôi”, ông nhắc lại: “Câu ấy (tức câu nói trong bài diễn thuyết năm 1924 – TG), người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm” [81, tr.68] Điều đáng tiếc là câu này nằm trong những dòng cuối cùng của một bài tùy bút còn dang dở Phạm Quỳnh đã không thể viết tiếp sự lý giải của mình Nếu Phạm Quỳnh hoàn tất bài viết này, chúng ta sẽ có thêm căn cứ để hiểu ông hơn

Bên cạnh đó, cũng cần phải kể đến sự nhìn nhận về Phạm Quỳnh của hai nhà trí thức lớn ở Việt Nam đầu thế kỷ XX: Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh Nếu như Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi là những người trực tiếp đưa ra những tranh luận và phê phán Phạm Quỳnh trong các bài viết của mình, thì Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh không hề có một bài viết nào trực tiếp hướng đến Phạm Quỳnh Đánh giá của họ về Phạm Quỳnh được bày tỏ trong khi họ đưa ra quan điểm của mình về một số vấn đề Phan Bội Châu tỏ ra bất đồng với Phạm Quỳnh trong lĩnh vực hiến pháp Trong bài trả lời phỏng vấn của báo Đông Tây, khi được hỏi ý kiến về Hiến pháp Phạm Quỳnh, ông trả lời: “Nhưng hiến pháp PQ chỉ

Trang 11

là hiến pháp PQ mà thôi (Thị Phạm Quỳnh tiên sinh chi hiến pháp dã) Tôi không cần nói nhiều” [2, tr.455] Bản thân ông không phủ nhận sự cần thiết phải có một bản hiến pháp cho Việt Nam, nhưng với bản hiến pháp Phạm Quỳnh thì ông không tán thành Ở đây, Phan Bội Châu không nói rõ ông không đồng ý với bản Hiến pháp

đó ở điểm nào, song qua bài trả lời phỏng vấn của Phan Bội Châu, có thể thấy sự bất đồng của ông đối với Phạm Quỳnh trong lĩnh vực chính trị Trong khi đó, Phan Châu Trinh lại phê phán quan điểm văn hóa của Phạm Quỳnh Có lúc ông phê phán một cách gián tiếp: “Sự đó nói dễ mà khó làm, vì phải hiểu cái gì là tốt của ta thực mới được, còn như các nhật báo bên ta thường thường gọi là quốc túy, đồ ấy là nói nhảm cả” [102, tr.207] Mặc dù không chỉ đích danh Phạm Quỳnh, nhưng hoàn toàn

có thể nhận ra Phan Châu Trinh đang nhắc đến ai Cũng có lúc ông trực tiếp nhắc đến tên Phạm Quỳnh: “như các anh như Phạm Quỳnh thì tôi thấy trong một hai bài trong nhật trình không những là giả dối vẽ vời mà lại nói lắm điều hại cho thanh niên nhiều lắm” [102, tr.211] Mặc dù chỉ nhắc đến Phạm Quỳnh trong một câu ngắn gọn, Phan Châu Trinh đã phê phán Phạm Quỳnh ở một trong những điểm cốt yếu nhất: “Quốc hồn”, “Quốc túy” – vốn là những khái niệm cơ bản và được đề cập

trở đi trở lại trong những bài viết của Phạm Quỳnh và nhóm Nam Phong Nếu đó

quả thực là những khái niệm sáo rỗng như Phan Châu Trinh nhận định, thì quả Phạm Quỳnh không để lại được đóng góp gì đáng kể cho nền văn hóa Việt Nam, và toàn bộ tư tưởng của ông sẽ trở nên những lời hô hào giả tạo Nhưng trên thực tế, từ

sự nhận thức về “quốc hồn”, “quốc túy”, Phạm Quỳnh đã tạo cơ sở cho những hoạt

động cụ thể nhằm bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc của Nam Phong Vì vậy, cũng

không thể xem đó chỉ là những lời hô hào suông, sáo rỗng Cũng cần nói thêm rằng, Phan Châu Trinh chưa đề cập nhiều đến vấn đề đường hướng chính trị trong quan điểm văn hóa của Phạm Quỳnh, điều được tập trung nghiên cứu nhiều hơn ở các công trình giai đoạn sau cách mạng tháng Tám 1945 Như vậy, có thể thấy, ngay từ trước năm 1945, những đánh giá về Phạm Quỳnh đã phân ra hai hướng rõ rệt: một bên là sự đánh giá cao từ phía những nhà nghiên cứu như Vũ Ngọc Phan, Dương Quảng Hàm, Thiếu Sơn, và một bên là những đánh giá mang tính phê phán từ phía những nhà Nho yêu nước cùng thời không đồng quan điểm với Phạm Quỳnh: Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và ít nhiều là Phan

Trang 12

Khôi Điều này cho thấy tính phức tạp trong việc đánh giá, nhìn nhận con người, sự nghiệp và tư tưởng của Phạm Quỳnh

* Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng Tám đến năm 1975: Cách mạng Tháng

Tám đã đánh dấu một bước ngoặt to lớn cho lịch sử Việt Nam, đồng thời cũng tạo một cột mốc cho cuộc đời và cho cả những đánh giá, nhận định về Phạm Quỳnh hàng chục năm sau đó Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Phạm Quỳnh bị những người tham gia khởi nghĩa ở Huế bắt giữ và trong một tình huống đặc biệt, ông bị xử tử Sự kiện này, ở thời điểm đó, được nhắc đến như một vụ xử án những tay sai của thực dân và phong kiến Nhiều chi tiết xung quanh nó phải đến nhiều thập niên sau mới được đưa ra nhìn nhận lại và làm sáng tỏ Song rõ ràng, nó đã chi phối rất nhiều đến những đánh giá về Phạm Quỳnh trong giai đoạn này Nếu trước năm 1945, việc Phạm Quỳnh cộng tác với Pháp hay ra làm quan có thể khiến nhiều người bất bình, song ở một chừng mực nào đó, ông vẫn nhận được một sự đánh giá cao từ nhiều học giả, và ít nhiều là sự chia sẻ, cảm thông Ngay cả một nhà văn hiện thực phê phán vốn hướng sự phê phán của mình vào chính quyền thực dân phong kiến như Nguyễn Công Hoan cũng thừa nhận Phạm Quỳnh là nguyên mẫu cho nhân vật Kép Tư Bền trong truyện ngắn nổi tiếng của ông, và nhận định Phạm Quỳnh là người yêu nước: “Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực lòng, là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm” [22, tr.161] Nhưng sau năm

1945, với cái chết của mình, Phạm Quỳnh được nhìn nhận như một tội nhân của cách mạng, một nhân vật phản động, tay sai và bồi bút của thực dân Dường như mọi đánh giá về Phạm Quỳnh đều hướng đến điểm này Bản thân Nguyễn Công Hoan, sau khi thừa nhận cách nhìn của ông về Phạm Quỳnh trước 1945, đã thêm vào một nhận định mang tính đánh giá lại: “Có lạ gì trình độ chính trị của tôi thời này Nếu tôi tinh khôn thì tôi đã hiểu hai thuyết trực trị và lập hiến chẳng qua chỉ là thủ đoạn của bọn cướp nước bảo hai tên tay sai (Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh – TG) bày ra để lòe bịp, để ru ngủ người ta đương được chủ nghĩa cộng sản thức tỉnh” [22, tr.161] Đây cũng là tinh thần chung của những nghiên cứu, đánh giá về

Phạm Quỳnh ở miền Bắc trước năm 1975 Trong giới nghiên cứu miền Bắc, ở giai

đoạn này, Phạm Quỳnh ít được chú ý Đáng kể nhất là phần viết về tư tưởng Phạm

Trang 13

Quỳnh của Trần Văn Giàu trong cuốn sách Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ

thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám Trong bộ sách này, tư tưởng của Phạm

Quỳnh được nhắc đến ở chương Các màu sắc chủ nghĩa dân tộc tư sản, tiểu tư sản,

là chương cuối tập II, tập sách có nhan đề Hệ ý thức tư sản và sự bất lực của nó

trước các nhiệm vụ lịch sử Ở đây, tác giả đã trình bày từ góc độ lịch sử tư tưởng về

tư tưởng của Phạm Quỳnh, bao gồm cả tư tưởng chính trị - xã hội và chủ trương về vấn đề cải cách văn hóa dân tộc của ông Trần Văn Giàu đã khách quan chỉ ra một

số nội dung cơ bản trong tư tưởng của Phạm Quỳnh về cải cách văn hóa dân tộc Theo Trần Văn Giàu, những vấn đề văn hóa quan trọng nhất mà Phạm Quỳnh quan tâm là: vấn đề xây dựng một tầng lớp thượng lưu trí thức với tư cách tầng lớp chịu

trách nhiệm gây dựng nền văn hóa mới theo chủ đích của nhóm Nam Phong, vấn đề

điều hòa văn hóa Đông – Tây và vấn đề tiếng Việt Tuy nhiên, khi đánh giá về tư

tưởng của Phạm Quỳnh trong lĩnh vực này, tác giả cho rằng ở Nam Phong và Phạm

Quỳnh, ý nghĩa thực sự của sự điều hòa Đông - Tây là sự liên minh giữa tư sản với phong kiến, là sự hợp tác Pháp – Việt để tạo nên một giai tầng thống trị mới, đã không mâu thuẫn với kẻ xâm lược, trái lại, giống như ý đồ của kẻ xâm lược mong muốn; và từ góc nhìn chính trị, ông cho rằng, những tư tưởng của Phạm Quỳnh đơn thuần là một sự biện hộ, minh họa, một sự bảo vệ cho sự cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam Mặc dù trong nhận định về tư tưởng Phạm Quỳnh, tác giả hoàn toàn phủ nhận những đóng góp của ông, vốn dĩ đã được những nhà nghiên cứu trước năm

1945 ghi nhận, song cần phải thấy rằng, việc khách quan đặt tư tưởng Phạm Quỳnh trong bối cảnh tư tưởng Việt Nam đầu thế kỷ XX, cùng với việc phân tích toàn diện quan điểm của ông, đã giúp người đọc hiểu về Phạm Quỳnh, với tư cách một đại diện của một khuynh hướng tư tưởng, chứ không chỉ với tư cách một nhà văn thuần túy Ở điểm này, Trần Văn Giàu đã có những đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu về tư tưởng Phạm Quỳnh Nhìn chung, sau năm 1945, và sau 1954 ở miền Bắc, những đánh giá về Phạm Quỳnh đều theo hướng phê phán Những nghiên cứu về Phạm Quỳnh là không nhiều, và nếu có, cũng chỉ chú ý đến phê phán lập trường chính trị của ông

Trong khi đó, ở miền Nam, trong giai đoạn 1954 – 1975, Phạm Quỳnh lại là

một nhân vật được chú ý khá nhiều trong giới nghiên cứu Nhưng ở đây, Phạm Quỳnh cũng vẫn là một nhân vật gây tranh cãi Có những nghiên cứu đánh giá cao

Trang 14

Phạm Quỳnh, có những nghiên cứu phê phán ông, và cũng có những nghiên cứu cố gắng đưa ra một cách nhìn nhận có chừng mực hơn Thậm chí, Phạm Quỳnh còn là chủ đề cho một cuộc tranh luận sôi nổi trong giới nghiên cứu ở miền Nam giai đoạn này, mà hai nhân vật chính là Nguyễn Văn Trung và Thanh Lãng Đây cũng là hai nhà nghiên cứu về Phạm Quỳnh nổi bật trong giai đoạn này Căn nguyên của cuộc tranh luận là bài diễn thuyết của Nguyễn Văn Trung tại trường Quốc gia Âm nhạc ngày 06/10/1962 với nhan đề: “Chính trị và văn học Một quan điểm mới về cuộc tranh luận Phạm Quỳnh – Ngô Đức Kế qua Truyện Kiều” Ở đây, Nguyễn Văn Trung đã phê phán lập trường chính trị của Phạm Quỳnh, đưa ra nhận định về mối liên hệ giữa chủ trương chính trị với chủ trương và sự nghiệp văn hóa của ông Ông đồng thời cho rằng, cuộc tranh luận giữa Ngô Đức Kế và Phạm Quỳnh thực chất là một cuộc tranh luận chính trị, chứ không phải văn học1 Đây là quan điểm xuyên suốt của ông trong đánh giá Phạm Quỳnh, mà ông kiên trì giữ vững ở những nghiên cứu được công bố sau đó Bài diễn thuyết này ngay lập tức nhận được sự phản hồi của đông đảo người nghiên cứu, hầu hết là theo hướng phản bác Trong đó có thể kể

đến loạt bài trên báo Tự do: “Thử nhận xét quan điểm của Nguyễn Văn Trung trong

vụ án Truyện Kiều” (Tác giả Đỗ Lăng, báo Tự do, 18/10/1962), “Nhân buổi diễn thuyết của ông Nguyễn Văn Trung” (Tác giả Tân Văn Hồng, báo Tự do,

24/10/1962), “Đặt vấn đề với ông Nguyễn Văn Trung về văn học và chính trị” (Tác

giả Ái Linh, báo Tự do, 11/11/1963), “Quan điểm phê bình mới của ông Nguyễn Văn Trung” (Tác giả Song Thai, báo Tự do, 3, 4, 5/11/1963) Nhưng đáng chú ý

nhất trong loạt bài phản bác Nguyễn Văn Trung là bài viết “Trường hợp Phạm

Quỳnh” của Thanh Lãng (đăng trên 4 số 3, 4, 5, 6, Tạp chí Văn học, Sài Gòn,

1963)2 Trong loạt bài này, Thanh Lãng đã tranh luận với từng luận điểm của Nguyễn Văn Trung Những đánh giá của Thanh Lãng về Phạm Quỳnh, ở đây, chủ yếu xoay quanh vấn đề lập trường chính trị của ông Thực ra, Thanh Lãng không đưa ra một kết luận xác quyết về lập trường chính trị của Phạm Quỳnh, về việc Phạm Quỳnh có yêu nước hay không, mà ông dừng lại ở việc chứng minh những nhận định của Nguyễn Văn Trung là thiếu cơ sở Những nghiên cứu thực sự toàn diện về Phạm Quỳnh của Thanh Lãng không nằm ở loạt bài này, mà nằm ở công

Trang 15

trình Bản lược đồ văn học Việt Nam, quyển hạ, xuất bản năm 1967 Trong cuốn

sách đó, Phạm Quỳnh đã được Thanh Lãng giành cho một vị trí trang trọng, với nhận định: “Với chủ trương trình bày một lược đồ văn học cận đại, thường ít khi tôi

đi vào chi tiết Nhưng nghĩ Phạm Quỳnh, cũng như Nguyễn Văn Vĩnh, không những là ông tổ mà còn là người lãnh đạo có uy tín nhất của văn học cận đại, nên tôi

cố gắng trình bày một cách cặn kẽ hơn về Phạm Quỳnh” [34, tr.188] Đúng với tinh thần đó, Phạm Quỳnh được nhắc đến trong hầu hết các mục của cuốn sách này Thanh Lãng đã đưa ra một cái nhìn khá toàn diện về sự nghiệp của Phạm Quỳnh, trong đó nhấn mạnh đến chủ trương văn hóa của ông: chủ trương điều hòa tân cựu Song, khác với một số nhà nghiên cứu nhấn mạnh khía cạnh phục cổ của Phạm Quỳnh, Thanh Lãng lại cho rằng, Phạm Quỳnh nghiêng về phía tân hơn là cựu, Tây hơn là Đông Nhìn chung, quan điểm của tác giả là đánh giá cao vị trí và đóng góp của Phạm Quỳnh, không chỉ với nền văn học, mà cả nền tư tưởng của dân tộc: “sự nghiệp Phạm Quỳnh to tát biết bao nhiêu về phương diện xoay chiều cho tư tưởng Việt Nam” [34, tr.286] Trái lại, Nguyễn Văn Trung vẫn kiên trì luận điểm mà ông

đã phát biểu năm 1962 với hai công trình Chủ đích Nam Phong (1974) và Trường

hợp Phạm Quỳnh (1975) Ở cuốn thứ nhất, Nguyễn Văn Trung đã hướng sự phê

phán đến không chỉ Phạm Quỳnh, mà cả những người nghiên cứu Phạm Quỳnh như

Vũ Ngọc Phan, Dương Quảng Hàm, Thanh Lãng… Ở đây, ông đòi hỏi phải xác lập một quan điểm chính trị khi nghiên cứu và viết văn học sử Kết luận được ông rút ra

là: Nam Phong tạp chí là một tạp chí tuyên truyền chính trị, phục vụ mục đích chính

trị chứ không phải là văn hóa, việc nghiên cứu nó, vì thế, không thể không đếm xỉa đến mặt chính trị này Tất nhiên, với Phạm Quỳnh cũng vậy, bởi Phạm Quỳnh vừa

là người đứng đầu trên danh nghĩa chủ bút, vừa là đại diện về mặt tư tưởng của Nam

Phong Ở cuốn sách thứ hai, Nguyễn Văn Trung tiếp tục nhấn mạnh khía cạnh

chính trị trong những hoạt động văn hóa của Phạm Quỳnh Ông cũng thử đứng từ phía Phạm Quỳnh để tìm hiểu Phạm Quỳnh Trong công trình này, Nguyễn Văn Trung dựa trên ba văn bản mà ông cho rằng thể hiện con người Phạm Quỳnh nhiều

nhất (Pháp du hành trình nhật ký, Thư gửi Louis Marty và Hoa đường tùy bút) để

nhìn Phạm Quỳnh Nhưng cuối cùng ông đi đến khẳng định, cả ba văn bản khả dĩ có thể biện hộ cho Phạm Quỳnh rốt cuộc cũng không biện hộ nổi Ông để ngỏ khả năng Phạm Quỳnh là người yêu nước, song cũng cho rằng, điều đó là không đủ để

Trang 16

biện minh cho những hoạt động của Phạm Quỳnh Những đánh giá này của Nguyễn Văn Trung thống nhất với những gì ông phát biểu năm 1962, và còn tiếp tục được

ông bảo lưu trong thời gian sau đó Đến năm 1993, khi xuất bản cuốn Trương Vĩnh

Kỹ nhà văn hóa, ông vẫn khẳng định: “Sau 20 năm, nhìn lại những gì đã viết để phê

phán Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký, chúng tôi thấy không thay đổi những lối nhìn phê phán đối với Phạm Quỳnh” [105, tr.46] Có thể thấy, Thanh Lãng và Nguyễn Văn Trung đại diện cho hai cực trong việc đánh giá vai trò và đóng góp của Phạm Quỳnh trong nền văn hóa dân tộc Cả hai đều giữ vững quan điểm của mình, và cuộc tranh luận rốt cuộc chưa ngã ngũ

* Giai đoạn từ năm 1975 đến nay: Cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ kết

thúc, đất nước thống nhất, cả nước cùng nhau bắt tay vào khắc phục hậu quả chiến tranh và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở cả hai miền Nam, Bắc Những tranh luận về Phạm Quỳnh ở miền Nam cũng không được tiếp tục Và trên thực tế, cho đến trước Đổi mới, thậm chí là nhiều năm sau Đổi mới, Phạm Quỳnh không được chú ý nhiều bởi giới nghiên cứu, và nếu có, thì chủ yếu là tiếp tục phê phán, như những gì đã diễn ra trước đó Năm 1992, một cuộc hội thảo về Phạm Quỳnh đã được dự kiến tổ chức, nhưng sau đó hoãn lại Một trong số những bài viết gửi đến hội thảo này, phải hơn mười năm sau mới được công bố3 Điều đó cho thấy, sự chú ý của những nhà nghiên cứu đối với Phạm Quỳnh đã gia tăng, nhận định về Phạm Quỳnh sau Đổi mới, đã ít nhiều thay đổi, song vẫn cần có một độ lùi về mặt thời gian và cơ sở tư liệu mới cho sự nhận thức lại đó Phải đến năm 2001, Phạm Quỳnh mới có một tác phẩm được chính thức xuất bản ở Việt Nam kể từ sau năm 1945 (không kể ở miền

Nam giai đoạn 1954 – 1975), đó là cuốn sách Mười ngày ở Huế (thực ra bao gồm hai tác phẩm: Mười ngày ở Huế và Một tháng ở Nam Kỳ) Trước đó, những bài viết

của Phạm Quỳnh cũng có xuất hiện lẻ tẻ trong một số ấn phẩm, nhưng đó là những

ấn phẩm mang tính chất tuyển tập của nhiều tác giả, chính vì vậy, Mười ngày ở Huế

có thể coi là tác phẩm đầu tiên được xuất bản của Phạm Quỳnh ở giai đoạn này

Trong Lời nhà xuất bản, Nhà xuất bản Văn học đã có sự phân định rạch ròi giữa

Phạm Quỳnh – nhà chính trị với Phạm Quỳnh – nhà văn hóa, và cho rằng, trong khi cần phê phán Phạm Quỳnh ở lĩnh vực chính trị, thì vẫn cần phải ghi nhận đóng góp

3 Đó là bài viết của Vương Trí Nhàn: Vai trò của trí thức trong quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở

Việt Nam đầu thế kỷ XX, chúng tôi sẽ đề cập ở sau

Trang 17

của ông trong lĩnh vực văn hóa: “Ông đã, đang, và sẽ còn được phân tích, đánh giá, phê phán trên lĩnh vực này (lĩnh vực chính trị - TG), nhưng về mặt văn hóa, văn học,

về tiến trình phát triển của văn xuôi quốc ngữ thì công lao đóng góp của ông cần được nhìn nhận lại” [77, tr.8] Kể từ cột mốc đó, cho đến nay, qua hơn mười năm, những di thảo của Phạm Quỳnh ngày càng được xuất bản nhiều hơn, với dung lượng ngày càng lớn Hiện nay, những cuốn sách của tác giả Phạm Quỳnh đã được

xuất bản sau Mười ngày ở Huế bao gồm: Luận giải văn học và triết học (2003),

Pháp du hành trình nhật ký (2004), Thương chi văn tập (2005), Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922 – 1932 (2007), Hoa Đương Tùy bút và 51 bản dịch thơ Đỗ Phủ (2011), Tuyển tập du ký (2013) Những ấn phẩm này đã cho thấy khá

đầy đủ sự nghiệp trước tác của học giả Phạm Quỳnh, đồng thời bước đầu mở ra những thuận lợi cho việc nghiên cứu về tư tưởng và sự nghiệp của ông

Cùng với việc những di thảo của Phạm Quỳnh chính thức được xuất bản, các nghiên cứu về ông ngày càng xuất hiện nhiều hơn Nhìn chung, những công trình này có thể được phân thành hai hướng tiếp cận: một bên là hướng tiếp cận lịch sử, tập trung vào những sự kiện trong cuộc đời Phạm Quỳnh, và một bên là hướng tiếp cận chú trọng vào việc phân tích những di sản mà ông để lại, để làm rõ những đóng góp của ông cho nền văn hóa, văn học, tư tưởng Việt Nam Ở hướng tiếp cận thứ

nhất, có thể kể đến những bài viết nổi bật như: Những điều chưa biết về nhà văn

hóa Phạm Quỳnh (tác giả Xuân Ba, đăng trên Tiền Phong Chủ nhật số 44, 45, 46,

năm 2005), Người nặng lòng với nước (tác giả Phạm Tôn, đăng trên tạp chí Xưa và

Nay, số 267, năm 2006), Phạm Quỳnh và bản án tử hình đối với ông (tác giả Nhật

Hoa Khanh, đăng trên Tạp chí Xưa và Nay, số 269, năm 2006)… Những bài viết

này đã cung cấp những thông tin, tư liệu mới về cuộc đời Phạm Quỳnh, thông qua nhiều nguồn khác nhau (hồi ký, lời kể của các nhân vật liên quan, di cảo của Phạm Quỳnh…) Thông qua đó, các tác giả chủ yếu tập trung làm sáng tỏ hai vấn đề: bản

án và cái chết của học giả Phạm Quỳnh và mối quan hệ giữa ông với những nhà yêu nước ở Việt Nam, đặc biệt là với Chủ tịch Hồ Chí Minh Ở vấn đề thứ nhất, thông qua những tư liệu mới, phần lớn đều thống nhất nhận định Phạm Quỳnh bị xử tử là

do sự bột phát trong tình huống khẩn trương của những người tham gia cướp chính quyền, chứ không phải là do chủ trương từ những người lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám, từ trung ương cho đến địa phương (Huế) Vì vậy, không thể xem Phạm Quỳnh

Trang 18

là tội nhân của cách mạng như quan điểm phổ biến trước đây Ở vấn đề thứ hai, các tác giả đề cập đến thái độ của một số nhà yêu nước, những người tham gia cách mạng, đặc biệt là chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Phạm Quỳnh Theo đó, chủ tịch Hồ Chí Minh là người đã từng gặp gỡ Phạm Quỳnh tại Pháp và rất coi trọng ông Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng có ý định mời ông ra cộng tác với chính quyền cách mạng sau khi khởi nghĩa thành công, nhưng không kịp Một số nhà nghiên cứu đã nhắc lại câu nói của Hồ Chí Minh nhắn đến các con Phạm Quỳnh (được biết đến thông qua lời kể lại của Huy Cận): “Cụ Phạm là người của lịch sử sẽ được lịch sử đánh giá lại” [theo 37, tr.128] Đây là một căn cứ quan trọng để một loạt những công trình đánh giá lại về Phạm Quỳnh được triển khai Chi tiết này, một mặt, khẳng định thêm vấn đề thứ nhất, mặt khác, khẳng định tinh thần yêu nước của Phạm Quỳnh Phạm Quỳnh là “người nặng lòng với nước” có thể xem là kết luận được đưa ra thông qua những nghiên cứu này Những thông tin, tư liệu mới về Phạm Quỳnh sau đó đã một lần nữa được tổng hợp và thể hiện qua những một số

công trình được xuất bản: Phạm Quỳnh – con người và thời gian (tác giả Khúc Hà

Linh, năm 2010)4, và bộ sách hai tập Phạm Quỳnh – Một góc nhìn (tác giả Nguyễn

Văn Khoan, tập 1: năm 2011, tập 2: năm 2012) Những ấn phẩm này đã cung cấp khá đầy đủ tư liệu cho việc tìm hiểu cuộc đời và con người Phạm Quỳnh Như vậy, thông qua những tư liệu mới về Phạm Quỳnh, những nhà nghiên cứu theo hướng này đã khằng định một điều: Phạm Quỳnh là người có tinh thần yêu nước, nhưng theo cách của ông Đây là một nhận định hoàn toàn mới so với những đánh giá vẫn tồn tại trước đó về nhân vật Phạm Quỳnh, đồng thời mở ra một cách nhìn mới về chính tư tưởng của ông

Sau mảng công trình nhận thức lại về con người và cuộc đời của Phạm Quỳnh, là các công trình nhận thức lại về di sản và quan niệm, tư tưởng của Phạm

Quỳnh Ở hướng nghiên cứu này, có thể kể đến: Báo chí và văn chương qua một

trường hợp: Nam Phong tạp chí (Tác giả Nguyễn Đình Chú, Trịnh Vĩnh Long, đăng

trên tạp chí Nghiên cứu văn học, số 2, năm 2005), Vai trò của trí thức trong quá

trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX5 (tác giả Vương Trí

Nhàn, đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 7, năm 2005), Đọc lại tạp chí Nam

4 Cuốn sách sau đó được tái bản có bổ sung năm 2012, với nhan đề Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc

5 Thực chất là khảo sát qua trường hợp Phạm Quỳnh

Trang 19

Phong và Phạm Quỳnh (tác giả Đỗ Lai Thúy, đăng trên Tạp chí Tia sáng, số 12,

năm 2006), Văn trên Nam Phong tạp chí – Diện mạo và thành tựu (tác giả Nguyễn

Đức Thuận, Nhà xuất bản Văn học, năm 2008)… Những công trình nghiên cứu này

đã trình bày quan niệm và sự nghiệp văn hóa của Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp

chí Đối với chủ trương văn hóa của ông, mặc dù đều khẳng định Phạm Quỳnh là người dung hòa Đông Tây, tân cựu, song các tác giả lại có những nhận định khác nhau Vương Trí Nhàn cho rằng, ở Phạm Quỳnh có sự dung hòa nhuần nhị giữa Đông và Tây, trong khi Đỗ Lai Thúy lại cho rằng: “Là người dung hòa Đông Tây, nhưng căn cốt Phạm Quỳnh, có lẽ, vẫn là một nhà Nho, một ông đồ Tây” [103, tr.45] Những nhận định này đều khác so với nhận định của Thanh Lãng, mà chúng tôi đã đề cập ở trên Nhưng dù sao, vai trò của ông đối với nền văn hóa dân tộc đều được khẳng định: “Tiếp nối sự nghiệp của những Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của… ông thuộc loại xây nền đắp móng cho nền văn hóa mới” [50, tr.57] Nói chung, những nghiên cứu, đánh giá trong giai đoạn này hầu hết đều khẳng định những đóng góp của Phạm Quỳnh đối với nền văn hóa Việt Nam, thể hiện sự nhìn nhận lại, đánh giá lại di sản của Phạm Quỳnh Nhưng cũng có một thực tế là, trong quá trình “nhận thức lại” Phạm Quỳnh, cũng có những quan điểm tách rời bối cảnh lịch sử cụ thể, dường như quá đề cao ông Ví dụ, có quan điểm cho rằng, việc Phạm Quỳnh tán dương thực dân Pháp chỉ là một hành động mang tính “đánh đĩ ngòi bút”, như quan điểm của Phạm Thị Nhung: “Phạm Quỳnh, một nhà trí thức thông minh, tài hoa, đã phải bôi tro trát trấu ra hợp tác công khai với chính quyền bảo hộ, phải

để chính ngòi bút của mình cùng các ngòi bút khác của Nam Phong viết một số bài

“nịnh Tây”, hay nói như một số dư luận chống đối bấy giờ: “hót Tây”, hay “bồi Tây” hay tệ hơn nữa là phải “đánh đĩ ngòi bút” để phục vụ cho quan thầy bảo hộ, cũng chỉ vì muốn mua chuộc cảm tình, lấy lòng tin của họ cho mình được lo việc thế giáo, cho mình được yên thân hoạt động văn hóa phụng sự dân tộc” [Theo 92, tr.111] Theo chúng tôi, đây là một nhận định có phần chủ quan Trong nghiên cứu, đánh giá về Phạm Quỳnh, cần phải nhìn nhận cả những giá trị và hạn chế của ông,

để đưa ra một nhận định thực sự khách quan

Tóm lại: Nhìn lại các giai đoạn đã qua trong việc nghiên cứu Phạm Quỳnh và

tư tưởng về văn hóa của ông, có thể thấy: Thứ nhất, Phạm Quỳnh đã thu hút được

sự quan tâm nghiên cứu của những nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực: văn học,

Trang 20

sử học, triết học, điều này phản ánh thực tế là Phạm Quỳnh đã để lại một di sản rất phong phú, bao trùm lên nhiều lĩnh vực, tuy nhiên ở các công trình này, rõ ràng những nghiên cứu về Phạm Quỳnh với tư cách một nhà văn vẫn chiếm ưu thế nhiều hơn, trong khi những nghiên cứu ở góc độ lịch sử tư tưởng vẫn chưa nhiều; Thứ hai, những nghiên cứu về Phạm Quỳnh, ở mỗi giai đoạn, lại mang một đặc điểm khác nhau do sự chi phối của điều kiện lịch sử, nhưng dù ở thời kỳ nào, Phạm Quỳnh cũng đều nhận được đồng thời những đánh giá trái ngược, và cho đến nay, vẫn chưa

có sự thống nhất trong nhận định của giới nghiên cứu Thực tế đó cho thấy, việc tiếp tục đi vào tìm hiểu Phạm Quỳnh và di sản của ông, đặc biệt là tư tưởng của ông về vấn đề xây dựng nền văn hóa dân tộc, từ góc nhìn lịch sử tư tưởng, vẫn là một điều cần thiết Kế thừa những thành tựu mà các nhà nghiên cứu đã đạt được, chúng tôi mong muốn có thể góp thêm một cách đánh giá, nhìn nhận của mình về tư tưởng của Phạm Quỳnh về vấn đề xây dựng nền văn hóa dân tộc, từ góc độ tiếp cận lịch sử

tư tưởng triết học Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích mà luận văn hướng tới là phân tích, làm rõ tư tưởng của Phạm Quỳnh về vấn đề xây dựng nền văn hóa dân tộc trong bối cảnh những thập niên đầu thế kỷ XX

Để thực hiện được mục đích trên, luận văn sẽ thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu những điều kiện, tiền đề cho sự hình thành tư tưởng của Phạm Quỳnh về vấn đề xây dựng nền văn hóa dân tộc

- Phân tích quan niệm của Phạm Quỳnh về những cơ sở xác lập cho việc xây dựng nền văn hóa dân tộc

- Phân tích quan niệm của Phạm Quỳnh về đường hướng xây dựng nền văn hóa dân tộc

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

* Cơ sở lý luận: Luận văn sử dụng cơ sở lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử vận dụng vào nghiên cứu các vấn đề về lịch sử tư tưởng Việt Nam

* Phương pháp nghiên cứu: phương pháp thống nhất logic – lịch sử; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 21

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu trên đây, đối tượng mà luận văn sẽ hướng đến là tư tưởng của Phạm Quỳnh về vấn đề xây dựng nền văn hóa dân tộc trong những thập niên đầu thế kỷ XX

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là phân tích điều kiện hình thành và một số nội dung cơ bản nhất của tư tưởng về vấn đề xây dựng nền văn hóa dân tộc của Phạm Quỳnh Về mặt tư liệu, chúng tôi triển khai luận văn trên cơ sở khảo sát các bài viết của Phạm Quỳnh đã được tuyển chọn, dịch (đối với một số tiểu luận viết bằng tiếng Pháp) và công bố chính thức trong các cuốn sách đã xuất bản, cùng với

những bài viết quan trọng khác bằng chữ quốc ngữ của ông đã được đăng trên Đông

Dương Tạp chí và Nam Phong Tạp chí, nhưng chưa được tuyển chọn vào các ấn

- Luận văn có thể đặt cơ sở cho hướng nghiên cứu tiếp theo: Vị trí, vai trò, đóng góp và tư tưởng của tầng lớp trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX về văn hóa và xây dựng nền văn hóa dân tộc

* Ý nghĩa thực tiễn:

- Luận văn có thể cung cấp một phần tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến tư tưởng của học giả Phạm Quỳnh nói riêng và những vấn đề lịch sử tư tưởng Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX nói chung

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của luận văn bao gồm 2 chương, 5 tiết

Trang 22

B NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ CHO SỰ HÌNH THÀNH

TƯ TƯỞNG CỦA PHẠM QUỲNH VỀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC

1.1 Những điều kiện, tiền đề khách quan: Bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng ở Việt Nam và thế giới đầu thế kỷ XX

1.1.1 Bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa ở Việt Nam và thế giới đầu thế kỷ XX

Sự nghiệp của Phạm Quỳnh nằm trọn trong nửa đầu của thế kỷ XX Đây là một giai đoạn gắn liền với những biến cố, những thay đổi mạnh mẽ trên cả thế giới

và ở Việt Nam Ở Pháp, từ cuối thế kỷ XIX, nhà cầm quyền đã đẩy mạnh việc xâm chiếm thuộc địa ở cả châu Á và châu Phi, bất chấp những bất ổn trong đời sống chính trị, đưa Pháp trở thành một trong những nước đế quốc sừng sỏ Sau khi hoàn tất công cuộc thôn tính nước ta năm 1884, Pháp đã tiếp tục xâm lược Lào, Campuchia, tham gia xâu xé Trung Hoa Cùng với đó, thực dân Pháp cũng tăng cường mở rộng thuộc địa ở châu Phi Một loạt nước châu Phi đã trở thành thuộc địa của Pháp trong thời kỳ này, như Tuynisia, Congo, Madagascar, Senegal… Quá trình này còn tiếp tục trong những năm đầu thế kỷ XX (năm 1912, Pháp đã biến Maroc thành xứ bảo hộ) Điều này đã khiến cho chỉ trong một thời gian ngắn, thuộc địa của Pháp được mở rộng nhanh chóng Bước sang những năm đầu thế kỷ XX, khi tình hình quốc tế trở nên căng thẳng, các nước đế quốc ráo riết chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh nhằm phân chia lại thị trường, thuộc địa, giai cấp tư sản Pháp cũng không đứng ngoài vòng xoáy đó Nhà cầm quyền tăng cường mọi hoạt động để đưa nước Pháp vào cuộc chiến tranh đế quốc Năm 1914, chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra, nước Pháp nằm trong phe Hiệp ước (cùng Anh, Nga, Ý…) đối đầu với phe Liên minh (gồm Đức, Áo – Hung, Thổ Nhĩ Kỳ…) Nước Pháp tham chiến đồng nghĩa với việc các thuộc địa của Pháp không khỏi bị lôi cuốn vào vòng chiến Thực dân Pháp đã huy động tối đa sức người, sức của từ các nước thuộc địa để phục vụ cho chiến tranh, kèm với đó là những thay đổi chính sách cai trị ở thuộc địa cho phù hợp với thời chiến Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ Sau bốn năm diễn ra, để lại nhiều mất mát, tổn thất lớn cho nhân loại, cuộc chiến tranh kết thúc với chiến thắng thuộc về phe Hiệp ước Mặc dù là nước thắng trận, nhưng Pháp vẫn phải

Trang 23

hứng chịu những tổn thất nặng nề Để phục hồi nền kinh tế, chính quyền Pháp, một mặt thúc đẩy sản xuất trong nước, mặt khác tăng cường mở rộng khai thác các nước thuộc địa Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp ở Việt Nam, bắt đầu từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất, cũng nhằm phục vụ cho ý đồ này

Trong khi đó, ở Việt Nam, ngay sau khi bình định nước ta về cơ bản, thực dân Pháp đã bắt đầu kiện toàn bộ máy cai trị và tiến hành khai thác thuộc địa, chứ không đợi đến sau thế chiến thứ nhất Điều này đã tạo nên những thay đổi căn bản trên mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa ở Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đặc biệt là giai đoạn sau chiến tranh thể giới thứ nhất (những năm 20, 30 của thế kỷ XX)

Về chính trị, thực ra, ngay từ khi mới bắt đầu xâm lược Việt Nam, và chiếm được ba tỉnh Nam Kỳ, thực dân Pháp đã thiết lập ngay một bộ máy cai trị của mình Sau đó, cùng với quá trình mở rộng xâm lược Việt Nam, bộ máy cai trị của thực dân Pháp ngày càng được kiện toàn và trở nên hoàn chỉnh Quyền lực của người Pháp ở Việt Nam ngày một gia tăng, trong khi triều đình Huế không còn thực quyền, chỉ là

bù nhìn trong tay Pháp Tuy nhiên, trong và sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, thực dân Pháp đã có một số điều chỉnh trong chính sách cai trị Pháp đã nới rộng quyền hạn cho triều đình phong kiến, mở rộng cơ hội tham gia vào bộ máy hành chính ở Việt Nam cho người bản xứ Sau chiến tranh, thực dân Pháp còn lập ra cả Viện Dân biểu Bắc Kỳ, Trung Kỳ Số lượng người bản xứ trong các cơ quan chính quyền cũng được tăng lên Có thể thấy, chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX đã chuyển sang hướng trấn áp kết hợp với ôn hòa, nhằm ổn định tình hình thuộc địa, xoa dịu quần chúng, đồng thời lôi kéo, dụ dỗ một

bộ phận người Việt ở tầng lớp trên của xã hội, những nhà tư sản, địa chủ và cả những trí thức tiểu tư sản… về phía mình Trên thực tế, chính sách này của họ đã gây ra những ảo tưởng cho một bộ phận người Việt, mong muốn và tin rằng, có thể dựa vào Pháp, nhờ vào sự giúp đỡ của Pháp để giúp đất nước tiến bộ và dần dần đi đến độc lập về mặt chính trị Đây là lực lượng xã hội quan trọng của các khuynh hướng tư tưởng ôn hòa trong giai đoạn này

Cùng với việc ổn định nền cai trị ở Việt Nam, thực dân Pháp cũng nhanh chóng tiến hành khai thác thuộc địa Cho đến những thập niên đầu thế kỷ XX, Pháp

đã thực hiện hai cuộc khai thác thuộc địa, tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ

Trang 24

trong đời sống kinh tế ở nước ta Nông nghiệp nước ta thời thuộc địa vẫn là ngành

sản xuất chủ yếu, được thực dân Pháp đầu tư khá mạnh, nhất là trong cuộc khai thác lần thứ hai Bên cạnh trồng lúa, việc trồng các loại cây công nghiệp, đặc biệt là cao

su, cà phê đã được đẩy mạnh Thêm vào đó, sự tích tụ, tập trung ruộng đất cũng diễn ra khá mạnh mẽ, tạo điều kiện cho việc xuất hiện những đồn điền với quy mô lớn Rõ ràng, sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đã có những bước chuyển rõ rệt Tuy nhiên, nông nghiệp Việt Nam thời kỳ này, trên thực tế, không được chú trọng phát triển theo hướng hiện đại, nên nhìn chung vẫn ở trong tình trạng nghèo nàn, lạc hậu Những máy móc, kỹ thuật hiện đại không được đầu tư, phương thức canh tác,

bóc lột kiểu phong kiến (phát canh thu tô) vẫn còn rất phổ biến Công nghiệp cũng

được thực dân Pháp đặc biệt chú trọng đầu tư Một nền công nghiệp hiện đại, với một phương thức sản xuất mới đã hiện hình Nhưng giới tư bản Pháp đầu tư chủ yếu vào ngành công nghiệp khai khoáng và một số ngành công nghiệp nhẹ Còn công nghiệp nặng, cho đến sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất vẫn chưa được phát triển

Rõ ràng, nền công nghiệp mà thực dân Pháp xây dựng ở Việt Nam không nằm ngoài giới hạn cung cấp nguyên liệu cho chính quốc, phục vụ nền công nghiệp chính quốc Thực dân Pháp, một mặt, thâu tóm quyền lợi vào trong tay tư sản Pháp, mặt khác, không để cho nền công nghiệp Việt Nam được phát triển một cách toàn diện Phải đến sau chiến tranh thế giới thứ nhất, do sản xuất công nghiệp bị ngừng trệ, thực dân Pháp mới nới lỏng hơn cho các nhà tư sản Việt Nam, nhờ đó thế lực của các nhà tư sản trong ngành công nghiệp ở Việt Nam có mạnh lên; nhưng vẫn bị lép vế so với tư sản Pháp và tư sản Hoa kiều Nền công nghiệp Việt Nam, đến những năm đầu thế kỷ XX, đã có những bước tiến nhất định, nhưng nói chung, vẫn

là một nền công nghiệp lạc hậu, phát triển một cách què quặt, mất cân đối Trong

lĩnh vực thương mại, tình hình cũng tương tự Các nhà tư sản Việt Nam có rất ít khả

năng cạnh tranh với người Pháp và người Hoa Tuy thế, khi chiến tranh thế giới xảy

ra, tư sản Pháp phần nào mất đi ưu thế trong nền thương mại Việt Nam, do giao thông giữa Pháp với Việt Nam trở nên khó khăn, vốn đầu tư hạn chế, và hàng hóa cũng giảm sút Nhờ đó, những nhà tư sản Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực này phần nào thoát khỏi sự kìm kẹp của người Pháp, vươn lên mở rộng thị trường nội địa Tuy thế, các hoạt động thương mại lớn vẫn nằm trong tầm khống chế của các nhà buôn Pháp và Hoa kiều Như vậy, nền kinh tế Việt Nam những năm đầu thế kỷ

Trang 25

XX đã có những bước phát triển theo hương tư bản chủ nghĩa, nhưng về cơ bản vẫn

là một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, với những yếu tố mới cũ đan xen Nó đủ để đem lại những khoản lợi nhuận lớn cho thực dân Pháp, và cũng đủ để giữ cho nền kinh tế Việt Nam lệ thuộc chặt chẽ vào nền kinh tế ở chính quốc

Mặc dù chưa tạo nên một thay đổi triệt để trong nền kinh tế, nhưng những bước phát triển ấy cũng đã tạo nên những biến chuyển căn bản trong cơ cấu xã hội Việt Nam thời bấy giờ Ở thế kỷ XIX, nói chung, xã hội Việt Nam vẫn chưa có những biến đổi sâu sắc Nhưng bước sang thế kỷ XX, cùng với việc thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa, xã hội Việt Nam đã có những chuyển biến rõ rệt, những giai cấp, tầng lớp mới xuất hiện, những giai cấp, tầng lớp cũ cũng bắt đầu

chuyển hóa Giai cấp vô sản Việt Nam đã ra đời cùng với sự phát triển của nền

công nghiệp Giai cấp này thậm chí còn ra đời trước cả giai cấp tư sản bản xứ Họ chủ yếu xuất thân từ nông dân, trở thành người công nhân làm thuê theo những con đường khác nhau, hoặc do không còn tư liệu sản xuất nên buộc phải trở thành người làm thuê trong các đồn điền, hầm mỏ, xí nghiệp, hoặc đi làm thuê theo mùa vụ, hoặc do bị cưỡng bức Giai cấp công nhân ngày càng gia tăng về số lượng, cùng với

sự phát triển của nền công nghiệp Đặc biệt, từ sau chiến tranh thế giới, công nhân Việt Nam ngày càng đông đảo Giai cấp công nhân nước ta đã sớm có tinh thần đấu tranh, những cuộc bãi công, đình công đã sớm đi liền với từng bước phát triển của

giai cấp này Bên cạnh đó, giai cấp tư sản Việt Nam cũng bắt đầu hình thành, dù

muộn hơn giai cấp vô sản bản xứ, vì họ không có những tiền đề kinh tế từ trước, phải trải qua quá trình tích lũy vốn, kinh nghiệm sản xuất, phát triển sản xuất Trong những năm 20 của thế kỷ XX, giai cấp tư sản Việt Nam, tuy có những bước phát triển rõ rệt, nhưng trên thực tế, vẫn phải chịu lép vế so với tư sản Pháp và tư sản Hoa kiều Phạm vi kinh doanh của họ còn hẹp, vốn ít, lại chịu ảnh hưởng ít nhiều của tư tưởng cũ, nên các nhà tư sản Việt Nam hầu như không có được một thế lực ngang bằng với tư sản nước ngoài Bên cạnh bộ phận tư sản mại bản gắn quyền lợi của mình với quyền lợi của thực dân, những nhà tư sản dân tộc Việt Nam thời kỳ này đã thể hiện tinh thần yêu nước của mình, dùng hoạt động kinh doanh để hỗ trợ cho phong trào duy tân đất nước Một hệ quả quan trọng khác của cuộc khai thác

thuộc địa là sự ra đời và lớn mạnh nhanh chóng của tầng lớp tiểu tư sản, đặc biệt là

tiểu tư sản trí thức, như viên chức, học sinh, sinh viên Chính tầng lớp này đã có

Trang 26

điều kiện tiếp xúc với nhiều tư tưởng tiến bộ bên ngoài và góp phần truyền bá những tư tưởng ấy cho quần chúng Bên cạnh những sự xuất hiện của những giai cấp, tầng lớp mới, những giai cấp, tầng lớp cũ cũng chuyển hóa sâu sắc Bất chấp

việc các thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa có những bước tiến mạnh mẽ, giai cấp

địa chủ không hề bị suy giảm, mà trái lại, còn được củng cố và phát triển mạnh hơn

Sự tích tụ, tập trung ruộng đất trên quy mô lớn đã làm xuất hiện một bộ phận đại địa chủ, sở hữu hàng trăm héc ta ruộng đất trong tay Họ vẫn duy trì phương thức bóc

lột cũ, với việc đem ruộng đất phát canh thu tô Trong khi đó, nông dân vẫn là giai

cấp chiếm đại đa số trong xã hội, khoảng 90% dân số Giai cấp nông dân Việt Nam

bị bóc lột nặng nề, đời sống rất thấp kém, bấp bênh Một bộ phận không nhỏ trong giai cấp này bị bần cùng hóa, trở thành nguồn cung cấp lao động làm thuê cho các đồn điền, hầm mỏ Tuy vậy, không phải lúc nào họ cũng có được việc làm Điều này khiến người nông dân Việt Nam rơi vào một cuộc sống bế tắc, không lối thoát Như vậy, đến đầu thế kỷ XX, bộ mặt xã hội nước ta đã có những biến chuyển sâu sắc Một cơ cấu xã hội mới hình thành và phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa, tuy sự phân hóa còn thiếu triệt để và vẫn tồn tại đan xen những giai cấp, những quan hệ cũ mới Mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp, trong bối cảnh đất nước thời đó, đều có những cách ứng xử, những hướng đi khác nhau, phù hợp với quyền lợi của họ Điều này khiến cho những phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân Việt Nam trong những thập niên đầu thế kỷ XX trở nên hết sức đa dạng

Những biến đổi trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội tất yếu kéo theo những biến đổi trong nền văn hóa Việt Nam Trong thế kỷ XIX, nền văn hóa Việt Nam, ngay cả khi thực dân Pháp thiết lập nền cai trị ở nước ta, nhìn chung vẫn là một nền văn hóa cổ truyền với sự thống trị của Nho giáo Tuy nhiên bước sang đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp, cùng với quá trình khai thác thuộc địa, đã từng bước tạo nên những chuyển biến lớn trong nền văn hóa Việt Nam Vị trí của Nho giáo ngày càng suy giảm, dù cho triều đình phong kiến nhà Nguyễn vẫn duy trì sự tồn tại của

nó Sự phê phán Nho giáo từ cả phía các nhà Nho tiến bộ và tầng lớp trí thức Tây học xuất hiện, trong khi đáp lại sự phê phán đó, lại là một thái độ dửng dưng của tầng lớp cựu học Chính Phạm Quỳnh cũng đã thừa nhận rằng: “Và nếu gần đây, một nhà Nho nước Nam, theo gót các đồng nghiệp của ông ta ở nước “Trung Hoa trẻ”, đã thử viết ra bản án Khổng Tử và Khổng giáo, thì hình như ông ta cũng chẳng

Trang 27

mấy khiến độc giả chú ý; chẳng có ai tán đồng cũng chẳng có ai phản đối; và tôi rất nghi rằng các bài báo của ông, tuy được viết với văn phong và tư liệu khá công phu, cũng có số người đọc ngang với mẩu tin bé tẹo nói về chiến công của chàng vô địch quần vợt được tất cả báo chí tiến bộ xếp lên hàng anh hùng dân tộc” [79, tr.172] Hơn nữa, nền giáo dục và khoa cử Nho học cũng dần dần bị thực dân Pháp thay thế Thực ra, ban đầu, thực dân Pháp chủ trương duy trì nền học cũ với chế độ khoa cử Nhưng rồi họ nhận ra chính những vùng đất có truyền thống Nho học lại là những nơi có sự phản kháng mạnh mẽ nhất, nên dần dần, nền giáo dục và khoa cử Nho học

bị bãi bỏ Khoa thi cuối cùng năm 1919 đã chấm dứt sự tồn tại ngót nghìn năm của nền khoa cử Nho học, và cùng với nó, hệ thống trường đào tạo quan lại theo Nho giáo cũng bị thay thế bởi những trường đào tạo quan chức theo mô hình người Pháp đặt ra Bên cạnh đó, một hệ thống các trường Pháp – Việt ở các cấp học được xây dựng và phát triển Nền giáo dục cũ đã được thay thế bởi một nền giáo Tây học Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, mục đích của hệ thống giáo dục mới do người Pháp xây dựng không nằm ngoài mục tiêu đào tạo nên một đội ngũ công chức phục vụ cho bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam, một lớp người biết tiếng Pháp, có thể giao tiếp với người Pháp, có thể làm những công việc trong bộ máy hành chính,

và trung thành với nền cai trị của thực dân Kết quả là nó đã tạo nên một lớp người không nhỏ dường như đứt đoạn với quá khứ, với truyền thống của dân tộc, những

“ông Tây An Nam”, những người “hủ Tây”, thay cho những người “hủ Nho” trước kia Nhưng ở khía cạnh khác, hệ thống trường học này cũng đã góp một phần đáng

kể vào việc hình thành nên một đội ngũ trí thức mới người Việt, những người có điều kiện, có khả năng tiếp nhận nền văn hóa Tây phương

Cùng với giáo dục, báo chí cũng trở thành một nhân tố quan trọng góp phần tạo điều kiện cho sự tiếp xúc văn hóa ở Việt Nam Báo chí đã xuất hiện ở Việt Nam sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, từ những năm 60 của thế kỷ XIX Những

tờ báo đầu tiên ra đời ở Việt Nam là những tờ báo tiếng Pháp, như Bulletin officiel

de l’Expédition de Cochinchine (Tập kỷ yếu công vụ cuộc viễn chinh xứ Nam Kỳ),

Le Courrier de Saigon (Tin Sài Gòn)… Những tờ báo này hướng đến đối tượng

chính là người Pháp ở Việt Nam, như những sĩ quan và viên chức thuộc địa Ảnh hưởng của nó đến văn hóa Việt Nam, do đó, còn chưa đáng kể Phải đến năm 1865,

Gia Định báo, tờ báo đầu tiên bằng chữ quốc ngữ mới ra đời, mở đầu cho sự phát

Trang 28

triển của báo chí Việt Nam Trong thời gian tiếp theo cho đến trước chiến tranh thế

giới thứ nhất, một số tờ báo tiếng Việt khác lần lượt ra đời như Phan Yên báo, Nông

Cổ Mín Đàm… ở Nam Kỳ, Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo, Đại Việt tạp chí, Đăng

Cổ Tùng Báo, Đông Dương tạp chí… ở Bắc Kỳ Sự phát triển nhanh chóng của báo

chí đã tạo những tiền đề quan trọng để năm 1917, Nam Phong tạp chí, do Phạm

Quỳnh làm chủ bút, ra số đầu tiên Cũng như phần lớn báo chí ở Việt Nam thời đó,

Nam Phong là tờ báo do người Pháp lập ra Mục đích của thực dân Pháp khi lập ra

tờ báo này là tuyên truyền cho đường lối cai trị của Pháp ở Việt Nam, cho chủ nghĩa

“Pháp – Việt đề huề” Nhưng ở một khía cạnh khác, dưới sự dẫn dắt của Phạm

Quỳnh, Nam Phong, với tính cách một tạp chí có tính bách khoa, bao gồm cả phần

chữ quốc ngữ, chữ Hán và phụ trương tiếng Pháp, đã trở thành một công cụ phục vụ đắc lực cho việc phổ biến kiến thức, phát triển văn hóa thời bấy giờ Nhiều tư liệu văn hóa của nó, đến nay vẫn còn được tham khảo

Nói đến sự tiếp xúc văn hóa ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, cũng không thể không nhắc đến sự du nhập và truyền bá của chủ nghĩa Marx – Lenin vào nước ta,

gắn với vai trò của Nguyễn Ái Quốc Ngay từ năm 1920, sau khi đọc bản Sơ thảo

lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lenin đăng trên

báo Nhân đạo, Nguyễn Ái Quốc đã tìm được con đường cứu nước cho mình Sau đó,

kể từ năm 1921 trở đi, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp tục bổ sung, hoàn thiện tư tưởng cứu nước của mình, đồng thời tích cực truyền bá chủ nghĩa Marx – Lenin vào trong nước nhằm chuẩn bị tiền đề về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của chính đảng tiên phong ở Việt Nam Trong thời gian sang Pháp năm 1922, Phạm Quỳnh đã gặp Nguyễn Ái Quốc và một số người Việt Nam yêu nước khác Mặc dù giữa họ không đạt được sự thống nhất về đường lối, nhưng theo những tư liệu lịch sử còn lại, trong đó có cả du ký của Phạm Quỳnh (chúng tôi sẽ đề cập dưới đây), đó vẫn là những cuộc gặp gỡ không phải của những người đối địch nhau, mà là giữa những người cùng trăn trở với vận mệnh của dân tộc nhưng không tìm được tiếng nói chung Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, trở thành lực lượng lãnh đạo cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam Và trong bối cảnh nước ta lúc bấy giờ, những người cộng sản cũng phải đối mặt với vấn đề xây dựng nền văn hóa mới cho dân tộc Đề cương văn hóa 1943 chính là cương lĩnh cho một đường lối, một khuynh hướng xây dựng văn hóa ở nước ta trong thời đoạn rối ren lúc bấy

Trang 29

giờ: đường lối văn hóa Marxist Đây là một sự kiện đặc biệt quan trọng đối với đội ngũ trí thức nước ta đầu thế kỷ XX, cũng là một bước ngoặt đối với sự phát triển của nền văn hóa Việt Nam

Như vậy, bước sang thế kỷ XX, nền văn hóa Việt Nam đã đứng trước một cuộc va chạm với quy mô chưa từng thấy với văn hóa phương Tây, mà chủ yếu là văn hóa Pháp Nền văn hóa mới mẻ của phương Tây, bằng nhiều con đường khác nhau, đã đến với người dân Việt Nam, thổi một luồng gió mới vào văn hóa ở Việt Nam, gây ra những ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt đời sống, từ lề lối sinh hoạt đến

lề lối suy nghĩ Song mặt khác, nó cũng khiến nền văn hóa Việt Nam đứng trước một thách thức, nhất là ở các thành thị, đó là nguy cơ vong bản

Tóm lại, bối cảnh kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là một bối cảnh phức tạp: đất nước vẫn đang trong tình trạng thuộc địa, trong mọi mặt đời sống, những yếu tố cũ mới đan xen, thực dân Pháp đẩy mạnh bóc lột nhân dân Việt Nam, đồng thời tìm mọi cách xoa dịu sự phản kháng của quần chúng, bằng một số chính sách nhượng bộ, nới lỏng một số quyền lợi cho người bản xứ, đặc biệt là những người ở tầng lớp trên Điều này gây nên ở một số người ảo tưởng về việc có thể chung sống hòa bình với thực dân Pháp

để cầu tiến bộ, dựa vào Pháp để phát triển đất nước về mọi mặt, trong đó có văn hóa, thông qua đó để được trao trả độc lập Trong buổi giao thời, người Việt Nam ở các tầng lớp vẫn đang đi tìm cho mình con đường giải phóng, bằng nhiều cách khác nhau Bản thân nền văn hóa Việt Nam cũng đứng trước một thử thách Nền văn hóa

cũ đang lung lay, nền văn hóa mới chưa thành hình Những di sản của quá khứ đang được đưa ra xem xét lại không chỉ bởi lớp người theo Tây học mà còn bởi chính những Nho sĩ Văn hóa Tây phương bằng những con đường khác nhau được tiếp nhận một cách mạnh dạn nhưng nguy cơ mất gốc, thậm chí nô dịch về mặt văn hóa cũng vì thế hiện ra Nền văn hóa Việt Nam trong buổi giao thời cần phải mang diện mạo thế nào? Đó là một câu hỏi quan trọng, nhưng không dễ trả lời, đặt ra cho những ai quan tâm đến tương lai văn hóa dân tộc Đến tận năm 1938, khi viết cuốn

Việt Nam văn hóa sử cương, Đào Duy Anh cũng phải cho rằng “chưa thể tìm ra một

đáp án nhất quyết được” [1, tr.375] Và tác giả Đào Duy Anh đã dựa trên những ý kiến đương thời mà chia ra ba khuynh hướng, ba con đường cho nền văn hóa Việt Nam Khuynh hướng thứ nhất là dung hợp văn hóa Đông – Tây theo tinh thần lấy

Trang 30

văn hóa cũ làm thể, lấy văn hóa mới làm dụng; khuynh hướng thứ hai là hoàn toàn học theo phương Tây; và khuynh hướng thứ ba là phải gây dựng một nền văn hóa hoàn toàn mới mẻ Phạm Quỳnh chính là người theo khuynh hướng thứ nhất vậy Tất nhiên, nói dung hợp văn hóa Đông – Tây, kỳ thực không phải chỉ có một con đường duy nhất Dung hợp như thế nào, bằng cách thức nào, bằng biện pháp nào? Phải giữ lấy cái gì, phát huy cái gì, bỏ đi cái gì, tiếp thu cái gì? Không phải tất cả đều chung một ý kiến Nhưng trong giai đoạn tân cựu đan xen, đất nước còn trong vòng nô lệ, tất nảy sinh ra nhiều khuynh hướng tìm đường cho văn hóa dân tộc bước tiếp khác nhau Đó cũng là lẽ thường vậy Tư tưởng về vấn đề xây dựng nền văn hóa dân tộc của Phạm Quỳnh ra đời ngay trong chính bối cảnh đó, đã đem đến một cách nhìn, một cách giải quyết cho yêu cầu mà thời đại đặt ra

1.1.2 Tiền đề tư tưởng

Phạm Quỳnh sống trong một giai đoạn đặc biệt của lịch sử, giai đoạn chứng kiến sự chuyển giao giữa cái cũ và cái mới, sự va chạm giữa phương Đông và phương Tây Điều này đã làm nên một diện mạo đặc biệt cho tư tưởng Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX Sự gặp gỡ giữa những luồng tư tưởng truyền thống và canh tân, phương Đông và phương Tây đã có ảnh hưởng đến hầu hết các nhà trí thức cả cựu học lẫn tân học ở Việt Nam lúc đó Đối với Phạm Quỳnh, điều này còn thể hiện rõ hơn khi ông xuất thân từ một gia đình có truyền thống Nho học, rất có ý thức tự đào tạo về văn hóa dân tộc, nhưng bản thân lại được đào tạo bởi một nền giáo dục Tây học Vì vậy, khi nói đến những tiền đề tư tưởng cho sự hình thành tư tưởng của Phạm Quỳnh nói chung, tư tưởng của ông về vấn đề xây dựng nền văn hóa dân tộc nói riêng, cần phải đề cập đến những nền tảng tư tưởng ở Việt Nam từ truyền thống với học thuyết Nho giáo cho đến những trào lưu tư tưởng mới đầu thế

kỷ XX, tư tưởng cải cách ở một số nước Đông Á cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX,

và bên cạnh đó là tư tưởng triết học Pháp cận, hiện đại, với Descartes, các nhà Khai sáng cùng với nhà triết học hiện đại Bergson

* Tư tưởng ở Việt Nam từ truyền thống đến đầu thế kỷ XX

Cho đến trước khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, cốt lõi tư tưởng dân tộc đã dung hợp với những học thuyết có tầm ảnh hưởng quan trọng nhất ở nước ta trong suốt nghìn năm là Nho giáo, Phật giáo và Đạo gia Đến khi thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, những tư tưởng truyền thống đó đều tỏ ra bất lực trước yêu

Trang 31

cầu của thời đại, nhưng chúng vẫn có một tầm ảnh hưởng nhất định đối với tầng lớp trí thức ở nước ta Phạm Quỳnh tuy theo Tây học từ nhỏ, nhưng xuất thân trong gia đình Nho học, nên cũng chịu ảnh hưởng rất sâu đậm của Nho giáo

Nho giáo là một học thuyết triết học, một học thuyết đạo đức, chính trị, xã hội ra đời ở Trung Hoa từ thời cổ đại, với người sáng lập là Khổng Tử Đây là học thuyết có tầm ảnh hưởng văn hóa quan trọng bậc nhất ở Trung Hoa và những nước Đông Á, trong đó có Việt Nam Nó là nền tảng tư tưởng của chế độ phong kiến, là học thuyết thống trị hàng ngàn năm ở những nước này Nho giáo, về đại thể, có hai phần, một phần là hình nhi thượng, tức là phần siêu hình học, bàn những vấn đề liên quan đến bản thể luận, và phần kia là hình nhi hạ, bàn về các vấn đề liên quan đến nhân sinh, lối sống, luân lý Trong đó, mối quan tâm hàng đầu của Nho giáo chính

là phần hình nhi hạ; ngay cả việc giải quyết vấn đề bản thể luận, ở Nho giáo, cũng

là để hướng đến chính những vấn đề của con người trong xã hội Chính vì vậy, Nho giáo chủ yếu là một học thuyết đạo đức, chính trị, xã hội Ở phần hình nhi thượng, Nho giáo trình bày một thế giới quan nghiêng về duy tâm Dù trong lịch sử, cũng có những nhà Nho có ít nhiều khuynh hướng duy vật như Tuân Tử, Trương Tái, nhưng khuynh hướng duy tâm vẫn là khuynh hướng chiếm ưu thế, được phần lớn các nhà Nho đề cập đến Đại để, các nhà Nho theo khuynh hướng này đều thừa nhận Trời là một lực lượng, một thực thể có nhân cách, có ý chí, có quyền năng vô hạn, sinh hóa vạn vật Trời, mệnh Trời chi phối tất thảy vạn vật, quyết định số phận của con người, đến bản tính con người cũng là do Trời phú cho Khổng Tử từng nói: “Đạo ta nếu được lưu hành, ấy cũng do nơi Mạng Trời Đạo ta nếu phải vong phế, ấy cũng do nơi Mạng Trời” [99, tr.233] Như vậy đủ biết Trời có một ý nghĩa đặc biệt trong quan niệm của các nhà Nho Sau này, các nhà Nho như Mạnh Tử, Đổng Trọng Thư, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy… tiếp tục phát triển quan niệm của Khổng Tử, tuy có những bổ sung, lý giải sâu sắc hơn, nhưng về cơ bản, họ vẫn là những nhà Nho duy tâm khi bàn những vấn đề liên quan đến bản thể luận Quan niệm về con người, về

xã hội, tức phần hình nhi hạ, mới là mối quan tâm hàng đầu của các nhà Nho Nho giáo chỉ cho con người cách tu dưỡng bản thân, xây dựng nên một hệ thống những phạm trù đạo đức, những mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau trong xã hội giữa con người với con người Các nhà Nho đặt ra những chuẩn mực đạo đức buộc con người phải theo, như nhân, lễ, nghĩa, trí… Họ lại hệ thống hóa những mối quan hệ xã hội

Trang 32

trong tam cương (quân – thần, phụ - tử, phu – phụ), hay ngũ luân (thêm huynh – đệ, bằng hữu), quy định mỗi người trong từng mối quan hệ cần phải đáp ứng những yêu cầu nhất định về đạo đức Ở Nho giáo nguyên thủy, các mối quan hệ này còn được nhìn nhận một cách khá mềm dẻo, hai chiều, nhưng từ đời Hán trở đi, nó trở nên cứng nhắc, một chiều, có phần khắc nghiệt Nho giáo đã được truyền vào Việt Nam

từ thời Bắc thuộc, theo chân quân xâm lược phương Bắc Ban đầu nó chưa được đón nhận, thậm chí, ở những triều đại đầu tiên ở Việt Nam thời kỳ tự chủ, nó còn không được coi trọng bằng Phật giáo Nhưng dần dần, do nhu cầu củng cố nhà nước quân chủ trung ương tập quyền, nó càng ngày càng được đề cao, và đến triều Hậu

Lê, nó đã chính thức chiếm được địa vị thống trị Sau đó, trải qua một thời gian dài khủng hoảng trong khoảng thế kỷ XVI – XVIII, Nho giáo một lần nữa khẳng định

vị trí của mình dưới triều nhà Nguyễn trong thế kỷ XIX Nhưng khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, Nho giáo càng ngày càng suy sụp Nếu như trước kia, nó là công

cụ hữu hiệu cho sự duy trì trật tự trong xã hội của nhà nước phong kiến, thì nay nó lại tỏ ra bất lực trước những biến động của thời cuộc Nho giáo bắt đầu hứng chịu

sự phê phán không chỉ bởi lớp trí thức tân học, mà cả lớp trí thức cựu học

Phạm Quỳnh tuy không được đào tạo theo nền giáo dục Nho học, nhưng lúc sinh thời, ông vẫn thường tự nhận mình là một nhà Nho Nho giáo đã có ảnh hưởng khá sâu đậm đến con người và tư tưởng của ông Trên thực tế, tuy nhiều lần ông phê phán những hạn chế của Nho giáo, đặc biệt là những hạn chế của nền giáo dục, khoa cử Nho học, nhưng Phạm Quỳnh vẫn coi trọng và tán thành những điểm căn bản trong quan niệm đạo đức của Nho giáo Thậm chí, ông còn là người chủ trương phục hưng đạo đức Nho giáo và sử dụng nó như là nòng cốt của nền văn hóa mới

Bước sang cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cùng với những thay đổi của thời cuộc ở cả trong nước và trên thế giới, tư tưởng Việt Nam đã có những biến chuyển sâu sắc Ở trong nước, những học thuyết cũ đã từng đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần ở Việt Nam, như Nho giáo, Phật giáo dần tỏ ra bất lực trước yêu cầu của thời cuộc Trong khi đó, ở bên ngoài, các nước láng giềng với Việt Nam như Trung Hoa, Nhật Bản đều đã thức tỉnh Nhật Bản đã có một cuộc Duy tân Minh Trị làm thay đổi diện mạo đất nước, đưa nước Nhật từ một nước có cùng cảnh ngộ như các nước Đông Á khác trở thành một cường quốc Còn ở Trung Hoa, phong trào Duy tân với những tư tưởng mới mẻ của Khang Hữu Vi, Lương

Trang 33

Khải Siêu, Đàm Tự Đồng, tuy thất bại song cũng gây ảnh hưởng lớn đến khu vực Những phong trào tư tưởng đó đã dội về Việt Nam, tác động không nhỏ đến những người Việt Nam yêu nước thời đó Người trí thức Việt Nam cũng đã tìm cho mình một hướng đi theo tư tưởng mới, theo các phong trào Duy tân, Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, thay vì chỉ cố chấp giữ lấy những tư tưởng cũ Sự giao lưu văn hóa Đông – Tây đã được thể hiện rõ nét ở các nhà tư tưởng Việt Nam thời kỳ này Thực ra, trước đó, sự giao lưu văn hóa Đông – Tây đã xuất hiện cùng với tiếp xúc với văn hóa phương Tây ở Việt Nam từ thế kỷ XVI, XVII Nhưng khi đất nước còn độc lập, vấn đề học hỏi phương Tây không được đặt ra ở cấp độ lý luận Đến khi đất nước bị uy hiếp bởi sự xâm lược của thực dân Pháp, nhiều người Việt Nam như Nguyễn Trường Tộ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Lộ Trạch đã đề xuất chủ trương canh tân đất nước, và đặt ra yêu cầu học hỏi phương Tây Nhưng khi đó, sức cản từ phía những quan điểm bảo thủ vẫn còn lớn, nên phạm vi nhận thức sự giao lưu văn hóa Đông – Tây còn hạn chế, người Việt Nam khi đó, chủ yếu biết đến phương Tây qua những thành tựu khoa học mới lạ của họ, còn tư tưởng phương Tây thì chưa có mấy người tường tận Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, do những biến chuyển của tình hình trong nước và quốc tế, sự giao lưu văn hóa có điều kiện được mở rộng, tạo nên những thay đổi lớn trong nhận thức tư tưởng của tầng lớp trí thức Việt Nam Thông qua những “tân văn”, “tân thư” được truyền từ bên ngoài vào, họ được biết đến những nhà tư tưởng phương Tây như Montesquieu, Rousseau, Spencer… Một làn sóng cải cách, duy tân đất nước được dấy lên với những tên tuổi lớn như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Lương Văn Can…

Họ vạch ra những con đường khác nhau cho dân tộc, nhưng đều gặp nhau ở chỗ thấy được tính tất yếu của việc duy tân đất nước, cải cách nền văn hóa dân tộc, học tập phương Tây từ khoa học cho đến tư tưởng dân chủ để phát triển đất nước Tư tưởng của những nhà cải cách tiên phong ấy đã tạo nên tiền đề cho Phạm Quỳnh tiếp tục xây dựng nên tư tưởng của mình Nhiều vấn đề như vấn đề tiếp thu văn hóa phương Tây, bảo tồn văn hóa dân tộc hay phát triển chữ quốc ngữ, thực ra cũng đều được những nhà Nho yêu nước bàn đến rồi, để sau này, Phạm Quỳnh, từ điểm nhìn của một trí thức Tây học, tiếp tục kiến giải và phát triển thêm

* Tư tưởng cải cách ở một số nước Đông Á cuối thể kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

Trang 34

Cùng với tư tưởng phương Tây, những tư tưởng cải cách ở một số nước Đông Á những năm cuối thể kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cũng dội vào Việt Nam, và có tầm ảnh hưởng nhất định đến tư tưởng của Phạm Quỳnh Trong đó, ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến ông chính là tư tưởng cải cách ở Nhật Bản Nhật Bản thời đó có ảnh hưởng lớn đến không chỉ Việt Nam, mà còn có tầm ảnh hưởng trong nhiều nước khác ở khu vực Đông Á, đặc biệt là sau khi họ chiến thắng trong chiến tranh Nga – Nhật (1904 – 1905) Từ xuất phát điểm là một đất nước phong kiến lạc hậu,

để có được chiến thắng đó, nước Nhật đã phải tiến hành một cuộc cải cách toàn diện trên khắp các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đó là cuộc cải cách Minh Trị

Về kinh tế, Nhật Bản tập trung vào phát triển công nghiệp nặng, đặc biệt là công nghiệp quân sự, đồng thời phát triển công nghiệp nhẹ một cách tương ứng Những ngành công nghiệp cần đầu tư lớn được Nhà nước trực tiếp quản lý, nhưng khi cần thiết, Nhà nước sẵn sàng chuyển giao lại những nhà máy cho tư nhân Cả công nghiệp quốc doanh và công nghiệp tư nhân đều được chú ý Trong nông nghiệp, Chính phủ cho phép mua bán ruộng đất và tự do kinh doanh nông sản Điều này đã kích thích sự phát triển của nông nghiệp, thúc đẩy sự phát triển của thị trường tiêu thụ hàng hóa Có thể nói, những chính sách kinh tế đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho

sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nhật Bản Về chính trị, nước Nhật tiến hành cải cách dân chủ trong khuôn khổ giữ lại quyền lực của vương triều theo mô hình quân chủ lập hiến Theo đó, Minh Trị đã thành lập một bộ máy chính quyền gồm Hữu viện, là cơ quan hành pháp, và Tả viện, là cơ quan lập pháp Chính quyền Minh Trị cũng tuyên bố xóa bỏ đẳng cấp, cũng như xóa bỏ nhiều quy định khắt khe vẫn tồn tại ở nước Nhật trước đó Về đối ngoại, một mặt, chính quyền Nhật Bản theo đuổi chính sách giành quyền bình đẳng, xóa bỏ các điều ước thua thiệt mà họ đã ký với các nước tư bản phương Tây, mặt khác, họ tiến hành mở rộng chiến tranh xâm lược

ra bên ngoài, đối với những nước láng giềng trong khu vực Về văn hóa, giáo dục, Nhật Bản chủ trương học hỏi phương Tây, phát triển giáo dục theo hướng thực dụng, phục vụ cho mục đích phú quốc cường binh Khẩu hiệu “Học tập phương Tây, đuổi kịp phương Tây, đi vượt phương Tây” được đưa ra Nhiều tạp chí phổ biến các thành tựu khoa học phương Tây đã được xuất bản bởi hội truyền bá kiến thức phương Tây Tuy nhiên, Nhật Bản cũng chủ trương học phương Tây trên cơ sở duy trì bản sắc dân tộc Ngay từ cấp học nhỏ, trẻ em Nhật Bản đã được chú trọng giáo

Trang 35

dục luân lý và lòng yêu nước Hệ thống giáo dục ở tất cả các cấp, bên cạnh việc dạy những môn khoa học phương Tây và ngoại ngữ, những nội dung truyền thống cũng

được đưa vào giảng dạy Nhiều trường trung học ở Nhật Bản vẫn dạy Luận Ngữ,

Đại học, Trung Dung Nói chung, đó là một hệ thống giáo dục mà như Phạm Quỳnh

nhận định, là “đi theo xu hướng chung là điều hòa tinh thần Âu Á” [80, tr.427] Có thể thấy, phong trào cải cách ở Nhật Bản là một phong trào cải cách toàn diện, diễn

ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nó đã giúp Nhật Bản từ chỗ đứng trước nguy cơ chịu chung số phận thuộc địa như các nước láng giềng trở nên một cường quốc Điều này đã tạo nên một sức hút đặc biệt đối với những nhà tư tưởng ở các nước Đông Á, họ hướng về Nhật như hướng về một tấm gương, có thể dẫn dắt đất nước mình đến chỗ giàu mạnh Ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, đã có một phong trào hướng về nước Nhật, đưa người sang Nhật để học tập, đó là phong trào Đông Du Còn Phạm Quỳnh nhìn thấy ở Nhật Bản một “tấm gương”, một hình mẫu Phạm Quỳnh từng có những bài viết phân tích nguyên nhân thành công của công cuộc duy tân ở Nhật Bản, giới thiệu và phân tích khá cặn kẽ về hệ thống giáo dục của Nhật Bản, để từ đó rút ra những kinh nghiệm cho mình Ông đã nhận thấy từ đó một bài học, đó là sự kết hợp giữa quá khứ và hiện tại, phương Đông và phương Tây, và “học lấy bài học đó, được hỗ trợ bằng tinh thần tự do của nước Pháp, chúng

ta có thể làm việc cho công cuộc phục hưng của dân tộc ta, nếu trong một tầm nhìn sáng suốt về tương lai chúng ta biết kết hợp quá khứ với hiện tại trong một tổng hợp giàu sức sinh sôi” [80, tr.232]

Cùng với tấm gương Nhật Bản, phong trào duy tân ở Trung Hoa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cũng ít nhiều ảnh hưởng đến Phạm Quỳnh Khác với cuộc duy tân Minh Trị ở Nhật Bản, phong trào Duy tân ở Trung Quốc không có được sự ủng

hộ từ những người nắm quyền lực trong nước, nhưng bằng sự nỗ lực của mình, các nhà duy tân Trung Hoa cũng đã lập ra được những tổ chức để phục vụ cho mục đích

của mình Khang Hữu Vi đã lập ra báo Trung ngoại kí văn (7/1896), tổ chức Cường

học hội (8/1896), cùng Lương Khải Siêu và nhiều người khác trong phái Duy tân đi

tuyên truyền diễn thuyết ở khắp nơi Các nhà duy tân Trung Hoa cũng đã đưa ra được những chủ trương, biện pháp cải cách khá toàn diện, trên nhiều lĩnh vực Về kinh tế, họ chủ trương bảo hộ và khuyến khích công thương nghiệp, xây dựng xưởng chế tạo và để thương nhân được tự do lập xưởng; khuyến khích phát minh

Trang 36

khoa học kỹ thuật đồng thời với việc du nhập, học hỏi kỹ thuật phương Tây; xây dựng đường sắt, tiến hành khai mỏ… Về chính trị, họ chủ trương loại bỏ quan lại tham nhũng, cho phép mọi người được tham gia ý kiến với triều đình về những vấn

đề khác nhau, xây dựng chế độ chính trị trên nguyên tắc “Hán Mãn bất phân, quân dân cộng trị” Về quân sự, họ chủ trương xây dựng quân đội theo mô hình phương Tây, lập xưởng chế tạo súng đạn Về văn hóa – giáo dục, họ chủ trương lập trường học theo kiểu phương Tây, cải cách thi cử, cho người đi học ở nước ngoài, mở nhà

in, in sách báo… Những chủ trương này được vua Quang Tự ủng hộ, nhưng lại bị phái thủ cựu do Từ Hy Thái hậu đứng đầu phản ứng rất quyết liệt Phái này không chỉ chống đối cải cách, mà còn muốn dựa vào quyền lực chính trị và quân sự của mình để lật đổ phái Duy tân Sự đe dọa ngấm ngầm từ phía phái thủ cựu đã khiến những người duy tân đẩy nhanh những hoạt động cải cách, dẫn đến sự kiện “Bách nhật duy tân” (11/6/1898 – 21/9/1898) Trong cuộc chính biến đó, Khang Hữu Vi

đã đề nghị vua Quang Tự thực hiện lập tức ba việc: thứ nhất, lập bộ tham mưu gồm những người duy tân để thay thế chính quyền thủ cựu, làm chỗ dựa cho công cuộc cải cách; thứ hai, đổi niên hiệu thành “Duy tân nguyên niên” để gây thanh thế; thứ

ba, rời đô về Thượng Hải để tạo điều kiện cho sự phát triển của phái duy tân Nhưng rốt cuộc, không một điều nào có cơ hội để được hiện thực hóa Cuộc vận động thất bại với việc vua Quang Tự và những người duy tân bị ra lệnh bắt Quang Tự sau đó

bị truất ngôi, một số lãnh tụ phong trào Duy tân, trong đó có Đàm Tự Đồng bị giết hại, Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu phải trốn sang Nhật Ở đây, các ông vẫn tiếp tục có những hoạt động tích cực để theo đuổi mục đích của mình Những hoạt động và tác phẩm của họ ở Nhật trong những năm đầu thế kỷ XX vẫn tiếp tục có ảnh hưởng lớn đến quá trình cải cách ở Trung Hoa, và cả Việt Nam Bản thân Phạm Quỳnh vẫn tự nhận mình chịu ảnh hưởng của Lương Khải Siêu: “Chính tôi cũng

nhớ lại ấn tượng sâu sắc khi đọc tác phẩm Trung Quốc hồn của Lương Khải Siêu

cách đây hai mươi năm Không có tác phẩm phương Tây nào từng gây cho tôi một

ấn tượng tương tự” [80, tr.235] Ông nhận ra lý tưởng mà các nhà duy tân Trung Hoa đang theo đuổi: “Chấn hưng nước Trung Hoa bằng cách làm cho nó ý thức được tính chất dân tộc của mình và mượn lấy của Phương Tây những gì nó còn thiếu, đó là ước mơ của những con người ấy” [80, tr.236] Nếu thay chữ Trung Hoa bằng chữ Việt Nam, thì đó cũng chính là “ước mơ” của Phạm Quỳnh vậy

Trang 37

* Tư tưởng triết học Pháp cận, hiện đại

Bên cạnh ảnh hưởng từ những tư tưởng truyền thống, Phạm Quỳnh, cũng như nhiều trí thức Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng phương Tây, mà chủ yếu là tư tưởng Pháp Phạm Quỳnh là một trí thức Tây học, nên ảnh hưởng này còn sâu đậm hơn Chính ông từng thừa nhận rằng: “Tôi rất cảm phục văn hóa nước Pháp; trong cái sự nghiệp trí dục của tôi, tôi sở đắc của văn chương học thuật nước Pháp nhiều Tôi không có bội bạc mà nói rằng tinh thần nước Pháp không có ảnh hưởng gì đến tư tưởng riêng của tôi” [72, tr.107] Trong số những nhà tư tưởng Pháp mà Phạm Quỳnh biết đến, có thể thấy ông chịu ảnh hưởng

từ R Descartes, các nhà khai sáng Pháp và H Bergson

Descartes là một triết gia lớn thời cận đại, mà Phạm Quỳnh luôn rất coi trọng Xuất phát điểm của triết học Descartes được thể hiện qua mệnh đề nổi tiếng của ông:

“Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại” Đây là nền tảng để Descartes xây dựng nên siêu hình học và phương pháp luận của mình Trong siêu hình học của mình, Descartes đã dựa trên phương thức chứng minh sự tồn tại của các sự vật theo tinh thần của mệnh

đề này để lập luận về sự tồn tại của Thượng đế Thượng đế, theo ông, là có thực, bởi

vì mọi người, theo cách này hay cách khác, đều có ý tưởng về Thượng đế Và chính nhờ có Thượng đế mà mọi vật mới tồn tại và phát triển Nhưng các sự vật, hiện tượng do Thượng đế sáng tạo ra không phải đều giống nhau, Descartes phân các sự vật, hiện tượng vào hai dạng thực thể: thực thể tư duy và thực thể quảng tính Thực thể tư duy bao gồm toàn bộ các ý niệm, tư tưởng, tổng số các ý thức cá nhân của con người; thực thể quảng tính bao gồm những sự vật mang tính không gian và thời gian Thực thể là một thế giới độc lập hoàn toàn, tự nó có thể tồn tại và phát triển

mà không liên quan đến cái khác, nhưng cả hai thực thể này đều phụ thuộc vào Thượng đế Nói chung, siêu hình học của Descartes thể hiện rất rõ lập trường nhị nguyên luận của ông Cũng từ nguyên lý “Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại”, Descartes đã xây dựng nên phương pháp luận của mình Ồng nhận ra và đề cao vai trò của phương pháp trong nhận thức của con người: “nếu chỉ có lý tính tốt thì chưa đủ, mà chủ yếu là phải áp dụng nó tốt Một linh hồn vĩ đại nhất có thể đem lại những điều nhảm nhí nhất, nhưng cũng có thể đem lại những điều tốt lành nhất, và những người nào, dù đi rất chậm, nhưng nếu anh ta đi đường thẳng, vẫn có thể vượt xa so với những ai mặc dù chạy nhưng lại không đi theo con đường thẳng đó” [ Dẫn theo 107,

Trang 38

tr.302] Từ đó, ông muốn xây dựng một hệ thống phương pháp luận mới làm nền tảng cho sự phát triển của các khoa học Và ông đã chỉ ra bốn quy tắc cho phương pháp của mình Thứ nhất, chỉ coi là chân lý những gì được cảm nhận một cách rõ ràng, không gợi một chút nghi ngờ nào Thứ hai, chia mỗi sự vật phức tạp thành các

bộ phận cấu thành để tiện lợi nhất trong việc nghiên cứu chúng Thứ ba, trong quá trình nhận thức, phải xuất phát từ những điều đơn giản nhất, rồi mới dần đi đến những điều phức tạp hơn Thứ tư, phải xem xét đầy đủ mọi dữ kiện, không được bỏ sót một tư liệu nào trong quá trình nhận thức sự vật Quan điểm này của Descartes,

dù có tồn tại những hạn chế nhất định, những vẫn có giá trị quan trọng Ông nhận thấy những hạn chế của phương pháp truyền thống và tìm cách xây dựng một phương pháp luận mới đáp ứng sự phát triển của khoa học thời bấy giờ Ông đã nhận ra được vai trò của trí tuệ con người, của tư duy lý luận trong việc giải quyết vấn đề Những tư tưởng đó của ông đã có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của khoa học sau này Phạm Quỳnh là người đánh giá rất cao phương pháp luận của Descartes, ông xem nó như là giá trị quan trọng nhất của triết học Descartes: “Tuy học thuyết của ông đã có nhiều phần cũ rồi, không hợp với thời nay nữa, nhưng phương pháp của ông đặt ra để nghiên cứu triết lý thì thực là một công trình vĩ đại, một cái lâu đài trang nghiêm kiên cố, chưa dễ bao giờ lay chuyển được” [79, tr.203]

Và điều mà Phạm Quỳnh thu nhận được từ triết học Descartes, cũng chính là phương pháp luận của ông Phạm Quỳnh xem sự quan tâm đến phương pháp là một đặc trưng của tư duy, của văn hóa phương Tây, mà nhắc đến phương pháp, thì

không thể không nhắc đến Descartes với tác phẩm Bàn về phương pháp của ông:

“Như vậy phương pháp cần thiết để dẫn dắt tư duy cũng giống như nó cần thiết

trong mọi việc khác Thật vinh dự cho tác giả Bàn về phương pháp đã chứng minh

điều đó với một tài năng bậc thầy” [80, tr.267]

Bên cạnh đó, Phạm Quỳnh cũng chịu ảnh hưởng nhất định từ tư tưởng của các nhà Khai sáng Pháp, như S Montesquieu, J J Rousseau… Triết học Khai sáng Pháp thể kỷ thứ XVIII là một giai đoạn phát triển quan trọng trong lịch sử triết học phương Tây Triết học khai sáng là vũ khí lý luận của giai cấp tư sản Pháp thời kỳ cách mạng Các nhà khai sáng Pháp đã phê phán một cách mạnh mẽ siêu hình học

cũ, phê phán những quan niệm cũ về con người, đồng thời đề cập đến những vấn đề

tự do, bình đẳng và tiến bộ xã hội, qua đó thu hút, tập hợp các lực lượng tiến bộ

Trang 39

trong cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến ở phương Tây Những tư tưởng của các nhà Khai sáng Pháp có một tầm ảnh hưởng đặc biệt trong lịch sử tư tưởng Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Những đại biểu xuất sắc của triết học Khai sáng Pháp là Montesquieu, Rousseau Montesquieu là người đã xây dựng hoàn chỉnh quan niệm về nhà nước pháp quyền với mô hình tam quyền phân lập, gồm các

cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp Đây là cống hiến hết sức quan trọng của ông trong việc phát triển quan niệm về nhà nước pháp quyền trong lịch sử triết học phương Tây Bên cạnh đó, ông cũng bàn về những vấn đề tự do, bình đẳng Ông phê phán những chính thể chuyên chế và quân chủ, hướng đến một chính thể cộng hòa mà ở đó pháp luật được tôn trọng, có hiến pháp và các pháp quan dựa trên đó

mà xét xử Đó cũng là chính thể cho phép dân chúng hay một bộ phân dân chúng có quyền lực tối cao, thay vì quyền lực tập trung vào một người duy nhất Cũng như Montesquieu, Rousseau chủ yếu quan tâm đến các vấn đề xã hội Ông nhận ra một nghịch lý đang tồn tại, đó là con người vốn sinh ra tự do, nhưng nơi đâu cũng thấy con người bị gông cùm, xiềng xích Truy tìm nguyên nhân của tình trạng đó, Rousseau nhận ra rằng, chính sự phát triển kinh tế và các hình thái sở hữu là nguồn gốc đẻ ra mọi bất công trong xã hội Trên cơ sở đó, ông chia tiến trình phát triển lịch sử thành ba giai đoạn Trước nhất là trạng thái tự nhiên, giai đoạn mà ở đó con người bình đẳng với nhau, chưa có sự phân biệt đẳng cấp Tiếp đến là trạng thái công dân, xuất hiện do sự phát triển của trí tuệ con người và sở hữu tư nhân Đến giai đoạn này, xã hội cũng bắt đầu xuất hiện những áp bức, bất công Khi đó, xã hội

bị tha hóa, đối lập với bản chất tự nhiên của nó Rousseau coi chế độ phong kiến Pháp đương thời là sự tập trung mọi thứ xấu xa của trạng thái công dân và cho rằng, cần phải lật đổ nó Lật đổ được chế độ phong kiến đương thời, xã hội sẽ đạt đến giai đoạn lý tưởng của nó, trở về với trạng thái tự nhiên, nhưng ở một cơ sở cao hơn Mọi bất công bị xóa bỏ, chế độ dân chủ cộng hòa được thiết lập, chính quyền lập pháp thuộc về nhân dân và phục vụ toàn dân Có thể nói, những quan niệm của các nhà khai sáng Pháp, đến đầu thế kỷ XX, đã bị nhiều tư tưởng, học thuyết triết học khác vượt qua ở phương Tây, nhưng đối với người trí thức Việt Nam, những lý tưởng của nó vẫn còn nguyên sức hấp dẫn Nhưng Nho sĩ Việt Nam trước đây vốn chỉ biết Khổng, Mạnh, Trình, Chu, giờ đây nhắc đến cả Mạnh Đức Tư Cưu (Montesquieu), Lư Thoa (Rousseau)… Phạm Quỳnh có lợi thế hơn các Nho sĩ trước

Trang 40

ông, đó là ông được đào tạo Tây học, thông thạo Pháp văn, nên có điều kiện được biết đến các nhà khai sáng Pháp bằng chính tiếng Pháp Ông đã từng biên dịch những bài giới thiệu tư tưởng của Montesquieu, Rousseau, lại trích dịch nhiều tác

phẩm của Rousseu, đăng liên tiếp trong nhiều số của tạp chí Nam Phong Như vậy

đủ thấy các nhà khai sáng có một ảnh hưởng nhất định đến Phạm Quỳnh Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, dấu ấn của họ, trong tư tưởng của Phạm Quỳnh không quá đậm nét Thậm chí, mặc dù được biết đến các nhà khai sáng thông qua tài liệu tiếng Pháp, Phạm Quỳnh còn tỏ ra thụt lùi so với nhiều Nho sĩ vốn chỉ biết đến họ qua tài liệu tiếng Hán Phạm Quỳnh đề cao các nhà khai sáng, cổ động cho việc lập hiến pháp, nhưng ông chưa từng cổ vũ cho việc xây dựng một chính thể cộng hòa dân chủ, mà chỉ dừng lại ở mục đích thiết lập nền quân chủ lập hiến mà thôi

Cuối cùng, cần phải kể đến nhà triết học Pháp hiện đại H Bergson Bergson

là đại diện cho thuyết trực giác Khái niệm trung tâm của triết học Bergson là “tính kéo dài thuần túy”, tức tính kéo dài phi vật chất là cơ sở ban đầu của mọi tồn tại Vật chất, thời gian, vận động là những hình thức khác nhau của sự thể hiện “tính kéo dài” trong quan niệm của con người Và người ta chỉ có thể nhận thức được

“tính kéo dài” đó bằng trực giác, tức một sự hiểu thấu trực tiếp, bí ẩn mà trong đó hành vi nhận thức trùng hợp với hành vi sản sinh ra hiện thực Triết học Bergson là một học thuyết gây ảnh hưởng khá lớn đến tầng lóp trí thức Tây học Việt Nam đầu thế kỷ XX, và Phạm Quỳnh cũng không phải là ngoại lệ Phạm Quỳnh đã từng nói

về Bergson: “Ông là một nhà triết học trứ danh nhất trong thế giới bấy giờ Phàm người trí thức trong các nước, đều có chịu cảm hóa của tư tưởng ông” [79, tr.179] Chính Phạm Quỳnh, khi đề xuất ý tưởng về một nền văn hóa dân tộc trên cơ sở kết hợp văn hóa Đông – Tây, đã xem thuyết trực giác như một yếu tố tham gia vào việc cấu thành nền văn hóa mới, và người Việt Nam cần phải tiếp nhận: “Người Việt Nam sẽ học được của Pháp những phương pháp nghiên cứu phê bình đích đáng, kiêm cả cái trí tinh nhuệ (esprit de finesse) cùng cái trí khúc triết (espirit de géométri), đem cái luận trực giác (intuitionnisme) tuyển chuyển mà chế cho cái luận duy lý (rationalisme) nghiêm khắc” [67, tr.217]

Như vậy, Phạm Quỳnh chịu ảnh hưởng khá đậm nét từ những nhà triết học Pháp cận, hiện đại Ở mỗi nhà tư tưởng, Phạm Quỳnh nhận thấy những nét đặc sắc riêng, và ông tiếp thu nó, vừa để xây dựng thế giới quan cho mình, vừa để giới thiệu

Ngày đăng: 07/07/2015, 09:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2010), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thời đại
Năm: 2010
2. Phan Bội Châu (2000), Toàn tập, tập 7, Nxb Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 2000
3. Quán Chi (1922), “Luân lý Đông phương cận lai tại sao suy thoái”, Nam Phong (Số 60, Quyển X), tr.453 – 460 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luân lý Đông phương cận lai tại sao suy thoái”, "Nam Phong
Tác giả: Quán Chi
Năm: 1922
4. Thƣợng Chi (1921), “Khảo về các luân lý học thuyết của Thái Tây”, Nam Phong (Số 47, Quyển VIII), tr.354 – 362 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo về các luân lý học thuyết của Thái Tây”, "Nam Phong
Tác giả: Thƣợng Chi
Năm: 1921
5. Thƣợng Chi (1924), “Bàn phiếm về văn hóa Đông Tây”, Nam Phong (số 84, Quyển XIV), tr.447 – 453 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn phiếm về văn hóa Đông Tây”, "Nam Phong
Tác giả: Thƣợng Chi
Năm: 1924
6. Thƣợng Chi (1926), “Văn hóa và chính trị”, Nam Phong (Số 107, Quyển 19), tr.1 – 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và chính trị”, "Nam Phong
Tác giả: Thƣợng Chi
Năm: 1926
7. Thƣợng Chi (1930), “Đọc sách có cảm”, Nam Phong (Số 149, Quyển XXVI), tr.307 – 310 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc sách có cảm”, "Nam Phong
Tác giả: Thƣợng Chi
Năm: 1930
8. Nguyễn Đình Chú, Trịnh Vĩnh Long (2005), “Báo chí và văn chương qua một trường hợp: Nam Phong Tạp chí”, Nghiên cứu văn học (Số 2), tr.49 – 55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và văn chương qua một trường hợp: "Nam Phong" Tạp chí”, "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Đình Chú, Trịnh Vĩnh Long
Năm: 2005
9. Nguyễn Trọng Chuẩn (1995), R. Đêcáctơ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: R. Đêcáctơ
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1995
10. Trần Thái Đỉnh (2005), Triết học Descartes, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Descartes
Tác giả: Trần Thái Đỉnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2005
11. Franỗois Meyer (1999), Để hiểu Bergson, Nguyễn Nguyờn dịch, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để hiểu Bergson
Tác giả: Franỗois Meyer
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
12. Trần Văn Giàu (2008), Tổng tập, tập 3, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 2008
13. Dương Quảng Hàm (2002), Việt Nam văn học sử yếu, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2002
14. Đỗ Hồng Hạnh (2001), “Phan Bội Châu nhịp cầu nối giữa truyền thống và cận hiện đại Việt Nam”, trong Những người đi qua hai thế kỷ, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu nhịp cầu nối giữa truyền thống và cận hiện đại Việt Nam”, trong "Những người đi qua hai thế kỷ
Tác giả: Đỗ Hồng Hạnh
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2001
15. Đỗ Hồng Hạnh (2001), “Phan Văn Trường từ truyền thống đến hiện đại”, trong Những người đi qua hai thế kỷ, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Văn Trường từ truyền thống đến hiện đại”, trong "Những người đi qua hai thế kỷ
Tác giả: Đỗ Hồng Hạnh
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2001
16. Trần Thị Hạnh (2013), Quá trình chuyển biến tư tưởng của Nho sĩ Việt Nam trong 30 năm đầu thế kỷ XX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình chuyển biến tư tưởng của Nho sĩ Việt Nam trong 30 năm đầu thế kỷ XX
Tác giả: Trần Thị Hạnh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2013
17. Nguyễn Vũ Hảo (2006), “Giao tiếp liên văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa, một số vấn đề triết học”, Triết học (Số 7), tr.49 – 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp liên văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa, một số vấn đề triết học”, "Triết học
Tác giả: Nguyễn Vũ Hảo
Năm: 2006
18. Nguyễn Vũ Hảo (2007), “Phương pháp tiếp cận của triết học so sánh Đông – Tây, lịch sử vấn đề và triển vọng”, Triết học (Số 5), tr.26 – 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tiếp cận của triết học so sánh Đông – Tây, lịch sử vấn đề và triển vọng”, "Triết học
Tác giả: Nguyễn Vũ Hảo
Năm: 2007
19. Nguyễn Hùng Hậu chủ biên (2002), Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, tập 1, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hùng Hậu chủ biên
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
20. Hoàng Ngọc Hiến (2009), Franỗois Jullien & Nghiờn cứu so sỏnh văn húa Đụng – Tõy (Dẫn nhập cụng việc nghiờn cứu của Franỗois Jullien), Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Franỗois Jullien & Nghiờn cứu so sỏnh văn húa Đụng – Tõy (Dẫn nhập cụng việc nghiờn cứu của Franỗois Jullien)
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w