1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm của Nho giáo về đạo đức gia đình và ý nghĩa của nó đối với việc hoàn thiện đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay (nghiên cứu thực tế tại Thị xã Sơn Tây)

96 826 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN ĐẠO ĐỨC GIA

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY

QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY

(Nghiên cứu thực tế tại Thị xã Sơn Tây)

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Chuyên ngành: Triết học

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ BÍCH THỦY

QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH VIỆT NAM HIỆN NAY

(Nghiên cứu thực tế tại Thị xã Sơn Tây)

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60 22 03 01 Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Đỗ Thị Hòa Hới

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn: Quan niệm của Nho giáo về đạo đức gia đình và

ý nghĩa của nó đối với việc hoàn thiện đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay (nghiên cứu thực tế tại Thị xã Sơn Tây) là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu,

kết quả được đưa ra trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác Mọi tham khảo trong luận văn đều được trích dẫn rõ nguồn, đảm bảo tính khách quan của tư liệu và bản quyền tác giả

Học viên

Nguyễn Thị Bích Thủy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn “Quan niệm của Nho giáo về đạo đức gia đình và ý nghĩa của nó

đối với việc hoàn thiện đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay (nghiên cứu thực tế tại Thị xã Sơn Tây) là một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc, là kết quả của

quá trình học tập tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả dưới sự hướng của các thầy cô bộ môn; sự giúp đỡ của các thầy cô trong ban chủ nhiệm khoa Triết học Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến những sự giúp đỡ quý báu đó!

Đặc biệt, tôi xin gửi lời biết ơn chân thành đến PGS TS Đỗ Thị Hòa Hới là

giáo viên trực tiếp hướng dẫn luận văn cho tôi, người đã luôn tận tình hướng dẫn, dành nhiều thời gian quý báu để trao đổi và định hướng nghiên cứu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn này

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn động viên và là chỗ dựa tinh thần để tôi học tập và thực hiện thành công đề tài luận văn này!

Tôi xin trân trọng gửi lời tri ân đến tất cả!

Học viên cao học khoá 20

Nguyễn Thị Bích Thủy

Trang 5

1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 3

PHẦN NỘI DUNG 12

CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH 12 1.1 Điều kiện kinh tế chính trị xã hội và tiền đề tư tưởng văn hóa cho sự hình thành phát triển tư tưởng Nho giáo về đạo đức và đạo đức gia đình 12 1.1.1 Điều kiện kinh tế chính trị xã hội 12

1.1.2 Tiền đề văn hóa tư tưởng 15

1.1.3 Quan niệm của Nho giáo về tính người - cơ sở cho quan niệm đạo đức trong gia đình của Nho giáo 17

1.2 Một số nội dung cơ bản tư tưởng đạo đức gia đình của Nho giáo 17

1.2.1 Quan niệm Nho giáo về vai trò đạo đức trong gia đình 17

1.2.2 Quan niệm Nho giáo về quan hệ tôn ti trật tự gia đình

(thể hiện ở Lễ) 25

1.2.3 Quan niệm Nho giáo về chuẩn mực đạo đức cơ bản cho từng thành viên cụ thể trong gia đình 29

1.3 Sự du nhập và ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo trong lịch sử tại

Việt Nam 32

Kết luận chương 1: 39

Kết luận chương 1: 39

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ Ý NGHĨA TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH NHO GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH MỚI Ở SƠN TÂY HIỆN NAY 40

2.1 Khái quát Thực trạng đạo đức gia đình ở Sơn Tây hiện nay 40

2.2 Nội dung, yêu cầu đặt ra trong việc củng cố, hoàn thiện gia đình văn hóa mới ở Thị xã Sơn Tây hiện nay 57

Trang 6

2

2.3 Tiếp tục kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức gia đình Nho

giáo góp phần hoàn thiện đạo đức gia đình ở Sơn Tây hiện nay 67

2.4 Giải pháp nâng cao việc kế thừa và phát huy giá trị đạo đức Nho giáo vào việc xây dựng hoàn thiện đạo đức gia đình Sơn Tây hiện nay 72

Kết luận chương 2: 84

PHẦN KẾT LUẬN 85

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 7

lẻ mà qua các phương tiện thông tin đại chúng cho thấy nó đang gia tăng theo từng ngày, từng giờ: nào là con giết cha, vợ giết chồng, rồi chồng giết vợ, anh

Trang 8

4

em đánh nhau, con đuổi mẹ ra đường chiếm nhà, bố mẹ già không phụng dưỡng lại cho vào viện dưỡng lão, hoặc đuổi ra đường hoặc nuôi cũng chỉ coi như vật cảnh trong nhà, cháu giết ông, bà Cùng với tệ nạn xã hội, nghiện hút,

cờ bạc, mại dâm, trộm cắp, gây rối, chém giết lẫn nhau…được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng nhiều, đã trở thành mối lo ngại cho nhân dân ta Hiện nay, xuất hiện tâm lý lệch chuẩn truyền thống, sùng bái đồng tiền, coi đồng tiền là trên hết, có tiền là có tất cả, “tiền là tiên là Phật”, ỷ thế, cậy quyền và cậy tiền không xem ai ra gì…Có thể nói, chưa bao giờ vấn

đề đạo đức nói chung, đạo đức trong gia đình nói riêng lại đáng báo động như hiện nay

nay đạo đức gia đình lại đang đứng trước những thách thức lớn Giá trị đạo đức gia đình truyền thống ngày càng mai một và dường như không còn dựa nhiều trên cơ sở kinh tế gia đình, hệ giá trị mới chưa xác lập cơ sở vững chắc

đã làm khủng hoảng hệ giá trị đạo đức gia đình, góp thêm vào khủng hoảng đạo đức xã hội Những mặt trái của cơ chế thị trường và các nhân tố mới như quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá trình đô thị hóa đang từng ngày, từng giờ làm suy thoái môi trường, ổn định đạo đức của con người, dường như khiến đạo đức xã hội xuống cấp Con người dường như ngày càng sống gấp gáp, thực dụng, chạy theo đồng tiền, coi nhẹ, chà đạp lên những giá trị đạo đức, danh dự của người khác Nhiều hiện tượng vì lợi ích cá nhân đã đánh mất đi đạo lý gia đình, quan hệ dòng họ, bạn bè,…Trước thực tế đó, nhiều vấn

đề bức xúc về gia đình đang đặt ra như: Đạo đức gia đình Việt Nam truyền thống chịu ảnh hưởng lớn của Nho giáo đã biến đổi và có vai trò như thế nào khi đất nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập phát triển kinh

tế thị trường Hiện nay, tuy đạo đức gia đình Nho giáo bên cạnh những mặt tích cực tất yếu vẫn bộc lộ những bất cập, hạn chế lịch sử, để lại nhiều rào cản

Trang 9

5

cho sự nghiệp đổi mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vấn đề đặt ra

là chúng ta phải kế thừa có phê phán, phát huy các mặt tích cực của nó như thế nào trong quá trình đổi mới? Mặt khác, qua khảo sát các công trình tiếp cận từ góc độ triết học, mặc dù đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề đạo đức của Nho giáo, nhưng khía cạnh quan niệm về đạo đức trong gia đình nói riêng cho tới nay vẫn còn là một đề tài chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều Vì vậy, chúng ta cần có những nghiên cứu sâu hơn, nhằm đánh giá lại đầy đủ hơn quan niệm Nho giáo về đạo đức gia đình đối với việc xây dựng đạo đức gia đình văn hóa mới hiện nay

Trên cơ sở nhận thức như vậy, chúng tôi chọn đề tài: “Quan niệm

của Nho giáo về đạo đức gia đình và ý nghĩa của nó đối với việc hoàn thiện đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay” (nghiên cứu thực tế tại Thị xã Sơn

Tây) làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Học thuyết Nho giáo ra đời trong bối cảnh đất nước Trung Hoa có nhiều biến động, các quan hệ đạo đức xã hội chủ yếu có nhiều thay đổi căn bản về giá trị Mục đích của Nho giáo là hướng tới xây dựng một xã hội thái bình, thịnh trị, có trật tự, kỷ cương, nề nếp Vì vậy, về mặt chính trị xã hội, đó

là học thuyết chủ trương lấy Đức trị làm phương thức cai quản đất nước Nho giáo đề cao việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, xây dựng các mối quan hệ xã hội, quan hệ gia đình phù hợp với những chuẩn mực đạo đức Mỗi người trước tiên phải “Tu thân” sau đó mới có thể “Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”

Từ trước tới những năm gần đây, trên bình diện đạo đức xã hội, Nho giáo được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu sâu sắc Tiêu biểu có thể điểm đến các công trình nghiên cứu theo thời gian:

Trước cách mạng tháng 8/ 1945, đã có một số công trình chuyên khảo

về Nho giáo như: “Nho giáo” của Trần Trọng Kim gồm 2 quyển Thượng và

Trang 10

6

Hạ xuất bản năm 1932, Khổng Học Đăng của Phan Bội Châu, trong đó các

tác giả đã trình bày khái quát hệ thống học thuyết Nho giáo, phân tích những

tư tưởng cơ bản của Nho giáo trong quá trình hình thành và phát triển của nó Khi đánh giá về Nho giáo, các tác giả đều đề cao những yếu tố tích cực của đạo đức Nho giáo, đặc biệt là đạo đức gia đình Họ cho rằng, đạo đức gia đình Nho giáo tuy có một số biểu hiện hạn chế, nhưng có vai trò to lớn trong việc giáo dục đạo đức con người và ổn định trật tự xã hội

Sau cách mạng tháng 8/1945, các công trình nghiên cứu về Nho giáo ở

nước ta tiếp tục được công bố Nhiều cuốn sách đã được xuất bản như: “Bàn

về đạo Nho” của Nguyễn Khắc Viện, “Nho giáo xưa và nay” của Quang Đạm,

“Nho học và nho học ở Việt Nam – một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Tài Thư, Nho giáo và phát triển ở Việt Nam hiện nay của Vũ Khiêu

Có thể thấy, những cuốn sách nói trên cùng rất nhiều các bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành, đã đi sâu nghiên cứu về nhiều phương diện của Nho giáo, đề cập tới học thuyết đạo đức của Nho giáo, trong đó có những giá trị đạo đức tác động trực tiếp và gián tiếp đến đạo đức gia đình truyền thống và

cả hiện nay

Trong các tác phẩm nghiên cứu tổng hợp về Nho giáo thì đáng chú ý là những tác phẩm nghiên cứu chuyên sâu về những quy phạm đạo đức của Nho giáo liên quan trực tiếp tới đạo đức gia đình như:

Sách “Nho giáo và gia đình” của Vũ Khiêu, Nxb Khoa học xã hội, Hà

Nội, năm 1995 Trong công trình đó, tác giả đã phân tích các quy phạm đạo đức Nho giáo, đạo đức gia đình, mối quan hệ trong gia đình, quan hệ cha - con, quan hệ anh - em , quan hệ vợ chồng…, có thể nói đây là ba quan hệ cơ bản trong gia đình Tác giả cũng chỉ rõ, với quan niệm đạo đức Nho giáo có hạn chế kìm nén con người, nhất là người phụ nữ là người chịu những ảnh hưởng thiệt thòi nhất, đau khổ nhất do chế độ hà khắc đem lại Tác giả cũng

Trang 11

7

chỉ ra vấn đề kế thừa giá trị đạo đức Nho giáo của những người con đối với cha mẹ, em đối với anh, vợ đối với chồng

Sách Gia đình truyền thống Việt Nam với ảnh hưởng của Nho giáo - của

Trần Đình Hượu, là công trình nghiên cứu sâu sắc đã làm rõ những ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đến gia đình truyền thống ở Việt Nam Tác giả cho rằng bên cạnh những ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo, còn có những mặt tích cực trong việc xây dựng một gia đình êm ấm có kỷ cương

Sách Nho giáo với văn hóa Việt Nam, Nguyễn Đăng Duy, Nxb Hà Nội,

năm 1998 Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu về Nho giáo từ tiếp cận văn hóa học, nhằm làm rõ ảnh hưởng của Nho giáo với văn hóa Việt Nam, cả những tích cực, tiêu cực trong đó có văn hóa gia đình Tác giả khẳng định: Ảnh hưởng đến gia đình Việt Nam là quan niệm gia đình Nho giáo, đó là gia đình phụ quyền gia trưởng, nhằm củng cố chế độ phong kiến Trong gia đình Nho giáo, người đàn ông được đề cao, còn người phụ nữ chỉ là cái bóng, “tam tòng” (tại gia tòng phụ, xuất gía tòng phu, phu tử tòng tử) tức là người con gái khi ở nhà phải nghe theo lời cha, làm theo lời cha, khi về nhà chồng phải kính nhường, giữ mình cho khéo, không được trái ý chồng Còn chuẩn mực “tứ đức” (công, dung, ngôn, hạnh) thì đòi hỏi ở người con gái lúc nào cũng phải có Trong đạo đức gia đình Nho giáo thì trinh tiết của người phụ nữ luôn được đề cao, còn người đàn ông có thể lấy năm thê bảy thiếp, nhưng người đàn bà thì không thể

Trong kỉ yếu Hội thảo “Nho giáo ở Việt Nam do Viện nghiên cứu Hán

Nôm và Viện Harvard – Yeneching (Mỹ) phối hợp tổ chức trong hai ngày 17

và 18 tháng 12 năm 2004, các nhà khoa học Việt Nam cùng nhiều đồng nghiệp ở Mỹ, Canada, Trung Quốc… đã thảo luận nhiều vấn đề xung quanh các nội dung như: Ảnh hưởng của Nho giáo trong các lĩnh vực của đời sống hiện nay; Quá trình du nhập Nho giáo vào Việt Nam và ảnh hưởng của Nho

Trang 12

8

giáo trong đời sống gia đình phong kiến… Các bài tham luận đã khẳng định: Nho giáo chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam, ảnh hưởng sâu đậm tới xã hội, gia đình, từng cá nhân; trong lịch sử và hiện nay

Bên cạnh đó, cũng cần điểm tới nhiều luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ cũng bàn về đạo đức Nho giáo, quan niệm Nho giáo về đạo đức gia đình ở những khía cạnh đậm nhạt khác nhau, trong đó tiêu biểu là các công trình nghiên cứu:

“Vấn đề con người trong Nho học sơ kỳ”, luận án tiến sỹ của Nguyễn Tài Thư, “Quan niệm Nho giáo về giáo dục con người và ý nghĩa của nó với việc

giáo dục con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” -

luận án tiến sỹ triết học Nguyễn Thị Nga, năm 1999 (Thư viện quốc gia)

Luận án “Quan niệm Nho giáo về con người, về giáo dục và đào tạo con

người” của Nguyễn Thị Tuyết Mai, năm 2005 Luận án “Gia đình Việt nam

và vai trò của người phụ nữ hiện nay” của Dương Thị Minh, năm 2003 (Thư

viện quốc gia) Luận án tiến sỹ “Học thuyết chính trị xã hội của Nho giáo và

sự thể hiện của nó ở Việt Nam (từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XIX) của Nguyễn

Thanh Bình… Các luận án đó đã làm rõ nội dung cơ bản của Nho giáo về những vấn đề chính trị, xã hội, giáo dục, đạo đức Làm rõ quá trình du nhập Nho giáo vào nước ta, vai trò của Nho giáo trong lịch sử dân tộc và hiện nay ở các lĩnh vực, trong đó có đời sống đạo đức, đạo đức gia đình

Một số luận văn thạc sỹ cũng đề cập đến một số chuẩn mực đạo đức của Nho giáo về con người nói chung, trong gia đình nói riêng như: Luận văn

“Quan niệm của Nho giáo về Trung - Hiếu - Lễ ảnh hưởng của nó đối với đời

sống đạo đức con người Việt Nam hiện nay” của Phạm Mạnh Toàn Ngoài

những công trình nghiên cứu trên đây liên quan đến nội dung đề tài luận văn,

còn có rất nhiều những bài báo nghiên cứu được đăng trên tạp chí như: “Ảnh

Trang 13

9

hưởng của Nho giáo đối với gia đình Việt Nam” (Ngô Phương Anh, tạp chí

gia đình và trẻ em, kì 1, số 6, 2005, Tr 8 – 10); “Về gia đình truyền thống Việt

Nam với ảnh hưởng Nho giáo” (Trần Đình Hựơu, Tạp chí Xã hội học, số 1,

1989, Tr 25 – 38) ; “Tư tưởng Nho giáo và luân lý gia đình”, (Nguyễn Văn Hồng dịch, Tạp chí thông tin Khoa học xã hội, số 12, 2001,; “Một số chuẩn

mực giá trị ưu trội khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường”, (Nguyễn

Trọng Chuẩn, Tạp chí Triết học,số 1, 1995); “Một số biểu hiện xung đột giá

trị trong lĩnh vực đạo đức của đời sống xã hội”, (Nguyễn Sinh Huy, Tạp chí

Triết học, số 1, năm 1995); “Phải chăng Nho giáo là động lực phát triển Kinh

tế ?”, (Hà Thúc Minh, tạp chí Triết học, số 6,1996); “Tìm hiểu tư tưởng của Nho giáo”, (Minh Anh - Tạp chí Triết học, số 8, Tr 46 – 50, 2002); “Khai thác giá trị của truyền thống Nho học phục vụ phát triển của đất nước trong điều kiện toàn cầu hoá”, (Nguyễn Trọng Chuẩn, Tạp chí Triết học, số 4,

2000); “Thử bàn về đạo đức “Hiếu của Nho gia”, (Lê Văn Quán, Tạp chí Hán

Nôm, số 2(57),2003);

Nhìn chung, trong các công trình trên cơ bản đã nêu lên khái quát nội dung đạo đức, đạo đức gia đình của Nho giáo, nhưng còn chưa nhiều, hạn chế, ý kiến còn tản mạn, chưa có hệ thống, lập luận còn chưa toàn diện, hoặc tập trung giải quyết những phương diện lý luận làm nền tảng cho vấn đề mà các tác giả đặt ra cho mình Trên thực tế, chưa có một công trình nghiên cứu

cụ thể, chi tiết nào về đạo đức gia đình của Nho giáo, ý nghĩa của nó đối với việc hoàn thiện đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay Do đó, đề tài luận văn

kế thừa các kết quả trên tiếp tục hệ thống hóa, khái quát những kết quả nghiên cứu của những người đi trước, để đi sâu nêu các vấn đề về tiền đề hình thành, nội dung và ý nghĩa của tư tưởng Nho giáo về đạo đức gia đình, từ đó vận dụng nghiên cứu nó vào việc hoàn thiện đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu: Luận văn tập trung giải quyết mục tiêu như sau:

Trang 14

10

Người làm luận văn sẽ tập trung làm rõ quan niệm cơ bản của Nho giáo

về đạo đức gia đình và ý nghĩa của nó với việc giáo dục, hoàn thiện đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn phải thực hiện các nội dung sau:

Thứ nhất, luận văn tìm hiểu một cách có hệ thống quan niệm của Nho

giáo về đạo đức gia đình Làm rõ những nội dung của quan niệm đó để thấy được những mặt tích cực và hạn chế lịch sử của nó

Thứ hai, từ việc khái quát thực trạng đạo đức gia đình Việt Nam hiện

nay, qua khảo sát tại Thị xã Sơn Tây, làm rõ ý nghĩa của việc tiếp tục kế thừa

có phê phán quan niệm Nho giáo về đạo đức gia đình đối với việc hoàn thiện đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng mà luận văn nghiên cứu là những tư tưởng, nội dung Nho giáo về đạo đức gia đình và ý nghĩa của nó đối với việc hoàn thiện đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay nghiên cứu tại Thị xã Sơn Tây

* Phạm vi nghiên cứu

Nho giáo là một học thuyết chính trị đạo đức rất rộng lớn và phong phú, bao gồm nhiều lĩnh vực, vấn đề Vì vậy, trong phạm vi của Luận văn thạc sỹ tôi chỉ đi sâu tìm hiểu quan niệm của Nho giáo về đạo đức gia đình qua sách Luận Ngữ và Mạnh Tử, vận dụng, chỉ ra ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay, qua khảo sát trường hợp Thị xã Sơn Tây Ngoài những tư liệu chính đó, thì quan điểm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước về vấn đề trên cũng là đối tượng tiêu biểu tham khảo của luận văn

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

 Cơ sở lý luận

Trang 15

11

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,

tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta về vấn đề xây dựng đạo đức cho con người Việt Nam nói chung, đạo đức gia đình Việt Nam nói riêng

 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp của Chủ nghĩa duy vật biện chứng

và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu triết học như: phương pháp logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, đối chiếu - so sánh Đồng thời sử dụng một số phương pháp liên ngành triết học, xã hội học triết học, tâm lý học trong những trường hợp cần thiết, tương ứng Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp cụ thể như: thống kê, thu thập và xử lý thông tin

6 Đóng góp mới của luận văn và ý nghĩa

Luận văn góp phần vào việc hệ thống quan niệm của Nho giáo về đạo đức gia đình, chỉ ra những ảnh hưởng, ý nghĩa của nó đối với việc giáo dục đạo đức gia đình ở Việt Nam hiện nay, qua khảo sát trường hợp Thị xã Sơn Tây từ đó góp phần vào việc gợi ý, bổ sung, thiết lập những giá trị, chuẩn mực đạo đức trong gia đình Việt Nam hiện nay

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc phát huy những giá trị tích cực của Nho giáo về đạo đức gia đình, trong quá trình giáo dục đạo đức gia đình mới ở Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 2 chương và 7 tiết

Chương 1: Quan niệm của Nho giáo về đạo đức gia đình

Chương 2: Một số ý nghĩa tư tưởng đạo đức gia đình Nho giáo đối với

việc hoàn thiện đạo đức gia đình mới ở Sơn Tây hiện nay

Trang 16

12

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO VỀ

ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH 1.1 Điều kiện kinh tế chính trị xã hội và tiền đề tư tưởng văn hóa cho

sự hình thành phát triển tư tưởng Nho giáo về đạo đức và đạo đức gia đình

1.1.1 Điều kiện kinh tế chính trị xã hội

Nho giáo ra đời ở Trung Quốc vào thời Xuân Thu - Chiến quốc (770 -

221 TCN) Đây là thời kỳ suy tàn của chế độ chiếm hữu nô lệ, bước vào thời

kỳ phong kiến sơ kỳ, với những đặc điểm như sau

Kinh tế đang có sự chuyển biến mạnh mẽ từ thời đại đồ đồng sang đồ sắt, với nhiều công cụ lao động hiện đại hơn trước rất nhiều, làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, của cải bắt đầu có sự dư thừa, xã hội biến động Điều này đã dẫn đến sự thay đổi mọi mặt đời sống văn hóa chính trị -

xã hội của thời kỳ này Chế độ chiếm hữu tư nhân về ruộng đất là cơ sở cho

sự ra đời, xuất hiện của nhiều giai cấp và tầng lớp mới trong xã hội, cùng với

đó là sự xuất hiện nhiều mâu thuẫn gay gắt: mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc nhà Chu và giai cấp địa chủ mới với dân, mâu thuẫn giữa tầng lớp quý tộc cũ

và tầng lớp quý tộc mới

Về mặt xã hội, mâu thuẫn gay gắt nhất là mâu thuẫn giữa Thiên tử và các nước chư hầu, mâu thuẫn gay gắt trong tầng lớp quý tộc, đã làm cho xã hội ngày càng rối ren, trật tự xã hội bị đảo lộn Người ta cướp bóc, tranh giành nhau về địa vị, quyền lợi Khổng Tử đã gọi đây là thời kỳ con người sống vô đạo, quân bất quân, thần bất thần, phụ bất phụ, tử bất tử Mâu thuẫn

xã hội và chiến tranh giữa các nước chư hầu kéo dài đã làm cho đời sống nhân dân vô cùng cực khổ Trong điều kiện kinh tế - xã hội rối ren như thế, các nước đều muốn nắm giữ quyền lực của mình đã rất trọng kẻ sỹ, những ai có tri thức mưu lược, có kế sách trị quốc đều được trọng dụng Các học thuyết

Trang 17

13

này đều tập trung giải quyết những vấn đề lớn, những câu hỏi lớn của thời đại, thời Xuân Thu - Chiến Quốc Làm thế nào mà nước từ loạn trở thành thái bình thịnh trị? Do đó yêu cầu thực tiễn thúc đẩy có rất nhiều học thuyết chính trị xã hội thời kỳ này nở rộ và phát triển Người ta gọi thời kỳ này là thời kỳ

“Bách gia tranh minh” (Trăm nhà đua tiếng) bao gồm nhiều học phái như: Nho gia, Âm dương gia, Mặc gia, Pháp gia, bằng cách này hay cách khác các học phái đều đưa ra những phương pháp trị quốc theo quan điểm riêng của mình Các nước chư hầu chiến tranh kéo dài liên tục nhằm thôn tính nhau, tranh giành đất đai và cư dân hết sức khốc liệt như Mạnh Tử đã mô tả Người

ta đã tính rằng, riêng thời Xuân Thu khoảng 242 năm thì có tới 483 cuộc chiến tranh xảy ra, số các nước thu hẹp dần từ cả nghìn nước đến cuối thời Xuân Thu chỉ còn hơn trăm nước… Trong số những nước hùng mạnh nhất thời bấy giờ, chỉ còn năm nước (Ngũ Bá) là: Tề, Tấn, Sở, Tần, Tống, sau này lại thêm hai nước nữa là Ngô và Việt Phái Pháp gia đưa ra quan điểm trị quốc phải dựa vào pháp luật, phái Mặc Gia cho rằng phải “Kiêm ái”… Để khắc phục tình tình trạng vô đạo, phi đạo đức, cần đưa xã hội từ hỗn loạn đến thịnh trị, kiến tạo một xã hội có đạo đức, dùng Đức để trị quốc Khổng Tử và nhiều nhà Nho cho rằng, biện pháp tốt nhất, hữu hiệu nhất là phải đưa ra các chuẩn mực, những quy phạm đạo đức để từ trong thời thơ ấu, trong gia đình tới ngoài xã hội, mỗi người đều được giáo dục tu dưỡng, rèn luyện mà nhờ nó loại trừ hành động phi nhân tính, phi đạo đức, tự giáo dục, tự hoàn thiện đạo đức cho mình Đồng thời, các chuẩn mực, quy phạm đạo đức này còn để điều chỉnh mọi hành vi, suy nghĩ, hành động của con người trong mối quan hệ gia đình và mở rộng ra quan hệ ngoài xã hội Nghĩa là, theo các nhà Nho, xây dựng thể chế xã hội chặt chẽ, từ cấp tế bào vi mô là “đạo trong nhà”, mở rộng

ra là đạo đức quốc gia, xã hội, theo quy tắc đạo đức để giáo dục con người là một biện pháp cần thiết, hữu hiệu nhất để loại trừ xã hội vô đạo và kiến tạo xã

Trang 18

14

hội ổn định thái bình có đạo đức Giáo dục đạo lý từ trong nhà là những phương tiện cơ bản để cải biến con người từ dã nhân, thành thánh thiện thánh nhân Ngoài ra, những chuẩn mực, những quy phạm đạo đức ấy còn có vai trò như một công cụ quan trọng nhất, để củng cố, duy trì trật tự, kỷ cương xã hội Chính vì vậy mà, học thuyết đạo đức là một trong những nội dung chủ yếu của Nho giáo.Trong số các học phái xuất hiện thời kỳ đó, Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức tiêu biểu nhất và có ảnh hưởng lâu dài nhất ở Trung Quốc, cũng như nhiều nước khác trong khu vực như: Nhật Bản, Triều Tiên, Singapo Việt Nam cũng là một trong những quốc gia tiếp nhận Nho giáo và chịu ảnh hưởng nhiều của Nho giáo, đạo đức Nho giáo, trong đó có đạo đức gia đình của Nho giáo từ rất sớm

Khổng Tử (551 - 479 TCN), người sáng lập ra trường phái Nho gia Ông là người nước Lỗ, sống trong thời kỳ loạn lạc, được tận mắt chứng kiến cảnh chiến tranh, cướp bóc Khổng Tử luôn ôm ấp hoài bão chính trị là xây dựng xã hội thái bình thịnh trị Ông cho rằng, phải dùng đức trị, nhân trị, lễ trị thì xã hội mới “hữu đạo” thịnh trị Tư tưởng này của ông được các thế hệ học trò tiếp tục kế thừa và phát triển Mạnh Tử là người bảo vệ và phát huy tư tưởng của Khổng Tử, mong muốn dùng thuyết Đức trị để cứu đời, ổn định xã hội Ông thấy được vai trò, sức mạnh của đạo đức trong gia đình, chủ trương phải lấy việc giáo dục, tự giáo dục đạo đức từ trong gia đình ra cả xã hội làm đường hướng căn bản để xây dựng con người lý tưởng, xã hội lý tưởng Lời giáo huấn của ông được các học trò biên soạn thành sách gọi là “Luận Ngữ”

đã có ảnh hưởng rất lớn

Mạnh Tử (372- 289 Trước công nguyên), Mạnh Tử tên là Mạnh Kha,

tự là Dư Tử, người gốc nước Trâu, thuộc miền Nam tỉnh Sơn Đông Trung Quốc ngày nay Ông thuộc dòng tông tộc Mạnh Tôn, Cha là Khích Công Nghi, Mẹ là Cừu Thị Khi ông lên ba tuổi thì cha mất, được mẹ nuôi dưỡng,

Trang 19

về đạo đức, ông thấy được vai trò, sức mạnh của đạo đức trong gia đình và đã chủ trương phải lấy việc giáo dục, tự giáo dục đạo đức từ trong gia đình làm đường hướng căn bản để xây dựng con người lý tưởng, xã hội lý tưởng

1.1.2 Tiền đề văn hóa tư tưởng

Cũng giống như các hệ tư tưởng khác, Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức ra đời trên cơ sở hiện thực của xã hội Chính tiền đề văn hóa tư tưởng về thực tiễn xã hội thời Xuân Thu - Chiến Quốc, là cơ sở trực tiếp nhất cho sự ra đời của đạo đức Nho giáo nói chung và đạo đức gia đình Nho giáo nói riêng Do đó, nền tảng văn hóa đạo đức truyền thống của xã hội Trung Hoa cũng là cơ sở cho sự ra đời của đạo đức Nho giáo về gia đình

Trang 20

16

Trung Hoa vốn là một quốc gia rộng lớn, đông dân cư, là cái nôi văn minh của nhân loại, là một trong ba nền văn minh cổ đại Theo nhiều nhà nghiên cứu, chữ viết ở Trung Hoa xuất hiện từ rất sớm, từ khoảng thế kỷ XIII

- XII TCN Những hiểu biết của người Trung Quốc thời cổ đại cách đây 3000 năm về các lĩnh vực như địa lý, trồng trọt, chăn nuôi, thiên văn học, xây dựng thiết chế lễ nghi … rất sâu sắc Đặc biệt, xã hội dựa trên cấu trúc là các dòng tộc rất lớn, chế độ tông tộc kéo dài Họ biết làm ra lịch, một năm có 4 mùa, phát minh này có ý nghĩa lớn đối với sản xuất nông nghiệp Có nhiều bài thuốc quý và nhiều cách chữa bệnh hữu hiệu đã được ghi chép vào sách vở Khổng Tử kế thừa biên soạn nhiều bộ sách, về sau được coi là kinh điển của Nho giáo như: Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu Những tri thức này là tiền đề cho sự ra đời các học thuyết triết học, chính trị, đạo đức thời Xuân Thu

- Chiến Quốc, trong đó có tư tưởng Khổng Mạnh là những người sáng lập học thuyết của Nho giáo và được phát triển thêm ở đời sau, song vẫn bảo lưu các nguyên lý cơ bản

Tóm lại, tư tưởng đạo đức gia đình của Nho giáo được hình thành trên

cơ sở đạo đức truyền thống của Trung Hoa đã có từ thời đại trước(Thương, Hạ) Ngay từ thời Vua Nghiêu, Vua Thuấn đã đặt ra vấn đề truyền ngôi cho người hiền tài, hay Văn vương - Võ Vương là những người có “đức” được cả thiên hạ kính nể Hay Vua Thành nhà Thương (1766 – 1134) là tấm gương về người có đức, thương dân và không ngừng tu dưỡng bản thân mình nên được ngôi thiên tử Trong hoàn cảnh lúc đó, tuy ở Trung Quốc có rất nhiều trường phái, trào lưu tư tưởng, nhưng đạo đức Nho giáo có sự ảnh hưởng lớn, còn do

nó biết tiếp thu với quan niệm đạo đức của học thuyết khác Các học thuyết như Mặc gia, Đạo gia, Pháp gia cũng đều đề cao kỷ cương đạo đức, xây dựng đạo đức cho xã hội, cho gia đình và từng cá nhân Có thể khẳng đinh “Đạo làm người” Nho giáo là một nội dung tổng hợp cốt lõi của nhiều học thuyết

Trang 21

1.1.3 Quan niệm của Nho giáo về tính người - cơ sở cho quan niệm đạo đức trong gia đình của Nho giáo

Vấn đề quan niệm về bản tính con người là mối quan tâm được bàn luận đến nhiều nhất trong Nho giáo, nhất là Khổng Tử và Mạnh Tử Đây là vấn đề gắn bó mật thiết với quan niệm về bản chất con người, là những cơ sở nền tảng để Nho giáo triển khai xây dựng quan niệm về đạo đức nói chung, đạo đức trong gia đình nói riêng Khổng Tử nói, bản tính con người khi mới được cha mẹ sinh ra là kết quả của sự kết hợp âm, dương, trời đất, ngũ hành là tinh hoa của tất cả nên nó hoàn toàn tốt lành, ngây thơ, trong trắng, thuần phác, “Nhân chi sinh dã trực” [55,93], “tính tương cận dã, tập tương dã” [41,269]

Mạnh Tử cho rằng, con người sinh ra đã là một đứa trẻ ngây thơ, trong trắng, có đạo đức Sau đó Tuân Tử có đi sâu chỉ ra khía cạnh mang tính bản năng, thiện ác của con người Nho gia về sau không được chú trọng phát triển,

mà khuynh hướng chính là chú trọng quan điểm cho con người vốn có tính thiện, lành Tuy nhiên, do hoàn cảnh của mỗi người khác nhau, bản tính của con người bị hoàn cảnh xấu thay đổi Có thể nói, quan niệm về bản tính người của Nho giáo là cơ sở, tiền đề cho việc xây dựng quan niệm về đạo đức gia đình Như vậy, cần phải tạo ra môi trường thiện lành từ trong gia đình, mở rộng ra là cả xã hội

1.2 Một số nội dung cơ bản tư tưởng đạo đức gia đình của Nho giáo

1.2.1 Quan niệm Nho giáo về vai trò đạo đức trong gia đình

 Khái niệm đạo đức theo Nho giáo

Trang 23

19

tử, đóng vai trò là trụ cột của gia đình, người gia trưởng là chuẩn mực cho các thành viên dựa vào, noi theo và lấy bản thân để giáo hóa gia tộc

 Một số phạm trù chuẩn mực đạo đức trong Nho giáo hình thành quan

hệ của các thành viên trong gia đình: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín (Ngũ thường)

đặt trên nền tảng đạo đức bền vững

Nhân không chỉ một đức tính nào, mà chỉ chung mọi đức tính, người

có Nhân đồng nghĩa với người hoàn thiện nhất, nên “Nhân” có hàm nghĩa rộng nhất của đạo làm người Đạo làm người có hàng ngàn, hàng vạn điều nhưng chung quy lại chỉ là những điều đối với mình và đối với người, nên nhân có thể hiểu là cách cư xử đối với mình, cách cư xử đối với người Do đó,

nó đồng thời quy định mối quan hệ giữa cá nhân với các thành viên trong gia đình theo nghĩa hẹp, đồng thời giữa con người với con người theo nghĩa rộng Người “nhân” là phải “yêu người” ; Người Nhân không thể ích kỉ, không chỉ

vị kỉ mà phải vị tha Người Nhân phải có Lễ, giữ Lễ; Người Nhân phải tự khép mình cho phù hợp với danh và thực của họ, phù hợp với Lễ mà gia đình, dòng tộc, xã hội quy ước Người Nhân phải khoan thứ, mình muốn thành đạt thì phải làm cho người khác thành đạt, điều mình không muốn đừng làm cho

“người”

Nhân được hiểu theo hai nghĩa Theo nghĩa hẹp, nhân là một chuẩn

mực đạo đức cụ thể, cơ bản, nền tảng lý tưởng của bậc quân tử, của con người Người gia trưởng, bậc quân tử trong gia tộc coi đó là chuẩn mực để bậc trưởng tôn tu dưỡng và hoàn thiện đạo đức, xứng đáng làm trụ cột trong gia tộc Theo nghĩa rộng, nhân bao gồm mọi đức khác cần có của con người

lý tưởng: cách cư xử của con cái đối với cha mẹ, quan hệ vợ chồng, quan hệ anh em trong gia đình nói riêng, trong toàn dòng họ, với cả xã hội nói chung Người có nhân là người tình cảm chân thực, hết lòng vì nghĩa, cho nên nhân

Trang 24

20

bao giờ cũng hiếu đễ, lễ, nghĩa trung thứ Con người gia trưởng chuẩn mực thể hiện đức nhân trong tất cả các mối quan hệ của mình, chủ yếu rõ nhất ở gia đình Người gia trưởng có nhân trước hết là người con có hiếu với cha mẹ, không chỉ nuôi dưỡng, chăm sóc mà cốt yếu phải có lòng cung kính lễ phép, kính trọng, phụng dưỡng cha mẹ, như vậy mới là Nhân Điều này còn được khẳng định rõ hơn khi Phàn Trì hỏi Khổng Tử về Nhân, Khổng Tử giảng giải rằng:“Khi ở nhà thì giữ diện mạo cho khiêm cung; khi làm việc phải thi hành một cách kính cẩn; khi giao thiệp với người thì phải giữ dạ trung thành Dẫu

có đi đến các nước rợ Di, Địch cũng chẳng bỏ ba cái đó, như vậy là người có đức nhân” [41 ,39] Người quân tử có Nhân phải là người có hiếu, phải thực hiện ở trong gia đình đó, quan hệ trực tiếp, tự nhiên, huyết thống ruột thịt của mình, áp dụng rộng rãi ra ngoài xã hội

Trong bất kỳ mối quan hệ nào trong gia đình, nếu con người đó làm trái với những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức đặt ra như trên, thì bị coi là trái với đức nhân, là người không có Nhân Ngoài ra, Nho giáo Khổng - Mạnh cũng quan niệm, người nào làm theo lễ đó là người Nhân, giữ đức tín là nhân, sống có nghĩa là nhân, thể hiện đầu tiên và trực tiếp ở trong gia đình

Nghĩa có quan hệ mật thiết với Nhân, theo quan niệm của các nhà Nho,

Nghĩa là một phạm trù đạo đức, một chuẩn mực đạo đức cơ bản Nếu Nhân là

để nói về hiểu người, yêu người đối với người, thì Nghĩa là để nói về mình, chỉnh mình, sửa mình, tự yêu cầu, bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ tự giác của mỗi người Phẩm chất Nghĩa là để thực hiện, trả nghĩa, được hiểu là tự giác cái thuộc về lẽ phải, là trách nhiệm của cá nhân đối với gia đình, dòng họ

và xã hội Theo đó Nho giáo cho rằng, tự mỗi người đã đặt lợi ích gia đình, dòng họ, trách nhiệm xã hội lên trên lợi ích cá nhân, đặt cái quốc gia đại sự lên trên cái bản thân mình, người quân tử, tự răn, tự giác, luôn luôn hoàn thành

Trang 25

21

bổn phận, nghĩa vụ, trách nhiệm và tình cảm của mình trong các mối quan hệ gia đình: nghĩa cha con, nghĩa vợ - chồng, nghĩa anh em mà không cần phải viện

dẫn nhiều tới luật pháp bên ngoài

Lễ Trong học thuyết đạo đức của Nho giáo, cũng là một phạm trù

chuẩn mực cơ bản và là một biểu hiện ra bên ngoài của đức Nhân Người không có lòng Nhân thì sao thi hành được Lễ Người có đức Lễ cũng đồng thời có đức Nhân Về thực chất trong quan niệm của nhà Nho, Lễ dùng để phân biệt quy định hình thức về tôn ty trật tự, kỷ cương gia đình mà mọi người, mọi thành viên trong gia đình đều phải học tập và tuân theo, để phân biệt kỷ cương trong các mối quan hệ cha - con, vợ - chồng, có việc trái việc phải, được phép làm, và không được phép làm Đồng thời, Lễ còn là những chuẩn mực, quy tắc có tính chất bắt buộc đối với con người trong mọi hành

vi, lời nói Nó thể hiện thái độ, nếp sống, ý thức tôn trọng lễ nghi, trật tự kỷ cương gia đình Nó khiến cho tư tưởng đạo đức nhân, nghĩa có hình thức bộc

lộ ra để trở thành quy tắc chi phối hành động của mọi người, được áp dụng trong toàn gia đình và xã hội Đồng thời Lễ còn là tiêu chuẩn, là hình thức bên ngoài quan trọng để đánh giá con người ngay trong gia đình Các nhà

Nho đã nói: “Sự giáo hoá của Lễ rất lớn, ngăn cấm điều lâm nguy, khi chưa

xảy ra khiến người ta càng gần điều thiện, tránh xa điều ác, mà tự mình không biết” [12, 186] Theo Mạnh Tử, Lễ là hình thức biểu hiện của nội dung

Nhân Nghĩa, của việc thực hành đạo làm người theo các bậc khác nhau ứng với Ngũ Luân Ông nói: “lễ đối với việc sửa nước cũng giống như cái cân đối với việc nặng nhẹ, cái dây đối với vật thẳng, vật cong, cái quy củ đối với vật tròn vật vuông vậy”[66, 48]

Những quy phạm của Lễ đã trở thành cái bắt buộc, là yêu cầu, hình thức hóa tiêu chuẩn phổ biến trong gia đình, nhằm điều chỉnh hành vi của con người Và vì vậy, về sau Lễ mang tính chất gia luật, gia phong, nếp gia tức là

Trang 26

22

gia lễ Theo Nho giáo, gia đình cần có Lễ và Lễ quy định danh phận từng người theo vị trí, vai trò của từng thành viên, không được vô lễ, lạm quyền, vượt quyền Đúng như Khổng Tử nói: Trái Lễ thì không xem, trái Lễ thì không nghe, trái Lễ thì không làm Có nghĩa là đạo đức Nhân Nghĩa không có

Lễ thì không thành Vai trò của Lễ rất quan trọng, Lễ là hình thức biểu hiện, là

sự ràng buộc con người nhằm mục đích cuối cùng là duy trì trật tự, kỷ cương gia đình Qua đó, Lễ đánh dấu thành quả giáo dục của gia đình, của cha mẹ đối với con cái, sự trưởng thành của con cái trước gia đình và xã hội Lễ được cụ thể hoá thành những hình thức nguyên tắc đạo đức, nó cũng là một biện pháp để thi hành đường lối Đức trị Vì vậy mà Đức trị và Lễ trị tuy khác nhau, nhưng vẫn

có điểm tương đồng giống nhau, chúng đan xen lẫn nhau, hoà quyện vào nhau, nương tựa vào nhau, bổ sung lẫn nhau

Trí, là một trong bốn đức lớn, đầu mối có sẵn trong tâm con người,

được coi là điều kiện để điều Nhân, Nghĩa, Lễ có cơ sở hợp lý về nhận thức

Nó được hiểu là sự hiểu biết, trí tuệ, minh mẫn…có Trí thì con người mới thực hiện Nhân, Nghĩa, Lễ, Tín, các chuẩn mực đạo đức hiệu quả, mới phân biệt được thiện ác, trái với phải một cách có căn cứ Có Trí con người mới vươn được tới đức Nhân, mới giúp được người, được mình, không hại người, hại mình Đồng thời, phải có Trí mới biết yêu thương cha mẹ, anh em mình Trí không phải ngẫu nhiên mà có, mà nó là kết quả của sự thực hành, quá trình học hỏi trong đời sống Sách Đại học nêu ra con đường để đạt đến đức Trí, đức Nhân và trở thành thánh Nhân, như sau: một con người có đức trí đó

là “cách vật” (hiểu biết đến tận cùng của sự vật, sự việc); Hai là “Trí Trí” (hiểu biết vấn đề gì phải đến nơi đến chốn); Ba là “thành ý” (ý thức chân thành khiêm tốn trong sự hiểu biết); Bốn là “chính tâm” (hiểu biết trong sự ngay thẳng, chính trực) Thực hiện được bốn tiêu chuẩn này, đức Trí sẽ trở nên sáng rõ và các nhà Nho luôn gắn trí với đạo đức, có trí, dũng, có nhân thì

Trang 27

23

lợi cho gia đình; Chỉ có Trí và Dũng, không có nhân, thì nhiễu cho gia đình Trí, Dũng thực chất không tách rời Nhân và Nghĩa Theo Nho giáo người có Trí, Dũng mà trái Nhân, Nghĩa, tách nó khỏi Nhân Nghĩa thì đó chỉ là đứa con bất hiếu, phá gia chi tử

Tín là đức tính thứ năm cần có của con người, đức này củng cố mối

quan hệ giữa con cái - cha mẹ, vợ - chồng, anh- em bằng lòng tin lẫn nhau, giữ đúng lời hứa, lới nói có tín thực Tín được hiểu là sự tin tưởng, lòng tin giữa các thành viên trong gia đình Tín cũng là một phẩm chất đạo đức của mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi dòng họ, không có tín sẽ mất hết tất cả

Khổng Tử nói: “Người không có tín tất dễ phản” [41, 191] Tín còn là giữ

đúng và làm theo lời hứa giữa người và người Mạnh Tử lại cho rằng: “Nói ra bất tất giữ tín thật đúng, làm ra bất tất làm kỳ được, chỉ có điều là có nghĩa đúng ở trong đó” [ 66, 49]

Trong Luận ngữ Khổng Tử nói rõ, trong mối quan hệ gia đình phải đề

cao chữ Tín như một điều kiện tiên quyết Giữ tín khiến cho con cái khi ra ngoài cha mẹ yên tâm, vợ con yên tâm gửi sinh mệnh cả cuộc đời cho bậc gia trưởng

Gia đình là tế bào cơ bản của xã hội, là nơi duy trì nòi giống, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người Trong gia đình, mối quan hệ giữa các thành viên như cha mẹ - con cái, giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà và cháu…đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các chức năng của gia đình, đồng thời đó cũng là sợi dây tình cảm rất thiêng liêng gắn kết thành viên trong gia đình với nhau Bởi vậy, khi nói đến gia đình là nói đến tổ ấm hạnh phúc, là nơi thoả mãn nhu cầu tình cảm và vật chất của mỗi thành viên Vì lẽ đó, mà đạo đức gia đình đã được Khổng - Mạnh rất chú trọng xây dựng để trở thành “thiên đường trong thế giới không tim”, tinh thần gia tộc sẽ “chữa lành vết thương cho con người”, trong bối cảnh loạn lạc tràn lan, là nguồn mạch lập lại trật tự xã hội

Trang 28

24

Phân tích từ nguồn gốc nhân tính theo Nho giáo, có thể thấy rằng các nhà Nho đặc biệt đề cao vai trò của giáo dục, đề cao vai trò của đạo đức gia đình trong việc tu dưỡng hình thành nên tính cách của mỗi con người, mỗi thành viên trong gia đình và xã hội Giáo dục đạo đức gia đình có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng

Nho giáo cho rằng, xây dựng đạo đức trong gia tộc và việc thi hành nó

sẽ là biện pháp tốt nhất để loại trừ tình trạng phi nhân, phi đạo đức trong xã hội, là phương tiện căn bản để duy trì trật tự, kỷ cương, sự ổn định gia đình và

xã hội Theo Nho giáo, việc giáo dục đạo đức trong gia đình nhiều khi quyết định nền thịnh suy của một đất nước Bởi vì, xã hội là do các dòng họ làm nên một dòng tộc lớn, gia đình lớn là cơ sở, là nền tảng của xã hội, gia đình có tốt đẹp ổn định thì xã hội mới tốt đẹp ổn định Các mối quan hệ trong gia đình tốt đẹp hòa hợp - “mỗi người đều thương yêu cha mẹ bà con mình, kính trọng bậc trưởng thượng của mình thì thiên hạ sẽ được thái bình” Trong xã hội, gia đình là tế bào trung tâm, là giao điểm của các mối quan hệ khác ngoài xã hội

Nho giáo rất coi trọng giáo dục đạo đức gia đình và đi sâu vào nội dung chuẩn mực các mối quan hệ trong gia đình, coi đạo đức gia đình là cơ sở của

sự ổn định xã hội, họ nhấn mạnh “Gốc của thiên hạ là ở nước, gốc của nước là

ở nhà” [41, 13] Vì vậy, gia đình và truyền thống gia đình, gia tộc rất được Khổng - Mạnh chú trọng thực hiện trong giáo dục gia đình, gia tộc Trong gia đình, các mối quan hệ có được giải quyết tốt theo đúng tinh thần “chính danh”; “cha ra cha, con ra con, anh ra anh, em ra em, chồng ra chồng, vợ ra

vợ thì là đạo chính” [41, 39] thì mở rộng ra đến ngoài xã hội các mối quan hệ

xã hội khác mới đúng đắn, trật tự được giải quyết tốt đẹp, nhất là con người ở trong nhà có hiếu thuận thì ra xã hội vấn đề “trung quân” mới được giải quyết triệt để nhờ có “hiếu đễ”, “nhu thuận”

Trang 29

25

Nho giáo cho rằng, đạo đức là phương thức điều chỉnh hành vi của con người, những chuẩn mực đạo đức là những yêu cầu để mọi người trong xã hội phải tuân theo, mà trước hết là những mối quan hệ trong gia đình rồi đến mối quan hệ trong xã hội Ngược lại, khi đã là một thành viên của gia đình, con người đều phải chịu sự giáo dục nhất định về đạo đức, một sự đánh giá sau hành động của mình, con người còn có trách nhiệm chuyển những đòi hỏi của gia đình thành những mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ cho mỗi cá nhân và chịu

sự điều khiển của xã hội đó Hành động của con người do đó tạo ra động lực

tự nhiên hứng thú trong mỗi con người khi thực hiện nhiệm vụ đó…Từ đây, chúng ta khẳng định rằng, quan niệm Nho giáo trong hoàn cảnh nhất định nào

đó, có sự điều chỉnh đạo đức là mang tính tự nguyện, tự thân thay đổi, chứ không ép buộc bắt buộc và con người có quyền tự do lựa chọn chuẩn mực đạo đức của mình khi họ tự giác tuân theo nghĩa vụ yêu cầu luật pháp

Quan niệm đạo đức trong gia đình của Nho giáo ca ngợi tình yêu thương đùm bọc, cộng cảm, quý trọng lẫn nhau theo tinh thần “máu chảy ruột mềm”, sự coi trọng danh dự và truyền thống gia đình dòng họ, ca ngợi truyền thống hiếu học, trung nghĩa, ca ngợi sự cố gắng nỗ lực phấn đấu tu dưỡng không ngừng của mỗi thành viên trong gia đình, để trước làm vinh dự cho bản thân, sau làm rạng rỡ, vẻ vang cho tổ tiên, dòng họ Đối với Nho giáo, sự giáo dục gia đình theo gia đạo, gia lễ, theo nề nếp truyền thống gia phong của mỗi nhà có tác dụng mạnh mẽ quyết định sự thành công trong công việc cai trị đất nước và làm rạng danh gia đình, dòng họ, cá nhân, góp phần ổn định xã hội

1.2.2 Quan niệm Nho giáo về quan hệ tôn ti trật tự gia đình (thể hiện ở Lễ)

Trong quan niệm của Nho giáo, Lễ được coi là thước đo giá trị đánh giá nhân cách của một con người từ trong gia đình ra ngoài xã hội Quan niệm người gia trưởng, bề trên phải giữ đúng Lễ, để làm mực thước cho kẻ dưới trong nhà noi theo, đó là gốc của kỷ cương gia tộc Trong gia đình, các mối quan hệ anh em, vợ chồng, ông bà, cha mẹ con cái, phải theo Lễ để giữ tôn ti

Trang 30

26

trật tự trong gia đình Mỗi thành viên trong gia đình làm đúng theo bổn phận

và trách nhiệm, nghĩa vụ, tôn ti của mình

Mạnh Tử nói: “Biểu hiện cụ thể của nhân là ở chỗ phụng dưỡng cha mẹ; biểu hiện cụ thể của nghĩa là phục vụ huynh trưởng; biểu hiện cụ thể của

trí là hiểu rõ được hai điều đó; biểu hiện của lễ là biết tiết chế và làm cho hai

điều đó thêm hay thêm đẹp; biểu hiện cụ thể của nhạc là thấy thích thú khi

làm hai điều đó Thích thú mà làm, tất nhiên sẽ cảm thấy thấy vui sướng Một khi sự thích thú vui sướng đó đã nảy sinh thì không gì ngăn cản nổi; không gì ngăn cản nổi thì chân nhịp, tay múa là điều rất tự nhiên vậy”.[67, 27]

Hiếu đễ là gốc của đạo làm người, Khổng Tử cho rằng Hiếu là “nết đầu trong trăm nết”, hành vi của con người ta không gì lớn bằng chữ Hiếu, người con có hiếu ý thức đầy đủ về tình cảm bổn phận của mình đối với cha mẹ, đó

là sự biết ơn, cù lao chin chữ “cha sinh ra ta, mẹ nuôi ta, thương thay cha mẹ” Đó là ý nguyện thường xuyên làm sao để cha mẹ được hạnh phúc, vui sướng Hiếu là đức của người con tận tâm, thành kính khi cha mẹ còn sống và

cả tình cảm, thái độ đối xử với cha mẹ trong quan hệ với người khác sau khi cha mẹ mất Nho giáo cho rằng, gia đình cần phải có kỷ cương, có Lễ, vì Lễ quy định vị trí, vai trò của từng thành viên trong gia đình Lễ rèn luyện tâm tính con người, đưa con người trở nên thiện Vì thế, trong gia đình, con người nhất định cần phải được dạy dỗ, được giáo dục theo khuôn mẫu của lễ giáo, giữa các thành viên phải ứng xử sao cho phải đạo làm người Hơn nữa Lễ còn góp phần xây dựng tập quán đạo đức, truyền thống văn hoá, văn minh cho gia đình, dòng họ

Nho giáo cho rằng các thành viên trong gia đình phải có Lễ, bởi vì Lễ

có những vai trò sau:

Thứ nhất, Lễ quy định kỷ cương tôn ti trong gia đình, ở đó danh phận

của từng người trong gia đình, theo ngôi thứ, trên dưới rõ ràng và không được tiếm vượt, đó là yêu cầu trước tiên của Nho giáo để giữ yên nhà

Trang 31

27

Theo Lễ, Khổng Tử yêu cầu: “Quân quân, thần thần, phu phu, phụ

phụ, tử tử”, nghĩa là vua phải sống xứng đáng là vua, bề tôi đáng phận bề tôi, cha đáng phận cha, vợ đáng phận vợ, chồng đáng phận chồng, con đáng phận con” [41, 246] Theo đó, Nho giáo đề ra những kỷ cương cụ thể, chi tiết

của mọi người phải sống có tôn ti trật tự, có thứ tự trên dưới rõ ràng Trong đó quyền lực của ông bà, cha mẹ được đặt ở vị trí cao nhất Con cái phải nghe theo cha mẹ, vợ nghe theo chồng, em phải nghe theo anh, con trai có quyền hơn con gái, bất kể tuổi tác

Theo Khổng Tử, ông đề cao, coi Lễ là tiêu chuẩn để đánh giá con người đối xử với nhau có tôn trọng, quý trọng nhau hay không là ở kính, ở lòng thành nghĩa là có đúng lễ hay không Bắt đầu từ Khổng Tử trở đi, những quy phạm của Lễ đã trở thành bắt buộc, là tiêu chuẩn phổ biến của gia đình và xã hội để điều chỉnh hành vi của con người Sau này đến Mạnh Tử, ông cũng rất coi trọng Lễ Ông là người chỉ rõ thực chất của Lễ là hình thức biểu hiện của hiếu đễ, mà hiếu đễ là gốc của đạo làm người Do đó, những kỷ cương yêu cầu của Lễ mà mọi người phải noi theo chính là hình thức biểu hiện của đạo làm người Ông viết: “Chỗ đích thực của Nhân là thờ cha, chỗ đích thực của Nghĩa là kính anh Chỗ đích thực của Lễ là khéo sắp đặt và tô điểm cho hai việc ấy Chỗ đích thực của Nhạc là hoà vui trong hai việc ấy” [66, 35-37) Cùng với “Tứ đoan”, ông chỉ rõ nguồn gốc của Lễ là ở trong tâm, trong bản tính thiện của con người: Lễ bắt nguồn từ lòng từ nhường: người có Lễ là người biết kính nhường người thương mình Theo ông, thực chất của Lễ là

“tiết chế nhân nghĩa cho đúng mực và văn sức (tô điểm) cho hai đức này”

Thứ hai, Nhờ có Lễ mà có được chuẩn mực để giáo dục rèn luyện được

tâm tính của con người, đưa con người trở về với tính thiện bẩm sinh, làm cho con người trở nên thiện Sau này, trong sách chú giải kinh Lễ ký đã giải thích:

“Tác dụng giáo hoá của Lễ, trên thực tế nó luôn thấp thoáng ẩn hiện không

Trang 32

28

thấy được, trong khi tội ác chưa kịp hình thành, chính Lễ góp phần khống chế

nó, khiến cho chúng ta ngày càng đi vào con đường lương thiện, xa rời tội ác,

mà bản thân cũng vẫn chưa nhận ra” Nguyên văn “Cố lễ chi giáo hoá vi dã

vi, kỳ chi tả dã vu vị hình, sử nhân mục đồ thiện viễn tội nhi bất tội vi dã” [

“con người ta không lấy gì làm sáng tỏ lễ nghĩa”, “con người ta chẳng thể

một lúc mà bỏ lễ nghĩa được Biết lấy lễ nghĩa mà thờ cha mẹ là hiếu, biết lấy

lễ nghĩa mà thờ anh là đễ, biết lấy lễ nghĩa mà thờ người trên là thuận, biết lấy lễ nghĩa mà sai khiến người là Vua” [15, 263] Lễ cao đẹp như vậy, nên

nếu ai “phỉ báng lễ là đời tối tăm, đời tối tăm là loạn lớn”, cho nên Lễ càng không thể bỏ

Sau này, sách Lễ Ký, thiên Lễ Vận có chỉ rõ phương pháp dùng Lễ để điều chỉnh những trạng thái tâm lý vốn có của con người như: mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét, muốn Lễ dùng để dẫn dắt con người theo con đường nhân nghĩa: chồng nghĩa, vợ nghe, anh nhượng, em đễ, người lớn có huệ, người nhỏ vận theo Nếu không có Lễ thì không thể thống nhất được nhân tình, không thể giảng giải điều tín, sửa điều hoà mục, đề cao lòng từ nhượng, không thể từ bỏ được mối tranh cướp, không thể trở thành nhân đức được Điều đó càng khẳng định cho chúng ta thấy tác dụng to lớn của Lễ đối với việc rèn luyện nhân cách của con người, đưa con người vươn tới lý tưởng sống cao đẹp, luôn suy nghĩ và hành động vì nhân, vì nghĩa, làm cho con

Trang 33

29

người đối xử tốt đẹp với nhau trong gia đình ra ngoài xã hội nhân ái, chí thiện

mà Khổng - Mạnh đã quan niệm

Nho giáo cho rằng, kỷ cương gia đình có vai trò quan trọng góp phần

xây dựng những tập quán đạo đức, truyền thống gia đình, dòng họ tốt đẹp

Ngoài việc quy định danh phận cho mọi người sống trong gia đình theo trật tự, thứ bậc trên dưới, để ai sống hết lấy phận sự của mình, có trách nhiệm với bản thân và với nhau, Lễ còn tiết chế tình người, rèn luyện nhân cách đạo đức cho con người, tạo nên một bầu không khí gia đình văn hoá lễ giáo, khiến cho mỗi thành viên dứt bỏ điều xấu, hướng tới những giá trị chân thiện mỹ Bầu không khí lễ giáo, nhất là khi đứng trước bàn thờ gia tiên tế lễ khiến người ta nhớ về tổ tiên, trở về cuội nguồn bằng tấm lòng biết ơn thành kính

Họ hiểu rằng, vẻ trang nhã, thành kính do mình đặt ra trong tế lễ chính là biểu hiện cho đạo làm người (người đã chết), là để giáo dục người sống, là nghi thức để hoàn thiện đạo làm con một cách trang trọng đẹp đẽ

1.2.3 Quan niệm Nho giáo về chuẩn mực đạo đức cơ bản cho từng thành viên cụ thể trong gia đình

 Đạo của người cha, người chồng, bậc gia trưởng

Người chồng - Người chủ gia đình, theo tinh thần tề gia, Nho giáo yêu cầu người chồng phải đối xử đúng đắn với vợ, phải dạy vợ ngày từ khi mới lấy về, không được sợ vợ, sợ vợ là ngu Nhưng chồng cũng không được làm

gì để vợ con vì mình mà hổ thẹn Chồng được coi là “rường cột của vợ”, quyết định mọi việc, là chỗ dựa đáng tin cậy của vợ, con về mọi mặt nhất là trong việc làm kinh tế và giáo dục con cái nên người, là trung tâm đoàn kết của gia đình hết lòng thương quý vợ con, là tấm gương cho vợ con trong các quan hệ ứng xử ở gia đình và với họ hàng làng xóm, với anh em bạn bè Tuy nhiên, Nho giáo chú trọng việc duy trì nòi giống, tông tộc cũng qui định

Trang 34

30

chồng có thể bỏ vợ hoặc lấy thêm vợ khác tuỳ ý, nhất là khi vợ chính sinh con một bề hoặc không có con

 Đạo của người mẹ - người vợ

Theo đó, đạo làm vợ, yêu cầu người vợ phải „nhu thuận”, tôn trọng và

phục tùng chồng, nghe theo mọi quyết định của chồng trong mọi chuyện “phu

xướng - phụ tuỳ”, “xuất giá tòng phu” không được tự ý làm việc gì, “phải giữ mình cho khéo, đừng trái ý chồng, lấy nết thuận tòng làm phép chính” Vợ

phải là người hiền thục, đi đứng, ăn mặc, nói năng phải giữ lễ phép, làm việc chăm chỉ không ngại khó, ngại khổ để khiến cho chồng sang và sáu bậc thân trong nhà được hoà thuận Đồng thời vợ phải nhận thức rõ vị trí, vai trò của mình trong gia đình cũng như ngoài xã hội, cùng chia sẻ trách nhiệm với chồng trong việc tạo dựng hạnh phúc chung Theo thiên chức của mình thì vợ phải là người biết quán xuyến công việc gia đình, biết tề gia nội trợ, chăm sóc chồng, nuôi dạy con cái và đối xử tốt với cha mẹ chồng theo chức phận làm con, làm dâu trong nhà Những yêu cầu người vợ phải trau dồi rèn luyện tứ đức: Công, Dung, Ngôn, Hạnh đối với người phụ nữ vẫn được chồng, gia đình chồng trân trọng ca ngợi khi người vợ đáp ứng được một cách tự giác, sao cho giữ được tình cảm yêu mến, quý trọng lẫn nhau Nho giáo không thừa nhận nhân cách độc lập của người phụ nữ, họ phải chấp nhận “tam tòng”

 Đạo của anh - em

Khổng Tử, Mạnh Tử và các nhà Nho đều cho rằng anh em ruột thịt trong một nhà phải có thứ tự trên dưới, có trước có sau: “anh nên anh, em nên em”, “trưởng ấu hữu tự” Họ yêu cầu “làm anh mộ nhân nghĩa nên thờ anh”, anh bảo em phải nghe, làm anh phải thương mến, khoan dung độ lượng với

em, quan tâm lo lắng, chăm sóc em Trên dưới phải thuận hoà, vui vẻ bảo ban nhau Nhưng người anh, nhất là anh trưởng có vị trí cao trong gia đình (sau

Trang 35

31

người cha) Anh trưởng là người thay cha (khi cha qua đời) làm chủ và điều hành mọi việc trong nhà; em không được trái ý anh, phải tôn kính anh, làm theo ý anh Quan niệm có tính nguyên tắc “quyền huynh thế phụ” đã được mọi người trong xã hội thừa nhận Trong gia đình, anh em đối xử với nhau hoà thuận và có “nên anh, nên em đúng đắn thì mới có thể dạy người trong nước được”, mới làm gương cho xã hội được Đối với chị em gái, chị em đều phải có phép tắc, tôn ti, thứ bậc và tinh thần gia tộc

Như vậy, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình được Nho giáo rất coi trọng, bởi đó là quan hệ huyết thống với tất cả tình cảm tự nhiên vốn có của nó Trong các phẩm chất gia đình đó, hiếu, đễ được coi là gốc của đạo nhân, đạo trung của đạo làm người, vì thế việc giáo dục đạo đức, nề nếp gia phong của một gia đình rất được giai cấp phong kiến coi trọng, lấy Nho giáo làm nòng cốt, nền tảng của hệ tư tưởng Trong khi đánh giá một con người, họ lấy luân lý đạo đức Nho giáo làm cơ sở và coi đó là điều kiện để sử dụng con người vào mục đích chính trị (“tề gia” là để “trị quốc”) Và việc giáo dục đạo đức trong gia đình (đức hiếu, đức đễ) nhiều khi quyết định nền suy thịnh của một đất nước, bởi vì gia đình là cơ sở, nền tảng của xã hội, gia đình có tốt thì

xã hội mới tốt Các quan hệ trong gia đình mà tốt đẹp, mỗi người đều thương yêu cha mẹ bà con mình, kính trọng bậc thượng trưởng của mình - thì tự nhiên thiên hạ sẽ được thái bình Trong cấu trúc xã hội, tế bào gia đình dường như là trung tâm, mối quan hệ trong gia đình là giao điểm của mối quan hệ ngoài xã hội, làm cho các mối quan hệ ngoài xã hội đều bị gia đình hoá: quân thành quân phụ, thần thành thần tử, quan được gọi là quan phụ mẫu (mẹ của dân), dân gọi là tử dân, thầy sư thành sư phụ (cha); quốc dân được gọi là đồng bào, “tứ hải giai huynh đệ”,…yêu cầu của đạo đức Nho giáo đối với mối quan

hệ ngoài gia đình, là sự phát triển, mở rộng thêm các mối quan hệ trong gia đình Đây là một đặc trưng của giá trị xã hội Phương Đông có ảnh hưởng nhiều đến Việt Nam

Trang 36

32

1.3 Sự du nhập và ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo trong lịch sử tại Việt Nam

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, đời sống văn hóa tinh thần của xã hội

ta luôn bị chi phối, chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi nhiều học thuyết và tôn giáo khác nhau Trong lịch sử dân tộc ta, tuy trong mỗi giai đoạn lịch sử, dân tộc ta đều có một học thuyết, hoặc một tôn giáo cụ thể nắm giữ vai trò chủ đạo đối với đời sống tinh thần của xã hội Nho giáo là một học thuyết chính trị - đạo đức có ảnh hưởng sâu sắc, lâu dài tại Trung Quốc, Việt Nam và một số nước Châu Á Đến nước ta, Nho giáo được dung hợp và hòa đồng theo cách nghĩ của người Việt Nam Nói cách khác, Nho giáo du nhập vào nước ta được

“Việt Nam hóa” trong một chặng đường dài lịch sử, đã góp phần đáng kể vào việc tạo dựng nền văn hiến Việt Nam Trước khi Nho giáo du nhập vào, nước

ta đã là một dân tộc độc lập, có một nền văn hóa tương đối phát triển đó là nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc, trải qua hàng ngàn năm lịch sử và phát triển đã trở thành cội nguồn làm nên bản sắc dân tộc ta ngày nay

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Nho giáo vào nước ta từ thời Tây Hán, tức vào khoảng năm 110 trước Công nguyên đến năm 39 sau Công nguyên và tồn tại trong suốt thời kỳ phong kiến Vào thế kỷ XV, khi Nho giáo chiếm vị trí độc tôn, xã hội Việt Nam nói chung, gia đình Việt Nam nói riêng chịu ảnh hưởng ngày càng sâu đậm của Nho giáo Mặc dù trong khoảng thời gian đó, lịch sử tư tưởng Việt Nam đã tiếp thu nhiều hệ tư tưởng khác như Phật Giáo, Đạo giáo, v.v Đã có thời kỳ Phật giáo chiếm ưu thế, nhưng càng về sau Nho giáo càng chiếm ưu thế và trở thanh hệ tư tưởng cho các triều đại phong kiến Việt Nam Các nhà nước phong kiến dưới triều Lê – Nguyễn đều lấy Nho giáo làm nền tảng tư tưởng chi phối xã hội Trong công việc cai trị đất nước, các triều Lê – Nguyễn đều đặc biệt chú trọng đến vấn đề gia đình, đều coi gia đình là cơ sở quan trọng để tạo lập kỷ cương và ổn định xã hội Tề gia và trị

Trang 37

33

quốc là hai công việc gắn liền với nhau, muốn trị quốc trước hết phải tề gia, cho nên Nho giáo rất coi trọng và quan tâm đến giáo dục đạo đức gia đình Bởi vậy đạo đức gia đình Nho giáo mang bản sắc văn hóa Việt Nam đậm nét Những ảnh hưởng của Nho giáo đến giáo dục đạo đức trong gia đình được thể hiện ở một số nội dung sau:

Một là: trong giáo dục con người, Nho giáo đề cao việc tu thân, tự rèn

luyện cá nhân để tự hoàn thiện mình, tự điều chỉnh mình Gia đình ngoài mục đích bảo vệ cá nhân, còn có mục đích tạo nên những cá nhân tốt, công dân tốt,

vì vậy gia đình chính là bàn đạp để mỗi thành viên lấy đà để bước vào cuộc sống xã hội Các nhà nho đều cho rằng con người cần phải có những phẩm chất đạo đức cơ bản trong ngũ thường là: Nhân, lễ, Nghĩa, Trí, Tín Với việc

đề cao tu thân, coi đây là cái gốc rèn luyện đạo đức, nhân cách của con người, Nho giáo đã tạo nên một lớp người sống có đạo đức, trên kính dưới nhường, tôn ti trật tự

Hai là, tư tưởng Nho giáo xác lập mối quan hệ “ngũ luân”, quân thần,

phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu trên cơ sở những nguyên tắc và chuẩn mực riêng cho từng mối quan hệ, đối tượng; cha hiền con thảo, anh tốt, em ngoan, trên dưới kính nhường…Quan điểm này đã góp phần giáo dục đạo đức, nhân cách con người trong gia đình Việt Nam truyền thống và ngày nay

nó vẫn còn có những ảnh hưởng nhất định trong việc giữ gìn nề nếp gia phong, dòng tộc, biết kính trọng, tôn trọng lẫn nhau, giữ được đạo lý trong gia đình, xã hội Trong quan hệ ngũ luân, Nho giáo khuyên con người phải chính danh, mỗi người sống đúng theo bổn phận của mình

Ba là, bổn phận trách nhiệm quan trọng của con người là Hiếu Đạo

đức Nho giáo đề cao chữ Hiếu và coi đó là nền tảng của đạo làm người Sự sống của mỗi con người không phải do tạo hóa sinh ra, càng không phải do bản thân tự tạo, mà nhờ cha mẹ, sự sống của cha mẹ lại gắn liền với sự sống

Trang 38

34

của ông bà và cứ như vậy, thế hệ sau là sự kế tiếp của thế hệ trước Do đó, con người không chỉ biết ơn cha mẹ, mà cò cả tổ tiên, dòng tộc Việc kính trọng, hiếu thảo với ông bà cha mẹ, tổ tiên là nét đẹp trong đạo hiếu của gia đình Việt Nam Như vậy, tư tưởng coi trọng tình nghĩa, lễ phép, khoan thứ, kiệm ước của Nho giáo vẫn rất cần được kế thừa và phát huy trong giáo dục, hoàn thiện đạo đức gia đình

Ở Việt Nam, đạo đức gia đình có sự hòa trộn giữa bản sắc văn hóa của dân tộc với đạo lý Nho giáo, đã tạo ra văn hóa gia đình Việt Nam với những nét độc đáo, mà nền tảng căn bản chính là tình thương yêu, ý thức trách nhiệm, tự giác của mỗi thành viên Từ tình thương yêu đối với gia đình, dẫn

tới tình thương yêu đối với cộng đồng xã hội, Tổ quốc, đất nước Chính tình

thương yêu đó là sự gắn kết, chỗ dựa vững chắc cho sự tồn tại, phát triển của gia đình, đất nước trước những biến cố của lịch sử Việt Nam, khi tiếp thu Nho giáo cũng lược bỏ bớt sự xơ cứng nhiều quy tắc cứng nhắc, cực đoan của nó Cấu trúc gia đình Việt Nam chủ yếu là gia đình hạt nhân, là gia đình tiểu nông theo mô hình “chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa” Việt Nam có gia giáo, gia lễ, gia phong song không có gia pháp như Trung Quốc Do lịch sử kết cấu gia tộc, tông tộc lớn của gia đình mà gia pháp Trung Quốc cho phép cha mẹ có thể xử chết con cái, nhất là con dâu, mà không cần đến xét xử của tòa án Vì vậy đã có rất nhiều người con bị hại chết oan khuất khi không làm vừa lòng cha mẹ Nhưng trong gia đình người Việt, thường giải quyết tất cả các mối quan hệ không phải chỉ theo giáo lý và luật pháp, mà còn trên cơ sở của tình nghĩa, chín bỏ làm mười Trong gia đình Việt Nam tình cảm “hiếu đễ” được coi là cái gốc của đạo lý Người Việt cũng cho rằng kẻ nào bất hiếu với cha mẹ, tàn nhẫn với anh chị em mình thì không thể là người tốt và đáng được tin cậy trong xã hội Bên cạnh đó, mối quan hệ trên, dưới trong gia đình được quy định rất rõ ràng Con người cá nhân trước hết là một bộ phận của

Trang 39

35

gia đình, là một mắt xích của một xâu chuỗi dài bắt nguồn từ tổ tiên đến con cháu sau này Ở những vị trí cụ thể của mình là cha, con, chồng, vợ đều phải ứng xử theo phận sự của mình, cha mẹ nhân từ, con cái hiếu thảo, vợ chồng hòa thuận, thủy chung, anh nhường nhịn em, em kính trọng anh Nếu tất cả các thành viên giữ được những nguyên tắc chuẩn mực đó thì tất yếu xã hội sẽ

ổn đinh, trật tự kỉ cương được giữ vững

Giống như nhiều nước nông nghiệp chưa phát triển khác, xã hội Việt Nam đang tiến hành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển mình để trở thành một xã hội hiện đại – hội nhập với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Riêng một quá trình xã hội chuyển từ nông nghiệp truyền thống sang công nghiệp hiện đại, đã gây ra rất nhiều đảo lộn trong đời sống xã hội,

do đó cũng không tránh khỏi dẫn tới những đảo lộn, những đổ vỡ về gia đình truyền thống Thêm vào đó, một quá trình chuyển biến cách mạng có ý nghĩa quan trọng không kém cũng làm cho xã hội và gia đình có những biến đổi ghê gớm: quá trình chuyển từ xã hội tập trung quan liêu bao cấp sang xã hội công dân, từ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa … Không thấy hết bối cảnh đó thì không thể bàn tới việc xây dựng đạo đức gia đình “tận gốc” được Có thể thấy, sự chuyển biến

từ mô hình gia đình truyền thống sang mô hình gia đình hiện đại, đa dạng, nhiều biến đổi thật ra đã bắt đầu từ rất lâu, từ khi có sự tiếp xúc với văn hóa Phương Tây, với Thiên chúa giáo chứ không phải chờ đến hiện nay Sự chuyển biến đó trước hết là ở các vùng có giáo dân, ở thành thị, rồi sau đó lan truyền trong cả nước Trong thời gian gần đây, quá trình này được Đảng, Nhà nước chủ động triển khai đẩy nhanh chưa từng thấy và lan ra cả các vùng nông thôn rộng lớn Từ chỗ cấu trúc gia đình truyền thống là một đơn vị khép kín có chức năng tổng hợp: sản xuất kinh tế - văn hóa – giáo dục- tâm sinh lý gần như hoàn chỉnh, ngày nay nó bị phân giải, “rời rạc” nó chỉ duy trì chức

Trang 40

36

năng rõ nhất là kinh tế và tiêu dùng Hoạt động của các tổ chức xã hội can dự đảm nhận nhiều chức năng Từ chỗ là gia đình lớn kiểu gia trưởng, tam, tứ, ngũ đại đồng đường, nó dần dần trở thành gia đình hạt nhân Sự gắn kết bền vững các thành viên trong gia đình bị phá vỡ, cấu trúc gia đình có nhiều thay đổi: tính độc lập của người vợ và nhất là con cái tăng lên, quan hệ hôn nhân dựa trên cơ sở tự nguyện là chủ yếu, chức năng gia đình bị giản lược, không khí dân chủ trong gia đình hình thành ….Ở nước ta, quá trình cách mạng và kháng chiến vừa có tác dụng thúc đẩy xa sự “chuyển biến” này của tế bào gia đình, mặc dù cơ sở hạ tầng nền kinh tế của xã hội chưa có những chuyển biến

về chất thật rõ Nhưng gia đình hiện đại lại xuất hiện đầy những mâu thuẫn vô cùng phức tạp, do đó có thể nhìn thấy tình trạng “loạn cương” trong vấn đề này là khá phổ biến Các thành viên trong gia đình dần dần tham gia vào hoạt động xã hội ở bên ngoài khuôn khổ gia đình, chính sự “mở cửa” ấy, đã đem lại những xáo trộn về quan hệ gia đình không thể tránh và chưa quy hoạch, điều chỉnh vào nề nếp được Tầm với của con người trở nên rộng lớn hơn, chức năng xã hội của gia đình dường như bị thu hẹp Vai trò của bố mẹ đối với con cái dường như bị buông lỏng Hệ giá trị cũ bị phá vỡ, nhưng hệ giá trị gia đình mới chưa thể hình thành trong một xã hội “quá độ” như nước ta hiện nay, với “gia tốc” ngày càng chóng mặt Có thể nói chắc rằng, chừng nào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá trình chuyển sang xã hội công dân và kinh tế thị trường chưa được quản lý điều tiết bằng kế hoạch, những chuẩn mực đạo lý và pháp luật chặt chẽ (sở hữu chính đáng, thu nhập chính đáng, hành nghề chính đáng …), chừng đó chưa thể khắc phục được tình trạng

“loạn cương” trong các gia đình, không thể khắc phục được tình trạng hẫng hụt của những giá trị gia đình, cá nhân, dù nhiều người trong số họ đã từng cống hiến nhiều cho độc lập tự do của Tổ quốc, cho dân chủ của nhân dân Về mặt này, phải thấy rõ những đường lối chính sách, pháp luật của nhà nước

Ngày đăng: 07/07/2015, 09:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1938), Khổng giáo phê bình luận, Nxb Quan Hải Tùng Thư, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào Duy Anh (1938)," Khổng giáo phê bình luận
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Quan Hải Tùng Thư
Năm: 1938
2. Nguyễn Kim Anh (2006), “Thực trạng gia đình Việt Nam hiện nay”, Tạp chí gia đình và trẻ em, kỳ I, tháng 4, Tr 12 – 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Kim Anh (2006), “Thực trạng gia đình Việt Nam hiện nay”
Tác giả: Nguyễn Kim Anh
Năm: 2006
3. Minh Anh (2002), “Tìm hiểu tư tưởng của Nho giáo”, Tạp chí Triết học, Số 8, Tr. 46-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Minh Anh" (2002), “"Tìm hiểu tư tưởng của Nho giáo”
Tác giả: Minh Anh
Năm: 2002
4. Mai Huy Bích (2003), Xã hội học gia đình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 5. Nguyễn Văn Bình (1994), Quan điểm Nho giáo về các mối quan hệ xãhội và ảnh hưởng của nó tại Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Triết học, Viện Triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mai Huy Bích (2003), "Xã hội học gia đình", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội "5. " Nguyễn Văn Bình (1994), "Quan điểm Nho giáo về các mối quan hệ xã "hội và ảnh hưởng của nó tại Việt Nam
Tác giả: Mai Huy Bích (2003), Xã hội học gia đình, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 5. Nguyễn Văn Bình
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1994
6. Phan Kế Bính Việt Nam Phong tục, Nxb Văn Học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Kế Bính "Việt Nam Phong tục
Nhà XB: Nxb Văn Học
7. Đỗ Thị Bình, (1997), Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong thời kỳ đấy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb, Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Thị Bình, (1997), "Gia đình Việt Nam và người phụ nữ trong thời kỳ đấy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Đỗ Thị Bình
Năm: 1997
8. Phan Bội Châu (1998), Khổng học đăng, Nxb. Thuận hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu (1998"), Khổng học đăng
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb. Thuận hóa
Năm: 1998
9. Doãn Chính (chủ biên – 1997), Đại cương triết học Trung Quốc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doãn Chính (chủ biên – 1997), "Đại cương triết học Trung Quốc
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
10. Phan Đại Doãn ( chủ biên – 1998), Một số đề Nho giáo ở Việt Nam, Nxb. Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Đại Doãn ( chủ biên – 1998), "Một số đề Nho giáo ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Văn hóa
11. Nguyễn Đăng Duy (1998), Nho giáo với văn hóa Việt Nam, Nxb. Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đăng Duy (1998)," Nho giáo với văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb. Văn hóa
Năm: 1998
13. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
14. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
15. Quang Đạm (1999), Nho giáo xưa và nay, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quang Đạm (1999), "Nho giáo xưa và nay
Tác giả: Quang Đạm
Nhà XB: Nxb. Văn hóa - Thông tin
Năm: 1999
16. Đỗ Thái Đồng (1991), Gia đình truyền thống vàn những biến thái ở Nam Bộ Việt Nam, những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam, NXb.Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đỗ Thái Đồng (1991), "Gia đình truyền thống vàn những biến thái ở Nam Bộ Việt Nam, những nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam
Tác giả: Đỗ Thái Đồng
Năm: 1991
17. Trần Văn Giàu (1978), “Đạo đức nho giáo và đạo đức truyền thống Việt Nam, Tạp chí Triết học, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Văn Giàu (1978), “Đạo đức nho giáo và đạo đức truyền thống Việt Nam, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Trần Văn Giàu
Năm: 1978
18. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Văn Giàu (1980), "Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1980
19. Lê Như Hoa (2001), Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em, Nxb. Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Như Hoa (2001), "Văn hóa gia đình với việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ em
Tác giả: Lê Như Hoa
Nhà XB: Nxb. Văn hóa – Thông tin
Năm: 2001
20. Nguyễn Minh Hòa (2000), Hôn nhân – Gia đình trong xã hội hiện đại, Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Minh Hòa (2000), "Hôn nhân – Gia đình trong xã hội hiện đại
Tác giả: Nguyễn Minh Hòa
Nhà XB: Nxb. Trẻ
Năm: 2000
21. Ngô Công Hoàn (1993), Tâm lý học gia đình, Nxb. Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngô Công Hoàn (1993), "Tâm lý học gia đình
Tác giả: Ngô Công Hoàn
Nhà XB: Nxb. Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 1993
22. Trần Đình Hựơu (1996), Gia đình và giáo dục gia đình, Nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam ( quyển II), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Đình Hựơu (1996), "Gia đình và giáo dục gia đình, Nghiên cứu xã hội học về gia đình Việt Nam
Tác giả: Trần Đình Hựơu
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Điều tra về việc vợ chồng bình đẳng với nhau trong công việc nội trợ  của gia đình - Quan niệm của Nho giáo về đạo đức gia đình và ý nghĩa của nó đối với việc hoàn thiện đạo đức gia đình Việt Nam hiện nay (nghiên cứu thực tế tại Thị xã Sơn Tây)
Bảng 1 Điều tra về việc vợ chồng bình đẳng với nhau trong công việc nội trợ của gia đình (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w