1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ tỉnh Thái Nguyên hiện nay

81 826 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ thực trạng nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “ Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ tỉnh Thái Nguyên hiện nay” làm luận văn thạc sĩ của mình, với m

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

ĐỒNG THỊ CHINH

NÂNG CAO NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ NỮ

TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60 22 03 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Đình Xây

HÀ NỘI – 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Ngô Đình Xây

Các số liệu, và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Đồng Thị Chinh

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2.Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của luận văn 5

CHƯƠNG 1 NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NỮ 6

1.1Năng lực tư duy lý luận và những yếu tố ảnh hưởng đến nó 6

1.1.1Tư duy và tư duy lý luận 6

1.1.2.Năng lực tư duy lý luận 16

1.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tư duy lý luận 19

1.2.Vai trò của tư duy lý luận trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ nữ 21

1.2.1 Khái quát một số đặc điểm về tư duy lý luận của cán bộ lãnh, quản lý nữ 21

1.2.2 Năng lực tư duy lý luận với cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ 28

1.2.3Những yêu cầu của việc nâng cao năng lực tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ 30

CHƯƠNG 2 NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ NỮ TỈNH THÁI NGUYÊN HIỆN NAY: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 33

2.1 Thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ tỉnh Thái Nguyên 33

Trang 5

2.1.1 Một số nét khái quát về đặc điểm tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh

đạo, quản lý nữ tỉnh Thái Nguyên hiện nay 33

2.1.2 Những ưu điểm về năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ nữ tỉnh Thái Nguyên hiện nay và nguyên nhân 39

2.1.3 Những hạn chế về năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ tỉnh Thái Nguyên hiện nay và nguyên nhân 42

2.2Vấn đề đặt ra 45

2.3Quan điểm và giải pháp 51

2.3.1 Quan điểm 51

2.3.2 Giải pháp 55

KẾT LUẬN CHUNG 66

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lịch sử dựng nước, giữ nước và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội

ở nước ta hiện nay đã chứng minh vai trò to lớn của phụ nữ Việt Nam Phụ nữ không những là người vợ, người mẹ, người bạn, người thầy đầu tiên trong gia đình mà còn tham gia vào hầu hết tất cả các lĩnh vực hoạt động chính trị – xã hội Trong bất kỳ lĩnh vực nào phụ nữ cũng thể hiện rõ tài năng, trí tuệ và bản lĩnh, năng động, sáng tạo và có tinh thần trách nhiệm cao Từ trong phong trào đấu tranh cách mạng đó của quần chúng, một đội ngũ nữ cán bộ lãnh đạo, quản lý đã hình thành Đây là lực lượng nòng cốt, xung kích trong lãnh đạo quần chúng thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước Đội ngũ cán

bộ lãnh đạo quản lý nữ cũng đang phát huy vai trò và khả năng của mình trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội Sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ nữ hiện nay đánh dấu bước tiến quan trọng của sự nghiệp giải phóng phụ nữ, đồng thời khẳng định vai trò của phụ nữ trong thời kỳ đất nước đổi mới

Để đáp ứng yêu cầu của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời vì sự tiến bộ của phụ nữ, vấn đề cực kỳ quan trọng đó là nâng cao năng lực tư và đổi mới cơ chế quản lý đối với cán bộ nữ Yêu cầu này rất bức thiết, bởi các vấn đề phức tạp đều có vấn

đề căn nguyên từ khâu quản lý cán bộ Tuy nhiên, muốn đổi mới khâu quản lý cán bộ thì trước hết phải nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ nữ

Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý, lãnh đạo nữ phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó có một yếu tố rất quan trọng mà lâu nay chưa được quan tâm đúng mức, đó là năng lực tư duy lý luận Bởi vì nhờ tư duy lý luận

mà cán bộ lãnh đạo, quản lý có thể nắm bắt chính xác bản chất của các sự vật, hiện tượng Đó là cơ sở để đưa ra các quyết định một cách chính xác và kịp thời

Trang 7

Trong những năm qua, các cấp chính quyền đã rất chú ý bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho cán bộ Nhưng do nhiều nguyên nhân nên chất lượng

và hiệu quả còn thấp, người học xong không phát huy được kết quả để nâng cao trình độ quản lý của mình Xét về nội dung và phương pháp bồi dưỡng, chúng tôi thấy có một vấn đề nổi cộm: quá nhấn mạnh yêu cầu thiết thực mà coi nhẹ yêu cầu tiềm năng, đặc biệt là tiềm năng trí tuệ; nội dung bồi dưỡng chưa coi trọng việc nâng cao trình độ tư duy lý luận, vì thế cả việc ra quyết định và triển khai quyết định chưa gắn liền với chuyên môn nghiệp vụ Bên cạnh đó, việc chọn cử cán bộ vẫn theo lối mòn “sống lâu lên lão làng”, coi trọng tiêu chí kinh nghiệm và sự từng trải trong công việc

Từ thực trạng nêu trên, tác giả đã chọn đề tài “ Nâng cao năng lực tư

duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ tỉnh Thái Nguyên hiện nay” làm luận văn thạc sĩ của mình, với mong muốn có được phần đóng góp

vào sự đổi mới trong công tác quản lý đội ngũ cán bộ này ở Thái Nguyên

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề tư duy lý luận và nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ lãnh đạo, quản lý đã được nhiều tác giả nghiên cứu

Về tư duy lý luận, với những góc cạnh và hình thức thể hiện khác nhau, đã được phân tích và đăng tải trên sách, báo, tạp chí Có thể kể đến như:

- Hồ Văn Thông: “ Một số vấn đề tư duy và đổi mới tư duy hiện nay”-

Trang 8

Trong các bài báo trên các tác giả đã trình bày một cách tổng quát vai trò của tư duy và tiếp cận ở tầm vĩ mô những yêu cầu về năng lực tư duy trong giai đoạn hiện nay

Vấn đề năng lực tư duy lý luận cũng thu hút nhiều tác giả chọn làm đề tài nghiên cứu cho các luận văn Tiến sĩ, Thạc sĩ Trong đó:

- Nguyễn Đình Trãi: “ Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng viên dạy lý luận Mác – Lênin ở các trường chính trị tỉnh” Luận án Tiến

sĩ Triết học

- Vũ Đình Chuyên: “ Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán

bộ quản lý, lãnh đạo cấp huyện ở nước ta hiện nay”( qua thực tế tỉnh Kiên

Giang)- Luận văn Thạc sĩ Triết học, Hà Nội -2000

- Vũ Ngọc Hoằng: “ Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ sĩ quan chỉ huy ở đồn biên phòng trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ

triết học , Hà Nội – 2004

- Kiều Hồng Mai: “ Nâng cao tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo cấp huyện trong tình hình hiện nay qua khảo sát ở tỉnh Hà Tây” Luận văn thạc sĩ

Triết học…

Các công trình đã phân tích thực trạng, nguyên nhân và đã đưa ra một

số giải pháp nhằm nâng cao tư duy lý luận với đối tượng, phạm vi mà tác giả khảo sát…

Tuy nhiên, vấn đề nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ thì chưa có tác giả nào đi sâu nghiên cứu Hơn nữa, việc đánh giá thực trạng tư duy lý luận và đề ra những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ phụ nữ còn rất mới mẻ Vì vậy, với đề tài luận văn này, qua việc luận giải về năng lực tư duy lý luận trong đội ngũ cán bộ phụ nữ tỉnh Thái Nguyên hiện nay, tác giả hy vọng sẽ góp phần nhỏ bé

Trang 9

của mình vào công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ phụ nữ cấp, cũng là góp phần đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích:

Phân tích thực trạng tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản

lý nữ tỉnh Thái Nguyên hiện nay và đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ này nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Phân tích vai trò của tư duy lý luận trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của cán bộ phụ nữ trong tỉnh

- Khảo sát thực trạng trình độ tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ qua thực tế tỉnh Thái Nguyên

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao trình độ tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ phụ nữ, đáp ứng yêu cầu của đất nước

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng : Năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý

nữ trong hệ thống chính trị, từ cấp xã tới cấp tỉnh

-Phạm vi nghiên cứu: Năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đao, quản lý nữ của tỉnh Thái Nguyên, biểu hiện qua hoạt động thực tiễn trong những năm gần đây, cụ thể là từ năm 2000 tới nay

5 Phương pháp nghiên cứu:

- Luận văn vận dụng lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, quan điểm của Đảng về con người, về năng lực tư duy lý luận của cán bộ quản lý nói chung và đội ngũ cán bộ nữ nói riêng Luận văn còn kế thừa kết quả nghiên cứu của tác giả đi trước về vấn đề này

Trang 10

- Luận văn sử dụng tài liệu của các cấp ủy Đảng, Chính quyền và các tài liệu liên quan đến đề tài cuả Sở, Hội và kết quả khảo sát của tác giả ở các cán bộ phụ nữ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

- Để hoàn thành luận văn này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phân tích và tổng hợp, lịch sử và logic, phương pháp hệ thống, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp thống kê…và các phương pháp khác

6 Đóng góp của luận văn:

- Góp phần làm sáng tỏ những yêu cầu phát triển năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

- Bước đầu đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm bồi dưỡng nâng cao

tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ nữ tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu và tiến hành công tác quản lý của cán bộ nữ cấp tỉnh

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, một số phụ lục, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết

Trang 11

CHƯƠNG 1 NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ

ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ CỦA ĐỘI NGŨ

CÁN BỘ NỮ 1.1 Năng lực tư duy lý luận và những yếu tố ảnh hưởng đến nó

1.1.1 Tư duy và tư duy lý luận

1.1.1.1.Tư duy

Tư duy là một thuộc tính đặc biệt của con người, nó thể hiện trình độ nhận thức và năng lực hoạt động thực tiễn của chủ thể Tư duy bao giờ cũng

là vấn đề cơ bản nhất của nhận thức luận Vì vậy, từ xa xưa, tư duy đã thu hút

sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

Tư duy với tư cách là đối tượng nghiên cứu và xem xét nó trong mối quan hệ với vật chất, với thế giới hiện thực khách quan là vấn đề xuyên suốt trong lịch sử triết học Song, dù theo lập trường trường duy tâm hay duy vật, trong sự kế thừa lẫn nhau, các nhà triết học trước Mác đã đạt được những thành quả nhất định trong phân định các giai đoạn của nhận thức, khẳng định vai trò của cảm giác, kinh nghiệm hoặc lý tính, tự do Nhưng vẫn chưa có quan điểm nào giải quyết vấn đề một cách đúng đắn, khoa học về vai trò, tác dụng, cách thức hoạt động của cảm tính, tư duy; về quan hệ biện chứng giữa cảm tính và lý tính theo lập trường duy vật

Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, tư duy là sản phẩm cao nhất của một dạng vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán lý luận… Tư duy xuất hiện trong hoạt động sản xuất xã hội của con người và phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật của thực tại

Trang 12

Với bộ công cụ đặc biệt của mình, tư duy giúp cho chủ thể nhận thức phản ánh được những thuộc tính cơ bản, những mối liên hệ cơ bản không chỉ

ở những sự vật riêng lẻ mà còn ở một nhóm sự vật Tư duy có khả năng nắm bắt, phát hiện được bản chất của sự vật ngày càng sâu sắc hơn Tính gián tiếp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, tính tích cực và sáng tạo là đặc trưng cơ bản của tư duy con người Nhờ vậy, tư duy thoát khỏi sự ràng buộc của hoàn cảnh trực tiếp mà vẫn có thể nhận thức được đối tượng

Tư duy giúp con người nhận thức được sự vật, hiện tượng ở mức độ bản chất của nó Trong quá trình trừu tượng hóa, dường như tư duy tách rời khỏi hiện thực, khỏi cái cụ thể, cái cảm tính để gạt bỏ cái bề ngoài ngẫu nhiên, đi vào bên trong bản chất của sự vật, phát hiện ra những mối liên hệ căn bản nhất, từ đó tái tạo lại về sự vật, hiện tượng một cách toàn diện sâu sắc Tuy nhiên thế giới khách quan là vô cùng phong phú và đa dạng mà tư duy là kết quả của sự tác động bởi yếu tố khách quan và chủ quan Vì thế, quá trình tư duy là một quá trình phức tạp, nó không tiến hành phản ánh một lần

mà phải thực hiện một chuỗi phản ánh để đi đến nhận thức sâu sắc về sự vật

Do đó, tư duy con người và sản phẩm của nó không phải tất cả đều là chân lý

Ta có thể khái quát một số đặc trưng cơ bản của tư duy như sau:

+ Tư duy phản ánh cái chung Cái chung ở đây được hiểu là những dấu

hiệu, những thuộc tính chung của sự vật, hiện tượng Tư duy là trình độ cao của quá trình nhận thức Đó là quá trình phản ánh khái quát hóa chỉ có ở trình

độ nhận thức này mới phản ánh được những thuộc tính chung mang tính phổ biến và cơ bản của sự vật khách quan Cái chung trong thế giới hiện thực không bao giờ tồn tại một cách độc lập, cụ thể mà cùng tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau Vì thế, nó không tách rời khỏi cái riêng, cái đặc thù, nhưng trong tư duy cái chung được khu biệt ra một cách độc lập, được trừu tượng hóa tách ra khỏi mọi cái riêng cảm tính

Trang 13

+ Tư duy mang tính trừu tượng hóa Khi tách cái chung ra khỏi mọi cái

riêng trong tư duy là một sự trừu tượng hóa Đây chính là một đặc trưng cơ bản của tư duy V.I Lênin nói về sự ưu việt của trừu tượng hóa là: những trừu tượng về vật chất, về quy luật tự nhiên, sự trừu tượng hóa về giá trị…phản ánh giới tự nhiên sâu sắc hơn, trung thành hơn

+ Tư duy phản ánh thế giới khách quan một cách gián tiếp Tư duy

phản ánh sự vật không phải từ những cảm giác trong tiếp xúc trực tiếp với sự vật, hiện tượng mà là trên cơ sở các hình thức của nhận thức cảm tính như cảm giác, tri giác và biểu tượng – nghĩa là nó mang tính gián tiếp Chính vì phản ánh thế giới khách quan một cách gián tiếp mà tư duy có khả năng tách rời nhất định với sự vật, không bị sự vật, hiện tượng chi phối nên nó có tính độc lập tương đối Do đó, nó có sức mạnh to lớn trong sự phản ánh thế giới khách quan

+ Tư duy phản ánh thế giới khách quan một cách tích cực, sáng tạo

Bản chất của con người là một thực thể năng động, sáng tạo luôn muốn vươn tới và cải tạo thế giới, do đó, xuất phát từ cơ sở hoạt động thực tiễn nên tư duy của con người cũng phản ánh thế giới một cách sáng tạo và tích cực V I Lênin cho rằng, sự chuyển hóa từ tư duy đến thực tại là rất quan trọng đối với tiến trình phát tiển của lịch sử Chính bằng tư duy mà con người có thể xây dựng các giả thuyết khoa học, các lý thuyết trừu tượng, các mô hình lý tưởng cho hiện thực và dự báo tương lai

Tư duy có nhiều đặc trưng tùy theo cách tiếp cận Sự phân chia trên đây chỉ mang tính tương đối, bởi thực ra chúng tồn tại, gắn bó, liên hệ với nhau hết sức chặt chẽ, chúng làm giả định lẫn nhau, làm tiền đề cho nhau

Trên thực tế, tư duy có tính sáng tạo, do đó nó có khả năng vượt trước thực tiễn, đi trước hiện thực khách quan Nhưng cũng vì sự linh động này mà đôi khi tư duy dễ mắc phải sai lầm trong quá trình phản ánh khi nó phát huy

Trang 14

hoàn toàn thực tiễn Lĩnh vực phản ánh của tư duy rất đa dạng: gồm tư duy về kinh tế, tư duy về chính trị, tư duy về văn hóa… nhưng mọi hình thức phản ánh, lĩnh vực phản ánh của tư duy đều có mục đích cuối cùng là tạo ra sản phẩm được chứng nhận với tên gọi là chân lý Vì vậy, phương pháp tư duy có thể là tư duy hình thức, tư duy biện chứng, tư duy siêu hình và tư duy kinh nghiệm, thông qua cách thức mà chủ thể tư duy phản ánh về đối tượng sẽ cho phép chúng ta đánh giá được chủ thể tư duy đang ở trình độ nào trong tư duy

1.1.1.2 Tư duy lý luận:

Tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà người ta có các cách phân loại tư duy khác nhau Chẳng hạn về phương pháp, về loại hình, về lĩnh vực Riêng

về cấp độ, ta có tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận Khác với tư duy kinh nghiệm, tư duy lý luận phản ánh thế giới khách quan ở trình độ khái quát và trừu tượng, bằng các khái niệm, phán đoán và suy luận Chính nó tạo nên hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Vì thế, nó mang lại những hiểu biết sâu sắc về bản chất, quy luật vận động và phát triển của sự vật và hiện tượng khách quan

Trong mối quan hệ giữa tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận chúng ta thấy rõ được sự tác động qua lại giữa hai trình độ của tư duy này, chúng không phủ định nhau một cách sạch trơn mà đó là sự phủ định có tính kế thừa

Tư duy kinh nghiệm với sản phẩm là những tri thức kinh nghiệm, là tập hợp những hiểu biết tích lũy được rút ra trong hoạt động nhận thức của chủ thể tư duy, là kết quả được nhận thức bằng con đường trực quan,cảm tính mang tính kinh nghiệm của mỗi người Những tri thức được rút ra từ tư duy kinh nghiệm không phải là tri thức lý luận, là chân lý khoa học đích thực mà chỉ là chân lý của những cái đã trải qua và nó bó hẹp trong phạm vi thế giới kinh nghiệm Cái chung của tri thức kinh nghiệm chỉ là tổng cộng những sự vật, mối liên hệ riêng lẻ, đơn nhất, được tập hợp theo dấu hiệu tương tự bề ngoài, được lặp đi

Trang 15

lặp lại nhiều lần một cách trực quan chứ không phải là cái bản chất tất yếu, phổ biến tồn tại trong những cái riêng Kinh nghiệm là sự phản ánh những dấu hiệu, những mối quan hệ hình thức, bề ngoài, lặp đi lặp lại nhiều lần trong cuộc sống hiện thực Ở tư duy kinh nghiệm, con người sử dụng những tri thức kinh nghiệm cũ cũng như thông qua hoạt động cải tạo hiện thực khách quan một cách trực tiếp làm phương tiện và cơ sở cho việc sử lý những thông tin mới trong hiện thực cho việc chế biến ra những tri thức kinh nghiệm mới từ tài liệu cảm tính để định hướng cho hoạt động tiếp theo Tri thức kinh nghiệm

là tri thức của những cái riêng mang tính chất kinh nghiệm nên không thể vạch ra con đường chân lý trong từng ngẫu nhiên tự phát Nó chỉ có thể thụ động chạy theo cái tất yếu, cái bản chất chuyển hóa của sự vận động chứ không phải là cái có khả năng bao quát được sự vật đó Tư duy đó hạn chế nhận thức của chủ thể ở trình độ tự phát, thụ động chứ phải tự giác, sáng tạo

Tư duy kinh nghiệm chủ yếu đi vào những cái riêng, cái đơn nhất không bản chất Và ở tư duy kinh nghiệm còn tồn tại vô số những cái ngẫu nhiên, tạo nên tổng số những tri thức hạn chế về đối tượng chứ không phải là tái tạo lại toàn

bộ sự biện chứng đối tượng trong tư duy

Lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế giới khách quan

Là sản phẩm của nhận thức, lý luận được hình thành và phát triển trong mối liên hệ hữu cơ với thực tiễn; trong đó vai trò quyết định thuộc về thực tiễn

Tư duy lý luận là cấp độ cao nhất của tư duy, nó chính là quá trình phản ánh hiện thực khách quan một cách gián tiếp, mang tính trừu tượng và khái quát cao bằng các khái niệm, phạm trù, quy luật Ở đó, chủ thể nhận thức sử dụng ngôn ngữ và các thao tác tư duy để nắm bắt các mối liên hệ mang tính bản chất, tìm ra các quy luật vận động nội tại tiềm ẩn trong khách thể nhận thức

Trang 16

Tư duy lý luận là trình độ cao hơn về chất so với tư duy kinh nghiệm sản phẩm của tư duy lý luận là tri thức lý luận, khác với tổng số những tri thức kinh nghiệm mảnh đoạn Tri thức lý luận là hệ thống những khái niệm, phạm trù, quy luật chỉ ra tính tất yếu , phổ quát bao trùm toàn bộ biện chứng của đối tượng Tri thức lý luận là sản phẩm dựa trên sự tổng hợp, khái quát các tri thức về tự nhiên, xã hội trong quá trình hoạt động của con người hướng đến sự giải thích làm sáng tỏ những mối liên hệ phổ biến và các quy luật của hiện thực khách quan Sức mạnh của tri thức lý luận đã vượt qua cái bề ngoài hình thức của đối tượng, vượt lên những cái thường biến động của đối tượng

để thấy được những mối liên hệ bên trong những quan hệ bản chất mà bằng nhận thức trực tiếp, riêng lẻ không nhận thấy được Tư duy lý luận phản ánh bản chất, quy luật ở cấp độ các giai đoạn, các hình thức của sự vật, hiện tượng Nó đi vào nghiên cứu sâu tầng lớp bên trong của sự vật và bóc tách vấn đề phản ánh một cách sâu sắc nhất về đối tượng, phản ánh xu thế vận động của đối tượng nên tư duy lý luận có khả năng bao quát, bám sát vào đối tượng cũng như khả năng vươn lên trên, định hướng cho sự vận động, phát triển của sự vật

Vậy, tư duy lý luận là trình độ phản ánh cao nhất của tư duy, nó chính

là quá trình mà tư duy tiếp cận, nắm bắt và tái tạo hiện thực bằng lý luận và được thông qua những giả thuyết, lý thuyết có quan hệ tương hỗ với nhau Tư

duy lý luận bao giờ cũng có tính hệ thống và nghệ thuật chuyển hóa lẫn nhau,

có tính biện chứng phản ánh sự vật một cách đa dạng và đầy đủ nhất dưới hình thức lý luận, được thể hiện thông qua những lý thuyết, giả thuyết Do vậy, vai trò của tư duy lý luận trong hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn

là rất lớn Ăngghen nói: “Một dân tộc muốn đứng trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận” [18, 489] Vì tư duy lý luận cho phép nhà nghiên cứu vạch mở dược bản chất phát triển của khách thể nghiên cứu,

Trang 17

tạo bước chuyển về chất của đối tượng từ trạng thái này sang trạng thái khác, phát hiện và phản ánh vào khoa học các luận điểm, lý thuyết, quy luật tồn tại

và phát triển của nó mà nhận thức cảm tính không thể tiếp cận được Bằng tư duy lý luận con người khám phá ra bản chất của đối tượng, tư duy lý luận đóng vai trò là chất keo dính kết các sự kiện, hiện tượng, các mối liên hệ của

sự vật, hiện tượng “Dù người ta có tỏ ý khinh thường tư duy lý luận như thế nào đi nữa nhưng không có tư duy lý luận thì người ta cũng không thể liên kết hai sự kiện trong giới tự nhiên với nhau được hay không thể hiểu được mối liên hệ giữa hai sự liên kết đó” [18, 508] Tư duy lý luận gắn kết các hình ảnh hoạt động, vận hành bộ máy công cụ của mình để giúp cho nhận thức đi vào bản chất của sự vật

Tư duy lý luận với sản phẩm là tri thức lý luận, nó đóng vai trò làm tiền

đề cho nhận thức xã hội, trên cơ sở đó vận dụng vào quá trình nhận thức xã hội, phản ánh hiện thực xã hội và cũng như việc áp dụng những học thuyết xã hội vào trong quá trình hoạt động thực tiễn, giải thích thế giới Trong vai trò

là bà đỡ lý luận này, các học thuyết xã hội này còn làm tiền đề xây dựng các học thuyết, lý thuyết xã hội mới, phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan và tạo ra những chân lý Tất nhiên chúng ta cần phải lưu ý rằng lý luận về các quy luật của tư duy hoàn toàn không phải là một chân lý vĩnh viễn Do đó, trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ nhất định thì chủ thể tư duy lý luận phải có

sự sáng tạo, chủ động dựa trên những đặc điểm riêng biệt của hoàn cảnh lịch

sử để có nhận thức đúng đắn, những quyết sách đúng góp phần thúc đẩy sự phát triển

Như vậy, tư duy lý luận là sự phản ánh nhất quán, chặt chẽ, có đích về đối tượng hiện thực cũng như những tính chất và các mối liên hệ căn bản của

chúng vào đầu óc con người

Trang 18

Tư duy lý luận giúp chủ thể nhận thức đạt được những kết quả nhận thức về đối tượng khách quan một cách sâu sắc hơn, chính xác hơn, hệ thống hơn và mang tính phổ quát

Trên thực tế, không có một hệ thống tri thức lý luận nào được hình thành một cách ngẫu nhiên mà nó phải có điều kiện và tiền đề ra đời của nó,

đó là thực tiễn Thế giới hiện thực khách quan là chất liệu không thể thiếu trong kết cấu của sự phản ánh Không có thế giới hiện thực, không có đối tượng phản ánh thì tư duy không có cơ sở vật chất để tồn tại Nói cách khác, cùng với bộ não của con người thì thế giới hiện thực là cơ sở quyết định sự sinh thành và phát triển của tư duy Nhưng tư duy lý luận có vai trò như thế nào đối với đời sống xã hội, cải tạo hiện thực thì cần phải xem xét và nghiên cứu một cách toàn diện và cụ thể

Qua quá trình tư duy lý luận, chủ thể tư duy đã tiến hành tổng kết, khái quát những quy luật vận động, phát triển trong thế giới khách quan Với mỗi sản phẩm được hình thành, chúng lại quay trở lại phục vụ cho thực tiễn, kể cả những tri thức thuộc về kinh nghiệm Tri thức kinh nghiệm được rút ra từ hoạt động thực tiễn nhưng nó chỉ dừng lại ở nhận thức cảm tính, cái nhỏ lẻ, bề ngoài chứ chưa đi sâu vào mối liên hệ bên trong, bản chất của sự vật Do đó,

để hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động thực tiễn thì nhận thức không chỉ dừng lại ở trình độ kinh nghiệm mà phải đạt đến một tri thức cao hơn Đó là tri thức lý luận và hệ thống những khái niệm, phạm trù, quy luật, các học thuyết giả thuyết đem lại khả năng hiểu biết sâu sắc về mối liên hệ cơ bản, bản chất tất yếu của sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Bộ óc của con người với tư cách là cơ sở sinh học hình thành tư duy con người trong quá trình phản ánh hiện thực, tiếp cận hiện thực, tái tạo lại hiện thực không phải là sự bắt trước một cách cứng nhắc, mô phỏng hay vẽ lại hiện thực khách quan mà được tư duy nhận thức một cách tích cực, sáng tạo và có cải biến hiện thực

Trang 19

Trong quá trình cải biến ấy, tư duy lý luận có thể còn in lại dấu ấn của chủ thể

tư duy bằng con mắt chủ quan, do đó có khả năng phản ánh không đúng hiện thực ở khía cạnh nào đó Vì vậy, trong quá trình tư duy phải tôn trọng và tuân thủ nguyên tắc thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn

Tư duy lý luận có tính độc lập tương đối của nó, có khả năng đi trước,

đi xa hơn hiện thực trực tiếp, là quá trình phản ánh gián tiếp hiện thực khách quan, nó có khả năng vượt trước hoạt động thực tiễn, hình thành những tri thức mới mà bản thân thực tiễn chưa có Các nhà kinh điển macxit đã chứng minh luận điểm này Khi hình thành học thuyết hình thái kinh tế xã hội trên

cơ sở tổng kết, khái quát thực tiễn và lý luận đã có, các ông đã đưa ra dự báo

sẽ có năm hình thái kinh tế xã hội mà khi đó thực tiễn cho thấy chỉ có bốn học thuyết hình thái kinh tế xã hội đã tồn tại trong lịch sử mà thôi Một hình thái kinh tế xã hội trong tương lai – hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa đã được các ông dự đoán là sẽ ra đời Dự đoán đó là dựa trên cơ sở vận động logic nội tại của hiện thực để dự báo sự vận động của chính hiện thực ấy Tư duy lý luận có khả năng phản ánh sâu sắc bản chất cũng như dự kiến chiều hướng phát triển tất yếu, lâu dài của các hiện tượng xã hội Sức mạnh của tư duy lý luận đối với đời sống hiện thực được Hồ Chí Minh khẳng định “lý luận như cái kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho ta trong công việc thực tế Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi và có kinh nghiệm mà không có lý luận thì như một mắt sáng, một mắt mờ” [38, 233-234]

Tư duy lý luận với sản phẩm của mình là lý luận tạo thành hai nhóm chính trong quá trình hoạt động thực tiễn: nhóm thứ nhất là những tri thức

để giải thích thế giới (nhận thức thế giới) nhóm này thuộc về các lý thuyết khoa học, giả thuyết, phạm trù; nhóm thứ hai là những tri thức để cải tạo thế giới – đó chính là những chủ trương, đường lối, chính sách, các văn bản pháp luật, các quyết định, và chúng được thực thi trong đời sống hằng

Trang 20

ngày Hồ Chí Minh đã tổng kết “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc đấu tranh, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng, rõ ràng, làm thành kết luận Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế Đó là lý luận chân chính” [38; 233]

Tóm lại, tư duy lý luận là cấp độ tư duy ở trình độ phản ánh các sự vật, hiện tượng một cách khái quát, trừu tượng cao nhưng sâu sắc và đầy đủ về các mối liên hệ bản chất, tất yếu, tính quy luật, tính đứng đắn và tính chính xác của sự vật hiện tượng Vì vậy, tư duy lý luận có vai trò to lớn trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, nó có khả năng phát hiện ra bản chất và quy luật của đối tượng Nhờ vậy, tư duy lý luận có khả năng đưa ra các dự báo khoa học về xu hướng vận động và phát triển của chúng, do đó phạm vi ứng dụng của nó cũng phổ biến hơn so với tư duy kinh nghiệm Tư duy lý luận là đỉnh cao của tư duy con người, tư duy đó đang được phát triển trong thời đại ngày nay, nhất là khi xã hội loài người đang bước vào nền văn minh tin học, văn minh trí tuệ, khi tin tức khoa học đang thâm nhập vào mọi mặt của đời sống xã hội và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Thời đại ngày nay đang đặt ra những thời cơ và thách thức để các nước đang và kém phát triển có thể rút ngắn khoảng cách với các nước phát triển trên thế giới Vì vậy, việc phát triển tư duy lý luận, phát huy sức mạnh và vai trò của nó là một yếu tố quan trọng hàng đầu

Ngày nay, chúng ta đang bước vào thời kỳ đổi mới, vào xu thế hội nhập quốc tế hóa, toàn cầu hóa với những diễn biến chính trị phức tạp Hoàn cảnh ấy đã tạo ra những thách thức, khó khăn lớn buộc chúng ta phải vượt qua nhưng đồng thời nó cũng tạo ra rất nhiều cơ hội và nếu chúng ta nắm bắt được những cơ hội quý giá đó, tìm được giải pháp, cách thức phát triển thích hợp, tuân thủ quy luật khách quan thì tất yếu sẽ vượt qua được

và giành thắng lợi trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước xã hội chủ

Trang 21

nghĩa Vì vậy vấn đề đổi mới tư duy lý luận đã, đang và luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm vì nó là chìa khóa của sự phát triển, đặc biệt là đổi mới tư duy về vai trò của nhân tố con người, nó sẽ là tiền đề, điều kiện cho

sự đổi mới và thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới của nước ta Trong nghị quyết VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ ra rằng “công tác lý luận trước hết phải hướng vào vấn đề do cuộc sống đặt ra, làm rõ căn cứ khoa học của các giải pháp, dự báo các xu hướng phát triển, góp phần bổ sung, hoàn thiện đường lối của Đảng làm cho ngày càng sáng tỏ con đương

đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta” [25, 40]

1.1.2 Năng lực tư duy lý luận

1.1.2.1 Năng lực

Năng lực tư duy lý luận là một vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong quá trình đổi mới tư duy trong thời gian vừa qua Một trong những điểm khác nhau căn bản giữa con người và con vật không phải ở nhận thức mà ở năng lực tư duy Bởi lẽ - như Ph.Ăngghen nói - con vật cũng

có nhận thức, cho dù nhận thức ấy không có gì là tối cao cả, nhưng con vật không có năng lực tư duy Về thực chất, tư duy là giai đoạn, là trình độ cao của quá trình nhận thức hiện thực khách quan của con người Đó là quá trình

ý thức con người tiếp cận và nắm bắt hiện thực khách quan một cách gián tiếp thông qua các khái niệm, phán đoán, suy luận lôgíc Nhờ có tư duy mà con người có thể nhận thức được quy luật vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng, qua đó mà cải biến giới tự nhiên theo mục đích của mình

Năng lực của con người nói chung chỉ thể hiện ra trong hoạt động thực tiễn, cho nên muốn đánh giá loại năng lực nào của một con người thì phải thông qua hoạt động của đối tượng trong lĩnh vực đó Để hiểu rõ khái niệm năng lực tư duy, trước hết ta cần làm rõ khái niệm năng lực Ta có thể hiểu,

năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với

Trang 22

yêu cầu đạc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao

Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân nới đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có

Đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này một cách tổng quan cũng như đi sâu nghiên cứu các khái niệm, cấu trúc, vai trò của năng lực tư duy Có tác giả cho rằng năng lực tư duy là tổng hợp những phẩm chất, trí tuệ đáp ứng yêu cầu nhận thức thế giới và đảm bảo cho hành động sáng tạo của con người Năng lực này được biểu hiện qua khuynh hướng nhận thức và vận động, ở kết quả xử lý thông tin và kết quả hoạt động Có tác giả lại cho rằng đó là một sức mạnh, một phẩm chất thật sự của con người Qua đó, con người có thể sáng tạo tinh thần, vận dụng tri thức vào cuộc sống Theo tác giả này, 3 yếu tố cơ bản cấu thành năng lực tư duy là: năng lực ghi nhớ và tái hiện bằng ngôn ngữ, hình ảnh; năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa thông qua phân tích tổng hợp; năng lực tưởng tượng, suy luận, liên tưởng để xử lý thông tin

Tư duy luôn gắn với các chủ thể nhất định, vì lẽ đó, năng lực tư duy luôn gắn với chủ thể cụ thể

Năng lực tư duy trước hết gắn liền với yếu tố di truyền học Đó là cơ

sở ban đầu song nhân tố xã hội đóng vai trò quyết định tư duy của con người

và tri thức đóng vai trò là điều kiện để năng lực tư duy của chủ thể phát triển Từ những sự vật hiện tượng riêng lẻ, những thuộc tính rời rạc của sự vật, hiện tượng được phản ánh trong đầu óc của chủ thể, từ đó diễn ra quá trình trừu tượng hóa, khái quát hóa để nắm được bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng Năng lực tư duy của chủ thể còn thể hiện ở khả năng biết tổng kết, khái quát hóa kinh nghiệm thực tiễn thành lý luận phù hợp với quy luật khách quan

Trang 23

Năng lực tư duy tuy không đồng nhất với trình độ tư duy nhưng chúng không tách rời nhau Khi nói về trình độ tư duy là nói về cấp độ, mức độ hay những khả năng xác định của tư duy Đó có thể là trình độ thấp hay cao, tư duy tiền khoa học hay tư duy khoa học, trình độ tư duy kinh nghiệm hay tư duy lý luận cùng với trình độ tư duy là phương pháp tư duy tương ứng Ở trình độ thấp, phương pháp tư duy sẽ là phương pháp tư duy siêu hình; ở trình

độ cao, sẽ là phương pháp tư duy biện chứng

Trình độ là một mức độ nhất định của khả năng tư duy mà chủ thể nhận thức đạt tới Nó cho thấy cấp độ và khả năng nhận thức của chủ thể Vì vậy, trình độ tư duy nhất định bao giờ cũng là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa năng lực tư duy của chủ thể và vốn tri thức mà chủ thể tích lũy trong quá trình nhận thức

Ph.Ăng-ghen từng khẳng định: “Nhưng tư duy lý luận chỉ là một đặc tính bẩm sinh dưới dạng năng lực của con người mà thôi Năng lực ấy cần phải được phát triển hoàn thiện, và muốn hoàn thiện nó thì đến nay, không có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ lịch sử triết học thời trước”[18, tr.487] Năng lực tư duy của con người trước hết là từ những yếu tố di truyền, năng khiếu thế nhưng nếu không được rèn luyện thường xuyên thì sẽ bị mai một, không phát huy được tác dụng Vì thế, có thể khẳng định năng lực tư duy

và trình độ tư duy đều là sản phẩm của lịch sử, là sản phẩm của môi trường giáo dục, học tập và rèn luyện

Khi nói về năng lực tư duy là nói về khả năng lựa chọn, tổng kết để tìm ra kết luận nhất định Đó là việc lựa chọn những khái niệm để hình thành một phán đoán đúng Đó chính là khả năng lựa chọn phương pháp thích hợp

để phù hợp với quy luật khách quan của đối tương nghiên cứu Năng lực tư duy thường được tiếp cận ở các kiểu như: năng lực tư duy thực hành, năng lực

tư duy lý luận, năng lực tư duy hình tượng Xét theo cấp độ của năng lực tư

Trang 24

duy có thể phân ra thành năng lực tư duy lý luận và năng lực tư duy kinh nghiệm

Năng lực tư duy lý luận khác với năng lực tư duy kinh nghiệm Năng lực tư duy lý luận là khả năng tư duy về những vấn đề chung, tổng thể, toàn vẹn, nắm bắt đối tượng trong tính chỉnh thể của sự tồn tại, vận động và phát triển; đó là khả năng tư duy khoa học, sáng tạo trong sử dụng khái niệm, phạm trù để phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa đem lại những tri thức mới mang tính chính xác, sâu sắc và chặt chẽ, logic và có

hệ thống phù hợp với quy luật khách quan của sự tồn tại và vận động của hiện thực Hơn nữa, năng lực tư duy lý luận còn có sức mạnh đưa lý luận vào cuộc sống, cụ thể hóa lý luận thành mục tiêu, phương hướng giải quyết, giải pháp khả thi để giải quyết các vấn đề của cuộc sống đạt hiệu quả cao

Năng lực tư duy còn thể hiện ở khả năng xác lập tri thức mới, là khả năng xác lập quan hệ giữa các tri thức và khả năng đối tượng hóa tri thức Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”[41,tr.497]

1.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực tư duy lý luận

Chúng ta có thể khái quát một số yếu tố ảnh hưởng tới tư duy lý luận như sau:

+ Năng lực tư duy phụ thuộc vào đặc tính bẩm sinh của mỗi người Đó

là những yếu tố bẩm sinh như: đặc điểm cấu tạo của hệ thần kinh, di truyền mà Ph.Ăng-ghen gọi là “ một đặc tính bẩm sinh của con người ”[18,487] Những yếu tố này đóng vai trò chính trong việc tạo ra tiềm năng về năng khiếu, sự thông minh, nhạy cảm Đó là tiền đề, điều kiện của trí tuệ nói chung cũng như tư duy lý luận nói riêng Tuy nhiên, những tố chất này phải được rèn luyện thường xuyên mới có thể phát huy được vai trò

Trang 25

+ Năng lực tư duy phụ thuộc vào quá trình giáo dục, học tập rèn luyện một cách tự giác để nâng cao trình độ tri thức, trí tuệ có ảnh hưởng mạnh mẽ tới năng lực tư duy lý luận Trình độ tri thức, trí tuệ là điều kiện tiên quyết là điều kiện tiên quyết để con người phát triển năng lực của mình Quá trình tích lũy tri thức nhất thiết phải thông qua quá trình giáo dục Quá trình này mang lại cho con người cả về nội dung và phương pháp đúng đắn nhất Nếu chủ thể

bị hạn chế về tri thức thì không thể nâng cao được năng lực tư duy nói chung cũng như tư duy lý luận nói riêng

+Môi trường kinh tế xã hội, nền tảng văn hoá, khoa học có ảnh hưởng quan trọng tới năng lực tư duy lý luận C.Mác nói rằng con người là sản phẩm của hoàn cảnh kinh tế xã hội Nhìn lại lịch sử ta thấy,cơ chế bao cấp mang lại

tư duy ỉ lại, luôn trông chờ vào người khác Đó là sự thụ động và đã tạo ra một thời đại mất đi sự năng động, đánh mất động lực phát triển xã hội Ngược lại, cơ chế thị trường trong giai đoạn hiện nay, tuy mang nhiều thách thức nhưng thật sư nó đã mang lại những động lực to lớn cho sự phát triển xã hội

về mọi mặt Tư duy lý luận của chủ thể còn đặc biệt phụ thuộc vào nền tảng văn hóa xã hội Như đã biết, nền tảng văn hóa xã hội là cội nguồn sức mạnh của con người, khơi dậy những năng lực tiềm tàng của con người Ứng với mỗi giai đoạn khác nhau trong sự phát triển cuả khoa học công nghệ, năng lực

tư duy lý luận của con người cũng có những hình thức thể hiện khác nhau

+ Hoạt động thực tiễn của chủ thể Đây là yếu tố cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực tư duy lý luận Thực tiễn chính là tiêu chuẩn kiểm tra chân

lý Ph Ăng-ghen đã chỉ ra rằng:” chính việc người ta biến đổi tự nhiên, chứ không phải chỉ một mình giới tự nhiên, với tính cách giới tự nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên”[18,tr 720] Xuất phát từ thực tiễn mà con người có những hiểu biết, khái niệm nhờ đó

Trang 26

con người phát triển năng lực tư duy của mình Song thực tiễn luôn biến đổi, luôn đặt ra những thách thức đòi hỏi con người phải tìm ra những quy luật động và phát triển của sự vật Qua đó hình thành nên phương thức, nội dung mới trong năng lực tư duy lý luận để giải quyết các vấn đề mà thực tiễn đặt ra, đồng thời năng lực tư duy lý luận được phát triển chính là nhờ vào quá trình tổng kết thực tiễn thành lý luận

+Nhu cầu và lợi ích của chủ thể Hoạt động của con người luôn theo đuổi những động cơ, mục đích nhất định Đây cũng chính là điều chi phối nhu cầu và lợi ích của con người Nó ảnh hưởng trực tiếp đến ý thức, động

cơ hoạt động của chủ thể Tuy nhiên, nếu con người có động cơ không trong sáng thì quá trình rèn luyện học tập hay hình thành tư duy lý luận đều khó Hồ Chủ Tịch đã từng nói rằng, có tài mà không có đức thì cũng trở thành người vô dụng

Như vậy, năng lực tư duy lý luận vừa phụ thuộc vào những yếu tố chủ quan, vừa phụ thuộc vào những yếu tố khách quan Các yếu tố này có quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ nhau, tạo thành một hệ thống và tác động đến năng lực tư duy lý luận của con người Vì thế, muốn nâng cao năng lực tư duy lý luận thì cần phải tích cực tham gia các hoạt động thực tiễn, không ngừng học tập và rèn luyện nâng cao trình độ khoa học – công nghệ, trình độ lý luận

1.2 Vai trò của tƣ duy lý luận trong hoạt động lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ nữ

1.2.1 Khái quát một số đặc điểm về tư duy lý luận của cán bộ lãnh, quản lý nữ

Phân cấp hành chính ở nước ta gồm 4 cấp: cấp trung ương là cấp quốc gia, cấp vĩ mô, đề ra đường lối, cương lĩnh, chủ trương, mục tiêu mang tính chiến lược, đối nội và đối ngoại đảm bảo sự phát triển bền vững cho cả quốc gia; cấp tỉnh (và thành phố trực thuộc trung ương) là một cơ cấu trung gian ngay dưới cấp trung ương, nhưng lại là cấp cao nhất trong hệ thống các cấp

Trang 27

tại địa phương,là nơi có nhiệm vụ tiếp nhận thông tin của trung ương, đề ra chính sách, cơ chế; cấp huyện là khâu trung gian, là cầu nối trong quá trình lãnh đạo, quản lý từ trung ương tới địa phương; cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) là cấp chấp hành những quyết định mới, phù hợp với điều kiện chính trị

- xã hội tại địa phương

Trong những năm qua, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ nước ta đã

có những đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đã chỉ rõ: “Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản

lý các cấp đã có bước trưởng thành và tiến bộ về nhiều mặt Đa số cán bộ, đảng viên có ý thức rèn luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, có ý thức phục vụ nhân dân, được nhân dân tin tưởng Thành tựu 25 năm đổi mới là thành quả của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ, đảng viên”

Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý được tôi luyện, trưởng thành qua thử thách, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần độc lập tự chủ, trung thành với lý tưởng cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn,

có ý chí, nghị lực để vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, đưa sự nghiệp đổi mới ngày càng thu nhiều thắng lợi

*Một số khái niệm

+ Cán bộ:

Một cách chung nhất, trong bối cảnh xã hội Việt Nam có thể hiểu: Cán

bộ là người có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhất định, làm việc trong các

tổ chức, cơ quan của hệ thống chính trị; là người giữ chức vụ trong các tổ chức, cơ quan của hệ thống chính trị Cụ thể hơn, trong cuốn "Sửa đổi lối làm

việc" Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng

Trang 28

thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng” [39,tr 296]

Từ nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của cán bộ trong giải quyết mọi công việc, mọi nhiệm vụ của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ cần phải có đội ngũ cán bộ tốt một lòng vì Đảng, vì dân Tư tưởng đó được thể hiện rõ nét trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” của Bác viết năm 1947 Bác cho rằng, cần phải thường xuyên đánh giá cán bộ một cách công tâm để thấy

rõ họ làm được gì và chưa làm được gì, có tạo được uy tín với cơ quan, đơn vị hay không Trong công tác cán bộ, cần phải cất nhắc cán bộ cho đúng, phải dùng người đúng chỗ, đúng việc, cần phải xét rõ người đó có gần gũi quần chúng, có được quần chúng tin cậy và mến phục không và phải xem người ấy xứng với việc gì

* Cán bộ lãnh đạo, quản lý

Khái niệm cán bộ lãnh đạo, quản lý theo cách hiểu thông thường và khá phổ biến hiện nay ở nước ta là cụm từ chỉ chung cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý, bao gồm những người có chức vụ và trách nhiệm điều hành, đứng đầu trong các cơ quan, các tổ chức sự nghiệp, kinh doanh Người cán bộ lãnh đạo, quản lý là người được bổ nhiệm hoặc được bầu ra để giữ một trọng trách (chức vụ) có quyền hạn và trách nhiệm thực hiện chức năng lãnh đạo quản lý, quy tụ sức mạnh của tập thể để thực hiện mục tiêu chung

Nội hàm của khái niệm cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý có những

điểm giống nhau Nhưng nói một cách chung nhất, lãnh đạo thiên về định hướng, điều chỉnh ở tầm bao quát, mang tính gián tiếp, còn quản lý lại thiên

về tổ chức, chỉ huy một cách cụ thể, trực tiếp Cả cán bộ lãnh đạo và cán bộ

quản lý đều phải nhận thức được khách thể và tác động đến khách thể Trên

cơ sở những đặc điểm, thuộc tính, những quy định của khách thể, chủ thể ra quyết định, điều khiển khách thể, nhằm đạt được mục đích nhất định Cả cán

Trang 29

bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý đều phải tiến hành quá trình điều khiển Người cán bộ lãnh đạo cũng phải thực hiện một số chức năng quản lý và cán bộ quản

lý cũng phải thực hiện một số chức năng lãnh đạo Chức năng quản lý là sự tiếp tục của chức năng lãnh đạo, đó là khâu tất yếu để thực hiện sự lãnh đạo Trong luận văn này, khái niệm cán bộ lãnh đạo, quản lý được dùng với nghĩa kết hợp nội hàm của cả hai khái niệm cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý

Có thể nói, đội ngũ cán bộ nữ ngày càng phát triển, đây là lực lượng quan trọng, là nhóm tinh hoa trong phụ nữ Việt Nam Theo thời gian, cùng với quá trình đổi mới và phát triển đất nước, đội ngũ cán bộ nữ không chỉ

tăng thêm về số lượng mà còn mạnh cả về chất lượng Điều này đòi hỏi cán

bộ lãnh đạo , quản lý nữ đã vượt qua các rào cản, đồng thời phát huy những thế mạnh về giới

* Một số yếu tố cơ bản tác động đến việc nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ

+ Công tác quy hoạch cán bộ

Công tác quy hoạch cán bộ có vai trò then chốt trong việc xây nâng cao

năng lực của đội ngũ cán bộ LĐQL nữ ở Thái Nguyên cũng như cả nước

Mục đích xây dựng quy hoạch là tạo cơ sở để đào tạo, bồi dưỡng, thay thế, tuyển chọn và đề bạt cán bộ Vì vậy, muốn xây dựng đội ngũ cán bộ nữ mạnh

và đồng bộ, các cấp uỷ Đảng từ tỉnh đến cơ sở cần phải có quy hoạch cán bộ

nữ Tình trạng đội ngũ cán bộ nữ bị "hẫng hụt" hiện nay là do chưa làm tốt quy hoạch, nhất là ở cấp cơ sở Để làm tốt công tác này, cần xác định rõ lĩnh vực hoạt động quản lý nào là phù hợp và phát huy được thế mạnh của phụ nữ

Cụ thể hơn, cần nghiên cứu, xem xét chức danh nào cần có cán bộ nữ để từ đó xây dựng quy hoạch, có chính sách tạo nguồn và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho hợp lý, đảm bảo tính liên tục, tính kế thừa và trẻ hóa ngũ đội ngũ cán bộ

+ Công tác đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng cán bộ

Trang 30

Đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là đòi hỏi cấp bách để nâng cao năng lực tư duy lý luận ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ mới Hiện nay, đội ngũ cán bộ LĐQL nữ của cả nước nói chung, của Thái Nguyên nói riêng còn chưa thật sự mạnh về chất lượng Điều này gây cản trở đáng kể không chỉ đến công tác thực tế của các cán bộ LĐQL nữ mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến việc tăng cường số lượng cán bộ nữ LĐQL cả hiện tại và tương lai Chính vì vậy, số lượng và chất lượng của hoạt động đào tạo và bồi dưỡng cán bộ có vai trò vô cùng quan trọng đối với công tác cán bộ nữ

+ Quy chế xây dựng đội ngũ cán bộ nữ trong thời kỳ mới

Để có được quy hoạch cán bộ tốt hướng đến đối tượng cán bộ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý các địa phương cần có những quy chế cụ thể về xây dựng đội ngũ cán bộ nữ trong thời kỳ mới Quy chế này đảm bảo hướng dẫn các hoạt động cụ thể trong xây dựng quy hoạch cán bộ, đồng thời chỉ ra được những biện pháp và công cụ giám sát việc thực hiện quy hoạch từ cấp cơ sở Các địa phương căn cứ vào quy chế xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới của Bộ Chính trị để cụ thể hóa cho phù hợp với điều kiện của địa phương mình Đó là sự mềm dẻo trong quá trình đưa chính sách vào cuộc sống

+ Sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng

Đảng cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ của đất nước Đảng cũng là lực lượng nòng cốt trong phát huy trách nhiệm của các tổ chức, thiết chế xã hội trong việc chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ cho cả hệ thống chính trị trên mọi lĩnh vực Đảng thực hiện chính sách cán bộ thông qua các tổ chức Đảng (cấp uỷ đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn) và đảng viên trong các cơ quan nhà nước

và các đoàn thể quần chúng Đảng có vai trò lãnh đạo thực hiện đúng quy trình, thủ tục, pháp luật của Nhà nước và điều lệ của các đoàn thể, tổ chức xã hội, phân công phân cấp quản lý cán bộ cho các cấp uỷ Đảng và các tổ chức

Trang 31

Đảng Bên cạnh đó, tổ chức Đảng cũng thường xuyên kiểm tra việc thực hiện công tác cán bộ của các ngành, các cấp, coi đây là công việc quan trọng nhất của các cấp lãnh đạo Trên thực tế, những vấn đề về chủ trương chính sách, đán h giá, bố trí, sử dụng, điều động, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật nhất thiết phải do cấp uỷ có thẩm quyền quyết định theo đa số

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ chịu ảnh hưởng trực tiếp của hoạt động lãnh đạo này, bởi việc thực hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo cũng chính là thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương Cụ thể là các cấp uỷ Đảng cho ý kiến xem xét, quyết định theo nguyên tắc đa số về việc tuyển chọn, quy định đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật, nghỉ hưu đối với cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý thuộc thẩm quyền trực tiếp quản lý

+ Chính sách, chế độ đãi ngộ cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý

Chính sách đãi ngộ cán bộ nữ chi phối mạnh mẽ đến việc hình thành và phát huy tiềm năng của đội ngũ cán bộ nữ Mỗi thời kỳ cách mạng khác nhau

có những điều kiện thuận lợi, khó khăn khác nhau cả về kinh tế và xã hội Vì vậy, chính sách đối với các cán bộ nữ cũng phải nghiên cứu điều chỉnh sao cho phù hợp Đặc biệt, đối với một tỉnh miền núi còn khó khăn như Thái Nguyên, chính sách cán bộ nữ càng cần được xây dựng một cách nghiêm túc,

cụ thể để giải quyết thỏa đáng, kịp thời các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn Thực tế cho thấy rằng chính sách đãi ngộ không công bằng là một trong những nguyên nhân làm hạn chế nhiệt tình, sức cống hiến của đội ngũ cán bộ

nữ Trong những năm gần đây, các văn kiện của Đảng đã nhấn mạnh nhiều đến vai trò, vị trí của phụ nữ và công tác cán bộ nữ, nhưng chưa có chính sách

cụ thể nên phần nào ảnh hưởng đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là nữ cả về số lượng và chất lượng

Trang 32

Ngoài những đặc điểm trên, cán bộ nữ nói chung còn mang những khó khăn riêng mang tính truyền thống văn hóa, lịch sử Bên cạnh những phẩm chất đặc trưng của phụ nữ Việt Nam là thông minh, trung thực, sâu sắc, tình cảm, cần cù, chịu khó Với những phẩm chất ưu việt của phụ nữ, họ có nhiều lợi thế trong hoạt động chuyên môn mà nam giới không thể có; thì có thể nói rằng tâm lý giới cũng là một rào cản đối với một bộ phận nữ trí thức Sự tự ty, mặc cảm, hoặc đức tính nhường nhịn, hy sinh, thậm chí cam chịu, v.v chính

là những vật cản vô hình đối với sự phát triển đội ngũ nữ trí thức Một bộ phận nữ cán bộ, kể cả người có trình độ học vấn cao, còn thiếu tự tin, e ngại,

sợ bị quy kết về quan điểm, né tránh những vấn đề có tính nhạy cảm về chính trị, thiếu tính phản biện xã hội

Quan niệm về phân biệt giới vẫn còn ảnh hưởng ở một bộ phận các tầng lớp xã hội, việc “trọng nam, khinh nữ” không chỉ có ở các vùng nông thôn mà cả ở đô thị, không chỉ trong dân thường mà cả trong cán bộ, kể cả một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, những người có trình độ học vấn, địa vị cao

So với nam giới, cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ gặp nhiều khó khăn hơn trên con đường sự nghiệp Khó khăn này liên quan đến sự phân công lao động theo giới, do quan niệm về vai trò giới trong gia đình và ngoài xã hội Cơ chế thị trường và sự phát triển xã hội đang làm tăng thêm gánh nặng trách nhiệm của người phụ nữ trong vai trò người công dân, người vợ, người mẹ, người thầy đầu tiên của con cái Quỹ thời gian của người phụ nữ bị phân tán vào công việc nội trợ gia đình, chăm sóc gia đình khiến nhiều phụ nữ ít có điều kiện để tiếp cận với những cơ hội để phát triển bản thân Gánh nặng gia đình bao giờ cũng dồn lên trách nhiệm của người phụ nữ; bởi vậy, nó tỷ lệ nghịch đối với sự phát triển vươn lên vị trí lãnh đạo, quản lý của phụ nữ

Cán bộ lãnh đạo nữ thiếu thời gian tham gia dành cho công tác chuyên môn Đây là hệ quả của vai trò làm người phụ nữ trong gia đình Gánh nặng

Trang 33

đa vai trò khiến cho phụ nữ cũng phải đương đầu với những khó khăn về thời gian để cân bằng giữa đời sống gia đình và công việc Khác với nam giới, nữ cán bộ phải mang thai, sinh đẻ, phải dành nhiều thời gian cho công việc nội trợ, quán xuyến gia đình, chăm sóc con cái, phụng dưỡng cha già mẹ yếu Chính vì vậy, nhiều chị em bị quá tải về sức lực, thiếu thời gian nghỉ ngơi, trau dồi kiến thức, cập nhật thông tin Do đó, các chính sách đối với cán bộ nữ cần đặc biệt quan tâm tới vấn đề này và phải mang tính thiết thực nhằm phát huy tối đa năng lực của cán bộ nữ

1.2.2 Năng lực tư duy lý luận với cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ

Hoạt động lãnh đạo và quản lý của đội ngũ cán bộ lãnh đạo nữ có đối tượng là những con người cụ thể, có tri thức, có năng lực, có ý chí và mục đích riêng Do đó, cán bộ nữ vừa phải có năng lực vừa phải hiểu được tâm tư, nguyện vọng của họ Để làm được điều đó, vai trò của tư duy lý luận là không

thể phủ nhận

Trong quá trình hoạt động của mình, họ cũng phải biết lắng nghe ý kiến của cấp dưới cũng như tiếp thu ý kiến chỉ đạo của cấp trên

Như vậy, năng lực tư duy lý luận của người cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ

có giá trị định hướng cho hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của họ

Nội dung của năng lực ấy biểu hiện qua năng lực phản ánh những vấn đề bản chất, tìm ra mâu thuẫn, phát hiện những cái mới Đó là khả năng sáng tạo

trong sử dụng các khái niệm, phạm trù để phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hóa đem lại những tri thức mang tính chính xác, sâu sắc,

hệ thống, phù hợp với tính quy định vốn có của hiện thực khách quan

Bên cạnh đó, nó còn thể hiện ở khả năng tư duy khoa học trong sử dụng các hình thức và phương pháp tư duy để hình thành tri thức mới làm cơ

sở cho việc giải quyết những vấn đề thực tiễn nảy sinh ở địa phương Mang

đặc thù riêng của cán bộ nữ cho nên yêu cầu này càng quan trọng hơn bao giờ hết

Trang 34

Năng lực tư duy lý luận là vũ khí sắc bén nhất trong hoạt động lãnh đạo của đội ngũ cán bộ nữ Tổng hợp những biểu hiện ấy, có thể diễn đạt năng lực tư duy lý luận người cán bộ nữ biểu hiện ở những vấn đề sau:

Một là, năng lực thu nhận tri thức Đó là khả năng tiếp thu tri thức lý

luận để hình thành thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho hoạt động lãnh đạo cũng như những kiến thức cần thiết phục vụ cho hoạt động đó

Hai là, năng lực tìm ra mối quan hệ và khái quát hóa tri thức Đó là khả

năng nhận biết những điểm tương đồng, dị biệt để từ đó liên kết các loại tri thức ở các lĩnh vực, các ngành nghề chuyên môn khác nhau thành một tổng thể ở mức độ khái quát cao, bao quát nhiều vấn đề trên nhiều lĩnh vực và phạm vi rộng lớn

Ba là, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn Điều này thể hiện khả

năng vận dụng lý luận vào thực tiễn, liên hệ giữa lý luận với thực tiễn vận dụng cái chung một cách đúng đắn cho từng tình huống cụ thể

Bốn là, năng lực phát triển tri thức Đó là khả năng phát triển những tri

thức cho phù hợp hơn nữa với sự phát triển của thực tiễn

Đội ngũ cán bộ nữ cũng như đội ngũ cán bộ nói chung của hệ thống chính trị phải có kế hoạch thường xuyên học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn và năng lực hoạt động thực tiễn, bồi dưỡng đạo đức cách mạng Đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý của tỉnh miền núi như Thái Nguyên, cần phải am hiểu phong tục tập quán các dân tộc, các tôn giáo thuộc địa bàn mình phụ trách Việc học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị được thực hiện gắn liền với việc tiêu chuẩn hoá đối với cán bộ đảng viên ở các cấp, các ngành trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội đồng thời cũng cần lấy kết quả và tinh thần học tập lý luận chính trị là một tiêu chuẩn để xem xét,

đề bạt, bổ nhiệm

Trang 35

1.2.3 Những yêu cầu của việc nâng cao năng lực tư duy lý luận của cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ

Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng: trong lịch sử nhân loại, không có phong trào to lớn nào của những người bị áp bức mà không có phụ nữ nào tham gia Phụ nữ là người bị áp bức nhiều nhất trong tất cả những người bị áp bức, do đó họ không bao giờ đứng ngoài các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Trong thời kỳ công xã Pari, phụ nữ đã sát cánh cùng nam giới chiến đấu

để đánh đổ giai cấp tư sản Từ thực tế lịch sử đó Các Mác đã khái quát rằng ai

đã biết lịch sử thì biết rằng, muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp

vào thì chắc chắn không làm nổi Lịch sử chứng minh rằng: mỗi bước chuyển

mình của lịch sử xã hội, mỗi nấc thang tiến bộ của nhân loại đều in đậm công lao của phụ nữ Vì vậy, cuộc đấu tranh cho sự nghiệp bình đẳng của phụ nữ là một bộ phận của cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ của xã hội, vì sự phát triển của nhân loại

Khái quát những vấn đề trên ta thấy việc nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ hết sức cần thiết Đây chính là quá trình trang bị vũ khí lý luận để họ phát huy năng lực đóng góp cho sự nghiệp phát triển của đất nước Vậy, để nâng cao năng lực tư duy lý luận cho

đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ cần:

Một là, trong công tác cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ cần phải nâng

cao năng lực tư duy để tránh tư tưởng giáo điều Muốn vậy, cần tránh hai khuynh hướng: một là, đơn giản hóa vấn đề, cắt xén lý luận theo chủ quan của mình; hai là, tiếp thu lý luận theo kiểu “tầm chương trích cú” hay “chủ nghĩa kinh viện” một cách máy móc, siêu hình

Hai là, người cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ cần có tư duy lý luận, tư duy

biện chứng để khắc phục tư duy máy móc, siêu hình và nhất là để nhận ra tác

Trang 36

hại của khuynh hướng dùng ý chí chủ quan, bất chấp quy luật khách quan trong nhận thức và hoạt động thực tiễn

Ba là, để nâng cao năng lực tư duy lý luận, người cán bộ lãnh đạo, quản

lý nữ trong tỉnh cần tránh quá nhấn mạnh đến vai trò của ý chí mà coi nhẹ mặt tri thức, trí tuệ, tư duy cần có

Hiện nay, sự nghiệp đổi mới đang đi vào chiều sâu, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh quốc tế hóa, toàn cầu hóa - vừa hợp tác, vừa đấu tranh, đặc biệt các thế lực thù địch đang điên cuồng chống phá cách mạng nước ta bằng chiến lược diễn biến hòa bình, mua chuộc, lối kéo cán bộ… thì việc xây dựng đội ngũ cán bộ nói chung và cán bộ phụ nữ nói riêng đủ phẩm chất, năng lực và trí tuệ là vấn đề then chốt, quyết định sự tồn tại của chế độ, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Việc nâng cao năng lực tư duy cho cán bộ nữ càng mang tính cấp thiết

Phụ nữ Việt Nam vốn có truyền thống phẩm chất tốt đẹp Ở bất cứ thời kì nào, trong bất cứ hoàn cảnh nào, những phẩm chất đạo đức ấy luôn tỏa sáng, góp phần nâng cao vai trò, vị trí của người phụ nữ trong gia đình và trong xã hội Trong giai đoạn hiện nay, để phát huy hơn nữa những phẩm chất đạo đức truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, mỗi người phụ nữ càng phải luôn luôn cố gắng phấn đấu, học tập để nâng cao nhận thức, bồi dưỡng kĩ năng sống, tu dưỡng rèn luyện không ngừng, xứng đáng là người “giữ ngọn lửa ấm” trong mỗi gia đình, đồng thời góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước Chính sự kết hợp hài hoà những phẩm chất tinh hoa truyền thống và những tính cách hiện đại, văn minh sẽ tạo nên giá trị và vẻ đẹp đích thực của

người phụ nữ Việt Nam

Tư duy là sự phản ánh khái quát và gián tiếp hiện thực khách quan Tư duy có một số đặc trưng cơ bản là: tư duy phản ánh cái chung , thực hiện trừu

Trang 37

tượng hóa, tư duy phản ánh thế giới khách quan một cách gián tiếp và tích cực sáng tạo Tư duy lý luận là quá trình tái tạo lại hiện thực dưới dạng tinh thần theo ccon đường khái quát hóa và trừu tượng hóa nhằm đi sâu nhận thức bản chất của sự vận động, phát triển của sự vật Các điều kiện, nhân tố này quan

hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và cùng tác động đến chủ thể

tư duy lý luận, trong đó, sự tác động của khoa học kỹ thuật và thực tiễn xã hội , quá trình đào tạo và rèn luyện của chủ thể đóng vai trò quyết định

Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý nói chung và cán bộ nữ nói riêng, năng lực tư duy lý luận đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình Nó giúp cho đội ngũ này hoàn thành công việc của mình, đạt được kết quả tối ưu, nâng cao khả năng tiếp thu lý luận và thực tiễn Qua đó, vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng và chính sách của nhà nước vào cuộc sống Đồng thời, tư duy lý luận còn giúp họ tổng kết kinh nghiệm, đúc rút bài học kinh nghiệm, bổ sung lý luận cho bản than

Năng lực tư duy lý luận chính là nền tảng, là điều kiện cơ bản nhất tạo nên bản lĩnh và phẩm chất của người cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ trong thời đại ngày nay

Trang 38

CHƯƠNG 2 NĂNG LỰC TƯ DUY LÝ LUẬN CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ NỮ TỈNH THÁI NGUYÊN

HIỆN NAY: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 2.1 Thực trạng năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ tỉnh Thái Nguyên

2.1.1 Một số nét khái quát về đặc điểm tư duy lý luận của đội ngũ cán

bộ lãnh đạo, quản lý nữ tỉnh Thái Nguyên hiện nay

Năm 1997, Đảng ta ra Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII về “Chiến

lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã

khẳng định: Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã dày công đào tạo, huấn luyện, xây dựng được một đội ngũ cán bộ tận tụy, kiên cường, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ qua các giai đoạn cách mạng

Đảng ta xác định: tiến hành công tác cán bộ phải trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, phát huy truyền thống yêu nước và đoàn kết dân tộc, nắm vững quan điểm và nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng

Hồ Chí Minh Đảng phải thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ, dự báo đúng tình hình, bám sát yêu cầu của nhiệm vụ chính trị để có quy hoạch, kế hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ, chuẩn bị cho trước mắt và cho cả một thời kỳ tương đối dài Xây dựng đồng bộ đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp từ trung ương đến cơ sở, đặc biệt là cán bộ đứng đầu Phải đổi mới, trẻ hóa cán bộ trên cơ sở tiêu chuẩn và có sự chuẩn bị chu đáo, kết hợp các độ tuổi, bảo đảm

tính liên tục, tính kế thừa và phát triển

Trang 39

Trong nhiều năm qua, Thái Nguyên luôn là tỉnh quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm cán bộ nữ và đội ngũ này đã phát huy tốt vai trò, trách nhiệm trong thực thi chức trách, nhiệm vụ được giao

Trong công tác quy hoạch cán bộ, cấp ủy đảng các cấp luôn chú trọng cán bộ nữ Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo các cấp ủy, lãnh đạo các đoàn thể lựa chọn cán bộ nữ trưởng thành từ phong trào, có năng lực và triển vọng

phát triển để đưa vào quy hoạch

Do chủ động, tích cực và làm tốt công tác cán bộ nên bước đầu đã

chuẩn bị được đội ngũ cán bộ nữ, cán bộ trẻ kế cận, khắc phục dần tình trạng

bị động, hẫng hụt cán bộ, từng bước nâng cao chất lượng, số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ, bảo đảm tính kế thừa và phát triển, phục vụ kịp thời công tác nhân sự cấp ủy đảng, chính quyền và đoàn thể các cấp

Thái Nguyên là một tỉnh miền núi, cuộc sống còn nhiều khó khăn, còn nhiều việc phải làm, nhưng Tỉnh uỷ Thái Nguyên đã thường xuyên quan tâm, chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nữ và chú trọng của sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội và sự phát triển toàn diện của phụ nữ các dân tộc trong tỉnh Các cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể triển khai học tập và thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của trung ương Đảng về các vấn đề liên quan đến công tác cán bộ nữ và chỉ đạo việc vận dụng các chỉ thị, nghị quyết đó và thực tiễn của các ngành, địa phương Đặc biệt, tháng 10 năm 2004 Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Thái Nguyên đã chỉ đạo cấp uỷ Đảng các cấp, các ngành, các đơn vị

tổ chức đánh giá 10 năm thực hiện Chỉ thị số 37/CT -TU "về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới " Thông qua đó tỉnh đã đề ra mục

tiêu, phương hướng nhiệm vụ công tác cán bộ nữ trong thời gian tới với những chỉ tiêu và các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao tỷ lệ phụ nữ tham gia vào các vị trí ra quyết định của tỉnh

Trang 40

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp uỷ Đảng, phong trào phụ nữ nói chung và đội ngũ nữ cán bộ lãnh đạo quản lý của Tỉnh nói riêng đã phát huy truyền thống yêu nước, cần cù, sáng tạo, đoàn kết, đổi mới trong lao động, công tác đạt nhiều thành tích xuất sắc trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước, làm đẹp thêm những phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam Tuy nhiên, trong hoàn cảnh khó khăn chung của đất nước, phụ nữ Thái Nguyên cũng đang phải gánh chịu những hậu quả nặng

nề của chiến tranh và những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường Một bộ phận

nữ không có việc làm, thu nhập thấp, lao động trong những điều kiện sản xuất nặng nhọc, độc hại, sức khoẻ giảm sút, đời sống tinh thần còn nghèo nàn Phụ

nữ còn bị phân biệt đối xử dưới nhiều hình thức, còn là nạn nhân của nhiều tệ nạn xã hội đang có chiều hướng gia tăng như nghiện ma túy, cờ bạc, mại dâm,

mê tín dị đoan, bị buôn bán ra nước ngoài Phụ nữ ở miền núi vùng sâu, vùng

xa, vùng nông thôn học vấn còn thấp, hiện tượng tái mù chữ vẫn còn… Những khó khăn trên đã có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của phong trào phụ nữ nói chung và đến đội ngũ cán bộ nữ của tỉnh nói riêng

Nhận thức được vị trí, vai trò quan trọng của công tác cán bộ nữ, trong những năm qua các cấp uỷ Đảng và Chính quyền tỉnh Thái Nguyên đã đặt vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ nữ thành nhiệm vụ có tính chiến lược trong công tác cán bộ, bước đầu có những chính sách chăm lo, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ nữ, tạo điều kiện để cho cán bộ nữ cống hiến và trưởng thành, phấn đấu tăng tỷ lệ nữ trong các cấp uỷ Đảng, cơ quan nhà nước, trong các lĩnh vực đời sống xã hội của tỉnh Cùng với sự phát triển chung của tỉnh, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ ngày càng trưởng thành cả về số lượng và chất lượng Trên cương vị công tác của mình, phụ nữ đã phát huy vai trò, vị trí trên mọi lĩnh vực hoạt động Mặc dù trong cuộc sống, trong công tác còn

Ngày đăng: 07/07/2015, 09:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Thế Bảo (1996), “ Mấy ý kiến về cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở địa phương”, Công tác tư tưởng văn hóa, (1, tr. 26-27) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý kiến về cơ cấu và tiêu chuẩn cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở địa phương
Tác giả: Thế Bảo
Năm: 1996
11. BCHTƯ khoá VIII,Văn kiện ĐH Đảng lần thứ ba, NXB CTQG, 1997 12. Nguyễn Đức Bình (1985), “ Góp phần vào công tác giáo dục lý luận”,NXB Sách giáo khoa Mác- Lênin, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần vào công tác giáo dục lý luận
Tác giả: BCHTƯ khoá VIII,Văn kiện ĐH Đảng lần thứ ba, NXB CTQG, 1997 12. Nguyễn Đức Bình
Nhà XB: NXB CTQG
Năm: 1985
13. Nguyễn Đức Bình ( 1992), “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Cộng sản, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay
22. Vũ Đình Chuyên(2000), “Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện ở nước ta hiện nay qua thực tế tỉnh Kiên Giang”. Luận văn thạc sỹ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện ở nước ta hiện nay qua thực tế tỉnh Kiên Giang
Tác giả: Vũ Đình Chuyên
Năm: 2000
38. Nguyễn Ngọc Long, “Năng lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới tư duy”, Tạp chí Cộng sản, Số 10-1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới tư duy
46. Phạm Ngọc Quang, “Yêu cầu mới về năng lực, trí tuệ của Đảng trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Triết học, Số 2-1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Yêu cầu mới về năng lực, trí tuệ của Đảng trong giai đoạn hiện nay
52. Hồ Bá Thâm (1995) “Nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã hiện nay”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực tư duy của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã hiện nay
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
53. Tỉnh uỷ Thái Nguyên, Báo cáo tổng kết thực hiện Chỉ thị 37- CT/TW "Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới" 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới
56. Nguyễn Đình Trãi.( 2000) “Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng dạy lý luận Mác – Lênin ở các trường Chính trị tỉnh”. Luận án Tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho cán bộ giảng dạy lý luận Mác – Lênin ở các trường Chính trị tỉnh
62. Ngô Đình Xây (1987), Một số suy nghĩ về thực chất đổi mới tư duy lý luận hiện nay nước ta, Tạp chí Thông tin lý luận, (4), tr. 28-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Thông tin lý luận
Tác giả: Ngô Đình Xây
Năm: 1987
63. Ngô Đình Xây (1990), Vài nét về thực trạng tư duy lý luận hiện nay nước ta, Tạp chí Triết học, (4), tr.32-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Triết học
Tác giả: Ngô Đình Xây
Năm: 1990
64. Ngô Đình Xây (2003) (đồng tác giả), Tư duy lý luận với hoạt động của người cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn, Nxb CTQG, tr.13-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư duy lý luận với hoạt động của người cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn
Nhà XB: Nxb CTQG
66. Ngô Đình Xây (2012), Bài giảng chuyên đề Tư duy lý luận và nhận thức xã hội cho sinh viên chuyên ngành Triết học Mác – Lênin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng chuyên đề Tư duy lý luận và nhận thức xã hội cho sinh viên chuyên ngành Triết học Mác – Lênin
Tác giả: Ngô Đình Xây
Năm: 2012
1. Hoàng Chí Bảo (1988),” Từ tư duy kinh nghiệm tới tu duy lý luận”, Thông tin lý luận, (6, tr. 54-62) Khác
3. Ban Tư tưởng văn hoá Trung ương,Chuyên đề nghiên cứu Nghị quyết Đại hội X của Đảng, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2006, trang 284 4. Ban Bí thư TƯ Đảng, Chỉ thị 44/CT-TƯ ngày 7.6.1984 về một số vấncấp bách trong công tác cán bộ nữ Khác
5. Báo cáo đánh giá giữa kỳ thực hiện chiến lược Quốc gia Vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam đến năm 2010 Khác
6. Ban Bí thư TƯ Đảng, Nghị quyết 152 - 153, NXB Sự thật, Hà Nội, 1967 7. BCH TƯ Đảng CSVN,Di chúc của Hồ Chí Minh, 1989 Khác
8. Ban Tổ chức TƯ,Một số văn kiện đổi mới, chỉnh đốn Đảng, 1993 Khác
9. Báo cáo Đại hội Đại biểu Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên nhiệm kỳ 2002-2006, Phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ 2006-2010 Khác
10. Báo cáo kết quả thực hiện Kế hoạch hành động VSTBPN tỉnh giai đoạn 2001-2005 và Kế hoạch hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ tỉnh Thái Nguyên 2006 -2010, số 574/KH-UB, ngày 30/3/2006 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Lãnh đạo nữ trong Hội đồng nhân dân các cấp (%) - Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ tỉnh Thái Nguyên hiện nay
Bảng 2.1 Lãnh đạo nữ trong Hội đồng nhân dân các cấp (%) (Trang 79)
Bảng 2.2: Lãnh đạo nữ trong Uỷ ban nhân dân các cấp (%) - Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ tỉnh Thái Nguyên hiện nay
Bảng 2.2 Lãnh đạo nữ trong Uỷ ban nhân dân các cấp (%) (Trang 79)
Bảng 2.3: Trình độ giáo viên nữ đạt chuẩn và trên chuẩn (%) - Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ tỉnh Thái Nguyên hiện nay
Bảng 2.3 Trình độ giáo viên nữ đạt chuẩn và trên chuẩn (%) (Trang 79)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w