1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm về cái chết và định hướng giá trị văn hóa cho người Việt hiện nay trong vấn đề ứng xử với cái chết

93 781 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

49 2.2.1 Cần nhìn nhận cái chết như một hiên tượng tự nhiên, một giai đoạn tất yếu trong chu trình phát triển của đời người, do đó không nên né tránh hay sợ hãi khi bàn luận về cái chết

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

===================

VŨ THỊ HỒNG DUNG

QUAN NIỆM VỀ CÁI CHẾT VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA CHO NGƯỜI VIỆT HIỆN NAY TRONG VẤN ĐỀ ỨNG XỬ VỚI CÁI CHẾT

Chuyên ngành : Triết học

Mã số: 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:TS PHẠM QUỲNH

HÀ NỘI - 2015

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1.1 Lí do chọn đề tài 3

1.2 Tình hình nghiên cứu 4

1.3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8

1.5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8

1.6 Đóng góp mới của luận văn 9

1.7 Ý nghĩa của luận văn 9

1.8 Kết cấu của luận văn 9

NỘI DUNG 10

CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM VỀ CÁI CHẾT TRONG LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG NHÂN LOẠI 10

1.1 Quan niệm về cái chết trong lịch sử triết học 10

1.1.1 Quan niệm về cái chết trong triết học phương Tây 10

1.1.2 Quan niệm về cái chết trong triết học phương Đông 18

1.2 Quan niệm về cái chết trong một số tôn giáo lớn 21

1.2.1 Quan niệm về cái chết trong đạo Kitô 21

1.2.2 Quan niệm về cái chết trong đạo Phật 23

1.2.3 Quan niệm về cái chết trong Hồi Giáo 28

Kết luận chương 1 31

CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT THẾ ỨNG XỬ CHO NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY VỚI VẤN ĐỀ CÁI CHẾT THEO ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA 32

2.1 Thái độ và nghi lễ tang ma của người Việt hiện nay trong cách ứng xử với cái chết 32

2.1.1 Thái độ của người Việt trong ứng xử với cái chết 32

Trang 4

2.1.2 Nghi lễ tang ma của người Việt 39

2.2 Một số định hướng cho thế ứng xử của người Việt hiện nay với vấn đề cái chết 49

2.2.1 Cần nhìn nhận cái chết như một hiên tượng tự nhiên, một giai đoạn tất yếu trong chu trình phát triển của đời người, do đó không nên né tránh hay sợ hãi khi bàn luận về cái chết hay đối mặt với nó 49

2.2.2 Cần hoàn thành trách nhiệm với cuộc sống hàng ngày, đó chính là thái độ tốt nhất để đối mặt với cái chết 55

2.2.3 Cần phát huy những giá trị truyền thống thông qua nghi lễ tang ma và khắc phục mê tín hủ tục 61

2.3 Những vấn đề còn đặt ra khi nghiên cứu về cái chết hiện nay 74

2.3.1 Quan niệm của khoa học hiện đại về cái chết 74

2.3.2 Bàn về quyền được chết và vấn đề an tử ở Việt Nam 76

Kết luận chương 2 82

KẾT LUẬN 85

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 5

MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

Sự sống và cái chết là nỗi bận tâm lớn nhất của con người Có một câu

nói rất hay: Đời người như một cuốn sách, điều quan trọng không phải là

cuốn sách dài hay ngắn mà ở chỗ cuốn sách đó hay hay dở Vì thế, hãy sống

tích cực, sống trọn vẹn với thời gian, với những gì đang có, sống thật vui vẻ,

có ý nghĩa và hữu ích Hãy nỗ lực làm những gì có ích cho mình và mọi người, phục vụ và cống hiến, để đời sống dù có mong manh, ngắn ngủi cũng trở nên có ý nghĩa và giá trị

Quan niệm về sống và chết, quan niệm về mối liên hệ giữa những người sống và người chết từ lâu đã trở thành đề tài không chỉ được đề cập trong các tôn giáo, tín ngưỡng mà còn xuất hiện trong triết học và một số bộ môn khoa học Bởi suy cho cùng, điều mà tôn giáo, tín ngưỡng và các ngành khoa học hướng đến cũng chỉ để giải quyết vấn đề sống và chết của con người Đã là con người, chắc chắn ai cũng quan tâm đến sự sống và chết của mình Tuy nhiên, trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta nhắc nhiều đến sự sống, sự tồn tại của mỗi đời người, mỗi xã hội và thường né tránh không bàn đến cái chết, những điều liên quan đến cái chết

Vấn đề sự sống – cái chết đã được vô số học giả khắp thế giới, cả phương Đông, phương Tây, từ xưa đến nay nghiên cứu và đưa ra nhiều kiến giải phong phú Trong văn học phương Tây, nhà soạn kịch thiên tài Shakespeare đã đưa ra một mệnh đề bất hủ “sống hay chết đó mới là vấn đề” Trong triết học phương Tây cổ đại, Platon có tác phẩm nổi tiếng bàn về sự bất tử của linh hồn Ở phương Đông, các nhà tư tưởng thuộc các các tôn giáo như Nho giáo, Đạo giáo cũng đưa ra những quan niệm luận bàn về vấn đề sống – chết Một số tôn giáo lớn như đạo Phật, đạo Kitô, đạo Hồi cũng góp tiếng nói của mình đưa ra những kiến giải lý thú về sự kiện trọng đại này của con người

Trang 6

Cái chết của một thành viên trong cộng đồng thường gây nên một sự sợ hãi, một nỗi kinh hoàng đối với những thành viên còn lại Chết là một thực tại

bí hiểm bởi không ai còn sống mà có kinh nghiệm về nó được; những gì người ta nói về cuộc sống sau cái chết đều chỉ là niềm tin Khảo cứu quan niệm về cái chết của người Việt và sự ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa của người Việt cũng là một cách để chúng ta có cái nhìn thông suốt và ứng xử phù hợp mỗi khi đối diện với cái chết của ai đó trong cộng đồng

Nhận thức về cái chết và quy phạm hóa cái chết qua các nghi thức lễ tang là một việc cần thiết Bởi, thái độ của người Việt về cái chết và nghi thức tang ma có ảnh hưởng trực tiếp tới từng gia đình và cộng đồng trên nhiều phương diện từ đời sống tình cảm đến kinh tế vật chất Đồng thời, nó tác động đến trật tự xã hội và văn hóa của cộng đồng Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển của kinh tế, xã hội khiến con người được thỏa mãn nhiều nhu cầu của cuộc sống hơn nhưng cũng gặp rất nhiều rủi ro, áp lực khiến cho không ít cá nhân rơi vào bế tắc tự kết thúc cuộc sống Vì vậy, việc nghiên cứu các quan niệm khác nhau về cuộc sống và cái chết có ý nghĩa hiện thực nhân sinh đối với từng cá thể và cộng đồng

Qua những suy tư về cái chết, con người sẽ nhận ra giới hạn của kiếp người, tính bất định của sự sống, qua đó có thể sống tốt hơn, làm lợi cho tha nhân nhiều hơn, và bình thản đón nhận cái chết Với những lí do trên đây,

chúng tôi quyết định lựa chọn: “Quan niệm về cái chết và định hướng giá trị

văn hóa cho người Việt hiện nay trong vấn đề ứng xử với cái chết” làm đề

tài nghiên cứu cho luận văn của mình

1.2 Tình hình nghiên cứu

Triết học về cái chết là mảng đề tài thu hút nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu trên thế giới Tuy nhiên, ở Việt Nam, đề tài này gần như một mảnh đất bị bỏ trống, nhiều nhà nghiên cứu dường như còn lảng tránh vấn đề này

Trang 7

Nghiên cứu về cái chết, chủ yếu là các công trình của các học giả nước

ngoài Trước hết phải kể đến công trình của Phùng Lô Tường (2010), Triết lý

sinh tử Đông Tây, Thích Hoàng Trí dịch, Nxb Phương Đông Tác giả đã tập

hợp những kiến giải Đông Tây kim cổ về sự sống và cái chết của loài người

Công trình củaThích Điền Tâm (2011), Phật giáo sinh tử kỳ thư, Nxb Thời

đại, Hà Nội, góp phần lý giải chân tướng của sự sống và cái chết, giúp độc giả đối diện với cái chết với hơn 200 đồ hình miêu tả về quá trình trước và sau lúc

lâm chung Công trình của Sogyal Rinpoche (2013), Tạng Thư Sống Chết,

Thích Nữ Trí Hải dịch, Nxb Hồng Đức– Sách Bàn Về Sự Sống Và Cái Chết, trong tác phẩm này, Sogyal Rinpoche tập trung vào các vấn đề làm sao để hiểu ý nghĩa thực thụ của sự sống, làm sao để chấp nhận cái chết, làm sao để giúp đỡ người sắp chết, và người đã chết Tác giả có khuynh hướng nghĩ đến

sự chết không phải là một cái gì đó hoàn toàn chấm dứt Tuy vậy, cái chết không thể biết trước vì ta không biết được khi nào cái chết đến, và mình sẽ chết như thế nào Bởi thế, tốt hơn cả là ta hãy dự phòng một số việc trước khi

cái chết thực sự xảy ra

Ngoài ra còn có một số công trình cũng đề cập đến vấn đề cái chết của

các tác giả: Francoise Dastur (2013), Sao lại là cái chết, Đăng Ngọc dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội; K Sri Dhammananda (2007), Chết có thật đáng sợ

không, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh; Emmanuelle Huisman – Perrin

(2013), Cái chết giải thích cho con, Đỗ Thị Minh Nguyệt dịch, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Đạt Lai Lạt Ma (Tây Tạng) (2004), Sống hạnh phúc chết

bình an, Nxb Tôn giáo, Hà Nội Tống Đạo Nguyên (2011), Đạo giáo sinh tử

kỳ thư, Cổ Đồ Thư dịch, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội; Arthur

Schopenhauer (2006), Siêu hình tình yêu – siêu hình sự chết, Hoàng Thiên Nguyễn dịch, Nxb Văn học, Hà Nội; Tulku Thondup (2010), Chết an bình tái

sinh hỷ lạc, Nxb Tôn giáo, Hà Nội

Trang 8

Như vậy, có thể thấy số lượng các công trình nghiên cứu về cái chết của các học giả nước ngoài khá đồ sộ Những công trình này đã bàn luận, lý giải

đề tài cái chết dưới rất nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau Một số tác phẩm đi vào khái quát, khảo cứu quan niệm về cái chết trong lịch sử tư tưởng Một số công trình lại triển khai theo hướng mô tả cái chết trong tương quan với sự sống Một số tác phẩm khác lại đưa ra những suy tư, kiến giải về ý nghĩa của cái chết Nhưng nhìn chung, hầu hết các tác phẩm chưa có sự gắn kết giữa quan niệm về cái chết với định hướng giá trị văn hóa

Như trên đã khẳng định, trái ngược với tình hình nghiên cứu trên thế giới, ở Việt Nam hầu như chưa xuất hiện tác phẩm chuyên khảo nào về đề tài cái chết Cái chết mới chỉ được nhắc đến với tư cách là một trong những yếu

tố củavăn hóa xuất hiện trong những công trình nghiên cứu về văn hóa của Trần Ngọc Thêm, Đào Duy Anh, Phan Kế Bính

Trong tác phẩm Tìm hiểu về bản sắc văn hóa Việt Nam củaTrần Ngọc

Thêm do nhà xuất bản TP Hồ Chí Minh ấn hành năm 1997 ta thấy với các tri thức, các dữ kiện tổng hợp từ rất nhiều công trình đông tây kim cổ thuô ̣c nhiều lĩnh vực văn hóa khác nhau , bằng phương pháp cấu trúc - loại hình, tác giả đã xâu chuỗi các sự kiện thành một bức tranh tổng quan về văn hóa Việt Nam Đi vào các yếu tố văn hóa, tác giả tập trung khảo cứu lĩnh vực văn hóa nhâ ̣n thức dựa trên cơ sở triết lý âm dương , mô hình tam tài , ngũ hành của phương Nam (trong đó có Viê ̣t Nam ) tác giả đã chỉ ra nh ững nét đặc trưng trong văn hóa tổ chức cộng đồng của người Việt mà cụ thể là phong tục tang ma thấm nhuần rất sâu sắc tinh thần triết lý âm dương Ngũ hành phương Nam

Đào Duy Anh vớiViệt Nam văn hóa sử cương (2000), Nxb Văn hóa

Thông tin, Hà Nội đã trình bày khá toàn diện những nội dung của lịch sử văn hoá Việt Nam, giúp người đọc hình dung được diện mạo của văn hoá dân tộc

Trang 9

Trong đó, ông đã đề cập đến tang chế, tang phục và đưa ra những luận giải trong tập tục về việc tang của người Việt

Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính (2011), Nxb Văn học, Hà Nội là

một công trình nghiên cứu nghiêm túc, có tinh thần phản biện về thuần phong

mỹ tục của Việt Nam Trong tác phẩm này, tác giả cũng đề cập đến vấn đề tang ma, cải táng và việc hiếu của người Việt, coi đó như một trong những phong tục tập quán thể hiện được bản sắc văn hóa Việt Nam

Bên cạnh những công trình văn hóa đề cập đến cái chết với tư cách là một yếu tố văn hóa, khai thác đề tài cái chết ở khía cạnh phong tục tập quán ở nước ta còn có các văn bản về những quy chế của nhà nước về nghi lễ tang

ma Đó là các văn bản như Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25/11/2005

của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện nếp sống văn minh

trong việc cưới, việc tang và lễ hội; Thông tư số 04/2011/TT-BVHTTDL ngày

21/01/2011 của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch quy định về thực hiện nếp

sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; Nghị định

105/2012/NĐ-CPVề tổ chức lễ tang cán bộ, công chức, viên chức; Chỉ thị 27 –CT/TW của Bộ

chính trị về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ Như vậy, có thể thấy số lượng các công trình nghiên cứu về đề tài cái chết ở Việt Nam còn ít ỏi Những công trình nghiên cứu về đề tài này mới chỉ khai thác khía cạnh bề mặt chẳng hạn như về nghi thức, tang lễ Các công trình nghiên cứu về đề tài cái chết đặt dưới góc độ triết học và định hướng giá trị văn hóa hầu như chưa xuất hiện (Và cũng do hạn chế về mặt nhận thức mà bản thân tác giả chưa được tiếp cận với bất kỳ công trình nghiên cứu nào liên quan trực tiếp đến đề tài mà tác giả đã chọn) Do đó, khảo cứu quan niệm về cái chết và định hướng giá trị văn hóa cho người Việt Nam hiện nay trong vấn

đề ứng xử với cái chết thiết nghĩ là một việc làm cần thiết Qua việc tìm hiểu quan niệm về cái chết trong lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung, ở Việt Nam

Trang 10

nói riêng để có thể khẳng định cái chết là một sự kiện, một hiện tượng tự nhiên của đời sống con người và cũng là một thành tố không thể thiếu của văn hóa Do vậy, luận văn nghiên cứu về cái chết, từ những quan niệm của con người về cái chết mong muốn đưa ra một vài những ý kiến mang tính định hướng cho người Việt trong vấn đề ứng xử với cái chết

1.3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích:

Làm rõ quan niệm về cái chết trong lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung

và ở Việt Nam nói riêng, từ đó góp phần khẳng định giá trị của những quan niệm này đối với ứng xử của con người Việt Nam hiện nay với cái chết và cuộc sống

Nhiệm vụ

- Nghiên cứu quan niệm về cái chết trong lịch sử tư tưởng nhân loại

- Nghiên cứu quan niệm và cách ứng xử của người Việt với vấn đề cái chết và đề xuất thế ứng xử cho con người Việt Nam hiện nay về vấn đề cái chết theo định hướng giá trị văn hoá

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan niệm về cái chết trong lịch sử

tư tưởng nhân loại nói chung, ở Việt Nam nói riêng và cách người Việt Nam ứng xử với cái chết

Phạm vi nghiên cứu củaluận văn tập trung khảo cứu trong lịch sử triết

học phương Đông và phương Tây, trong một số tôn giáo lớn và phong tục tang ma ở Việt Nam

1.5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong việc nghiên cứu tôn giáo, nghiên cứu lịch sử triết học đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu

Trang 11

như: phương pháp nghiên cứu văn bản, phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử

và logic…

1.6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn trình bày một cách có hệ thống và chi tiết quan niệm về cái chết trong lịch sử tư tưởng nhân loại và đưa ra một số đề xuất về thế ứng xử cho con người Việt Nam hiện nay đối với vấn đề cái chết

1.7 Ý nghĩa của luận văn

Thông qua việc làm sáng tỏ những nội dung cơ bản trong quan niệm về cái chết trong lịch sử triết học, tôn giáo và ở Việt Nam luận văn giúp chúng ta

có một cái nhìn đầy đủ, đa chiều hơn về vấn đề luôn đi liền với cuộc sống của con người, đó là cái chết, đồng thời luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm tới vấn đề trên

1.8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

có kết cấu gồm 2 chương, 5 tiết

Trang 12

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: QUAN NIỆM VỀ CÁI CHẾT TRONG LỊCH SỬ TƯ

TƯỞNG NHÂN LOẠI 1.1 Quan niệm về cái chết trong lịch sử triết học

1.1.1 Quan niệm về cái chết trong triết học phương Tây

Socrates (469 Tr CN – 399 Tr CN) là một nhà triết học vĩ đại Theo

ông triết học ra đời với mục đích chuẩn bị về mặt tinh thần để con người đón nhận cái chết Điều này đã được Socrates lý giải trong tác phẩm “Đối thoại Phedon”, một đối thoại được học trò của ông là Platon ghi lại, trong đó kể lại những thời khắc cuối đời của người thầy

Socrates bị xử phải uống thuốc độc Môn đệ của ông tìm cách cứu ông một lần chót nhưng ông đã từ chối Với các môn đệ đến ngục thất để tiễn Socrates về cõi chết, Socrates nói: Hãy cứ vui đi, các con chỉ chôn cái thể phách của thầy Đặc biệt, Socrates cho rằng, nếu cái chết có thể tránh khỏi sự bất lực và bi thảm sau tuổi già thì con người sẽ có được kết luận là muốn tìm đến một cái chết còn tốt hơn là sống: Ai chưa kinh qua đời sống phản tỉnh thì người đó không đáng sống.Theo Socrates, “phản tỉnh” là công năng quan trọng của triết học Ý nghĩa sinh mệnh con người đòi hỏi phải kinh qua sự phản tỉnh triệt để thì cuộc sống mới mang nhiều giá trị hơn

Do Socrates xoáy sâu vào sự sống, nhấn mạnh sống cần phải “phản tỉnh” thì mới có ý nghĩa Tương tự, đối với cái chết cũng vậy, trước khi nhắm mắt cũng cần phải phản tỉnh thì cái chết mới mang ý nghĩa, giá trị của đời người,

và không có chút hối tiếc cũng như không có gì phải sợ hãi khi lâm chung

“Chính bản thân của Socrates do bị vu khống tội “bôi nhọ thần thánh”,

“đầu độc thanh niên” mà bị kết án tử hình Nhưng sau khi ông kinh qua quá trình phản tỉnh trọn vẹn, không những ông không biểu hiện chút gì sợ hãi, cự

Trang 13

tuyệt trốn chạy, mà trái lại còn phát huy dũng khí nhìn cái chết giống như cơ hội trở về, khác hẳn với người bình thường Dũng khí này là trí tuệ có được sau sự “phản tỉnh” của ông, vì ông cho rằng chết đúng chỗ, chết đúng lẽ, chết đúng thời nên thong dong tự tại ra đi” [10, 212-213]

Socrates từng nói: Những người sống có giá trị thì sẽ không suy tính chuyện an nguy của sinh mệnh, điều mà anh ta băn khoăn duy nhất chỉ là quan tâm đến vấn đề thị phi, thiện ác của hành vi “Có nghĩa là, trong lòng anh ta lấy giá trị cao thượng để làm tiêu chuẩn của việc phản tỉnh, cần thiết thì lúc nào cũng có thể hy sinh mạng sống để bảo vệ chính nghĩa, biện biệt thị phi Trong suy nghĩ của anh ta luôn luôn “Sống tốt, sống đẹp, sống chính nghĩa là một sự thống nhất” Có nghĩa, chỉ có dựa vào công bằng, chính nghĩa

mà sống thì mới có thể gọi là sống tốt, sống đẹp được Nếu không, mặc dù có cuộc sống giàu sang mà trái lại có hành vi không chính nghĩa, không phân biệt phải trái, sống chẳng có chút giá trị nào thì thà chết còn hơn sống” [10, 214] Socrates nhìn nhận cần phải nuôi hy vọng lạc quan với cái chết Bời vì, theo cách nhìn của ông, nếu cái chết có thể tránh khỏi sự bất lực và bi thảm sau tuổi già thì con người sẽ có được kết luận là “muốn tìm đến một cái chết còn tốt hơn là sống” [10, 217]

Plato (427 Tr.CN – 347 Tr.CN) là một trong những triết gia vĩ đại của nền triết học Hy Lạp cổ đại Tư tưởng của ông có quy mô rộng lớn, tư duy tinh tế, quán thông xuyên suốt hầu như tất cả các vấn đề triết học quan trọng Plato kế thừa quan niệm của Pythagoras, cho rằng thân xác như nhà lao giam giữ linh hồn, nên “chết là sự phóng thích linh hồn ra khỏi thể xác” Theo Plato, ý niệm mới là thế giới tồn tại vĩnh hằng nên trong thiên Phedo ông nói: chết là linh hồn bất tử rời khỏi nhà lao của thân xác mà được phóng thích, sau

đó bước sang thế giới ý niệm Plato cho rằng thế giới hiện thực và thế giới ý niệm như hai cõi trên và dưới đoạn tuyệt nhau nên cái chết của con người

Trang 14

chính là linh hồn trở về thế giới ý niệm Ngoài ra, ông cũng khẳng định tính tình con người bao gồm ba phần lý tính, cảm xúc, ham muốn Trong đó chỉ có linh hồn lý tính mới có thể trường tồn cho nên sau khi chết cảm xúc và ham muốn đều hủy diệt theo thể xác nhưng phần lý tính trong linh hồn thì vẫn quay về với thế giới ý niệm Con người sống trong thế giới hiện thực cũng như trú trong một cái hầm Do đó, chết là sự giải thoát cho linh hồn và cũng là bước vào ánh sáng vĩnh hằng của ý niệm nên không có gì đáng lo sợ

Theo Plato, “cuộc sống con người chỉ có những kẻ trí biết chuyên tâm dốc chí để tập luyện cái chết không ngừng thì mới có thể gọi là nhà triết học chân chính Trong triết học của Plato, mục tiêu quan trọng nhất của nhân sinh

là theo đuổi “Chân, Thiện, Mỹ”, mà bản thể của “Chân, Thiện, Mỹ” chính là cái thiện (Agathon) và đó chính là bản thể sáng suốt của vũ trụ” [54, 221] Trong triết học Plato, “Chân, Thiện, Mỹ” chỉ tồn tại trong thế giới ý niệm vĩnh hằng, nên chỉ sau khi chết đi mới có thể đạt đến ba phạm trù đó Cho nên khi bàn về ý nghĩa này, triết học chính là sự tập luyện cái chết Đương nhiên, nhà triết học tuyệt đối không nói, con người nếu tìm đến cái chết một cách mù quáng là trí tuệ của triết học; càng không nói, tự sát một cách ngu muội là triết học; mà ông chỉ nói, trong quá trình truy cầu chân lý, thiện hạn và mỹ đức, suốt cuộc đời nỗ lực “sống chết để thành tựu điều đó” chính là triết học Vì mục đích truy cầu chân lý mà sống chết cũng đạt cho bằng đươc Chân – Thiện – Mỹ, thì trong quá trình ấy chính là triết học “Tinh thần truy cầu chân lý, thậm chí còn lấy thân mạng để bảo vệ chân lý ở đây đáng được coi trọng và khâm phục” [54, 222]

Aristote (384 Tr CN -322 Tr.CN) là học trò của Plato, theo học với

Plato tại học viện đến hai mươi năm nhưng về sau ông có rất nhiều suy nghĩ khác với thầy Plato

Trang 15

Aristote phản đối thuyết linh hồn bất tử của Plato Aristote nhấn mạnh: Toàn bộ linh hồn nằm ở cảnh giới sau khi con người chết, tiếp tục tồn tại là điều không thể chấp nhận

Nếu như Plato cho rằng linh hồn tồn tại độc lập không dựa vào thân xác con người thì Aristote lại nhận định linh hồn chính là hình thức tồn tại của thân xác con người Với ông, linh hồn và thân thể con người là một thể thống nhất, khi thân thể hủy diệt thì linh hồn cũng theo đó mà mất đi Điều đó có nghĩa, thân xác và linh hồn có tính thống nhất và tính cộng sinh nên quan điểm này hoàn toàn bất đồng với cách nhìn nhận của Plato

Theo Aristote, chết là kết thúc nhưng đối với người chết thì tất cả mọi thứ đều chết theo cá nhân anh ta, mà mất đi toàn bộ niềm tin của họ Do đó, chết là điều đáng sợ Aristote nói mặc dù giành được toàn bộ thế giới này nhưng nếu mất đi mạng sống thì có ích gì đâu Do đó, mạng sống và sinh tồn, đối với người bình thường, đương nhiên rất quan trọng, họ đối mặt với cái chết, tâm thường phát sinh sợ hãi thì đó cũng là chuyện thường tình của con người “Aristote đã biết tường tận về tâm lý của con người khi đối mặt với cái chết nhưng ông đi xa hơn một bước nữa là chỉ ra vấn đề mang tính thiết thực hơn, tức là nhận thức nhân sinh còn có giá trị cao hơn, quan trọng hơn là mạng sống.” [54, 230] Chẳng hạn, theo con mắt nhìn nhận của Aristote thì việc truy cầu chính nghĩa theo đuổi vẻ vang lại cao hơn mạng sống rất nhiều

Vì vậy, ông cho rằng con người có thể dựa vào dũng khí và mỹ đức để khắc phục sự sự hãi của cái chết

Ông đã đưa ra ví dụ để thuyết minh: “Khi lính đánh thuê đối mặt với sự nguy hiểm lớn thì bao giờ cũng trở nên kẻ nhát gan, nhưng đối với công dân

vũ trang thì sẵn sàng lấy thân mình hy sinh vì việc lớn… Vì đối với hậu thế

mà nói thì bỏ chạy là điều đáng tủi nhục; mà đối với cái chết, theo cách nhìn của một số người thì đáng được ca ngợi hơn so với con đường tìm sự an toàn” [54, 230]

Trang 16

Cách nhìn về sinh tử của Aristote hoàn toàn tương đồng với câu nói “ngu xuẩn mới sợ chết” của Socrates Thầy của ông là Plato cho rằng, nhà triết học chân chính vốn không bao giờ sợ chết mà trong quá trình truy cầu Chân – Thiện – Mỹ, họ có thể khám phá được bộ mặt sinh tử Từ quan điểm này, chúng ta có thể nhận ra được nét tương đồng về tư tưởng của các nhà triết học

Epicure (341 Tr.CN – 270 Tr CN) cho rằng: Chết là việc chẳng có can

dự gì đến chúng ta; ông khẳng định con người và vạn vật tương đồng, vì tất cả đều do nguyên tử cấu thành nên đều đó trùng hợp một cách ngẫu nhiên Khi những nguyên tử này tổ hợp lại thì gọi là sinh, nhưng khi chúng ly tán thì gọi

là tử Cho nên cái chết và bản thân con người hoàn toàn chẳng liên quan gì đến nhau Sau khi con người chết, những nguyên tử cơ bản này có thể làm mới thông qua các nguyên tố mang tính ngẫu nhiên để hình thành nên một con người hoặc một động vật khác, nên những chỗ này cũng chẳng có liên quan gì đến con người cả

Vì vậy, Epicure nhấn mạnh: Đối với chúng ta cái chết chẳng liên can gì,

vì tất cả những thứ đã tiêu tan rồi đều không có cảm giác, mà những thứ không có cảm giác đều không có liên quan gì đến chúng ta: “Người có chí vừa không sợ hãi cái chết, vừa không chán ghét sinh tồn.”[54, 234]

Vì Epicure là người thuộc chủ nghĩa Khoái lạc tinh thần mang tính điển hình nên ông rất chú trọng cuộc sống hạnh phúc Ông gọi “Cuộc sống hạnh phúc” là “cái thiện tối cao của chúng ta do thiên phú, tất cả những thứ chọn lựa của chúng ta đều xuất phát từ cảm giác khoái lạc” Song, điều đáng chú ý

là, khoái lạc mà Epicure nói ra hoàn toàn không phải là niềm lạc thú của những kẻ buông lơi, hưởng thụ, hoặc niềm khoái lạc xác thịt, mà là chỉ cho thân thể không đau khổ và linh hồn không loạn động Theo cách nhìn của ông, người có chí trang bị cho mình trí tuệ triết học thì người đó vừa không sợ hãi cái chết, vừa không chán ghét sinh tồn

Trang 17

Nói cách khác, Epicure nhấn mạnh đối mặt với vấn đề sinh tử, trong khi cái chết của vận mệnh chưa tới thì phải cố gắng mà sống, khi tử thần đến thì hãy bình tĩnh mà chết Đây chính là thái độ rộng lượng của ông “vừa không

sợ hãi cái chết vừa không chán ghét sinh tồn”

Decartes (1596 – 1650) là người khai sáng ra chủ nghĩa Lý tính, hay còn gọi là “Người cha đẻ của triết học cận đại”

Theo cách nhìn của Decartes, linh hồn của chúng ta lâu bền hơn thân thể

có nghĩa là ông cho rằng linh hồn bất tử nên chẳng có gì phải sợ hãi đối với cái chết Nói cách khác sau khi con người chết, linh hồn sẽ lìa khỏi thể xác nhưng sẽ không vì thân thể chúng ta chết mà nó chết theo, thậm chí nó vẫn còn nguyên vẹn không chút tổn hại Decartes nhấn mạnh tâm linh chúng ta có một bản tính hoàn toàn độc lập với thân thể nên chắc chắn sẽ không chết cùng với thân thể Chúng ta đã không thấy được nguyên nhân nào khiến cho tâm linh hủy diệt nên một điều đương nhiên mà chúng ta chắc chắn rằng tâm linh

là cái bất tử

Nói cách khác, Decartes nhấn mạnh: Tâm linh chúng ta có một bản tính hoàn toàn độc lập với thân thể nên chắc chắn sẽ không chết cùng với thân thể Chúng ta đã không thấy được nguyên nhân nào khiến cho tâm linh hủy diệt nên một điều đương nhiên mà chúng ta chắc chắn rằng, tâm linh là cái bất tử

Spinoza (1632 - 1677) cho rằng trí tuệ con người tự do không phải nằm

ở chỗ trầm tư về cái chết mà lại suy nghĩ về sự sống Spinoza không bị chi phối bởi tâm trạng sợ chết mà mong muốn một cách trực tiếp về điều thiện; có nghĩa là ông đã vượt qua khỏi nỗi ám ảnh của cái chết mà ông toàn tâm toàn sức để làm điều thiện đối với cuộc đời này

Theo Spinoza đã nhấn mạnh: Tâm linh con người không thể tiêu diệt hoàn toàn theo thể xác Chỉ cần lòng người theo đuổi con đường làm điều thiện thì chắc chắn sẽ bước vào thế giới của Chúa nên con đường bảo trì mạng

Trang 18

sống chính là ở chỗ biết về Chúa, tức là chỉ cần sống trong cảnh giới của Chúa thì có thể tồn tại vĩnh hằng, siêu việt cả không gian và thời gian

Fichte (1762 -1831) cho rằng linh hồn bất tử chính là tự ngã thuần túy

và Thượng đế bất tử, cho nên khi một người chết tức là hợp nhất với Thượng

đế, như vậy thì còn sợ chết gì nữa? Đây là vấn đề mà Fichte đã nói: Đối với tôi mà nói, chết là việc hết sức nhỏ bé không đáng để nói Đối với chính tôi

mà nói, khi chết chính là lúc sản sinh ra một mạng sống hoàn toàn mới và tráng lệ hơn Cho nên theo cách nhìn của Fichte thì chết là việc tốt lành có thể mang con người đến với Thượng đế, mang đến kiếp sau và mang đến một thế giới hoàn hảo hơn

G.W.F.Hegel (1770 -1831) nói đến trong cuốn sách Hiện tượng học tinh

thần như sau: “Đời sống tinh thần không phải là sợ chết để may mắn thoát khỏi cuộc sống dày vò mà là dám đón nhận cái chết và có được cuộc sống tự tại trong cái chết.” [54, 247] Vì vậy, chỉ có khám phá cái chết mới có thể phủ định nỗi sợ hãi bởi bóng đêm bên ngoài và mới có thể phủ định được nỗi sợ hãi trong linh hồn Chỉ có như vậy mới có thể mãi thăng hoa tinh thần để đạt đến sự vĩnh hằng của tinh thần tuyệt đối Nói cách khác, Hegel cho rằng, chết chính là sự dung hợp mới giữa Thượng đế và con người Cho nên thông qua cái chết, Thượng đế mới làm cho thế giới này hài hòa, giúp cho bản thân thế giới được vĩnh hằng cùng với sự hài hòa của thượng đế

Karl Japers (1883 -1969) – nhà triết học Đức mang tư tưởng khoáng đạt

thuộc chủ nghĩa tồn tại Japers đã đưa ra câu nói nổi tiếng: làm triết học tức là học tập cái chết nên có thể nói đó là quan niệm hạt nhân chủ yếu của ông Japers cho rằng có bốn tình huống ngoài lề khiến con người phải kinh hoàng đầu tiên là cái chết, sau đó là gian khổ, đấu tranh và tội lỗi Chính vì cái chết

là tình huống ngoài lề rõ ràng nhất ranh giới giữa cái sống và cái chết rất mong manh Bước qua ranh giới này, trời người sẽ vĩnh viễn cách xa, đồng

Trang 19

thời tất cả vinh hoa phú quý hoặc quyền lợi địa vị xã hội bên ngoài cũng tuột khỏi tầm tay Vì vậy, tất cả cảnh tượng trên thế gian cũng chẳng còn ý nghĩa

gì nữa, bức tường âm dương đã tạo nên cuộc chia ly mãi mãi nên đó là chỗ khiến người ta sợ hãi nhất Do đó, đối với tình huống ngoài lề - cái chết chúng

ta cần phải xử lý ra sao, suy nghĩ thế nào, đó mới là sự thử thách lớn nhất của triết học Đặc biệt Japers nhấn mạnh, con người phải đối mặt với cái chết, nắm chặt cái đang tồn tại lúc này và lấy sứ mệnh lịch sử để siêu việt tồn tại, nhìn về tương lai đánh giá lịch sử thì mới có thể sống một cách chân thành với ý nghĩa của mạng sống

Martin Heiderger (1889 -1976) là một nhà triết học nổi tiếng của triết

học phương Tây hiện đại Về căn bản triết học Heiderger khẳng định con người là sự tồn tại đang bước dần đến cái chết, cho nên nhân sinh quan chính

là nhân tử quan vì con người phải đối mặt với cái chết, hoàn thành trách nhiệm mới không uổng phí một đời Theo Heiderger, tồn tại trước tiên phải nằm ở bản chất, ý nghĩa đại biểu cho cái chết của mỗi cá nhân làm cho mỗi người không giống nhau: phương thức chết, thời gian chết, không gian chết của từng người cũng khác nhau Do đó, đối với tồn tại ở đây của mỗi người thì chỉ có cái chết mới có khả năng thể hiện được tính đặc sắc của nó Từ vấn

đề trên Heiderger đã tìm ra tính tích cực và tính đặc biệt của cái chết

Bertrand Arthur William Russell (1872-1970) cho rằng sống chết

không hề thuộc về vấn đề triết học mà thuộc về vấn đề khoa học và tôn giáo Nhưng ông vẫn cho rằng triết học có nhiệm vụ giúp con người tránh khỏi sợ hãi về cái chết Theo Russell mặc dù biết nhân sinh nhất định đều sẽ chết,

“con người do mệnh trời đã định hôm nay mất đi người mà anh ta yêu quý nhất, ngày mai chính họ cũng phải đi qua cánh cửa tối tăm kia” nhưng hoàn toàn không vì thế mà suy sụp, trái lại cần phải “ôm tư tưởng cao thượng để giúp cho chuỗi ngày ngắn ngủi của anh ta có đầy đủ phẩm chất cao quý, tuyệt

Trang 20

đối không trở thành kẻ nô lệ cho vận mệnh mà nhu nhược tinh thần” Tinh thần không chịu cúi đầu trước vận mệnh, ngang nhiên kiến lập tư tưởng cao thượng này của Russell vẫn được mọi người khâm phục

1.1.2 Quan niệm về cái chết trong triết học phương Đông

Khổng Tử (551 – 579 tr CN) cho rằng bản thân vấn đề sống chết đều do

mệnh trời quy định với câu nói khá nổi tiếng: Sống chết có mệnh, giàu sang tại trời Trời đối với Khổng Tử có chỗ như là một quy luật, là trật tự của vạn vật, có chỗ ông khẳng định trời có ý chí: Mắc tội với trời không thể cầu ở đâu

mà thoát được “Thiên mệnh nói vắn tắt là mệnh Ông cho rằng, mỗi cá nhân,

sự sống – chết, phú quý hay nghèo hèn đều là do Thiên mệnh quy định” [61, 31] Vì vậy, Khổng Tử đặt hết niềm tin vào ý chí của trời Ông khuyên mọi người phục tùng ý chí đó và coi việc hiểu biết mệnh trời như một điều kiện trở thành con người hoàn thiện “Không hiểu mệnh trời thì không thể là người quân tử” Khi Tử Lộ hỏi ông về việc thờ quỷ thần và về cái chết, ông đã thẳng thắn trả lời: “Chưa biết thờ người, làm sao có thể thờ quỷ… Sự sống còn chưa biết, sao biết được sự chết?” [58, 405] Vì đã là sống chết có mệnh thì không cần phải nghiên cứu thế giới sau khi chết để làm gì, do đó Khổng Tử đề cao trí tuệ và nỗ lực của mỗi cá nhân trong cuộc sống hiện thực, sống cho đúng đạo làm người

Mạnh Tử (372 – 289 tr CN) nhấn mạnh trời là một đấng anh minh tối

cao, sáng tạo và chi phối vạn vật trong vũ trụ Cho nên, ông khuyên nhủ con người phải luôn luôn tuyệt đối phục tùng mệnh trời, an phận nhận lấy số mệnh trời đã định: Không có việc gì xảy ra mà không do mệnh trời, người ta phải thuận theo mà nhận lấy cái số mệnh chính đáng ấy Trong đó, theo Mạnh Tử: Chết non hay sống lâu không nghi ngờ gì cả Chỉ sửa mình để đợi mệnh, tức là giữ trọn theo số mệnh trời đã giao phó cho vậy, và khi đã theo chọn cái đạo trời mà chết, ấy là số mệnh chính đáng “Mạnh Tử khẳng định nhân tâm

Trang 21

có được từ thiên tâm, do đó, nếu mọi người tận tâm tận lực, kích phát tiềm năng, hoàn thành thiện căn tự ngã, thì có thể biết được bản chất của mạng sống, tức là trực tiếp tri thiên, biết được bản chất của thiên tâm” [54, 284] Ông khẳng định, “tuổi thọ nhân sinh đều có số mệnh nhất định, hoặc dài hoặc ngắn, mệnh số không hai, đều do mệnh trời, con người đứng trước số mệnh này không thể thay đồi, không thể chạy trốn mà chỉ có thể đối mặt với nó, thông qua phương pháp tu thân mỗi ngày để hoàn thành trách nhiệm sinh mệnh, đây chính là con đường an thân lập mệnh vững vàng nhất” [54, 285] Chính vì vậy mà Mạnh Tử cho rằng: “Sống là điều ta ham muốn, nghĩa cũng

là điều ta ham muốn, nhưng trong những cái ta ham muốn còn có lớn hơn cả

sự sống, cho nên ta không thể cẩu thả ôm lấy sự sống Chết là điều ta ghét, nhưng trong những cái ta chán ghét còn có cái ta chán ghét hơn sự chết, cho nên có khi gặp hoạn nạn (biết là có thể chết đấy) nhưng ta cũng không né tránh.” [58, 742]

Tuân Tử (298- 238tr CN): Tuân Tử cho rằng đạo Trời luôn diễn ra theo

lẽ tự nhiên nhất định không liên quan gì đến đạo người Trời có thiên chức của Trời người có thiên chức của người Người quân tử, bậc chí nhân là người thấu hiểu đạo Trời, không ỷ lại và không phụ thuộc vào Trời, không tranh thiên chức của Trời mà luôn lo làm tốt việc của con người Ông khuyên con người ta không nên chờ đợi sự ban phát của tự nhiên một cách bị động mà phải vận dụng tài trí, khả năng, sức lực của mình để dưỡng vật chế tài vật, ứng phó với thời, hóa vật và trị vật ngày một tốt hơn Đây là quan niệm hết sức tiến bộ của Tuân Tử nó hoàn toàn đối lập với những quan điểm thuận mệnh, chờ mệnh, sợ mệnh có tính chất duy tâm thần bí được tuyên truyền đương thời Tuân Tử khẳng định quỷ thần không thể chi phối được đời sống con người Cho nên, con người là cao quý nhất trong vạn vật Ông coi tri giác

và ý thức là đặc điểm của con người, qua đó ông phủ nhận quan điểm vạn vật

Trang 22

đều có linh tính đã được thịnh hành trong tư tưởng mê tín tôn giáo đương thời Về mối quan hệ giữa tinh thần và thể xác con người, Tuân Tử cho rằng tình cảm, dục vọng, khí quan, cảm giác và hoạt động tư duy của con người đều là hiện tượng tự nhiên Ông thừa nhận không có một lực lượng thần bí siêu nhiên nào chi phối hoạt động tinh thần của con người

Dương Chu (395 -335tr CN) cho rằng tất cả sự vật hiện tượng cũng như

mọi biến cố của tự nhiên và xã hội đều tuân theo tính chất tự nhiên không phụ thuộc vào một lực lượng siêu nhiên như thần thánh hay ma quỷ nào cả Đời sống con người và vạn vật trong vũ trụ là tự sinh tự diệt Do đó, ông phê phán những quan niệm có tính chất mê tín tôn giáo tin vào sự bất tử của đời sống Ông kêu gọi hãy tận hưởng mọi điều hiện có trong cuộc sống và không nên làm cho mình khổ sở bằng ý nghĩ về cái gì sẽ đến sau khi chết Ông cho rằng đời sống chỉ là tạm, chẳng bao lâu rồi chết, cho nên hành động theo lòng mình, không trái với thị hiếu tự nhiên, không bỏ lỡ cái gì làm vui cho cuộc sống, không màng tới cái danh sau khi chết Danh tiếng hơn hay kém, tuổi thọ nhiều hay ít họ không quan tâm tới: “Đã sinh ra thì cứ thản nhiên nhận cuộc sống và thỏa mãn hết thị hiếu của mình đến lúc chết, sắp chết thì cứ thản nhiên nhận sự chết, sống hết đời mình cho đến khi tiêu diệt Cái gì cũng thản nhiên, cái gì cũng chấp nhận thì còn mong cái gì nó tới sớm hay muộn nữa Đối với “mệnh trời” và “việc người” có thể nói Dương Chu vận dụng quan điểm tổng hợp nên đều thừa nhận cả hai Ông quan niệm cái gì không biết tại sao nó lại như vậy thì gọi là do mệnh trời Đã tin có mệnh trời rồi thì không

có gì là thọ yểu Người như vậy có thể gọi là không tin cái gì cả mà không có cái gì là không tin

Trang Tử (369 - 286 tr.CN) cho rằng con người ta chẳng qua là tạp chất

biến hóa ra có khí, khí lại biến hóa có hình, hình biến hóa mà có sinh, sinh biến hóa mà có tử Theo cách nhìn của ông nhân sinh có sống chết thì cũng

Trang 23

như tự nhiên có ngày đêm, cũng như vạn vật có quy luật tự nhiên, đều thuộc

sự vận động mang tính khách quan hóa mà hoàn toàn chẳng phải do ý muốn chủ quan của bản thân con người Vì vậy, cho dù là sống hay chết thì con người đều cần thản nhiên đối mặt và đón nhận nó Sự sống và cái chết dựa vào nhau để cùng tồn tại trở thành điểm đầu và điểm cuối của nhau để tạo thành quá trình hoàn chỉnh của sinh mệnh Theo nhận định của Trang Tử, đối với bất cứ một cá thể sống nào thì sống có ý nghĩa của sự sống và chết có ý nghĩa của sự chết Trang Tử coi cuộc sống là trách nhiệm với rất nhiều mệt mỏi gánh nặng còn chết lại là sự nghỉ ngơi từ đó làm nổi bật lên ý nghĩa của cái chết trong quá trình sống của một con người Theo Trang Tử chết là sự quy thuận theo tạo hóa, chỉ khi con người có thể thản nhiên quy thuận theo sự sắp đặt sống chết của tạo hóa thì mới được xem là đã thực sự lĩnh hội được ý nghĩa chân chính trong số mệnh của mình

1.2 Quan niệm về cái chết trong một số tôn giáo lớn

Vấn đề cốt lõi trong quan niệm của các nhà triết gia Đông - Tây là trách nhiệm, mục đích của con người đối với xã hội, tìm cách trả lời cho câu hỏi: con người sống để làm gì? Cần phải sống ra sao? Thì trái lại, các tôn giáo quan tâm tới vấn để bản thể luận của con người: con người là ai? Con người

từ đâu tới, sẽ đi về đâu? trong mối tương quan với vũ trụ, vạn vật Cái chết là vấn đề trung tâm được các tôn giáo quan tâm và luận bàn sâu sắc nhất so với các học thuyết, tư tưởng khác

1.2.1 Quan niệm về cái chết trong đạo Kitô

Quan niệm thế giới quan của Kitô giáo bao gồm ba tầng: tầng Trời (Thiên Đàng), tầng Luyện Ngục và tầng Đất (Địa/Hỏa Ngục) Thiên Đàng dành cho những người sạch tội cùng những người đã đền tội đủ Luyện Ngục

là nơi giam giữ những người lành nhưng còn mắc những tội mọn hay đền tội chưa đủ Địa/Hỏa Ngục là nơi giam giữ những người phạm tội trọng

Trang 24

Tín đồ Kitô tin tưởng có sự tồn tại của linh hồn và thế giới dành cho người chết Vì vậy, trong nhận thức về cái chết Kitô giáo quan niệm chết là cửa dẫn vào cõi sống, chết không phải là chấm dứt sự sống mà sẽ có ngày con người được sống lại Sống lại chính là Phục sinh Người Kitô giáo tin tưởng: con người sau khi chết, thân xác có phải mục nát đi theo quy luật vật lý nhưng Thiên Chúa sẽ làm sống lại trong ngày Chung cuộc Vì vậy, người chết rồi không phải cố níu kéo sự nhớ thương của người sống dành cho người chết (tồn sinh trong tâm trí người sống) mà cố gắng đi vào trong ký ức của Thiên Chúa Vào ngày Chung cuộc, Thiên Chúa sẽ cho thân xác được sống lại nhưng không phải xác chết hồi sinh nguyên hình như khi còn sống mà là một thân xác đã được biến đổi trong sự Phục sinh của Chúa Kitô Như vậy, Phục sinh

là kết quả biện chứng sống – chết ở Chúa Kitô và cũng là kết quả biện chứng xác – hồn ở mỗi tín đồ Qua cái chết và sự sống lại, Đức Giêsu loan báo cho con người một Tin Mừng khi khẳng định cái chết không phải là một ngõ cụt

mà là một cửa ngõ dẫn vào một đời sống mới Tất cả kho tàng Kitô giáo được xây dựng trên niềm tin ấy

Đối với mỗi người Thiên chúa giáo, thế giới bên kia là xứ sở của những người được phục sinh, nơi những người sau khi chết tìm được một cuộc sống mới Đó là nơi những con chiên chân chính sẽ được sống một cuộc sống vĩnh hằng mà Thượng đế đã hứa ban cho họ Đạo Kitô khẳng định rằng cuộc sống thực sự, cuộc sống vĩnh hằng, không phải cuộc sống trên thế gian này mà là cuộc sống chúng ta sẽ có thế giới bên kia Như Kinh Phúc Âm lý giải về điều này, vào thời khắc tận cùng, có một cuộc phán xét cuối cùng, khi đó mỗi người phải báo cáo mọi hành động của mình Do đó, đối với người theo đạo Kitô, phải nỗ lực ngay từ khi đang sống ở cuộc sống hiện tại để xứng đáng được cứu rỗi, nghĩa là chuộc lại những lỗi lầm của mình để được phép đón nhận vào vương quốc của Chúa Đạo Kitô khuyên nhủ các môn đồ của mình

Trang 25

rằng hãy để người chết được ra đi thanh thản, bởi lẽ điều đáng quan tâm hơn

cả chỉ có cuộc sống vĩnh hằng mà thôi Sức mạnh của một tín đồ Kitô giáo ấy

là nhìn thấy ở việc đấng Kitô bị đóng đinh câu rút, hình ảnh một Thượng đế trong cơn hấp hối cũng có khả năng chiến thắng cái chết và do sẵn sàng đón nhận cái chết mà đạt tới niềm hân hoan phục sinh: “Người Kitô Hữu nào cũng tin rằng chết không phải là hết mà là bước vào một cuộc sống mới vĩnh cửu Cuộc sống vĩnh cửu này sướng hay khổ là do cuộc sống hiện tại này ta có tin vào Thiên Chúa, vào Ðức Kitô và có sống phù hợp với niềm tin ấy hay không Người Kitô Hữu còn tin rằng ngay cả thân xác này cũng sẽ sống lại vào ngày tận thế để trở thành thân xác bất khả hư hoại hầu sống đời sống vĩnh cửu, để được thưởng hoặc chịu phạt muôn đời Niềm tin căn cứ vào sự phục sinh từ cõi chết của Đức Kitô Chính Đức Giêsu Kitô, Ngài là vị Thiên Chúa đã chết để gánh tội nhân loại và chính Ngài đã hoàn toàn chiến thắng sự chết, đem lại sự sống muôn đời cho những ai có niềm tin vào Ngài”[44, 375]

Bởi đức tin công giáo coi đau khổ là một phương thế liên kết một người với Đức Kitô, Đấng đã dùng đau khổ và sự chết để tôn vinh Thiên Chúa Cha

“Chúng ta mang trong mình sự chết của Đức Kitô, để sự sống của Người có thể được biểu hiện nơi thân xác chúng ta Khi chết, người Kitô hữu được hợp nhất với Đức Kitô, sự kết hợp đã bắt đầu khi lãnh nhận phép Rửa tội, được đổi mới và củng cố bởi Bí tích sám hối và Thánh Thể, nay được hoàn toàn mỹ mãn Khi chết người tín hữu tự dâng cho Thiên Chúa hành vi tự hiến cuối cùng của mình, họ chết cho Chúa như họ đã từng sống cho Chúa [15, 304]

1.2.2 Quan niệm về cái chết trong đạo Phật

Hạt nhân của quan niệm về sinh tử của Phật giáo là không có sống không

có chết, vô thường, vô ngã Phật giáo cho rằng bản chất của vạn vật là không, thân xác giả tạo chẳng qua là sự kết hợp của nhân duyên, vật thể giả hợp của nhân duyên đều không có tự tính, tồn tại độc lập, cũng không thể vĩnh hằng

Trang 26

được Bởi vậy, cái chết là không thể tránh khỏi, đó là khi nhân duyên tan, các yếu tố tạo nên thân thể con người như sắc, thọ, tưởng, hành, thức không còn kết hợp với nhau được nữa Đó là sự vô thường của sinh mệnh Mặt khác, Phật giáo lại cho rằng, sự luân hồi của kiếp sống là có thể vượt qua, nguyên nhân dẫn dắt mọi người chìm đắm trong bể khổ luân hồi là vô minh Chỉ cần chúng ta dập tắt mọi phiền não, vô minh thì có thể thoát khỏi sinh tử, chứng được cảnh giới Niết bàn [46, 14]

Khi chết là lúc thần thức lìa bỏ xác thân (linh hồn), lúc đó là lúc đã đoạn tuyệt mệnh căn Chỉ khi nào thần thức thực sự rời bỏ thể xác, toàn thân đều lạnh thì lúc ấy mới gọi là chết Theo quan niệm của Phật giáo, chết thỉ là một giai đoạn trong vòng sinh tử luân hồi Sinh có trước tử và tử lại có trước sinh Sinh và tử chỉ là những tiếng gọi khác nhau nhưng lại có cùng một tiến trình

Sự tương quan giữa chết và sống, sống và chết tương tự như nước bốc hơi, hơi gặp lạnh đông lại thành mây, rồi mây lại sinh ra mưa để cho lại nước Cái vòng luân chuyển sống chết cứ luân lưu mãi không ngừng Chết chỉ là sự chấm dứt của một hiện tượng sinh mạng ở một giai đoạn gọi là kiếp người Chết chỉ là một sự thay đổi như đang ở nơi này phải dọn đến nơi khác Khi đó chỉ có môi trường sinh sống và địa điểm bị thay đổi Như vậy, theo quan niệm Phật giáo thì chết không phải là hết, chỉ có thân xác giả tạm là tan rã Còn nguyên nhân sâu xa của sự chết là do nghiệp (Karma) Vì nghiệp là nguồn gốc gây ra sự sống chết, luân hồi

Phật giáo cho rằng khi hơi thở chấm dứt là con người sẽ chết, nó là một trong 4 khâu của định luật "thành, trụ, hoại, diệt" “Bất cứ sự vật nào thuộc thế giới hiện tượng, nghĩa là có hình có tướng, đều phải trải qua bốn giai đoạn của hiện hữu: Thành (từ chưa có trở nên có), Trụ (tồn tại một thời gian), Hoại (bị hư hoại, yếu dần, suy thoái), và Diệt (cuối cùng bị tiêu diệt, mất đi, không

Trang 27

còn tồn tại nữa) Chết chính là khâu cuối cùng của 4 giai đoạn hiện hữu trên cho mọi vật sống” [18, 145]

Ðịnh luật “thành, trụ, hoại, diệt” là định luật phổ quát tuyệt đối cho tất cả mọi sự vật vô thường (hay thay đổi) trong thế giới hiện tượng Theo định luật này, phàm cái gì có sinh thì phải có diệt, chỉ những cái không sinh mới không diệt thôi Hễ cái nào đã từng sinh ra, nghĩa là trước chưa có mà sau lại có, ắt thuộc loại bất tất, vô thường, hay thay đổi, mà thay đổi tức là phải “thành, trụ, hoại, diệt”, nghĩa là cuối cùng phải bị hủy hoại, tiêu diệt, chết Không thể có sinh mà không có tử, cũng như không thể có tử mà trước đó đã không sinh Vì thế, Phật giáo không thể chấp nhận một linh hồn đã được sinh ra mà sau đó lại tồn tại vĩnh cửu, hay một thể xác sống lại để rồi tiếp tục sống mãi Nếu có một linh hồn bất tử, thì linh hồn đó ắt phải có từ trước muôn đời không do ai sinh

ra cả Mà hễ do một nhân duyên nào sinh ra, ắt phải có ngày hủy diệt: “có hoàn cảnh sinh tồn rồi sẽ có sinh, có sinh rồi sẽ có lão và tử” [62, 226]

Quan niệm về cái chết của Phật giáo thể hiện qua những luận thuyết cơ bản: thuyết vô thường, thuyết vô ngã, thuyết nhân quả, thuyết nhân duyên khởi và thuyết tứ diệu đế

Thuyết vô thường: Vô thường là không thường còn, là chuyển biến thay

đổi Luật vô thường chi phối vũ trụ, vạn vật, thân và tâm ta Sự vật luôn luôn biến đổi không có gì là thường trụ, bất biến Vạn vật được cấu thành, trụ một thời gian, sau đó chuyển đến diệt, thành, hoại, không Các sinh vật đều tuân theo luật: Sinh, trụ, di, diệt Theo luật vô thường, không phải khi sinh ra mới gọi là sinh, khi vạn vật diệt mới gọi là diệt mà từng phút, từng dây, từng Satna, vạn vật sống để mà chết và chết để mà sống Sống, chết tiếp diễn liên tục với nhau bất tận như một vòng tròn

Thuyết vô ngã: Vô ngã là không có cái ta Thực ra làm gì có cái ta

trường tồn, vĩnh cữu vì cái ta nó biến đổi không ngừng, biến chuyển từng

Trang 28

phút, từng giờ, từng Satna Cái ta mà Phật nói trong thuyết vô ngã gồm có hai phần: cái ta sinh lý và cái ta tâm lý Trong đó, cái ta sinh lý chỉ là kết hợp của bốn yếu tố của bốn đại là: địa thuỷ, hoả, phong Những thứ đó không phải là

ta, ta không phải là những thứ đó, những thứ đó không thuộc về ta Khi bốn yếu tố này rời nhau trở về thể của nó thì không có gì ở lại để có thể gọi là cái

ta được nữa Cho nên cái mà ta gọi là cái ta sinh lý chỉ là một giả tưởng, một nhất hợp sinh lý mà thôi Còn cái ta tâm lý gồm: thụ, tưởng, hành, thức Bốn

ấm này cùng với sắc ấm che lấp trí tuệ làm cho ta không nhận thấy được cái ta chân thực cái ta Phật tính, cái chân ngã của chúng ta Cái chân lý gồm những nhận thức, cảm giác, suy tưởng, là sự kết hợp của thất tỉnh: Hỷ, nộ, ai, lạc, ái,

nỗ, dục

Hai thuyết vô thường, vô ngã là hai thuyết cơ bản trong giáo lý Phật Chấp ngã chấp có cái ta còn là nguồn gốc của vô minh mà vô minh là đầu mối của luân hồi sinh tử sinh ra đau khổ cho con người

Thuyết lý nhân duyên sinh: Với lý thuyết nhân duyên Phật giáo muốn nói

tới một định lý Theo định lý ấy vạn vật phát triển trên thế gian đều do các nhân duyên hội họp mà thành, sự vật, vạn pháp sẽ kiến diệt khi nhân duyên tan rã Nhân là năng lực phát sinh, duyên là lực hỗ trợ cho nhân phát sinh Tất

cả mọi hiện tượng đều nương nhau mà hành động Tất cả các pháp đều sinh, diệt và tồn tại trong sự liên hệ mật thiết với nhau, không một pháp nào có thể tồn tại độc lập tuyệt đối

Sự vật chỉ “có” một cách giả tạo, một cách vô thường: Nhân duyên hội họp thì sự vật là “có”, Nhân duyên tan rã thì sự vật là “Không” Thế giới vũ trụ, vạn pháp đều cấu thành bởi hệ thống nhân duyên trùng trùng điệp điệp Các pháp không có thực thể, chỉ vì nhân duyên hoà hợp mà có, một cách giả hợp mà sinh ra

Trang 29

Thuyết nhân quả: Thuyết nhân duyên quả báo gọi là thuyết nhân quả là

một trong những thuyết cơ bản của giáo lý đạo Phật Phật giáo chủ trương vạn vật không bao giờ tự nhiên mà có, mà sinh ra và cũng cho rằng không một thần quyền nào hay một đấng thiêng liêng nào tạo ra sự vật Sự vật sinh ra là

có nguyên nhân Cái nguyên nhân một mình cũng không tạo ra được sự vật

mà phải có đủ duyên thì mới tạo ra quả được Trong nhân lại có mầm mống của quả sau này nhưng quả không nhất định phải đúng như nhân vì duyên có thể mang lại sự biến đổi cho quả - Đó là thuyết “Bất định pháp” trong luật nhân quả Sự vật là bất định, người tu hành căn cứ vào thuyết này mà tu dưỡng và tiến tới trên con đường giải thoát về nhân Những luận thuyết cơ bản được trình bày ở trên đã hình thành nên thế giới quan Phật giáo Phật quan niệm các hiện tượng trong vũ trụ luôn luôn biến chuyển không ngừng theo quy luật nhân duyên Một hiện tượng phát sinh không phải là do một nhân mà do nhiều nhân và duyên Nhân không phải tự mà có mà do nhiều nhân duyên đã có từ trước Như vậy, một hiện tượng có liên quan đến tất cả các hiện tượng trong vũ trụ

Theo Phật giáo, khi con người chết sẽ tiếp tục đầu thai trong vòng sinh

tử luân hồi với thân và tâm được thừa hưởng từ sự tích lũy nghiệp thiện và ác

ở kiếp sống vừa qua Khi nói đến “thân trung ấm (bardo) nên hiểu là sự sống sau khi chết trước khi thần thức người ấy đi tái sinh vào một trong sáu cõi nào

đó (Trời, Người, A tu la, Địa ngục, Ngạ quỷ và Súc sinh) Thân trung ấm là thân không có xác thịt mà lấy tư tưởng làm thân Sau khi người ấy chết, thần thức thoát ra khỏi xác thân trụ lại ở thế giới trung gian này từ một đến bảy tuần lễ, rồi sau đó tìm kiếm một nơi thích hợp với nghiệp lực của mình mà đi tái sinh Nếu trong thời gian này, thân trung ấm chưa tìm thấy một nơi tương ứng với mình để tái sinh thì nó lại chết đi sau mỗi bảy ngày, sau đó thần thức lại chuyển qua một thân trung ấm khác, chu kỳ sinh diệt này cứ lặp lại cho

Trang 30

đến khi thần thức đi tái sinh Nếu vong linh là người từng tạo phước, tu tập tâm linh, thì luôn có những cảm giác yên bình, thanh thản và dễ dàng để tìm đường tái sinh vào cõi lành Còn những người từng tạo ra nghiệp ác, có đời sống tiêu cực thì luôn đối mặt với những cảnh tượng đau khổ, kinh hoàng, sợ hãi, thất vọng, chán chường Họ lang thang một cách tuyệt vọng trong cõi trung ấm và muốn tìm một thân xác để tái sinh tương ứng với nghiệp lực của họ.” [45, 11-12]

“Sự chuyển tiếp sự sống từ đời này sang đời khác là nghiệp lực Nghiệp (karma) có một năng lực cá biệt và đóng một vai trò rất quan trọng trong việc cấu tạo tâm tính của con người Nghiệp được hình thành dưới sự tập hợp của tam độc tham, sân, si hay vô minh và ái dục Chính vô minh và ái dục là cội rễ của mọi ác nghiệp Do ác nghiệp này mà khiến con người trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi Để thoát khỏi vòng tuần hoàn khổ đau này con người phải nỗ lực tu tập đoạn diệt được cội rễ của vô minh Khi vô minh bị tận diệt thì ái dục cũng bị tận diệt, ái dục diệt thì sinh, lão, bệnh, tử sầu bi khổ ưu não cũng không còn, và lúc ấy con người mới thật sự thoát khỏi vòng vây của sinh tử luân hồi” [45, 13]

1.2.3 Quan niệm về cái chết trong Hồi Giáo

Nhân vật mang tính là đại biểu của Hồi giáo là Mohammed, sinh ra ở Meca, bản thân ông không phải là Chúa mà là con người trở thành sứ giả đại biểu cho Chúa, đức Chúa chân thực của Hồi giáo là đấng Allah Thượng đế tuyên cáo Thánh dụ của mình thông qua lời rao giảng của Mohammed Những Thánh dụ này của thượng đế được biên tập thành kinh Koran

Khi bàn về cái chết, có những đặc điểm quan trọng sẽ được trình bày dưới đây:

Trang 31

Thứ nhất, theo quan niệm về cái chết của Hồi giáo, chương 3 câu 145

của kinh Koran quy định: Kỳ hạn của mạng sống là do Allah quy định, nên chết là trở về với Allah, ai muốn phần thưởng ở trần gian, Allah sẽ ban cho

họ Theo cách nhìn này, thì việc sống chết hoàn toàn không thuộc về Túc thần luận Mặc dù trên hình thức, Hồi giáo cũng cho rằng, sống chết có mệnh, giống như Túc mệnh luận, nhưng sống chết có mệnh của Hồi giáo lại do Allah trên trời quy định

Thứ hai, mục đích cái chết nằm ở chỗ có kỳ hạn hoãn án Trong thời kỳ

này, Thượng đế sẽ tiến hành thử thách họ Vì vậy, trong thời gian con người sinh sống chính là thời kỳ thử thách của Thượng đế đối với cuộc đời họ Vì vậy, theo giáo nghĩa Hồi giáo, kinh Koran, chương 21, chương 29 đều đề cập: Mỗi một con người đều phải nếm trải cái chết, ta lấy điều thiện và điều ác để thử thách các con, các con cuối cùng cũng phải trở về gặp ta Theo nghĩa đó, đối với Hồi giáo mà nói thì cái chết tuyệt đối không phải là sự trừng phạt mà

là đi đến kết thúc một giai đoạn nào đó trong sự phán xét cuối cùng Nói cách khác, mạng sống chỉ là một giai đoạn tiếp nhận sự thử thách của Allah, là một thời kỳ hòa hoãn và cuối cùng phải trở về bên Allah

Thứ ba, đối với cách nhìn nhận về cái chết, Hồi giáo cho rằng, linh hồn

của con người đến từ tinh thần của Thượng đế, tinh thần này cuối cùng lại quay về với Thượng đế Sau khi quay về với Thượng đế, sinh lại một mạng sống mới tức sẽ ở một trình độ khác Chết giống như một cách của, một cổng vào, nếu bước vào cánh cổng thì không thể quay trở ra mà phải bước tiếp vào một giai đoạn khác Do đó, đứng ở khoảng giữa của cái chết và giai đoạn đến bên Allah thì hoàn toàn không có bất kỳ một cơ hội quay trở lại nào, tức là không có chuyện “sống lại” như quan niệm của Kitô giáo

Thứ tư, con người do xác thịt (basher) và linh hồn (rash) kết hợp thành

Trong hình thể xác thịt của con người, được thổi vào một linh hồn Thượng đế,

Trang 32

mà thể xác và linh hồn lại kết hợp lại từ mạng sống tinh thần để hoàn thành Cho nên, toàn thể mạng sống con người do ba yếu tố thân xác, linh hồn và mạng sống tinh thần kết hợp lại mà thành

Kinh Koran, chương 60 có nói: Sau khi con người chết, linh hồn sẽ lìa thân xác Chương 56 cũng nói, nếu binh sỹ Hồi giáo đem quân địch trói lại để giết, theo truyền thống Hồi giáo, trước lúc trói hãy thả lỏng một tay để cho linh hồn của hắn thoát ra; cho dù là còn sống thì linh hồn sẽ lìa khỏi thân thể trong lúc ngủ Như vậy mạng sống là hoàn toàn do Allah quyết định

Thứ năm, Hồi giáo tin rằng, trong ngày phán xét cuối cùng, mỗi người sẽ

dựa vào sự đánh giá chân thức của tự thân mà được đền đáp Đây là chủ đề được nhấn mạnh nhiều nhất trong kinh Koran Vào ngày thẩm phán cuối cùng của Thượng đế thì người làm lành sẽ được trọng thưởng, người làm ác sẽ bị trừng phạt, hoàn toàn không dung thứ một ai, tuyệt đối công bằng

Thứ sáu, tín đồ Hồi giáo tin rằng, để một hành vi đi đến hoàn thiện thì

động cơ và ý đồ của hành vi ấy rất quan trọng Nếu một người thành tâm tin vào Allah, động cơ rất tốt nhưng hiệu quả mà hành vi đưa lại thì tương phản, hoặc giả, người ấy làm chuyện sai trái nhưng chỉ cần họ tin vào Allah thì người ấy sẽ được xá miễn tội lỗi

Trong kinh Koran cho rằng, khi bạn trở về điểm đầu tiên bị ném lên ấy – tức chỗ của Thượng đế, thì chính bản thân bạn phải đối đãi với Thượng đế và

có trách nhiệm với chính mình Cách nhìn về nhân sinh như thế này đã thể hiện một cách rõ ràng về tính chất đặc sắc của Nhân sinh quan Hồi giáo: Chỉ cần là động cơ thiện thì bạn có thể đối diện với cái chết mà khong một chút nào sợ hãi

Trang 33

Kết luận chương 1

Như vậy, có thể thấy đề tài sống, chết là một trong những đề tài trung tâm trong lịch sử tư tưởng nhân loại Dù được bàn đến một cách trực tiếp hay gián tiếp trong các tác phẩm hay trong tư tưởng của các nhà triết học, thì nó cũng cho thấy tầm quan trọng và sức thu hút của đề tài này Triết học phương Tây từ cổ đại, cận đại đến hiện đại với những gương mặt tiêu biểu như Socrates, Aristote, Plato, … đều đã bàn đến vấn đề sống chết, đặt nó trong tương quan với những suy tư về bản chất người, cuộc sống đích thực của con người Triết học phương Đông đặc biệt là triết học Trung Quốc cũng đặc biệt quan tâm đến đề tài này, gắn liền với những triết lý về mối quan hệ Trời – Người Bên cạnh đó, các tôn giáo lớn như Phật giáo, Kitô, Hồi giáo… cũng góp những tiếng nói riêng hết sức sâu sắc và phong phú về đề tài này Nếu như Phật giáo coi cái chết như một quy luật tự nhiên trong dòng chảy vô thường, vô ngã, vô tạo giả của vạn vật con người thì Kitô lại cho rằng cái chết chính là điểm kết thúc và cũng là điểm khởi đầu cho một thế giới tốt đẹp hơn của con người Với Hồi giáo, cái chết không phải là sự trừng phạt mà là kết thúc giai đoạn thử thách của Allah và cuối cùng phải trở về bên Allah Mặc dù

có những kiến giải khác nhau về việc thừa nhận hay không thừa nhận về một cuộc sống sau khi chết nhưng những tư tưởng triết học cùng các triết lý tôn giáo đều gặp nhau ở một điểm: đều khuyên con người sống thiện, phải nỗ lực với cuộc sống của chính mình và trân trọng cuộc sống hiện tại Đó là những

tư tưởng phù hợp với giá trị văn hóa, đạo đức của người Việt, chính vì vậy trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa chúng ta đã kế thừa những giá trị tốt đẹp đó để làm nên nét độc đáo, đa dạng phong phú cho nền văn hóa Việt Nam

Trang 34

CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT THẾ ỨNG XỬ CHO NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY VỚI VẤN ĐỀ CÁI CHẾT THEO ĐỊNH HƯỚNG GIÁ TRỊ

VĂN HÓA 2.1 Thái độ và nghi lễ tang ma của người Việt hiện nay trong cách ứng xử với cái chết

2.1.1 Thái độ của người Việt trong ứng xử với cái chết

Nhân loại nói chung, người Việt Nam nói riêng đứng trước vấn đề sống chết của mình đều có những thái độ ứng xử nhất định Đó có thể là thái độ tích cực với cái chết, xem nó như một điều tất yếu sẽ xảy ra và họ lạc quan đón nhận lựa chọn cho mình “cái chết đẹp” Bên cạnh đó có những thái độ tiêu cực với cái chết xem nó như là lối thoát duy nhất để giải thoát khỏi bế tắc,… Việt Nam là đất nước đa tôn giáo, tín ngưỡng, do đó, mỗi nhóm người theo hoặc không theo các tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau sẽ có thái độ ứng xử khác nhau trước cái chết Có thể khái quát về thái độ ứng xử điển hình của người Việt trước cái chết như sau:

Thứ nhất, thái độ sẵn sàng đón nhận cái chết như một điều tất yếu sẽ xảy

ra trong cuộc đời như quy luật “sinh, lão, bệnh, tử”

Theo Kinh Thánh, con người do Chúa tạo ra từ đất theo hình ảnh của

Chúa và Chúa đã thổi linh hồn vào đó để hoàn thành con người Con người được tạo ra từ đất, nên khi chết, thể xác con người trở về với cát bụi chỉ có linh hồn do Chúa ban là “không hư, không nát” Mọi tín đồ Công giáo sẵn sàng đón nhận cái chết, sẵn sàng nhận lệnh khi “Chúa gọi” Tín đồ Công giáo

ví sự ra đi như chuẩn bị đèn dầu sẵn sàng thắp sáng Và Chúa sẽ đến bất thình lình (không có sự báo trước) như “kẻ ăn trộm” để đón đi Với người Công giáo, chết nơi trần thế lại là sự bắt đầu của một đời sống mới Chết không phải

là hết, mà là ra đi, là về với Chúa hay về nhà Cha [11, 222] Người Công giáo

Trang 35

quan niệm linh hồn sau khi chết được Chúa phán xử khác nhau tuỳ theo từng người sống theo lời răn của Chúa như thế nào: kẻ dữ khi chết linh hồn bị đày xuống Hoả ngục với những hình phạt nặng nề, người lành được Chúa cho lên Thiên Đàng hưởng phúc đời đời Các linh hồn là giống thiêng liêng chẳng hề chết được; và đến ngày tận thế, xác loài người sẽ sống lại mà chịu phán xét,

kẻ lành lên thiên đàng hưởng phúc lộc đời đời; kẻ dữ sa hoả ngục chịu phạt vô cùng Đối với người phạm các tội nhẹ, tất nhiên không được lên Thiên Đàng, nhưng cũng không phải xuống Hoả ngục mà chỉ ở nơi Luyện ngục và ở đây nếu linh hồn họ được thân nhân cầu nguyện họ có thể được lên Thiên Đàng Đây là một trong các lí do tạo ra các nghi lễ tôn giáo đối với người chết

Phật giáo cho rằng khi hơi thở chấm dứt là con người sẽ chết, nó là một trong 4 khâu của định luật "thành, trụ, hoại, diệt" Đó là định luật phổ quát tuyệt đối cho tất cả mọi sự vật vô thường (hay thay đổi) trong thế giới hiện tượng Theo quan niệm của nhà Phật, chết chưa phải là chấm dứt, và sanh cũng không phải là bắt đầu Thực ra, chết chính là sự bắt đầu (một kiếp sống mới), và sanh là sự chấm dứt (kiếp sống cũ) Cái chết chỉ là một phần trong tiến trình sinh tử, tử sinh Các thiền sư Việt Nam thời Lý đã có những bài thơ, bài kệ và những lời phát biểu nói rõ quan điểm của mình về sự sống chết Ni

sư Diệu Nhân Lý Ngọc Kiều có viết: Sinh, lão, bệnh, tử / Tự cổ thường nhiên Nghĩa là: Sinh, lão, bệnh, tử / Lẽ thường xưa nay thế Vì thế, sống và chết là những sự kiện tất nhiên không tránh khỏi của một đời người Con người đã sinh ra rồi thì đến lúc phải chết Quan niệm về sự sống chết như vậy

đã góp phần khắc phục những hành vi và thái độ thấp hèn như “tham sống, sợ chết” đã nảy sinh trong đời sống, nhất là trong các cuộc chiến tranh giữ nước

Nó đã làm dịu đi những nỗi đau buồn quá mức của mỗi người trước cái chết của người thân

Trang 36

Những người Việt theo phong tục truyền thống, cho rằng trong con người có phần xác và phần hồn, sau khi chết, linh hồn sẽ về nơi “thế giới bên kia” cùng với thói quen sống bằng tương lai (sản phẩm của lối tư duy theo triết lý âm dương) cho nên người Việt Nam rất bình tĩnh yên tâm chờ đón cái chết Họ chuẩn bị khá chu đáo, kỹ càng cho cái chết của chính mình hoặc của người thân, đưa tiễn người thân vào cuộc hành trình xa xôi đó “Chết già vì vậy được xem là một sự mừng: trẻ làm ma già làm hội Nhiều nơi có người già chết còn đốt pháo; chắt chút để tang cụ kị thì đội khăn màu đỏ, khăn vàng (theo ngũ hành màu đỏ và vàng là màu của phương Nam, màu tốt)” [48, 295] Các cụ già tự mình lo sắm cỗ hậu, người khá giả thì làm cỗ hậu bằng gỗ vàng tâm (gỗ này không mục) để xương cốt khỏi bị hư hại Quan tài của người Việt làm hình vuông tượng trưng cho cõi âm theo triết lý âm dương Người cẩn thận còn cho làm thêm chiếc quách bọc ngoài Cỗ thọ làm xong, kê ngay dưới bàn thờ như một việc hết sức bình thường Có cỗ thọ rồi, các cụ lo đến việc nhờ thầy địa lý đi tìm đất rồi xây sinh phần Các vua chúa bao giờ cũng lo tất cả những việc này rất chu tất thường là ngay từ khi mới lên ngôi; các lăng mộ vua còn được giữ ở Huế, đồng thời cũng là những nơi thẳng cảnh

là vì thế

Thứ hai, đó là thái độ sẵn sàng hy sinh mạng sống vì lý tưởng cao đẹp

Không ai chọn cho mình cách chết, cũng không ai muốn mình phải chết

và không có cái chết nào có ý nghĩa bằng được sống Nhưng khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả của tổ tiên, ông cha bị uy hiếp; sự sống của cha mẹ, anh em, vợ con, họ hàng bị đe doạ, của cải, ruộng nương làng mạc bị xâm chiếm thì lựa chọn cái chết để đất nước được trường tồn là một lựa chọn vinh quang và cao cả Mỗi một thân xác nằm xuống, mỗi một phần thi thể mất đi là một ánh hào quang soi sáng hơn con đường xây dựng và bảo

Trang 37

vệ Tổ quốc, đó là những dòng chữ bằng vàng khắc sâu vào lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc

Để nói tới thái độ của những tấm gương anh dũng đó, trước hết chúng ta

có thể kể đến thái độ của những trung thần tiết nghĩa vì nước quên thân trong lịch sử

Vấn đề cái chết nhìn từ thế ứng xử với thân xác từ thế kỷ XIII trở đi mang đậm nét ảnh hưởng của Nho giáo Đó là sự đề cao nhân cách của hình tượng nhà nho lý tưởng: trung thần tiết nghĩa Có thể nói, trong hoàn cảnh đất

nước lâm vào hiểm nguy thì tinh thần quyết tâm giết giặc, không sợ chết của

quân dân Đại Việt đã tạo nên sức mạnh ý chí to lớn đem tới chiến thắng lẫy lừng Những nhà nho được coi là mẫu hình trung nghĩa là những bậc danh nho không những không sợ hãi trước những nỗi đau thể xác mà còn sẵn sàng

hy sinh thân mình để bảo toàn nghĩa lớn, bảo toàn đạo lý của kẻ bề tôi trước hoàn cảnh nguy khốn Trước cảnh đất nước nguy nan, quân vương bị sỉ nhục, bản thân kẻ làm bề tôi tự cảm thấy đau đớn, Trần Quốc Tuấn khảng khái tuyên bố: Ta đây, ngày thì quên ăn, đêm thì quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa được xả thịt lột da của quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa, thì cũng đành lòng Không sợ chết, không sợ cảnh “da ngựa bọc thây” của chính bản thân mình, cũng tất yếu dẫn tới sự không coi trọng sinh mạng, thân xác của kẻ khác, nhất

là khi đó lại là kẻ thù Điều này lý giải cho chúng ta hiểu sự thật về “xả thịt lột

da, ăn gan uống máu quân thù” không chỉ là một cách nói hùng biện, mà còn

có thật trong lịch sử các cuộc chiến thời cổ trung đại

Hình ảnh của những tấm gương tuẫn tiết có thật trong lịch sử Việt Nam

để lại trong sử sách, văn học là sự nối tiếp quan niệm về cái chết được nhìn qua lăng kính đạo đức Nho giáo Có thể thấy trước cái chết, sự hy sinh của nhục thể, đối với nhà nho mà nói, không có gì đáng sợ hãi, mà trái lại, nó thể

Trang 38

hiện cho tiết tháo to lớn của kẻ sĩ: trung với vua – chết vì nước là vinh Trong

các sách sử, đáng kể với quy mô lớn như Đại Việt sử kí toàn thư đều chép lại

rất nhiều chuyện những nhà nho đã bỏ thân mệnh, tuẫn tiết để bảo toàn nghĩa lớn, là minh chứng cho niềm tin và sự khích lệ tinh thần “sát thân thành nhân”, “xả thân thủ nghĩa” của người Việt Giữ vững tín niệm bỏ sống để giữ nghĩa, còn hơn là sống Cầu sống mà chịu nhục, người quân tử không làm, đó

là tâm thế khi đối mặt với cái chết của những nhà nho luôn mang dáng vẻ hiên ngang khí khái, không hề run sợ Trần Bình Trọng kiêu hãnh “thà làm quỷ phương Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”; An phủ sứ Lê Giác bị giặc Chiêm bắt còn lớn tiếng mắng chửi vẫn được truyền tụng như những tấm gương sáng chói

Như vậy, cái chết được người Việt trong lịch sử sử dụng như một biểu tượng của lòng trung thành, cho nhân cách kẻ sĩ theo quan điểm nho giáo Ứng xử trước cái chết (hay là sự lựa chọn giữa sống và chết) của các nhà nho minh chứng rõ ràng cho sự ăn sâu bám rễ của mẫu hình thánh nhân của Nho giáo Thân xác của mỗi người là duy nhất, thuộc về cái riêng tư, cá nhân nhất, nhưng ở đây lại được lựa chọn “dâng” cho nhà vua, hy sinh cho đạo quân thần Họ dùng cái chết để chứng tỏ nhân cách chân chính của một nhà nho như học thuyết Nho giáo đã xác lập và củng cố bằng truyền thống mang đậm dấu ấn tên tuổi các nhà nho tử tiết trong lịch sử

Trong lịch sử đấu tranh giữ nước của dân tộc ta, tuổi trẻ Việt Nam luôn

có những đóng góp xứng đáng với vai trò và sứ mệnh lịch sử được Đảng, Bác

Hồ và cả dân tộc giao phó Dù trong hoàn cảnh khó khăn, gian khổ dù phải hy sinh cả tính mạng khi còn ở tuổi thanh xuân thì thế hệ trẻ với những cái tên đã

đi vào lịch sử như Lý Tự Trọng, Võ Thị Sáu, Trần Văn Ơn, Nguyễn Văn Trỗi, vẫn luôn nêu cao tinh thần bất khuất, chí khí anh hùng, lẫm liệt để gìn

Trang 39

giữ lý tưởng sống mà họ đã chọn và truyền lại cho nhiều thế hệ thanh niên viết tiếp trang sử vàng chói lọi của dân tộc Việt Nam.

Không nghĩ đến tính mạng của bản thân để cứu người lúc nguy nan, câu chuyện của Nguyễn Văn Nam, Trần Văn Nguyên, Trần Hữu Hiệp đã khiến nhiều người cảm phục Đó là những tấm gương khiến hàng nghìn người khi nhắc đến vẫn còn thổn thức Những cậu học sinh này đã bỏ lại tuổi trẻ, và những ước mơ còn dang dở để nhường lại sự sống cho nhiều người Họ là minh chứng lớn cho việc lòng tốt vẫn còn rất nhiều trong cuộc sống này, những anh hùng tuổi trẻ cũng vẫn còn rất nhiều trong xã hội hiện tại Đây chính là những tấm gương sáng cho thanh thiếu niên cả nước học tập

Thứ ba, đó là thái độ coi cái chết như một phương tiện để giải thoát khỏi

sự đau đớn bệnh tật hoặc sự bế tắc trong cuộc sống

Đối với một số người, cái chết có thể là một phương tiện giải phóng mong muốn thoát khỏi những đau khổ kéo dài, đôi khi kéo theo nó là sự đau

ốm và già nua Vẫn biết rằng, cuộc sống là vốn quý nên chúng ta hãy yêu quý

nó Tuy nhiên, không phải lúc nào chúng ta cũng yêu thích cuộc sống được Khi quá đau đớn họ không yêu hay không còn yêu cuộc sống nữa Họ thực sự muốn chết Đó quả là vấn đề do nỗi đau hay nỗi thống khổ mang lại Cuộc sống dường như không thể chịu đựng nổi, đến mức người ta muốn rời bỏ nó Trong những khoảnh khắc đó, họ chỉ còn duy nhất một ý nghĩ, đó là muốn chết ngay lập tức, chừng nào cơ thể còn khiến họ đau đớn Họ không thể nói được, không thể nghĩ được, chỉ muốn kết thúc nó Những yêu cầu được chết không đau được hiểu như vậy

Theo tiếng Latinh, “euthanasia” có nghĩa là “cái chết hạnh phúc” Người

ta sử dụng từ này để chỉ việc bác sĩ giúp bệnh nhân mắc căn bệnh dù cố gắng thế nào cũng không thoát khỏi cái chết Tuy nhiên, đây là một vấn đề rất phức

Trang 40

tạp và khó khăn nhất mà bác sĩ phải đối diện Làm rút ngắn nỗi đau đớn không thể cứu chữa, cũng là rút ngắn cuộc sống, hẳn không phải là sứ mệnh của bác sĩ nhưng là nhiệm vụ khủng khiếp mà họ tất yếu gặp phải trong công việc

Cũng có một số bệnh nhân có thể quyết định kết liễu đời mình Nhưng khi mắc một căn bệnh không thể chữa khỏi, cần phải có sự can đảm rất lớn và

đủ sức mạnh để làm được điều đó Tự tử không dễ dàng Nếu tự tử không thành công thì các điều kiện cho việc sống sót còn tệ hại hơn sau đó Vì vậy,

kể cả đối với việc tự tử, đôi khi người ta cũng cần đến sự hỗ trợ hay giúp đỡ của bác sĩ Trong một thời gian dài, ở nước ta việc tự vẫn vẫn bị lên án về mặt tôn giáo, đạo đức và luật pháp

Ðối với không ít người, khi gặp hoàn cảnh đau khổ cùng cực hay bị bế tắc tuyệt vọng trong cuộc sống, họ thường tìm đến cái chết không phải vì họ thích chết nhưng vì họ coi nó như lối thoát duy nhất “Tổ chức Y tế thế giới ước tính tỷ lệ tự tử trên thế giới là khoảng 16/100.000 người mỗi năm, tăng 45% trong vòng 45 năm qua Nhiều quốc gia đã quan tâm nghiên cứu, tìm ra các cách phòng chống nạn tự tử Ở Việt Nam, tự tử được ước tính nằm trong 10 nguyên nhân hàng đầu dẫn đến cái chết của người Việt Nam (theo bộ

Y tế Việt Nam)” [Dẫn theo: 64] Có những người xem cái chết như một sự giải thoát khỏi những khủng hoảng trong cuộc sống như hiện tượng tự sát Đây chính là một vấn đề khá nhạy cảm đáng báo động ở Việt Nam nói riêng

và ở thế giới nói chung Hiện nay, các cá nhân trong xã hội không chỉ phải chịu ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế mà còn có cả khủng hoảng niềm tin Khi mà con người ta bị rơi vào trạng thái khủng hoảng niềm tin, con người ta

sẽ rất dễ rơi vào trạng thái mất cân bằng Chính vì thế, việc xử lý tiêu cực nó

là chuyện hoàn toàn có thể xảy ra mà tự tử là một trong những dấu hiệu cụ thể nhất Nếu cứ tiếp tục để cá nhân xử lý bi kịch cá nhân và bi kịch của khủng

Ngày đăng: 07/07/2015, 01:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2000), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
3. Phan Kế Bính (2011), Việt Nam phong tục, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2011
4. Phương Bối (2013), Để hiểu đạo Phật, nguồn Thư viện Phật học 73 Quán Sứ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để hiểu đạo Phật
Tác giả: Phương Bối
Năm: 2013
5. Lê Thị Cúc, (2010), Tìm hiểu phạm trù sống - chết, Tạp chí Nghiên cứu Văn hóa, số 4/ 2010, Đại học văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Văn hóa
Tác giả: Lê Thị Cúc
Năm: 2010
6. Nguyên Châu, Nguyễn Minh Tiến dịch (2011) Người Tây Tạng nghĩ về cái chết, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Tây Tạng nghĩ về cái chết
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
7. Doãn Chính (chủ biên) (2004), Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
8. Francoise Dastur (2013), Sao lại là cái chết, Đăng Ngọc dịch, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sao lại là cái chết
Tác giả: Francoise Dastur
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2013
9. K. Sri Dhammananda (2007), Chết có thật đáng sợ không, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chết có thật đáng sợ không
Tác giả: K. Sri Dhammananda
Nhà XB: Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh
Năm: 2007
10. Will Durant (2008), Câu chuyện triết học, dịch giả Trí Hải, Bửu Đích, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu chuyện triết học
Tác giả: Will Durant
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2008
11. Nguyễn Hồng Dương (2001), Nghi lễ và lối sống công giáo trong văn hóa Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghi lễ và lối sống công giáo trong văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Dương
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2001
12. Phạm Đức Dương, (2003), Thế giới tâm linh, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 3/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Phạm Đức Dương
Năm: 2003
13. Thích Như Điển, (2009), Sống và chết theo quan niệm Phật giáo Nxb Phương Đông, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống và chết theo quan niệm Phật giáo
Tác giả: Thích Như Điển
Nhà XB: Nxb Phương Đông
Năm: 2009
14. Lê Quý Đức, Hoàng Chí Bảo (2007), Văn hóa đạo đức ở nước ta hiện nay: vấn đề và giải pháp, Nxb Văn hóa - thông tin & Viện Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa đạo đức ở nước ta hiện nay: "vấn đề và giải pháp
Tác giả: Lê Quý Đức, Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Văn hóa - thông tin & Viện Văn hóa
Năm: 2007
16. Giáo lí Giáo hội Công giáo, (1996), Biên soạn cho giáo dân, sách lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo lí Giáo hội Công giáo
Tác giả: Giáo lí Giáo hội Công giáo
Năm: 1996
17. Phạm Minh Hạc, Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên) (2003), Về phát triển và xây dựng con người trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát triển và xây dựng con người trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Khoa Điềm (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
18. Lý Tường Hải (2005), Khổng Tử (bản dịch), Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khổng Tử
Tác giả: Lý Tường Hải
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2005
19. Mai Thanh Hải (2006), Từ điển tín ngưỡng, tôn giáo thế giới và Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tín ngưỡng, tôn giáo thế giới và Việt Nam
Tác giả: Mai Thanh Hải
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2006
20. Nguyễn Vũ Hảo, Đỗ Minh Hợp (2009) Giáo trình Triết học phương Tây hiện đại, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học phương Tây hiện đại
21. Nguyễn Duy Hinh, (2005), Phàm và Thiêng, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số3/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu Tôn giáo
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Năm: 2005
22. Nguyễn Duy Hinh (2008), Tâm linh Việt Nam, Nxb Từ điển Bách Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm linh Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Duy Hinh
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách Khoa
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w