1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm của Nho giáo Khổng - Mạnh về trí và vai trò của nó trong nhận thức các quan hệ xã hội

89 364 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 653,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu các phạm trù đạo đức của Nho giáo, đặc biệt là Nho giáo Khổng - Mạnh không thể không chú ý đến phạm trù “Trí” như là một trong những phạm trù đạo đức cơ bản bởi nó vừa là

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-**** -BÙI THỊ MƠ

QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO KHỔNG – MẠNH

VỀ “TRÍ” VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG NHẬN THỨC CÁC QUAN HỆ XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Triết học

Hà Nội-2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-**** -

BÙI THỊ MƠ

QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO KHỔNG – MẠNH

VỀ “TRÍ” VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG NHẬN THỨC CÁC QUAN HỆ XÃ HỘI

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học

Mã số:60.22.03.01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Nguyên Việt

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp

đỡ về nhiều mặt của các thầy cô giáo, bạn bè và người thân

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy giáo – PGS.TS Trần Nguyên Việt – người hướng dẫn khoa học – đã tận tình hướng dẫn tôi phương pháp nghiên cứu trong quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Triết học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội; Các lãnh đạo, quản lý cùng các thầy, cô giáo trường Cao đẳng Nông nghiệp

và phát triển nông thôn Bắc Bộ và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, cũng như trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và là nguồn động viên tinh thần cho tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Bùi Thị Mơ

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc và xuất xứ rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của luận văn chưa được công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào

Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2014

NGƯỜI CAM ĐOAN

Bùi Thị Mơ

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 10

CHƯƠNG 1: SỰ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO KHỔNG – MANH VỀ “TRÍ” 10

1.1 Những tiền đề cơ bản cho sự ra đời quan niệm của Nho giáo Khổng –

Mạnh về “Trí” 10

1.2 Quan niệm của Nho giáo Khổng – Mạnh về nguồn gốc của “Trí” 18 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA “TRÍ” TỪ PHƯƠNG DIỆN NHẬN THỨC CÁC QUAN HỆ XÃ HỘI 35

2.1 Trí là tri trong sự hiểu biết về con người (trí giả tri nhân) 35 2.2 Trí là một trong ba phẩm chất của người quân tử: Nhân, Trí, Dũng 42 2.3 Trí trong mối quan hệ mật thiết với một số phạm trù đạo đức khác trong

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Như chúng ta đều biết, Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội với nội dung tư tưởng căn bản về thiết lập và duy trì trật tự xã hội Để thực hiện mục đích này, các nhà sáng lập Nho giáo đã chủ trương dùng đạo đức để cảm hóa con người, đồng thời tiến hành việc giáo dục, đào tạo mẫu người lý tưởng theo nội dung tư tưởng nói trên Vì vậy, Nho giáo, đặc biệt là Nho giáo Khổng - Mạnh tập trung vào việc lý giải những nguyên nhân dẫn đến tình trạng xã hội loạn lạc, trên cơ sở đó đưa ra cách thức thiết lập, duy trì trật tự xã hội, đưa xã hội từ trạng thái loạn về trị, từ “vô đạo” trở về “hữu đạo” và đích cuối cùng là “trở về” với mô hình xã hội lý tưởng được xem là “từng có” vào thời của những ông vua huyền thoại như vua Nghiêu, vua Thuấn

Trong lịch sử tư tưởng dân tộc, Nho giáo cùng với các học thuyết khác trong hệ thống tam giáo là Phật giáo và Đạo (cả Đạo gia và Đạo giáo) đã có những đóng góp không nhỏ vào việc hình thành các giá trị truyền thống dân tộc Có thể nói, Nho giáo có vai trò nổi trội hơn cả đối với việc hình thành nên giá trị đạo đức của dân tộc, bởi lẽ lịch sử của dân tộc ta luôn gắn liền với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước khỏi các thế lực xâm lược, ở đó đạo

“trung” và “hiếu” luôn đồng hành và gắn bó chặt chẽ với nhau để thực hiện các nhiệm vụ chính trị Đó là một thực tế lịch sử cho đến nay không thể phủ nhận Chính vì vậy, việc nghiên cứu nội dung tư tưởng của Nho giáo nói chung, nghiên cứu các phạm trù đạo đức của Nho giáo nói riêng, từ đó làm rõ những giá trị tích cực cũng như những hạn chế của nó là hết sức cần thiết

Việc nghiên cứu các phạm trù đạo đức của Nho giáo, đặc biệt là Nho giáo Khổng - Mạnh không thể không chú ý đến phạm trù “Trí” như là một trong những phạm trù đạo đức cơ bản bởi nó vừa là mục đích, vừa là phương tiện để nhận thức các quan hệ giữa các cá nhân con người với nhau và với xã

Trang 7

hội Mặc dù Nho giáo ít bàn đến vấn đề nhận thức luận, song làm rõ tính đa nghĩa của “Trí” sẽ giúp chúng ta nắm bắt được mục đích cuối cùng của Nho giáo Khổng - Mạnh là con người phải có hiểu biết nhất định để điều chỉnh hành vi đạo đức của mình cho phù hợp với yêu cầu của xã hội, tức góp phần vào việc củng cố trật tự ổn định xã hội

Xuất phát từ việc xác định vai trò của phạm trù “Trí” của Nho giáo

Khổng - Mạnh, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Quan niệm của Nho giáo

Khổng - Mạnh về “Trí” và vai trò của nó trong nhận thức các quan hệ xã hội” cho luận văn thạc sĩ triết học của mình với hy vọng rằng, những kết quả

nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm sáng tỏ phạm trù “Trí” trong hệ thống các phạm trù đạo đức của học thuyết này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nho giáo là học thuyết triết học và chính trị - xã hội ra đời ở Trung Quốc thời cổ đại Nho giáo gắn bó với tên tuổi của người sáng lập là Khổng

Tử (551 – 478 tr.CN), sau đó được Mạnh Tử (372 – 289 tr.CN) và các thế hệ nhà Nho về sau kế thừa và làm phong phú thêm Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu về Nho giáo nói chung và phạm trù “Trí” nói riêng Do nội dung nghiên cứu của luận văn là phạm trù

“Trí” với tư cách là phạm trù đạo đức trong học thuyết của Nho giáo Khổng – Mạnh và vai trò của nó trong nhận thức các mối quan hệ người, cho nên ngoài việc khảo sát các tư liệu gốc của Nho giáo Khổng – Mạnh thông qua các bản dịch đã được công bố, chúng tôi cố gắng tìm hiểu các công trong và ngoài nước về phạm trù này từ trước đến nay

Trong quá trình tìm hiểu tình hình nghiên cứu đề tài, chúng tôi tạm phân các hướng nghiên cứu chung về Nho giáo Khổng – Mạnh và những công trình nghiên cứu về phạm trù "Trí" trong học thuyết này như sau:

Hướng thứ nhất là các công trình nghiên cứu về Nho giáo và Nho giáo

Khổng – Mạnh Công trình đầu tiên cần nói đến cuốn “Khổng học đăng”,

Trang 8

được Phan Bội Châu viết vào đầu thế kỷ XX về Nho giáo sơ kỳ với những vấn đề liên quan đến đạo đức Nho giáo Mục đích của nó là làm sống lại những mặt tích cực của Nho giáo nói chung, Nho giáo Khổng – Mạnh nói riêng

Tiếp đến là cuốn “Nho giáo” của Trần Trọng Kim Theo Trần Trọng

Kim, Nho giáo rất đắc dụng trong công việc chính trị, nó là phương cách tốt nhất để thiết lập tôn ti, trật tự xã hội Như ông cho rằng: “Học thuyết của Nho giáo thì phân ra tôn ti trật tự rất nghiêm Ai giữ được cái địa vị tôn quý ở trên thì có quyền được bắt người tì hạ ở dưới phải kính trọng mà phục tùng mình Song phải cần một điều là người trên phải có tài đức xứng đáng, ai cũng kính phục, thì cái trật tự ấy dẫu tôn nghiêm thế nào, người ta ai cũng không giám

ca thán” [26, tr 16]

Công trình “Nho giáo xưa và nay” do Vũ Khiêu chủ biên tập hợp các

bài nghiên cứu về Nho giáo của nhiều tác giả đã đánh giá Nho giáo theo các khía cạnh, mức độ ảnh hưởng khác nhau: từ kinh tế, chính trị, đạo đức cho đến việc giáo dục các gía trị truyền thống dân tộc, v.v

Cuốn “Nho giáo Trung Quốc” của Nguyễn Tôn Nhan do nhà xuất bản

Văn hóa Thông tin ấn hành năm 2005 với dung lượng 1600 trang đã trình bày một loạt các chuyên đề mang tính học thuật của Nho giáo trong suốt tiến trình lịch sử của nó Tuy nhiên, phần dành cho nghiên cứu Nho giáo Khổng - Mạnh khá khiêm tốn, chỉ dưới 50 trang Liên quan đến đề tài chỉ có 7 trang, bàn về

"giáo hóa với nhân tính", ở đó “Trí” không được bàn tới một cách trực tiếp Đây cũng là tình hình chung của các công trình khoa học về Nho giáo, nghĩa

là vấn đề về “Trí” không được nghiên cứu một cách chuyên biệt, mà chỉ xem

nó như một trong các phạm trù mang tính chuẩn mực đạo đức

Hướng thứ hai, đó là những công trình ít nhiều đề cập đến “Trí” mang

tính lý luận nhận thức của Nho giáo Cụ thể như Nguyễn Tài Thư trong “Vấn

đề con người trong Nho học sơ kỳ” đã đi sâu phân tích các vấn đề tính người,

Trang 9

con người trong các quan hệ với tự nhiên và xã hội, các nhân cách lý tưởng trong Nho học sơ kỳ Trong đó, ông đã tập trung làm rõ các nhân cách lý tưởng như “sĩ”, “quân tử”, “thánh”, “hiền”, đặc biệt là người quân tử, hình tượng con người tiêu biểu nhất trong quan niệm của đạo Nho Tác giả cho rằng: “Người quân tử phải trau rồi các phẩm chất đạo đức mà Nho gia đã xây dựng nên, họ phải có nhân, nghĩa, lễ, trí, tín… phải thực hiện trung, hiếu…” [45, tr 135], người quân tử phải tu luyện thường xuyên để đạt được các phẩm chất đạo đức cao quý như “nhân”, “trí”, “dũng” [xem 45, tr 138]

Công trình “Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc” do Doãn Chính

chủ biên đã phân tích một cách khá sâu sắc toàn bộ hệ thống tư tưởng của các trường phái triết học nói chung, các nhà tư tưởng nói riêng Đặc biệt, khi phân tích tư tưởng của hai đại biểu lớn của Nho gia là Khổng Tử và Mạnh Tử, tác giả cũng đã đề cập đến phạm trù “Trí” Tác giả khẳng định: “Trí được hiểu là

sự minh mẫn nói chung để phân biệt, đánh giá con người và tình huống, qua

đó tự xác định cho mình cách ứng xử cho phải đạo” [10, tr 67]

Nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu trong cuốn “Các bài giảng về tư

tưởng phương Đông” (sách do học trò ghi chép, biên tập lại sau khi ông mất)

cũng đề cập đến phạm trù “Trí” với tư cách là một trong ba đạt đức của người quân tử, cùng với “Nhân” và “Dũng”: Nhân là “không lo”, trí là “không lầm”, dũng là “không sợ” [xem 19, tr 63]

Các công trình “Lịch sử triết học phương Đông” gồm 6 tập, trong đó

có các tập 1 và 2 của Nguyễn Đăng Thục; “Bàn về đạo Nho” của Nguyễn Khắc Viện; “Đại cương triết học Trung Quốc”, tập 1, 2 do Giản Chi và

Nguyễn Hiến Lê biên soạn v.v, cũng đề cập đến các vấn đề đạo đức của Nho giáo và ít nhiều có đề cập đến phạm trù “Trí”

Trong thời gian gần đây đã xuất hiện một tác phẩm nghiên cứu chuyên

sâu về lịch sử triết học Trung Quốc là “Từ điển triết học Trung Quốc” của

PGS.TS Doãn Chính, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm

Trang 10

2009 Tác phẩm này trình bày, phân tích một cách sâu sắc những vấn đề như: Nội dung các học thuyết triết học của Khổng Tử, lịch sử hình thành, phát triển

và biến đổi của phạm trù “Trí” trong tiến trình lịch sử, nguyên nhân sự ra đời của “Trí” cũng như ý nghĩa của “Trí”, v.v Tuy nhiên, do đặc trưng của thể loại từ điển và do khối lượng lớn các mục từ của nó, cho nên tác giả đành hạn chế phần phân tích nội dung của “Trí”

Một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về tác giả và tác phẩm trong

lịch sử Nho giáo như Nguyễn Hiến Lê với các cuốn “Khổng Tử”; “Mạnh

Tử”, Phạm Văn Khóa với cuốn “Khổng Phu tử và Luận ngữ” hay cuốn

“Mạnh Tử linh hồn của nhà Nho” do Phùng Qúy Sơn dịch v.v Đây là những

cuốn sách rất có giá trị đối với việc nghiên cứu thân thế, sự nghiệp của các nhà sáng lập Nho giáo cũng như những nội dung, tư tưởng cơ bản của họ Ngoài ra, một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ triết học đã được bảo vệ

gần đây như : “Quan niệm của Khổng Tử về con người và giáo dục đào tạo

con người” của Nguyễn Thị Tuyết Mai; “Tìm hiểu mẫu người quân tử qua 2 tác phẩm “Luận ngữ” và “Mạnh Tử” của Nguyễn Xuân Lộc; “Quân tử - mẫu người toàn thiện trong tác phẩm Luận ngữ” của Nguyễn Thị Kim Chung; “Tư tưởng của Khổng Tử về Nhân qua mối quan hệ giữa ái nhân và tri nhân” của

Nguyễn Thị Lan, v.v Mặc dù bị hạn chế bởi phạm vi nghiên cứu cụ thể của từng đề tài, song các tác giả ở những mức độ nhất định cũng đã đề cập đến phạm trù “Trí” trong quan hệ mật thiết của nó với các phạm trù đạo đức khác

Ngoài những công trình nghiên cứu đã được xuất bản trong nước, các công trình của nước ngoài cũng được dịch thuật và phổ biến ở nước ta Điều đáng chú ý là trong số các công trình dịch thuật, có khá nhiều công trình dịch thuật các tư liệu gốc của các dịch giả như Đoàn Trung Còn, Ngô Tất Tố, Phan Bội Châu, v.v Gần đây, Viện nghiên cứu Hán Nôm đã xuất bản các bộ sách

dịch “Tứ Thư” và “ Ngũ Kinh” Tuy nhiên, hai bộ sách này chủ yếu phục vụ

Trang 11

cho công tác dạy và học chữ Hán, với việc diễn giải quá ngắn, vì vậy, nếu chỉ

sử dụng hai bộ sách này trong việc nghiên cứu tư tưởng triết học sẽ gặp phải những hạn chế nhất định, đặc biệt là đối với những người ít hiểu biết về Hán

ngữ như chúng tôi Chính vì vậy, chúng tôi tham khảo thêm tác phẩm “Tứ thư

tập chú” của Chu Hy, do Nguyễn Đức Lân dịch và chú giải và đã chọn tài

liệu này làm tài liệu chính phục vụ cho đề tài nghiên cứu của mình

Tóm lại, các công trình nghiên cứu nói trên, ở nhiều khía cạnh, mức độ khác nhau đều đề cập đến phạm trù “Trí” của Nho giáo nói chung, của Nho giáo Khổng – Mạnh nói riêng Tuy nhiên, các công trình ấy lại chưa nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về nội hàm rộng lớn của phạm trù “Trí” cũng như chưa làm rõ được vai trò to lớn của “Trí” trong nhận thức các quan

hệ xã hội

Từ thực tế đó, trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của những học giả đi trước, tác giả luận văn mong muốn đi sâu phân tích, làm rõ hơn nội dung của phạm trù “Trí” trong quan niệm của Nho giáo Khổng - Mạnh và vai trò của nó trong nhận thức các quan hệ xã hội

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích: Luận văn trình bày một cách hệ thống quan niệm của Nho

giáo Khổng - Mạnh về “Trí”, trên cơ sở đó làm rõ vai trò của “Trí” trong nhận thức các quan hệ xã hội

- Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, luận văn cần giải quyết những

Trang 12

+ Phân tích một số nội dung cơ bản của phạm trù “Trí” trong quan niệm của Nho giáo Khổng – Mạnh từ phương diện nhận thức các quan hệ xã hội

+ Chỉ ra một số giá trị và hạn chế trong quan niệm về “Trí” của Nho giáo Khổng – Mạnh từ góc độ nhận thức các quan hệ xã hội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Quan niệm của Nho giáo Khổng - Mạnh về

“Trí” và vai trò của nó trong nhận thức các quan hệ xã hội

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu quan niệm của

Khổng Tử và Mạnh Tử về phạm trù “Trí” và vai trò của “Trí” trong nhận thức

các quan hệ xã hội trong sách Luận ngữ và sách Mạnh Tử Đồng thời, luận

văn cũng tham khảo các công trình nghiên cứu liên quan đến phạm trù này cho luận văn của mình

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn được triển khai trên nền tảng quan điểm của

chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và xã hội

- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở

phương pháp luận chung của triết học Mác – Lênin, đồng thời kết hợp với một số phương pháp khác như phương pháp lôgíc và lịch sử, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp đối chiếu, so sánh, phương pháp thẩm định, v.v

6 Đóng góp mới của luận văn

Trong luận văn này thông qua việc phân tích, luận giải một cách chuyên sâu và có hệ thống phạm trù “Trí” với tư cách phạm trù đạo đức của Nho giáo Khổng – Mạnh, từ đó chỉ ra vai trò to lớn của “Trí” trong việc nhận thức các quan hệ xã hội

Trang 13

7 Ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào việc làm sáng tỏ quan niệm của Nho giáo Khổng - Mạnh về “Trí” và vai trò của nó trong nhận thức các quan hệ xã hội cũng như những giá trị và hạn chế trong quan niệm đó Vì vậy, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập môn lịch sử triết học phương Đông

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 02 chương, 07 tiết

Trang 14

NỘI DUNG Chương 1: SỰ HÌNH THÀNH QUAN NIỆM CỦA NHO GIÁO

Để hiểu được sự ra đời và một số nội dung cơ bản của phạm trù “Trí”

từ phương diện nhận thức các quan hệ xã hội, theo chúng tôi, cần phải tìm hiểu hoàn cảnh xã hội Trung Hoa thời Xuân Thu – Chiến Quốc (khoảng năm

770 – 221 tr.CN) cũng như những tiền đề cơ bản của nó Đây là thời kỳ lịch

sử sôi động với nhiều chuyển biến mạnh mẽ, sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trung Quốc thời cổ đại, làm xuất hiện các khuynh hướng

tư tưởng mà một trong số đó là Nho gia với tư cách một học thuyết chính trị -

xã hội dựa trên nền tảng đạo đức để cảm hóa con người, trong đó có đức

“Trí”

1.1.1 Cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội cho sự ra đời quan niệm về

“Trí” của Nho giáo Khổng - Mạnh

Trên lĩnh vực kinh tế: nền kinh tế với tư cách là cơ sở cho sự tồn tại của

xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ đang có sự chuyển biến mạnh mẽ từ thời đại

đồ đồng sang đồ sắt Đồ sắt được sử dụng phổ biến, sắt được dùng để làm ra các công cụ lao động như lưỡi cày, lưỡi cuốc, liềm, dao, rìu, búa, v.v Phát minh mới về kỹ thuật khai thác và sử dụng đồ sắt đã đem lại những tiến bộ mới trong việc cải tiến công cụ và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp Kỹ thuật

Trang 15

trồng trọt cũng được cải tiến, tạo điều kiện tăng năng suất trong lao động nông nghiệp, của cải làm ra ngày càng nhiều

Trong thời kỳ này, thủ công nghiệp và thương nghiệp cũng có những bước phát triển mới Do việc sử dụng công cụ bằng sắt trở thành phổ biến cùng với việc mở rộng quan hệ trao đổi sản phẩm lao động trong nền sản xuất thủ công nghiệp, sự phân công trong sản xuất thủ công nghiệp cũng đạt tới mức chuyên nghiệp cao hơn, thúc đẩy các ngành nghề thủ công nghiệp phát triển như nghề luyện sắt, nghề rèn, nghề đúc, nghề làm đồ gốm, v.v Thương nghiệp cũng phát triển khá mạnh, trong xã hội đã xuất hiện một tầng lớp thương nhân giàu có và ngày càng có thế lực Tiền đồng ra đời vào cuối thời Xuân Thu, đến thời Chiến Quốc, nó được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực kinh tế Hình thức cho vay nặng lãi của các thương nhân lớn cũng đã xuất hiện Qúy tộc cũng noi theo thương nhân kinh doanh buôn bán và cho vay nặng lãi

Trên cơ sở sự phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ với chế độ “tỉnh điền” bóc lột nhân dân theo kiểu của thiên tử, quý tộc nhà Chu trước đây đã trở nên lạc hậu, không còn phù hợp nữa, đòi hỏi phải thay thế bằng phương thức bóc lột khác Nếu như trước đây tư liệu sản xuất (trong đó có ruộng đất) đều thuộc quyền sở hữu của nhà vua, thì đến giai đoạn này đã có sự thay đổi Bắt đầu từ thời Xuân Thu, chế độ ruộng đất của nhà nước dần dần tan rã, ruộng tư xuất hiện ngày càng nhiều Thời Tây Chu, thiên tử nhà Chu phong đất cho các chư hầu trên cơ sở họ hàng và những người có công Đến thời Xuân Thu, quan hệ họ hàng đã trở nên mờ nhạt, hơn nữa nhà Chu với tư cách là tôn chủ không còn đủ thế và lực để bắt những người được thừa kế đất phong phải thực hiện nghĩa vụ của họ Vì vậy, trên thực tế, các chư hầu đều coi lãnh địa được phong là thuộc quyền sở hữu của

họ Ngoài lãnh địa được phong, các nước lớn còn thôn tính các nước nhỏ và xâm chiếm đất đai của các nước khác, bộ phận đất đai này trở thành sở hữu

Trang 16

riêng Trong các nước chư hầu do sự suy yếu của nhà vua, do sự tranh giành đất đai của nhau, thái ấp của các khanh đại phu cũng biến dần thành ruộng đất

tư Bọn quý tộc có quyền thế cũng chiếm dần ruộng của công xã làm ruộng

tư Chế độ “tỉnh điền” dần tan rã, chế độ tư hữu về ruộng đất dần dần hình thành Sau đó, chế độ tư hữu ruộng đất còn được pháp luật nhà nước thừa nhận và bảo vệ Đến thời Chiến Quốc, chế độ ruộng tư ngày càng phát triển mạnh mẽ, chế độ “tỉnh điển” đang đi đến chỗ tan dã hoàn toàn Trong hoàn cảnh ấy, ruộng đất ngày càng tập chung vào tay các địa chủ lớn, nông dân nhiều người bị mất ruộng đất phải đi cày thuê, cấy mướn trở thành tá điền, cố nông Chế độ bóc lột bằng phát canh thu tô xuất hiện Do việc mua bán ruộng đất trở nên phổ biến càng thúc đẩy nhanh chóng quá trình tập trung ruộng đất vào tay một số ít lãnh chúa, địa chủ giàu có Sự phát triển của chế độ tư hữu

về ruộng đất là nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện phương thức sản xuất mới – phương thức sản xuất phong kiến

Về chính trị - xã hội: sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực kinh tế đã

ảnh hưởng, tác động to lớn đến lĩnh vực chính trị - xã hội Nó làm xuất hiện một cục diện mới trong xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc, đó

là tình trạng các nước chư hầu nổi lên lấn át địa vị và quyền lực của nhà Chu Nếu như, vào đầu thời Chu đất đai và thần dân ở khắp dưới gầm trời không đâu không phải là sở hữu của nhà vua thì nay, cái quyền sở hữu tối cao về đất

và dân ấy đã bị một tầng lớp mới lên có sức mạnh kinh tế tấn công và chiếm lấy làm tư hữu Tầng lớp quý tộc, thị tộc – cơ sở xã hội của nhà Chu, do bị mất đất, mất dân, địa vị kinh tế ngày càng sa sút, vì vậy mà địa vị và vai trò chính trị cùng ngôi thiên tử của nhà Chu ngày càng suy giảm và trên thực tế chỉ là hình thức Các nước chư hầu của nhà Chu không những không chịu phục tùng vương mệnh, không chịu cống nạp mà còn phát động chiến tranh

thôn tính lẫn nhau, luôn tự xưng và tự cho mình là bá chủ thiên hạ Trong Sử

Ký, Tư Mã Thiên đã miêu tả thời kỳ này là thời đại “vương đạo suy vi”, “bá

Trang 17

đạo” cường thịnh, lấn át “vương đạo” Các hình thức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai tầng của xã hội có sự biến đổi lớn Do có ruộng đất riêng một số khanh, đại phu, sĩ đã biến thành địa chủ mới Đến thời Chiến Quốc, không những quan lại nhà nước mà một số nhà giàu cũng mua được nhiều ruộng đất, trở thành những thương nhân kiêm địa chủ Từ tầng lớp này dần dần xuất hiện một loại quý tôc mới với thế lực ngày càng mạnh, tìm cách leo thang tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ như Huyền Cao ở nước Tấn, Tử Cống ở nước Lỗ, Lã Bất Vi ở nước Tần, v.v Sự tan rã của chế độ “tỉnh điền”

đã làm cho giai cấp nông dân bị phân hóa, một bộ phận nông dân vẫn giữ được một trăm mẫu ruộng như trước kia, cộng với ruộng đất khai khẩn thêm trở thành nông dân tự canh, một bộ phận khác hoàn toàn không có tấc đất cắm dùi buộc phải làm tá điền hoặc cày thuê cho địa chủ Hệ quả tất yếu là những mâu thuẫn vốn có và mới nảy sinh trong lòng xã hội ngày càng sâu sắc, trầm trọng hơn Đó là mâu thuẫn giữa giai cấp địa chủ, phong kiến mới nổi lên với giai cấp quý tộc đang nắm quyền lực chính trị nhưng địa vị và sức mạnh kinh

tế đã suy yếu; mâu thuẫn trong nội bộ giai cấp quý tộc; mâu thuẫn giữa nông dân, nông nô với giai cấp địa chủ mới và quý tộc Sang thời Chiến Quốc, mâu thuẫn trên ngày càng gay gắt hơn, đã đẩy xã hội tới nguy cơ suy thoái Thêm nữa, chiến tranh giữa các nước vẫn không ngừng xảy ra và ngày càng tàn bạo, khốc liệt hơn Mạnh Tử đã phải thốt lên rằng: “Chiến tranh để giành đất đã sát hại người ta, thây nằm chật đất; chiến tranh để đoạt thành đã sát hại người ta,

thây nằm ngập thành” (Tranh địa dĩ chiến, sát nhân doanh dã Tranh thành dĩ

chiến, sát nhân doanh thành – Mạnh Tử Ly Lâu ) [20, tr 1041 ] Tình hình ấy

đã làm cho xã hội hết sức rối loạn, sản xuất bị đình trệ, ruộng vườn bị bỏ hoang, đời sống nhân dân vô cùng khổ cực, gia đình ly tán Trong xã hội thường xuyên diễn ra hiện tượng “bề tôi giết vua, con giết cha, em giết anh”, thiên hạ trở nên “vô đạo”, trật tự, lễ nghĩa, cương thường của xã hội bị đảo lộn, các mối quan hệ giữa con người với con người trở nên biến dạng Cho

Trang 18

đến thời điểm này thì cảnh chia ly không chỉ dừng lại trong gia đình mà đến

cả đất nước vì “ngũ luân” không được coi trọng như trước nữa

Trong khi chế độ tông pháp đã tỏ ra quá lạc hậu với thời đại như vậy, thì những cơ sở cho sự định hình thể chế của xã hội mới lại mới chỉ manh nha Giữa cái cũ và cái mới, không cái nào đủ sức đại diện chân chính cho lịch sử Bị trói buộc trong trạng thái giao thời đó các chuẩn mực, giá trị xã hội hầu như không được định hình

Thực tiễn xã hội lúc bấy giờ đã đặt ra một vấn đề lớn là cách thức tổ chức và quản lý xã hội theo mô hình nhà Chu không còn thích hợp nữa Vậy, cần phải làm thế nào để thiết lập lại trật tự, kỷ cương của xã hội, đưa xã hội vào thế ổn định phát triển Việc nhận thức đúng đắn và giải đáp có hiệu quả vấn đề này là nội dung chủ yếu trong đời sống tư tưởng chính trị của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ Chính vì vậy, trong xã hội Trung Quốc đã xuất hiện nhiều trung tâm, nhiều tụ điểm của những kẻ sĩ Thành phần xuất thân của tầng lớp kẻ sĩ này là đa dạng, phức tạp nhưng nhìn chung họ đều đứng trên lập trường của giai cấp, tầng lớp mình mà phê phán trật tự xã hội cũ Tình hình trên đã tạo ra cục diện “Bách gia tề phóng” (Trăm hoa đua nở), “Bách gia tranh minh” (Trăm nhà đua tiếng), “Bách gia chư tử” (Trăm nhà trăm thầy), kết quả là làm xuất hiện nhiều nhà tư tưởng, nhiều học phái khác nhau trong thời Xuân Thu – Chiến Quốc Bách gia bao gồm những học phái tiêu biểu: Âm dương gia, Nho gia, Mặc gia, Danh gia, Pháp gia, Đạo gia, Tung hoành gia, Nông gia, Tạp gia, Tiểu thuyết gia, v.v Mỗi học phái bằng cách này hay cách khác đã đề ra phương pháp trị nước theo quan điểm của mình Mặc gia khẳng định trị nước phải bằng “kiêm ái” (cùng yêu thương nhau), còn Pháp gia cho rằng, muốn trị nước phải dựa vào luật pháp Nho gia lại chủ trương con đường trị nước bằng “Nhân”, “Lễ”, “Chính danh” Trong số các học thuyết ra đời ở thời Xuân Thu – Chiến Quốc thì Nho giáo là học thuyết chính trị - đạo đức có ảnh hưởng lâu dài nhất ở Trung Quốc

Trang 19

Người có công sáng lập ra Nho giáo là Khổng Tử (551 – 479 tr.CN) Ông tên là Khâu, tự là Trọng Ni, người nước Lỗ (nay thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc) Sống trong thời kỳ xã hội loạn lạc, được tận mắt chứng kiến cảnh chiến tranh cướp bóc, Khổng Tử luôn ôm ấp hoài bão chính trị là xây dựng đất nước thái bình thịnh trị theo mô hình xã hội lý tưởng thời vua Nghiêu, vua Thuấn Để thiết lập lại trật tự, kỷ cương của xã hội, làm lành mạnh hóa các mối quan hệ người, Khổng Tử cho rằng phải dùng “đức trị” (nhân trị, lễ trị, phải thực hiện chính danh, trên dưới phân minh, "vua cho ra vua, tôi cho ra tôi; cha cho ra cha, con cho ra con”) thì xã hội mới “hữu đạo”, thịnh trị Sau khi Khổng Tử mất, tư tưởng và đường lối “đức trị” của ông được nhiều nhà Nho về sau kế thừa và tiếp tục phát triển Tiêu biểu nhất là Mạnh Kha (372 - 289 tr.CN), tự là Dư, thường được gọi là Mạnh Tử Kế thừa đường lối “đức trị” của Khổng Tử, Mạnh Tử đã đề ra đường lối “Nhân chính”, lấy cơ sở đạo đức nhân nghĩa làm đầu

Như vậy, để giải quyết được các vấn đề xã hội, Nho giáo sơ kỳ nói chung, Nho giáo Khổng – Mạnh nói riêng đã dựa vào học thuyết đạo đức với các chuẩn mực đạo đức nghiêm ngặt của nó như nhân, lễ, nghĩa, trí chứ không phải bằng phương tiện kinh tế Đặc biệt theo quan niệm của Nho giáo Khổng – Mạnh, “Trí” là một phương tiện rất quan trọng để nhận thức các quan hệ giữa các cá nhân con người với nhau và với xã hội Có “Trí” con người mới điều chỉnh được hành vi đạo đức của mình cho phù hợp với yêu cầu của xã hội, tức góp phần vào việc củng cố trật tự xã hội, đưa xã hội vào thế ổn định, phát triển

Tóm lại, trong hoàn cảnh lịch sử xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc đầy biến động, phức tạp đã làm nảy sinh nhiều học thuyết của các học giả kiệt xuất nhằm mục đích giải quyết các vấn nạn của xã hội Cũng trong thời kỳ này học thuyết của Nho gia Khổng – Mạnh với nhiều nội dung, trong đó có quan niệm về phạm trù đạo đức “Trí” cũng được hình thành Khác

Trang 20

với các học phái khác, Nho giáo Khổng – Mạnh đặc biệt đề cao đạo đức, coi đạo đức là công cụ, phương tiện để điều chỉnh hành vi đạo đức của con người cho phù hợp với yêu cầu của xã hội, tức góp phần vào việc củng cố ổn định trật tự xã hội

1.1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự ra đời quan niệm về “Trí” của Nho giáo Khổng – Mạnh

Nói đến sự ra đời quan niệm về “Trí” của Nho giáo Khổng – Mạnh, không thể không làm rõ cơ sở lý luận mà các nhà sáng lập Nho giáo tiếp thu,

kế thừa từ đời sống văn hóa tư tưởng (tôn giáo, chính trị, đạo đức) của Trung Quốc lúc bấy giờ, đặc biệt dưới thời nhà Chu để xây dựng học thuyết của mình

Về tôn giáo: như triết học Mác – Lênin đã chỉ rõ, tôn giáo hay tư tưởng

tôn giáo với tính chất duy tâm thần bí của nó luôn được luôn được giai cấp thống trị lợi dụng và sử dụng như là những công cụ, phương tiện cần thiết để duy trì và bảo vệ sự tồn tại vĩnh viễn đối với sự thống trị và quyền lợi của giai cấp thống trị Chế độ nhà Chu cũng vậy, nhằm những mục đích chính trị ấy,

họ luôn đề cao tư tưởng “kính trời”, “hợp mệnh trời”, “thờ thượng đế” Theo

đó, nhà Chu cho rằng, “trời” (với các khái niệm có cùng một nghĩa là: thiên,

đế, thiên đế, hoàng thiên thượng đế…) là lực lượng có nhân cách, có ý trí và

có uy quyền tuyệt đối cho nên chính quyền, tài sản, sự thông minh, trí tuệ và

sự sống lâu của kẻ thống trị cùng cuộc sống làm tôi tớ cực khổ của nhân dân lao động đều do trời ban cho Chính vì vậy, có người cho rằng, vì nhà Ân không biết mệnh trời, hành động không hợp với mệnh trời, vì vậy Trời đã trừng phạt và để cho nhà Chu thay thế nhà Ân cai trị dân

Nho giáo nói chung và Nho giáo Khổng – Mạnh nói riêng đã tiếp nhận yếu tố duy tâm thần bí và phản động trong tư tưởng tôn giáo trên đây làm một trong những nội dung của tư tưởng trị nước, để ràng buộc con người, nhằm

Trang 21

tạo ra những con người không chỉ suy nghĩ, hành động theo ý trời, mệnh trời,

mà tuân thủ chúng một cách vô điều kiện

Về chính trị: những nhà tư tưởng của tầng lớp quý tộc nhà Chu cho

rằng, vì nhà Chu biết tuân thủ “mệnh trời”, cho nên được “nhận dân” từ tay nhà Ân để “hưởng dân” và “trị dân” suốt đời Nếu kẻ nào chống lại mệnh trời thì ắt bị nhà Chu thay Trời trừng phạt Vua nhà Chu là chủ sở hữu tối cao về đất đai và con người, từ đó dẫn đến sự thừa nhận nghiễm nhiên cho rằng, dưới gầm trời này, đất đai và thần dân đều là của vua Vua là Thiên tử được quyền thay trời thống trị thiên hạ, cai trị dân

Về đạo đức: tư tưởng đạo đức của nhà Chu lấy hai chữ “Đức” và

“Hiếu” làm nòng cốt Từ quan niệm chính trị - tôn giáo về “trời và người hợp nhất” (“thiên nhân hợp nhất”), nhà Chu khẳng định rằng, vì các bậc tiên vương nhà Chu có “Đức” mà được sánh cùng Thượng đế, được Thượng đế cho hưởng nước, hưởng dân, cho nên các vua đời sau phải biết kính cái đức

đó, phải biết bồi dưỡng nó để cho con cháu được hưởng nước, hưởng dân lâu dài “Hiếu” là thờ phụng tổ tiên, phải nhớ công ơn tổ tiên mà giữ gìn phép tắc

tổ tiên để lại Có cái đức “Hiếu” như vậy mới nhận được mệnh trời mà được hưởng nước, hưởng dân mãi mãi Đây là một quan niệm đạo đức nhằm củng

cố và tuyên truyền sự tồn tại vĩnh viễn địa vị thống trị của tầng lớp quý tộc nhà Chu và nhà nước quý tộc Chu

Dưới thời đại nhà Chu, địa vị và uy quyền của trời, mệnh trời đã được vận dụng vào việc chống lại nhà Ân vào việc luận giải để biện hộ cho sự tồn tại vĩnh viễn của nhà Chu Nhưng đến đầu thời Xuân Thu, sự suy yếu về mọi mặt của nhà Chu cho thấy sự linh thiêng và bất khả xâm phạm của thần quyền trên thực tế đã bị xâm phạm; nó báo hiệu sự áp đảo của quyền lực trần thế trước quyền lực thần thánh Đến cuối thời Xuân Thu với sự suy đồi của tầng lớp thống trị, trật tự, kỷ cương xã hội theo mô hình nhà Chu ngày càng thêm rối loạn, đời sống nhân dân ngày càng cùng cực đã làm lay chuyển gốc rễ địa

Trang 22

vị thống trị của thần quyền Bởi vậy, môt thực tiễn đặt ra cho các nhà tư tưởng, các học phái, các tầng lớp thống trị là phải tìm ra những công cụ, những phương thức cai trị mới

Sự xuất hiện của Nho giáo Khổng – Mạnh cũng nhằm giải đáp những nhu cầu mà thực tiễn của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ đặt ra Nhưng để cai trị được dân chúng, những con người thuộc tầng lớp thống trị phải là những người có “Trí” Người có “Trí” mới biết ứng xử đúng đắn theo đúng địa vị, trách nhiệm, bổn phận của mình

1.2 Quan niệm của Nho giáo Khổng - Mạnh về nguồn gốc của “Trí”

1.2.1 Khái niệm về “Trí” và đặc điểm của nó trong học thuyết của Nho giáo Khổng – Mạnh

Theo từ điển Bách khoa thư triết học Trung Quốc, "Trí" ( ) là lý trí,

trí tuệ [46, tr 452] Theo nghĩa hẹp thì "Trí" là phẩm cách của người quân tử, còn theo nghĩa rộng, là thuộc tính của con người, tức là cái phân biệt với thế giới động vật Các nhà sáng lập Nho giáo sơ kỳ sử dụng khái niệm "Trí" như một phạm trù triết học Chẳng hạn, Khổng Tử xếp "Trí" đứng vị trí thứ hai trong tam phẩm của người quân tử (Nhân, Trí, Dũng) Theo đó, người có

"Nhân" thì không lo, người có trí thì biết phân biệt phải trái, người có dũng thì không sợ hãi

Lý trí là sự hiểu biết trên cơ sở kiến thức hay theo lẽ phải Xét theo nội hàm thì lý trí thuộc suy nghĩ do đó hẹp hơn trí tuệ Bởi lẽ ngoài suy nghĩ, trí tuệ còn bao hàm cả năng lực phê phán, tưởng tượng và trí nhớ, tức là sự suy nghĩ, tư duy của con người, bao gồm những khả năng tưởng tượng, ghi nhớ, phê phán, lý luận, thu nhận kiến thức, v.v, có thể dẫn đến phát minh khoa học, sáng tạo văn nghệ

Chúng ta còn biết đến các cụm từ đi kèm với trí như: trí dục (một bộ

phận của giáo dục nhằm truyền thụ kiến thức và rèn luyện khả năng tư duy);

trí dũng (hành động dũng cảm có mưu trí); trí khôn (khả năng biết, hiểu, tìm

Trang 23

ra nghĩa của sự vật xung quanh; khả năng thích nghi với tình huống xảy ra

trong cuộc sống và tìm ra cách hành động phù hợp với hoàn cảnh; trí lực (sức suy nghĩ, tìm tòi của bộ não); trí nhớ (khả năng duy trì và gợi lại những tình cảm, ý nghĩ của một thời đã qua, những kiến thức đã được thu nhận); trí óc (năng lực suy nghĩ, tư duy); trí thức (chỉ người có học vấn cao dành công sức,

thời gian của mình cho hoạt động trí óc nhằm mục đích sáng tạo hoặc phát minh về khoa học, kỹ thuật) [47, tr 852]

Với tư cách một học thuyết chính trị - đạo đức, "Trí" theo Nho giáo Khổng – Mạnh chủ yếu dùng để chỉ nhận thức, cách ứng xử đạo đức của con người với người khác và với toàn thể xã hội Học thuyết này ít bàn đến các vấn đề của thế giới tự nhiên, do đó nếu có đề cập đến lĩnh vực này, chúng ta thường thấy khái niệm "Trời" vừa được dùng để chỉ giới tự nhiên, vừa chỉ giới siêu nhiên có sức mạnh siêu việt, ban tính, mệnh cho con người, đồng thời chi phối mọi hoạt động của còn người Vấn đề này được Đổng Trọng Thư (179 – 104 tr.CN) luận chứng cho mục đích chính trị của Nho giáo, đó là đường lối trị nước bằng đạo đức (hay còn gọi là đức trị) kết hợp với thần quyền Nói tóm lại, Nho giáo Khổng – Mạnh với mục đích chính trị thực dụng

đã xác nhận "Trí" là một phạm trù đạo đức dùng để chỉ năng lực phán đoán,

suy lý và ứng xử đạo đức của con người Đó cũng là đặc điểm nổi bật của

"Trí" trong hệ thống các phạm trù đạo đức của Nho giáo nói chung, Nho giáo Khổng – Mạnh nói riêng

Ngoài phạm trù "Trí", chúng ta còn gặp một khái niệm khác cũng được

sử dụng khá phổ biến trong Nho giáo là "tri" theo nghĩa "tri thức", tức là những điều hiểu biết do từng trải và học tập mà thu được Như vậy, so với

"Trí" thì "tri" ở mức tiếp nhận kiến thức (cấp 1), còn "Trí" là năng lực xử lý các kiến thức đó vào hoạt động sống và sáng tạo (cấp 2) Tri là hiểu biết, do

đó Khổng Tử yêu cầu con người ta phải có lòng thành thực: "Hiểu biết thì nói

là hiểu biết, không hiểu biết thì nói là không hiểu biết, thế mới gọi là biết"

Trang 24

Xét về tượng hình thì hai chữ này chỉ khác nhau bộ nhật, tức là trong chữ

"Trí" ( ) có bộ nhật ở dưới, ý nói "tri" ( ) được ánh sáng mặt trời soi tỏ

1.2.2 Nho giáo Khổng – Mạnh về nguồn gốc của "Trí"

Khổng Tử là người sáng lập nên học thuyết Nho gia Ông chủ trương

xây dựng một học thuyết chính trị - xã hôi lấy Nhân làm tư tưởng chỉ đạo, lấy

Lễ và Chính danh để điều chỉnh xã hội, dùng giáo hóa để cai trị dân Trong

học thuyết của mình ông cũng bàn về phạm trù “Trí” với tư cách là một trong những chuẩn mực đạo đức cơ bản

Khổng Tử rất trọng đức “Trí”, cho nên trong Luận ngữ, “Trí” được đề

cập khá nhiều ở những tình huống khác nhau Theo Khổng Tử, “Trí” được hiểu là sự minh mẫn, sáng suốt của con người để có thể phân biệt, đánh giá con người, sự vật, sự việc và tình huống trong cuộc sống, qua đó xác định cho con người cách ứng xử phù hợp.Vì thế, khi Phàn Trì hỏi về “Trí” ông nói: “trí

là biết người” (Tri nhân – Luận ngữ Nhan Uyên) [20, tr 493] Trong chương

Ung Dã, ông cho rằng, “trí” là theo lẽ phải, làm việc nghĩa giúp người, kính

trọng quỷ thần nhưng không nên mê tín một cách mù quáng (Vụ dân chi

nghĩa, kính quỉ thần nhi viễn chi, khả vị trí hĩ – Luận ngữ Nhan Uyên ) [ Xem

20, tr 334]

Vậy “Trí” do đâu mà có? Cách bồi dưỡng để “Trí”phát triển ra sao? Ứng dụng của “Trí”vào cuộc sống như thế nào? Đó là những vấn đề Khổng

Tử và các thế hệ học trò ông luôn quan tâm

Trước hết, chúng tôi nhận thấy điều là, Khổng Tử đưa ra một tiền đề cơ bản cho sự hình thành nhân cách con người xã hội, đó là bản tính của nó Theo ông, bản tính con người ta thuở sơ sinh là giống nhau, nhưng do tập

nhiễm, tập quán mà trở nên khác xa nhau (tính tương cận dã, tập tương viễn

dã) Cơ sở của nhận định đó là do con người ta "giàu sang ai cũng muốn cả,

nhưng nếu không vì đạo lý mà được giàu sang, chẳng nên đặt mình vào [cảnh đó] Nghèo hèn ai cũng chán ghét cả, nhưng nếu vì đạo lý mà chịu nghèo hèn,

Trang 25

chẳng nên từ chối" (Phú dữ quí, thị nhân chi sở dục dã, bất dĩ kỳ đạo đắc chi,

bất xử dã Bần dữ tiện, thị nhân chi sở ố dã, bất dĩ kỳ đạo đắc chi, bất khử dã

- Luận ngữ Lý Nhân) [20, tr 269] Sự giống nhau ấy (tương cận), theo Khổng

Tử là do trời phú cho con người Từ sự tin vào mệnh trời nên Khổng Tử cho rằng, có trí bẩm sinh, bậc thượng trí sinh ra tự nhiên đã biết được đạo lý và không biến đổi Ông nói: “Chỉ có hạng thượng trí và hạng hạ ngu là không

thay đổi [tính tình]” (Tử viết: “Duy thượng trí dữ hạ ngu bất di” – Luận ngữ

Dương Hóa) [20, tr 614] Bậc “thượng trí” mà Khổng Tử nói là để chỉ bậc

thánh nhân, sinh ra đã biết và trong mọi tình huống không thay đổi, còn hạng

“hạ ngu” kẻ thấp hèn, có học cũng khó mà thay đổi Người mà trời sinh ra đã thông minh trí tuệ là bậc “thượng trí” Còn những kẻ sinh ra vốn ngu dốt, đần độn là hạng “hạ ngu” Đây là quan điểm có tính chất duy tâm tiên nghiệm đề

cao bậc thánh nhân, quân tử Quan điểm này còn cho thấy, Khổng Tử không chỉ có sự phân biệt hạng người mà còn có sự phân biệt về trình độ nhận thức

Cả hai hạng người đó đều là số ít Do đó, ông cũng nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục, sự cố gắng nỗ lực học tập, tu dưỡng của cá nhân, coi đó là nguồn gốc của “Trí” và đồng thời là cách thức nâng trí tuệ con người lên Nếu không khổ công rèn luyện chí và không có phương pháp học tập đúng thì dù có thiện tâm đến đâu cũng bị cái ngu muội, phóng đãng, phản loạn, cường bạo ngăn cản, che lấp làm cho lầm lạc Ông đã lý giải điều này cho Tử Lộ: “Chuộng điều nhân mà không ham học thì mối che lấp là ngu muội Chuộng nết trí mà không ham học thì mối che lấp là phóng đãng Chuộng chữ tín mà không ham học thì mối che lấp là sự tổn hại Chuộng sự ngay thẳng mà không ham học thì mối che lấp là ưa phản loạn Chuộng tính cứng cỏi mà không ham học thì

mối che lấp là tính cường bạo” (Hiếu nhân bất hiếu học, kỳ tệ dã ngu Hiếu trí

bất hiếu học, kỳ tệ dã đãng Hiếu tín bất hiếu học, kỳ tệ dã tặc Hiếu trực bất hiếu học, kỳ tệ dã loạn Hiếu cương bất hiếu học, kỳ tệ dã cuồng – Luận Ngữ Dương Hóa) [20, Luận ngữ, tr 622] Nhân, trí, tín, trực, dũng, cương đều là

Trang 26

đức tốt, nhưng chỉ chuộng những đức ấy mà không muốn học để hiểu cho rõ cái lý thế nào mới thật là hay là phải, thì chuộng nhân lại bị lòng ái che mờ làm cho thành ra ngu muội; chuộng trí lại bị cái trí làm cho muốn cái cùng cao cực viễn, thành ra phóng đãng; chuộng tín lại bị cái tín làm cho hẹp hòi cố chấp, thành ra tổn hại; chuộng trực lại bị cái trực làm cho chướng, thành ra nóng nảy, ngang ngạnh; chuộng dũng lại bị cái dũng làm cho phóng tứ, thành

ra loạn; chuộng cương lại bị cái cương làm cho gàn dở thành ra ngông cuồng Như thế là tuy chuộng những đức tốt nhưng không học thành ra dở Vậy nên, cần phải có học mới biết thế nào thật là nhân, thật trí, thật tín, thật trực, thật

dũng, thật cương Trong chương Qúy Thị chúng ta đọc được những lời này

của ông: “Sinh ra đã biết (đạo lý) là bậc trên hết Học rồi mới biết, là hạng thứ Tối tăm mà chịu khó học, lại dưới một bậc nữa Tối tăm mà chẳng chịu

học là hạng người thấp hơn cả” (Sinh nhi tri chi giả, thượng dã Học nhi tri

chi giả, thứ dã Khốn nhi học chi, hựu kỳ thứ dã Khốn nhi bất học, dân tư vi

hạ hĩ – Luận Ngữ Qúy Thị) [20, tr 605] Điều này có nghĩa, loại trừ thánh

nhân, không phải con người ta sinh ra là đã biết, mà biết là do học Cái đáng

sợ nhất là đã không biết mà lại còn không học, như vậy thì không thuốc nào

chữa được nữa Về điều này, sách Trung Dung cũng chỉ ra rằng, khốn khó mà

cố gắng học thì cũng đạt được thành công như người tài giỏi: “Hoặc sinh ra

đã biết, hoặc phải học mới biết, hoặc phải cố công gắng sức mới biết, nhưng

kể về hiểu biết thi như nhau Có người an nhiên mà thi hành, có người vì lợi

mà thi hành, có người miễn cưỡng mà thi hành, nhưng kể về thành công thì

chỉ là một” (“Hoặc sinh chi nhi, hoạc học nhi tri chi, hoặc khốn nhi tri chi;

cập trì tri chi, nhất dã Hoặc an nhi hành chi, hoặc lợi nhi hành chi, hoặc miễn cưỡng nhi hành chi; cập ký thành công, nhất dã”) [Dẫn theo 31, tr

111] Bản thân Khổng Tử mười lăm tuổi đã có chí học tập Vì vậy ông rất coi trọng việc dạy và học, rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục Ông có tới ba nghìn học trò và đã trở thành “vạn thế sư biểu”

Trang 27

Với Khổng Tử, học không chỉ để tu thân mà mục đích cao nhất của học

là để nhận chức của triều đình, tham gia gánh vác công việc quốc gia và để biết kỷ cương của xã hội mà tuân theo Trong lúc xã hội rối ren không ra giúp đời không phải là người nhân, không ra làm quan không phải là người trí Vì

vậy, Khổng Tử thường nói:“Ngày xưa người ta học là vì mình, ngày nay học

là vì người” (Tử viết: “Cổ chi học giả vị kỷ, kim chi học giả vị nhân” – Luận

Ngữ Hiến Vấn) [20, tr 544] Người nào muốn tham gia việc chính trị tất phải

học để có được sự hiểu biết, từ đó mới phân biệt được việc tốt, việc xấu Về điều này Tử Trương đã được Khổng Tử giảng giải như sau:

“Tử Trương hỏi Khổng Tử: “Như thế nào mới có thể theo việc chính

trị? Khổng Tử nói rằng: “Tôn trọng năm việc tốt, loại trừ bốn điều ác, mới có thể theo việc chính trị”

Tử Trương hỏi: “Thế nào là năm việc tốt?”

Khổng Tử nói: “Người quân tử làm ơn cho dân mà không để lãng phí, bắt dân vất vả mà dân không oán, có ham muốm mà không tham lam, thư thái

mà không kiêu, uy nghiêm mà không dữ tợn”…

…Tử Trương hỏi: “Thế nào là bốn điều ác?” Khổng Tử nói: “1 Không dạy dỗ (để dân không biết, nên phạm lỗi) mà nỡ đem giết bỏ, thế gọi là ngang ngược

2 Không dặn dò kỹ (cách làm) chỉ trông đợi người ta hoàn thành, thế gọi là hung bạo

3 Ra lệnh bừa bãi, bắt làm gấp rút, thế gọi là giặc của dân

4 Ban cho người khác mà còn do dự, phát ra thu vào bằng cách bỏn

xẻn, là thái độ của viên chức nhỏ” (Tử Trương vấn ư Khổng Tử: “Hà như tư

khả dĩ tùng chính hĩ”? Tử viết: “Tôn ngữ mỹ, bính tứ ác, tư khả dĩ tùng chính hĩ” Tử Trương viết: “ Hà vị ngũ mỹ?” Tử viết: “Quân tử huệ nhi bất phí, lao nhi bất oán, dục nhi bất tham, thái nhi bất kiêu, uy nhi bất mãnh”….Tử Trương viết: “Hà vị tứ ác?” Tử viết: “Bất giáo nhi sát, vị chi ngược Bất giới,

Trang 28

thị thành, vị chi bạo Mạn lệnh, trí kỳ, vị chi tặc Do chi dữ nhân dã, xuất nạp chi lận, vị chi hữu tư” – Luận Ngữ Nghiêu Viết) [20, tr 687 - 688] Đây là

những điều cơ bản về phép trị dân, không học không thể biết được

Theo Khổng Tử, “Trí” do học tập, rèn luyện, tu dưỡng mà có, vì vậy, ông đòi hỏi học tập phải có phương pháp thì hiệu quả đạt được mới cao Đó là: quan sát kỹ, nghe nhiều, hỏi cặn kẽ, không dấu dốt, suy nghĩ sâu sắc những điều đã học để hiểu ra cái khác Ông nói: “Học mà không suy nghĩ ắt mờ tối,

suy nghĩ mà không học ắt mệt mỏi” (Học nhi bất tư tắc võng, tư nhi bất học

tắc đãi – Luận Ngữ Vi Chính) [20, tr 227] Ông bất bình với những người

học trò không chịu suy nghĩ, không dám động não Ông phê bình loại người ấy: “Kẻ nào không biết tự hỏi đi hỏi lại: “phải làm sao đây? Phải làm sao

đây?”, ta cũng không biết phải làm sao (với hắn)” (Bất viết “như chi hà? như

chi hà” giả, ngô mạt như chi hà dã dĩ hĩ – Luận Ngữ Vệ Linh Công) [20, tr

574] Ngay đến Nhan Hồi là người hiếu học, thông minh, lanh lợi, được Khổng Tử rất yêu mếm, nhưng cách học của Nhan Hồi cũng khiến Khổng Tử phải phàn nàn Ông nói: “Người Hồi chẳng giúp đỡ gì cho ta cả Nghe ta nói

cái gì cũng hài lòng ngay” (Hồi dã phi trợ ngã giả dã Ư ngô ngôn, vô sở bất

duyệt – Luận Ngữ Hương Đảng) [20, tr 443] Còn Tử Hạ tuy học thức và

đạo đức không bằng Nhan Hồi nhưng Khổng Tử lại thích con người này vì Tử

Hạ đọc Kinh Thi đã có ý kiến riêng của mình Khổng Tử nói: “Phát khởi được

ý ta chính là trò Thương! Thế mới xứng đáng cùng ta bàn về Kinh Thi!” (Tử

viết:“Khởi dư giả, Thương dã! Thủy khả dữ ngôn Thi dĩ hĩ” – Luận Ngữ Bát Dật) [20, tr 244] Vì vậy, Khổng Tử thường nhắc nhở các học trò rằng: “

Không bực tức thì trí không mở, không hậm hực thì ý không bật ra Chỉ cho một góc, mà không (chịu để tâm) suy ra ba góc kia, ắt ta không nói lại nữa”

(Bất phẫn, bất khải; bất phỉ, bất phát Cử nhất ngung, bất dĩ tam ngung phản, tắc bất phục dã – Luận Ngữ.Thuật Nhi) [20, tr 347] Có thể thấy, Khổng Tử

đòi hỏi học trò của mình phải có tinh thần tự giác, chủ động và tích cực tìm

Trang 29

tòi học hỏi Chính bản thân Khổng Tử, trong sự học của mình, ông cũng thi hành những điều này Ông nói: “Này người Tứ! Ngươi cho rằng ta học nhiều

và nhớ tất cả, phải không? Thưa rằng: “Vâng! Không phải vậy sao?” Khổng

Tử nói: “Không phải đâu Ta chỉ dựa vào một đạo lý mà thông suốt mọi điều

đấy thôi” (“Tứ dã! Nhữ dĩ dư vi đa học nhi chí chi giả dư”? Đối viết: “Nhiên

! Phi dư?” Viết: “Phi dã! Dư nhất dĩ quán chi” – Luận Ngữ Vệ Linh Công)

[20, tr 564] Trong sách Trung dung cũng nói: “Học cho rộng, hỏi cho kỹ,

nghĩ cho cẩn thận, phân biệt cho sáng rõ, làm cho hết sức Có điều không học, nhưng đã học điều gì mà không hay, không thôi Có điều không hỏi, nhưng đã hỏi điều gì mà không biết, không thôi Có điều không nghĩ, nhưng đã nghĩ

điều gì mà không được, không thôi” (Bác học chi, thẩm vấn chi, thận tư chi,

minh biện chi, đốc hành chi Hữu phất học, học chi phất năng, phất thố giã Hữu phất vấn, vấn chi phất chi, phất thố giã Hữu phất tư, tư chi phất đắc, phất thố giã) [26, tr 128]

Ngoài những phương pháp học tập trên Khổng Tử rất đề cao phương

pháp “học phải đi đôi với hành” Trong tư tưởng giáo dục của mình, Khổng

Tử rất quan tâm đến sự luyện tập, sự vận dụng vào thực tế những điều đã học Ông yêu cầu học trò phải thực hành ngay những điều đã học bằng việc làm chứ không phải bằng việc ôn bài trong sách vở Ông nói: “Học mà thường

xuyên luyện tập há chẳng vui thích lắm sao?” (Học nhi thời tập chi, bất diệc

duyệt hồ - Luận Ngữ Học Nhi) [20, tr 196 ] Nếu không vận dụng vào thực tế

những điều đã học thì “Đọc thuộc ba trăm bài kinh thi, đến chừng trao cho việc chính trị chẳng thông đạt, sai đi sứ các nước chẳng đủ tài ứng đối, người

như thế dẫu học nhiều mà làm gì?”(Tụng Thi tam bách, thụ chi dĩ chính bất

đạt, sứ ư tứ phương bất năng chuyên đối, tuy đa diệc hề dĩ vi – Luận Ngữ Tử Lộ) [20, tr 501] Thông qua sự luyện tập, người học hiểu sâu và nắm vững

hơn những điều đã học Và một khi người học đã ôn luyện và nắm chắc được

Trang 30

những kiến thức về sự việc đã qua thì có cơ sở để hiểu biết sự việc mới Vì

thế Khổng Tử nói: “Ôn điều cũ biết điều mới, có thể làm thầy người ta vậy”

(Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hĩ – Luận ngữ Vi Chính) [20, tr 225]

Có thể thấy, chính Khổng Tử là người đã nêu tấm gương sáng về tinh

thần hiếu học Khổng Tử học ở mọi lúc, mọi nơi, học ở những người xung

quanh mình Ông quan niệm rằng: “Ba người cùng đi, thế nào cũng có kẻ

đáng làm thầy ta Chọn chỗ thiện của người ta mà theo, chỗ bất thiện mà sửa

đổi đi” (Tử viết: “Tam nhân hành, tất hữu ngã sư yên Trạch kỳ thiện giả nhi

tùng chi, kỳ bất thiện giả nhi cải chi” – Luận ngữ Thuật Nhi ) [20, tr 359]

Khi nói về sự hiểu biết của mình, Khổng Tử từng nói: “Ta không phải người

sinh ra đã biết, chẳng qua chỉ là chuộng cổ, cần mẫn tìm hiểu (đạo thánh hiền)

đấy thôi” (Tử viết:“Ngã phi sinh nhi tri chi giả, hiếu cổ, mẫm dĩ cầu chi giả

dã” – Luận Ngữ Thuật Nhi) [20, tr 358] Bên cạnh đó, Khổng Tử lúc nào

cũng lo sửa mình cho ngay chính Ông nói: “Tính nết chẳng tu sửa cho tốt,

việc học chẳng giảng giải, nghe điều nghĩa chẳng biết làm theo, lỡ mắc điều

sai quấy chẳng sửa đổi, đấy là những điều ta lấy làm lo” (Tử viết: “Đức chi

bất tu, học chi bất giảng, văn nghĩa bất năng tỉ, bất thiện bất năng cải, thị

ngô ưu dã” – Luận Ngữ Thuật Nhi) [ 20, tr 344 ]

Là người rất ham học, Khổng Tử tự xét mình như thế này: “Trong xóm

chừng mười nhà, ắt có một người trung tín như Khâu này, nhưng chẳng có ai

ham học như Khâu này” (Thập thất chi ấp tất hữu trung tín như Khâu giả yên,

bất như Khâu chi hiếu học dã! – Luận Ngữ Công Dã Tràng) [20, tr 314]

Chương Thuật nhi còn chép những lời của ông bàn về cách học và tinh thần

ham học: “Lặng lẽ mà ghi nhớ, học mà chẳng chán, dạy bảo người mà không

mệt mỏi, ba điều đó có phần nào thiếu sót nơi ta chăng?” (Tử viết:“Mặc nhi

chí chi, học nhi bất yếm, hối nhân bất quyện, hà hữu ư ngã tai”- Luận Ngữ

Thuật Nhi) [20, tr 344]; “Cũng có người không biết mà vẫn làm đấy, nhưng

ta chẳng phải như vậy Lắng nghe cho nhiều và chọn điều thiện mà theo, để

Trang 31

mắt nhìn cho nhiều và ghi nhớ lấy, sự hiểu biết sẽ đến sau” (Tử viết: “Cái hữu

bất tri nhi tác chi giả, ngã vô thị dã Đa văn trạch kỳ thiện giả nhi tùng chi,

đa kiến nhi chí chi, tri chi thứ giã.”- Luận ngữ Thuật Nhi) [20, tr 364] Do

có sự ham học mà Khổng Tử “ba mươi tuổi chí đã kiên định, bốn mươi tuổi không còn ngờ vực, năm mươi tuổi biết mệnh trời, sáu mươi tuổi nghe gì hiểu nấy, bảy mươi tuổi dẫu lòng ham muốn điều gì cũng không vượt khuôn phép”

(Ngô thập hữu ngũ nhi chí vu học, tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ

thập nhi tri thiên mệnh, lục thập nhi nhĩ thuận, thất thập nhi tùng tâm sở dục, bất du củ - Luận ngữ Vi Chính ) [20, tr 216 ]

Như vậy, theo Khổng Tử ngoài trí bẩm sinh của kẻ thượng trí sinh ra đã biết thì sự hiểu biết của con người phần lớn do học tập, tu dưỡng, rèn luyện

mà có Tuy nhiên, Khổng Tử lại quy sự hiểu biết đó của con người chủ yếu về mặt đạo đức, cho nên tuy đề cao việc học nhưng Khổng Tử lại cho rằng, chỉ học lấy cái gì cần học và không học lấy cái gì không đáng học Vì vậy, Khổng

Tử chỉ dạy cho các học trò của mình bốn điều: văn chương, đức hạnh, lòng

trung thực và lòng thành tín Luận ngữ chép: “Phu tử lấy bốn điều để dạy người: văn chương, đức hạnh, lòng trung thực và lòng thành tín” (Tử dĩ tứ

giáo: văn, hạnh, trung, tín – Luận Ngữ Thuật Nhi) [20, tr 361] Có thể thấy,

Khổng Tử lấy văn, hạnh, trung, tín làm mục tiêu giáo dục Song, Khổng Tử lấy đức hạnh làm nội dung cơ bản, làm trung tâm Trong khi dạy học, Khổng

Tử thường tùy vào năng khiếu của mỗi người mà chia ra bốn loại phạm vi học thuật để đạt được mục tiêu giảng dạy Bốn loại đó là đức hạnh, ngôn ngữ, chính sự, văn chương Đức hạnh nhằm phát triển cho những người thực hành phẩm chất đạo đức Ngôn ngữ chủ yếu dành cho những người cần biện luận lý thuyết Chính sự giành cho những người hoạt động chính trị, cai quản quốc gia Văn học giành cho những người muốn đi sâu nghiên cứu văn chương Dựa vào bốn loại đó, Khổng Tử đã đào tạo thành công các học trò của mình:

“Về đức hạnh có Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiên, Nhiễm Bá Ngưu, Trọng Cung

Trang 32

Về khoa ngôn ngữ có: Tể Ngã, Tử Cống Về chính sự có: Nhiễm Hữu, Qúy

Lộ Về văn học có: Tử Du, Tử Hạ” (Đức hạnh: Nhan Uyên, Mẫn Tử Khiên,

Nhiễm Bá Ngưu, Trọng Cung Ngôn ngữ: Tể Ngã, Tử Cống Chính sự: Nhiễm Hữu, Qúy Lộ Văn học: Tử Du, Tử Hạ - Luận Ngữ Tiên Tiến) [20, tr 441]

Khổng Tử không dạy cho học trò tri thức sản xuất, tri thức khoa học Khi Phàn Trì xin ông dạy cách trồng lúa, làm vườn thì ông đã trách Phàn Trì trí nhỏ hẹp Ông cho rằng, những nghề cày cấy, làm vườn là nghề tầm thường của những người bậc dưới Ông nói: “Tiểu nhân thay người Phàn Tu! Người trên chuộng lễ, ắt dân chẳng ai dám không cung kính, người trên chuộng nghĩa, ắt dân chẳng ai dám không phục, người trên chuộng chữ tín, ắt dân chẳng ai dám không thật lòng Nếu đã như vậy, ắt dân chúng bốn phương địu

con, bồng cái theo về Cần gì phải học cày cấy?” (Tiểu nhân tai Phàn Tu dã!

Thượng hiếu lễ, tắc dân mạc cảm bất kính, thượng hiếu nghĩa tắc dân mạc cảm bất phục, thượng hiếu tín tắc dân mạc cảm bất dụng tình Phù như thị tắc

tứ phương chi dân cưỡng phụ kỳ tử nhi chí hĩ Yên dụng giá? – Luận ngữ.Tử Lộ) [20, tr 500]

Đối với Mạnh Tử, vốn là một trong những triết gia lớn thời Chiến Quốc

kế thừa tư tưởng của Khổng Tử, ông cũng đề cao đức “Trí” và phát triển học thuyết mang đậm tính duy tâm, được gọi là Nho giáo Khổng – Mạnh Xuất

phát từ quan niệm về tính thiện bẩm sinh, Mạnh Tử cho rằng, con người ta

sinh ra đều có năng lực nhận biết phải trái và đó là đầu mối của trí

Theo Mạnh Tử, bản tính con người từ khi mới sinh ra là do trời phú cho nên vốn là thiện Ông nói: “Bản tính người ta vốn thiện, cũng như nước phải chảy xuống thấp vậy Người ta chẳng ai là bất thiện, như nước luôn luôn chảy

xuống thấp vậy” (Nhân tính chi thiện dã, do thủy chi tựu hạ dã Nhân vô hữu

bất thiện; thủy vô hữu bất há – Mạnh Tử Cáo Tử, Chương Cú Thượng) [20,

tr 1191] Tính thiện của con người được biểu hiện ở bốn đức lớn là nhân,

nghĩ, lễ, trí Bốn đức lớn đó bắt nguồn từ tứ đoan, còn gọi là thiện đoan, là tài

Trang 33

chất, bản tính trời phú cho con người, sinh ra đã có như mần cây trong hạt giống, như tứ chi của cơ thể Mạnh Tử nói: “Lòng trắc ẩn ai ai cũng có, lòng

tu ố ai ai cũng có, lòng cung kính ai ai cũng có, lòng thị phi ai ai cũng có Lòng trắc ẩn là đầu mối của nhân, lòng tu ố là đầu mối của nghĩa, lòng cung kính là đầu mối của lễ, lòng thị phi là đầu mối của trí vậy Nhân, nghĩa, lễ, trí chẳng phải ở ngoài đổ khuôn vào ta, mà ta có sẵn cả, chẳng qua không nghĩ tới mà thôi Vì thế người xưa mới nói: “Hễ cầu thì được, bỏ thì mất” Có khi hơn nhau gấp đôi, gấp năm, hoặc gấp nhiều lần, tính không nổi, tất cả chỉ vì

không biết tận dụng hết tài năng của mình vậy” (Mạnh Tử viết: “Trắc ẩn chi

tâm, nhân giai hữu chi; tu ố chi tâm, nhân giai hữu chi; cung kính chi tâm, nhân giai hữu chi; thị phi chi tâm, nhân giai hữu chi; Trắc ẩn chi tâm: nhân dã; tu ố chi tâm: nghĩa dã; cung kính chi tâm: lễ dã; thị phi chi tâm: trí dã Nhân, nghĩa, lễ, trí, phi do ngoại trước ngã dã, ngã cố hữu chi phất tư nhĩ hỹ

Cố viết: “Cầu tắc đắc chi, xả tắc thất chi” Hoặc tương bội tỷ, nhi vô toán giả; bất năng tận kỳ tài giả dã” – Mạnh Tử Cao Tử, Chương Cú Thượng)

[20, tr 1205]

Bản tính của con người vốn thiện và con người sinh ra ai cũng có năng lực nhận biết phải trái Vậy thì tại sao trong đời sống hiện thực lại có người hiền, người ác, người được gọi là “quân tử”, “đại phu”, lại có người chỉ là kẻ

“tiểu nhân” và vì sao lại có sự phân biệt thành thánh, hiền, trí, ngu, bất tài? Về vấn đề này, Mạnh Tử hoàn toàn nhất trí với tư tưởng của Khổng Tử như trên chúng tôi đã dẫn, rằng, “Bản tính người ta gần giống nhau, thói quen khiến xa

nhau” (Tính tương cận dã, tập tương viễn dã – Luận Ngữ Dương Hóa) [20,

tr 614] Lý giải điều này, Mạnh Tử cho rằng, mỗi người giữ được hay vứt bỏ

đi cái tính thiện trời phú cho, tức là phụ thuộc vào sự tu dưỡng đạo đức khác nhau của mỗi người Nếu không tu dưỡng thì tính thiện sẽ bị mất đi, sẽ biến thành tính “xấu, ác” Cho nên ông nói: “Người ta có thể trở thành bất thiện” Chính vì vậy, mới có sự phân chia con người thành “đại phu” và “tiểu nhân”,

Trang 34

“bậc trí và “kẻ ngu” Khi Công Đô Tử hỏi: “Cùng là người, có người là bậc đại nhân, có người là kẻ tiểu nhân, tại sao?” Mạnh Tử đáp rằng: “Noi theo phần đại thể của mình thì thành bậc đại nhân, neo theo phần tiểu thể của mình thì thành kẻ tiểu nhân.” Công Đô Tử hỏi tiếp rằng: “Cùng là người, có người neo theo phần đại thể, có kẻ noi theo phần tiểu thể, tại sao?” Mạnh Tử đáp:

“Tai và mắt là cơ quan, không dùng để duy nghĩ, mà còn bị ngoại vật mê hoặc nữa Vật ngoài tiếp xúc với vật trong mà lôi cuốn đi ngay Tâm là cơ quan để suy nghĩ, suy nghĩ thì hiểu được đạo lý, không suy nghĩ thì không hiểu được đạo lý Đó là điều trời ban cho ta Trước nhất thiết lập được phần lớn lao, ắt những phần nhỏ nhen không thể lấn lướt nổi Chỉ nhờ vậy mà thành bậc đại

nhân mà thôi” (Công Đô Tử vấn viết: “Quân thị nhân dã, hoặc vi đại nhân,

hoặc vi tiểu nhân, hà dã?” Mạnh Tử viết: “Tùng kỳ đại thể vi đại nhân; tùng

kỳ tiểu thể vi tiểu nhân”.Viết: “Quân thị nhân dã, hoặc tùng kỳ đại thể, hoặc tùng kỳ tiểu thể, hà dã?” Viết: “Nhĩ mục chi quan, bất tư, nhi tế ư vật Vật giao vật tắc dẫn chi nhi kỳ hỹ Tâm chi quan tắc tư, tư tắc đắc chi, bất tư tắc bất đắc dã Thử thiên chi sở dữ ngã giả Tiên lập hồ kỳ đại giả tắc kỳ tiểu giả bất năng đoạt dã Thiên vi đại nhân nhi dĩ hỹ”- Mạnh tử Cáo Tử, Chương Cú Thượng) [20, tr 1230] Nhưng để phát huy được cái trời phú, đạt tới chí thiện

con người phải chuyên tâm nỗ lực, tu dưỡng, rèn luyện bản thân Tức phải tận

tâm trong việc giữ gìn, bồi dưỡng cái “thiên tâm”, “thiên tính” của mình Và

khi tận tâm tính của mình con người có thể hiểu biết được trời, hiểu rõ đạo lý, nhân nghĩa, tức là con người có thể trở thành thánh thiện là do tâm vốn có

“lương năng” và “lương tri” Đó là cái biết sinh ra đã biết, do trời phú cho ta, không cần học tập mà hay, còn gọi là “sinh tri” Mạnh Tử nói: “Những điều người ta không học mà làm được thuộc về lương năng, không nghĩ mà làm

được thuộc về lương tri” (Nhân chi sơ bất học nhi năng giả, kỳ lương năng

dã, sở bất lự, nhi chi giả, kỳ lương tri dã – Mạnh Tử Tận Tâm, Chương Cú Thượng) [20, tr 1298]

Trang 35

Theo Mạnh Tử, cách bồi dưỡng lương tâm hay hơn hết là nên bớt những điều ham muốn Ông nói: “Trong các phép bồi dưỡng con tâm, không

gì tốt bằng ít ham muốn Làm người mà ít ham muốn, tuy cũng có trường hợp không tồn tâm, nhưng ít lắm Làm người mà nhiều ham muốn, tuy cũng có

khi tồn tâm nhưng ít lắm” (Dưỡng tâm, mạc thiện ư quả dục Kỳ vi nhân dã

quả dục, tuy hữu bất tồn yên giả, quả hỹ Kỳ vi nhân dã đa dục, tuy hữu tồn yên giả, quả hỹ - Mạnh tử Tận Tâm, Chương Cú Hạ) [20, tr 1371] Đó là

những ham muốn phàm tục như thích danh lợi, thích tửu sắc, thích ăn ngon mặc đẹp, v.v Hơn nữa theo Mạnh Tử, trong thân thể con người có phần cao

quý, có phần ti tiện, có phần lớn lao, có phần nhỏ nhen, cho nên phép tồn tâm

dưỡng tính là cách tốt nhất để giữ lấy phần cao quý trong con người Phần

lớn, phần cao quý trong con người chính là lương tâm Dưỡng phần lớn, phần cao quý chính là gìn giữ, bồi dưỡng cái “thiên tâm”, “thiên tính” trời phú cho con người Khi đã gìn giữ, bồi dưỡng cái “thiên tâm”, “thiên tính” thì “lý của vạn vật đều có dầy đủ trong tâm ta Xét lại bản thân mà thấy lòng thành thực, còn gì vui hơn” Đồng thời để bảo tồn và phát triển tâm tính của con người, Mạnh Tử chủ trương cần phải có sự tu dưỡng, học tâp, rèn luyện đạo đức để

có những phẩm chất nhân, nghĩa, lễ, trí, tín Ông nói: “Làm người phải có đạo

lý Ăn no, mặc ấm, nhàn rỗi mà không có giáo dục thì gần với loài cầm thú”

(Nhân chi hữu đạo dã; bão thực, noãn y, dật cư nhi vô giáo, tắc cận ư cầm thú – Mạnh Tử Đằng Văn Công, Chương Cú Thượng) [20, tr 949] Hơn nữa,

nếu không học thì: “Hành động mà chẳng hiểu rõ đạo lý, làm theo thói quen

mà không chịu quan sát, suốt đời cứ noi theo đó không biết đạo” (Hành chi

nhi bất trứ yên, tập hỹ nhi bất sát yên, chung than do chi, nhi bất tri kỳ đạo giả” – Mạnh Tử Tận Tâm, Chương Cú Thượng) [20, tr 1289]

Như vậy, theo quan niệm của Mạnh Tử, nguồn gốc của “Trí” – sự hiểu biết, năng lực tư duy của con người, sự phân biệt phải trái, tốt xấu của con người là do trời phú Nhưng điều quan trọng là con người phải biết phát huy

Trang 36

cái trời phú đó, như ông nói, hễ đã có bốn đầu mối: lòng trắc ẩn (nhân), lòng

tu ố (nghĩa), lòng từ nhượng (lễ), lòng thị phi (trí) ở trong con người, con người ai cũng biết khuyếch trương chúng lên, cho thật sung mãn, như lửa mới nhúm, như suối mới vọt ra Nếu có thể khiến chúng xung mãn, ắt đủ bao bọc người trong bốn biển [Xem 20, tr 861, 862] Nhưng để phát huy được cái trời phú, đạt tới chí thiện con người phải chuyên tâm, nỗ lực, tu dưỡng, rèn luyện bản thân Tức là phải tận tâm trong việc giữ gìn, bồi dưỡng cái “thiên tâm”,

“thiên tính” của mình

Trời phú tính cho con người, còn con người tiếp nhận nó vào cái tâm

"con đỏ" trong sáng của mình Tuy nhiên, để trở thành người tốt tính, thành bậc hiền nhân quân tử thì con người phải biết kết hợp và phát huy tính thiện trời phú với tứ đoan để có tứ đức Ai không làm được điều đó sẽ làm cho tính thiện trời phú bị vô hiệu hóa và mất dần, người đó sẽ trở về với loài cầm thú

Vì vậy, Mạnh Tử nói: "Muốn biết vua Thuấn và Đạo Chích khác nhau ra sao,

chẳng có gì lạ: khác nhau giữa thiện với lợi mà thôi" (Dục tri Thuấn dữ Chích

chi phân, vô tha: lợi dữ thiện chi gian dã – Mạnh Tử Tận Tâm, Chương Cú Thượng) [20, tr 1312]

Mạnh Tử còn là người đầu tiên trong lịch sử Nho học đề cập đến vấn đề lương tri và lương năng Ông viết: "Những điều người ta không học mà làm được thuộc về lương năng, không nghĩ mà biết được thuộc về lương tri vậy"

(Nhân chi sở bất học nhi năng giả, kỳ lương năng dã, sở bất lự, nhi tri giả, kỳ

lương tri dã - Mạnh Tử Tận Tâm, Chương Cú Thượng) [20, tr 1298] Đây là

sự giải thich năng lực của con người từ "thị phi chi tâm" nhưng không phải quan niệm của Mạnh Tử về phủ nhận vai trò của giáo dục, tu dưỡng Ngược lại, ông rất đề cao giáo dục Ông viết: "Điều nhân là để áp dụng cho con

người Bàn cho hết lẽ, đó là đạo làm người" (Nhân dã giả, nhân dã Hợp nhi

ngôn chi, đạo dã - Mạnh Tử Tận Tâm, Chương Cú Hạ) [20, tr 1349] Việc

bàn cho hết lẽ của đạo "Nhân" cần phải có "Trí", muốn có "Trí" phải có người

Trang 37

hướng dẫn, đó là những bậc hiền nhân trong thiên hạ: "Người hiền đem trí

sáng suốt khiến người khác trở nên sáng suốt" (Hiền giả dĩ kỳ chiêu chiêu sử

nhân chiêu chiêu - Mạnh Tử Tận Tâm, Chương Cú Hạ) [20, tr 1352]

Nói tóm lại, bàn về nguồn gốc của "Trí", chúng ta thấy Khổng Tử và Mạnh Tử đều xuất phát từ bản tính con người và đặc biệt, các công rất nhấn mạnh vai trò của giáo dục và tu dưỡng của con người Qua việc trình bày quan niệm của các ông về nguồn gốc của "Trí", chúng ta thấy Mạnh Tử đã có công làm sâu sắc thêm vai trò của cái tiên thiên (thị phi chi tâm) và tính thiện trời phú Hai yếu tố cơ bản này là tiền đề cơ bản của "Trí", song để trở thành

"trí giả", con người phải trải qua quá trình học tập, tu dưỡng và các ông luôn cảnh tỉnh, rằng con người phải hết sức thận trọng trong mọi hành vi đạo đức

để tạo lập cho mình năng lực tư duy, đặng ứng phó phù hợp với người khác cũng như với chính bản thân mình

Tiểu kết chương 1

Quan niệm về “Trí” của Nho giáo Khổng – Mạnh được hình thành trong thời kỳ xã hội Trung Quốc đang có sự chuyển biến hết sức căn bản và lớn lao Đó là thời kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ theo kiểu phương Đông mà đỉnh cao là chế độ “tông pháp” nhà Chu đã suy tàn, chế độ phong kiến sơ kỳ đang hình thành Sự giao thời giữa hai chế độ đó đã gây nên một sự đảo lộn căn bản về kinh tế, chính trị và sự suy đồi về trật tự lễ nghĩa, đạo đức, luân lý trong xã hội Sự ra đời của Nho giáo Khổng – Mạnh và quan niệm về “Trí” của nó là sự phản ánh nhu cầu thời đại, ở đó sự kế thừa những tiền đề cơ bản

về văn hóa truyền thống Trung Hoa rất rõ nét

Khổng Tử và Mạnh Tử rất coi trọng đức “Trí”, bởi theo các ông phải

có hiểu biết, có trí tuệ con người mới xác định được cho mình cách ứng xử đúng với “nhân luân” và “ngũ luân” Mặc dù quan niệm khác nhau về nguồn gốc của “Trí”, song cả hai ông đều nhấn mạnh sự cần thiết phải học Học là

Trang 38

ngọn nguồn của “Trí”, mà có trí mới phân biệt được tốt xấu, đúng sai, phải trái, chính tà Theo Mạnh Tử, quốc gia nào không quan tâm đến giáo dục, phá trường học để xây các khu du hý thì nhất định không tránh khỏi bại vong Vì vậy, Nho giáo nói chung, Nho giáo Khổng – Mạnh nói riêng rất đề cao việc giáo dục, coi đó là cội nguồn của tri thức, đồng thời để lại cho đời sau những quan điểm, phương pháp dạy và học rất có giá trị Lời nói bất hủ của bậc “vạn thế sư biểu” suốt đời tận tụy, nhiệt tâm giáo hóa cho người: “Học mà không biết chán, dạy người mà không mỏi” đã được đời sau sử dụng như một khẩu hiệu để cổ vũ tinh thần dạy và học

Trang 39

Chương 2 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA “TRÍ”

TỪ PHƯƠNG DIỆN NHẬN THỨC CÁC QUAN HỆ XÃ HỘI

2.1 Trí là tri trong sự hiểu biết về con người (trí giả tri nhân)

Trong tư tưởng của Khổng Tử, “Trí” được hiểu là sự minh mẫn nói chung để phân biệt, đánh giá con người, sự vật, sự viêc và tình huống, qua đó

tự xác định cho mình cách ứng xử cho phải đạo “Trí” thể hiện năng lực tư duy và ứng xử của con người Người Trí tức là người khôn ngoan, sáng suốt,

có năng lực tư duy và biết cách ứng xử hợp lễ Người Trí phải biết người (tri nhân) Khi Phàn Trì hỏi về người trí, Khổng Tử nói: “(Đó là người) biết

người” (Tử viết:“Tri nhân” – Luận Ngữ Nhan Uyên) [20, tr 493] Phàn Trì

chưa hiểu rõ, Khổng Tử bảo: “Cất nhắc người ngay thẳng và gạt bỏ những kẻ

cong vạy thì có thể khiến kẻ cong vạy trở nên ngay thẳng” (Cử trực thố chư

uổng năng sử uổng giả trực - Luận Ngữ Nhan Uyên) [20, tr 493] Có lần Tể

Ngã, một môn đệ của Khổng Tử quan niệm người có đức phải sẵn sàng xả thân cứu người hoạn nạn, hỏi: “Người nhân gặp một người tới báo cho biết trong giếng có người ngã xuống, có nhảy xuống theo không?” Khổng Tử bảo: “Sao lại làm như vậy? Người quân tử chết không sao, nhưng chớ để người dẫn dụ hãm hại, có thể bị lừa gạt vì đúng lý, nhưng không thể tỏ ra ngu

muội” (Tể Ngã vấn viết: “Nhân giả, tuy cáo chi viết: tỉnh hữu nhân yên, kỳ

tùng chi dã?” Tử viết: “Hà vi kỳ nhiên dã? Quân tử khả thể dã, bất khả hãm

dã, khả khi dã, bất khả vong dã” – Luận ngữ.Ung Dã) [20, tr 336 - 337]

Trong mối quan hệ giữa người với người, theo Khổng Tử người trí là

người có năng lực “tri nhân”, tức là phải biết người, hiểu biết về tính cách, sở

thích, năng lực, vị trí của từng người để có cách ứng xử phù hợp Biết người

để yêu và ghét một cách chính đáng, biết người để có những ứng xử phù hợp trong từng mối quan hệ cụ thể Biết người lại là cơ sở để đánh giá về người

Trang 40

trí Khổng Tử nói rằng: “Với người đáng nói mà không chịu mở miệng là để mất người Với người không đáng nói mà cứ lem lém cái miệng là phí mất

lời Người trí (sáng suốt) không để mất người, cũng chẳng phí mất lời” (Khả

dữ ngôn nhi bất dữ chi ngôn: thất nhân Bất khả dữ ngôn nhi dữ chi ngôn: thất ngôn Trí giả bất thất nhân, diệc bất thất ngôn – Luận ngữ Vệ Linh Công) [20, tr 569]

Khổng Tử rất khách quan khi xem xét, đánh giá người khác Ông không dựa vào số đông mà lấy thiện và ác làm tiêu chí để phân biệt người Khi Tử Cống hỏi ông: “Được người trong làng ưa thích, người đó thế nào? Khổng Tử đáp: “Chưa được” Tử Cống lại hỏi: “Người trong làng đều ghét bỏ thì sao? Khổng Tử nói: “Chưa được Chẳng bằng được những người thiện

trong làng ưa thích, và những kẻ bất thiện ghét bỏ” (Tử Cống vấn viết:

“Hương nhân giai hiếu chi, hà như? Tử viết: “Vị khả dã” Hương nhân giao

ố chi, hà như? Tử viết: “Vị khả dã Bất như hương nhân chi thiện giả hiếu chi, kỳ bất thiện giả ố chi”- Luận ngữ Tử Lộ) [20, tr 519 - 520] Khi xem

xét, đánh giá người khác, ngoài sự phán đoán qua dư luận, Khổng Tử cho rằng còn phải dựa vào cách cư xử của người ta nữa Ông nói: “Trước kia, ta xét người cứ nghe lời nói mà tin ngay vào cách cư xử Nay xét người, ta nghe

lời nói là xem cách cư xử” (Thủy ô ư nhân dã, thính kỳ ngôn nhi tín kỳ hạnh;

kim ngô ư nhân dã, thính kỳ ngôn nhi quan kỳ hạnh – Luận ngữ Công Dã Tràng) [20, tr 295]

Đối với từng hạng người cũng cần phải biết họ như thế nào, biết để có cách ứng xử phù hợp với họ: “Người hăng hái mà chán ghét cảnh nghèo khó

ắt gây loạn vậy Biết người đó là bất nhân, mà ghét bỏ quá đáng là xúi người

ta gây loạn vậy” (Hiếu dũng, tật bần, loạn dã Nhân nhi bất nhâ, tật chi dĩ

thậm loạn dã – Luận ngữ Thái Bá) [20, tr 384] Người hiếu dũng là người ưa

thích dũng cảm, sẵn sàng hành động không quản ngại khó khăn Đó là người

có tính hăng hái, thường là người tốt, nhưng nếu không chịu nổi cảnh nghèo

Ngày đăng: 07/07/2015, 01:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Bình (1994), Quan điểm của Nho giáo về các mối quan hệ xã hội và ảnh hưởng của nó tại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Triết học, Viện triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của Nho giáo về các mối quan hệ xã hội và ảnh hưởng của nó tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Bình
Năm: 1994
2. Nguyễn Văn Bình (2000), “Quan niệm về Lễ của Nho giáo và những bài học cho chúng ta hôm nay”, Tạp chí triết học (4), tr. 46 – 49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về Lễ của Nho giáo và những bài học cho chúng ta hôm nay”, "Tạp chí triết học
Tác giả: Nguyễn Văn Bình
Năm: 2000
3. Hoàng Thị Bình (2001), “Nhân, nhân nghĩa, nhân chính trong Luận ngữ và Mạnh Tử”, Tạp chí Triết học (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân, nhân nghĩa, nhân chính trong Luận ngữ và Mạnh Tử”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Hoàng Thị Bình
Năm: 2001
5. Phan Bội Châu (1998), Khổng học đăng, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khổng học đăng
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 1998
6. Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê (2004), Đại cương triết học Trung Quốc, Tập 1, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học Trung Quốc
Tác giả: Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2004
7. Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê (2004), Đại cương triết học Trung Quốc, Tập 2, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương triết học Trung Quốc
Tác giả: Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2004
8. Doãn Chính, Trương Giới (1994), Giải thích các danh từ triết học sử Trung Quốc, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải thích các danh từ triết học sử Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính, Trương Giới
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1994
9. Doãn Chính (2000), “Quan điểm của Khổng Tử về giáo dục và đào tạo con người”, Tạp chí triết học (3), tr. 39 – 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan điểm của Khổng Tử về giáo dục và đào tạo con người”, "Tạp chí triết học
Tác giả: Doãn Chính
Năm: 2000
10. Doãn Chính (chủ biên) (2004), Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
11. Doãn Chính (2009), Từ điển triết học Trung Quốc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển triết học Trung Quốc
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
12. Đoàn Trung Còn (dịch giả) (1950), Luận ngữ, Nxb Trí Đức Tòng Thơ, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận ngữ
Tác giả: Đoàn Trung Còn (dịch giả)
Nhà XB: Nxb Trí Đức Tòng Thơ
Năm: 1950
13. Nguyễn Bá Cường (2002), Quan niệm của Khổng Tử về giáo dục, Luận văn thạc sỹ Triết học, Viện triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm của Khổng Tử về giáo dục
Tác giả: Nguyễn Bá Cường
Năm: 2002
14. Nguyễn Thị Kim Chung (2004), Quân tử - mẫu người toàn thiện trong tác phẩm Luận ngữ, Luận văn thạc sĩ triết học, Viện triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quân tử - mẫu người toàn thiện trong tác phẩm Luận ngữ
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Chung
Năm: 2004
15. Lý Quốc Chương (2001), Nho gia và nho học, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho gia và nho học
Tác giả: Lý Quốc Chương
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2001
16. Quang Đạm (1994), Nho giáo xưa và nay, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo xưa và nay
Tác giả: Quang Đạm
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1994
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 2, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
18. Lý Anh Hoa (2001), Trí Tuệ Khổng Tử, Tạ Ngọc Ái, Nguyễn Văn Nghệ, Trương Viết Chi dịch, Nxb Văn hóa – thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí Tuệ Khổng Tử
Tác giả: Lý Anh Hoa
Nhà XB: Nxb Văn hóa – thông tin
Năm: 2001
19. Trần Đình Hƣợu (2001), Các bài giảng về tư tưởng phương Đông, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bài giảng về tư tưởng phương Đông
Tác giả: Trần Đình Hƣợu
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 2001
20. Chu Hy (1998), Tứ thư tập chú, Nguyễn Đức Lân dịch và chú giải, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tứ thư tập chú
Tác giả: Chu Hy
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 1998
21. Cao Xuân Huy (1995), Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu
Tác giả: Cao Xuân Huy
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w