Duy thức học là vấn đề hết sức quan trọng trong hệ thống triết học Phật giáo vì Duy thức học nêu rõ tánh tướng nhân sinh vũ trụ, nêu rõ tính chất chỗ khởi điểm của tâm thức, những trạng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
(QUA BÁT THỨC TÂM VƯƠNG VÀ 51 HÀNH TÂM SỞ)
LuËn v¨n Th¹c sÜ chuyªn ngµnh T«n gi¸o häc
M· sè : 60.22.03.09
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Kim Oanh
HÀ NỘI – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi,
với sự hướng dẫn của PGS.TS Trần Thị Kim Oanh, có sự kế thừa một số
kết quả nghiên cứu liên quan đã được công bố Những tài liệu sử dụng trong luận văn có xuất xứ cụ thể, rõ ràng
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về Luận văn của tôi
Hà nội, tháng 9 năm 2014
Tác giả
Phạm Thế Quốc Huy
(Thích Quảng Trí)
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Trước hết và trên hết, Con xin đê đầu đảnh lễ và tri ân Sư phụ Thượng Toàn hạ Đức, Ân sư: thượng Chơn hạ Quang, Thượng Tọa thượng Nguyên hạ Hạnh đã nuôi dạy và động viên cho con trong suốt quá trình tu học !
Để hoàn thành tốt luận văn này
Thứ đến, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến các Giáo sư, PGS.Tiến sĩ khoa Triết và bộ môn Tôn giáo học đã trang bị những kiến thức và tạo mọi điều kiện cho em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt là PGS.TS Trần Thị Kim Oanh, một giáo viên dầy dạn kinh nghiệm cũng như chuyên môn đã giúp đỡ tôi hoàn tất tác phẩm này!
Cám ơn chuyên gia Duy thức học, GS Nguyễn Hồng Sơn (Giải Minh) người đã mang lại cảm hứng cho Con theo đuổi và nghiên cứu bộ môn này Cám ơn chư Huynh đệ đồng tu, Gia đình và quý Phật tử đã trợ duyên, giúp
đỡ cho Tôi trong quá trình học tập và hoàn tất luận văn này
Nguyện cầu hồng ân Tam Bảo gia hộ quý Ngài thân tâm thường lạc, pháp thể khinh an, chúng sinh dị độ, Phật sự viên thành! Kính chúc các Thầy
cô giáo, Gia đình cũng như chư Vị nhiều sức khỏe, hạnh phúc và thành công trong cuộc sống!
Hà nội, tháng 9 năm 2014
Tác giả
Phạm Thế Quốc Huy
(Thích Quảng Trí)
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 6
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: 7
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Ý nghĩa của luận văn 7
8 Kết cấu của luận văn: 7
Chương 1: KHÁI LUẬN VỀ DUY THỨC HỌC PHẬT GIÁO VÀ BÁT THỨC TÂM VƯƠNG VỚI 51 HÀNH TÂM SỞ 8
1.1 Khái luận về duy thức học Phật giáo 8
1.1.1 Một số khái niệm và sự truyền thừa 8
1.1.2 Nội dung cơ bản của Duy thức học Phật giáo 14
1.2 Bát thức Tâm vương và 51 hành Tâm sở trong Duy thức học Phật giáo 23
1.2.1 Bát thức Tâm vương 23
1.2.2 51 hành tâm sở 30
1.2.3 Vị trí của Bát thức tâm vương và 51 hành tâm sở 33
Tiểu kết chương 1 39
Chương 2: SỰ BIỂU HIỆN BIỆN CHỨNG TRONG DUY THỨC HỌC PHẬT GIÁO (QUA BÁT THỨC TÂM VƯƠNG VÀ 51 HÀNH TÂM SỞ) 40
2.1 Vai trò quyết định của Bát thức Tâm vương đối với 51 hành Tâm sở 40
2.2 Sự tác động trở lại của 51 hành Tâm sở đối với Bát thức Tâm vương 59 Tiểu kết chương 2 78
Chương 3: TÍNH NĂNG ĐỘNG VÀ SỰ KHÁC NHAU VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN GIỮA TRIẾT HỌC PHẬT GIÁO VÀ TRIẾT HỌC MÁC 79
3.1 Tính năng động của 51 hành Tâm sở 79
3.2 Phương pháp luận Duy thức học Phật giáo 84
3.3 Phương pháp luận triết học Mác 90
Tiểu kết chương 3: 97
KẾT LUẬN 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phật Thích Ca (Siddhattha, sinh vào khoảng năm 563 trước Công nguyên) – Người sáng lập ra đạo Phật ở Ấn Độ, cách đây hơn 2500 năm Kế thừa các tư tưởng truyền thống của Ấn Độ về các vấn đề triết lý cao siêu như: tư ngã (atman), bản thể tối cao (brahama), con đường giải thoát (mosha), luân hồi (samsara), nghiệp báo (korma), Trong kinh điển Vedha Upanishad, trong triết học Jaina, Lokayata Song, Ngài là người đầu tiên phủ nhận Thần Thánh, và đi tìm sự giải thoát ở ngay chính bản thân con người Ngài tránh những vấn đề quá trừu tượng và siêu hình để đi sâu vào các vấn
đề đạo đức nhân sinh
Các tư tưởng triết học của Phật Thích Ca về cơ bản là giải thích nguyên nhân của mọi nỗi khổ đau và vạch ra con đường để giải thoát chúng sinh Trong học thuyết cốt lõi “Tứ diệu đế” và “Thập nhị nhân duyên” Phật Thích Ca cho rằng, cuộc đời là một bể khổ vô tận, nỗi khổ đó nằm ngay trong con người Vì không nhận thức được sự biến đổi vô thường, vô định của vạn vật theo luật nhân quả, không nhận thức được “cái tôi” có mà không, nên người ta ngộ nhận rằng cái gì cũng thường định, cái gì cũng của ta, do ta
Do vậy, con người cứ khát ái, dục vọng Để thỏa mãn lòng tham, sân, si, người ta phải cố hành động để chiếm đoạt và gây nên những nghiệp báo, do
đó mắc vào bể khổ, đuổi theo cái ảo ảnh triền miên không dứt, chịu kiếp luân hồi trong tam giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới) và lục đạo (Thiên, nhân, Atula, địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh)
Con đường giải thoát nỗi khổ là phải phá bỏ được sự mê muội, dứt bỏ được sự ngộ nhận do vô minh để đạt tới sự gác ngộ của bản ngã Trong 49 năm thuyết giảng, Phật Thích Ca đều kêu gọi và gợi nên bản chất thánh thiện, từ bi, hỉ xả, của con người Ngài coi giải thoát là cứu cánh, là động lực duy nhất để nhận thức được chính mình và nhờ đó mà giải thoát được nỗi trầm luân; đồng thời còn tin rằng, ngay cả thánh thần cũng không thể chuyển bại thành thắng đối với một người đã chiến thắng bản thân mình
Trang 7Tiếp nối Phật Thích Ca, các vị Long Thọ Bồ Tát (Nagariuma) và Thế Thân Bồ Tát (Vasubandhu) đã góp phần hoàn thiện hệ thống triết lý Phật giáo
Thế nhưng triết lý Phật giáo có tiêu cực và bi quan không? Từ đó đến nay đã có bao học giả nghiên cứu về vấn đề này nhưng đều lý giải rất khác nhau Sở dĩ có tình trạng đánh giá khác nhau như vậy, vì văn bản Phậtt giáo
và bản chất hệ thống triết học của Phật giáo chưa được nghiên cứu thật đầy
đủ và thật khách quan như các hệ thống triết học khác Nhiều công trình nghiên cứu bộc lộ khuynh hướng chủ quan, hoặc luận chiến, hoặc chống đối Phật giáo, hoặc biện hộ… thậm chí có cả các công trình phủ nhận lịch sử thực của giáo điều và triết học Phật giáo
Chỉ khi 3 bộ phận hợp thành triết học Phật giáo (bản thể luận, nhận thức luận và giải thoát luận) được nghiên cứu đầy đủ rõ ràng thì sẽ không còn những phán xét không thật khách quan Hay nói khác, chỉ khi lịch sử phát triển của tư duy triết học Phật giáo được nghiên cứu một cách đầy đủ, rõ ràng cả những thành tựu và khiếm khuyết thì khi đó Phật giáo mới giành được vị trí của mình bên cạnh những hệ thống khác trong lịch sử tôn giáo và triết học
Duy thức học là vấn đề hết sức quan trọng trong hệ thống triết học Phật giáo vì Duy thức học nêu rõ tánh tướng nhân sinh vũ trụ, nêu rõ tính chất chỗ khởi điểm của tâm thức, những trạng thái, tư tưởng, tình cảm, hành động của con người, giải thích đầy đủ mối quan hệ giữa con người và các sự kiện xung quanh cũng như muôn vật trong vũ trụ, xuất phát từ tâm thức mà đều có ra Nói về tâm thức là nói về tính chất đặc thù của mối quan hệ biện chứng giữa "Tâm vương" và "Tâm sở" Vì thế, Duy thức học Phật giáo được nghiên cứu chi tiết sẽ làm phong phú và bổ sung những vấn đề cơ bản then chốt cho triết học Phật giáo nói riêng, triết học Ấn Độ nói chung Tuy nhiên vấn đề này trước kia cũng như hiện nay còn ít học giả lưu ý tới và chưa được tiến hành nghiên cứu một cách đồng bộ Bởi vậy, chúng tôi tập trung nghiên cứu vấn đề này với đề tài: "Quan niệm biện chứng trong Duy thức học Phật giáo (Qua Bát thức Tâm vương và 51 hành Tâm sở)", nhằm đem lại phần
Trang 8nào những giá trị đích thực của nhận thức Phật giáo trong hệ thống triết học Phật giáo Và chính những nghiên cứu này sẽ là những biện giải để chúng ta nhìn rõ hơn về vị thế và vai trò của triết học Phật giáo trong thời đại mới có tính nền tảng trong khoa học, triết học
2 Tình hình nghiên cứu
Duy thức học không những đóng vai trò quan trọng trong hệ thống triết học Phật giáo mà còn góp phần làm sáng tỏ tư duy biện chứng trong quá trình nhận thức thế giới Bởi thông thường chúng ta thường nghe nói: "Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức" nhưng giữa Tâm và Thức có khác nhau không? Khác nhau ở chỗ nào? Sao gọi là Tâm? Sao gọi là Thức? Chính vì vậy, vấn đề này luôn thu hút được sự chú ý của nhiều học giả thuộc các lĩnh vực khác nhau như: lịch sử, triết học, tôn giáo học, tâm lý học, văn hóa học, Tuy nhiên trong luận văn này, các tác phẩm tiếp cận dưới góc độ lịch
sử, triết học, tôn giáo học sẽ được chú ý Căn cứ vào nội dung của các công trình nghiên cứu có thể chia thành các chủ đề sau:
- Các tác phẩm kinh điển Phật giáo
- Các công trình nghiên cứu về lịch sử, giáo lý Phật giáo
- Các công trình nghiên cứu về triết học Phật giáo
- Các công trình nghiên cứu về Duy thức học
Trong chủ đề thứ nhất, các tác phẩm kinh điển liên quan đến việc nghiên cứu luận văn là:
Kinh Lăng Già (1995)
Kinh Hoa Nghiêm (1966)
Kinh Lăng Nghiêm (1999)
Bách Pháp Minh Môn (2002)
Duy thức Nhị Thập Tụng (2002)
Duy thức Tam Thập Tụng (2002)
Bát thức Quy củ tụng (2002)
Trang 9Đây là những bộ kinh cơ sở then chốt của việc nghiên cứu Duy thức học, đặc biệt về mối quan hệ biện chứng của Bát thức tâm vương và Hành Tâm sở
* Trong chủ đề thứ hai, ở khía cạnh nghiên cứu về lịch sử, giáo lý Phật
giáo từ thời kỳ hình thành cho đến sự hoàn thiện là: "Đại cương lịch sử triết học Phương Đông cổ đại" (2003) của Doãn Chính (Chủ biên), "Lịch sử Phật giáo Việt Nam" (1989) của Nguyễn Tài Thư (chủ biên), "Việt Nam Phật giáo
sử luận (3 tập)" (2008) của Nguyễn Lang, "Lịch sử Phật giáo Việt Nam" (2001) của Lê Mạnh Thát (2 tập), "Tư tưởng Phật giáo Việt Nam" (1999) của
Nguyễn Duy Hinh Các công trình nghiên cứu này không chỉ đề cập về mặt
sử học Phật giáo mà còn đề cập đến những vấn đề triết học Phật giáo như:
Vô tạo giả, vô thường, vô ngã, nhân quả tương tụ, Tứ diệu đế, chân lý cho
sự giải thoát nỗi khổ Bởi vậy con người hành đạo pháp dù Đại thừa hay Tiểu thừa, đều sống một cuộc đời vượt ra khỏi Thất tình, Lục dục Hơn nữa các tác giả của các công trình này đều có những nhận định về thế giới quan, nhân sinh quan Phật giáo trên một số phương diện như: bản thể luận, nhận thức luận và giải thoát luận
Các công trình nghiên cứu về triết học Phật giáo đó là: các công trình
nghiên cứu như: "Triết học Ấn Độ một cách tiếp cận mới" (2006) của Henrich Zimnrer, "Triết học và tôn giáo Phương Đông" (2006) của tác giả Diane Morgan, "Triết học Phật giáo Việt Nam" (2006) của PGS Nguyễn Duy Hinh, "Nhận thức Phật giáo" (2007) của tác giả Tịnh Không Pháp Sư, "Vô ngã là Niết Bàn" (1990) của Thích Thiện Siêu, "Phật giáo và những vấn đề triết học" (2007) của Nguyễn Hùng Hậu và Ngô Văn Doanh (chủ biên), "Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam (tập 1)" (2002) của Nguyễn Hùng Hậu,
"Vai trò triết học trong giáo dục Phật giáo" (2012) của Hoàng Thị Thơ Các
công trình này, theo chúng tôi là sự phân tích tổng hợp, đã khái quát những nội dung cơ bản liên quan đến lĩnh vực: Triết học Phật giáo là một hệ thống triết lý vừa mang tính chất triết học, vừa mang đậm màu sắc tôn giáo Cũng như các hệ thống triết học khác, Phật giáo cũng bàn đến các vấn đề bản thể luận, nhận thức luận, đạo đức nhân sinh, nhưng mục đích của hệ thống lý
Trang 10luận đó không phải là tri thức về thế giới và con người mà nhằm củng cố, làm bền vững hơn niềm tin con người vào trạng thái tuyệt đối siêu nhiên Tuy triết học Phật giáo không bàn đến vấn đề cơ bản của triết học thông thường: mối quan hệ giữa tồn tại và tư duy, vật chất và ý thức, mà xây dựng vấn đề cơ bản của mình ở bình diện khác, vượt khỏi phạm vi đối tượng nghiên cứu của Triết học: mối quan hệ giữa tồn tại và không tồn tại (hư không) Chính vì lẽ đó mà điểm đáng chú ý là: quá trình nhận thức của Phật giáo như thế nào? Nó bắt nguồn từ đâu? Tác động đến thế giới muôn vật như thế nào? Đều được lý giải ít nhiều trong các công trình trên Hay nói khác, các công trình này đã phân tích và làm sáng tỏ một số vấn đề trong sự biện chứng của Duy thức học Phật giáo nói chung, sự tác động qua lại của Tâm vương và Tâm sở nói riêng
* Liên quan trực tiếp đến nghiên cứu về Duy thức học Phật giáo có các công trình tiêu biểu sau:
"Duy thức học" (1992) của Hòa thượng Thích Thiện Hoa, đây là cuốn
giáo trình Phật học với tổng số 420 trang, tác giả đã trình bày những nét cơ bản về Duy thức học Phật giáo và tác giả cũng chỉ ra những khó khăn khi
nghiên cứu về Duy thức học, "Duy thức học yếu luận" (2000) của Hòa
thượng Thích Từ Thông, cuốn sách này tác giả chỉ rõ cho người đọc hiểu được Duy thức học là sự nghiên cứu, tìm hiểu nguyên ủy của hiện tượng vạn pháp để xác lập một luận cứ, Duy thức học là phương tiện chỉ nam hướng dẫn phương pháp nhận thức về mặt cụ thể của vạn pháp và khái niệm tư duy bên mặt trừu tượng
"Duy thức học cương yếu" (1995) của Hòa thượng Thích Thiền Tâm,
"Khảo nghiệm Duy thức học - tâm lý học thực nghiệm" (1998) của Hòa thượng Thích Thắng Hoan, "Duy thức học" của Tuệ Quang, Đại sư Thái Hư (2009 - Thích Tâm Hoan dịch), tác phẩm "Khái luận về Pháp tướng duy thức học, Duy thức tam thập tụng lược giải" (2005) của Thích Trí Châu
Các công trình nghiên cứu trên đây đều đã khái lược toàn diện được những vấn đề cơ bản của Duy thức học Phật giáo dưới nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau
Trang 11Bàn về Duy thức học thì không thể bỏ qua tác giả Giải Minh, người đã dày công viết và dịch rất nhiều tác phẩm nghiên cứu về Duy thức học, các
công trình tiêu biểu như: "Thuật ngữ Duy thức học" (2011) - là cuốn sách
hướng dẫn chỉ rõ những yếu lý sâu sắc về các thuật ngữ trong các tác phẩm
Duy thức học Với cuốn "Duy thức Triết học" (2012), ông khẳng định: Tâm
thức của con người chi phối mọi vật (Pháp), còn ngoại cảnh chỉ là thứ yếu,
do sự phân biệt của tâm thức mà hình thành cảnh, vui, buồn, lớn, nhỏ, tốt,
làm đề tài nghiên cứu của luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận Mác-xít, luận văn tìm
hiểu về quan niệm biện chứng trong Duy thức học Phật giáo, cụ thể qua Bát thức Tâm vương và 51 hành Tâm sở
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục đích trên, luận văn có
nhiệm vụ:
Thứ nhất: Luận văn khái luận về Duy thức học Phật giáo và Bát thức
Tâm vương, cùng 51 hànhTâm sở
Thứ hai, Phân tích về quan niệm biện chứng trong Duy thức học Phật
giáo thể hiện trong sự tác động qua lại giữa Bát thức Tâm vương và 51 hành Tâm sở
Thứ ba, Trên cơ sở đã phân tích ở trên, luận văn đưa ra ý nghĩa mang
tính phương pháp luận của sự biện chứng trong Duy thức học Phật giáo được thể hiện qua Bát thức Tâm vương và 51 hành Tâm sở
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Sự biện chứng trong Duy thức học Phật giáo
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Sự biện chứng trong Duy thức học Phật
giáo, chủ yếu là Đại Thừa thể hiện qua mối quan hệ Bát thức Tâm vương và
51 hành Tâm sở
Trang 125 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
5.1 Cơ sở lý luận: Luận văn nghiên cứu trên cơ sở vận dụng quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
Luận văn có kế thừa thành quả của các công trình đã nghiên cứu trong
và ngoài nước về Duy thức học Phật giáo
5.2 Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng hệ thống phương
pháp của Tôn giáo học, kinh điển và chủ nghĩa duy vật biện chứng, phương pháp thống nhất giữa lôgic và lịch sử, phân tích và khái quát, đối chiếu và so sánh
6 Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở phân tích sự biện chứng trong Duy thức học Phật giáo, luận văn đã luận giải một số vấn đề về Duy thức học Phật giáo mà cụ thể là vai trò, sự tác động qua lại của Bát thức Tâm vương và 51 hành Tâm sở trong quá trình nhận thức của con người theo quan niệm Phật giáo Thông qua đó, luận văn cũng đã chỉ ra những giá trị có ý nghĩa phương pháp luận trong Duy thức học Phật giáo
7 Ý nghĩa của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn phân tích những nội dung cơ bản của duy
thức học Phật giáo và chỉ ra tư tưởng biện chứng của nó thông qua Bát thức Tâm vương và 51 hành Tâm sở, qua đây thấy rõ những giá trị khoa học của Duy thức học Phật giáo nói riêng và triết học Phật giáo nói chung trong hệ thống triết học xã hội
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác
nghiên cứu và giảng dạy về tôn giáo học về Phật giáo và các ngành khoa học liên quan
8 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục,
nội dung chính của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 13Chương 1:
KHÁI LUẬN VỀ DUY THỨC HỌC PHẬT GIÁO VÀ BÁT THỨC
TÂM VƯƠNG VỚI 51 HÀNH TÂM SỞ
1.1 Khái luận về duy thức học Phật giáo
1.1.1 Một số khái niệm và sự truyền thừa
Duy thức nguyên tiếng Phạn ở Ấn Độ gọi là Vijmana matravada Vijmana là nhận thức, matravada là duy; nhưng theo phép đặt chữ của Hán văn, người ta phải sắp đảo lại thành Duy thức “Duy thức là một pháp môn tối yếu, tối thắng nghĩa của Phật tự tìm ra để chứng quả vô thượng chính đẳng chính giác Bởi lẽ, không có nhận thức ắt không có trí tuệ thì sẽ không thể tìm hiểu được bản thể của vũ trụ, căn nguyên của sự đau khổ về luân hồi sinh
tử, để tinh tiến tu trì, phát đại hùng đại lực tiến tới đại viên tính trí, thân chứng tâm trí tuệ Đại quang minh mà thành Phật đạo”[4;94-109]
Thông thường người ta hay nói: "Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”, nhưng thực ra thì Tâm và Thức chỉ là một và có khi gọi là “Tâm thức” Tâm chỉ cho sự tĩnh lặng, thanh tịnh, sự bất động, nên gọi là Tâm Thức chỉ cho sự phân biệt, nhận thức hiện tượng, sự vật, chính vì đó mà có
ra mọi hình thái trong vũ trụ, tức là các pháp trong vũ trụ mà các pháp ấy chỉ
là "giả danh, giả tướng”, do hư vọng phân biệt mà có ra, nên gọi là Thức Từ
sự phân biệt, nhận thức mọi hiện tượng, sự vật trong vũ trụ, nên gọi là "Minh liễu phân biệt”
Sở dĩ gọi là “Duy thức" chứ không gọi là “Tâm thức” là vì chữ “Duy” tức là duy nhất, chỉ có một, muốn nói ngoài "Thức" ra không có một vật nào tồn tại, hay nói một cách khác tất cả muôn sự muôn vật, từ thức biến hiện ra
mà có, nên gọi là "Duy thức"
Duy thức học bắt nguồn từ thời đức Phật, Ngài đã diễn giải qua các Kinh như: Lăng Già, Hoa Nghiêm, Giải Thâm Mật Sau khi đức Phật nhập Niết Bàn khoảng 900 năm - 1000 năm, có các Tôn Đức: Di Lặc Bồ Tát,Vô Trước, Thế Thân đã đúc kết hệ thống hóa lời của đức Phật qua các kinh, hình thành Duy thức học, tạo nên một "Tông", gọi là “Pháp tướng Tông”.Từ đó, Duy thức học được phát triển mạnh mẽ
Trang 14Giáo lý của Phật có đến tám vạn bốn ngàn (84.000) pháp môn tu tập, được chia ra làm mười tông, chung quy chỉ có hai loại: Pháp tính và Pháp tướng Duy thức tông thuộc về Pháp tướng Nghiên cứu, phân tích, tìm hiểu Duy thức tông gọi là Duy thức học
Khởi điểm thuyết minh về “Duy thức học” người đầu tiên là ngài Di Lặc Bồ Tát, Ngài đã ứng hóa thỉnh giảng nơi giảng đường Du Gìa Na tại miền trung Ấn Độ, thuyết bộ Du Gìa Sư Địa Luận Bồ Tát Vô Trước, Thế Thân tiếp thu chuyển thành lời văn 100 quyển Chính vì thế, có thể nói ngài
Di Lặc Bồ Tát được xem là Thủy tổ của Duy thức học, hay còn gọi ngài là
“Tông” của “Pháp tướng Duy thức học” Chính vì thế mà về mặt hệ thống hóa từ lập thành, triển khai và hưng thịnh thì phải khẳng định rằng : Di Lặc
Bồ Tát, Vô Trước, Thế Thân là những vị Tổ sư danh tiếng đương thời đã truyền thừa Pháp tướng Duy thức học thời đức Phật cho đến sau này, rồi từ
đó truyền bá khắp nơi, là những vị có công lao to lớn nhất lúc bấy giờ
Về phương diện lịch sử, tư tưởng, văn học bắt nguồn từ Tông Du Gìa (yogacàra) được hình thành, y cứ nơi tư tưởng giáo nghĩa bộ Du Gìa Sư Địa luận (yoga- càra-bhami) vào cuối thế kỷ IV đến đầu thế kỷ V do Di Lặc Bồ Tát thuyết giảng Ngài Vô Trước, Thế Thân tiếp thu và chuyển thành lời văn
100 quyển
Bào đệ của ngài Vô Trước là ngài Thế Thân trước kia tu theo phái Tiểu thừa, sau được sự cảm hóa của ngài Vô Trước, ngài chuyển sang Đại thừa, ngài phát huy những yếu lý then chốt về Duy thức, đồng thời truyền bá sâu rộng khắp nơi Từ đó, được hình thành Pháp tướng tông hay còn gọi là Pháp tướng Duy thức học, thay thế cho Tông Du Gìa đã được hình thành từ trước và kế tiếp là Bồ Tát Luận Sư Vô Trước, Bồ Tát Thế Thân, từ đó các ngài Trần Na Bồ Tát, Hộ Pháp, Giới Hiền đã hoàn thiện Duy thức Pháp tướng tông một cách hoàn bị, vững chắc Sau đó lần lượt các Luận sư phổ biến sâu rộng về Duy thức học, nêu rõ tất cả nhân sinh vũ trụ trong thế gian
và ngoài thế gian đều từ Tâm thức mà hiện hữu, ngoài ra không một pháp nào tồn tại Riêng về ngài Thế Thân là bào đệ của ngài Vô Trước, sơ khởi xuất gia tu theo môn phái Tiểu thừa, ngài đã mang hết khả năng đề cao ca tụng và viết ra 500 bộ luận để ca tụng giáo pháp Tiểu thừa Sau khi quy hướng về Đại thừa, ngài đã chú tâm tu tập và viết nên 500 bộ luận, tán dương
Trang 15giáo lý uyên thâm của Đại thừa, vì thế mà Thế ngài Thân được gọi là ngài Thiên Bộ Luận Sư, ngài đã viết nhiều bộ luận có giá trị, thuộc các bộ luận nổi bậc nhất, có bộ "Duy thức Tam Thập Tụng" bộ này được 10 Luận sư1
Thích Nghĩa giải thích sâu rộng Qua đó thấy được tính chất thù thắng từ hiện tượng đến bản thể, tâm lý, vật lý, đạo đức cho đến quả vị tu chứng qua
bộ Duy thức Tam thập tụng
Cho nên, Theo Đại sư Thái Hư, trong “Khái luận về Pháp tướng Duy thức học” do Hòa thượng Thích Tâm Hoan dịch, cho rằng: “Pháp tướng Duy thức học trong Phật học có chỗ gọi là Pháp tướng học và cũng có chỗ gọi là Duy thức học Nội dung của hai danh xưng này hợp lại với nhau nên được gọi chung là Pháp tướng Duy thức học”[40;2] Duy thức là cách nói ngắn gọn, gọi đầy đủ là Pháp tướng Duy thức học, là nói về các "Pháp" ( bao gồm
cả nhân sinh và vũ trụ) chỉ do "Thức" mà ra
Pháp tướng là hình tướng của các pháp, theo định nghĩa trong Thành Duy thức luận về pháp tướng: "Nhậm trì tự tính, quỹ sinh vật giải” Tức là giữ được tự tính của các pháp, nhìn vào hình tướng ta có thể hiểu được đó là
"Pháp" gì Ngoài ra “Pháp” còn có nghĩa bao hàm mọi vật, cụ thể hay trừu tượng, khi nhìn vào ta có thể có một khái niệm về vật ấy, đều gọi là "Pháp"
“Pháp” theo thuật ngữ Duy thức học thì chữ "Pháp”, là chỉ cho những vật mang một đặc tính rõ ràng, cụ thể, không thể nhầm lẫn giữa vật này với vật khác, mỗi pháp mang một khuôn khổ riêng biệt Chính "Pháp" ấy nó có thể làm phát sinh trong trí óc một khái niệm rõ ràng (quỹ sinh vật giải)
"Pháp chỉ chung cho tất cả những hiện tượng sự vật cụ thể hay trừu tượng có
tự tính, có bản chất riêng biệt làm căn cứ, khuôn mẫu khiến người ta nhìn vào là có thể nhận thức và giải thích được" [48;281]
Trong thuật ngữ Phật học, “Pháp” phiên là Đạt - ma, Đàm - ma, Đàm -
vô, là khái niệm chỉ mọi sự vật, hiện tượng từ vật chất đến tinh thần, từ hữu hình đến vô hình, từ cực đại đến cực tiểu, từ cái có thể nghe, thấy, ngửi, biết, cảm nhận cho đến cái chỉ tồn tại trong tưởng tượng; từ cái phàm tục đến thánh thiện, từ hữu vi đến vô vi: "Từ chỉ chung hết thảy mọi sự vật hiện tượng dù là to nhỏ hữu hình , vô hình, chân thực, hư vọng Sự vật cũng là
1
Hộ Pháp, Đức Huệ, An Huệ, Thân Thắng, Nam Đà, Tịnh Nguyện, Hỏa Biện, Thắng Hữu, Thắng Tử, Trí Nguyệt
Trang 16vật, đạo lý cũng là vật, tất thảy đều là pháp cả Duy thức luận giải thích hai ý nghĩa của pháp: "Tự thể nhậm trì và quỹ sinh vật giải""[21;957]
Triết học Phật giáo cho rằng, Pháp là căn nguyên của thế giới Thế giới luôn luôn tồn tại “vạn pháp” hay “hằng hà sa số” các pháp Pháp là danh từ gốc tiếng Phạn – Dharma nguyên nghĩa là vật mang, được dùng để chỉ tất cả các sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất từ cái “bé như hạt bụi” đến cái “lớn như quả núi” Theo từng văn cảnh, Phật giáo chia làm các loại Pháp như:
- Pháp hữu vi: là những sự vật hiện tượng mà các giác quan có thể nhận thức, cảm giác được
- Pháp vô vi: là những sự vật hiện tượng mà các giác quan không nhận thức, cảm giác được
- Pháp hữu tình: là những sự vật có sự sống
- Pháp vô tình: là những sự vật vô tri, vô giác
- Pháp thiện: là những pháp thúc đẩy sự giải thoát,
- Pháp ác: là những pháp cản trở sự giải thoát
“Vạn pháp” trong vũ trụ chính là các sự vật hiện tượng tạo nên thế giới Các sự vật, hiện tượng, các pháp trong vũ trụ không đứng yên mà luôn luôn chuyển động không ngừng nghỉ, các pháp bị chi phối bởi luật “vô thường”(Anicca) Trong kinh Pháp Cú Thí Dụ có lời nói kệ của đức Thế Tôn:
Sở hành phi thường
Vị hưng suy pháp (Các hành đều vô thường
Đó là pháp thịnh suy)[12;2]
"Vô thường” là lý thuyết chỉ sự vận động, biến đổi của các pháp trong thế giới và chi phối bởi giáo lý nhân duyên Phật giáo quan niệm, nhân là mầm tạo quả, duyên là phương tiện, điều kiện các sự vật hiện tượng (các pháp) trong vũ trụ do nhân duyên mà thành nhân duyên hòa hợp thì các pháp sinh, nhân duyên tan rã các pháp diệt Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm có viết:
"Chư pháp trùng duyên sinh Diệc trùng nhân duyên diệt (Các pháp do nhân duyên sinh Cũng từ nhân duyên diệt)[35;104]
Trang 17Hay trong Kinh Lăng Già Tâm Ấn cũng viết:
"Xa lìa các nhơn duyên Chỉ có vi tâm trụ
Thân kia tùy chuyển biến Cũng lìa tất cả sự
Tưởng sở tưởng đều lìa
Ta nói là vô sanh" [14;460]
Tuy nhiên, các pháp không phải do một nhân duyên mà có nhiều nhân duyên Do đó, các pháp quan hệ mật thiết với nhau, tác động chi phối lẫn nhau Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm có viết:
Một thế giới để vào tất cả Tất cả thế giới để vào một [15;8]
Trong nhận thức các pháp, Phật giáo còn đưa ra thuyết "Sắc – Không" Sắc là danh từ Phật học chỉ sự vật, hiện tượng ở trạng thái có hình tướng trong không gian mà con người nhận biết được, còn gọi là "Có" "Không" là chỉ sự vật, hiện tượng ở trạng thái không có hình tướng mà con người không nhận biết được Theo lý thuyết "Sắc – Không", thế giới luôn chuyển động, biến đổi nên không phải khi sự vật tồn tại ở trạng thái có hình tướng mới gọi
là Sắc, mới là Có; ở trạng thái không (diệt) mới là Không Thực tướng, cái gọi là Không đã là có và cũng là Có; cái gọi là Có đã là không và cũng là Không Trong cái "có" có cái "không", trong cái "không" có cái "có" Sắc tức nhị Không, Không tức nhị Sắc, có đấy mà không đấy, không đấy mà có đấy Sắc, Không là hai dạng tồn tại của thế giới vạn pháp Kinh Thủ Lăng Nghiêm viết: "Nhược phục sắc trần sinh nhãn kiến giả, quán không phi sắc, kiến tức tiêu vong Vong tắc đô vô, thùy minh không sắc? Có nghĩa: Lại nữa nếu sắc trần sinh ra cái thấy Khi thấy hư không chẳng có sắc tướng, thì cái thấy liền bị tiêu mất Tiêu rồi thì tất cả đều không, còn ai để rõ được không
và sắc tướng" [37;54] Vì thế mà "Tướng" tức là chỉ hình tướng của sự kiện,
sự vật hay tướng trạng của một pháp, nó tiêu biểu hay biểu hiện ở bên ngoài
mà người ta có thể nhìn thấy hay rờ mó và có thể tưởng tượng hình dung nó
ở trong trí Từ điển Phật học có viết: "Tướng là hình tướng, tướng trạng của
sự vật, biểu hiện ở bên ngoài và tưởng tượng ở trong lòng"[21;1480] Trong Kinh Phật thuyết cũng nói: "Thế tôn, Bồ - tát - Ma - ha - tát đối với Bát nhã
Trang 18Ba - la - mật, quán tưởng như vậy rồi, đối với sắc, thụ, tưởng, hành, thức không có cái được nhận, không có cái được sinh, không có cái bị diệt, cho đến tất cả các pháp, tất cả tướng cũng như vậy Vì sao? Nếu sắc, thụ, tưởng, hành, thức vô sinh, vô diệt tức không phải sắc, thụ, tưởng, hành, thức Sắc, thụ, tưởng, hành, thức này cũng vô sinh, vô diệt, không hai, không khác Nên nói sắc, thụ, tưởng, hành, thức tức là hai pháp vô sinh, vô diệt"[50 ;42]
Còn Thể tướng: Là những tướng trạng có thể chất là một thực thể, là đối tượng của Tiền ngũ thức: Nhãn, Nhĩ, Tị, Thiệt, Thân, biểu hiện trong thức thứ sáu là Ý thức và thức thứ bảy lấy Đệ lục ý thức làm Căn Hình tướng là có thật thể, kích thích khả năng cảm giác ví như âm thanh có thể nghe, mùi vị có thể ngửi "Cảm giác của Ý thức và năm thức trước hợp tác cũng có thể gọi là chữ "Tướng" của thể tướng, vì trong thể tướng có thêm nghĩa tương ứng của ý thức Chỗ hiểu biết của thức thứ tám (Alaya thức) là chữ tướng của thể tướng, lý do chỗ hiểu biết thức thứ tám cũng có thực thể" [40;5]
Và Mạo tướng: là chỉ cho tất cả hình sắc, diện mạo bên ngoài những
sự vật, mà chúng ta có thể thấy hoặc tiếp xúc, thu nhận hằng ngày, có sự phân biệt của Đệ lục Ý thức Theo Thành Duy thức luận thì Mạo tướng gồm
có ba dạng: Hiển sắc, Hình sắc, Biểu sắc Theo Đại sư Thái Hư thì: "Sắc Trần là do nhãn thức và ý thức cùng nhau hiểu biết Còn Hiển sắc (màu sắc của sự vật, hiện tượng: xanh, đỏ, tím, vàng ) và Hình sắc (hình dạng sự vật, hiện tượng: chiều dài, ngắn, vuông, tròn ) cho đến Biểu sắc (hoạt động của
sự vật, hiện tượng: đi, đứng, co lại ) đều hoàn toàn do ý thức" [40 ; 4]
Nghĩa tướng: là những tướng trạng không phải là đối tượng của tiền ngũ thức, mà chỉ dành cho nhận thức của Đệ lục ý thức: suy nghiệm, phán đoán, nhận thức, nó hoạt động độc lập, không cùng với tiền ngũ thức, nó là đối tượng của Đệ lục và Đệ nhất, Đệ bát: "Nghĩa tướng là hình tướng của ý thức thứ sáu và ý căn thứ bảy cùng nhau nhận thức Ma na thức thứ bảy nhận thức hình tướng tự ngã trong kín đáo, không thể hiểu biết" [40;4]
Bởi vậy, "Pháp tướng" hay "Pháp" là từ chỉ chung cho mọi sự kiện, sự vật trong vũ trụ, mọi hoạt động trong đời sống, dù lớn hay bé, tốt hay xấu, hữu hình hay vô hình, chân thật hay hư vọng, giả tướng hay giả danh, tất cả đều là Pháp hay một pháp Nên chữ "Pháp" bao hàm phạm vi rất rộng lớn
Trang 19Cái có của sự vật khả dĩ gọi là "Pháp" và cái "Không" của sự vật, mặc dù chỉ
là khái niệm về "Không", cũng có thể là "Pháp" Sắc bất dị không, không bất
dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc Chính lẽ đó mà hình tướng hay pháp tướng các pháp đều thể hiện ở các yếu tố Nên tất cả mọi sự vật trong
vũ trụ dù có muôn hình vạn trạng, hoặc những tính trạng mang tính chất trừu tượng thì đều là những đối tượng của tâm thức, và được gọi là "Pháp"
Qua luận bàn như vậy, cho thấy sự ra đời của Duy thức học gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của Phật giáo Ấn Độ và Trung Quốc, gắn với vai trò của Phật Thích Ca và các đệ tử của Ngài Từ đó, Pháp tướng Duy thức tông dần dần phát triển sâu rộng và lan ra các xứ cận đông như Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ
Khi ngài Huyền Trang từ Trung hoa đến Tây Trúc(Ấn Độ) tham học tiếp thu những giáo lý Đại thừa, nhất là trực tiếp với Ngài Giới Hiền và các Luận sư danh tiếng Sau 17 năm du học, ngài trở về Trung Hoa mang theo các bộ: Kinh, Luận Trong đó có các bộ Luận về Pháp tướng và ngài mở ra phong trào dịch thuật kinh điển từ chữ Phạn ra chữ Hán, chú ý nhiều đến bộ môn Pháp tướng Duy thức học, tiêu biểu như:
Duy thức Tam Thập Tụng
Duy thức Thập Nhị Tụng
Đồng thời ngài thu nhặt tổng hợp các yếu lý tinh hoa trong bộ Duy thức Tam Thập Tụng và những lời chú giải Duy thức Tam Thập Tụng của 10 luận sư trước tác ra bộ “Thành Duy thức luận” là một bộ phận giải thích giáo nghĩa yếu lý của Duy thức Tam thập tụng Sau đó Sư phụ của ngài là Đại sư Khuynh Cơ, Huệ Chiếu phổ biến truyền bá tư tưởng Pháp tướng Duy thức học ngày càng thịnh hành đánh dấu sự thành công của pháp tướng Duy thức học là 1 Tông trong 10 Tông phái Phật giáo tại Trung Quốc thời xưa
1.1.2 Nội dung cơ bản của Duy thức học Phật giáo
Như trên đã nói "Thức" là bản thể của tâm, ngoài sự biến hiện của Thức, không có bất cứ một vật gì thật sự tồn tại, nên gọi là Duy thức học Nghĩa là các hiện tượng của tâm, vật bên ngoài đều do Kiến phần và Tướng phần (chủ quan và khách quan) của tự thể tâm thức biến hiện ra, sự biến hiện của Thức, có thể được chia ra làm hai loại: 1) Nhân năng biến, cũng gọi là Năng biến Tất cả các pháp tồn tại, đều từ hạt giống (chủng tử) trong thức
Trang 20Alaya biến hiện ra; 2) Quả năng biến, cũng gọi là Quả biến, Duyên biến là kết quả của Nhân biến, là do sự phân biệt chủ quan, khách quan của Tâm thức, nhắm vào tác dụng đối tượng Do vậy, nội dung chủ yếu của Duy thức học là các pháp hiện hữu đều do Tâm thức biến hiện và các Pháp ấy không thật thể, thật dụng, nó chỉ là giả thể, giả dụng, giả danh Nó được tồn tại theo
lý duyên khởi, tức là do duyên sinh, các duyên phối hợp mà có, các duyên tan rã nó trở về "không", nhưng vì do hư vọng ta chấp nó như "thật thể thực dụng" Nhưng con người thì bất cứ lúc nào cũng cho nó là thật có, vì các hiện tượng đang diễn ra trước mắt, mà không biết nó chỉ là "giả có" mà thôi
Vì thế giới chỉ hiện hữu trong thức, còn bản thân thế giới ngoại tại thì không hiện hữu nhưng nội thức phát hiện giả tướng của nó như là thế giới ngoại tại Kinh Thủ Lăng Nghiêm viết: "Tuần nghiệp phát hiện, thế gian vô tri, hoặc vi nhân duyên, cập tự nhiên tánh, giai thị tức tâm phân biệt kế đạt Đãn hữu
ngôn thuyết, đô vô thật nghĩa Theo nghiệp mà biến hiện ra các cảnh giới hiện hữu Thế gian không biết, lầm cho là tánh nhân duyên và tự nhiên Tất
cả đều là do thức tâm phân biệt suy lường Chỉ là lời nói, hoàn toàn không
có nghĩa chân thật"[37;239] Nhận thức được điều này là do bản thân con
người không thể tìm đâu ra một cái "Ngã" hay pháp chân thực nào cả Điều
mà con người luôn cho là chân thực chẳng phải là chân thực; mà chỉ là một biểu lộ ngoại tại của cái thực Toàn thể thế giới do đó là tạo nên do ảo tưởng hay do nhân duyên, và không có thực tại thường tồn nào cả Duy thức học quan niệm "Vạn vật duy thức", tức mọi hiện tượng khách quan (tức tồn tại, thế giới) đều do ý thức chủ quan con người mà có, chứ không phải thực sự tồn tại độc lập với chủ quan con người Kinh Hoa Nghiêm viết: "Tất cả những pháp rộng lớn kia
Vì lợi chúng sinh nên khai diễn
Tại sao Phật - nhãn là vô - lượng
Nhĩ, tỷ, thiệt, thân cũng như vậy"[71;273]
Như vậy sự tồn tại của các vật ở thế giới này theo Duy thức học Phật giáo là do các thức (Nhãn , Nhĩ, Tị, Thiệt, Thân, Ý, Mạt na, Alaya thức) chuyển động biến hóa, vì thế mà phân biệt thành những biểu tượng ảo của đối tượng vào trong chủ quan của con người, do đó Nó (chỉ tồn tại) đều là không, mọi cái đều do Thức mà có
Trang 21Cho nên, nói về nội dung Duy thức học thì không thể bỏ qua nội dung
nó chỉ là "giả ngã, giả pháp"
3) Các hiện tượng trong vũ trụ, đều do Tâm thức biến hiện, ngoài Ý thức ra không một Pháp nào tồn tại, do mê tính hư vọng ta chấp chặt rồi đặt cho nó một cái tên, tên ấy chỉ là giả danh Vì thế cần phải dứt trừ Ngã pháp,
có được như thế, ta mới thấu đạt được lý Duy thức Tâm thức luôn là bản thể của nhân sinh và vũ trụ Từ đó "Thức" là cơ sở phát sinh các pháp trong thế gian và xuất thế gian (đạo pháp) Theo Kinh Đại Thừa, A Tỳ Đạt Ma nói
"Thức có một năng lực từ vô thủy đến nay, tất cả các pháp trong vũ trụ đều y
cứ vào đấy, từ đó mà có ra các cõi trong 6 đường (lục đạo), kể cả Niết Bàn chứng đắc" [49;25]
4) Cũng có thể diễn đạt theo một hình thức khác: "Thức" là một
"Chủ nhân ông" có năng lực biến hiện qua "Tam năng biến" Dù vậy, năng lực biến hiện vẫn là "Thức"; vì thế năng lực phân biệt (tâm thức) hay sở phân biệt (vạn vật), cũng đều Thức Thức biến hiện, trực giác phân biệt trong một năng lực tổng thể vô tận Trên cơ sở, về chân lý tuyệt đối là bản thể thanh tịnh, nó không phải là hai mà chỉ là một (bất nhị bất dị), mà chính là mặt tướng của các pháp Đứng về mặt Tục Đế, ta thấy nó có 8 thức Tâm vương,
51 Tâm sở, Sắc pháp, tâm Bất tương ứng và Vô vi pháp, hay nói gọn là
"Tâm, Ý, Thức"; nhưng đứng về mặt Chân Đế thì nó chỉ có một, tức là tâm Chân như thanh tịnh, vượt ra ngoài trí phân biệt của thế nhân "Chư thiện nam tử ngã thường thuyết ngôn Sắc Tâm chư duyên cập Tâm sở Sử chư sở duyên pháp duy Tâm sở hiện Này các thiện nam tử! Như Lai thường nói:
Trang 22"Sắc, tâm, các duyên, các Tâm sở sử cùng các pháp sở duyên, đều do tâm biến hiện"
Giảng: "Sắc" là chỉ cho các Sắc pháp, và "Tâm" là chỉ cho Tâm pháp Theo Bách pháp Minh môn luận, có 11 Sắc pháp và 8 Tâm pháp Tâm pháp thuộc về 8 thức Tâm vương Có 51 thứ thuộc về Tâm sở pháp, 24 thứ thuộc
về Tâm bất tương ưng Pháp, có nghĩa là không tương ưng với Sắc pháp, không tương ưng với Tâm pháp, hay với Vô vi pháp Cùng với 6 pháp vô vi, tạo thành tất cả 100 pháp" [36;37]
Nói tóm lại, tất cả các Pháp trong vũ trụ có thể chia ra làm hai loại: Duy thức tính và Duy thức tướng
Duy thức tính, tức là Pháp tính thanh tịnh xa rời ngôn ngữ (ly ngôn tuyệt tướng) không thể nói năng luận bàn, tức chỉ cho chân như thật thể thanh tịnh
Duy thức tướng, là những pháp có hình tướng, dáng mạo, có thể luận bàn, tức là Pháp tướng phân biệt theo lý tục đế Về hình tướng của các pháp, bao gồm có: Thật-Đức-Nghiệp-5 uẩn, 12 xứ, 18 giới, kể cả nhân sinh vũ trụ trong thế gian
"A - nan nhữ du vị minh nhứt thiết phù trần chư huyễn hóa tướng Đương xứ xuất sanh tùy xứ diệt tận huyễn vọng xưng tứng Kỳ tánh chơn vi diệu giác minh thể
A - nan, ông còn chưa rõ tất cả các tướng huyễn hóa nơi tiền trần, ngay đó sinh ra, ngay đó diệt mất Huyễn vọng nên gọi là tướng, nhưng tánh chân thật vốn là thể giác ngộ sáng suốt nhiệm màu
Trang 23tâm thường trụ thể tánh thanh tịnh sáng suốt Nó chẳng đến từ đâu cả"[36;291- 292]
Hay: "Như thị nãi chí ngũ ấm lục nhập Tòng thập nhị xứ chí thập bát giới Nhân duyên hòa hợp hư vọng hữu sanh Nhân duyên biệt ly hư vọng danh diệt
Như vậy cho đến ngũ ấm, lục nhập, từ thập nhị xứ cho đến thập bát giới, khi nhân duyên hòa hợp thì hư vọng sinh ra, khi nhân duyên tách rời hư vọng gọi là diệt
Giảng:
Đạo lý mà Như Lai đã giảng giải cũng giống như vậy đối với mọi phần loại khác nhau của Ngũ ấm - sắc, thọ, tưởng, hành, thức, lục nhập - có nghĩa là 6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý - từ thập nhị xứ - 6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý cùng với 6 trần: sắc, thanh hương, vị, xúc, pháp - cho đến thập bát giới - 6 căn, 6 trần và 6 thức phát sinh ra do khi căn và trần tiếp xúc nhau: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức Sáu căn và sáu trần kết hợp thành 12 xứ, cùng với 6 thức tạo thành 18 giới Các thứ Sắc pháp và Tâm pháp này đều do nhân duyên hòa hợp mà hư vọng sinh ra" [36;293-294]
Tóm lại: Tướng hay hình tướng tức chỉ cho muôn pháp do các duyên
mà sinh khởi, rồi cuối cùng quay về Alaya thức Cho nên gọi các hình tướng
là Pháp sở sinh, và để phân biệt danh tướng, nên gọi là Pháp tướng Do vậy Pháp tính và Pháp tướng phải được hiểu:
Pháp tính: là bản tính của các pháp, Pháp tính này đối với phương diện hữu tình gọi là Pháp tướng, đối với phương diện vô tình thì gọi là Pháp tính Pháp tính chính là thật tướng, Chân như Pháp giới là biệt danh của Niết bàn
Pháp tướng: đối lại với Pháp tính, tức chỉ hình tướng, tướng trạng hoặc trạng thái của sự vật Theo Pháp tướng Duy thức thì tướng là hình dáng mỗi sự vật hiện tượng khác nhau, mắt ta có thể thấy được, như sắc chất
Tướng chia làm hai loại: Tổng tướng và Biệt tướng:
- Tổng tướng: là "Tướng" chung của tất cả các pháp như vô thường Còn Biệt tướng là "Tướng" riêng của mỗi pháp như tướng cứng, mềm, nóng, lạnh mỗi loại đều khác nhau Lại lấy "Tính" làm bản thể của sự vật, còn
Trang 24"Tướng" thì là tướng dạng (dáng mạo) có thể biết, có thể thấy, chúng ta có thể hiểu Tướng không cũng gọi là Tự tướng không, Tự cộng tướng không, tức các tướng "Tổng biệt đồng dị" đều có tính chất bất khả đắc của các pháp
Nói rõ hơn, "Tướng" là Sở thủ phần chỉ cho bóng dáng của sự vật ở ngoại giới, ảnh hiện vào tâm, là Tâm pháp trong 4 loại tâm
Tâm sở: là tác dụng của tâm được chia ra 4 loại:
1) Thực tướng: Danh tướng các Tướng chân thật, Thể tướng là Chân như thật thể
2) Cảnh tướng: Danh tướng đối cảnh của Căn và Tâm
3) Trạng tướng: Danh tướng chỉ cho các tướng dạng của hữu vi Trong
3 loại cảnh chung cho cả: Tính cảnh, Độc ảnh cảnh và Đới chất cảnh, là do thức biến hiện ra
4) Nghĩa tướng: Danh tướng chỉ cho nghĩa Năng thuyên và Sở thuyên Nhưng thông thường chỉ cho 3 tướng trong 4 tướng đã nêu ở trên, thuộc về Tướng phần Tướng phần được chia làm hai loại:
a) Bản chất Tướng phần tức là "Sắc pháp", do chủng tử của thức Alaya hiện khởi
b) Ảnh tượng Tướng phần tức là các thức duyên theo Cảnh biến ra bóng dáng, chứ không có bản chất để nương gá Lại từ tư tưởng này tiến bước, mà có thuyết "Sinh Phật Nhất Như" tức Chúng sinh và Phật là một
Ngoài ra, các từ ngữ như: "Tất cả do Tâm chuyển" hay nhất thiết do Tâm tạo đều là những từ ngữ điển hình thường thấy trong Kinh-Luận để biểu hiện tư tưởng trên (Tâm và Tướng)
Tuy nhiên theo Duy thức học, con người muốn nhận thức rõ chân lý ngoài "Tâm" không có "Cảnh" (lý Duy thức), thì phải Quán Duy thức theo thứ tự cao thấp, theo năm lớp như sau:
- Thứ nhất là , "khiển hư tồn thật thức", nghĩa là trừ bỏ cái biến kế sở chấp giả dối mà để lại Y tha và Viên thành thật có Đó là phép Quán Duy thức "không" và "hữu" tương đối
- Thứ hai là, "xả lạm lưu thuần thức", nghĩa là trong lớp thứ nhất con người để lại hai tính Y tha và Viên thành Trong thức Y tha gồm có bốn phần: Tướng phần thuộc về "Cảnh", sợ không khỏi xen lẫn với cảnh ngoài tâm, cho nên con người phải bỏ Kiến phần, Tự Chứng phần, Chứng tự,
Trang 25Chứng phần thuộc về Tâm năng duyên chủ quan, nên phải lưu lại Đó là
phép Quán Duy thức tâm và Cảnh tương đối
- Thứ ba là, "nhiếp mạt quy bản thức", nghĩa là trong lớp thứ hai, con
người đã bỏ sự lộn xộn về "Cảnh", lưu lại phần thuần túy của tâm Tuy
nhiên, con người phải xét tự chứng phần tâm ấy, là bản thể Năng biến, tức là
Tướng phần và Kiến phần là sự tác động gọi là "Dụng" từ trong tự chứng
phần mà hiện ra, tức là Mạt na thức Bản thể của "Tâm" chính là phép Quán
Duy thức "Thể" và "Dụng" tương đối
- Thứ tư là, Ẩn liệt hiển thắng thức, nghĩa là trong lớp thứ ba, tuy rằng
con người đã quy tự về gốc là bản thể, nhưng Tâm thể gồm có Tâm vương
và Tâm sở Tâm vương là chủ năng biến, cho nên thắng Tâm sở và phát khởi
phần liệt nhược Chính vì vậy, con người phải tìm cách tiêu diệt phần liệt
nhược của Tâm sở, hiển bày phần ưu thắng của Tâm vương Đó là phép
Quán Duy thức Vương và Sở tương đối
- Thứ năm là, Khiển tướng chứng tính thức, nghĩa là trong lớp thứ tư
tuy rằng con người chỉ lưu lại Tâm vương, nhưng Tâm vương lại có đủ Lý
tướng và Lý tính Sự tướng là Y tha khởi tính; lý tính là viên thành Phật tính
Cho nên, con người phải thủ tiêu những sự "Tướng y tha", cầu chứng nhập lý
tính và viên thành Có thể sơ đồ hóa năm phép quán đó như sau:
Hình 1: Sơ đồ Quán Duy thức
Như vậy, theo sơ đồ trên ta thấy, tất cả muôn pháp không rời lìa Tâm
thức Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm có viết: "Bất tri sắc thân ngoại bạc sơn hà
hư không đại địa Hàm thị diệu minh chơn tâm truy vật" Có nghĩa là: Chẳng
biết rằng từ sắc thân cho đến núi sông, hư không và thế giới đều là vật ở trong
diệu minh chân tâm [36;44] Tuy theo Quán Duy thức có thứ tự năm lớp,
Một là, khiển hư tổn thật thức – không hữu tương đối
Hai là, xả lạm lưu thuần thức – tâm cảnh tương đối
Ba là, nhiếp mạt qui bổn thức – thể dụng tương đối
Bốn là, ẩn liệt hiển thắng thức – vương sở tương đối
Năm là, khiển tướng chứng tính thức – sự tướng tương
Trang 26nhưng trên thực tế, con người không cần phải trải qua từng lớp một mà chính trong một lớp, con người cũng có thể dùng trí vô lậu để giác ngộ chân lý trung đạo Mục đích của Duy thức học là đổi "Thức" thành "Trí", cho nên con người phải đổi tám thức hữu lậu (Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức, Ý thức, Mạt na thức, Alaya thức) luân hồi trong sinh tử thành bốn trí vô lậu (Pháp trí, Loại trí, Đạo trí, Tận trí) dứt lìa luân hồi sinh tử
Tóm lại, theo Duy thức học, khi trí tuệ được viên mãn do tu chứng thì
"Thức" sẽ trở thành trí tuệ viên mãn như: Tiền ngũ thức trở thành Thành sở Tác trí; Đệ lục, Ý thức trở nên Diệu quán sát trí; Đệ thất, Mạt na thức trở thành Bình đẳng Tính trí; Đệ bát Alaya thức trở thành Đại viên Cảnh trí Đó
là bốn phần trí tuệ của Phật Và có thể sơ đồ hóa toàn bộ nội dung chính của Duy thức học hay Pháp tướng tông của Phật giáo như sau:
Trang 27Có nghĩa: Này các thiện nam tử! Như Lai thường nói: Sắc, Tâm, các duyên, các Tâm sở sử cùng các pháp sở duyên, đều do tâm biến hiện Thân tâm ông đều là vật hiện ra từ trong diệu minh chân tinh diệu tâm"[36;37-38]
Và toàn bộ nội dung Duy thức học chính là lẽ đó
Trang 281.2 Bát thức Tâm vương và 51 hành Tâm sở trong Duy thức học Phật giáo
Khi bàn về nhân sinh, Duy thức học quan niệm rằng tất cả nhân sinh đều do thân mệnh, tất có ý thức Trong sự nhận thức bao giờ cũng cần có hai phần kết hợp cấu tạo như: phần mình biết, phần bị biết Như vậy, điều tất yếu
là phải có hai phần tử kết hợp thành sự nhận thức, nhưng hai phần tử đó xuất hiện từ đâu? Chính là từ ý thức tâm não sinh ra, nhưng tâm não chỉ là cái mình biết, nếu không có cái bị biết thì không bao giờ hoàn thành sự nhận thức được Chính vì vậy mà Duy thức học nêu rõ "Tính" "Tướng" nhân sinh
vũ trụ, nêu rõ tính chất chỗ khởi điểm của Tâm thức, những trạng thái, tư tưởng, tình cảm, hành động của con người, giải thích tất cả các mối quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh, xuất phát từ Tâm thức mà ra Cho nên Bát thức Tâm vương và 51 hành Tâm sở trong Duy thức học là căn bản của sự nhận thức thực "Tướng nhân sinh" Xuất phát từ quan niệm về nhân sinh và sự nhận thức của con người, Duy thức học phân chia thành 100 pháp (Đại thừa Bách pháp) của mình lấy căn bản là Bát thức Tâm vương và 51 hành Tâm sở
1.2.1 Bát thức Tâm vương
Tâm vương còn gọi là "Tâm pháp", tức là "Tâm thức" trong mỗi con người, quyến thuộc của Tâm pháp (Vương) là Tâm sở, nó được phát khởi từ Tâm vương, nên gọi là Tâm sở (còn gọi là Tâm sở Hữu pháp) Tâm vương gồm có 8: Alaya thức, Mạt na thức, Ý thức và Tiền ngũ thức Sở dĩ gọi chúng là Tâm vương, vì chúng tự tại, quyết đoán mọi sự kiện ở đời, giống như một ông Vua trong triều đình, nên gọi là Tâm vương Trong Từ điển Phật học cũng viết: "Tám thức như: Nhãn, Mỗi thức đều có Tâm vương và Tâm sở Bản thể của thức là Tâm vương, còn các tác dụng tách biệt như Tác
ý, Xúc ý, Thụ Tương ứng với nó mà khởi lên thì là Tâm sở hữu pháp, gọi tắt là Tâm sở Do vậy Bát thức Tâm vương có nghĩa là Tâm vương của tám thức" [21;128] Hay trong Thuật ngữ Duy thức học có nói: "Tâm vương là chủ thể tinh thần hay duyên ngoại cảnh là căn bản của nhận biết, là tự tánh của thức Tâm vương này bao hàm có tám thức: Nhãn, Nhĩ, Tỉ, Thiệt, Thân,
Ý, Mạt na, Alaya thức, nên gọi là Bát thức Tâm vương Theo Duy thức học thì nhất tâm được chia ra làm tám thức (mỗi thức có tác dụng riêng biệt)”[48;19] Tám thức Tâm vương gồm:
Trang 291) Nhãn thức: Chỉ sự phân biệt nhận thức của mắt, hiểu rõ các hình tướng Trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm có viết: "Nhãn sắc vi duyên, sinh ư nhãn thức (Nhãn căn và Sắc trần làm duyên, phát sinh Nhãn thức)"[37;102]
2) Nhĩ thức: Chỉ sự phân biệt nhận thức của tai, nghe rõ các âm thanh
"Nhĩ thanh vi duyên, sinh ư nhĩ thức (Nhĩ căn và Thanh trần làm duyên sinh
ra Nhĩ thức” [37;109]
3) Tỷ thức: Chỉ sự phân biệt nhận thức của mũi: thơm, thối, tanh, hôi
"Tỷ căn và Hương trần làm duyên, sinh ra Tỷ thức" [37;116]
4) Thiệt thức: Chỉ sự phân biệt nhận thức của lưỡi: đắng, cay, chua, mặn, ngọt, nhạt "Thiệt vị vi duyên sinh ư Thiệt thức (Thiệt căn và vị trần làm duyên sinh ra Thiệt thức)" [37;132]
5) Thân thức: Chỉ sự phân biệt nhận thức của thân: cứng, mềm, nóng, lạnh "Thân xúc vi duyên sinh ư Thân thức (Thân căn và Xúc trần làm duyên sinh ra Thân thức)" [37;140]
6) Ý thức: chỉ sự phân biệt nhận thức (bên trong và bên ngoài) của Ý
"Ý pháp vi duyên sinh ư Ý thức (Ý căn và Pháp trần làm duyên sinh ra Ý thức)" [37;148]
7) Mạt na thức: Chỉ sự yêu thương, buồn giận, tình cảm của con người 8) Alaya thức: là Thức căn bản, là sự sống, là tổng thể của các thức Năm thức trước có tác dụng vô cùng quan trọng, vì nó phan duyên nhận thức các sự vật, hiện tượng (ngoại cảnh) Năm thức này xuất phát từ năm căn, "Căn" là nơi phát thức để nhận biết sự kiện, sự vật xung quanh Nếu không có nó, ta không thể biết được, hay nhận biết các đối tượng xung quanh (còn gọi là Trần cảnh) Vì thế mà trong Bát thức Tâm vương lại được phân định thành Năm thức trước (Tiền ngũ Thức – Năm thức trước), được hiện bày ra ngoài thân thể; Ý Thức (Trung thức – Thức trung gian) và Mạt
na thức, Alaya thức (Tận nhị thức – Hai thức cuối)
* Tiền ngũ thức (Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức): Năm thức trước hiển thị các giác quan trên cơ thể con người Năm giác quan là những hiện tượng bên ngoài mà năm Tâm thức nương tựa để hoạt động Năm giác quan hiểu biết của con người hay còn gọi là Năm căn, được chia thành: Phù trần căn và Tịnh sắc căn
Trang 30Về nguyên lý mà năm thức trước nó hay phát sinh ra các tác dụng duyên qua ngoại cảnh đó, là thức nào cũng tự nương dựa "Tịnh sắc căn" của
nó Tịnh sắc căn này, nó chỉ tiềm tàng tồn tại ở trong "Căn y xứ" của "Phù trần căn" Nó tuy cũng là "Sắc pháp", nhưng nhục nhãn của phàm phu chẳng thể thấy được nó, chiếu theo pháp Phật nói: Chỉ có "Thiên nhãn thông" mới
có thể thấy được nó Theo khoa học hiện nay thì gọi nó là thị thần kinh, thính thần kinh , thì ta nhận biết nó là Tịnh sắc căn mà thôi
Nhân vì năm thứ Tịnh sắc căn ấy, nó đều có cái công năng phát sinh ra thức, do đó mà gọi nó là "Tăng thượng duyên y" để phát sinh ra thức, cũng gọi nó là "Đồng cảnh y" Thế nên năm thức này (tiền ngũ thức) nó đều tự có
"căn y" của nó Nhưng mà trừ riêng có "câu hữu y" cho cả chung năm thức đều có:
a) Đồng cảnh y: Có nghĩa là Năm sắc căn đều thủ lấy hiện cảnh (căn tiếp xúc với cảnh)
b) Phân biệt y: Chỉ cho thức thứ sáu (Đệ lục Ý thức), vì nó cũng "Y đồng duyên cảnh" rồi phân biệt
c) Nhiễm tịnh y: Chỉ cho đệ thất Mạt na thức và tiền ngũ thức, vì do thức này (thức thứ 7) hễ nhiễm ô, thì năm thức trước hành động thành hữu lậu; nếu như thức này (thức thứ 7) hễ thanh tịnh, thì năm thức trước hành động thành vô lậu
d) Căn bản y: Chỉ cho thức thứ 8 (Đệ bát Alaya thức): Vì năm thức trước đều y nơi đây để được sinh khởi Thì thức thứ 8 là thức căn bản, còn năm thức trước là "Chi diệp" (là phụ thuộc nơi căn bản thức), vì các thức đều
y nơi "Căn bản thức" từ đó mà sinh khởi, nên gọi là "Căn bản y" Căn bản y
là tổng thể của các thức, có nó thì tất cả các thức đều y nơi nó mà có, không
có nó thì tất cả các thức đều không, nên gọi là "Căn bản y" Căn bản y bao gồm bốn y trên (Đồng cảnh y, Phân biệt y, Nhiễm tịnh y, Căn bản y), là cộng thêm Hữu y của năm thức trước
Điều chú ý: Nếu trên bốn y, là "Cộng hữu y" mà chỉ có hai cái "Căn y"
và "Cộng y", thì chẳng đủ điều kiện để phát sinh cái "Tâm thức", do đó nên phải mượn ngoại duyên là những điều kiện bên ngoài, mới có thể sinh khởi cái "Biết" (thức) ra được Ví như: Khi "Nhãn thức" phát sinh, nếu không đủ
Trang 31chín duyên thì nó không thể phát sinh được Chín duyên đó gồm có: Không, Minh (ánh sáng), Căn, Cảnh, Tác ý, Căn bản y, Nhiễm tịnh y, Phân biệt y, Chủng tử y, nhờ 9 y này tác động hỗ trợ nhãn thức mới sinh hoạt được Nếu
y theo Thiên nhãn, thì trừ ra hai duyên: Minh, Không, còn lại phải hội đủ bảy duyên mới sinh ra thức được Nếu thiếu một duyên nào trong bảy duyên, thì Thiên nhãn không thể nào phát sinh ra "Thức" được Khi Nhĩ thức phát sinh, cũng phải có tám duyên trong chín duyên, trừ ra Minh Còn ba thức Tỷ, Thiệt, Thân phải hội đủ bảy duyên, tức là trừ hai duyên Minh và Không
Tuy nhiên, đối với Nghĩa "cảm lấy cảnh" (thủ cảnh) của năm thức trước, nó lại còn có chỗ chẳng đồng nhau là "Ly", hợp với nhau là "Hiệp"
* Trung thức - thức trung gian (Ý thức): Thức (Phạm: Vifnana): tức tác dụng của tinh thần nhỏ nhiệm (Tâm sở) mà Ý thức nương có nhiều loại
và cũng khác với tác dụng tinh thần (Tâm vương) có tính tổng hợp bắt toàn
bộ đối tượng của Tâm, Ý, Thức Nói theo nghĩa hẹp thì Ý thức chỉ cho thức thứ sáu, trong 6 thức hoặc 8 thức
Trong 8 thức Tâm vương, Ý thức nó là một thủ lĩnh tạo nghiệp hơn hết (nghiệp thiện hoặc nghiệp ác) Vì thế trong Duy thức luận gọi nó: "Công vi thủ, tôi vi khôi", có công thì nó đứng đầu, có tội cũng chẳng phải nhỏ Đệ lục
ý thức, còn gọi là "Minh liễu phân biệt thức", sự biệt rõ các cảnh và là bản thể của nó, tức là tự "Chứng phần"; sự biết rõ cảnh cũng lại là công dụng của
nó, tức là "Kiến phần", cho nên nói: lấy liễu cảnh làm "Tính- Tướng" của nó
Vì vậy trong "Duy thức Tam Thập Tụng" có nói:
Âm: Liễu cảnh vi tánh tướng
Thiện bất thiện câu phi
Nghĩa: Liễu cảnh làm tánh tướng
Phi thiện, phi ác tính[19;15]
Thực ra, thì "Thức" nào cũng liễu cảnh, nhưng đối với Đệ lục Ý thức thì đặc biệt hơn cả, vì nó liễu được những cảnh rõ ràng, ai cũng dễ nhận thấy, hay nó vừa liễu cảnh bên trong (nội giới cảnh), vừa liễu cảnh bên ngoài (ngoại giới cảnh) Nhận rõ hơn thức thứ 7, thức thứ 8 cũng liễu cảnh, nhưng chỉ liễu cảnh được những cảnh vi tế, không ai nhận thấy được, cho nên
Trang 32không gọi là "Thức liễu cảnh" Vì vậy, Duy thức học đã nói Đệ lục Ý thức là một thủ lĩnh tạo nghiệp thắng lợi nhất, vì con người thường có những tác động nơi tâm lý như là tư tưởng, tình cảm, đều là những cái công dụng của
Đệ lục Ý thức Theo "Kinh Lăng Già Tâm Ấn" nói:
sở, nên phạm vi hoạt động của nó cũng rất sâu rộng2, nên nó vừa tạo nghiệp, vừa dẫn nghiệp, vừa mãn nghiệp, chính do Đệ lục Ý thức chủ động
* Tận nhị thức - hai thức cuối cùng:
- Mạt na thức: Đệ thất thức phạn ngữ là Manas người Trung Hoa dịch
là "Ý" Mạt na có nghĩa là "Ý", không phải ý thức mà là "Ý căn", tức là Căn của Ý thức Hay nói cách khác, "Ý" chỉ làm "Căn" cho Đệ thất Mạt na, nói
rõ hơn nó là chỗ "Sở y" của Đệ lục Ý thức Thức này mang ý nghĩa "Hằng thẩm tư lương"
2
5 ngôi biến hành, 11 thiện Tâm sở, 20 tùy phiền não, 5 ngôi Biệt cảnh, 6 căn bản phiền não, 4 Tâm sở bất định
Trang 33Hằng: Thường hằng Thẩm: Thẩm sát Tư lương: là nghĩa của chữ
"Tư" là một trong pháp "Ngũ biến hành" mà cũng lại là nghĩa của chữ "Huệ"
là một trong pháp ngũ biệt cảnh Nếu đem hai chữ "Tư Huệ" hiệp lại mà thành nghĩa "Tư lương" Chữ "Lương" cùng một ý nghĩa như chữ "Huệ"
Thức thứ 8 (Alaya thức) "Hằng" mà không "Thẩm"; còn Đệ lục Ý thức "Thẩm" mà không "Hằng", 5 thức trước thì không "Hằng" mà cũng không "Thẩm" Trong khi ấy, chỉ có Đệ thất Mạt na thức vừa "Hằng và Thẩm", tức "thường Hằng, thường Thẩm", để thẩm quyết Tư lương nơi Ngã tướng, bởi nguyên do: Vì thức này nó luôn luôn "Chấp ngã", do đó mà tất cả loài hữu tình cũng vì nhân cái "Chấp" đó mà đi sâu mãi vào con đường hôn
mê sinh tử, đến nỗi không bao giờ thoát ra được
Thức thứ 7 (Đệ thất Mạt na thức), nó cũng có tên "Ý", vì sao không gọi là "Ý thức" mà lại chỉ gọi là Mạt na.Vì đây là vấn đề trong kinh luận có
ba thứ ý nghĩa:
+ Sợ lầm lẫn, lộn xộn với Ý thức thứ 6, nên không gọi là Ý thức
+ Với "Thức" ấy, tuy đồng thời cũng có thể gọi là "Tâm", và cũng có thể gọi là "Thức", nhưng về ý nghĩa tích cực là "Tâm" với nghĩa liễu biệt là
"Thức", thì nó đều không hợp với các thức khác Nếu chỉ về ý nghĩa "Tư lương", thì mặc dù thức nào cũng Tư lương, nhưng về Tư lương của thức thứ
Do sự quan hệ của nó (thức thứ 7) là từng mỗi niệm "Chấp ngã" đó, nên có thể ảnh hưởng tới Tiền lục thức (6 thức trước), thành ra trường hợp không thanh tịnh, và bản tính của nó mặc dù là "vô ký", nhưng nó có cái "Ngã chấp" che đậy, nên nhân đó cũng thành ra cái "Hữu phú vô ký" Bởi vậy, Mạt
Trang 34na thức nó y như nơi Alaya thức, để được duyên nơi "Kiến phần" của Alaya, nhưng khi nó phát thức, thì cần phải đủ có 4 duyên: Câu hữu y; Tác y; Sở duyên duyên; Chủng tử năng duyên
Hình thái của Mạt na và Alaya; Tâm Ý Thức
Ý căn (Mạt na) Alaya (Đệ bát)
Ý thức
(Đệ lục)
Đệ thất Mạt-na liên hệ chặt chẽ với Alaya Theo "Duy Thức Tam Thập Tụng" nói về Đệ thất Mạt na thức, nó được hình thành bởi Alaya thức:
Âm: Y bỉ chuyển duyên bỉ
vì thức này, là nguồn gốc của Ngã chấp, nên nếu chấp trước mê vọng thì tạo các ác nghiệp, trái lại khi đoạn trừ phiền não, ác nghiệp, thì triệt ngộ chân lý
"nhân không pháp không", cho nên gọi là "Nhiễm tịnh thức, hay cũng gọi là
Tư lương thức, Tư lương năng biến thức"
Hơn nữa từ vô thỉ đến nay, thức này ngấm ngầm Tương tục, không dùng sức bên ngoài, chỉ tự nhiên sinh khởi, cho nên tính chất của nó là "Hữu phú vô ký"
- Alaya thức: Tiếng Phạn gọi là Alaya, người Trung Hoa dịch là "Tàng thức" Thức này có công năng chứa đựng chủng tử của các pháp Ở đây
Trang 35"Thức" là thể mà "chứa" là dụng Hiệp cả "Thể" và "Dụng", nên gọi là "Thức chứa" (Tàng thức)
Thức này có công năng tàng chứa và duy trì chủng tử, căn thân, thế giới và chịu cho các pháp hiện hành huân vào (vì tàng chứa, tính tập nên cũng gọi là Tâm)
Thức này làm ông chủ, vì khi chúng hữu tình chết thì nó đi sau, còn khi đầu sinh thời, nó lại đến trước
Thể và Dụng của thức này rất sâu rộng vô cùng, hàng phàm Phu và Nhị thừa không thể thấu tột Vì chúng hữu tình từ vô thỉ đến nay cũng do thức này mà sinh tử tương tục không cùng tột Cổ nhân có viết về thức này:
Anh em tám chú, một chàng si (Thức thứ bảy)
Duy có Ý thức rất linh ly (khôn ngoan)
Năm người ngoài cửa lo buôn bán
Làm chủ trong nhà đệ bát y (Thức thứ tám)
Trong "Luận Đại thừa 100 pháp" và "Duy thức Tam Thập Tụng" gọi tám thức là Tâm vương: "Nhất thế tới thắng cố" tức là tám món thức, cũng chính là tám món tâm này rất thù thắng, tự tại, tự chủ, ví như quốc Vương nên gọi là Tâm vương
Tóm lại, Alaya thức có ba công năng chủ yếu: tàng chứa, giữ gìn (chấp trì) chủng tử của các pháp; giữ chịu (chấp thụ) Căn, Thân và thế giới; giữ lấy (chấp thủ) việc kết nối đời sau
Đứng về mặt phương diện của Bát thức Tâm vương như đã trình bày ở trên, để Bát thức Tâm vương chuyển "Thức" thành "Trí" thì cần đến 51 hành Tâm sở Vậy 51 hành Tâm sở là gì?
1.2.2 51 hành tâm sở
Theo từ điển Phật học thì Tâm sở chính là "từ gọi tắt của Tâm sở hữu pháp Là Tâm sở pháp sở hữu của Tâm vương, nhưng có các tác dụng riêng biệt như Tham, Sân Tiểu thừa Câu Xá có 44 pháp Thất thập ngũ pháp Đại thừa duy thức có 51 pháp Ngũ vị" [21;116]
Trang 36Trong thuật ngữ Duy thức học cũng viết: "Tâm sở cũng gọi là Tâm số, Tâm sở hữu pháp, tâm số pháp Những tác dụng của Tâm, tương ưng và tồn tại cùng lúc với Tâm, là một trong 5 ngôi vị" [48;354]
Hay Tâm sở: Là những hiện tượng tâm lý phụ thuộc nơi Tâm vương, chỉ yểm trợ và giúp đỡ các Tâm vương trong sự hiểu biết vạn pháp Nói cách khác, Tâm sở theo nghĩa Duy thức là những tâm lý lệ thuộc Tâm vương, thừa hành và yểm trợ cho các Tâm vương trong mọi lĩnh vực hiểu biết vạn pháp, nên gọi là Tâm sở
Bởi vậy Tâm sở, hoặc Tâm sở hữu pháp, là những yếu tố phụ thuộc vào Tâm, gắn liền với một số nhận thức - nhận thức đây cũng được gọi là Tâm vương, là hoạt động tâm thức chủ yếu - đang sinh khởi và khởi lên đồng thời với nhận thức đó Việc phân tích và hệ thống hóa các Tâm sở là một kỳ công của các Đại luận sư Ấn Độ Các Tâm sở miêu tả tất cả những khía cạnh tâm trạng mà ai cũng có thể tự khám phá, tìm được nơi chính mình - có thể gọi là bản đồ tâm lý của con người
Trong Duy thức, phân biệt 51 loại Tâm sở Đại sư Vô Trước phân chia 51 tâm sở này thành sáu loại trong Đại thừa A Tì đạt ma tập luận:
Biến hành Tâm sở: có 5 Biến hành Tâm sở, năm loại tâm pháp lúc nào
cũng hiện hành xuất phát cùng với một Tâm vương, gồm có: Xúc; Tác ý; Thụ; Tưởng; Tư, tương ưng với tất cả Tâm và Tâm sở;
Biệt cảnh Tâm sở: có 5 Biệt cảnh Tâm sở năm loại tâm pháp xác định
ngoại cảnh: Dục; Thắng giải; Niệm; Định; Huệ, Chỉ duyên (nương) theo các cảnh khác nhau mà sinh khởi
Thiện Tâm sở: có 11 Thiện Tâm sở, Tín; Tàm; Quý; Vô tham; Vô sân;
Vô si; Tinh tiến; Khinh an; Bất phóng dật; Xả; Bất hại
Căn bản phiền não Tâm sở: có 6 Căn bản phiền não Tâm sở, Tham;
Sân; Si; Mạn; Nghi; Kiến cũng được gọi là Ác kiến
Kiến cũng thường được chia ra làm năm loại:
- Thân kiến: một kiến giải cho rằng thân thể được tạo bằng "ngũ uẩn"
là một cái “ta”, là “cái của ta”;
Trang 37- Biên kiến: một kiến giải liên hệ đến phiền não, cho rằng cái “ta” được tạo bằng "ngũ uẩn" là một cái gì đó thường còn, vĩnh viễn (thường kiến) hoặc ngược lại, là một cái gì đó bị đoạn diệt, không có gì tiếp nối giữa hai cuộc sống con người (Đoạn kiến);
- Kiến thủ kiến: kiến giải cho rằng một kiến giải bất thiện hoặc "ngũ uẩn", cơ sở xuất phát của kiến giải bất thiện này là những điều tuyệt hảo Kiến giải bất thiện trong trường hợp này là Thân kiến, Biên kiến;
- Giới cấm thủ kiến: là một kiến giải cho rằng, những quy tắc xử sự sai hoặc những lời hướng dẫn tu tập sai – như tự xem mình như con thú và bắt chước thái độ của nó, hoặc "ngũ uẩn", cơ sở của những việc sai trái trên là điều hay nhất;
- Tà kiến: kiến phủ nhận cái gì thật sự tồn tại, thêu dệt thêm vào những
gì thật sự không có
Tuỳ phiền não Tâm sở: có 20 Tuỳ phiền não Tâm sở, Phẫn nộ: nóng
nảy; Hận: uất ức, tâm thù oán; Phú: che dấu tội lỗi, đạo đức giả; Não: làm bực bội phiền nhiễu; Tật: ganh ghét vì thấy người ta hơn mình; Xan: tham lam, ích kỉ; Xiểm: giả dối, nói mình có những đức tính tốt mà thật ra thì không có; Cuống: gian lận, dối gạt, lừa lọc; Hại: tâm ác độc, giết hại; Kiêu:
tự phụ; Vô tàm: không tôn kính, không biết hổ thẹn về việc tội lỗi mình đã làm; Vô quý: tâm không biết sợ trước tội quả, không biết hổ thẹn đối với người khác khi phạm tội; Hôn trầm: tâm chìm đắm, lừ đừ, thiếu linh động, nhạy bén; Trạo cử: xao động không yên; Bất tín: không tin tưởng; Giải đãi: tâm trạng không tinh tiến, biếng nhác; Phóng dật: lụp chụp, không chủ động, thiếu chủ động; Thất niệm: chóng quên, không chú tâm; Tán loạn: hiểu lung tung, không bình tĩnh; Bất chính tri: hiểu biết sai
Bất định Tâm sở: có 4 Bất định Tâm sở, bất định bởi vì các Tâm sở
này thay đổi giá trị tuỳ theo các Tâm vương Chúng bao gồm, Hối: hối hận; Miên: lừ đừ buồn ngủ; Tầm: suy nghĩ, tìm hiểu dạng thô; Tư: suy nghĩ, tìm hiểu dạng tinh tế
Cách phân chia như trên của Duy thức học được xem là bước tiến triển cuối cùng trong việc phân tích, phân loại các tâm sở và cũng là bản phân loại
Trang 38tiêu chuẩn cho tất cả những trường phái Đại thừa tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Tây Tạng
1.2.3 Vị trí của Bát thức tâm vương và 51 hành tâm sở
Như đã trình bày ở trên cho thấy, Duy thức học phân lập thành năm vị
và trăm pháp Năm vị là Tâm pháp (cũng gọi là tâm vương), Tâm sở pháp, Sắc pháp, Bất tương ưng hành pháp và Vô vi pháp Trong năm vị này thì Tâm vương và Tâm sở pháp có vị trí quan trọng Tâm vương và tâm sở pháp luôn giữ vị trí hàng đầu Bởi, theo quan niệm của Duy thức cho rằng, các vật tượng về khách quan đều do tâm thức chủ quan mà biến hiện, cho nên tâm vương và tâm sở đóng vai trò quan trọng và được xếp ở vị trí hàng đầu, còn sắc pháp và Bất tương ưng pháp, vô vi pháp thì kế sau đó
Xuất phát từ mục đích và nguồn gốc của Duy thức học, mà các luận sư
đề cai vai trò của Bát thức tâm vương và 51 hành tâm sở như là sở năng tuyệt diệu và làm trọng yếu trong Duy thức học Nội dung chính bàn luận xoay quanh các nội dung của bách pháp nhưng rồi để lại trở về với gốc ban đầu của nó là Bát pháp Tâm vương mà quan trong nhất là Alaya thức (thức thứ tám) Coi đó cũng như là nguồn gốc để tạo thành của mọi vũ trụ Khi nói
về điều này Đại sư Thái Hư có viết: “Sự truy nguyên nguồn gốc của thế giới
và con người từ vật chất (duy vật luận) hay từ tâm(duy tâm luận) hoặc từ thần ngã lẫn tự tính (nhị nguyên luận) đều trở thành cái nhận thức phiến diện
về thế giới thực tại Dưới học thuyết duyên khởi, Phật giáo đã gặp gỡ khoa học, khi cho rằng vũ trụ là mạng lưới tương tức, tương thuộc đa chiều theo nguyên lý “cái này có cái kia có, cái này không, cái kia không”[40;tr.9] và ngược lại Tất cả đều thuộc về Bát thức tâm vương, đều do tâm và vốn là các chấp trước của tâm do trần cảnh Để làm sáng tỏ hơn nữa vị trí của Bát thức tâm vương và 51 hành tâm sở trong Duy thức học, chúng ta sẽ thấy rõ trong
sơ đồ sau:
Trang 39Khinh an, bất phóng dật, hành, xả, bất hại
Vô vi Pháp
Hư không vô vi, trạch diệt vô vi, phi trạch diệt vô vi, Bất động diệt vô vi, tưởng thọ diệt vô vi, chân như
vô vi
Hình 3: Sơ đồ vị trí của Bát thức tâm vương và 51 hành
tâm sở trong Duy thức học
Trang 40Căn cứ vào sơ đồ trên đã trình bày, chúng ta thấy tâm vương có vị trí hàng đầu, ngoài sáu thức nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý, thì có hai thức quan trọng thể hiện bản chất, sự khác biệt của Duy thức học đó là Mạt-Na và Alaya thức Năm thức trước đều nương theo tác dụng cảm giác của chúng, mỗi thức duyên vào một cảnh Chỉ có ý thức thứ sáu, có thể duyên khắp và phân biệt được tất cả các cảnh như hồi tưởng, việc quá khứ, dự trù việc tương lai Mạt na thức (Manas) tiếng là tiếng Phạn, Trung Quốc dịch là ý, nghĩa là Tư lương (suy nghĩ và đo lường) Thức này là gốc của ý thức, nó ở bên trong và duyên kiến phần (phần nhận thức) của Alaya thức, nhận lầm là thực ngã, thực pháp Hai thứ mê chấp sai lầm về ngã và pháp đó, chính là nguyên nhân khiến chúng ta gây tạo ác nghiệp và đắm chìn trong sinh tử Alaya thức cũng là tiếng Phạn, Trung Quốc dịch là Tàng, nghĩa hàm tàng Chủng tử (hạt giống) của vạn hữu trong vũ trụ đều chứa cất trong đó, cho nên gọi là tàng thức Chữ Tàng gồm có ba nghĩa là năng tàng, sở tàng và chấp tàng Năng tàng là thức này có thể chứa cất chủng tử của tất cả các pháp Sở tàng là vì bảy thức trước huân tập thành chủng tử của tất cả các pháp, được cất giấu trong thức thứ tám, lấy thức thứ tám làm chỗ cất chứa Chấp tàng là vì thức thứ bảy mê chấp kiến phần của thức thứ tám là thực ngã thực pháp Do đó, thức thứ bảy là năng chấp trì và thức thứ tám là sở chấp trì Thức này cũng gọi là chấp tàng Sáu thức trước được ví “lúc sinh, lúc diệt như sóng của nước”[42;tr.142-143]
Thức Mạt-na từ vô thủy, luôn tiếp diễn, mê chấp ngã pháp, “ví như dòng nước của sông”[42;tr.142-143] Còn Alaya thức cũng như bản thể của nước Tính chất của hai thức thứ bảy và thứ tám đều là không lành, không
dữ, nên đều gọi là vô ký Thứ thứ tám là vô phú vô ký, thức thứ bảy là hữu phú vô ký cả hai đều không giống sáu thức trước, thông cả ba tính chất thiện,
ác và vô ký cả hai đều không giống sáu thức trước, thông cả ba tính chất thiện, ác và vô ký (không phân biệt được thiện hay ác)
Trong Duy thức học, Tâm sở pháp kế theo tâm vương, vị thứ của chúng có rộng hẹp khác nhau Một là biến hành tâm sở, là loại tâm sở thông
cả ba tính chất thiện, ác, vô ký và được cùng sinh khởi với tất cả Tâm vương Hai là Biệt cảnh tâm sở là loại tâm sở mỗi thứ duyên một cảnh riêng mà sinh khởi Ba là thiện tâm sở, là loại tâm sở tương ưng với thiện tâm mà sinh