ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HÀ THỊ YẾN NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ THỊ YẾN
NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HÀ THỊ YẾN
NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Công Nhất
HÀ NỘI - 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Phạm Công Nhất Mọi số liệu, trích dẫn được sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng và đảm bảo tính trung thực Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước thầy hướng dẫn
Hà nội, ngày 03 tháng 10 năm 2014 Học viên
Hà Thị Yến
Trang 4MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Tình hình nghiên cứu 5
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
6 Đóng góp mới của luận văn 8
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 9
8 Kết cấu: 9
B/ NỘI DUNG 10
Chương 1 ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐẾN SỰ BIẾN ĐỔI CỦA ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG 10
1.1.Đạo đức gia đình truyền thống 10
1.1.1 Khái niệm gia đình truyền thống 10
1.1.2 Khái niệm đạo đức gia đình truyền thống 13
1.1.3 Những chuẩn mực đạo đức cơ bản của đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam 14
1.2 Những tác động của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đến xu hướng biến đổi đạo đức gia đình truyền thống 23
1.2.1 Khái niệm kinh tế thị trường định hướng XHCN 23
1.2.2 Một số đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam 27
1.2.3 Một số tác động cơ bản của KTTT định hướng XHCN đến xu hướng biến đổi của đạo đức gia đình truyền thống 32
1.2.4 Một số nhận xét rútra 36
Trang 5Kết luận chương 1 38
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC CÁC XU HƯỚNG LỆCH LẠC TRONG BIẾN ĐỔI ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 40
2.1 Thực trạng những biến đổi đạo đức gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay 40
2.1.1 Thực trạng những biến đổi tích cực 41
2.1.2 Thực trạng những biến đổi tiêu cực 51
2.1.3 Một số vấn đề đặt ra đối với những biến đổi đạo đức gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay 61
2.2 Một số giải pháp khắc phục các xu hướng lệch lạc trong biến đổi đạo đức gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay 64
2.2.1 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của mọi thành viên trong gia đình và xã hội về việc kế thừa phát huy những giá trị tích cực của đạo đức gia đình truyền thống trong xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay 65
2.2.2 Kế thừa và phát huy có chọn lọc những chuẩn mực đạo đức tích cực của gia đình truyền thống và tiếp thu những tiến bộ của gia đình hiện đại trong xây dựng gia đình mới ở Việt Nam hiện nay 68
2.2.3 Xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững 73 2.2.4 Tăng cường kết hợp vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong giáo dục đạo đức gia đình truyền thống 75
Kết luận chương 2 79
C/ KẾT LUẬN 80
D/ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội Để tế bào này có một giá trị bền vững, một sức sống mạnh mẽ thì cần rất nhiều yếu tố, một trong những yếu tố cơ bản nhất là yếu tố đạo đức
Ở Việt Nam, trải qua nhiều thế hệ, gia đình vẫn được coi trọng, những chuẩn mực về đạo đức gia đình truyền thống vẫn được nhiều người đồng tình, khẳng định và coi đó là đạo lý làm người của người Việt
Đạo đức gia đình truyền thống là cách ứng xử của gia đình trong quá khứ thể hiện cốt cách văn hóa dân tộc, là yếu tố đạo nên bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Nhưng những giá trị đạo đức gia đình không phải bất biến mà
nó phải phù hợp với quy luật: Ý thức xã hội phải phù hợp với tồn tại xã hội Ngày nay, dưới tác động của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam đang có những biến đổi mạnh mẽ Một mặt nó bảo tồn, truyền thụ, phát huy những giá trị tích cực của gia đình truyền thống như: Tình yêu lứa đôi trong sáng, lòng thủy chung, tình nghĩa vợ chồng; trách nhiệm và sự hy sinh của cha mẹ với con cái; con cái hiếu thảo với cha mẹ, ông bà, tổ tiên … đồng thời gia đình Việt Nam hiện nay cũng đang tiếp thu có chọn lọc nhiều giá trị của gia đình hiện đại như: tôn trọng tự
do cá nhân, tôn trọng quan niệm và sự lựa chọn của mỗi thành viên trong gia đình; tôn trọng lợi ích cá nhân, bình đẳng nam nữ, vợ chồng … Mặt khác, gia đình Việt Nam cũng đang đừng trước rất nhiều thách thức, biến động, bất trắc, có nguy cơ xâm hại và làm xói mòn những giá trị tốt đẹp của đạo đức gia đình truyền thống Trên thực tế ở nhiều nơi, nhất là ở những khu đô thị lớn, gia đình đang có những dấu hiệu của sự khủng hoảng Những giá trị đạo đức của gia đình truyền thống đang bị lấn át bởi những quan hệ thực dụng, lối
Trang 8sống lai căng, thiếu văn hóa, tình trạng ly hôn có xu hướng tăng cao, sống chung không kết hôn, tình trạng trẻ em nghiên hút, tệ nạn mại dâm, tình dục đồng giới, bạo lực gia đình… đang tấn công vào gia đình từ nhiều phương diện khác nhau
Để phát huy những giá trị tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của xu hướng biến đổi đạo đức gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, tôi chọn đề tài “Những biến đổi của đạo đức gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay” làm luận văn của mình
công trình này thành các nhóm cơ bản sau:
Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến đạo đức gia đình truyền thống có một số công trình tiêu biểu như: “Từ đạo hiếu truyền thống, nghĩ về đạo hiếu ngày nay” của Nguyễn Thị Thọ, tạp chí Triết học số 6 năm 2007;
“Nho giáo và gia đình” của Vũ Khiêu, NXB Khoa học xã hội năm 1995; “Sự tương đồng và khác biệt trong quan niệm về hôn nhân gia đình giữa các thế hệ người Việt Nam hiện nay”, Lê Thi, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội năm 2009;
“ Gia đình học” của Đặng Cảnh Khanh – Lê Thị Quý, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội năm 2009; “Xây dựng đạo đức gia đình ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Thị Thọ, Nxb chính trị quốc gia – Sự thật, năm 2001; “ Về chữ
Trang 9Hiếu truyền thống trong gia đình hiện đại” của Đặng Cảnh Khanh, Tạp chí Khoa học về phụ nữ số 2 năm 1996; “Gia đình Việt Nam – Các giá trị truyền thống và các vấn đề tâm bệnh lý xã hội” của Đặng Phương Kiệt, Nxb Lao động, Hà Nội năm 2006; “Văn hoá gia đình Việt Nam” của tác giả Vũ Ngọc Khánh, Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội năm 1998;…
Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến sự tác động qua lại giữa đạo đức gia đình và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có một số công trình như: “Quan hệ giữa đạo đức và kinh tế trong việc định hướng giá trị đạo đức hiện nay” của Nguyễn Thế Kiệt, tạp chí Triết học số 6 năm 1992; “Quán triệt mối quan hệ giữa kinh tế với đạo đức” của Nguyễn Ngọc Long, tạp chí nghiên cứu luận, 1 – 1987; “Những vấn đề về đạo đức trong nền kinh tế thị trường” của Viện thông tin khoa học xã hội, Hà Nội năm 1996; “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới” của Giáo sư Lê Thi, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội năm 2002; “Nghiên cứu gia đình và thời kỳ đổi mới”, nhiều tác giả, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội năm 2010; “Văn hóa gia đình và xây dựng gia đình văn hóa trong thời kỳ hội nhập quốc tế” của Thạc sỹ Trần Thị Tuyết Mai, tạp chí Cộng sản số 161 năm 2008; “Bạo lực gia đình – Một
sự sai lệch giá trị” của tác giả Lê Thị Quý, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội năm 2007…
Các công trình này đã đề cập một cách khái quát những giá trị đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam, chỉ ra sự cần thiết, phương pháp kế thừa những giá trị tốt đẹp ấy trong xây dựng văn hóa gia đình và gia đình văn hóa
ở nước ta Đồng thời, các tác giả còn đề cập đến sự biến đổi về quy mô, cấu trúc, chức năng của gia đình trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế
Như vậy, cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về gia đình, về đạo đức gia đình nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về những
Trang 10biến đổi của đạo đức gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Do đó việc lựa chọn đề tài này làm luận văn thạc sỹ sẽ góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu về vấn đề gia đình Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ thực trạng những biến đổi tích cực và tiêu cực của đạo đức gia đình, luận văn đề xuất những giải pháp khắc phục những lệch lạc của xu hướng biến đổi đạo đức gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay
Nhiệm vụ:
- Làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến gia đình truyền thống, đạo đức gia đình truyền thống, về kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
- Chỉ ra một số xu hướng biến đổi cơ bản của đạo đức gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay
- Chỉ ra một số giải pháp nhằm khắc phục những lệch lạc của xu hướng biến đổi đạo đức gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận
Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối
và chính sách của Đảng và Nhà nước ta về gia đình và đạo đức gia đình
Trang 11Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước đã được công bố có liên quan đến nội dung đề cập đến trong luận văn
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và những phương pháp nghiên cứu chung như phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, điều tra xã hội học …
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự biến đổi của đạo đức gia đình truyền thống trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu
Chủ yếu nghiên cứu sự biến đổi các giá trị chuẩn mực đạo đức gia đình truyền thống trong các mối quan hệ cơ bản của gia đình ở nước ta từ thời
kỳ đổi mới đến nay
6 Đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở làm rõ thực trạng biến đổi các giá trị chuẩn mực đạo đức của gia đình truyền thống dưới tác động của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, luận văn đã đưa ra một số giải pháp khắc phục những lệch lạc của xu hướng biến đổi đạo đức gia đình truyền thống trong nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN
Trang 127 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần làm rõ sự biến đổi các giá trị chuẩn mực của đạo đức gia đình truyền thống trong các mối quan hệ cơ bản của gia đình trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể dùng tài liệu tham khảo cho nghiên cứu, giảng dạy, phục vụ học tập
8 Kết cấu:
Ngoài phần mở đầu, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 4 tiết
Trang 13B/ NỘI DUNG Chương 1 ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐẾN SỰ BIẾN ĐỔI CỦA ĐẠO ĐỨC GIA ĐÌNH TRUYỀN THỐNG 1.1 Đạo đức gia đình truyền thống
1.1.1 Khái niệm gia đình truyền thống
- Khái niệm về gia đình
Trong cuộc đời mỗi người, gia đình luôn là điểm tựa, là cội nguồn, là cái nôi của sự yên bình, là yếu tố vô cùng cần thiết cho mỗi người và xã hội Trong lịch sử phát triển của xã hội, gia đình có vị trí đặc biệt, bởi nó là tế bào của xã hội, nó là gốc của một quốc gia Chính vì vậy, gia đình và những vấn
đề liên quan đến gia đình được nhiều người quan tâm nghiên cứu, bàn luận Nhưng khái niệm “gia đình” không ngừng thay đổi cùng với sự vận động, biến đổi của xã hội Mỗi giai đoạn lịch sử có quan niệm khác nhau về gia đình
Theo quan điểm của C Mác và Ph Ăngghen: “Hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người còn tái tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình” [33, tr 41] Với quan niệm này, khái niệm “gia đình” được thể hiện ở hai nội dung: Thứ nhất, gia đình ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của xã hội loài người, cùng với quá trình tái tạo ra chính bản thân con người; thứ hai, gia đình được tạo ra chủ yếu bởi hai mối quan hệ: quan hệ hôn nhân (chồng – vợ) và quan hệ huyết thống (cha, mẹ - con cái) Như vậy, gia đình là một thiết chế xã hội, một hiện tượng xã hội, do đó, hình thức và chức năng của gia đình, xét đến cùng bị quy định bởi tính chất của quan hệ sản xuất, quan hệ xã hôi nói chung
Trang 14Ở Việt Nam, khi bàn tới khái niệm “gia đình”, các tác giả cũng có những định nghĩa khác nhau tuỳ theo góc độ tiếp cận Theo Đại từ điển tiếng Việt, “gia đình là tập hợp những người có quan hệ hôn nhân và huyết thống sống chung trong một nhà” [65,tr 719] Trong cuốn “Tâm lý học gia đình”, Ngô Công Hoàn đưa ra khái niệm: “ Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội, có quan hệ gắn bó về hôn nhân hoặc huyết thống, tâm sinh lý, có chung các giá trị vật chất, tinh thần, ổn định trong các thời điểm lịch sử nhất định” [15, tr 9] Dưới góc độ luật học, nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Tuấn lại cho rằng:
“Gia đình là một tập hợp dựa trên các quan hệ về hôn nhân và huyết thống và
về nuôi dưỡng đã gắn bó những người có quan hệ với nhau bởi các quyền và nghĩa vụ về tài sản và nhân thân, bởi sự cộng đồng về đạo đức và vật chất, để tương trợ nhau, cùng làm kinh tế chung và nuôi dạy con cái” [59, tr.15 – 16]
Từ việc tiếp cận khái niệm “gia đình” ở các góc độ khác nhau, có thể
định nghĩa một cách khái quát: “Gia đình là một hình thức tổ chức đời sống cộng đồng của con người, một thiết chế văn hoá – xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết
thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục… giữa các thành viên”[ 4, tr.236]
- Khái niệm gia đình truyền thống
Nếu như khái niệm gia đình khó xác định trên diện rộng thì khái niệm gia đình truyền thống cũng là một khái niệm khó xác định không kém
Gia đình truyền thống là một khái niệm mà các nhà nghiên cứu dùng để chỉ loại gia đình đã hình thành và tồn tại trong quá khứ mà trong đó chứa đựng nhiều yếu tố bền vững, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, những yếu tố đó phản ánh nền văn hoá bản địa và tạo nên nét đặc sắc của dân tộc
Ở Việt Nam, gia đình truyền thống là một khái niệm mang nhiều hàm nghĩa khác nhau Người ta cũng có thể hiểu gia đình truyền thống là gia đình
Trang 15Nho giáo hoặc là gia đình phong kiến Một số khác muốn nhấn mạnh tinh thần dân tộc, muốn gạt bỏ yếu tố “Nho giáo” hoặc “phong kiến” ra khỏi khái niệm gia đình truyền thống để đồng nhất gia đình truyền thống với hình thái gia đình Việt Nam cổ, trước khi Nho giáo xâm nhập Khi ấy gia đình được coi
là tổ ấm của mỗi người, trong đó sự thuỷ chung, lòng thương yêu và ý thức trách nhiệm là những giá trị cơ bản
Có người lại coi gia đình truyền thống chỉ là một kiểu, loại gia đình bên cạnh những loại gia đình khác Đó là kiểu “gia đình bình dân” trong xã hội phong kiến
Trong dân gian, gia đình truyền thống được coi là đại gia đình mà các thành viên liên kết với nhau bằng chuỗi quan hệ huyết thống Trong gia đình này có thể cùng chung sống từ 3 thế hệ trở lên: ông bà – cha mẹ – con cái mà người ta quen gọi là "tam, tứ, ngũ đại đồng đường" Kiểu gia đình này khá phổ biến và tập trung nhiều nhất ở nông thôn Bắc Bộ Nền kinh tế tiểu nông là
cơ sở phát sinh và tồn tại của nó Về mặt tâm lý, người Việt Nam luôn có xu hướng quần tụ con cái xung quanh mình Bởi thế, các đại gia đình cùng sống dưới một mái nhà hoặc vài nhà kế nhau cũng là hình thức tổ chức gia đình phổ biến ở đô thị [55]
Trong những năm gần đây, có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về gia đình truyền thống Việt Nam để tìm ra các đặc điểm, giá trị … của nó Trong nhiều cách định nghĩa thì chúng tôi nhất trí với khái niệm gia đình truyền thống của giáo sư Đỗ Thái Đồng Ông cho rằng: "Gia đình truyền thống chắc hẳn là gia đình ở nông thôn, là gia đình ở những xã hội nông nghiệp Á Đông đã tồn tại lâu đời và gần như bất biến trên nhiều khía cạnh Như vậy, đó cũng là kiểu gia đình nông nghiệp, là một định chế gắn liền với nền nông nghiệp cổ truyền" [9, tr.9]
Trang 161.1.2 Khái niệm đạo đức gia đình truyền thống
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội Cũng giống như các hình thái
ý thức xã hội khác như chính trị, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học … đạo đức phản ánh tồn tại xã hội Đạo đức thay đổi tuỳ theo sự thay đổi của tồn tại xã hội Cùng với sự phát triển của sản xuất, của tiến bộ xã hội, những quy tắc, chuẩn mực, phạm trù đạo đức … theo đó cũng tăng lên, phản ánh đời sống xã hội ngày càng phong phú, đa dạng hơn, trở thành một trong những phương thức điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, điều chỉnh hành vi con người sao cho phù hợp với yêu cầu của xã hội Ăngghen viết: “Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình kinh
tế xã hội lúc bấy giờ” [29, tr.16]
Các yêu cầu của đạo đức xã hội rất đa dạng và được thể hiện với những mức độ phổ quát khác nhau Có những yêu cầu chung cho cả cộng đồng, có những yêu cầu đặc thù cho từng lĩnh vực hoạt động hoặc cho từng thiết chế xã hội cụ thể Do vậy, có đạo đức xã hội, có đạo đức của từng lĩnh vực hoạt động người, có đạo đức của từng thiết chế xã hội cụ thể
Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, vì thế, cần có những nguyên tắc, những chuẩn mực đạo đức đặc thù điều chỉnh các hành vi, các quan hệ gia đình Tuy vậy, vì quan hệ giữa gia đình và xã hội là quan hệ giữa cái bộ phận với cái tổng thể, nên quan hệ giữa đạo đức gia đình với đạo đức xã hội cũng là quan hệ giữa cái bộ phận với cái tổng thể Trong mối quan hệ đó thì đạo đức gia đình bị quy định bởi đạo đức xã hội Tính quy định này biểu hiện
ở chỗ, tuy điều chỉnh các hành vi, các quan hệ người trong gia đình nhưng các nguyên tắc, các chuẩn mực đạo đức gia đình lại phản ánh các yêu cầu của xã hội Hơn nữa, đạo đức gia đình tuy có cội nguồn từ tình cảm tự nhiên của con người nhưng lại định hình dưới tác động của các nhân tố xã hội Vì vậy, có
Trang 17thể khái quát: “Đạo đức gia đình chính là tổng thể những nguyên tắc, những chuẩn mực đạo đức điều chỉnh hành vi và quan hệ của các thành viên trong gia đình nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển của gia đình phù hợp với yêu cầu của xã hội” [54, tr.27 – 28]
Trong đời sống gia đình, nhất là trong đời sống gia đình truyền thống, các quan hệ giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ và chồng, giữa anh chị em, giữa mỗi gia đình với họ hàng, làng nước là những mối quan hệ căn bản, ổn định
và bền vững Trong mối quan hệ như vậy có những chuẩn mực căn bản, đặc trưng nhất mà các chủ thể của quan hệ phải thực hiện để khẳng định nhân cách đạo đức của mình Việc thực hiện các chuẩn mực này một mặt là sự thực hiện yêu cầu của xã hội, mặt khác là do yêu cầu nội tại của sự ổn định gia đình như một chỉnh thể, một thiết chế xã hội
Như vậy, theo chúng tôi, đạo đức gia đình truyền thống là những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực về ứng xử, giao tiếp của các thành viên trong gia đình được xã hội chấp nhận và có tác dụng điều chỉnh hành vi xã hội của
cá nhân hay của nhóm người trong xã hội cũ
1.1.3 Những chuẩn mực đạo đức cơ bản của đạo đức gia đình truyền
thống Việt Nam
Với tư cách là hình thái ý thức xã hội, giống như các hình thái ý thức
xã hội khác, ý thức đạo đức phản ánh tồn tại xã hội Tuy nhiên tính đặc thù của ý thức đạo đức là ở chỗ nó không phản ánh trực tiếp tồn tại xã hội mà phản ánh gián tiếp thông qua khâu lợi ích Lợi ích của xã hội được thể hiện dưới hình thức các yêu cầu của xã hội đối với con người một khi được hình thành những khuôn mẫu điều chỉnh, định hướng cho hành vi, hoạt động của con người thì trở thành chuẩn mực đạo đức
Trang 18Chuẩn mực đạo đức là một hệ thống các nguyên tắc có ảnh hưởng chi phối hành vi đạo đức được chấp nhận bởi xã hội Chúng là hệ thống các phương pháp, cách thức thực hiện một việc gì đó theo một quy tắc chính thức được chấp nhận rộng rãi và có tác dụng điều chỉnh hành vi xã hội của một cá nhân, nhóm người hay xã hội
Như vậy, chuẩn mực đạo đức gia đình truyền thống là một hệ thống các nguyên tắc có ảnh hưởng, chi phối hành vi đạo đức của mỗi thành viên trong gia đình ở xã hội cũ Chuẩn mực đạo đức gia đình xác định ranh giới giữa đúng và sai, thiện và ác trong lĩnh vực đạo đức gia đình, nó là cơ sở, động cơ
và tiêu chí của nhận thức, đánh giá và định hướng hành vi đạo đức trong gia đình truyền thống
Khi bàn về các giá trị và chuẩn mực đạo đức gia đình truyền thống, các nhà nghiên cứu cũng có những cách tiếp cận khác nhau Theo tác giả Nguyễn Thị Thọ thì các giá trị, các chuẩn mực đạo đức gia đình trong thời đại phong kiến ở Việt Nam là “cha từ, con hiếu, anh em đễ, vợ chồng hoà thuận….” [54, tr.35] Tác giả Nguyễn Thị Khoa lại cho rằng: “ở Việt Nam, từ
xa xưa “tam tòng, tứ đức”, “chung thuỷ”, “trinh tiết” đã từng là quy định của đạo đức gia đình đối với người phụ nữ; hiếu đễ đã từng là quy định của đạo đức gia đình về quan hệ cha mẹ - con cái, anh chị em” [57, tr 112] Với tác giả Lê Thị Quý thì giá trị đạo đức trong gia đình truyền thống là “cha mẹ nhân từ, con cái hiếu thảo, anh em hoà thuận”, “tình thương yêu, sự tôn trọng trong gia đình” [69]
Trên cơ sở quan điểm của các nhà nghiên cứu, theo chúng tôi, chuẩn mực đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam gồm: sự chung thuỷ, sự nhân từ, hiếu đễ, sự cung kính, sự khiêm nhường, sự bao dung, sự hoà thuận… Ứng với mỗi mối quan hệ là những chuẩn mực nhất định
Trang 19Trong mối quan hệ vợ chồng thì tình nghĩa, thuỷ chung, hoà thuận, khiêm nhường vừa là yêu cầu, vừa là những chuẩn mực tiêu biểu Nhưng trong những chuẩn mực đó thì sự chung thuỷ giữa vợ và chồng là chuẩn mực cơ bản nhất
Trong tiếng Việt, chung thuỷ là tình cảm trước sau như một, không thay đổi Như vậy, khái niệm chung thuỷ là một khái niệm rộng Trong quan
hệ vợ chồng, chung thuỷ được hiểu là vợ chồng phải luôn chung tình, gắn bó tình cảm yêu thương chỉ với nhau mà thôi
Có thể nói, giá trị nổi bật trong gia đình truyền thống trong quan hệ vợ chồng là lòng chung thuỷ, nó được coi là nền tảng để xây dựng gia đình êm
ấm, hạnh phúc Tuy nhiên, lòng chung thuỷ được đề cập trong quan hệ vợ chồng chủ yếu chỉ đặt ra với người vợ Người chồng có thể nhiều thê thiếp nhưng người vợ chính chuyên chỉ có một chồng Phụ nữ nói chung, người vợ nói riêng, trinh tiết và đức hạnh là những tiêu chuẩn đầu tiên, những phụ nữ một lòng một dạ với chồng chẳng may chồng chết phải ở vậy nuôi con, thờ chồng thì được coi là người có đức hạnh, nhà vua sẽ ban “Tiết hạnh khả phong” cho người phụ nữ ấy để làm gương cho mọi người Ngược lại, nếu không chồng mà chửa hoang hoặc ngoại tình thì bị khinh rẻ, xa lánh, kỳ thị thậm chí còn phải chịu những hình phạt nặng nề
Trong gia đình, quan hệ vợ chồng là quan hệ căn bản, đầu tiên để hình thành một gia đình Quan hệ này, về bản chất là không vụ lợi, sẵn sàng chia
sẻ và hi sinh vì nhau, là quan hệ nền tảng để xây dựng một gia đình hạnh phúc Gìn giữ và nuôi dưỡng mối quan hệ này trong quá trình chung sống là điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho quan hệ hôn nhân bền vững Mặc dù, trong các xã hội trước, hôn nhân phần lớn không xuất phát từ tình yêu mà là
Trang 20do sự sắp đặt của gia đình nhưng không vì thế mà trong quan hệ vợ chồng lại không tồn tại tình yêu, tình cảm Trừ một số ít trường hợp, còn lại là khi người ta chung sống với nhau như vợ chồng thì cùng với thời gian, tình cảm
sẽ nảy sinh Bởi đã là vợ chồng thì sẽ có chung tài sản, chung trách nhiệm với hai bên gia đình và chung trách nhiệm chăm sóc, dạy dỗ con cháu Chính những tác nhân ấy tạo nên tình nghĩa vợ chồng Tình nghĩa vợ chồng cũng đòi hỏi vợ chồng phải có trách nhiệm với nhau, nó là cơ sở tạo nên nội dung của hạnh phúc gia đình, là động lực để thực hiện các trách nhiệm trong quan hệ gia đình
Tình nghĩa vợ chồng không chỉ là đòi hỏi về đạo đức, mà trong từng thời kỳ lịch sử nhất định, nó còn được quy định bởi pháp luật Bộ luật Hồng Đức thời Lê, điều 308 ghi: “Phàm chồng đã bỏ lửng vợ trong 5 tháng không
đi lại, vợ được trình bày với quan sở tại và xã quan làm chứng thì người chồng đó mất vợ Nếu vợ đã có con thì cho hạn một năm Nếu đã bị mất vợ lại ngăn cản người khác lấy vợ cũ của mình thì phải tội Biến” [26, tr 71] Trong
bộ luật này, quyền bình đẳng của người phụ nữ đối với chồng được khẳng định khá rõ nét Việc bảo vệ quyền bình đẳng ở một số phương diện giữa người vợ với người chồng chính là sự đảm bảo về mặt pháp lý cho các yêu cầu chuẩn mực đạo đức: tình nghĩa, thuỷ chung, hoà thuận và tôn trọng lẫn nhau trong quan hệ vợ chồng
Như vậy, mặc dù trong quan hệ vợ chồng trong gia đình truyền thống
đã từng là đối tượng phê phán của nhiều người trong những năm gần đây nhưng những giá trị đạo đức tích cực trong quan hệ vợ chồng vẫn còn giữ nguyên giá trị trong việc xây dựng gia đình mới hiện nay mà ở đó nổi bật là tình nghĩa vợ chồng sâu nặng, sự hoà thuận, lòng thuỷ chung son sắt
Trang 21Trong mối quan hệ cha mẹ - con cái có các chuẩn mực: Từ, Hiếu,
sự cung kính, sự bao dung Nhưng cơ bản nhất đó là đức từ, đạo hiếu
“Từ” trong cách thức đối đãi của cha mẹ với con cái là tình thương yêu, sự bao dung và trách nhiệm dạy dỗ con cái, đó là điểm mấu chốt của đạo làm cha mẹ Tình thương và trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái có cội nguồn từ quan hệ huyết thống Cha mẹ trong bất kỳ hoàn cảnh nào, tình huống nào, xã hội nào cũng luôn là suối nguồn yêu thương, là điểm tựa cho con cái, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và bảo vệ con cái như một hành động bản năng tự nhiên Tình yêu của cha mẹ dành cho con cái là vô điều kiện, vô
bờ bến, đó là thứ tình yêu duy nhất không có sự đổi chác, bền vững, sắt son Ngay từ khi mới sinh ra con người đã được đặt trong sự gắn bó thiêng liêng của tình mẫu tử, phụ tử: “Phụ tử tình thâm”, “Xương cha, da mẹ”, “Cá chuối đắm đuối vì con”… vì thế, khi khôn lớn, mỗi người không thể quên công ơn dưỡng dục của cha mẹ
Tình thương yêu của cha mẹ dành cho con không chỉ thể hiện khi con còn thơ bé mà ngay cả khi con đã khôn lớn nên người, tình thương đó của cha
mẹ dành cho con vẫn không hề thay đổi Con dù tóc đã pha sương, cha mẹ già vẫn quan tâm lo lắng, trông chờ mỗi lúc con đi đâu, thăm hỏi khi con xa vắng
Có những người cha người mẹ phải làm những việc mà xã hội cho là thấp hèn
để nuôi con khôn lớn Nhiều đứa con ăn học thành tài nhờ sự gian khổ, tận tụy hy sinh của cha mẹ vốn là những người lao động nghèo Những đứa con
ấy như hoa sen mọc lên từ bùn, nhờ bùn lầy nước đọng mà đóa hoa ấy trở nên thơm tho đẹp đẽ, góp phần làm đẹp cuộc đời Nếu không có bùn thì không có những đóa sen như thế
Tình thương và trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái có cội nguồn
từ quan hệ huyết thống, nhưng nó còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo,
Trang 22Phật giáo Cả Nho giáo, Phật giáo đều đòi hỏi những người làm cha, làm mẹ phải biết thương yêu và chăm lo cho con cái Chẳng hạn, nói về tình thương của cha mẹ đối với con cái, Phật giáo sử dụng chữ “Từ” với nghĩa là tình thương vô lượng, vô biên Nho giáo cũng sử dụng chữ “Từ” khi nhấn mạnh tình yêu rộng lớn đó, nhưng chữ “Từ” này thường cho người mẹ Từ mẫu không chỉ là người mẹ hết lòng vì con mà còn là người mẹ có khả năng giáo dục con thông qua sự cảm hoá bằng tình yêu rộng lớn Mặc dù cũng dùng chữ
“Từ” cho người cha (cha từ, con hiếu), nhưng Nho giáo còn dùng chữ Nghiêm để chỉ tính cách của người cha Nghiêm phụ là từ để chỉ những người cha biết yêu thương con cái một cách sáng suốt, biết kiên định, nghiêm túc và mẫu mực trong việc giáo dục con cái theo luân thường đạo lý Như vậy, cha thương con không như mẹ, hai thái cực khác nhau nhưng đều có chung một tình thương vô bờ Tình thương của người cha nghiêm nghị, khô khan, không mềm mại, nhu mì nên con cái ít cảm nhận được như tình thương của người
mẹ Nhưng kỳ thực tình thương của cha cũng không thua kém gì tình thương của mẹ
Trong cuộc sống, tình thương yêu và trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái thể hiện ở sự quan tâm, chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần, cho tương lai của con cái Khi còn bé, cha mẹ là người tập cho con từng tiếng nói đầu đời Cha mẹ hun đúc, tạo lập cơ sở để con cái bước vào đời một cách tự tin và vững chãi Không những lo cho con cái việc ăn ở mà còn lo cho con cái
về mặt đạo đức và kiến thức để trở thành người sống có ích cho xã hội Như vậy, nuôi con khoẻ mạnh, khôn lớn, dạy con nghề nghiệp, nhân cách để ứng
xử trong quan hệ với cha mẹ, anh em, họ hàng, làng nước, dựng vợ gả chồng
và cố gắng dành dụm cho con một chút tài sản … Đó là trách nhiệm và cũng
là niềm vui của bậc làm cha, làm mẹ, hơn thế nữa, đó còn là lẽ sống của những người làm cha, làm mẹ Nếu những trách nhiệm đó được thực hiện
Trang 23suôn sẻ, cha mẹ sẽ được hưởng sự thanh thản và hạnh phúc Ngược lại, nếu trách nhiệm đó không được thực hiện, cha mẹ sẽ rơi vào tình trạng bất hạnh, khổ đau, thậm chí “chết không nhắm mắt được”
Nếu tình thương và trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái được thể hiện ở chữ “Từ” thì bổn phận và trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ được thể hiện ở chữ “Hiếu” Hiếu là cội nguồn của đạo lý, là cơ sở vững chắc của gia đình Trong gia đình Việt Nam truyền thống, chữ Hiếu được tôn trọng, đề cao và mang giá trị nhân bản sâu sắc Hiếu với cha mẹ là chuẩn mực được hình thành từ xa xưa gắn liền với phong tục và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, dần dần được Phật giáo làm phong phú và được Nho giáo nâng lên thành chuẩn mực cao nhất của đạo đức gia đình
Mặc dù chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo, nhưng lòng hiếu thảo của con người Việt Nam vẫn có những nét riêng Chữ Hiếu của Việt Nam thể hiện tình cảm cao quý của con cái đối với cha mẹ, ông bà Đó là lòng biết ơn công sinh thành, dạy dỗ; trách nhiệm, nghĩa vụ chăm nom, săn sóc, nuôi nấng, phụng dưỡng cha mẹ, ông bà; thuốc men khi ốm đau, tống táng chu đáo và luôn ghi nhớ công ơn khi đã khuất Ngoài ra chữ “Hiếu” ở Việt Nam còn có nghĩa là biết khuyên can cha mẹ tránh những việc làm sai trái Đây là điểm khác biệt so với chữ “Hiếu” của Nho giáo (Hiếu theo quy định của Nho giáo là con cái phải phục tùng cha mẹ một cách cứng nhắc)
Người xưa xem Hiếu là của báu, có cha mẹ sống để báo Hiếu là niềm hạnh phúc lớn lao Vì vậy, cha mẹ ngoài niềm vui được con cái biết vâng lời, còn có niềm vui được con cái sống cùng cha mẹ để sớm hôm phụng dưỡng và
đỡ đần những khó khăn vất vả, thậm chí sẵn sàng hy sinh tính mạng để cứu cha mẹ Điều khiến cha mẹ đẹp lòng và tự hào nhất là khi con cái biết tìm cách lập thân hoặc tạo dựng nên sự nghiệp mang lại lợi ích cho gia đình và xã
Trang 24hội, làm cha mẹ được vẻ vang Vì vậy, học hành chăm chỉ để đỗ đạt là biểu hiện cao nhất của đạo Hiếu Đó là kết quả của sự vâng lời, lòng kính yêu cha
mẹ, là biểu hiện cụ thể của lòng biết ơn cha mẹ của con cái
Bên cạnh hiếu thì sự cung kính đối với cha mẹ là điều không thể thiếu
ở con cái Điều này thể hiện trước hết ở việc giữ gìn phép tắc của gia đình” kính trên, nhường dưới” Con cái phải biết cách phụng dưỡng cha mẹ Trong giao tiếp thì kính cẩn, nhẹ nhàng, lễ phép, chu đáo Nếu cha mẹ có gì sai trái không được tỏ thái độ thiếu tôn kính, mà phải lựa dịp thuận lợi mà giãi bày,
“cha mẹ nói sai ngày mai thưa lại” Sự cung kính còn thể hiện ở chỗ con cái phải vâng lời cha mẹ, không sa vào tệ nạn hư hỏng, làm ảnh hưởng đến tương lai, gây nhiều tiếng xấu cho cha mẹ Có thể nói sự cung kính của con cái đối với cha mẹ cũng chính là một nội dung của chữ Hiếu
Như vậy, Hiếu với cha mẹ không chỉ thể hiện ở việc vâng lời cha mẹ, kính yêu, chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ mà còn phải hết lòng quan tâm cha
mẹ về mặt tinh thần, chăm lo đời sống tâm linh của cha mẹ, chỉ như thế mới
có thể báo hiếu một cách trọn vẹn Ngoài việc lo cho cha mẹ từng miếng ăn, giấc ngủ và làm cho cha mẹ sống vui vẻ, hạnh phúc, con cái cần hướng cha
mẹ đi trên con đường lành Đó là lo cho cha mẹ trong đời sống hiện tại và tương lai, lo cho cha mẹ cả lúc sinh tiền và cả sau khi khuất bóng Ở Việt Nam từ xa xưa, trong truyền thống văn hoá của dân tộc, mùa Vu Lan là mùa báo Hiếu, mùa cho các người con tưởng nhớ đến công đức sinh thành của cha
mẹ, mong muốn làm điều gì tốt đẹp hơn để đền đáp xứng đáng công ơn dưỡng dục của mẹ cha Nhớ ơn và báo hiếu luôn luôn là những suy tư triền miên, sâu đậm trong thâm tâm mọi người con Việt
Trong quan hệ giữa anh chị em, sự hoà thuận được đề cao như là yêu cầu và chuẩn mực hàng đầu
Cũng như quan hệ giữa cha mẹ và con cái, quan hệ giữa anh chị em là quan hệ huyết thống Mối quan hệ này được Nho giáo coi là một trong năm
Trang 25quan hệ căn bản nhất của con người (Ngũ luân) Trong gia đình truyền thống Việt Nam sự hoà thuận được đề cao như một yêu cầu hàng đầu Hoà thuận đòi hỏi anh chị em phải thương yêu, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau; đồng thời nó cũng là kết quả của sự yêu thương, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau Sự hoà thuận giữa anh chị em không chỉ là nhu cầu nội tại của quan hệ anh chị em mà còn
là nhu cầu, mong muốn của cha mẹ, họ hàng Con cái muốn cha mẹ vui lòng, nghĩa là muốn làm tròn đạo hiếu thì ngoài việc phụng dưỡng cha mẹ còn phải hoà thuận với anh em, chỉ như thế chữ hiếu mới được trọn vẹn Sự hoà thuận của anh chị em làm nên sự hoà thuận của gia đình và nó cũng là đòi hỏi của
xã hội Dư luận xã hội, vì thế luôn biểu dương sự hoà thuận anh em, luôn nhắc nhở con người phải giữ gìn sự hoà thuận
Được sinh ra từ một cội nguồn, cùng lớn lên dưới sự chăm sóc của cha
mẹ và thường chung sống với nhau suốt thời thơ ấu dưới một mái nhà lẽ đương nhiên, tình nghĩa anh chị em sẽ nảy sinh và phát triển Tình nghĩa anh chị em vô cùng thiêng liêng, cao quý, nó trở thành nét độc đáo trong văn hoá gia đình người Việt Anh chị em trong nhà phải hoà thuận, được ví như chân với tay, là máu mủ, ruột rà Tình thương yêu, sự đùm bọc, sự quan tâm, giúp
đỡ lẫn nhau giữa anh chị em là niềm hạnh phúc lớn nhất và cũng là niềm vui, niềm tự hào của cha mẹ
Tuy nhiên, trong gia đình truyền thống do yêu cầu thờ cúng tổ tiên nên con trai được coi trọng hơn con gái, con trưởng có quyền hơn con thứ, do đó quan hệ giữa anh chị em cũng là quan hệ bất bình đẳng Trong gia đình, người con trai cả có vị trí đặc biệt cao, chỉ đứng sau cha, khi cha mất thì anh thay cha quyết định mọi việc “quyền huynh thế phụ” Nhưng khi uy quyền được trao vào tay người anh thì cũng là lúc anh phải gánh vác trách nhiệm thay cha khuyên bảo, dạy dỗ, nuôi dưỡng em khôn lớn thành người Ngược lại, người
em phải biết kính trọng, yêu thương, vâng lời anh Chính sự gắn bó, trách nhiệm và tình thương yêu đùm bọc đã gắn kết anh chị em trong gia đình thành một khối Nếu loại bỏ yếu tố gia trưởng, trọng nam khinh nữ dẫn đến sự bất
Trang 26bình đẳng trong quan hệ anh chị em ruột thì tinh thần đoàn kết, đùm bọc, yêu thương, hoà thuận là những giá trị đạo đức tốt đẹp mà gia đình hiện đại ngày nay phải giữ gìn, kế thừa và phát huy
1.2 Những tác động của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đến
xu hướng biến đổi đạo đức gia đình truyền thống
1.2.1 Khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là một trong những thành tựu của văn minh nhân loại Kinh tế thị trường phát triển tới trình độ cao dưới chủ nghĩa tư bản, nhưng nó không chỉ tồn tại trong chủ nghĩa tư bản mà còn tồn tại trong các xã hội khác Theo C Mác, kinh tế thị trường là một giai đoạn phát triển tất yếu của lịch sử mà bất cứ nền kinh tế nào cũng phải trải qua để đạt tới nấc thang cao hơn trên con đường phát triển và nền kinh tế TBCN chính là nền kinh tế thị trường phát triển đến trình độ phổ biến và hoàn chỉnh Nấc thang cao hơn chính là nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là nền kinh tế XHCN Để chuyển lên nấc thang này, nền kinh tế thị trường phải phát triển hết mức, phải trở thành phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội Kinh tế thị trường không phải là mô hình có sẵn mà là mô hình kinh tế được hình thành dần trong quá trình con người hoạt động, nó thay đổi tuỳ theo đặc thù của mỗi quốc gia Bản thân nền kinh tế thị trường có những nguyên tắc vận hành và phát triển riêng, đồng thời có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đặc biệt, nó tác động mạnh mẽ và toàn diện đến hệ thống các giá trị, đến đời sống tinh thần của con người và của toàn xã hội
Có nhiều cách hiểu khác nhau về kinh tế thị trường, nhưng nhìn chung đều cho rằng kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao nhất của kinh tế hàng hoá, “trong đó toàn bộ các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất đều thông qua thị trường” [12, tr.59] Các nền kinh tế thị trường đều có đặc điểm
Trang 27chung là: tồn tại đồng thời nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức tổ chức sản xuất và kinh doanh với các mô hình khác nhau; các doanh nghiệp trong các thành phần kinh tế đều có quyền tự do kinh doanh đều có quyền bình đẳng và được tôn trọng; các yếu tố sản xuất và sản phẩm đều trở thành hàng hoá, được lưu thông tự do trên thị trường; hệ thống thị trường là yếu tố trực tiếp tác động, điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp, các chủ thể kinh tế, là cơ sở phân bổ các nguồn lực kinh tế của xã hội
Như vậy, có thể định nghĩa: “Kinh tế thị trường là nền kinh tế vận hành theo sự điều tiết của cơ chế thị trường, lấy sự tồn tại và phát triển của quan hệ hàng hoá – tiền tệ làm cơ sở, là kinh tế hàng hoá đạt đến trình độ xã hội hoá cao và trình độ kỹ thuật cao, trong đó toàn bộ hay hầu hết đầu vào và đầu ra của sản xuất đều phải thông qua thị trường” [54, tr.27 – 28]
Từ định nghĩa trên, có thể thấy kinh tế thị trường nói chung bao hàm những yếu tố cơ bản như sau:
Thứ nhất, tính độc lập của các chủ thể trong nền kinh tế
Nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự tồn tại của các chủ thể kinh tế độc lập dưới nhiều hình thức sở hữu khác nhau Các chủ thể này hoàn toàn động lập, tự chủ trong việc quyết định: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai? Họ tự chịu trách nhiệm đối với quyết định sản xuất kinh doanh của bản thân dựa trên những tín hiệu thị trường
Về bản chất, nền kinh tế thị trường thị trường có cấu trúc đa sở hữu Trong cấu trúc, sở hữu tư nhân luôn luôn là thành tố tất yếu, bắt buộc Phủ nhận sở hữu tư nhân có nghĩa là bác bỏ kinh tế thị trường trên thực tế Bên cạnh sở hữu tư nhân, còn có các dạng sở hữu khác là sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và dạng đồng sở hữu của các chủ thể khác, ví dụ sở hữu công ty cổ phần, doanh nghiệp tư bản nhà nước, v.v
Trang 28Về nguyên tắc, các chủ thể sở hữu và các hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường là độc lập và bình đẳng với nhau trước pháp luật và trong hoạt động kinh doanh Nhưng mỗi hình thức sở hữu và mỗi chủ thể sở hữu lại
có vai trò, vị thế và chức năng đặc thù trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường
Thứ hai, hệ thống giá cả được xác lập thông qua tương quan cung-cầu quyết định sự vận hành của nền kinh tế thị trường
Giá cả trên các loại thị trường được xác định dựa trên tương quan cung và cầu của từng thị trường đó Nền kinh tế thị trường chỉ vận hành được một khi hệ thống giá cả được quyết định khách quan bởi thị trường Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận là động lực chủ yếu thúc đẩy nỗ lực hoạt động và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp Để phục
vụ mục tiêu đó, giá cả phải được thiết định trên các cơ sở khách quan và được điều tiết bằng cơ chế tự điều tiết (cạnh tranh tự do)
Thứ ba, cơ chế nguyên tắc vận hành cơ bản của nền kinh tế thị trường là cạnh tranh tự do
Không có cạnh tranh tự do, không thể nói đến kinh tế thị trường Cạnh tranh là cơ chế chủ yếu phân bổ các nguồn lực trong nền kinh tế thị trường Thông qua cạnh tranh, các nguồn lực được rút ra khỏi những ngành, lĩnh vực
và địa điểm đang hoạt động kém hiệu quả, di chuyển đến những nơi có lợi thế phát triển và thu được hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận cao hơn Thực tế xác nhận rằng cho đến nay, sau khi nền kinh tế đã vượt qua trình độ kinh tế nông dân tự cấp - tự túc, cạnh tranh là cơ chế phân bổ các nguồn lực hiệu quả nhất
Thứ tư, vai trò điều tiết kinh tế của nhà nước
Thị trường có những khuyết tật và cơ chế thị trường có thể bị thất bại trong việc giải quyết một số vấn đề phát triển, ví dụ như khủng hoảng, đói nghèo, công bằng xã hội, môi trường, v.v Để khắc phục chúng và tránh khỏi
Trang 29thất bại thị trường, nhà nước phải tham gia quản lý, điều tiết sự vận hành nền kinh tế Nhà nước tham gia vào các quá trình kinh tế thị trường vừa với tư cách là bộ máy quản lý xã hội, vừa là một yếu tố nội tại của cơ chế vận hành kinh tế
Bốn yếu tố nói trên là bốn yếu tố cấu thành cơ bản khung thể chế chung của mọi nền kinh tế thị trường Chúng hình thành một tổng thể, quy định lẫn nhau Thiếu bất cứ yếu tố nào trong số đó đều không thể có nền kinh
tế thị trường bình thường, vận hành hiệu quả Tuy nhiên, trong mỗi nền kinh
tế thị trường, tuỳ theo các điều kiện phát triển cụ thể, vai trò, vị trí và chức năng của từng yếu tố không hoàn toàn giống nhau Điều này tạo nên đặc thù của các mô hình kinh tế thị trường và nền kinh tế thị trường ở những quốc gia
cụ thể
- Kinh tế thị trường định hướng XHCN
Ở nước ta, chủ trương phát triển nền kinh tề thị trường được bắt đầu từ Đại hội Đảng VI (12/1986) Đó là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Đây là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên CNXH Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản; vừa vận động theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội; trong đó cơ chế thị trường được vận dụng đầy đủ, linh hoạt để phát huy mạnh mẽ, có hiệu quả mọi nguồn lực nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [8, tr 34 – 35]
Như vậy, trong nền kinh tế đó các thế mạnh của “thị trường” được sử dụng để phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở vật
Trang 30chất - kỹ thuật của CNXH, nâng cao đời sống của nhân dân Còn tính định hướng XHCN được thể hiện trên cả 3 mặt của quan hệ sản xuất: Sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối nhằm mục đích cuối cùng là thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
1.2.2 Một số đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở
Việt Nam
Thứ nhất: Là một nền kinh tế đa dạng các hình thức sở hữu
Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp, bao gồm nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại trong một thể thống nhất, trong đó, chế độ công hữu ngày càng trở thành nền tảng vững chắc Không thể có nền kinh tế định hướng XHCN nếu trong
nó, chế độ công hữu không đóng vai trò nền tảng Tuy nhiên, vai trò nền tảng của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa thể đậm nét như trong nền kinh tế XHCN
Chế độ sở hữu trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN dựa trên hai hình thức cơ bản là sở hữu công cộng (công hữu) và sở hữu tư nhân (tư hữu) Còn sở hữu hỗn hợp được hình thành trên cơ sở đan xen, hỗn hợp giữa các hình thức sở hữu và là kết quả của sự hợp tác, liên doanh giữa các chủ sở hữu khác nhau là nhà nước, tập thể (nhóm) và tư nhân Công hữu ngày càng trở thành nền tảng vững chắc, các hình thức sở hữu khác cùng phát triển mạnh mẽ Trước đây, theo quan niệm truyền thống, các hình thức sở hữu là đơn nhất: nhà nước, tập thể hoặc tư nhân Trong gần 20 năm đổi mới, kinh tế hỗn hợp đang được hình thành và từng bước phát triển mạnh; chế độ cổ phần đang dần trở thành hình thức tổ chức chủ yếu của kinh tế công hữu Vì thế, công hữu không chỉ bao gồm sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể đơn nhất mà còn bao gồm cả phần sở hữu của nhà nước và tập thể trong kinh tế hỗn hợp Cũng như vậy, tư hữu không chỉ bao gồm sở hữu tư nhân đơn nhất mà còn
Trang 31bao gồm cả phần sở hữu của tư nhân trong kinh tế hỗn hợp Trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, hình thức đơn nhất của công hữu có xu hướng giảm nhưng ý nghĩa nền tảng của công hữu ngày càng được củng cố vững chắc và được tăng cường ở những lĩnh vực then chốt, thể hiện ở: Vốn của kinh tế công hữu (bao gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và phần công hữu trong kinh tế hỗn hợp) vẫn đóng vai trò quan trọng trong tổng vốn đầu tư xã hội
Thứ hai: Còn tồn tại nhiều hình thức phân phối thu nhập
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, thu nhập của cộng đồng dân cư được phân phối theo nhiều hình thức khác nhau Trong đó, phân phối thu nhập theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chính, các hình thức phân phối thu nhập theo vốn, tài sản, trí tuệ và phúc lợi xã hội cùng tồn tại và phát triển
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: "Chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội"[8, tr.74]
Lao động là nguồn gốc chính tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho
xã hội, tạo ra sự giàu có của quốc gia Vì thế, để thực hiện công bằng, phải lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế làm hình thức phân phối chính Người lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao phải có thu nhập cao hơn Nhưng mặt khác, phải tạo mọi điều kiện và môi trường thuận lợi để mọi người đều có thể làm giàu chính đáng bằng lao động của chính mình Vì vậy, mở rộng cơ hội phát triển và nâng cao năng lực lựa chọn cơ hội cho mọi người dân để họ từng bước sống khá giả, sau đó, giàu có cả về vật chất lẫn tinh thần là mục tiêu và là nét đặc trưng thuộc về bản chất của sự phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN hiện nay ở nước ta
Trang 32Thu nhập theo vốn, tài sản và trí tuệ được luật pháp thừa nhận Chỉ trên cơ sở đó mới khuyến khích nhiều người làm giàu chính đáng Tăng số người giàu, giảm số người nghèo, không còn người đói, giảm dần độ chênh lệch giàu nghèo vừa là mục tiêu, vừa là nội dung trọng yếu của các chính sách phân phối và phân phối lại thu nhập của Nhà nước trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Thứ ba: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế
Như đã đề cập ở trên, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là nền kinh tế hỗn hợp, bao gồm nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế cùng tồn tại trong một thể thống nhất Trong nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế nhà nước phải nắm giữ vai trò chủ đạo ở một số lĩnh vực then chốt Đó là những "đài chỉ huy", là huyết mạch chính của nền kinh tế Đây là điều kiện có tính nguyên tắc bảo đảm tính định hướng XHCN Nó thể hiện sự khác biệt về bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN so với các mô hình kinh tế thị trường khác
Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước được thể hiện trước hết và chủ yếu ở sức mạnh định hướng, hỗ trợ phát triển và điều tiết nền kinh tế chứ không phải ở quy mô và sự hiện diện của các doanh nghiệp 100% vốn nhà nước ở tất cả hoặc hầu hết các ngành, các lĩnh vực
Đồng thời với việc nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và vai trò điều tiết của Nhà nước, cần coi trọng vai trò của các thành phần kinh tế khác Các thành phần này gắn bó hữu cơ với nhau trong một thể thống nhất, không tách rời kinh tế nhà nước ở tất cả các giai đoạn phát triển và đều là những thực thể của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Mọi doanh nghiệp đều được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật; quyền bình đẳng về cơ hội phát triển và lợi ích chính đáng được pháp luật bảo vệ
Trang 33Thứ tư: Giải quyết hài hòa mục tiêu tăng trưởng kinh tế và mục tiêu bảo đảm công bằng xã hội
Tăng trưởng kinh tế và công bằng, tiến bộ xã hội là hai nội dung của
sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả và bền vững ở nước ta
Tính định hướng XHCN đòi hỏi phải bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội; thực hiện sự thống nhất và gắn liền hữu cơ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội ở tất cả các giai đoạn của sự phát triển kinh tế thị trường ở nước ta Tăng trưởng kinh tế đồng thời với phát triển xã hội, văn hoá, giáo dục, vì mục tiêu phát triển con người và mang đậm bản sắc của đất nước và con người Việt Nam là những nội dung cấu thành của phát triển nhanh, hiệu quả, hiện đại và bền vững trong quá trình chuyển sang kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta
Bản chất của CNXH là công bằng Song, cũng cần nhấn mạnh công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN khác với chủ nghĩa bình quân, cào bằng thu nhập và chia đều đói nghèo cho mọi người Không thể có CNXH và định hướng XHCN trong tình trạng đói nghèo và chậm phát triển
Trước đây, CNXH "hiện thực" đã giải quyết không tốt vấn đề công bằng kinh tế Trong thực tiễn, cơ chế thực hiện công bằng (kế hoạch hoá tập trung) có khuynh hướng dẫn tới sự cào bằng, "bình quân" Cách hiểu này là
cơ sở lý luận của thực tế phân phối bình quân sự đói nghèo và thiếu hụt, thủ tiêu động lực phát triển của CNXH
Ngược lại, trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường, cách thức phân phối ngày càng ít bình quân - cào bằng đã giúp giải quyết cả hai vấn đề: tăng trưởng và phát triển nhanh; đồng thời nâng cao phúc lợi cho tất
Trang 34cả mọi người, đưa nhiều người thoát khỏi cảnh đói nghèo Với hai kết quả này, quá trình chuyển sang kinh tế thị trường thật sự đồng hướng với CNXH
Thứ năm: Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Hai yếu tố quyết định cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường là nhà nước và thị trường Do vậy, bàn về tính hiệu quả của nền kinh tế thị trường, mấu chốt là phải xác định rõ thực trạng của mối quan hệ này Đối với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, vấn đề lại càng là như vậy Nếu không làm rõ được trong cơ chế vận hành của nền kinh tế, nhà nước làm gì, thị trường làm gì và bằng cách nào thì không thể có một nền kinh tế thị trường hoạt động hiệu quả
Khác với nhà nước của nhiều nền kinh tế thị trường trên thế giới, Nhà nước ở nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN, của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, có đủ bản lĩnh và khả năng tự đổi mới để giữ vững định hướng XHCN trong việc phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại
Sự khác biệt đó là điều kiện, tiền đề cho sự khác biệt về chất của mô hình kinh tế thị trường mà nước ta hướng tới so với các mô hình kinh tế thị trường khác
Để làm tròn sứ mệnh mà lịch sử và dân tộc Việt Nam giao phó, Đảng
và Nhà nước phải tự đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý đất nước và xã hội trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, CNH, HĐH, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế dưới tác động của toàn cầu hoá
Trên đây là một số đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam Các đặc trưng này vừa phản ánh tính phổ biến,
Trang 35vừa thể hiện những nét đặc thù trong mô hình phát triển mà Việt Nam lựa chọn
1.2.3 Một số tác động cơ bản của KTTT định hướng XHCN đến xu
hướng biến đổi của đạo đức gia đình truyền thống
Quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta
đã và đang tác động toàn diện đến các mặt của đời sống gia đình Những tác động mạnh mẽ và trực tiếp ấy đang làm biến đổi những nguyên tắc, chuẩn mực của đạo đức gia đình truyền thống cho phù hợp với xã hội mới, tạo điều kiện cho sự phát triển và hoàn thiện của các thành viên trong gia đình Có thể thấy, sự tác động này theo hai xu hướng tích cực và tiêu cực khác nhau
- Những tác động tích cực:
Sau hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, chúng ta đã bước đầu xây dựng được nền kinh tế thị trường tuy chưa đầy đủ, từng bước CNH, HĐH để phát triển đất nước theo quỹ đạo chung Tuy nền kinh tế Việt Nam vẫn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp thì ngay cả hình thức sản xuất này cũng đã có những thay đổi căn bản Do đó, có thể thấy Việt Nam đã có những thay đổi lớn về kinh tế, cơ sở gốc của nhiều thay đổi lớn về xã hội
Quá trình đổi mới đất nước ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu bước đầu đáng khích lệ Không chỉ ở các đô thị mà cả ở nông thôn, công cuộc đổi mới cũng thực sự tạo ra một sinh khí mới, nhất là đời sống kinh tế Kinh
tế tăng trưởng, tiến bộ xã hội được thúc đẩy, tạo nên sự phát triển xã hội một cách toàn diện “Trong vòng 15 năm, từ 1990 đến 2004, tổng sản phẩm trong nước tăng gấp 3 lần, đạt mức bình quân 7,5%/năm” [5, tr.10] Điều này đã dem đến cho gia đình Việt Nam những cơ hội phát triển mới, mức sống của đại bộ phận các gia đình đã được nâng cao “Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58% năm
1993 xuống còn 24% năm 2004” [5, tr.10]
Trang 36Sự tăng trưởng về mặt kinh tế đã làm cho đa số gia đình no ấm hơn, đầy đủ hơn về mặt vật chất, văn minh hơn về mặt tinh thần Có những tiến bộ
rõ rệt về tính năng động, chủ động trong cuộc sống, có nhiều tiến bộ về trình
độ, về cung cách làm ăn, về công nghệ sản xuất Nhiều gia đình biết chủ động tạo dựng cuộc sống, nhanh chóng làm giàu, có điều kiện hưởng thụ đời sống văn hoá Đa số gia đình ngày nay có xu hướng vươn đến cuộc sống cao hơn, phong phú hơn về vật chất và tinh thần; gia đình lấy tình yêu làm cơ sở gắn
bó đôi vợ chồng, đề cao lợi ích và hạnh phúc cá nhân, chú trọng đến nguyện vọng của mỗi cá nhân, có mối quan hệ dân chủ giữa vợ và chồng, quan tâm lắng nghe và tôn trọng ý kiến của con cái….Đó là cơ sở thuận lợi tác động tích cực đến đạo đức gia đình Việt Nam
Những cơ hội thuận lợi và đa dạng mang đến khả năng khẳng định bản thân có ảnh hưởng trực tiếp đến các thành viên trong quan hệ gia đình, biệt là người phụ nữ Thậm chí, người phụ nữ lại là người có nhiều cơ hội thành công hơn trong cơ chế kinh tế thiên nhiều về dịch vụ như hiện nay Đây
là cơ sở quan trọng để người Việt tiếp nhận vấn đề bình đẳng giới Về mặt tư tưởng, người phụ nữ đã giải phóng được chính mình khỏi sự tự ti, đồng thời, khẳng định được vai trò quan trọng của mình đối với sự phát triển của gia đình và xã hội
Tư tưởng bình đẳng, chú trọng việc nâng cao chất lượng cuộc sống và
đề cao tự do cá nhân là những giá trị nhân văn mới mà gia đình người Việt đang tiếp nhận cho dù tự giác hay tự phát Sự tiếp nhận này không phải chỉ là
sự tự điều chỉnh mang tính tất yếu do phương thức kinh tế thay đổi mang lại
mà còn bởi thông tin đại chúng và sự du nhập các giá trị văn minh phương Tây trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nền kinh tế thị trường
Trang 37Như vậy, có thể thấy rằng, sự phát triển của kinh tế thị trường đã và đang tác động ngày một sâu rộng tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong
đó có sự tác động không nhỏ tới đời sống đạo đức gia đình, đang từng bước làm biến đổi những nguyên tắc, những chuẩn mực đạo đức gia đình truyền thống cho phù hợp với xã hội mới, tạo điều kiện cho sự phát triển và hoàn thiện của mỗi cá nhân, trên cơ sở kế thừa biện chứng những yếu tố tích cực của đạo đức gia đình truyền thống
- Những tác động tiêu cực:
Bên cạnh những tác động tích cực, kinh tế thị trường đang làm nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực trong đời sống xã hội, trong đó có đời sống gia đình và đạo đức gia đình truyền thống
Kinh tế thị trường đã xô đẩy con người hướng vào giá trị trước mắt trội hơn các giá trị bền vững, đề cao lợi ích cá nhân hơn lợi ích tập thể, cộng đồng, xã hội Điều đó đã làm đảo lộn nhiều giá trị, chuẩn mực đạo đức xã hội, biểu hiện ở sự xuống cấp đạo đức, lối sống phai nhạt lý tưởng, niềm tin Kinh
tế thị trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho chủ nghĩa cá nhân phát sinh và phát triển, tạo nên lối sống vị kỷ, cực đoan, chà đạp lên những giá trị, chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đẹp, trong đó có đạo đức gia đình
Kinh tế thị trường làm cho con người ta lệ thuộc vào đồng tiền, sùng bái động tiền Đồng tiền vừa là phương tiện trao đổi vừa là mục đích của sự trao đổi, lợi nhuận không chỉ chi phối mạnh mẽ mọi suy tư, tình cảm ý thức kinh doanh, mà còn đi vào mọi suy tư và hoạt động của nhiều lĩnh vực xã hội khác,trong đó có quan hệ gia đình Đối với không ít người tiền là cái quyết định tất cả, có tiền là có tất cả Đồng tiền làm băng hoại đạo đức và chi phối ngay cả những quan hệ vốn là thiêng liêng như quan hệ cha mẹ - con cái, quan hệ vợ - chồng, quan hệ anh – em, thậm chí ngay cả trong tình yêu Nó giống như “giai cấp tư sản thẳng tay phá vỡ không để lại giữa người và người
Trang 38một mối quan hệ nào khác ngoài lợi ích trần trụi và lối sống “tiền trao cháo múc”, “không tình nghĩa”, dìm những xúc động thiêng liêng của lòng sùng đạo, của nhiệt tình hiệp sĩ, của tính đa cảm tiểu tư sản xuống dòng nước giá lạnh của sự tính toán vị kỷ, biến phẩm chất con người thành giá trị trao đổi”
gia đình ngày càng lỏng lẻo Ai cũng lo kiếm tiền nên không còn nhiều thời gian giành cho nhau, cho gia đình
Quan niệm tự do, dân chủ trong quan hệ giữa các thành viên trong gia đình đang có những biểu hiện bị lạm dụng Nhiều gia đình đang có xu hướng đối lập lợi ích gia đình với lợi ích xã hội Một số thế hệ trẻ do không được giáo dục từ trong gia đình cẩn thận nên có những biểu hiện xa rời và coi thường đạo đức gia đình truyền thống, bất chấp luân thường đạo lý, chạy theo lối sống xa hoa, truỵ lạc
Trong bối cảnh đó, một số giá trị đạo đức trong gia đình Việt Nam truyền thống đã được nhìn nhận theo một cách khác Một số gia đình tuy đời sống vật chất giàu sang hơn trước, nhưng quan hệ tình cảm giữa các thành viên lại giảm sút, thiếu tình thương yêu, thiếu sự quan tâm chăm sóc đến dời sống tinh thần, tình cảm của nhau, và đôi khi sự quan tâm chỉ mang tính hình thức, chiếu lệ Trong trường hợp này, người ta thường lấy lý do vì công việc bận rộn, vì phải lo làm ăn, kiếm tiền vất vả Họ lạm dụng, ỷ lại tiền bạc để thay thế tình cảm, sự quan tâm dành cho gia đình Ngoài ra, tình trạng người già bị coi thường, cô đơn, con cái hư hỏng, ly hôn, ngoại tình cũng đang diến
ra ở không ít các gia đình Hiện tượng bạo lực gia đình ngày càng có xu hướng gia tăng và để lại hậu qủa nặng nề cho các thành viên trong gia đình và
xã hội
Trang 39Cùng với đó, kinh tế thị trường còn tạo ra một lối sống mới mà không
ít người coi đó là “mốt” – lối sống hưởng thụ mà đi kèm với nó là tâm lý tiêu dùng Với lối sống và tâm lý ấy, các giá trị vật chất đang ngày càng lấn át các chuẩn mực đạo đức và phẩm cách con người Nhiều phong tục, nếp sống gia đình truyền thống và đạo lý cổ truyền bị mai một, xâm hại
Sự du nhập các giá trị văn minh phương Tây, do việc mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, đã khiến cho một
số người có cách nghĩ và lối sống không thích hợp với cả hiện trạng kinh tế và truyền thống văn hoá của con người Việt Nam Chính những giá trị ngoại nhập, mà nhiều khi là giả tạo này đang tạo ra nhiều nét đứt gãy trong lối sống gia đình Việt Nam truyền thống
Bên cạnh đó, phản ứng của xã hội đối với hành vi phi đạo đức cũng giảm đi Nếu trước đây, những hành vi suy đồi về đạo đức bị dư luận xã hội lên án gay gắt thì ngày nay sự phản ứng này có phần dè dặt, yếu ớt hơn Có lẽ
vì mỗi người, mỗi gia đình đang còn mải miết trong cuộc mưu sinh, họ không
có nhiều thời gian để suy nghĩ, bàn luận về những hành vi đó Hơn nữa nếu gặp những chuyện đó họ lại cho rằng “ mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”,
“đèn nhà ai, nhà ấy rạng”… chính những điều đó là mảnh đất dung túng cho cái xấu, cái ác phát triển, làm băng hoại những giá trị tốt đẹp của đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam
từ cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường, cái được, cái lợi là rất
Trang 40lớn, nhưng cái chưa được, cái chưa lợi cũng không phải là ít Dưới tác động của nền kinh tế thị trường chắc chắn đạo đức gia đình Việt Nam sẽ có những biến đổi cho phù hợp Sự biến đổi đó không hoàn toàn tách rời những đặc trưng của đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam, mà là một sự điều chỉnh
để thích nghi với điều kiện và hoàn cảnh mới Tất nhiên, sẽ có những khía cạnh của đời sống đạo đức gia đình biến đổi theo xu hướng tích cực, nhưng cũng có những biến đổi theo xu hướng tiêu cực, cản trở chính quá trình phát triển của xã hội Việt Nam, gia đình Việt Nam
Hai là, đứng trước những biến đổi hết sức to lớn của đời sống đạo đức
xã hội nói chung và đạo đức gia đình nói riêng cần hết sức thận trọng khi đánh giá chúng là tích cực hay tiêu cực Nhưng điều phải tính đến một cách nghiêm chỉnh là làm thế nào để sự phát triển, tăng trưởng nhanh, mạnh của kinh tế sẽ không ảnh hưởng tiêu cực nhiều tới đạo đức gia đình, một trong những môi trường hình thành và phát triển nhân cách của con người Vấn đề này đặt ra một cách khẩn bức đối với nhiều nước, trong đó có Việt Nam Bởi
lẽ, bên cạnh mặt lành mạnh của những biến đổi môi trường gia đình, đạo đức gia đình thì có rất nhiều những biến đổi tiêu cực
Ba là, dưới tác động của kinh tế thị trường mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình ngày càng lỏng lẻo, đạo đức gia đình ngày càng bị băng hoại nhưng đó không phải là lý do để hoảng hốt, cần hết sức bình tĩnh phân tích, nhìn nhận những quá trình diễn ra để có những cách ứng xử linh hoạt, thích hợp Chỉ trên cơ sở đó, chúng ta mới có thể xây dựng được một hệ giá trị đạo đức gia đình Việt Nam mới, trong sáng, lành mạnh, nhân văn, nhân đạo, giàu tính dân tộc và hiện đại phù hợp với những đòi hỏi mới của quá trình hoàn thiện nhân cách của con người Việt Nam hiện đại, phù hợp và thích nghi với những biến đổi mới trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay