DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT BUR : Biennial Update Report - Báo cáo cập nhật hai năm một lần CCAP : Center for Clean Air Policy - Trung tâm Chính sách Không khí sạch CCF : Climate Change Fund -
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TRẦN THỊ THU HƯƠNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CẤU TRÚC TỔ CHỨC KIỂM KÊ PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH PHÙ HỢP VỚI BỐI CẢNH VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
TRẦN THỊ THU HƯƠNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CẤU TRÚC TỔ CHỨC KIỂM KÊ PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH
PHÙ HỢP VỚI BỐI CẢNH VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Trung Thắng
HÀ NỘI – 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Học viên Trần Thị Thu Hương - người thực hiện luận văn này xin cam đoan:
Bản luận văn với những nội dung, số liệu sử dụng là công trình nghiên cứu, sưu tầm, xử lý của cá nhân dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Trung Thắng
Tác giả
Trần Thị Thu Hương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai các nội dung của Luận văn, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ rất tận tình của TS Nguyễn Trung Thắng (Phó Viện trưởng - Viện Chiến lược, Chính sách và Tài nguyên môi trường) người đã trực tiếp hướng dẫn tôi các nội dung khoa học của cũng như cung cấp số liệu cho Luận văn này
Bên cạnh đó, để có thể hoàn thành luận văn kịp tiến độ, tôi xin cảm ơn các Thầy, Cô trong Khoa Sau đại học – Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai đề tài
Ngoài ra, tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới các bạn bè đồng nghiệp, gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Mặc dù luận văn đã được hoàn thành, tuy nhiên vấn đề nghiên cứu của luận văn rất rộng, có thể xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau Tác giả mong nhận được sự góp ý của Thầy, Cô và anh chị học viên để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
Danh mục các ký hiệu viết tắt iii
Danh mục hình iv
Danh mục bảng vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU KIỂM KÊ PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH 3
1.1 TỔNG QUAN GIẢM PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH 3
1.1.1 Công ước Khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu 3
1.1.2 Nghị định thư Kyoto (KP) về giảm phát thải khí nhà kính 7
1.1.3 Ban liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) 12
1.2 KINH NGHIỆM VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC KIỂM KÊ KHÍ NHÀ KÍNH CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA 14
1.2.1 Tổ chức kiểm kê KNK quốc gia tại các nước thuộc phụ lục 1 – KP 15
1.2.2 Kinh nghiệm về công tác tổ chức của một số nước không thuộc Phụ lục1/KP 24
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 26
2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu 26
2.1.2 Phương pháp thu thập thông tin và tổng kết kinh nghiệm 26
2.1.3 Phương pháp rà soát, đánh giá, kế thừa 26
2.1.4 Phương pháp so sánh 27
2.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 27
2.2.1 Hướng dẫn của UNFCCC và quy định của IPCC về kiểm kê quốc gia khí nhà kính 27
2.2.2 Hướng dẫn của IPCC về kiểm kê phát thải khí nhà kính 33
2.3 CƠ SỞ PHÁP LÝ TỔ CHỨC KIỂM KÊ KHÍ NHÀ KÍNH Ở VIỆT NAM 39
2.3.1 Cam kết quốc tế của Việt Nam 39
2.3.2 Hệ thống văn bản pháp quy 40
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT CẤU TRÚC TỔ CHỨC KIỂM KÊ KHÍ NHÀ KÍNH Ở VIỆT NAM 48
Trang 63.2.1 Thông báo quốc gia đầu tiên cho UNFCCC (TBQG 1) và gửi Ban Thư ký Công ước tháng 12/2003 583.2.2 Thông tin kiểm kê khí nhà kính trong Thông báo quốc gia lần thứ 2 603.2.3 Kiểm kê quốc gia KNK năm 2010 (BUR1) 63
3.3 ĐÁNH GIÁ VỀ HỆ THỐNG VÀ VAI TRÒ ĐẢM NHIỆM CỦA CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ TRONG CÔNG TÁC KIỂM KÊ KNK TẠI VIỆT NAM 64
3.3.1 Kết quả đạt được 643.3.2 Những khó khăn, thiếu hụt, hạn chế 65
3.4 ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO CÔNG TÁC KIỂM KÊ KHÍ NHÀ KÍNH Ở VIỆT NAM 70
3.4.1 Tạo lập hệ thống quốc gia về kiểm kê KNK .703.4.2 Xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý cho công tác kiểm kê KNK Quốc gia 713.4.3 Sắp xếp cơ cấu tổ chức cho việc vận hành hệ thống kiểm kê KNK quốc gia giữa các Bộ, ban, ngành và các tổ chức liên quan 73
KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 79
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BUR : Biennial Update Report - Báo cáo cập nhật hai năm một lần CCAP : Center for Clean Air Policy - Trung tâm Chính sách Không
khí sạch CCF : Climate Change Fund - Quỹ Biến đổi khí hậu của Ngân hàng
Phát triển châu Á CDM : Clean Development Mechanism - Cơ chế Phát triển sạch CERs : Certified Emissions Reduction - Lượng giảm phát thải được
chứng nhận COP : Conference of Parties - Hội nghị các Bên
GEF : Global Environmental Fund - Quỹ Môi trường Toàn cầu IPCC : Uỷ ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu
JICA : Japan International Cooperation Agency - Cơ quan Hợp tác
Quốc tế Nhật Bản KKQGKNK : Hệ thống Kiểm kê khí nhà kính quốc gia
KTTV&BĐKH : Khí tượng Thuỷ văn và Biến đổi khí hậu
LULUCF : Land Use, Land Use Change and Forestry - Sử dụng đất, thay
đổi sử dụng đất và rừng
Trang 8TNMT : Tài nguyên và Môi trường
UNFCCC : United Nations Framework Convention on Climate Change -
Công ước Khung về Biến đổi Khí hậu của Liên Hợp Quốc
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Công tác tổ chức kiểm kê khí nhà kính quốc gia tại Nhật Bản 16
Hình 1.2 Tổ chức thực hiện lập kế hoạch kiểm kê của Nhật Bản 19
Hình 1.3 Tổ chức thực hiện chuẩn bị kiểm kê của Nhật Bản 20
Hình 1.4 Tổ chức kiểm kê quốc gia khí nhà kính của Đức 22
Hình 1.5 Tổ chức kiểm kê khí nhà kính ở Thái Lan 24
Hình 1.6 Tổ chức kiểm kê khí nhà kính ở Indonesia 25
Hình 2.1 Cấu trúc của báo cáo phân tích sai số trong kiểm kê khí nhà kính 37
Hình 3.1 Hệ thống tổ chức thực hiện Thông báo quốc gia lần Thứ 2 của Việt Nam về Biến đổi khí hậu 50
Hình 3.2 Thành phần nhóm kiểm kê khí nhà kính trong SNC 52
Hình 3.3 Cơ cấu tổ chức xây dựng BUR1 tại Việt Nam 54
Hình 3.4 Quy trình thực hiện kiểm kê phát thải KNK trong Thông báo quốc gia lần thứ hai 58
Hình 3.8 Cơ cấu tổ chức cho việc vận hành hệ thống kiểm kê KNK quốc gia ở Việt Nam 76
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả kiểm kê khí nhà kính cho năm 1994 59Bảng 3.2 Kết quả kiểm kê quốc gia KNK năm 2000 (SNC) 62Bảng 3.3 Kết quả kiểm kê quốc gia KNK năm 2010 64Bảng 3.1 Đánh giá những hạn chế, thiếu hụt của hệ thống tổ chức
kiểm kê khí nhà kính ở Việt Nam cần cải thiện 69
Trang 11là chương trình nghị sự chính của các Hội nghị thường niên của các Bên (COP) thuộc Công ước khung Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC)
Kiểm kê phát thải khí nhà kính là một hoạt động quan trọng để cung cấp các thông tin hữu ích, tạo lập cơ sở vững chắc cho công tác hoạch định chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu Kết quả công tác kiểm kê càng chính xác, việc hoạch định chính sách sẽ càng thuận lợi và có tính khả thi trong thực tiễn áp dụng
Việt Nam là một Quốc gia đang phát triển, không nằm trong Phụ lục I của UNFCCC do vậy không bắt buộc phải triển khai công tác kiểm kê khí nhà kính quốc gia hàng năm, cũng như phải xây dựng hệ thống kiểm kê khí nhà kính quốc gia theo yêu cầu của UNFCCC và Nghị định thư Kyoto
Tuy nhiên, từ sau Hội nghị các Bên lần thứ 17 năm 2011 (COP17) tại Durban, Nam Phi, các nước đang phát triển cần xây dựng Thông báo quốc gia (NC) bốn năm một lần và Báo cáo cập nhật hai năm một lần (BUR) theo yêu cầu trong Quyết định 2/CP.17, kết quả kiểm kê quốc gia KNK là một phần bắt buộc trong các Báo cáo và Thông báo gửi UNFCCC Do đó, kiểm kê quốc gia KNK
đã trở thành nhiệm vụ và yêu cầu bắt buộc đối với nước đang phát triển như Việt Nam
Trang 12hành hệ thống kiểm kê quốc gia KNK có vai trò và ý nghĩa quan trọng tạo cơ sở cho việc hoạch định chính sách biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Với mục tiêu nghiên cứu: Rà soát lại thực trạng tổ chức kiểm kê khí nhà kính và đề xuất các giải pháp hoàn thiện tổ chức trong đó quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đầu mối quốc gia về kiểm kê khí nhà kính và các bên liên quan là một việc làm hết sức cần thiết Đây sẽ là cơ sở để xây dựng, hình thành và phát triển hệ thống quốc gia về kiểm kê khí nhà kính ở nước ta, nhằm đáp ứng các yêu cầu trong bối cảnh mới
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá và phân tích hệ thống kiểm kê phát thải khí nhà kính quốc gia, Báo cáo cập nhật hai năm một lần, tác giả đã lựa chọn đề
tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất cấu trúc tổ chức kiểm kê phát thải khí
nhà kính phù hợp với bối cảnh Việt Nam” làm đề tài tốt nghiệp cao học và
với mong muốn góp một phần xác định các nội dung cần thiết phục vụ cho công tác quản lý kiểm kê phát thải khí nhà kính, đưa ra đề xuất cấu trúc tổ chức kiểm
kê khí nhà kính phù hợp với bối cảnh Việt Nam và phù hợp với các yêu cầu của UNFCCC yêu cầu đối với các quốc gia không thuộc phụ lục I
Nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu kiểm kê phát thải khí nhà kính
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 3: Đề xuất cấu trúc tổ chức kiểm kê khí nhà kính ở VN
Kết luận - kiến nghị: Tổng kết những kết quả đạt được của đề tài
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU KIỂM KÊ PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH
1.1 TỔNG QUAN KIỂM KÊ PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH
1.1.1 Công ước Khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu
Đứng trước thách thức về sự biến đổi một cách bất thường và nhanh chóng của khí hậu trên trái đất, từ năm 1990, một loạt các hội nghị quốc tế đã được tổ chức để đưa ra những lời kêu gọi khẩn cấp cho sự ra đời của một điều ước quốc
tế đa phương toàn cầu về ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) Nhằm ngăn chặn những hiểm hoạ do biến đổi khí hậu gây ra, tại Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển ở Rio de Janeiro, Brazil tháng 6 năm
1992, 155 quốc gia trong đó có Việt Nam đã ký Công ước Khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu, đến nay đã có 192 nước phê chuẩn công ước Mục tiêu của Công ước là nhằm "ổn định các nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu" Thực hiện các cam kết trong Công ước sẽ là vận hội để chúng ta bảo vệ hệ thống khí hậu trên trái đất
UNFCCC được thông qua ngày 9/5/1992 và chính thức có hiệu lực thi hành
kể từ ngày 21/3/1994 Các Bên tham gia công ước này thừa nhận và quyết tâm bảo vệ hệ thống khí hậu cho các thế hệ hiện nay và mai sau vì sự thay đổi của khí hậu trái đất và những hiệu ứng nguy hại của nó là mối quan tâm chung của nhân loại
UNFCCC được ban hành gồm 26 điều và 2 Phụ lục, trong đó đưa ra các định nghĩa, mục tiêu, các nguyên tắc, các cam kết chung mà tất cả các bên có trách nhiệm thực hiện nhưng có sự phân biệt, ưu tiên dựa trên sự phát triển của
Trang 14- Các Bên phải tham gia bảo vệ hệ thống khí hậu vì lợi ích chung của nhân loại trên cơ sở công bằng và phù hợp với những trách nhiệm chung nhưng có phân biệt;
- Cần phải xem xét đầy đủ những nhu cầu riêng và những hoàn cảnh đặc thù của các Bên nước đang phát triển, đặc biệt các nước dễ bị những ảnh hưởng
có hại của sự thay đổi khí hậu của các Bên, nhất là các Bên nước đang phát triển
sẽ phải gánh chịu gánh nặng bất thường hoặc không cân xứng theo Công ước;
- Phải thực hiện những biện pháp phòng ngừa để dự báo, ngăn ngừa hoặc làm giảm những nguyên nhân của đổi khí hậu và làm giảm nhẹ những ảnh hưởng xấu của biến đổi khí hậu; Các Bên có quyền và phải đẩy mạnh phát triển bền vững;
- Các Bên phải hợp tác để đẩy mạnh một hệ thống kinh tế quốc tế mở cửa
và tương trợ, hệ thống này sẽ dẫn tới sự phát triển và tăng trường kinh tế lâu bền
ở tất cả các Bên, đặc biệt các Bên nước đang phát triển
Một số nội dung cơ bản trong cam kết của các Bên tham gia UNFCCC, gồm:
- Cam kết chung cho tất cả các Bên, có tính đến những trách nhiệm chung
nhưng có phân biệt và những ưu tiên, những mục tiêu và những hoàn cảnh phát triển của khu vực và quốc gia riêng của mình như phát triển, cập nhật, công bố theo định kỳ các kiểm kê quốc gia khí nhà kính và gửi cho Hội nghị của các Bên phù hợp với Ðiều 12 của Công ước; Thiết lập, thi hành, công bố và cập nhật thường kỳ các chương trình quốc gia; Ðẩy mạnh hợp tác trong việc phát thải áp dụng và truyền bá, bao gồm chuyển giao công nghệ, thực hành và các quá trình kiểm tra, giảm bớt và ngăn ngừa sự phát thải do con người gây ra
- Các Bên nước phát triển và các Bên khác bao gồm trong Phụ lục I tự cam kết một cách đặc biệt theo một số quy định như: mỗi nước trong các Bên này sẽ chấp nhận các chính sách quốc gia và thực hiện các biện pháp tương ứng về giảm nhẹ biến đổi khí hậu bằng cách giới hạn phát thải các khí nhà kính do con người gây ra và bảo vệ, tăng cường các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính của mình, thực hiện báo cáo định kỳ phù hợp với Điều 12 của UNFCCC
Trang 15Những chính sách và biện pháp này sẽ chứng tỏ rằng các nước phát triển đang dẫn đầu trong việc làm thay đổi các xu thế dài hạn trong các phát thải do con người gây ra phù hợp với mục tiêu của Công ước Các Bên này có thể thi hành những chính sách và biện pháp như vậy một cách liên hợp cùng với các Bên khác và có thể giúp các Bên khác trong việc đóng góp để đạt tới mục tiêu của Công ước này
- Cam kết của các Bên nước phát triển và các Bên phát triển khác bao gồm trong Phụ Lục II như: Sẽ cung cấp các nguồn tài chính mới và bổ sung để đáp ứng toàn bộ chi phí đã thống nhất mà các Bên nước đang phát triển gánh chịu trong việc tuân thủ các nghĩa vụ của mình theo Ðiều 12, mục I; Sẽ giúp các Bên nước đang phát triển, đặc biệt nước dễ bị những ảnh hưởng nguy hại của biến đổi khí hậu trong việc đáp ứng các chi phí để thích ứng với các ảnh hưởng xấu đó; Sẽ tiến hành mọi bước có thể thực hành được để đẩy mạnh, làm thuận lợi và tài trợ khi thích ứng, việc chuyển giao hoặc có được các công nghệ và kỹ thuật thân thiện với môi trường cho các Bên khác, đặc biệt là các Bên nước đang phát triển, tạo khả năng cho họ có thể thực hiện các điều khoản của Công ước Trong quá trình này các Bên nước phát triển sẽ hỗ trợ cho sự phát triển, nâng cao khả năng và công nghệ địa phương của các Bên nước đang phát triển
Hội nghị các Bên (Conference of Parties - COP):
- Hội nghị các Bên được coi như cơ quan tối cao của Công ước này, sẽ duy trì thường xuyên tổng quan việc thi hành Công ước và bất kỳ văn bản pháp lý nào liên quan mà Hội nghị các Bên có thể thông qua và trong sứ mệnh được giao phó của mình, sẽ có những quyết định cần thiết để đẩy mạnh việc thi hành
có hiệu quả của Công ước
- Khoá đầu tiên của Hội nghị các Bên sẽ được triệu tập bởi Ban thư ký lâm
Trang 16Bên nào, miễn là trong vòng sáu tháng mà yêu cầu được Ban thư ký thông báo đến các Bên, nó được sự ủng hộ của ít nhất một phần ba các Bên
- Liên Hợp Quốc, các cơ quan chuyên môn của mình và cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế, cũng như nước thành viên bất kỳ hoặc các quan sát viên không phải một Bên của Công ước, có thể có đại diện tại các khoá họp của Hội nghị các Bên với tư cách là các quan sát viên Tổ chức hoặc các cơ quan bất
kỳ, dù là quốc gia hay quốc tế, chính phủ hay phi chính phủ, có trình độ về tất cả các vấn đề bao hàm vởi Công ước, khi đã báo cáo cho Ban thư ký mong muốn của mình được có đại diện tại khoá họp của Hội nghị các Bên như là một quan sát viên, có thể được cho phép trừ khi ít nhất một phần ba các Bên có mặt phản đối Việc cho phép và tham gia các quan sát viên sẽ tuân theo các quy tắc và thủ tục thông qua bởi các Hội nghị các Bên
- Một ban thư ký được thiết lập theo UNFCCC với chức năng sắp xếp cho các khoá học của Hội nghị các Bên và các cơ quan bổ trợ của nó được thành lập theo Công ước và cung cấp các phục vụ cần thiết cho các khoá họp đó; Tập hợp
và chuyển các báo cáo đã được trình; Tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ các Bên, đặc biệt các Bên nước đang phát triển theo yêu cầu trong việc tập hợp và truyền thông tin cần thiết cho phù hợp với những điều khoản của Công ước; Chuẩn bị các báo cáo về những hoạt động của mình và trình bày chúng với Hội nghị các Bên; Bảo đảm sự phối hợp cần thiết với các Ban thư ký của các cơ quan quốc tế khác thích hợp;…
Truyền đạt thông tin liên quan với việc thi hành
Để thực hiện các cam kết kiểm kê khí nhà kính quốc gia, mỗi Bên có trách nhiệm truyền đạt tới Hội nghị các Bên qua Ban thư ký các yếu tố thông tin về Kiểm kê quốc gia về những phát thải do con người gây ra bởi các nguồn và sự trừ khử bởi các bể hấp thụ mọi khí nhà kính không được kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal tới mức khả năng cho phép, sử dụng các phương pháp có thể
so sánh đã được tăng cường và nhất trí bởi Hội nghị các Bên
Đồng thời, phải mô tả tổng quát về các bước đã được tiến hành hoặc được
dự kiến bởi Bên thi hành Công ước và thông tin khác bất kỳ mà các Bên đó coi
Trang 17là thích hợp cho việc đạt tới mục tiêu của Công ước và thích hợp để đưa vào truyền đạt, bao gồm, nếu có thể được, tài liệu thích hợp cho các tính toán về những khuynh hướng phát thải toàn cầu
Mỗi Bên nước phát triển và mỗi Bên khác bao gồm trong phụ lục I sẽ dựa vào trong thông báo của mình các yếu tố thông tin sau: mô tả chi tiết về các chính sách và biện pháp Bên đó đã thông qua để thi hành cam kết của mình và mỗi đánh giá riêng về các ảnh hưởng mà các chính sách và biện pháp nói ở trên
sẽ gây ra những phát thải nhân tạo từ các nguồn và hấp thụ bởi các bể hấp thụ của mình đối với các khí nhà kính
Các Bên nước đang phát triển có thể trên cơ sở tự nguyện, đề xuất những
dự án để tài trợ, bao gồm các công nghệ, vật liệu, thiết bị, kỹ thuật hoặc các thực hành đặc biệt cần thiết để thi hành những dự án ấy, nếu có thể được, cùng với một ước tính các chi phí gia tăng của việc giảm bớt phát thải và những gia tăng của việc hấp thụ các khí nhà kính cũng như một ước tính có lợi ích kèm theo Mỗi Bên nước phát triển khác bao gồm trong Phụ lục I sẽ đưa ra thông báo ban đầu trong vòng sáu tháng kể từ khi bắt đầu có hiệu lực của Công ước đối với Bên đó Mỗi Bên không trong danh sách đó sẽ đưa ra thông báo ban đầu trong vòng ba năm kể từ khi bắt đầu có hiệu lực của Công ước đói với Bên đó, hoặc có hiệu lực của các nguồn tài chính phù hợp Các Bên thuộc các nước kém phát triển nhất có thể đưa ra thông báo ban đầu của mình tuỳ ý mình Tần suất của các thông báo tiếp theo bởi tất cả các Bên sẽ được xác định bởi Hội nghị các Bên, lưu ý đến thời gian biểu có phân biệt đặt ra trong mục này
1.1.2 Nghị định thư Kyoto (KP) về giảm phát thải khí nhà kính
Tại Điều 17 của UNFCCC đã quy định: Hội nghị các Bên có thể tại khoá họp thường lệ bất kỳ, thông qua các Nghị định thư đối với Công ước Văn bản
Trang 18Công ước có thể là các Bên của Nghị định thư Những quyết định theo Nghị định thư bất kỳ sẽ được thực hiện chỉ bởi các Bên của Nghị định thư liên quan
Thời kỳ cam kết đầu tiên của KP (2008-2012)
Tháng 12/1997 tại Kyoto của Nhật Bản, COP lần thứ 3 của UNFCC đã thông qua Nghị định thư Kyoto nhằm tăng cường cơ sở pháp lý về trách nhiệm thực hiện UNFCC với “Mục tiêu là toàn bộ các nước phát triển sẽ giảm tổng lượng phát thải xuống thấp hơn năm 1990 với tỷ lệ trung bình là 5,2% trong thời
kỳ cam kết đầu tiên (từ 2008-2012) và hỗ trợ các nước đang phát triển thực hiện phát triển bền vững và các nước phát triển thực hiện cam kết giảm phát khí thải
CO2 và các chất khí gây hiệu ứng nhà kính nhằm góp phần đạt được mục tiêu chung của UNFCCC” Nghị định thư Kyoto đã được 159 quốc gia ký kết và đã được Nga ký kết vào 3/1999 Đến nay có 192 nước phê chuẩn, tham gia
Nghị định thư qui định, trong giai đoạn đầu có hiệu lực, từ năm 2008 đến năm 2012, các nước Phụ lục 1 cam kết và thực hiện cắt giảm tổng lượng phát thải khí nhà kính xuống mức 5,2% như năm 1990 bằng việc giảm sử dụng than, khí đốt, dầu mỏ chuyển sang sử dụng năng lượng sạch như năng lượng mặt trời, sức gió
Danh mục các chất bị kiểm soát bởi KP: KP đưa ra danh sách 06 KNK sẽ
bị kiểm soát bởi KP gồm Cacbon dioxit (CO2), Metan (CH4), Nitơ oxi (N2O,
NOx), Hợp chất chứa Flo Cacbon (HFCs, FCs), SF6, CF3I,…
Cơ chế thực hiện: KP đã đưa ra "03 cơ chế mềm dẻo”, bao gồm: Cơ chế
đồng thực hiện; Cơ chế mua bán quyền phát thải (ET) và Cơ chế phát triển sạch
- CDM (Clean Development Mechanism)
Về thời điểm có hiệu lực của KP: Để có hiệu lực, Nghị định thư Kyoto cần
phải được tối thiểu 55 nước, chịu trách nhiệm về 55% khí thải toàn cầu do các nước phát triển tham gia kí kết KP thải ra vào năm 1990 Nhưng cho đến thời điểm ngày 30/9/2004 khi chính phủ Nga thông qua dự luật “Phê chuẩn Nghị định thư Kyoto trong khuôn khổ Công ước khung của Liên Hợp Quốc về thay đổi khí hậu”, các nước đã phê chuẩn Nghị định thư Kyoto (124 nước đã phê
Trang 19chuẩn) mới chỉ chịu trách nhiệm 44,2% lượng khí thải toàn cầu Việc Nga phê chuẩn văn kiện này có ý nghĩa quan trọng vì nó làm cho Nghị định thư Kyoto có hiệu lực vào ngày 16/2/2005
Tính đến 6/2007 đã có 175 quốc gia ký kết Nghị định thư Kyoto, tuy nhiên việc thực hiện các cam kết của các quốc gia, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển như Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia là cả một vấn đề hết sức phức tạp vì ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng phát triển của các quốc gia đó
Ngày 3/12/2007, Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu đã chính thức khai mạc tại Bali, Indonesia với sự góp mặt của 189 quốc gia trên thế giới, kéo dài đến 14/12/2007 Đây là hội nghị thượng đỉnh thường niên quan trọng nhất kể
từ đàm phán Kyoto năm 1997
Hội thảo tập trung thảo luận các vấn đề: trách nhiệm của các quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển trong vấn đề biến đổi khí hậu, thực hiện mục tiêu cắt giảm khí nhà kính (dự kiến là 30% vào năm 2020 và 60-80% vào năm 2050 đối với các nước phát triển), hỗ trợ các nước đang phát triển và các nước nghèo thích ứng với biến đổi khí hậu và xem xét việc xây dựng một cơ chế chung Kết thúc Hội nghị, hơn 200 nhà khoa học đã ký vào bản thông cáo để trình lên LHQ kêu gọi các hành động cấp bách cắt giảm việc phát thải khí nhà kính Thông cáo nêu rõ, loài người chỉ còn một cơ hội trong vòng 10 -15 năm tới lượng phát thải khí nhà kính sẽ phải đạt mức tối đa và sau đó giảm dần để đạt mục tiêu giảm 50% lượng khí phát thải tới năm 2050
Bản thông cáo cũng đề xuất thời gian tổ chức vòng đàm phán tiếp theo để xây dựng các thỏa thuận mới về khí hậu toàn cầu (trong khuôn khổ công ước khung LHQ về biến đổi khí hậu) bắt đầu từ tháng 12/2007 và hoàn thành vào
Trang 20khẩn cấp nhằm đẩy nhanh và tăng cường thực hiện Công ước của tất cả các Bên, trên cơ sở công bằng và phù hợp với trách nhiệm chung nhưng có phân biệt và khả năng của mỗi nước" và "đồng ý rằng các Bên là các nước đang phát triển sẽ đưa các hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính quốc gia phù hợp trong bối cảnh phát triển bền vững, hỗ trợ tài chính, công nghệ và xây dựng năng lực, nhằm đạt được một lượng giảm phát thải so sánh với lượng phát thải khi không
có các hành động giảm nhẹ phát thải vào năm 2020 "(FCCC/CP/2010/ 7/Điều.1/khổ 48)
Hơn nữa, COP16 cũng mời "các nước đang phát triển có nhu cầu tự nguyện thông báo cho Hội nghị các Bên về ý định thực hiện các hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính quốc gia thích hợp gắn với quyết định này nhằm cung cấp thông tin cho Ban thư ký Công ước" (FCCC/CP/2010/7 /Điều.1/khổ 50), và cung cấp
"thông tin về các hành động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính quốc gia mà các quốc gia đang phát triển đang tìm kiếm hỗ trợ, chi phí ước tính, lượng giảm phát thải, và khung thời gian dự kiến thực hiện" (FCCC/CP/2010/7/ Điều.1/khổ 54) Tại COP16, các Bên thông qua quyết định các nước đang phát triển xây dựng và nộp Thông báo quốc gia sau mỗi bốn năm (Quyết định 1/CP.16)
Thời kỳ cam kết lần thứ hai của Nghị định thư Kyoto
Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) lần thứ 17 (COP17) và Hội nghị các bên tham gia Nghị định thư Kyoto lần thứ 7 (CMP7) được tổ chức từ ngày 28 tháng 11 đến ngày 11 tháng 12 năm 2011 tại thành phố biển Durban, Cộng hòa Nam Phi Với sự tham gia của 194 quốc gia và các tổ chức liên chính phủ, phi chính phủ… COP17/CMP7 được kỳ vọng đạt được thỏa thuận quốc tế mới có tính ràng buộc pháp lý ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu trong khuôn khổ Công ước Khung về biến đổi khí hậu sau năm 2012 và quyết định tương lai của Nghị định thư Kyoto khi mà thời kỳ cam kết thứ nhất sẽ kết thúc vào cuối năm 2012 Tuy nhiên, kết quả COP 17 tại Durban được đánh giá là khá khiêm tốn và không như
kỳ vọng ban đầu nhưng là những thỏa thuận tất yếu trong bối cảnh còn nhiều bất
Trang 21đồng và mâu thuẫn về lợi ích giữa các quốc gia Dù vậy, COP 17 cũng đã đạt được những thỏa thuận cần thiết và quan trọng, tiền đề cho các cam kết và hành động trong tương lai như sau:
- Tại CMP7, các bên đã đạt được thỏa thuận cho giai đoạn cam kết thứ hai của Nghị định thư Kyoto Giai đoạn cam kết thứ hai sẽ bắt đầu từ ngày 01/01/2013 đến năm 2017 hoặc 2020 Các vấn đề khác như mục tiêu giảm và hạn chế lượng chất thải theo định lượng, các thay đổi đối với Nghị định thư Kyoto và các Phụ lục cũng sẽ được thống nhất và thông qua tại COP 18 vào cuối năm 2012 tại Doha, Quatar
Tại COP17, các Bên thông qua Quyết định |2/CP.17 của Hội nghị tại Durban, Nam Phi, trong đó yêu cầu các nước đang phát triển cần xây dựng Thông báo quốc gia (NC) bốn năm một lần và Báo cáo cập nhật hai năm một lần (BUR), kết quả kiểm kê quốc gia KNK là một phần bắt buộc trong các Báo cáo
và Thông báo gửi Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu
Hội nghị COP18 và CMP8 đã được tổ chức tại Doha, Qatar, từ ngày 24 tháng 11 đến ngày 07 tháng 12 năm 2012, tại COP18 và CMP8, quan điểm giữa các nhóm nước, đặc biệt giữa nhóm nước đang phát triển và nhóm nước phát triển vẫn còn nhiều khác biệt Hội nghị COP18, CMP8 diễn ra căng thẳng và phải kéo dài thêm 01 ngày so với chương trình đề ra Với sự nỗ lực lớn của tất
cả các Bên tham gia Hội nghị, trong đó có sự thu xếp tích cực của nước chủ nhà, Hội nghị đã kết thúc vào tối ngày 08 tháng 12 năm 2012 và đã thông qua một gói quyết định được coi là “Hướng tiếp cận Khí hậu Doha” (Doha Climate Gateway), trong đó một trong những kết quả quan trọng sẽ mở ra một giai đoạn mới sau năm 2012 là các bên thống nhất thời kỳ cam kết lần thứ hai của Nghị định thư Kyoto sẽ kéo dài 08 năm bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 năm 2013 và kết
Trang 221.1.3 Ban liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC)
IPCC là tập hợp các nhà khoa học từ 195 nước thành viên Liên Hợp Quốc,
Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) và Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc (UNEP) thành lập IPCC năm 1988 Mục đích của IPCC là đánh giá các thông tin khoa học, kỹ thuật, kinh tế-xã hội liên quan đến tác động của biến đổi khí hậu đối với cuộc sống con người IPCC không tiến hành các nghiên cứu mới hay giám sát các dữ liệu liên quan đến khí hậu mà đưa ra đánh giá dựa trên các
ấn phẩm và các bài viết mang tính khoa học và kỹ thuật Ban thư ký của IPCC
có trụ sở ở Geneva, Thụy Sỹ và nhân sự do WMO và UNEP tuyển dụng
Từ khi thành lập, IPCC đã có một loạt các đánh giá toàn diện, các báo cáo đặc biệt và tài liệu kỹ thuật, cung cấp thông tin khoa học về biến đổi khí hậu cho cộng đồng quốc tế trong đó có các nhà hoạch định chính sách và công chúng Những thông tin này giữ vai trò quan trọng trong các đàm phán trong khuôn khổ UNFCCC UNFCCC đưa ra khung chính sách tổng thể để ứng phó với biến đổi khí hậu và đã được thông qua năm 1992 và có hiệu lực từ năm 1994
Hiện tại, IPCC gồm 3 Nhóm công tác: Nhóm thứ nhất về các phương diện khoa học của hệ thống khí hậu và biến đổi khí hậu; Nhóm thứ hai về tính chất dễ
bị tổn hại của hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế xã hội trước những tác động của biến đổi khí hậu, những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực của biến đổi khí hậu
và các phương án lựa chọn thích ứng; Nhóm thứ ba về các phương án hạn chế phát thải khí nhà kính và giảm nhẹ biến đổi khí hậu
IPCC cũng có tổ công tác về kiểm kê quốc gia các khí nhà kính Tổ công tác này theo dõi các chương trình của IPCC về kiểm kê quốc gia khí nhà kính (NGGIP) với mục tiêu là xây dựng và lựa chọn phương pháp luận và phần mềm được quốc tế chấp nhận để tính toán và báo cáo các nguồn phát thải và các bể hấp thụ quốc gia khí nhà kính đồng thời khuyến khích các nước tham gia IPCC
và các nước ký UNFCCC sử dụng phương pháp luận này Văn phòng IPCC có khoảng 30 thành viên do IPCC bầu chọn có nhiệm vụ hỗ trợ Chủ tịch IPCC trong việc lập kế hoạch, điều phối và giám sát quá trình công tác của IPCC
Trang 23Các tài liệu chính của IPCC:
IPCC đã hoàn thành 5 bản đánh giá toàn diện ban đầu về biến đổi khí hậu trong Báo cáo đánh giá lần thứ nhất năm 1990 và Báo cáo đánh giá lần thứ hai năm 1995 Báo cáo đánh giá lần thứ ba của IPCC (TAR) cũng đã được hoàn thành năm 2001 Nội dung của Báo cáo nói về các mặt kỹ thuật, kinh tế, xã hội
và khoa học liên quan đến chính sách về biến đổi khí hậu và tập trung vào các kết quả nghiên cứu cả phạm vi khu vực và toàn cầu kể từ năm 1995
Báo cáo lần thứ 5 của IPCC vào tháng 4/2014 với tựa đề Biến đổi khí hậu
2014: Giảm nhẹ biến đổi khí hậu cho thấy khí nhà kính phát thải toàn cầu đang
tăng nhanh ở mức chưa từng có từ trước đến nay mặc cho hàng loạt chính sách
về giảm thiểu biến đổi khí hậu đang được ban hành Phát thải tăng nhanh hơn vào khoảng năm 2000-2010 so với mỗi thập kỷ của 30 năm trước (1970-2000) Báo cáo đánh giá lần thứ 5 sẽ là một mốc tham chiếu cho các chính phủ khi họ đàm phán về một thỏa ước mới về BĐKH, dự kiến sẽ công bố vào năm 2015 và
có hiệu lực từ năm 2020
Kể từ năm 1991, IPCC cũng soạn thảo hướng dẫn kỹ thuật đánh giá kiểm
kê khí nhà kính Hướng dẫn của IPCC về kiểm kê quốc gia khí nhà kính được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1994 và bản chỉnh sửa được công bố vào năm
1996 Nghị định thư Kyoto (KP) năm 1997 của UNFCCC khẳng định lại việc các Bên của UNFCCC và, trong tương lai, cả các Bên của KP, sử dụng các hướng dẫn đó để xây dựng kiểm kê khí nhà kính của mình
Trong năm 2000 và 2003, IPCC đã thông qua các báo cáo hướng dẫn thực hành bổ sung, đây là Báo cáo bổ sung cho Bản hướng dẫn được chỉnh sửa năm
1996 và cũng trong năm 2003, IPCC phê duyệt quy trình xây dựng các hướng dẫn chỉnh sửa vào đầu năm 2006
Trang 241.2 KINH NGHIỆM VỀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC KIỂM KÊ KHÍ NHÀ KÍNH CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA
Nghị định thư Kyoto của UNFCCC là văn bản pháp lý quốc tế duy nhất ràng buộc các nước phát triển phải cam kết và thực hiện cắt giảm phát thải KNK định lượng
UNFCCC yêu cầu các nước thuộc phụ lục 1 thiết lập một hệ thống quốc gia
về ước tính phát thải khí nhà kính và có Hướng dẫn chung về hệ thống quốc gia này (tại Quyết định 19/CMP.1), theo đó Hệ thống quốc gia được định nghĩa là
“bao gồm các săp xếp về thể chế, pháp luật và thủ tục được hình thành trong quốc gia có tên trong Phụ lục 1, cho việc ước tính phát thải ở mọi loại nguồn do con người gây ra và việc loại bỏ phát thải các khí nhà kính không được kiểm soát trong Nghị định thư Montreal và lập báo cáo cũng như lưu trữ các thông tin kiểm kê”
Vì vậy, Các quốc gia thuộc Phụ lục I/KP cần phải thiết lập một cơ quan chịu trách nhiệm chung bao gồm cả việc quản lý công việc của các cơ quan khác trong công tác kiểm kê quốc gia KNK định kỳ Tuy nhiên, việc thiết lập cơ quan này có sự khác nhau ở mỗi quốc gia Các hình thức, cấu trúc của cơ quan này phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước
- Hình thức đơn thế và đa thế: Cách tiếp cận theo hình thức đơn thể là
một cơ quan của chính phủ được thiết lập để quản lý công tác kiểm kê KNK quốc gia Cách tiếp cận theo theo hình thức đa thể là một cơ quan sẽ bao gồm nhiều nhóm công tác liên ngành (multi-agency working group), nhiều ủy ban hoặc cấu trúc khác Một cấu trúc đa thể như vậy sẽ tạo thuận lợi hơn trong quá trì đưa ra quyết định về công tác kiểm kê
- Tổng hợp và đơn lẻ (Integrated vs separate): Đối với cách tiếp cận
tổng hợp thì công tác kiểm kê KNK là một phần của quá trình kiểm kê các chất
ô nhiễm khác ví dụ kiểm kê các chất ô nhiễm không khí Đối với cách tiếp cập đơn lẻ thì quá trình kiểm kê KNK độc lập với các quá trình kiểm kê các chất ô nhiễm khác
Trang 25Ở đây, báo cáo lựa chọn 2 Quốc gia thuộc phụ lục 1 – KP, một đại diện nước phát triển tại Châu Á là Nhật Bản và một đại diện nước phát triển Châu Âu
là Đức và 2 Quốc gia không thuộc Phụ lục 1 – KP tại Đông Nam Á
1.2.1 Tổ chức kiểm kê KNK quốc gia tại các nước thuộc phụ lục 1 – KP
1998 (Act on Promotion of Global Warming Countermeasures)
Tại Báo cáo kiểm kê quốc gia KNK của Nhật Bản năm 2011, vai trò và trách nhiệm của các cơ quan tham gia vào công tác kiểm kê KNK quốc gia tại Nhật Bản cụ thể như hình dưới đây:
Trang 26Hình 1.1 Công tác tổ chức kiểm kê khí nhà kính quốc gia tại Nhật Bản
(Cơ quan quốc gia chịu trách nhiệm
công tác kiểm kê)
Viện nghiên cứu Môi trường Quốc gia (NIES) Văn phòng Kiểm kê Khí nhà kính (GIO)
Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi
Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp
Cục Tài nguyên thiên nhiên và năng lượng
Bộ Nông Lâm Nghư nghiệp
Bộ Tài chính
Cục quản lý Thảm hoạ
và Hoả hoạn
Bộ Môi trường và các đơn vị trong Bộ
Đệ trình báo cáo kiểm kể
Đệ trình báo cáo kiểm kể
Yêu cầu xem xét lại
phương pháp tính toán
Kiểm tra và phê chuẩn
đề xuất xem xét lại
Yêu cầu QA cho việc KK
Báo cáo kết quả QA
Nộp báo cáo KK KNK dự thảo
Yêu cầu chuẩn bị kiểm kê KNK
Yêu cầu xem lại CRF & NIR
Yêu cầu QC cho CRF & NIR
Yêu cầu số liệu Yêu cầu QC cho CRF
Tổ chức liên quan
Cung cấp số liệu Yêu cầu số liệu
Trang 27Bộ Môi trường Nhật Bản (MOE - Ministry of Environment) là cơ quan duy nhất được thiết lập theo yêu cầu đưa ra tại Điều 5.1 KP và là cơ quan đầu mối thiết lập các mối quan hệ qua lại giữa MOE và các cơ quan khác tham gia vào quá trình kiểm kê MOE có trách nhiệm yêu cầu Viện Nghiên cứu môi trường Quốc gia chuẩn bị kiểm kê khí nhà kính theo yêu cầu tại Điều 7 của KP đồng thời nhận báo cáo Dự thảo kiểm kê KNK do cơ quan này trình lên Song song với việc đó, Bộ Môi trường yêu cầu các Bộ, Ngành liên quan cung cấp số liệu, yêu cầu QC cho CRF & NIR và các tổ chức liên quan cung cấp số liệu Sau khi
có Dự thảo báo cáo kiểm kê KNK MOE có trách nhiệm yêu cầu UB Đánh giá phương pháp tính toán phát thải khí nhà kính xem xét lại phương pháp tính toán trước khi đệ trình Báo cáo lên Bộ ngoại giao để trình Nhóm thư ký UNFCCC
Văn phòng thúc đẩy xã hội các bon thấp - Cục Môi trường Toàn cầu
thuộc MOE có trách nhiệm chung trong công tác kiểm kê bao gồm biên tập và
đệ trình kết quả kiểm kê
Văn phòng kiểm kê KNK Nhật Bản (GIO), Trung tâm nghiên cứu môi trường toàn cầu và Viện nghiên cứu Môi trường quốc gia có nhiệm vụ triển
khai công tác kiểm kê thực tế bao gồm tính toán kiểm kê, biên soạn, quản lý và lưu trữ các dữ liệu
Các Bộ, Ngành liên quan thực hiện các hoạt động sau đây: Chuẩn bị dữ
liệu hoạt động, hệ số phát thải, các dữ liệu khác phục vụ công tác kiểm kê và nộp các dữ liệu này theo hạn định; Tiến hành QC các dữ liệu cung cấp cho MOE
và GIO; Xác định và thẩm tra công việc kiểm kê thực hiện bởi MOE và GIO (CRF, NIR, các bảng tính và các thông khác); Trả lời các vấn đề, khi cần thiết, cho nhóm chuyên quốc tế do UNFCCC tổ chức để rà soát về các số liệu thông tin thống kê
Trang 28chuyên quốc tế do UNFCCC tổ chức để rà soát về các số liệu thông tin thống kê
do các cơ quan này quản lý; chuârn bị các nhận xét đối với các nội dung rà soát
Ủy ban Đánh giá phương pháp tính toán phát thải KNK (Committee for the Greenhouse Gas Emissions Estimation Methods): được thành lập năm
1999, gồm có khoảng 60 chuyên gia cộng tác (extemal experts) Cơ quan này có nhiệm vụ Đánh giá các phương pháp tính toán lượng phát thải và hấp thụ KNK; Xem xét việc lựa chọn các thông số như dữ liệu hoạt động, hệ số phát thải Trong ủy ban, nhóm công tác kiểm kê (IWG) sẽ đánh giá vấn đề tổng hợp và có
06 tiểu nhóm xem xét các đề cụ thể theo lĩnh vực
Các công ty tư vấn tư nhân có nhiệm vụ tiến hành QC kết quả kiểm kê (CRF, NIR, spreadsheets và các thông tin khác) do MOE và GIO biên soan Khi cần thiết, hỗ trợ trả lời các vấn đề thắc mắc của nhóm chuyên gia quốc tế do UNFCCC tổ chức đê rà soát và đồng thời cũng chuẩn bị các đánh giá nhận xét đối với nội dung rà soát dự thảo
Nhóm công tác QA cho kiểm kê KNK (QA-WG) có nhiệm vụ thực hiện
các hoạt động QA và bao gồm các chuyên gia không tham gia trực tiếp vào quá trình biên tập kiểm kê Vai trò của nó là đảm bảo chất lượng kiểm kê và xác định các vấn đề cần cải thiện thông qua việc rà soát chi tiết các nguồn hấp thụ và phát thải trong kiểm kê
Theo hướng dẫn chung của UNFCCCC (Quyết định số 19/CMP.1), quy trình xây dựng kiểm kê hay các sắp xếp về thủ tục trong kiểm kê KNK bao gồm
kế hoạch kiểm kê (inventory planning), Chuẩn bị kiểm kê (inventory preparation) và Quản lý kiểm kê (inventory management)
Tương ứng với từng yếu tố trong sắp xếp tổ chức thực hiện kiểm kê như đã
mô tả ở phần trên, trình tự thực hiện kiểm kê và vai trò của các bên trong quá trình thực hiện được thể hiện cụ thể như sau:
Các sắp xếp về thủ tục trong kiểm kê KNK: Theo hướng dẫn chung của
UNFCCCC (Quyết định số 19/CMP.1), quy trình xây dựng kiểm kê hay các sắp xếp về thủ tục trong kiểm kê KNK bao gồm kế hoạch kiểm kê (inventory
Trang 29planning), Chuẩn bị kiểm kê (inventory preparation) và Quản lý kiểm kê (inventory management)
Tương ứng với từng yếu tố trong sắp xếp tổ chức thực hiện kiểm kê như đã
mô tả ở phần trên, trình tự thực hiện kiểm kê và vai trò của các bên trong quá trình thực hiện được thể hiện cụ thể như sau:
Giai đoạn lập kế hoạch kiểm kê thì đầu mối chịu trách nhiệm chung về
toàn bộ công tác kiểm kê là Văn phòng thúc đẩy xã hội các bon thấp - Cục Môi trường Toàn cầu thuộc MOE Là cơ quan tham mưu giúp Bộ Môi trường giao các nhiệm vụ cụ thể cho các bộ, ngành, tổ chức liên quan tham gia vào thực hiện công tác kiểm kê khí nhà kính
Chi tiết kế hoạch QA/QC
Thiết lập các quy trình xem xét, phê duyệt kế hoạch
Văn phòng thúc đẩy xã hội các bon thấp, Cục Môi trường toàn cầu, MOE
MOE, UB Đánh giá PP tính toán phát thải KNK
Lựa chọn phương pháp Thu thập dữ liệu
Xử lý dữ liệu QA/QC
MOE, GIO, các bộ, ngành tổ chức liên quan GIO, các bộ, ngành liên quan
MOE, GIO, các bộ, ngành tổ chức liên quan, UB Đánh giá PP tính toán phát thải KNK, Công ty tư
vấn tư nhân
MOE, GIO
MOE
Trang 30hoạch QA/QC, thiết lập các quy trình kiểm kê sẽ do Văn phòng kiểm kê khí nhà kính đệ trình Bộ Môi trường xem xét và phê duyệt Bộ Môi trường là cơ quan phê duyệt kế hoạch chính thức cho công tác kiểm kê
Giai đoạn chuẩn bị kiểm kê
Hình 1.3 Tổ chức thực hiện chuẩn bị kiểm kê của Nhật Bản
Trong giai đoạn này gồm các hoạt động chủ yếu sau:
o Thu thập số liệu (dữ liệu hoạt động, EFs)
o Chuẩn bị tính toán lượng phát thải và hấp thụ KNK
o Tính toán lại
o Phân tích lĩnh vực chính
o Đánh giá độ bất định
o Đánh giá độ bất định (Đánh giá chuyên gia)
Thu thập số liệu (dữ liệu hoạt
MOE, GIO, các bộ, ngành tổ chức liên quan
Các công ty tư vấn tư nhân, các
Bộ ban ngành, cơ quan có liên quan và UB Đánh giá phương pháp tính toán phát thải KNK
Hoạt động QC theo đặc trưng của nguồn và lĩnh vực
Nhóm công tác QA
UB Đánh giá phương pháp tính toán phát thải KNK
MOE, UB Đánh giá phương phá tính toán phát thải KNK
Tính toán lại Phân tích lĩnh vực chính Đánh giá độ bất định Hoạt động QC tổng quát
GIO, các bộ, ngành liên quan
GIO
UB Đánh giá phương phá tính toán phát thải KNK
Trang 31o Một số hoạt động khác
Hoạt động QC theo đặc trưng của nguồn và lĩnh vực;
Hoạt động QA
Rà soát lại việc kiểm kê đối với lĩnh vực chính và các lĩnh vực
có sự thay đổi đáng kể về dữ liệu hoặc phương pháp tính toán;
Đánh giá lại quá trình lập kế hoạch kiểm kê
Quản lý kiểm kê: giai đoạn này các cơ quan chịu trách nhiệm chính là MOE,
GIO cho các hoạt động: Tất cả các EFs và dữ liệu hoạt động, Tư liệu hóa các nguồn của các dữ liệu và các hệ số phát thải dùng cho công tác kiểm kê, Tư liệu hóa nội bộ các thủ tục QA/QC, Rà soát nội bộ và từ bên ngoài (Extemal and intemal reviews), Tư liệu hóa các hạng mục chính hàng năm, Kế hoạch cải thiện kiểm kê Đối với các Efs và dữ liệu hoạt động theo ngành thì ngoài MOE, GIO
thì các Bộ, ngành liên quan có trách nhiệm lưu trữ thông tin theo ngành mình
1.2.1.2 Ở Đức
Theo báo cáo kiểm kê quốc gia KNK của Đức 1990-2009 [5], chính sách
hệ thống quốc gia về báo cáo phát thải ngày 05 tháng 6 năm 2007 đã xác định rõ nhiệm của các Bộ ngành liên quan, trong đó Cục Môi trường Liên bang có vai trò là cơ quan chuyên trách (cơ quan điều phối quốc gia) của Đức Hỗ trợ quá trình lập báo cáo, các Bộ cùng tham gia khác đã thành lập 1 ủy ban điều phối và nhằm điều phối công việc liên quan trong Cục Môi trường Liên bang, một nhóm công tác về kiểm kê phát thải được thành lập
Trang 32Hình 1.4 Tổ chức kiểm kê quốc gia khí nhà kính của Đức
Cục Môi trường Liên bang (UBA): UBA là cơ quan điều phối quốc gia
trong hệ thống quốc gia của Đức, có vai trò là trung tâm liên lạc, điều phối và thông tin cho các thành viên trong hệ thống quốc gia
Lập kế hoạch, chuẩn bị và lưu trữ kiểm kê; trình bày công tác kiểm kê trong các báo cáo kiểm kê, tiến hành QA/QC đối với tất cả các quá trình quan trọng
Cơ quan chuyên trách
Nhóm công tác về kiểm kê phát thải
Cơ quan phát thải thương mại Đức
Cục Môi trường Liên bang (UBA) Văn phòng
TK liên bang Các bộ khác
Bộ Kinh tế
Nhóm công tác
về cân bằng năng lượng Viện nghiên cứu
Heinrich Von Thunen
Trang 33Ủy ban điều phối quốc gia (The National Co-ordmating Committee): Các
Bộ cùng tham gia khác đã thành lập một Ủy ban điều phối hỗ trợ quá trình lập báo cáo phát thải và làm rõ các vấn đề liên quan đến hệ thống quốc gia
Cụ thể, ủy ban xác định các lĩnh vực có nguồn thải - hấp thụ chính và giải quyết vấn đề độ bất định liên quan
Phê chuẩn kết quả kiểm kê và các báo cáo chiểu theo điều 5, 7 và 8 của KP
Nhóm công tác về kiểm kê phát thải trong Cục môi trường Liên bang:
Điều phối các công việc liên quan trong Cụ môi trường Liên bang Kết nối giữa các cán bộ tham gia vào quá trình kiểm kê của Cục
Ở Đức đã ban hành các chính sách quy định trách nhiệm của các cơ quan tham gia vào quá trình kiểm kê Theo báo cáo kiểm kê quốc gia KNK của Đức giai đoạn 1990-2009, chính sách hệ thống quốc gia về báo cáo phát thải năm
2007 đã xác định rõ trách nhiệm cụ thể của các Bộ tham gia tương ứng với các lĩnh vực nguồn phát thải và hấp thụ Ngoài ra, các văn bản liên quan cũng quy định các Bộ liên bang tham gia phải tiến hành các hoạt động phù hợp để đảm bảo dữ liệu trong phạm vi trách nhiệm quản lý của mình Khi cần thiết, việc thiếu thông tin (data gaps) sẽ được xử lý thông qua việc cung cấp các liệu có liên quan hoặc thông qua việc tính toán phù hợp Đối với một số trưòng hợp, dữ liệu cũng có thể được cung cấp bởi một bên thứ ba có mức độ tin cậy Đối với một số loại dữ liệu được chuyển đến cơ quan chuyên trách kiểm kê các cơ quan liên bang khác, phải có các thỏa thuận đặc biệt được ký kêt giữa cơ quan đó với
cơ quan chuyên trách
1.2.1.3 Một số nhận xét, đánh giá
Các quốc gia thuộc Phụ lục I phải thành lập một cơ quan chuyên trách chịu
Trang 34nhà kính quốc gia định kỳ một cách đầy đủ, toàn diện thì đòi hỏi cả một quá trình không ngừng hoàn thiện về cơ cấu tổ chức, sắp xếp thể chế
- Yêu cầu đặt ra là cần phải có những quy định trong đó nêu rõ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, ban ngành tham gia vào công tác kiểm kê, phải có những Luật như Nhật Bản hoặc chính sách về hệ thống quốc gia của Đức.a quan đó với cơ quan chuyên trách
1.2.2 Kinh nghiệm về công tác tổ chức của một số nước không thuộc Phụ
lục1/KP
1.2.2.1 Ở Thái Lan [12]
Hình 1.5 Tổ chức kiểm kê khí nhà kính ở Thái Lan
Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE) là cơ quan duy nhất được phép quản lý công tác kiểm kê KNK;
- Cơ quan quản lý KNK Thái Lan (TGO) là đơn vị tiếp nhận, xử lý dữ liệu KNK và quản lý chất lượng công tác kiểm kê;
- Văn phòng kế hoạch Chính sách Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm báo cáo lên UNFCCC bằng thông báo QG
Trang 351.2.2.2 Ở Indonesia [12]
Cơ cấu tổ chức kiểm kê KNK ở Indonesia được thể hiện qua sơ đồ sau:
Hình 1.6 Tổ chức kiểm kê khí nhà kính ở Indonesia
Ủy ban quốc gia về BĐKH là cơ quan chuyên trách có trách nhiệm thu thập
và xử lý số liệu từ các bộ ngành liên quan;
Điểm khác biệt so với các Quốc gia khác là Indonesia thành lập Nhóm phát triển thông báo quốc gia liên bộ;
Thông báo quốc gia sau khi hoàn thiện sẽ được Bộ Môi trường nộp cho
Trang 36CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.1 Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu
Phương pháp nghiên cứu tư liệu được thực hiện thông qua việc tổng hợp, phân tích, hệ thống các dữ liệu thứ cấp: Luật, Nghị định, Thông tư, quyết định, chương trình, kế hoạch, nghị quyết của Đảng, Nhà nước về biến đổi khí hậu nói chung và kiểm kê phát thải khí nhà kính nói riêng; phân tích, tổng hợp, khái quát hoá những tư liệu, tài liệu lý luận về kiểm kê khí nhà kính, những kết quả nghiên cứu lý thuyết và những kết quả đã thực hiện để xây dựng các khái niệm và cách
tổ chức thực hiện cho vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu văn bản là xem xét có hệ thống các tài liệu dưới dạng văn bản pháp lý như Luật, Nghị định, Thông tư nhằm cung cấp thông tin cho quá trình đánh giá vấn đề nghiên cứu Nghiên cứu, phân tích văn bản pháp lý được thực hiện nhằm phân loại, sắp xếp, đánh giá và lựa chọn các thông tin trong văn bản cho phù hợp với nội hàm các tiêu chí để trích dẫn, bình luận, … phục vụ mục đích nghiên cứu
2.1.2 Phương pháp thu thập thông tin và tổng kết kinh nghiệm
Phương pháp này là dựa trên nguồn thông tin sơ cấp và thứ cấp thu thập được từ những tài liệu nghiên cứu trước đây, của các quốc gia trên thế giới để xây dựng cơ sở luận cứ, từ đó tổng kết đúc rút nhưng kinh nghiệm đế vận dụng vào thực hiện ở Việt Nam
2.1.3 Phương pháp rà soát, đánh giá, kế thừa
Rà soát lại toàn bộ các hoạt động KK đã thực hiện ở Việt Nam để từ đó đánh giá được những mặt được và hạn chế, những tài liệu cần kế thừa để thực hiện cho những đợt KK tiếp theo đạt HQ
Trang 372.1.4 Phương pháp so sánh
Trong nghiên cứu, người ta thường vận dụng các khái niệm để phán đoán hay tiên đoán Phán đoán là vận dụng các khái niệm để phân biệt, so sánh những đặc tính, bản chất của sự vật và tìm mối liên hệ giữa đặc tính chung và đặc tính riêng của các sự vật đó
Từ việc tổng kết lại những hoạt động kiểm kê, đối chiếu với các quy định chung đã được quy định để đưa những so sánh và cần phải cải thiện
và hấp thụ bởi các bể hấp thụ tất cả các khí nhà kính không bị kiểm soát bởi Nghị định thư Montreal.”
Như vậy, thời điểm muộn nhất để các nước thuộc phụ lục I phải có một hệ thống kiểm kê KNK quốc gia vào cuối năm 2006 Tại Quyết định 19/CMP.1 [18] cho điều 5.1 của Nghị định thư Kyoto quy định về hướng dẫn thiết lập hệ thống kiểm kê KNK Quốc gia, đã nêu rõ khái niệm, mục tiêu, chức năng của một hệ thống kiểm kê KNK quốc gia như sau:
2.2.1.1 Các khái niệm về hệ thống kiểm kê quốc gia khí nhà kính [18]
Hệ thống KKKNK quốc gia bao gồm các sắp xếp về thể chế, pháp luật và các thủ tục được hình thành ở mỗi quốc gia để tính toán lượng phát thải khí nhà
Trang 38bảo tính minh bạch, thống nhất, so sánh được, tính hoàn thiện và tính chính xác trong công tác kiểm kê
Hoạt động kiểm kê bao gồm thu thập dữ liệu hoạt động, lựa chọn phương
pháp và hệ số phát thải phù hợp, ước tính phát thải khí nhà kính theo các nguồn
do con người , thực hiện đánh giá sai số và các hoạt động QA/QC, tiến hành các quy trình xác minh dữ liệu kiểm kê cấp Quốc gia
Khí nhà kính được kiểm kê bao gồm: các bon đi-ô-xít (CO2), mê tan (CH4) và Nitơ ô-xít (N2O) do con người gây ra theo nguồn và lượng thu hồi bằng bể hấp thụ các khí đó Ngoài ra, khuyến khích kiểm kê đối với các KNK khác, như các-bon mô-no-xít (CO), các ô-xít nitơ (NOx) và các hợp chất hữu cơ
dễ bay hơi không phải là mê tan (NMVOCs)
Thực hành tốt là một bộ các thủ tục để đảm bảo các kiểm kê KNK được
chính xác theo nghĩa là chúng được hệ thống ước tính không lớn hơn cũng không dưới mức độ có thể đánh giá được và các sai số giảm ở mức tối thiểu có thể Thực hành tốt bao gồm các phương pháp lựa chọn ước tính phù hợp với hoàn cảnh quốc gia, bảo đảm chất lượng và kiểm soát chất lượng ở mức độ của quốc gia, định lượng các sai số, lưu trữ các dữ liệu, lập báo cáo để tăng cường tính minh bạch
Kiểm soát chất lượng (QC) là một hệ thống các hoạt động kỹ thuật để đo
lường và kiểm soát chất lượng kiểm kê đang được tiến hành Hệ thống QC được thiết kế để:
- Cung cấp kiểm kê thường xuyên và nhất quan để đảm bảo thống nhất dữ liệu, tính chính xác và toàn diện
Trang 39và lập báo cáo Các hoạt động QC cấp cao hơn cũng bao gồm các rà soát kỹ thuật về các loại nguồn, hoạt động, hệ số phát thải và các biện pháp
Các hoạt động đảm bảo chất lượng (QA) bao gồm một hệ thống các quy
trình rà soát được thực hiện bởi các cán bộ không liên quan trực tiếp đến quá trình triển khai biên tập kiểm kê, để xác minh lại mục tiêu chất lượng số liệu đã được thực hiện, đảm bảo rằng kiểm kê đại diện tốt nhất có thể các ước tính phát thải trong điều kiện khoa học và kiến thức có sẵn, hỗ trợ hiệu quả chương trình
QC
Loại nguồn chính là loại nguồn được ưu tiên trong kiểm kê quốc gia vì các
ước tính của nó có ảnh hưởng quan trọng đến tổng kiểm kê KNK trực tiếp của một quốc gia về mức độ tuyệt đối của phát thải, xu hướng phát thải hoặc cả hai
Cây quyết định là một sơ đồ luồng mô tả thứ tự các bước cụ thể cần theo
để triển khai một kiểm kê hoặc một hợp phần kiểm kê theo đúng các nguyên tắc thực hành tốt
Tính toán lại phù hợp với các hướng dẫn lập báo cáo UNFCCC về kiểm kê
hàng năm, là một thủ tục ước tính lại phát thải KNK từ các nguồn do con người
và sự loại bỏ bằng các điểm chìm của các kiểm kê đã trình trước đó như một hệ quả của những thay đổi trong phương pháp luân, những thay đổi trong cách thức
mà trong đó các hệ số phát thải và dữ liệu hoạt động thu được và được sử dụng, hoặc bao gồm các nguồn mới
Trang 40hợp với tính toán khí nhà kính do con người, khí thải từ các nguồn và loại bỏ bằng hấp thụ, thực hiện đánh giá chắc chắn và chất lượng đảm bảo kiểm soát chất lượng hoạt động (QA / QC), và thực hiện các thủ tục để xác minh các dữ liệu kiểm kê ở các cấp quốc gia
- Hệ thống quốc gia cần được thiết kế và vận hành để hỗ trợ phù hợp với Nghị định thư Kyoto và các cam kết liên quan đến việc ước tính lượng khí thải nhà kính nhân tạo từ các nguồn và hấp thụ khí nhà kính nằm ngoài Nghị định thư Montreal được hấp thụ bởi các nguồn
- Để mỗi nước có thể tính toán một cách thống nhất lượng phát thải và hấp thụ khí nhà kính bởi các nguồn phát thải và hấp thụ theo Hướng dẫn của IPCC
về kiểm kê khí nhà kính năm 1996 và Hướng dẫn thực hành tốt của IPCC phù hợp với các quyết định có liên quan của COP và / hoặc COP / MOP
2.2.1.3 Chức năng của một hệ thống quốc gia [18]
Các chức năng chung của một hệ thống kiểm kê KNK quốc gia bao gồm:
- Thành lập và duy trì các sắp xếp thể chế giữa các cơ quan chính phủ và các cơ quan, tổ chức khác để thực thi nhiệm vụ được nêu trong hướng dẫn đối với một hệ thống quốc gia
- Bảo đảm đủ năng lực để chuẩn bị kiểm kê khí nhà kính đúng thời hạn
- Thành lập một cơ quan quốc gia chịu trách nhiệm chung về công tác kiểm
kê quốc gia
- Tiến hành kiểm kê quốc gia hàng năm và chuẩn bị các thông tin bổ sung đúng hạn
- Cung cấp các thông tin cần thiết đáp ứng các yêu cầu báo cáo
Chức năng cụ thể của một hệ thống quốc gia
Đối với công tác lập qui hoạch kiểm kê: Mỗi nước sẽ thành lập một cơ quan chịu trách nhiệm chung về kiểm kê khí nhà kính quốc gia; xác định và phân định rõ trách nhiệm trong quá trình kiểm kê, chi tiết kế hoạch QA/QC, xây dựng qui trình xem xét và phê chuẩn chính thức việc kiểm kê, xem xét các cách thức để nâng cao chất lượng kiểm kê