LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn với đề tài: “Cảm hứng lịch sử trong tác phẩm Báu vật của đời của Mạc Ngôn” không chỉ là công sức của riêng tôi, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2013
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LƯU THỊ HẢI YẾN
CẢM HỨNG LỊCH SỬ TRONG TÁC PHẨM
"BÁU VẬT CỦA ĐỜI" CỦA MẠC NGÔN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Châu Á học
Mã số: 603150
Người hướng dẫn: PGS.TS Lê Huy Tiêu
Hà Nội - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng tôi Nguồn tài liệu được sử dụng trong luận văn là chân thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng Những đánh giá, kết luận được rút ra trong luận văn là những gợi
mở bước đầu về đề tài nghiên cứu
Hà Nội, tháng 12/2013
Học viên
Lưu Thị Hải Yến
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn với đề tài: “Cảm hứng lịch sử trong tác
phẩm Báu vật của đời của Mạc Ngôn” không chỉ là công sức của riêng
tôi, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Đông Phương, Trường Đại học KHXH &
NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, lớp Cao học (Khóa 2010 – 2013) cùng gia đình, bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên, khích lệ, tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới thầy PGS TS Lê Huy Tiêu – người đã nhiệt tình chỉ bảo và hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện để tôi hoàn thành luận văn của mình
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn của tôi sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự chỉ bảo và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn
Hà Nội, tháng 12/2013
Học viên
Lưu Thị Hải Yến
Trang 5Nhà văn Mạc Ngôn trên trang chủ website Đại học Văn học mạng
Trang 6Nhà văn Mạc Ngôn nhận giải Nobel văn học 2012
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 3
2.1 Tình hình nghiên cứu tại Trung Quốc 3
2.2 Tình hình nghiên cứu về “Báu vật của đời” và cảm hứng lịch sử trong “Báu vật của đời” tại Việt Nam 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp của luận văn 8
6 Cấu trúc luận văn 8
PHẦN NỘI DUNG 9
CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT VỀ CẢM HỨNG LỊCH SỬ VÀ DẤU ẤN CẢM HỨNG LỊCH SỬ TRONG VĂN HỌC TRUNG QUỐC 9
1.1 Khái quát về cảm hứng và cảm hứng lịch sử 9
1.1.1 Khái niệm cảm hứng và cảm hứng chủ đạo 9
1.1.2 Khái niệm cảm hứng lịch sử 11
1.2 Cảm hứng lịch sử - nguồn cảm hứng đặc biệt trong văn học Trung Quốc 12
1.2.1 Bề dày lịch sử của đất nước Trung Quốc 12
1.2.2 Dấu ấn đậm nét của cảm hứng lịch sử trong văn học Trung Quốc 15
1.3 Khái quát về cảm hứng lịch sử trong những sáng tác của Mạc Ngôn 19
1.3.1 Vài nét về nhà văn Mạc Ngôn 19
1.3.2 Cảm hứng lịch sử xuyên suốt trong các tác phẩm của Mạc Ngôn 20
CHƯƠNG 2 : NHỮNG BIỂU HIỆN CẢM HỨNG LỊCH SỬ TRONG BÁU VẬT CỦA ĐỜI CỦA MẠC NGÔN 24
2.1 Cảm hứng lịch sử được thể hiện qua số phận của quê hương Cao Mật 24
2.1.1 Một quê hương Cao Mật đau thương mà hào hùng trong cuộc chiến chống giặc ngoại xâm 24
Trang 82.1.2 Một quê hương Cao Mật đau thương trong cuộc nội chiến Quốc – Cộng 30
2.1.3 Một quê hương Cao Mật đau thương trong những sai lầm của Đảng cộng sản 33
2.1.4 Một quê hương Cao Mật bước vào nền kinh tế thị trường 39
2.2 Cảm hứng lịch sử được thể hiện qua số phận của gia đình Thượng Quan 41
2.2.1 Hình tượng Lỗ Thị - hiện thân tiêu biểu của lịch sử Trung Quốc suốt thế kỷ XX 41
2.2.2 Hình tượng những cô con gái của gia đình Thượng Quan 53
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN CẢM HỨNG LỊCH SỬ TRONG BÁU VẬT CỦA ĐỜI CỦA MẠC NGÔN 73
3.1 Yếu tố kì ảo 73
3.1.1 Khái niệm yếu tố kì ảo 73
3.1.2 Khái quát về yếu tố kì ảo trong văn học Trung Quốc 74
3.1.3 Yếu tố kì ảo – công cụ giúp Mạc Ngôn biểu hiện cảm hứng lịch sử 76
3.2 Kết cấu lắp ghép – lịch sử được nhìn qua một lăng kính mới 85
3.2.1 Khái niệm kết cấu lắp ghép 85
3.2.2 Sự biểu hiện cảm hứng lịch sử qua kết cấu lắp ghép 87
3.3 Nghệ thuật trần thuật đa thanh tái hiện lịch sử một cách toàn diện, sâu sắc 91
3.3.1 Sự đa bậc của người kể chuyện và sự di động điểm nhìn 91
3.3.2 Ngôn ngữ trần thuật đa sắc, độc đáo 95
PHẦN KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
PHỤ LỤC 110
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trung Quốc là một trong những nước có nền văn học phát triển trên thế
giới Chặng đường từ Kinh Thi - tập thơ ca đầu tiên đến Đường thi, tiểu thuyết cổ
điển Minh Thanh - thành tựu nổi bật của văn học trung đại cổ điển rồi đến văn học hiện đại đã khẳng định sức sống mãnh liệt và tầm ảnh hưởng to lớn của văn học Trung Quốc Hiện nay, song song với nền kinh tế đang trên đà phát triển, văn học Trung Quốc đương đại bước vào thời kỳ “bách hoa tranh khai” với sự xuất hiện của rất nhiều tác giả xuất sắc như : Trương Hiền Lượng, Vương Mông, Phùng Kí Tài, Cao Hiểu Thanh, Giả Bình Ao, Lưu Tâm Vũ, Vệ Tuệ, Mạc Ngôn, Miên Miên, Cửu Đan, Diệp Tân, Như Chí Quyên, Uông Tằng Kỳ, Tốt Thục Mẫn, Diệp Văn Linh… Bằng tài năng của mình, những cây bút ấy quả đã không làm hổ danh nền văn học truyền thống Trung Quốc ba nghìn năm qua Với bút pháp nghệ thuật mới mẻ, phóng khoáng, không câu nệ qui phạm, họ đã đưa văn học Trung Quốc “thoát xác” khỏi cái bóng của những phương pháp cổ điển, truyền thống, tiếp cận gần hơn với cuộc sống thường nhật và có những trải nghiệm sâu sắc trong cuộc sống Không chỉ tập trung đi sâu khai thác những vấn đề của cuộc sống đương đại, các tác phẩm còn khai thác quá khứ, nhìn về lịch sử bằng con mắt tỉnh táo và giọng điệu sắc lạnh để độc giả có cơ hội suy ngẫm, đánh giá các giá trị quá khứ một cách tự nhiên và thành thật nhất Văn học thực hiện đúng chức năng cơ bản của nó, tức là phản ánh chân thực cuộc sống, số phận con người
1.2 Trong rất nhiều tên tuổi các tác giả kể trên, Mạc Ngôn nổi lên như một
“hiện tượng” Mạc Ngôn thuộc lớp nhà văn đương đại Trung Quốc dám viết về cái hiện thực bề sâu của lịch sử hiện đại nước ông Bằng cái nhìn nghệ thuật – lịch sử tỉnh táo và sắc sảo, Mạc Ngôn không nương nhẹ và xuê xoa quá khứ mà dám nói thẳng, nói thật Mạc Ngôn đem cuộc sống và hiện thực lịch sử phơi bày trần trụi trên từng trang giấy Máu thịt, mồ hôi, nước mắt và những trăn trở của con người lần lượt được phác hoạ rõ nét dưới ngòi bút tác giả Và những gì ông viết ra đã được độc giả chấp nhận, đón nhận Có thể nói, Mạc Ngôn giữ một vai trò, vị trí không
Trang 10nhỏ trong bức tranh văn học Trung Quốc đương đại Gần đây, với giải Nô-ben văn học 2012, Mạc Ngôn càng khẳng định rõ hơn vai trò to lớn của mình đối với nền văn học của đất nước đông dân nhất thế giới này
1.3 Trong sự nghiệp sáng tác đồ sộ của Mạc Ngôn, tiểu thuyết Báu vật của
đời (nguyên tác: Phong nhũ phì đồn) có một vị trí rất quan trọng, nói theo lời của
ông thì đó là “viên đá nặng nhất trong lâu đài văn học của tôi, một khi viên đá ấy rút
ra thì toà lâu đài sẽ sụp đổ” [49, tr.146] Ông cũng không ngần ngại khẳng định với độc giả rằng : “Bạn có thể không đọc tất cả những cuốn sách khác của tôi, nhưng
không thể không đọc cuốn Báu vật của đời” [ 49, tr.122] Được xuất bản ở Trung
Quốc vào tháng 9 – 1995 và ngay trong năm, tác phẩm đã được trao giải thưởng cao
nhất về truyện, nhanh chóng trở thành hiện tượng best-seller Báu vật của đời đã
khái quát cả một giai đoạn lịch sử hiện đại đầy bi tráng của đất nước Trung Hoa thông qua số phận của các thế hệ trong gia đình Thượng Quan Từ những số phận
cụ thể và khác nhau, lịch sử được tiếp cận dưới nhiều góc độ, nhiều khía cạnh hiện lên thật chân thực và toàn diện, góp phần tạo nên sức sống, sức thuyết phục cho tác phẩm Trong danh sách “10 cuốn sách hay nhất về Trung Quốc” do nhà báo Paul
Mason (Guardian) lập ra hồi tháng 2/2012, “tiểu thuyết Báu vật của đời của Mạc Ngôn được xếp thứ 2, chỉ sau truyện vừa kinh điển AQ chính truyện của văn hào Lỗ Tấn” (44) Điều đó chứng tỏ Báu vật của đời của Mạc Ngôn không chỉ giữ vị trí
quan trọng đối với sự nghiệp sáng tác của Mạc Ngôn mà còn đối với cả nền văn học Trung Quốc
1.4 Khảo sát việc nghiên cứu, giới thiệu văn học Trung Quốc ở Việt Nam là
một trong những yêu cầu rất cơ bản để nghiên cứu mối quan hệ văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhất là trong giai đoạn mối quan hệ văn học giữa hai nước có chuyển biến về chất khi Việt Nam xây dựng “nền quốc văn mới” và từng bước hiện đại hoá tiến trình văn học dân tộc Là học viên nghiên cứu về văn hoá châu Á nói chung, Trung Quốc nói riêng, việc tìm hiểu tác phẩm văn học dưới góc độ lịch sử có
ý nghĩa vô cùng quan trọng và cần thiết
Trang 11Với những lí do kể trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Cảm hứng lịch sử trong
“Báu vật của đời” của Mạc Ngôn Tác giả luận văn hi vọng những đóng góp nhất
định của đề tài sẽ làm phong phú thêm tình hình nghiên cứu về Mạc Ngôn, đồng thời giúp chúng ta hiểu biết hơn về lịch sử Trung Quốc qua bức tranh thấm đẫm chất hiện thực bằng con chữ
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu tại Trung Quốc
Mạc Ngôn đã nhiều lần tâm sự về quá trình sáng tác và những tác phẩm của
mình qua những lời tự bạch, những bài phỏng vấn đối thoại Trong Mạc Ngôn,
nghiên cứu và tư liệu, NXb Thiên Tân (2005) của Dương Dương, Ghi chép đối thoại của Vương Nghiêu và Lâm Kiến Pháp, Nxb Đại học Tô Châu (2003), Phong
vị của tiểu thuyết của Mạc Ngôn, Nxb Văn nghệ Xuân Phong (2003), có nhiều bài
đối thoại và tự bạch miêu tả thế giới văn học của Mạc Ngôn Phần lớn, những nội dung quan trọng mà Mạc Ngôn “tự bạch” đã được Nguyễn Thị Thại chọn dịch và
giới thiệu trong cuốn Mạc Ngôn và những lời tự bạch (Nxb Văn học, 2004) Cuốn
tài liệu này đã đề cập đến Mạc Ngôn trên nhiều phương diện: động cơ sáng tác, nguồn gốc ảnh hưởng, quan điểm, lập trường và phong cách sáng tác… Tác phẩm
Báu vật của đời được Mạc Ngôn không ít lần nhắc đến trong những lời tự bạch của
mình Nhà văn từng nói rằng Báu vật của đời vượt qua thôn Cao Mật Đông Bắc, và
nó tiến xa hơn nữa Báu vật của đời “đã thể hiện đầy đủ cách nhìn nhận của tôi đối với các vấn đề xưa cũ như lịch sử, quê hương, cuộc sống… chắc chắn Báu vật của
đời là viên đá nặng nhất trong toà lâu đài văn học của tôi, một khi rút viên đá ấy ra
thì toà lâu đài sẽ sụp đổ” [ 49, tr 146]
Trong cuốn Bình luận tác giả đương đại Trung Quốc《当代作家评论》kỳ 6,
tác giả Trình Quang Vỹ có nói: “Hơn 20 năm nay trên diễn đàn văn học Trung Quốc, các bài bình luận về Mạc Ngôn nhiều không kể xiết” Theo thống kê trong
phụ lục Tư liệu nghiên cứu Mạc Ngôn do Dương Dương biên soạn, số lượng bài
viết về Mạc Ngôn có khoảng hơn 350 bài Con số trên chưa bao gồm các bài báo mang tính chất địa phương, các trang mạng, các bài viết trong các trường đại học
Trang 12Nói như thế để thấy tình hình nghiên cứu về Mạc Ngôn chưa bao giờ có dấu hiệu giảm bớt độ “nóng” Ngày 12/08/2006, “Hội nghiên cứu Mạc Ngôn Cao Mật” được thành lập với mục đích chuyên nghiên cứu về các tác phẩm của ông “Bảo tàng văn học Mạc Ngôn”, Website “Cao lương đỏ” là những diễn đàn chuyên bình luận, đi sâu tìm hiểu về “nhân vật khai phá của thế kỷ XXI” Bên cạnh đó, các công trình
nghiên cứu luận văn thạc sĩ, nghiên cứu sinh về Báu vật của đời nhiều không kể xiết
Phần lớn các công trình nghiên cứu đều tập trung vào nghệ thuật “tự sự”, “tính chất
dân gian”, “tính nữ” của tác phẩm như: tác giả Trương Ái Bình: Nghiên cứu về
ngôn ngữ trong tiểu thuyết Mạc Ngôn(作者张爱萍: 莫言小说语言研究), tác giả Tống Khiết: Từ Báu vật của đời đến “thiếu nữ mộng mơ” (作者宋洁: 从“丰乳
肥臀”到“梦幻少女) , tác giả Hàn Hiện Quảng: Bàn về điểm nhìn trẻ thơ trong tiểu
thuyết Mạc Ngôn (作者韩现广: 论莫言小说创作中儿童视角) … Tuy nhiên, có
thể thấy, cảm hứng lịch sử và giá trị lịch sử trong tác phẩm Báu vật của đời chỉ
được các tác giả nhắc đến rải rác trong các công trình nghiên cứu
2.2 Tình hình nghiên cứu về “Báu vật của đời” và cảm hứng lịch sử trong
“Báu vật của đời” tại Việt Nam
Nói chung, Báu vật của đời là tác phẩm văn học cho đến nay vẫn còn nhiều
tranh cãi về giá trị tác phẩm Chính vì thế, xoay quanh tác phẩm này, các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng dựa trên nhiều góc độ để đưa ra những quan điểm, những nhận xét riêng của mình
PGS TS Lê Huy Tiêu là nhà nghiên cứu đã có khá nhiều bài viết về Mạc
Ngôn và tiểu thuyết Báu vật của đời Trong Tạp chí Văn học nước ngoài số 4/ 2003
và trong cuốn Tiểu thuyết Trung Quốc thời kỳ đổi mới (1976 – 2000), có hai bài nghiên cứu khá sâu về Mạc Ngôn của PGS TS Lê Huy Tiêu, đó là Thế giới nghệ
thuật trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn và Mạc Ngôn và tiểu thuyết Đàn hương hình
Cùng hướng nghiên cứu vấn đề trên, nhà văn Nguyễn Khắc Phê trên tạp chí Sông
Hương số 166, tháng 12.2002 cũng có bài viết Thế giới nghệ thuật của Mạc Ngôn
qua hai tiểu thuyết Báu vật của đời và Đàn hương hình Các tác giả đã chỉ ra những
điểm độc đáo trong sáng tác của Mạc Ngôn như đề tài rất rộng, cốt truyện không
Trang 13còn là cốt truyện hoàn chỉnh như tiểu thuyết truyền thống mà chỉ là khung truyện,
“nhưng trong cái khung truyện ấy chứa đầy cảm giác”, “là linh hồn của tiểu thuyết Mạc Ngôn” Ngoài ra, những vấn đề về tự sự như điểm nhìn trần thuật phong phú,
đa dạng, kết cấu truyện và nghệ thuật xử lý không gian, thời gian đều được tác giả kiến giải và phân tích rất kĩ lưỡng, thấu đáo
Trong bài viết Sự sinh, sự chết, sự sống: Đọc “Báu vật của đời” của Mạc
Ngôn đăng trên trang tanviet.net ngày 04/08/2005, nhà phê bình Phạm Xuân
Nguyên đã tóm lược những điểm chính trong Báu vật của đời và đưa ra những nhận
định về tác giả, tác phẩm Thông qua việc nêu cảm nhận của mình về nhân vật Lỗ Thị, tác giả bài viết khẳng định: “Xét trên phương diện văn học, Lỗ Thị là một nhân vật ghê gớm, một phụ nữ tượng trưng của một đất nước ở cái khả năng thiên phú
mà dù con người có chà đạp tiêu diệt đến đâu thì vẫn trường tồn, bởi vì nếu nó mất
đi thì mất luôn cả sự sống… Cả lịch sử của một đất nước nhà văn tóm lại ở bốn chữ ấy: phong nhũ phì đồn Mạc Ngôn, do đó, ở phương diện này là một nhà văn ghê gớm” (51) Tác giả bài viết cũng đánh giá cao Mạc Ngôn ở lòng dũng cảm “dám viết về cái hiện thực bề sâu của lịch sử hiện đại nước ông”, đồng thời tỏ ra thích cái nhìn nghệ thuật lịch sử tỉnh táo, sắc lạnh của Mạc Ngôn, không hề nương nhẹ, xuê xoa quá khứ Cuối bài viết, bằng cái nhìn so sánh mang tính lịch sử, Phạm Xuân Nguyên chỉ ra điểm tương đồng giữa Mạc Ngôn và Lỗ Tấn: ở hai hoàn cảnh lịch sử, hai chế độ chính trị khác nhau giữa hai thời kỳ sống của hai nhà văn, họ đã gặp nhau ở tình yêu nước và trách nhiệm của một người cầm bút
Một số tác giả nghiên cứu như Vương Trí Nhàn, Lê Huy Tiêu, Trần Trung
Hỷ lại dựa vào Báu vật của đời để tìm ra sự sáng tạo của Mạc Ngôn trong việc đưa hơi thở hiện đại vào đề tài lịch sử Còn trong Tiểu luận Một số vấn đề văn học
Trung Quốc đương đại (2007), PGS.TS Hồ Sĩ Hiệp cũng đã điểm qua những nét
đặc sắc của Mạc Ngôn thông qua những tác phẩm đã được dịch Năm 2012 Mạc Ngôn được giải Nobel văn học, rất nhiều nhà văn như Trần Đăng Khoa, Võ Thị Hảo có các bài viết xoay quanh vấn đề này
Ngoài ra, phải kể đến rất nhiều những luận văn tiến sĩ, thạc sĩ, khoá luận tốt nghiệp của sinh viên, học viên và nghiên cứu sinh cũng lấy Mạc Ngôn làm đề tài
Trang 14nghiên cứu của mình Có thể kể ra đây một vài những công trình tiêu biểu như: luận
án tiến sĩ Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn của tác giả Nguyễn Thị
Tịnh Thy, Viện Khoa học xã hội Việt Nam - Học viện Khoa học xã hội, 2010; luận
văn thạc sĩ Yếu tố kì ảo trong "Báu vật của đời" của Mạc Ngôn của tác giả Nguyễn Thị Khánh Linh, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2007; luận văn tốt nghiệp Huyền thoại
hoá trong tiểu thuyết “Báu vật của đời” của tác giả Lê Vũ Phương Thuỷ, Đại học
Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội… Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào hai khía cạnh khá nổi bật trong các sáng tác của Mạc Ngôn, đó là nghệ thuật tự sự và yếu tố kì ảo Tác giả Nguyễn Thị Tịnh Thy chỉ ra nghệ thuật tự sự của Mạc Ngôn một cách đầy đủ và công phu qua việc khảo sát các khía cạnh như người kể chuyện và điểm nhìn tự sự, nghệ thuật tổ chức không gian, thời gian và kết cấu tự sự, nghệ thuật kiến tạo ngôn ngữ và giọng điệu tự sự
Nguyễn Thị Khánh Linh thì chỉ ra biểu hiện của yếu tố kì ảo trong Báu vật của đời
thông qua các khía cạnh: nhân vật, sự kiện và tổ chức nghệ thuật tác phẩm Còn sinh viên Lê Vũ Phương Thuỷ trong khoá luận của mình lại khai thác một số yếu tố mang tính huyền thoại hoá trong tác phẩm như: Kim Đồng và mô hình đứa trẻ huyền thoại, Huyền thoại hoá trong một số nhân vật đàn ông, Bầu vú của người phụ
nữ và biểu tượng về người mẹ vĩnh cữu… Mỗi tác giả một hướng nghiên cứu khác
nhau đã đặt Báu vật của đời dưới nhiều góc độ để khám phá hết những giá trị sâu
sắc của tác phẩm
Trên đây là sơ lược một số công trình nghiên cứu về Mạc Ngôn và tiểu
thuyết Báu vật của đời của các nhà nghiên cứu Trung Quốc và Việt Nam Mặc dầu
các công trình về Mạc Ngôn tương đối nhiều, song ở Việt Nam, số lượng các bài viết về Mạc Ngôn còn hạn chế, nhất là viết riêng về cảm hứng lịch sử Cho đến nay,
chưa có một công trình chuyên biệt nào đi sâu tìm hiểu cảm hứng lịch sử trong Báu
vật của đời Với tinh thần học hỏi, khám phá cái mới, chúng tôi sẽ kế thừa và tiếp
thu có chọn lọc những thành tựu nghiên cứu, những ý kiến bổ ích từ người đi trước
để đi sâu tìm hiểu cảm hứng lịch sử của tiểu thuyết Báu vật của đời một cách cụ thể,
sâu sắc và có hệ thống
Trang 153 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của đề tài là: Cảm hứng lịch sử
trong tác phẩm Báu vật của đời của Mạc Ngôn Cảm hứng lịch sử là vấn đề nằm
trong cảm hứng chủ đạo – một trong những yếu tố cơ bản tạo thành tư tưởng của tác phẩm Nói một cách khái quát, đây là vấn đề thuộc phạm trù lý luận văn học
Xuất phát từ điều kiện thời gian, tư liệu, cũng như khả năng còn hạn chế của người viết, dựa trên cơ sở tiếp thu những vấn đề lý luận có liên quan trong các công
trình nghiên cứu khác, luận văn sẽ tiến hành khảo sát cảm hứng lịch sử trong Báu
vật của đời của Mạc Ngôn qua hai vấn đề cơ bản sau :
- Miêu tả, phân tích cảm hứng lịch sử được nhà văn thể hiện trong tác phẩm
- Dựa vào cảm hứng lịch sử, bước đầu khái quát một vài đặc điểm chủ yếu của
tiểu thuyết Báu vật của đời (Mạc Ngôn)
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau :
- Phương pháp thống kê, khảo sát: Chúng tôi sử dụng phương pháp này
để khảo sát, thống kê, phân loại những chi tiết lịch sử trong Báu vật của đời, tạo cơ
sở cho việc phân tích, khám phá tác phẩm
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở những dữ liệu đã thống kê
từ văn bản, chúng tôi đi sâu phân tích, lý giải, làm rõ vai trò của cảm hứng lịch sử
trong Báu vật của đời
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Trong quá trình phân tích, chúng tôi đặt
Báu vật của đời trong tương quan so sánh với một số tác phẩm khác của Mạc Ngôn
Trang 16và một số tác phẩm của các tác giả khác cũng có cảm hứng lịch sử để tìm ra những điểm tương đồng, khác biệt trong cảm hứng lịch sử được thể hiện ở các tác phẩm
- Ngoài các phương pháp trên, chúng tôi còn vận dụng một số phương pháp khác như phương pháp tiếp cận văn hoá – lịch sử, phương pháp thi pháp học, phương pháp nghiên cứu liên ngành… để tìm hiểu và nghiên cứu đề tài
5 Đóng góp của luận văn
So với các công trình nghiên cứu khác về Mạc Ngôn và tiểu thuyết Báu vật
của đời, đây là công trình đầu tiên đề cập đến vấn đề cảm hứng lịch sử trong tiểu
thuyết Báu vật của đời của Mạc Ngôn một cách toàn diện và hệ thống Từ những
nét khái quát về cảm hứng lịch sử trong văn học Trung Quốc nói chung và trong tác phẩm của Mạc Ngôn nói riêng, luận văn sẽ chỉ ra những biểu hiện cụ thể của cảm
hứng lịch sử được Mạc Ngôn thể hiện trong Báu vật của đời như : đề tài, chủ đề,
nhân vật…đồng thời chỉ ra những phương diện nghệ thuật biểu hiện cảm hứng lịch
sử ấy
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phần tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được triển khai thành ba chương như sau :
Chương 1 : Khái quát về cảm hứng lịch sử và dấu ấn cảm hứng lịch sử trong văn học Trung Quốc
Chương 2 : Những biểu hiện của cảm hứng lịch sử trong Báu vật của đời –
Mạc Ngôn
Chương 3 : Những phương thức nghệ thuật biểu hiện cảm hứng lịch sử trong
Báu vật của đời – Mạc Ngôn
Trang 17PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT VỀ CẢM HỨNG LỊCH SỬ VÀ DẤU ẤN CẢM HỨNG LỊCH SỬ TRONG VĂN HỌC TRUNG QUỐC
1.1 Khái quát về cảm hứng và cảm hứng lịch sử
1.1.1 Khái niệm cảm hứng và cảm hứng chủ đạo
Trước khi tìm hiểu về cảm hứng lịch sử, luận văn xin được giới thuyết qua
về khái niệm cảm hứng và cảm hứng chủ đạo vì hai khái niệm này là hai khái niệm
cơ sở, đặt nền tảng hình thành nên cảm hứng lịch sử
Trong tâm lý học, trong khi phản ánh thế giới khách quan, con người không chỉ nhận thức thế giới đó mà còn tỏ thái độ của mình đối với nó nữa Xem một bức tranh đẹp, nghe một bản nhạc hay hoặc đọc một bài thơ độc đáo, ta không chỉ tri giác chúng mà còn có những “rung động”, những “rạo rực”, những “xao xuyến” kèm theo Những hiện tượng tâm lý biểu thị thái độ của con người đối với cái mà họ nhận thức được, hoặc tìm ra được gọi là xúc cảm, cảm xúc của con người Đời sống tâm lí, tình cảm của con người rất phong phú, đa dạng và phức tạp, gồm rất nhiều cung bậc, sắc thái khác nhau Và cảm hứng là một trong những cung bậc, sắc thái
đó Vậy cảm hứng là gì? Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê định nghĩa: “Cảm hứng
là trạng thái tâm lí có cảm xúc và hết sức hứng thú, tạo điều kiện để óc tưởng tượng,
sáng tạo hoạt động có hiệu quả” [ 52, tr.145] Còn trong Từ điển Hán Việt của Đào
Duy Anh thì viết: “Cảm hứng là cảm xúc vì tình gì hay cảnh gì mà sinh ra hứng thú, hoặc thi văn, hoặc hành động” [ 1, tr 58] Từ hai định nghĩa về cảm hứng được trình bày trong từ điển như trên, có thể thấy bản chất của cảm hứng là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa trong đời sống vừa có khả năng mang lại khoái cảm Tức là, để tạo được cảm hứng, ngoài yếu tố nhận thức, đối tượng phải có khả năng hấp dẫn, tạo ra những khoái cảm, hứng thú, lôi cuốn tình cảm con người về phía nó, tạo ra tâm lí khát khao tiếp cận và đi sâu tìm hiểu, chinh phục nó Điều đáng nói hơn là cảm hứng có một vai trò rất quan trọng đối với đời sống của con người Trước hết, cảm hứng làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức và hoạt động trí tuệ Khi có cảm hứng đối với một đối tượng nào đó, con người
Trang 18dồn sự tập trung cao độ của nhận thức, tình cảm vào đối tượng khiến quá trình này trở nên nhạy bén và sâu sắc Cuối cùng, cảm hứng làm nảy sinh khát vọng hành động và tạo điều kiện thúc đẩy con người sáng tạo Nhờ vậy, khi có cảm hứng, con người có thể phát huy một cách tối đa khả năng sáng tạo và hoạt động của mình
Từ vai trò, động lực của cảm hứng đối với hoạt động sáng tạo của con người, soi vào văn học, lĩnh vực sản xuất tinh thần theo phương thức “cá thể”, chúng ta có thể thấy cảm hứng là trạng thái tâm lí then chốt và bao trùm trong sáng tác của nhà văn Cảm hứng được biểu hiện rõ nhất khi nhà văn bắt đầu viết, nhưng có thể bàng bạc xuyên suốt quá trình sáng tác Khác với thành phẩm của tất cả các ngành lao động khác, thành phẩm của văn học nghệ thuật chứa đựng tình cảm chủ quan của chủ thể sáng tạo, cho nên cảm hứng sáng tạo của người nghệ sĩ thường rất mãnh liệt Nguyễn Quýnh đã khẳng định: “Người làm thơ không thể không có hứng, cũng như tạo hoá không thể không có gió vậy… Tâm người ta như chuông như trống, hứng như chày và dùi Hai thứ đó gõ, đánh vào chuông trống khiến chúng phát ra tiếng, hứng đến khiến người ta bật ra thơ, cũng tương tự như vậy”[ 43, tr 210] Có thể khẳng định, sáng tác văn học nghệ thuật không thể không có cảm hứng Viết văn là gan ruột, tâm huyết, chỉ bộc lộ những gì đã thật sự tràn đầy trong lòng, không thể cho ra những sản phẩm của một tâm hồn bằng lặng, vô vị, miễn cưỡng Khi có cảm hứng, sự căng thẳng của lí trí, cảm xúc, sự mãnh liệt của cảm xúc kết hợp dồi dào với nhau làm cháy bùng lên ngọn lửa trong tư duy nghệ thuật của nhà văn, dẫn dắt
họ tạo ra tác phẩm bằng con đường ngắn nhất, gần như trực giác và bản năng Chính bởi lý do này mà nhiều người cho rằng nghệ sĩ là công cụ của một sức mạnh huyền
bí, quá trình sáng tác của họ bị chi phối bởi những thế lực thần linh hoặc là quá trình trực giác mang tính bản năng Điều đó hoàn toàn không phải Cảm hứng chỉ có thể là giây phút thăng hoa của một quá trình thai nghén lâu dài, suy tư, nghiền ngẫm, tưởng tượng trước đó Mỗi người chỉ có thể “bừng sáng đột ngột” trong lĩnh vực chuyên môn của mình Traicôpxki đã khẳng định cảm hứng là một khách hàng
không ưa đến thăm những kẻ lười Với Pautôpxki trong Bình minh mưa thì cảm
hứng là một trạng thái lao động nghiêm túc của con người Sự cao hứng trong tâm
Trang 19hồn không biểu hiện ở điệu bộ phường tuồng và trong sự bốc đồng Nói tóm lại, cảm hứng là trạng thái tâm hồn thích hợp cho sự tiếp nhận một cách sinh động những ấn tượng, từ đó, tạo điều kiện thuận lợi cho sự lĩnh hội một cách nhanh chóng những ý niệm giải thích cho những ấn tượng nói trên
Ở trên, chúng ta nói đến cảm hứng ở trong quá trình sáng tác của người nghệ
sĩ Nhưng tác phẩm văn học nào cũng phải thể hiện được tư tưởng của nhà văn, vậy nên cảm hứng phải gắn liền với tư tưởng của nhà văn Cái cảm hứng đã được gắn
liền với tư tưởng ấy xuyên suốt một tác phẩm tạo thành cảm hứng chủ đạo Từ điển
thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên định
nghĩa cảm hứng chủ đạo là “trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm Bê-lin-xki coi cảm hứng chủ đạo là điều kiện không thể thiếu của việc tạo ra những tác phẩm đích thực, bởi nó “biến sự chiếm lĩnh thuần tuý trí óc đối với tư tưởng thành tình yêu đối với
tư tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành” [ 22, tr.45] Trong lý luận văn học, cảm hứng chủ đạo được coi là một yếu tố trong chỉnh thể nội dung nghệ thuật, của thái độ tư tưởng xúc cảm ở nghệ sĩ đối với thế giới được mô tả Như vậy, có thể thấy cảm hứng chủ đạo thống nhất với đề tài và tư tưởng của tác phẩm Cảm hứng chủ đạo đem lại cho tác phẩm một không khí xúc cảm tinh thần nhất định, thống nhất tất cả các cấp độ và yếu tố của nội dung tác phẩm Đây là cái mức thăng hoa cảm xúc mà nhờ đó người nghệ sĩ khẳng định các nguyên tắc thế giới quan của mình trong tác phẩm Cảm hứng chủ đạo trong tác phẩm cụ thể là một hiện tượng độc đáo, không lặp lại, gắn với tình cảm của tác giả
1.1.2 Khái niệm cảm hứng lịch sử
Từ khái niệm cảm hứng và cảm hứng chủ đạo đã trình bày trên, chúng ta có thể hiểu cảm hứng lịch sử là cảm hứng sáng tác được phát sinh từ cảm quan về hiện thực lịch sử Trong đó, nhà văn lấy lịch sử làm đề tài, chất liệu để tạo ra thế giới hình tượng, xác lập cho mình một điểm nhìn trong quá khứ, tạo ra giọng điệu tác phẩm phù hợp với điểm thời gian mà nó tái hiện Các sự kiện đã từng xảy ra, đã
Trang 20từng tồn tại và phát triển có ảnh hưởng đến vận mệnh của quốc gia, dân tộc tạo nên một trạng thái cảm xúc hưng phấn thúc đẩy các nhà văn phát huy trí tưởng tượng,
óc sáng tạo để viết nên những tác phẩm Trong những tác phẩm ấy, lịch sử được nhìn nhận, đánh giá và tiếp cận theo một hướng hoàn toàn mới
Ở các loại hình tiểu thuyết khác, trong quá trình sáng tạo, nhà văn có thể tái hiện một hiện thực hoàn toàn hư cấu nhưng đối với tiểu thuyết lịch sử, một thể loại viết về những nhân vật, những sự kiện có thật trong lịch sử thì yếu tố chân thực đòi hỏi chiếm một phần quan trọng trong tác phẩm bên cạnh sự hư cấu, sáng tạo Như vậy có nghĩa là sự sáng tạo phải được thực hiện dựa trên cơ sở sử liệu xác thực trong lịch sử, khi xây dựng hình tượng nghệ thuật tác giả phải tôn trọng lời ăn tiếng nói, trang phục, tập quán, phù hợp với giai đoạn lịch sử ấy Tác phẩm văn học lịch
sử thường mượn chuyện xưa nói chuyện đời nay, hấp thu những bài học của quá khứ, bày tỏ sự đồng cảm với những con người và thời đại đã qua song không vì thế
mà hiện đại hoá người xưa, phá vỡ tính chân thực lịch sử của thể loại này Đặc điểm này đòi hỏi khi chọn cho mình đề tài lịch sử là cảm hứng sáng tác thì các nhà văn không chỉ cần đến khả năng tượng tượng, vốn ngôn ngữ, óc sáng tạo mà còn phải thực sự am hiểu và say mê đối với những dữ liệu lịch sử khô khan, những hiện thực
đã hoá thạch, tìm ra sợi dây liên hệ giữa hôm qua và hôm nay Nhiệm vụ đặt ra cho những nhà tiểu thuyết lịch sử là dùng văn chương làm sống lại quá khứ trong lòng hiện tại để độc giả hôm nay và mai sau có thể tìm thấy sau những biến cố thăng trầm của lịch sử những bài học quí báu
1.2 Cảm hứng lịch sử - nguồn cảm hứng đặc biệt trong văn học Trung Quốc
1.2.1 Bề dày lịch sử của đất nước Trung Quốc
Nhắc đến Trung Quốc là nhắc đến một đất nước rộng lớn với bề dày lịch sử hơn 5000 năm Nền văn minh Trung Quốc bắt nguồn tại các khu vực thung lũng dọc theo sông Hoàng Hà và sông Dương Tử trong Thời đại đồ đá mới, nhưng cái nôi của nền văn minh Trung Quốc được cho là tại sông Hoàng Hà Với hàng ngàn năm lịch sử tồn tại và phát triển, đây là một trong những nền văn minh lâu đời nhất
Trang 21thế giới Nhìn một cách tổng quát, lịch sử Trung Quốc có thể chia làm 4 thời kì chính : thời kì cổ đại, thời kì trung đại, thời kì cận đại và thời kì hiện đại
Khởi đầu là thời cổ đại Tam Hoàng Ngũ đế từ năm 2852 TCN đến 2205 TCN, gắn liền với tên tuổi những vị vua huyền thoại của Trung Quốc Họ đã có công khai hoá dân tộc Trung Hoa, đưa dân tộc này thoát khỏi tình trạng sơ khai Sau giai đoạn Tam hoàng Ngũ đế, ba nhà Hạ, Thương, Chu tiếp tục lịch sử cổ đại từ năm 2205 TCN đến năm 256 TCN Khi nhà Chu bắt đầu suy yếu, lịch sử Trung Quốc bước vào giai đoạn Xuân Thu – Chiến Quốc, giai đoạn “lễ băng nhạc hoại” (lễ tan nhạc vỡ) trong lịch sử Trung Quốc Đây là thời kì các nước chư hầu ngày càng lớn mạnh và liên tục phát động những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau để tranh giành quyền bá chủ Kết thúc giai đoạn này, trang sử Trung Quốc thời cổ đại khép lại
Thời trung đại được đánh dấu bằng sự kiện năm 221.TCN, Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc Trong lịch sử Trung Quốc, nhà Tần là vương triều đầu tiên
có cương thổ rộng lớn và tạo ra một tầm ảnh hưởng nhất định đến Tây phương Tuy chỉ tồn tại trong vòng 15 năm nhưng những thành quả của nhà Tần lại rất đáng kinh ngạc Sau khi nhà Tần sụp đổ, nhà Hán lên nắm quyền cai trị Triều đại này kéo dài trên bốn thế kỉ, từ năm 206 TCN đến năm 220 Trong bốn thế kỉ, nhà Hán đã dựng được đế quốc rất rộng và tạo được một nền văn minh rực rỡ Cuối đời nhà Hán, sự tan rã lại xảy ra, Trung Quốc lại chìm trong loạn lạc thời Tam Quốc và Lục Triều (cũng gọi là Nam Bắc Triều) Tuy nhiên, khác với đế quốc Hi Lạp, La Mã ở châu
Âu, đế quốc Trung Hoa không tan vỡ hoàn toàn mà đến năm 580 được thống nhất lại dưới đời Tuỳ Nhưng sau đó, nhà Tuỳ nhanh chóng sụp đổ Một lần nữa, Trung Hoa lại rơi vào thời kỳ loạn lạc Bởi vậy chỉ nên coi nhà Tuỳ là một giao thời, chuẩn bị cho thời thống nhất thực sự ở đời Đường, cũng như nhà Tần đã chuẩn bị cho nhà Hán Quả là một sự trùng hợp ngẫu nhiên sau 8 thế kỉ Trong các triều đại, nhà Đường đạt được rất nhiều thành tựu rực rỡ Nhờ có lực lượng quân đội hùng mạnh và các cuộc chinh chiến quân sự, lãnh thổ của nhà Đường rất rộng lớn, lúc cực thịnh đạt gấp rưỡi lãnh thổ của nhà Hán Các lĩnh vực khác như kinh tế, chính trị, văn hoá nghệ thuật, xã hội… đều đạt tới đỉnh cao Sau khi nhà Đường sụp đổ,
Trang 22Trung Quốc bước vào thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc, một giai đoạn đầy biến động từ năm 907 – 960/979 trong lịch sử Trung Quốc Nhà Tống đã có công trong việc thống nhất Trung Quốc thời kỳ này và cai trị Trung Quốc từ năm 960 đến 1279 Nhà Tống đạt được những thành tựu như: là nhà nước đầu tiên trên thế giới phát hành ra tiền giấy, sử dụng thuốc súng, cũng như nhận thức về cách sử dụng la bàn Nhà Tống cuối cùng bị rơi vào tay quân xâm lược Mông Cổ năm 1279 Đại hãn Mông Cổ là Hốt Tất Liệt lập ra nhà Nguyên và bắt đầu một nước Trung Quốc Mông Cổ Vào thời điểm đó, đế chế Mông Cổ là đế chế lớn nhất thế giới Người Mông Cổ hầu hết giành được chiến thắng trong mọi cuộc chinh phục Vó ngựa Mông Cổ đi đến đâu thì cỏ không mọc được, đến đâu thì bình địa đến đó, máu chảy đầu rơi, xơ xác Về sau, một thủ lĩnh nông dân là Chu Nguyên Chương đánh đuổi chính quyền người Mông Cổ năm 1368 và lập ra nhà Minh Trong thời nhà Mi nh, kinh tế hàng hoá được phát triển , những mầm mống của chủ nghĩa tư bản manh nha xuất hiện Triều đại nhà Minh kéo dài tới năm 1644 thì người Mãn Châu từ phía đông bắc kéo xuống thay thế nhà Minh, lập ra nhà Thanh Thành tựu rực rỡ của nhà Mãn Thanh kết tinh ở hai vị hoàng đế là Ung Chính và Càn Long Họ đã phát triển đất nước trở nên hùng mạnh bằng quốc sách kinh tế và sách lược quân sự, xâm chiếm những nước lân bang Tuy nhiên, nhà Thanh tàn tạ từ nửa cuối thế kỷ 19 và
bị lật đổ sau cuộc Cách mạng Tân Hợi Ngày 12 tháng 2 năm 1911, vị hoàng đế cuối cùng là Phổ Nghi thoái vị, chấm dứt chế độ cai trị đất nước kéo dài mười ba hoàng triều
Chế độ phong kiến Trung Quốc sụp đổ khép lại trang sử cuối cùng của thời trung đại và mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử Trung Quốc: giai đoạn lịch sử cận đại Giai đoạn này được đánh dấu từ chiến tranh thuốc phiện (6/1840-8/1842) đến khi Tôn Trung Sơn thuộc Quốc Dân Đảng thành lập Trung Hoa Dân Quốc, chính thể cộng hoà đầu tiên của Trung Quốc, lãnh đạo toàn bộ đất nước từ 1911-
1949 Ba thập kỷ sau đó là giai đoạn không thống nhất - thời kỳ Quân phiệt cát
cứ, Chiến tranh Trung - Nhật và Nội chiến Trung Quốc Vào ngày 1 tháng
10 năm 1949, sau một chiến thắng toàn diện trong Nội chiến Trung Quốc, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nhà nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa - tự xem
Trang 23là nhà nước kế tục của Trung Hoa Dân Quốc trên Quảng trường Thiên An Môn Thời kỳ hiện đại bắt đầu từ sau sự kiện này, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo phải rút ra đảo Đài Loan Còn về phía Đảng Cộng sản Trung Quốc, khi đã nắm được đại lục Trung Quốc bắt đầu thực hiện những chính sách xây dựng, phát triển đất nước Tuy nhiên vào thời kỳ đầu, Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã mắc phải một số sai lầm Các sự kiện như Cải cách ruộng đất, Đại nhảy vọt, Cách mạng Văn hoá đã gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế, đồng thời phá hoại nghiêm trọng di sản văn hoá Trung Hoa Nhanh chóng nhận thức và sửa chữa sai lầm, Đảng cộng sản đã tiến hành đổi mới Từ khi tiến hành đổi mới kinh tế năm 1978, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đã trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh trên thế giới
Thật khó để có thể tóm tắt toàn bộ lịch sử Trung Quốc trong một vài trang ngắn gọn Trên đây chỉ là một vài nét rất sơ lược về lịch sử Trung Quốc Có thể thấy lịch sử Trung Quốc đã trải qua rất nhiều thăng trầm với rất nhiều biến động Hiếm có một nước nào lại có dòng chảy lịch sử dài với bao nhiên sóng gió, bão táp đến như vậy Đối với bất kỳ một quốc gia nào, lịch sử cũng đóng vai trò rất quan trọng và đối với Trung Quốc thì vai trò quan trọng của lịch sử còn tăng lên gấp bội phần Chính những trang sử vô cùng giàu có, phong phú ấy đã khơi nguồn cảm hứng vô tận cho rất nhiều những tác phẩm nghệ thuật Từ âm nhạc, hội hoạ, văn học đến điện ảnh… đều lấy lịch sử làm đề tài, cơ sở Đề tài lịch sử chưa bao giờ cũ, chưa bao giờ vơi cạn Qua đó, lịch sử được nhìn nhận, đánh giá dưới đầy đủ mọi góc cạnh, mọi phương diện
1.2.2 Dấu ấn đậm nét của cảm hứng lịch sử trong văn học Trung Quốc
Trong lịch sử, tình trạng văn – sử - triết bất phân là một hiện tượng mang tính đặc thù của thế giới Điều này có thể thấy rõ hơn trong nền văn hoá của phương Đông Mối quan hệ này được thể hiện ở chỗ bóng dáng lịch sử luôn tồn tại trong nhiều thể loại văn học Đồng thời, tính văn học cũng có mặt trong các cuốn sử ký
của các nhà chép sử Từ điển thuật ngữ văn học có nhắc đến thể loại văn học lịch
sử Đó là “lĩnh vực văn học bao gồm các thể loại văn học khác nhau cùng viết đề tài lịch sử” [ 22, tr.301]
Trang 24Đặc biệt ở Trung Quốc, đất nước có bề dày cả về lịch sử và văn học thì mối quan hệ này càng trở nên mật thiết hơn Trọng sử là một đặc điểm của người Trung Quốc Có thể nói người Trung Hoa là một trong những dân tộc trọng sử nhất trên thế giới Đặc điểm này thể hiện ở tâm trạng “hoài cổ” trong thơ, ở tỉ lệ rất cao tác phẩm viết về lịch sử hoặc lấy đề tài lịch sử trong tiểu thuyết và kịch (kể cả tiểu thuyết và kịch bản phim truyền hình hiện đại) Người ta viết tiểu thuyết mà vẫn đặt
cho tác phẩm của mình những cái tên của những thể tài lịch sử: truyện, ký, chí, lục (chẳng hạn như: Huyền quái lục, U minh lục, Hội Chân ký, Chẩm trung ký, Tam
Quốc chí diễn nghĩa, Thuỷ hử truyện, Tây du ký, Tình tăng lục, Thạch đầu ký (hai
cái tên khác của Hồng lâu mộng), Liêu trai chí dị, Quan trường hiện hình ký ;
thậm chí đến thế kỷ XX mà con dấu của các thể tài lịch sử vẫn còn đóng lên nhan
đề tác phẩm: Bình tung hiệp ảnh lục, Xạ điêu anh hùng truyện, Kiều xưởng trưởng
Thiên nổi lên là một tác phẩm độc đáo, thuộc vào hàng có một không hai của văn hoá thế giới Nó không chỉ là công trình sử học lớn nhất của Trung quốc mà còn là một trong những tác phẩm văn học ưu tú của nhân loại Người Trung Hoa xem đây
là tác phẩm lớn nhất về văn xuôi trong nền văn học cổ Trung quốc, và là tác phẩm
cổ điển ngang hàng với thơ Đỗ Phủ Về mặt lịch sử, tác phẩm đã cung cấp cho
chúng ta một kho tài liệu lịch sử vô giá, chính xác với giá trị tổng hợp rất cao, tái hiện lịch sử Trung Quốc từ thời Hoàng Đế thần thoại cho tới thời Tư Mã Thiên sống Về mặt văn học, người đọc tìm thấy trong tác phẩm vô số những hình tượng điển hình với đủ các thành phần, đủ các nghề nghiệp, đủ các tầng lớp; những chi
tiết, sự kiện lịch sử rất thú vị Mặc dù, Tư Mã Thiên đã từng nói: “tôi chỉ thuật lại
Trang 25chuyện xưa, sắp đặt lại các chuyện trong đời chứ có sáng tác đâu” (thiên Tam đại thế biểu), song ẩn đằng sau câu chữ, người đọc nhận thấy một tâm hồn, tâm sự đau
xót của nhà thơ Xuất phát từ lập trường tiến bộ, Sử ký lên án sự tàn bạo của tầng
lớp thống trị (Tần Thuỷ Hoàng, Lưu Bang và Vũ Đế), ca ngợi những nhà thơ yêu nước như Khuất Nguyên, đề cao các dũng sĩ khởi xướng khởi nghĩa nông dân đầu
tiên trong lịch sử Trung Quốc như Trần Thiệp Tác phẩm xứng đáng là “một tập Ly
tao không vần” như lời đánh giá của Lỗ Tấn
Sau đó, tiểu thuyết lịch sử Trung Quốc chính thức xuất hiện vào đời Nguyên
- Minh (thế kỷ XIV-XVI) với những bộ tiểu thuyết chương hồi cỡ lớn như Tam
quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Đông Chu liệt quốc của Phùng Mộng
Long, Thuỷ hử truyện của Thi Nại Am…
Tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung kể về thời kỳ hỗn loạn
trong ngót gần một thế kỷ (220 - 280), thời loạn lạc từ cuối đời Hán đến khi chia
làm ba nước và cuối cùng thì nhà Tấn thống nhất lại, theo phương pháp bảy thực ba
hư Mặc dù một số tình tiết trong Tam quốc diễn nghĩa có khác với sự thật lịch sử
song về cơ bản, tiểu thuyết được xây dựng trên cơ sở chân thực của lịch sử Đứng trên quan điểm “ủng Lưu phản Tào”, La Quán Trung ca ngợi Lưu Bị, Quan Vũ, Trương Phi, Gia Cát Lượng và lên án Đổng Trác, Tào Tháo…, qua đó thể hiện sự bất mãn của ông đối với hiện thực xấu xa và lí tưởng mà ông theo đuổi Bằng con mắt sắc sảo, La Quán Trung đã vạch trần và miêu tả cái xã hội “dân đen chết đói nơi thôn xóm, anh tài mai một nơi rừng sâu, người trung lương chết oan dưới gươm giáo…” Những cảnh mưu quyền, chèn ép về chính trị, những cảnh chiến tranh dồn dập, cảnh xã hội loạn lạc làm cho đời sống của nhân dân cực khổ, ly tán Tác giả đã thể hiện một cách khéo léo các sự kiện trọng đại của lịch sử bằng hình tượng nghệ thuật
Thủy hử truyện (Thi Nại Am) lại phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp của nông
dân, khởi nghĩa nông dân và chiến tranh nông dân trong xã hội phong kiến một cách chân thực, sinh động và đầy đủ Những tên tham quan ô lại xấu xa như Cao Cầu, Cao Liêm, Thái Kinh, Đồng Quán, Lưu Cao… cùng bọn địa chủ ác bá ở nông thôn,
Trang 26cấu kết với quan phủ cưỡi lên đầu nhân dân gây bao tội ác như Tây Môn Khánh, Trấn Quan tây Trịnh Đồ, Mao Thái Công…được tác giả lột tả sắc nét bản chất thối nát, mục rữa của giai cấp thống trị phong kiến Tất cả những nhân vật thối tha ấy đã tạo nên một bức tranh ghê tởm của xã hội phong kiến Quy luật ở đời là “có áp bức
có đấu tranh”, và ở trong tác phẩm cái sự thực gọi là “quan bức dân phản” đã được phản ánh một cách đầy đủ và trung thực Tống Giang, Lâm Xung, Lỗ Trí Thâm, Võ Tòng… mỗi người một cảnh ngộ, thông qua việc miêu tả những cảnh ngộ của họ, nhà văn đã khái quát được con đường đấu tranh từ tỉnh ngộ đi đến chống đối của những người thuộc các tầng lớp khác nhau trong xã hội phong kiến đen tối lúc bấy giờ
Đến năm Gia Tĩnh, bộ Liệt quốc chí truyện của Dư Thiệu Ngư xuất hiện Tác
phẩm đã tái hiện quá trình lịch sử bắt đầu từ khi vua Trụ (nhà Thương) lấy Ðát Kỷ đến khi nhà Tần thống nhất Trung Hoa Sau đó vào cuối đời Minh, Phùng Mộng
Long dựa trên nền tảng cuốn Liệt quốc chí truyện, viết lên Tân liệt quốc chí, dài 108
hồi, tái hiện lịch sử bắt đầu từ đời Tuyên Vương nhà Chu cho đến đời Tần Thủy
Hoàng Vào khoảng đời Kiến Long nhà Thanh xuất hiện bộ Ðông Chu liệt quốc chí (Sái Nguyên Phóng cải biên bộ Tân liệt quốc chí của Phùng Mộng Long) Tác phẩm
tái hiện một thời kỳ lịch sử dài hơn 400 năm (thế kỷ VI, V, IV, III trước công nguyên) trong lịch sử Trung Quốc Thời kỳ ấy bắt đầu từ khi Bình vương nhà Chu dời đô sang phía Ðông và kết thúc với cuộc thống nhất của Tần Thuỷ Hoàng Trong lịch sử Trung Hoa, đó là thời kỳ quá độ từ chế độ phong kiến phân quyền đến chế
độ phong kiến tập quyền
Đến thời kỳ văn học Trung Quốc hiện đại, rất nhiều nhà văn cũng lấy lịch sử làm nguồn cảm hứng sáng tác và viết nên được những tác phẩm kinh điển nhờ
những chất liệu lịch sử vốn có Lỗ Tấn có tác phẩm Chuyện cũ viết lại Đây là tác
phẩm nổi tiếng được tác giả xây dựng trên cơ sở các thần thoại, truyền thuyết và lịch sử Trung Quốc cổ đại Trong quá trình “làm mới” lại (tân biên) các “chuyện cũ” (cố sự), nhà văn đặc biệt quan tâm đến trạng thái sinh tồn, nỗi cô đơn, tuyệt vọng của con người trong cuộc sống, từ đó tiến hành phản tư đối với văn hoá truyền
Trang 27thống Trung Quốc Hay nói cách khác, nhà văn sử dụng chính thống để phản tư truyền thống
Trong khuôn khổ có giới hạn, luận văn chỉ nêu lên một vài tác phẩm tiêu biểu, nổi bật nhất mang cảm hứng lịch sử trong kho tàng văn học Trung Quốc Còn rất nhiều, rất nhiều những tác phẩm khác cũng được khơi nguồn từ nguồn cảm hứng đặc biệt này Có thể thấy ngoài dòng chảy lịch sử diễn ra trong thực tế còn một dòng chảy lịch sử nữa diễn ra trong văn học Không thể phủ nhận chính cảm hứng lịch sử đã góp phần tạo nên giá trị, sức hấp dẫn, sức sống cho rất nhiều những tác phẩm văn học Vì vậy, nhìn một cách tổng thể, cảm hứng lịch sử là một cảm hứng lớn, đặc biệt, xuyên suốt toàn bộ nền văn học Trung Quốc mấy nghìn năm Và Mạc Ngôn đã tô thêm vào bức tranh tổng thể chung đó một gam màu rất riêng, rất độc đáo
1.3 Khái quát về cảm hứng lịch sử trong những sáng tác của Mạc Ngôn
1.3.1 Vài nét về nhà văn Mạc Ngôn
Mạc Ngôn (có nghĩa là không nói) tên thật là Quản Mạc Nghiệp, sinh năm
1955 tại huyện Cao Mật, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc Bỏ dở tiểu học giữa chừng do Cách mạng văn hoá, ông phải tham gia lao động nhiều năm ở nông thôn, luôn phải sống trong tình trạng bị đói khát và cô đơn Ông nhập ngũ năm 1976 và tốt nghiệp khoa Văn thuộc Học viện nghệ thuật Giải phóng quân (1984 - 1986) Từ tháng 10 -
1987, Mạc Ngôn bắt đầu hoạt động trong lĩnh vực báo chí và viết văn chuyên nghiệp Năm 1988, ông lại trúng tuyển lớp nghiên cứu sinh sáng tác thuộc Học viện Văn học Lỗ Tấn, Trường Đại học Sư phạm Bắc Kinh Năm 1991, ông tốt nghiệp với học vị thạc sĩ Hiện ông là sáng tác viên bậc Một của Cục Chính trị - Bộ Tổng tham mưu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, phó chủ tịch hội nhà văn Trung Quốc
Chặng đường 15 năm cầm bút, Mạc Ngôn đã xuất bản 11 tiểu thuyết, 20 truyện dài, hơn 60 truyện ngắn và 5 tuyển tập những bài ký, phóng sự, tùy bút , tổng cộng trên 200 tác phẩm, một con số mà bất kỳ nhà văn nào cũng mơ ước Hầu hết các tác phẩm của ông đều được dịch ra nhiều ngôn ngữ như Anh, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Nga, Hàn, Hà Lan, Thụy Điển, Ba Lan, Việt Nam… Có thể kể ra đây một số
Trang 28tác phẩm tiêu biểu làm nên tên tuổi của Mạc Ngôn như : Báu vật của đời, Đàn
hương hình, Cây tỏi nổi giận, Cao lương đỏ, Rừng xanh lá đỏ, Tửu quốc, Tứ thập nhất pháo, Thập tam bộ, Sống đọa thác đày, Châu chấu đỏ, Hoan lạc, Người tỉnh nói chuyện mộng du, Con đường nước mắt, Bạch miên hoa, Trâu thiến…
Với sự cống hiến không ngừng nghỉ của mình, Mạc Ngôn đã vinh dự nhận được rất nhiều giải thưởng và danh hiệu cao quý Và gần đây nhất, giải Nobel Văn học danh giá 2012 đã thuộc về Mạc Ngôn Viện hàn lâm Thuỵ Điển đã chỉ ra đặc điểm nổi bật nhất trong sáng tác của ông: "Với sự pha trộn giữa các yếu tố huyền ảo, hiện thực, lịch sử và xã hội, Mạc Ngôn đã tạo ra một thế giới gợi nhớ lại những kiệt tác của hai nhà văn lỗi lạc William Faulkner và Gabriel Garcia Marquez Trong các tác phẩm của Mạc Ngôn, hiện thực gây ảo giác hòa trộn với truyện dân gian, lịch sử
và đương đại" (44) Ngài Peter Englund, Chủ tịch Viện hàn lâm Thụy Điển mô tả truyện của Mạc Ngôn "vừa tàn nhẫn vừa gợi cảm", "có những thứ trong sách của ông là những thứ đáng sợ nhất mà tôi từng đọc" (44) Giải thưởng này trở thành một vinh dự lớn lao, một niềm vui khôn xiết, giải toả được cái “mặc cảm Nobel” của Trung Quốc trong suốt 100 năm qua
1.3.2 Cảm hứng lịch sử xuyên suốt trong các tác phẩm của Mạc Ngôn
Bước chân vào thế giới nghệ thuật của Mạc Ngôn, người đọc phải ngỡ ngàng bởi một phạm vi đề tài rất rộng lớn: từ việc phản ánh sinh hoạt của quân đội thời
hiện đại như Bãi cát đen, Đoạn thủ đến miêu tả phong tục tập quán nông thôn trong
Vết hõm trong dép cỏ, Âm nhạc dân gian…; “phản tư lịch sử”, suy ngẫm nhân sinh
có Dòng sông khô cạn, Củ cà rốt trong suốt, Thu thủy, Làm đường…; phản ánh
hiện thực nông thôn, miêu tả sự xung đột giữa ý thức cũ và mới trong công cuộc cải
cách có Ánh chớp hình cầu, Bùng nổ, Cây đu chó trắng…; phản ánh cuộc kháng chiến chống quân xâm lược có Gia tộc Cao lương đỏ (gồm Cao Lương đỏ, Rượu
Cao Lương, Nhà quàn Cao Lương, Cẩu đạo, Da chó), Báu vật của đời (Mông to vú nở), Đàn hương hình Có thể nói, “trên trời dưới đất, cổ kim, trong ngoài, xương
khô trong mồ, u hồn dưới gốc cây tùng, công tử vương tôn, tài tử giai nhân, sơn cùng thuỷ tận, dân tục phong tình” đều có trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn
Trang 29Trong thế giới nghệ thuật vô cùng phong phú và đa dạng của Mạc Ngôn, lịch
sử đóng một vai trò rất quan trọng tạo nên một gam màu thật độc đáo Có thể nói, Mạc Ngôn là nhà văn khá nặng tình với lịch sử Mạc Ngôn đã có hẳn một bài diễn
thuyết ở thư viện Đài Bắc với tựa đề Tôi và tư trào văn học chủ nghĩa lịch sử Trong bài diễn thuyết này, Mạc Ngôn đã mượn một bài viết Nhìn lại tư trào văn học
chủ nghĩa lịch sử mới trong mười năm của Trương Thanh Hoa đăng trên số 4 năm
1988 của tạp chí “Trung Sơn” để bàn về mối quan hệ giữa những sáng tác của mình với trào lưu văn học chủ nghĩa lịch sử Trong bối cảnh những năm từ giữa thập kỉ
80 đến cuối thập kỉ 90, văn học đương đại Trung Quốc nhất là trong lĩnh vực thơ ca
và tiểu thuyết xuất hiện một tư trào văn học mang quan điểm và khuynh hướng “chủ nghĩa lịch sử mới” Và Mạc Ngôn được tác giả Trương Thanh Hoa đánh giá là một trong những nhà văn đầu tiên có vai trò, vị trí “hoàn thành giai đoạn quá độ” đưa tư trào văn học này vượt khỏi giai đoạn dạo đầu với chủ nghĩa tìm về cội nguồn để tiến tới giai đoạn hạt nhân đưa lịch sử trở thành đối tượng của thẩm mĩ và lĩnh vực tưởng tượng siêu nghiệm
Hàng loạt các tác phẩm nổi tiếng của ông như Cao lương đỏ, Đàn hương
hình, Sống đoạ thác đầy… đều phản ánh lịch sử một cách rất hấp dẫn và mới lạ Mở
đầu là Cao lương đỏ lấy bối cảnh câu chuyện là những năm 1920 - 1930 tại miền quê Cao Mật Cao lương đỏ tuy thuộc dòng văn học “phản tư” (suy nghĩ lại) phổ
biến ở Trung Quốc nhưng lại được xem là cột mốc cho phong cách văn chương của Mạc Ngôn khi sử dụng lịch sử kết nối với hiện đại thông qua giọng kể và góc nhìn của nhân vật Cốt truyện không có gì li kì, kịch tính nhưng câu chuyện lại hấp dẫn chúng ta từ đầu đến cuối Tác phẩm đã tái hiện lại một giai đoạn lịch sử hào hùng của đất nước Trung Hoa Đây là tác phẩm có khuynh hướng “gia tộc sử”, nội dung lịch sử đã được dân gian hoá và đặt nền móng cho sự vươn dậy của các tác phẩm
“chủ nghĩa lịch sử mới”, đồng thời cũng là sự mở đầu cho dòng chảy lịch sử chảy xuyên suốt trong các tác phẩm của Mạc Ngôn
Đến Đàn hương hình, người đọc lại được chứng kiến một giai đoạn lịch sử
cận đại Trung Quốc đẫm máu (1895 – 1915) Khi đó, Trung Quốc trở thành chiếc bánh ga-tô ngon lành để các đế quốc chia nhau xâu xé Triều đình Mãn Thanh thối
Trang 30nát, bất lực Quan lại đương thời hoặc tiếp tay cho giặc hoặc ươn hèn, thối chí Đời sống nhân dân vô cùng rối loạn Sau thất bại của biến pháp Mậu Tuất, “lục quân tử”
bị tử hình, quân Đức chiếm Sơn Đông xây dựng đường sắt, kĩ sư và lính Đức hà hiếp dân chúng, gây ra cuộc đấu tranh của nhân dân Nghĩa Hoà đoàn nổi dậy phá đường sắt, giết quân Đức, tuần phủ Sơn Đông Viên Thế Khải theo lệnh tổng đốc người Đức Các-lốt trấn áp Nghĩa Hoà đoàn, bắt được thủ lĩnh của Nghĩa Hoà đoàn
là Tôn Bính và dùng đàn hương đình để xử tử ông Tác phẩm đã tái hiện một giai đoạn lịch sử chân thực của đất nước Trung Hoa, quân Đức dã man, tàn ác, Viên Thế Khải vô liêm sỉ, nhân dân vừa tê dại vừa phẫn nộ, những kẻ làm quan còn chút ít lương tâm thì bất lực, đất nước Trung Hoa dưới triều nhà Thanh đứng bên bờ vực thẳm, có nguy cơ mất nước Chen vào câu chuyện lịch sử đó là câu chuyện cuộc đời của các nhân vật: cuộc đời phong tình của thiếu phụ Mị Nương, cuộc đời kép hát của Tôn Bính – cha đẻ của Mị Nương, cuộc đời của quan huyện Cao Mật Tiền Đình – người tình của Mị Nương và tên đao phủ Triệu Giáp – bố chồng của Mị Nương
Có thể nói tiểu thuyết là một sự tổng hợp về những sự kiện cách mạng, tội phạm,
luyến ái Đàn hương hình không chỉ cho người đọc thấy một giai đoạn lịch sử
Trung Quốc mà còn giúp ta biết được các hình thức tra tấn tử hình ở Trung Quốc và lịch sử của hý kịch Miêu Xoang
Nếu như ở Đàn hương hình, chúng ta được biết một Cao Mật trong những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX thì đến với Sống đoạ thác đày, Cao Mật lại
thuộc về nửa cuối thế kỉ XX Tác phẩm kể về lịch sử trong suốt 50 năm ở vùng nông thôn Trung Quốc từ năm 1950 - 2000, đặc biệt xoay quanh đề tài đất đai với
đủ dạng quan hệ giữa nông dân với đất đai Thông qua đôi mắt của Tây Môn Náo, hay nói chính xác hơn là qua đôi mắt của các loài động vật mà anh bị hoá kiếp, độc giả sẽ có cơ hội quan sát và thể nghiệm được những sự kiện lịch sử gây biến động nông thôn cũng như toàn bộ đất nước Trung Quốc: “Đại nhảy vọt” cuối thập kỷ 50,
“Cách mạng văn hoá” cuối thập kỷ 60 - đầu 70, “Cải cách khai phóng” những năm 80
Trong các tác phẩm viết về đề tài lịch sử của Mạc Ngôn, Báu vật của đời giữ vai trò khá quan trọng Nói như tác giả Trương Thanh Hoa thì “Báu vật của đời của
Trang 31Mạc Ngôn đã thể hiện quan niệm về tiểu thuyết của chủ nghĩa lịch sử mới một cách điển hình nhất” [49, tr 203] Với tác phẩm này, Mạc Ngôn đã hoàn nguyên lịch sử cận đại, thu nhỏ lịch sử thông qua số phận của các thành viên trong một gia đình, đem lịch sử trả lại dân gian, đem đời người đặt vào những sự kiện lịch sử trọng đại
của đất nước Có thể nói, Báu vật của đời là một cuốn tiểu thuyết chủ nghĩa lịch sử
mới mang ý nghĩa tổng quát tiêu biểu và điển hình
Nói tóm lại, các tác phẩm của Mạc Ngôn mô tả sinh động một Trung Quốc đầy biến động trong thế kỷ 20, từ cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 lật đổ chế độ phong kiến Trung Quốc cho đến những chính sách đất đai thất bại của chính quyền Bắc Kinh thập niên 1950 và thời kỳ động loạn, đẫm máu của cách mạng văn hóa
1966 - 1976 Câu chuyện lịch sử Trung Quốc khá xa lạ với đông đảo người đọc năm châu nhưng nhờ những kỹ thuật viết văn và chiều sâu tư tưởng mang tầm nhân loại nên đọc tác phẩm của Mạc Ngôn, ta sẽ quên đi tác phẩm đang đề cập đến lịch sử và con người Trung Quốc mà nghĩ rằng đây là câu chuyện về kiếp người nói chung
Có thể khẳng định rằng cảm hứng lịch sử là một nguồn cảm hứng lớn, bao trùm các sáng tác của nhà văn Mạc Ngôn Với lối viết “mượn dã sử nói chính sử”, Mạc Ngôn dùng chất liệu lịch sử, dùng quá khứ để viết văn nhưng không “ăn mày
dĩ vãng”, thay vào đó ông nâng tầm những những ký ức đó lên trở thành những vấn
đề nhân sinh quan của nhân loại và không ngừng tự làm mới câu chuyện của mình
Vì vậy, dù trở đi trở lại trong nhiều tác phẩm nhưng Cao Mật và người dân nơi đây
"mỗi lần đến vẫn mang theo bí mật" đến cho độc giả Suốt chặng đời cầm bút của mình, Mạc Ngôn vẫn được xem là “nhà văn chân đất” khi viết về số phận những con người Trung Quốc bình thường chịu bao va đập của thời thế; qua đó, ông đã thể hiện cái sức sống mãnh liệt của nhân dân và tin rằng lịch sử dân tộc được viết bằng cuộc sống, suy nghĩ của quần chúng vô danh
Những vấn đề khái quát về cảm hứng và cảm hứng lịch sử, về lịch sử Trung Quốc và dấu ấn lịch sử trong văn học Trung Quốc, về Mạc Ngôn và nguồn cảm hứng lịch sử trong những sáng tác của ông sẽ là tiền đề để chúng ta soi vào tác
phẩm Báu vật của đời, chỉ ra được những biểu hiên cụ thể của cảm hứng lịch sử
được thể hiện trong tác phẩm ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật
Trang 32CHƯƠNG 2 : NHỮNG BIỂU HIỆN CẢM HỨNG LỊCH SỬ TRONG
BÁU VẬT CỦA ĐỜI CỦA MẠC NGÔN
2.1 Cảm hứng lịch sử được thể hiện qua số phận của quê hương Cao Mật
2.1.1 Một quê hương Cao Mật đau thương mà hào hùng trong cuộc chiến chống giặc ngoại xâm
Với Báu vật của đời, Mạc Ngôn đã tái hiện lại số phận của quê hương Cao
Mật trong suốt gần một thế kỉ, từ năm 1900 đến năm 1993 Trong gần một thế kỉ ấy, Cao Mật đã trải qua biết bao biến cố, biết bao sự kiện lịch sử đã xảy ra, đã đi qua và
để lại những dấu ấn không thể phai mờ Hết Đức, Nhật, rồi Quốc dân đảng, rồi Cộng sản đảng… tất cả đã làm lên “cuốn phim” lịch sử sinh động về vùng đất Cao Mật Cuốn phim ấy được quay chậm dần dần hiện ra trước mắt chúng ta
Trước hết là lịch sử hình thành vùng đất Cao Mật được hiện lên qua lời kể của nhân vật Lỗ Thị: “những năm thời Hàm Phong triều Thanh, vùng này chưa có người đến định cư Mùa hè, mùa thu, người ta đến đánh cá, hái thuốc, chăn dê cừu Tại sao gọi là Đại Lan? Vì đây là nơi đàn cừu nghỉ đêm Những người chăn cừu dùng cành cây quây thành chuồng, nhốt đàn cừu lại, chuồng kiểu ấy người ta gọi là đại lan Mùa đông, người ta đến đây săn cáo, chồn, nhưng nghe nói họ đều chết bất đắc kỳ tử, không chết cóng trong tuyết thì cũng mắc bệnh quái gở Về sau, cũng không rõ ngày tháng năm nào, có một người to khoẻ, chân tay vạm vỡ, gan cóc tía Người ấy chính là Tư Mã Răng To, ông nội của Tư Mã Đình và Tư Mã Khố” [ 48,
tr 109] Tư Mã Răng To đến ở vùng đất này, lấy một cô gái mù và sinh ra Tư Mã Ông, cha đẻ của Tư Mã Đình và Tư Mã Khố Tiếp đến, rất nhiều người di dân đến quê hương đông bắc này, trong đó có ông thợ rèn Thượng Quan Đẩu, cụ tổ của dòng họ Thượng Quan Hai cụ tổ Tư Mã Răng To và Thượng Quan Đẩu kết tình thân hữu với nhau, chính thức bắt đầu một mối duyên đặc biệt giữa hai dòng họ Có thể nói, vùng đất Cao Mật được hai dòng họ này khai phá và lịch sử vùng đất Cao Mật cũng gắn liền với lịch sử của hai dòng họ này
Được hình thành chưa được bao lâu, quê hương Cao Mật đã phải đương đầu với nạn ngoại xâm của giặc Đức Như chúng ta đã biết, Trung Quốc là một nước lớn,
Trang 33diện tích đứng hàng thứ tư trên thế giới, đông dân nhất thế giới, giàu tài nguyên, lại
có lịch sử và nền văn hoá lâu đời Thời trung đại, Trung Quốc là một đế quốc phong kiến hùng mạnh, đã từng thống trị và đi xâm lược nhiều nước châu Á Nhưng từ nửa sau thế kỷ XIX trở đi, chế độ phong kiến Trung Quốc suy yếu và bắt đầu mục nát Lúc này, các nước chủ nghĩa tư bản phương Tây bắt đầu chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, tăng cường đi xâm chiếm thị trường thế giới Và Trung Quốc nhanh chóng trở thành miếng mồi ngon, “chiếc bánh ngọt” để các nước đế quốc xâu
xé nhau Sự kiện mở đầu cho quá trình các nước đế quốc xâm lược Trung Quốc là cuộc chiến tranh thuốc phiện (6/1840 – 8/1842) giữa Anh và Trung Quốc Triều đình Mãn Thanh cấu kết với Anh để buôn bán thuốc phiện, hiệp ước Nam Kinh được kí kết (8/1842), Trung Quốc trở thành nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến Hậu quả tất yếu là “cái bánh ngọt” Trung Quốc bị các nước đế quốc xâu xé nhau: Đức chiếm vùng Sơn Đông; Anh chiếm vùng châu thổ sông Dương Tử; Pháp chiếm vùng Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông; Nga, Nhật chiếm vùng Đông Bắc Quê hương Cao Mật của Mạc Ngôn là một thị xã thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc thuộc địa phận chiếm đóng của Đức Người Đức chiếm Cao Mật và xây dựng đường Sắt Giao – Tế phá hoại phong thuỷ vùng đông bắc Cao Mật, xẻ đôi cái bụng mềm mại của vùng Cao Mật Vì căm tức chuyện này mà Thượng Quan Đẩu và Tư
Mã Răng To đã tìm cách chống lại bọn chúng Những người dân thật thà, chất phác
ấy ngây thơ “cho rằng quân Đức không có đầu gối, chân thẳng đuột không gập lại được Còn nói quân Đức ưa sạch, rất sợ dính phân vào người, hễ dính phân là nôn
oẹ cho đến chết Lại nói bọn Tây đều là con chiên Chiên thì sợ hổ báo lang sói Thế
là hai vị tiên phong trong công cuộc khai phá vùng đông bắc, tự tập một số bợm rượu, con bạc, du đãng … Tất nhiên họ đều là những kẻ không sợ chết, võ nghệ siêu quần, thành lập đội Hổ Lang” [48, tr 110] Vì vậy đội Hổ Lang đã dùng cát và phân, dàn trận ở Bãi Cát Dài để chiến đấu chống lại quân Đức Nhưng phân, nước tiểu và cát không thể nào chống chọi được với súng ống của giặc Đức Đội Hổ Lang thất bại Cụ tổ Tư Mã Răng To bị một viên đạn xuyên từ miệng ra sau gáy chết ngay tức khắc, không kêu được tiếng nào Cụ tổ Thượng Quan Đẩu bị bắt và phải chịu
Trang 34cực hình thật thảm khốc: đi chân trần trên lưỡi mai nung đỏ, tiếng gào khóc và mùi thịt người cháy khét lẹt Cụ không hổ danh là thợ rèn mình đồng da sắt, hình phạt thảm khốc như vậy, tuy có khóc, có gào nhưng tuyệt nhiên không một lời van xin
Cụ đi lại hai lượt trên lưỡi mai, đôi chân không còn ra hình thù gì nữa, sau đó cụ còn bị bọn quan lại chặt đầu, đem đi triển lãm tại thủ phủ Tế Nam Tất cả đã khiến cho người dân Cao Mật tỉnh mộng, nhận ra sức mạnh ghê gớm của kẻ thù Cuộc chiến đấu chống lại quân Đức thất bại nhưng hai cụ tổ Tư Mã Răng To và Thượng Quan Đẩu đã viết những trang sử hào hùng đầu tiên của vùng Cao Mật
Sự đàn áp dã man của giặc Đức càng ngày càng làm bùng cháy lên ngọn lửa căm hờn của người dân Cao Mật Dân Cao Mật căm thù người Đức Một công trình
sư đường sắt người Đức bóp vú chị Vu Bảo trên chợ Sa Oa, bị quần chúng căm phẫn đánh chết tươi Biết người Đức sẽ không bỏ qua chuyện này, người dân Cao Mật đã thành lập hội dáo dài thôn Sa Oa ngày đêm luyện tập quân sự, đúc súng đúc pháo, xây tường vây đào chiến hào sẵn sàng đợi địch Qua mấy tháng không thấy động tĩnh, mọi người dần dần lơ là Đúng thời điểm ấy điều mà họ sốt ruột chờ đợi
đã xảy ra Để dạy cho những người dân đông bắc Cao Mật một bài học vì dám có những hành động chống phá lại bọn chúng, giặc Đức đã đến và thực hiện một cuộc tàn sát dã man thôn Sa Oa: “Năm thứ 29 triều Quang Tự đời Thanh, tức năm 1900, một buổi sang mùa thu sương dày đặc, quân Đức được viên tri huyện Cao Mật Lý Quế Phương dẫn đường, bao vây thôn Sa Oa tận cùng phía tây nam” [ 48, tr 712]
Đó là một buổi sáng thật bình yên với hơi thở và nhịp sống bình thường: Lỗ Ngũ, cha đẻ của Lỗ Toàn Nhi, dậy từ rất sớm, luyện dăm đường quyền cước trong mảnh sân còn đẫm sương đêm rồi quảy đôi thùng sắt tây đi lấy nước ăn ở giếng nước ngọt phía nam thôn, trên đường có nhiều người đi lại, có người thì nhặt phân chó, người guồng nước tưới rau cải, người quảy thùng gỗ, đội lọ đi lấy nước ăn, lò luyện võ của Đỗ Giải Nguyên vang lên những tiếng hự hự của từng cặp đối công… Nhưng tất cả hơi thở, nhịp sống bình yên ấy đã nhanh chóng bị tiếng súng của giặc Đức nhấn chìm Cuộc đổ bộ của giặc Đức diễn ra thật nhanh chóng, ào ạt Chúng trèo qua tường vây, mở toang cổng, thả cầu treo rồi ồ ạt xông vào Những tên lính Đức
Trang 35cao lênh khênh cầm trên tay súng khai hậu nổ chát chúa, đạn bay chiu chíu Chúng
đi đến đâu, gieo rắc đau thương chết chóc đến đó : “Một đội lính Đức hàng ngũ vuông vức, đứng lên quì xuống nhịp nhàng nổ súng, dân chúng ngã gục từng đợt, có người chết ngay không kịp giẫy, có người lại vừa khóc vừa lăn lộn trên vũng máu” [ 48, tr.716] Mặc dù bị động nhưng Đỗ Giải Nguyên và Lỗ Quậy vẫn kiên cường chiến đấu đến cùng, chống lại giặc Đức Đội trưởng đội dáo dài Đỗ Giải Nguyên không kịp triệu tập các đội viên, chỉ gom được hơn chục người trong gia đình và người làm thuê Ông dùng khẩu pháo tự tạo, nạp đạn và bắn về phía kẻ thù Tất nhiên, khẩu pháo bé nhỏ không thể chống chọi với hàng loạt súng đạn vũ bão của kẻ thù Cuối cùng, cả nhà ông bị sát hại Giặc Đức cũng phá được nhà ông Ngũ Quậy Ngũ Quậy chiến đấu với kẻ thù đến giây phút cuối cùng rồi cũng bị giết Bà Diêu,
vợ ông thì treo cổ tự vẫn Ngày hôm ấy, có tổng cộng 494 người thôn Sa Oa bị giết chết Lỗ Toàn Nhi chính thức trở thành đứa trẻ mồ côi sau cuộc tàn sát của giặc Đức
Hết giặc Đức, Trung Quốc lại phải chống chọi với kẻ thù Nhật Bản Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ giữa hai phe Đồng minh và phát xít Với tham vọng trở thành một cường quốc, Nhật chiếm đánh Trung Quốc, Việt Nam và nhiều nước khác ở châu Á - Thái Bình Dương để thoả mãn nhu cầu tài nguyên mà quốc đảo nhỏ
bé này không thể tự đáp ứng được Phát xít Nhật đã gây ra hàng loạt tội ác mà đến nay, kể cả những con người từng phạm tội lẫn nạn nhân vẫn không thể quên được Với đất nước Trung Quốc, cuộc chiến tranh Trung – Nhật trong suốt gần một thập
kỉ đã gieo rắc biết bao đau thương, tang tóc Biết bao tài sản bị cướp bóc, bao công trình bị phá huỷ, bao người dân vô tội bị chết bởi bom đạn kẻ thù và bởi nạn đói Chưa có một số liệu thật chính xác về số người Trung Quốc thiệt mạng trong cuộc chiến này Chỉ có một điều chắc chắn có thể khẳng định rằng thiệt hại về nhân mạng
của Trung Quốc là lớn nhất châu Á Trong Báu vật của đời, Mạc Ngôn đã tái hiện
lại cuộc chiến tranh Trung – Nhật theo cách riêng của mình Ngay mở đầu tác phẩm, nhà văn đã khắc hoạ cuộc tấn công của quân Nhật vào Cao Mật Chỉ cần thông tin quân Nhật đến được phát ra là cả thôn như náo loạn cả lên: “Rất nhiều người ra khỏi nhà, tíu tít bận rộn như một đàn kiến, và cũng chẳng việc nào ra việc nào Người thì
Trang 36đi, người thì chạy, người đứng yên bất động, người chạy đông, người chạy tây, người loay hoay tại chỗ, ngó hết chỗ này ngó chỗ khác” [ 48, tr 28] Đúng là cảnh tượng chạy giặc thật là hỗn loạn Khung cảnh này khiến ta liên tưởng đến những câu thơ miêu tả cảnh chạy giặc của nhà thơ mù Việt Nam Nguyễn Đình Chiểu:
“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây Một bàn cờ thế phút sa tay
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy Mất ổ đàn chim dáo dác bay”
(Chạy giặc) Trong tâm trí của mỗi người dân Trung Quốc, giặc Nhật đã trở thành nỗi ám ảnh, khiếp sợ, giống như những con quỷ dữ ăn thịt người Thọ Hỉ hình dung về giặc Nhật như sau: “những tên nhỏ thó, chân tay ngắn ngủn, mũi củ hành, mắt như lục lạc, ăn gan uống máu người không tanh” [ 48, tr 18] Chúng đổ vào thôn bằng cả kỵ binh và bộ binh Đội kị binh cưỡi trên những con ngựa to lớn, khoẻ mạnh và kéo vào Cao Mật từng tốp, từng tốp một, tốp này bị tiêu diệt, tốp khác lại kéo đến Chúng quát tháo ầm ĩ, nhất loạt rút gươm ra và xông tới Chỉ trong chớp mắt, những người dân vô tội đã yên nghỉ vĩnh viễn Bọn lính Nhật cho ngựa giẫm nát thân thể
họ Đám bộ binh thì thì đầu đội mũ sắt, khiêng những chiếc nòng pháo đen bóng, ùa vào thôn như một bầy ong Giặc Nhật xông vào nhà Thượng Quan và giết chết Thượng Quan Phúc Lộc, Thượng Quan Thọ Hỉ và Tôn Đại Cồ, người đến đỡ đẻ cho
Lỗ Thị Sau cuộc tấn công, bao vây ấy của giặc Nhật, những người dân Cao Mật còn sống phải đưa tang, đem đi chôn cất một cỗ xe ngựa chứa đầy xác chết Chỉ chi tiết ấy thôi cũng đủ nói lên giặc Nhật đã gây ra đau thương, tang tóc cho vùng đất Cao Mật như thế nào Lần thứ hai, khi tái hiện cuộc bao vây thôn của quân Nhật, Mạc Ngôn chỉ nhắc đến tiếng súng, tiếng pháo, tiếng ngựa hí làm kinh động giấc ngủ của mọi người mà không hề có một chi tiết nào miêu tả quá trình bao vây và tàn sát của giặc Nhật Nhưng chỉ nhìn vào kết quả sau đó, người đọc cũng đủ thấy mức
độ tàn sát của giặc Nhật dã man, độc ác đến nhường nào: “Cho đến tiết thanh minh
ấm áp, mười tám cái đầu nhà Tư Mã vẫn treo lủng lẳng trên giá gỗ ngoài cổng nhà
Trang 37Phúc Sinh Đường” [ 48, tr 127] Mười tám cái đầu nhà Tư Mã gồm: vợ và hai đứa con của Tư Mã Đình, ba bà vợ và chín đứa con của Tư Mã Khố, bố mẹ của bà Ba và người em của ông bà, tất cả được xâu với nhau bằng dây thép, treo dưới cây gỗ bắc ngang Đó là cái giá mà nhà Phúc Sinh Đường phải trả vì Tư Mã Khố dám chống lại quân đội Thiên Hoàng
Có thể thấy, đứng trước hai kẻ thù quá mạnh là Đức, Nhật, vùng đất Cao Mật nói riêng và Trung Quốc nói chung trở nên vô cùng nhỏ bé và yếu ớt Nhưng bao giờ cũng vậy, lòng yêu nước luôn là một tình cảm thường trực bản năng trỗi dậy mạnh mẽ nhất trong những lúc đất nước lâm nguy Vì vậy, bên cạnh những trang sử đau thương, tang tóc mà Đức và Nhật đã viết nên ở Cao Mật thì không thể không nhắc đến những trang sử hào hùng mà những người dân Trung Quốc yêu nước đã viết nên Trong thời kì chống giặc Đức, đội Hổ Lang của hai cụ tổ Tư Mã Răng To
và Thượng Quan Đẩu, hội dáo dài thôn Sa Oa của Đỗ Giải chính là những minh chứng hùng hồn cho trang sử hào hùng của vùng Cao Mật Đến thời kì chống Nhật, trang sử hào hùng tiếp tục được những con người yêu nước viết nên Để đối phó với
kẻ thù mạnh hơn, người dân Trung Quốc chủ yếu sử dụng lối đánh du kích Đây là lối đánh thường được nhóm quân sự nhỏ và yếu hơn, cơ động hơn áp dụng đối với
kẻ thù lớn mạnh hơn và kém cơ động hơn Lối đánh du kích bao gồm các cuộc phục kích, đánh bất ngờ, chớp nhoáng và rút lui nhanh Mục tiêu của các cuộc tấn công
du kích là đánh vào điểm yếu của kẻ thù Trong lịch sử kháng chiến chống Nhật, chúng ta phải nhắc đến ba cái tên: Sa Nguyệt Lượng, đội trưởng Đội du kích Hoả Mai Lừa Đen, đơn vị biệt kích của Tổng đội chống Nhật; Tư Mã Khố, con trai thứ hai của nhà Phúc Sinh Đường và Lỗ Lập Nhân, đảng viên Đảng cộng sản Trung Quốc Đó là những con người mang trong mình lòng yêu nước và căm thù giặc sâu sắc Trong cuộc bao vây, tàn sát Cao Mật của giặc Nhật, Sa Nguyệt Lượng đã chỉ huy một đội quân du kích núp trong những lùm cây phục kích kẻ thù Tư Mã Khố thì dám đốt cầu để cản đường tiến công của giặc Sau đó ít lâu, Tư Mã Khố còn phá
cả cầu đường sắt – con đường vận chuyển than, bông, vũ khí, đạn dược của Nhật
Đó là hành động có thể nói là phát huy ý chí của ông nội anh ta, phát huy truyền thống vẻ vang của quê hương Cao Mật Và sau này, khi tiểu đội Năm, trung đội Một,
Trang 38đại đội đường sắt của Đảng cộng sản về chỉnh quân tại Cao Mật, chúng ta cũng cảm nhận được rất rõ cái khí thế hào hùng “chống …Nhật…chống…Nhật” đang lan toả trong cả dân tộc Trung Quốc Chính vì hướng tới một kẻ thù chung là Nhật Bản nên trong thời gian này Quốc dân đảng và Đảng cộng sản đã bắt tay với nhau để góp phần tạo ra sức mạnh Chính sức mạnh ấy cũng phần nào làm suy yếu sức mạnh của
kẻ thù
Tháng 8 năm 1945, Nhật đầu hàng đồng minh Tuy Trung Quốc không chiến thắng hoàn toàn Nhật Bản trên lục địa châu Á trong cuộc chiến Trung - Nhật này nhưng chiến thắng chung cuộc của phe Đồng minh cũng khiến Trung Quốc trở thành nước thắng trận Niềm vui sướng khi “Bọn Nhật đầu hàng” được Mạc Ngôn khắc hoạ rất rõ nét trong tác phẩm: “Đại đội bộc phá nhảy múa trên đường phố, nhiều người nước mắt giàn giụa Người ta cố ý hích vào nhau, đấm vào vai nhau
Có người trèo lên tháp chuông chênh vênh, kéo chuông ầm ĩ Người đổ ra đường ngày càng nhiều, người xách thanh la, người dắt theo con dê sữa, có người bê cả một gói thịt còn tươi nguyên, gói bằng lá sen” [ 48, tr 195] Quả thật là một niềm vui bất tuyệt Mọi người ai cũng muốn đổ ra đường, làm bất kỳ một hành động nào
đó để hoà mình vào cái cảm giác sung sướng, hạnh phúc ấy Sự kiện này đã chính thức khép lại một giai đoạn lịch sử đau thương mà hào hùng của đất nước Trung Quốc nói chung và của quê hương Cao Mật nói riêng
2.1.2 Một quê hương Cao Mật đau thương trong cuộc nội chiến Quốc – Cộng
Cuộc kháng chiến chống Nhật kết thúc thắng lợi, người dân Cao Mật đang hân hoan tận hưởng niềm vui sướng chưa được bao lâu thì lại phải chứng kiến sự mâu thuẫn, tranh chấp lẫn nhau giữa những lực lượng chính trị trong buổi bình minh của thời đại mới Đó là sự mâu thuẫn giữa Quốc dân Đảng và Đảng cộng sản Trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, quê hương Cao Mật dẫu có đau thương nhưng trong những trang sử đau thương ấy vẫn toát lên vẻ hào hùng Bởi dù sao đó
là một cuộc chiến mà những người dân yêu nước dám đứng lên để bảo vệ quê hương, đất nước thân yêu của mình Mục đích ấy vô cùng cao đẹp Còn cuộc nội chiến này là nỗi đau xót không thể xoá mờ trong lịch sử phát triển của Trung Quốc
Trang 39Huynh đệ tương tàn, người Trung Quốc sát hại người Trung Quốc chỉ vì tham vọng quyền lực Cuộc xung đột để giành quyền lãnh đạo ấy đã gây nên bao tai hoạ khủng
khiếp cho người dân Trong Báu vật của đời, Mạc Ngôn đã cụ thể hoá mâu thuẫn
giữa Quốc – Cộng bằng sự đối đầu giữa hai nhân vật Tư Mã Khố - đại diện của Quốc dân đảng và Lỗ Lập Nhân – đại diện của Đảng cộng sản Trong khi Đại đội bộc phá của Lỗ Lập Nhân vẫn chìm ngập trong niềm vui sướng thì Đại đội biệt động của Tư Mã Khố gồm ba trung đội trực thuộc: trung đội kỵ mã có sáu mươi tư con ngựa lai giữa giống ngựa Y Li và ngựa Mông Cổ, trung đội xe đạp có sáu mươi
tư chiếc xe đạp nhãn hiệu lạc đà, trung đội la có sáu mươi tư con la khoẻ mạnh trở
về Cao Mật Đại đội bộc phá của Lỗ Lập Nhân bị đuổi đi Tư Mã Khố chiếm lại Cao Mật mà không làm hại đến bất kỳ một người dân vô tội nào Trong những ngày cai trị ở Cao Mật, Tư Mã Khố đã có những biện pháp, hành động thân dân, lấy lòng người dân, đem lại cho người dân một cuộc sống tốt hơn Nhưng những ngày tháng huy hoàng và tươi đẹp ấy của Tư Mã Khố cũng không kéo dài được bao lâu Chưa đầy một năm sau, Lỗ Lập Nhân lại quay lại Và lần quay trở lại này của Lỗ Lập Nhân đã khiến cho nhân dân Cao Mật phải đổ không biết bao nhiêu máu xương và nước mắt “Chớp Sấm Máu tươi, xương thịt tung toé Phim Mỹ Lựu đạn Đầu nòng sung phụt ra những con rắn lửa… Những cánh tay giãy đành đạch Chân vướng ruột người” [ 48, tr 245] Trung đội 17 thuộc Trung đoàn 8 của Lỗ Lập Nhân trở về chiếm lại Cao Mật và sẵn sàng xả súng giết hại những người dân vô tội Chúng ta có thể thấy trong cùng một hoàn cảnh tương tự nhau nhưng Tư Mã Khố và
Lỗ Lập Nhân có những cách hành xử hoàn toàn khác nhau Một bên là nhân đạo còn một bên là vô nhân đạo Lịch sử là một chuỗi dài những sự kiện nhân quả nối tiếp nhau Sự kiện này là nguyên nhân dẫn dẫn đến sự kiện kia Trong thời gian tiếp quản Cao Mật, Đảng cộng sản đã thi hành cuộc cải cách ruộng đất và thảm sát rất dã man những phú nông tiểu tư sản Chính hành động bất nhân ấy đã dẫn đến cuộc trả thù đẫm máu của Hoà Hương Đoàn đối với những người cộng sản Cuộc trả thù ấy buộc những người dân Cao Mật vô tội phải chạy nạn Trên con đường chạy nạn, không biết bao nhiêu người dân vô tội phải bỏ xác lại: “Lúc trời sáng đã thấy mấy xác chết vứt trong khe núi, trẻ con có, người già có, có cả trung niên” [ 48, tr 324];
Trang 40“Tiếng khóc vang lên trong các bụi cây Mọi người dùng tiếng khóc để biểu thị sự xót thương đối với người chết”; “Trong thung lũng, một con báo gấm đang ngậm một cái xác trẻ con, đầu nặng đít nhẹ nên con báo ngất ngưỡng nhảy trên những tảng đá, nó nhảy liên tiếp cho khỏi ngã xuống nước Người phụ nữ tóc xoã vừa gào khóc vừa đuổi theo con báo” [ 48, tr 326]; “Mọi người rơi vào cảnh khó khăn, cử động là ngã, không cử động thì chết cóng Không ai muốn chết, vậy là cái ngã đã làm mất mục tiêu của cuộc rút chạy” [ 48, tr 327]… Tất cả những cảnh tượng thương tâm ấy thật giàu sức ám ảnh đối với người đọc Lẽ ra, những người dân vô tội không phải chịu đựng những cái chết oan ức, tức tưởi đến như vậy Cuộc trả thù của Hoà Hương Đoàn diễn ra trong vòng mười bảy ngày cướp đi sinh mạng của biết bao nhiêu con người Hoà Hương Đoàn trả thù bằng một hình thức thật dã man: chôn sống người Trong cuộc nội chiến này, Cao Mật thực sự đã trở thành một chiến trường vô cùng ác liệt Ngày hôm đó là một ngày không bình thường, Cao Mật bị nhấn chìm trong bể máu giống như ngày Lỗ Lập Nhân quay trở lại cướp Cao Mật từ tay Tư Mã Khố: “Biết bao chuyện xảy ra trong ngày hôm đó, có đến mười con mắt cũng không thấy được tất cả Các mũ sắt bắn tung lên trời, xác người chất thành luỹ vẫn không xông qua được Sau đó, súng phun lửa được điều đến, những cột lửa thiêu chảy cát Rồi máy bay lại đến, thả xuống bánh mì, bánh bao nhân thịt, lại cả tiền giấy Quần nhau đến tối mịt, hai bên đều thấm mệt, ngồi xuống nghỉ, nghỉ một lát lại đánh, lửa sáng rực trời, băng tan mặt đất Những con thỏ đồng chết hàng loạt Chúng chết vì khiếp hãi” [ 48, tr 349] Cuối cùng thì cuộc nội chiến cũng kết thúc nhưng nó mãi là vết thương tinh thần khó phai trong kí ức nhiều thế hệ Đó là kết quả của sự tranh giành quyền lực bất chấp cả lẽ phải, bất chấp mọi thủ đoạn Ở đây ta thấy được sự tỉnh táo tài tình của tác giả Ông không “tô hồng” cũng không
“nhuộm đen” một lực lượng nào Ông nhìn các lực lượng ấy thông qua những việc
họ đã làm và tác động của những hành động đó đối với sự phát triển của quê hương đồng thời miêu tả khách quan mọi sự kiện lịch sử thông qua đôi mắt của những người dân Trong con mắt của nhân dân, lịch sử được ghi chép khá đầy đủ và công bằng vì thế những bài học được rút ra từ đó có ý nghĩa và giá trị hơn Mạc Ngôn đã đưa văn học trở lại chức năng cơ bản của nó, đó là phản ánh số phận con người