1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌNH HÌNH KHAI THÁC, SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG ĐIỆN NGUYÊN TỬ Ở VIỆT NAM

31 963 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 285 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nó đã giúp cho con ngời giải quyết đợc một loạt những vấn đề có tính chất thời đại, đó là vấn đề mâu thuẫn giữa nhu cầu sử dụng năng lợng ngày càng tăng và sự hạn chế của các nguồn năng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM

VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN

 

BÀI TIỂU LUẬN:

TÌNH HÌNH KHAI THÁC, SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG ĐIỆN NGUYÊN TỬ Ở VIỆT NAM

Giảng viên : GS.TS Lê Chí Hiệp Học viên : TRẦN THỊ HƯƠNG GIANG

Tp Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2011

Trang 2

MỤC LỤC

Chương 1: SỰ CẦN THIẾT VÀ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG HẠT

NHÂN 6

1.1 Sự cần thiết của năng lượng hạt nhân 6

1.2 Hiện trạng sử dụng điện nguyên tử trên thế giới : 7

1.3 Tình hình sử dụng điện hạt nhân tại Việt Nam 8

Chương 2: CHẤT THẢI CỦA NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI MÔI TRƯỜNG 12

2.1 Chất thải nhà máy điện hạt nhân 12

2.2 Ảnh hưởng của chất thải đến môi trường - Bài học từ Trecnobul 13

Chương 3: TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG HẠT NHÂN TẠI VIỆT NAM 16

3.1 Định hướng phát triển nguồn năng lượng nguyên tử 16

3.2 Chiến lược phát triển nguồn năng lượng nguyên tử 17

Chương 4: KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN ĐIỆN HẠT NHÂN TẠI VIỆT NAM & CÁC ĐỀ XUẤT 20

4.1 Đánh giá về những lợi ích cũng như hạn chế khi phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam 20 4.1.1.Lợi ích của việc lắp đặt điện hạt nhân ở Việt Nam 20

4.1.2 Các mặt hạn chế khi phát triển điện hạt nhân ở Việt Nam 22

4.2 CÁC ĐỀ XUẤT ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐIỆN HẠT NHÂN Ở VIỆT NAM 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

Trang 3

MỞ ĐẦU

Con ngời đã tồn tại hàng ngàn năm và chẳng gây mấy ảnh hởng lớn tới bầu sinhquyển Tuy nhiên, chỉ trong vòng 5 thế kỷ gần đây, do ảnh hởng của các cuộc cáchmạng về nông nghiệp, công nghiệp và y học, dân số thế giới đã tăng gần 15 lần Trong

số 6 tỷ ngời trên thế giới ngày nay, hiện một phần ba nhân loại lại không đợc dùng

điện, một phần ba nữa không có đủ điện dùng, rất nhiều ngời sống trong cảnh nghèo

đói cùng cực Hơn 1 tỷ ngời dân sống không có nớc sạch và 2,4 tỷ ngời không có đầy

đủ điều kiện vệ sinh trong sinh hoạt Mỗi ngày có 40.000 ngời (hay là mỗi phút có 25ngời) chết vì bệnh mà đáng ra có thể chữa trị đợc nếu điều kiện kinh tế cho phép

Trong vòng 50 năm nữa, khi dân số thế giới tăng tới 9 tỷ ngời, những nhu cầucủa con ngời mà ngày nay vẫn còn cha đợc đáp ứng sẽ còn tăng lên bội phần Phát triểnkinh tế là điều không thể thiếu không chỉ để làm giảm những điều kiện sống khổ cực

mà còn để tạo ra những điều kiện cần thiết nhằm ổn định dân số thế giới Ngày nay, ởnhiều nớc đang phát triển, để đảm bảo đáp ứng những nhu cầu này, ngời ta đã phải sửdụng thêm rất nhiều năng lợng Tới năm 2050, phần năng lợng sử dụng trên toàn cầu sẽtăng gấp đôi

Nhà máy điện nguyên tử (hay còn hay gọi là nhà máy điện hạt nhân) là một phát minh vĩ đại của loài ngời Nó đã giúp cho con ngời giải quyết đợc một loạt những vấn đề có tính chất thời đại, đó là vấn đề mâu thuẫn giữa nhu cầu sử dụng năng lợng ngày càng tăng và sự hạn chế của các nguồn năng lợng sơ cấp, đó là vấn đề ô nhiễm môi trờng do tác động của việc đốt nhiên liệu khoáng gây ra, đó là vấn đề thiếu các nguồn nguyên liệu cho công nghiệp do việc dùng chúng làm nhiên liệu cho các nhà máy nhiệt điện.v.v

Hiện nay, trên thế giới đang có 439 lò phản ứng hạt nhân đang hoạt động, cung cấp hơn 17% tổng điện năng trên toàn thế giới, có 31 lò phản ứng đang đợc xây dựng Con số này ngày càng tăng khi các dạng năng lợng truyền thống (thuỷ năng, than, dầu, khí) ngày một cạn kiệt, trong khi đó các yêu cầu về an ninh năng lợng và bảo vệ môi trường ngày càng cao, trình độ công nghệ của điện nguyên tử cũng ngày càng đợc nâng cao, an toàn hơn, tin cậy hơn

Trang 4

ở nớc ta, do tiềm năng năng lợng tuy đa dạng nhng không dồi dào lắm trong khi đó

để đáp ứng đợc nhịp độ phát triển kinh tế ở mức tơng đối cao nhằm đa nớc ta trở thành nớc công nghiệp hoá, hiện đại hoá Các yêu cầu về phát triển và đa dạng hoá nguồn năng lợng nhằm đảm bảo cung cấp năng lợng an toàn và bền vững có tính đến việc bảo tồn phát triển tài nguyên và bảo vệ môi trờng là cực kỳ quan trọng Chỉ có phát triển năng lợng nguyên tử với trình độ ngày càng hoàn thiện mới đảm bảo đợc các yêu cầu

đó

Trang 5

Chương 1: SỰ CẦN THIẾT VÀ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG

NĂNG LƯỢNG HẠT NHÂN

1.1 Sự cần thiết của năng lượng hạt nhõn

Phơng thức tạo ra điện sạch từ các nguồn mới nh : mặt trời, gió, sinh nhiệt và

địa nhiệt cần đợc ủng hộ Nhng khả năng tạo ra điện năng bằng các công nghệ nàytrong thập niên tới còn rất hạn chế Theo một số dự án của OECD, dù có đợc bảo trợ vàủng hộ về nghiên cứu tới 20 năm nữa, những nguồn năng lợng mới này cũng chỉ cungcấp đợc dới 3% điện năng của thế giới

Các nhà môi trờng đã đóng vai trò rất quan trọng trong việc đa ra cảnh báo rằngthay đổi lớn về khí hậu là một hiểm họa thực tế trớc mắt, điều rất quan trọng là các nhàmôi trờng phải thực tế đối với các giải pháp cho tình trạng hiện nay Ngay cả đối vớimô hình bảo vệ môi trờng tối đa, đặt thật nhiều hệ thống thu năng lợng mặt trời và cốixay gió thì con ngời vẫn cần những nguồn điện với quy mô lớn, cung cấp 24 giờ mộtngày để phục vụ các nhu cầu năng lợng Cũng giống nh các năng lợng từ gió, nớc vàmặt trời, năng lợng hạt nhân có thể tạo ra điện năng mà không thải đi-ô-xít các-bonhay tạo ra các loại khí nhà kính khác

Sự khác biệt lớn nhất là năng lợng hạt nhân là một sự lựa chọn duy nhất đã đợcchứng minh là có khả năng cung cấp một lợng điện sạch khổng lồ trên phạm vi toàncầu Năng lợng hạt nhân và các nguồn điện sạch khác nh mặt trời, gió, sinh nhiệt và địanhiệt không hề cạnh tranh với nhau, trái lại chúng cần trở thành những nguồn năng l-ợng hỗ trợ lẫn nhau để có thể đáp ứng nhu cầu khổng lồ về năng lợng của thế giới

Trang 6

H×nh – Sö dông n¨ng lîng cña con ngêi.

1.2 Hiện trạng sử dụng điện nguyên tử trên thế giới :

Năng lượng hạt nhân hiện nay đã sản sinh ra lượng điện tương đương với lượngđiện tạo ra từ tất cả các nguồn khi năng lượng hạt nhân ra đời cách đây 40 năm.Khoảng hai phần ba dân số thế giới sống tại những nước nơi có các nhà máy điện hạtnhân góp phần quan trọng trong sản xuất điện và tạo ra cơ sở hạ tầng công nghiệp.Một nửa dân số thế giới sống tại những nước hoặc là đang lập kế hoạch xây dựng hoặcđang xây dựng các lò phản ứng hạt nhân sản xuất điện năng Vì vậy, sẽ không cần cónhững thay đổi cơ bản để có thể nhanh chóng mở rộng năng lương hạt nhân trên toàncầu, mà ngược lại, các nước chỉ cần tăng cường các chiến lược hiện có là đủ

Ngày nay trên thế giới có khoảng 440 lò phản ứng hạt nhân sản xuất điện tại 31quốc gia Tại hơn 15 nước điện hạt nhân chiếm ít nhất 25% tổng sản lượng điện Tại

Trang 7

Châu Âu và Nhật bản, điện hạt nhân chiếm hơn 30% lượng điện sản xuất Tại Hoa kỳ,điện hạt nhân tạo ra 20% sản lượng điện Trên toàn thể giới, các nhà khoa học tại hơn

50 nước đang sử dụng gần 300 lò phản ứng phục vụ nghiên cứu để:

- Phát triển công nghệ hạt nhân

- Sản sinh ra các đồng vị phóng xạ phục vụ chẩn đoán y khoa và chữa trị ungthư

Trong khi đó, các lò phản ứng hạt nhân cũng đang được sử dụng làm nguồncung cấp điện cho hơn 400 chiếc tàu vượt đại dương mà không hề gây ảnh hưởng tớithủy thủ đoàn và môi trường Sau thời kỳ Chiến tranh lạnh, người ta đã gỡ bỏ nhữngnguyên liệu hạt nhân ra khỏi vũ khí và chuyển chúng thành nhiên liệu cho những nhàmáy điện hạt nhân dân dụng Nhiều quốc gia trên thế giới đã thể hiện cam kết mạnh

mẽ đối với điện hạt nhân Trong số các nước này có Trung quốc, Ấn độ, Hoa kỳ, Nga

và Nhật bản Những nước này chiếm một nửa dân số thế giới Các nước khác như hen-ti-na, Bra-xin, Ca-na-da, Phần lan, Nam Hàn, Nam Phi, Uc-rai-na và một số nướckhác ở Trung và Ðông Âu cũng đang đẩy mạnh vai trò của điện hạt nhân trong nềnkinh tế Một số nước đang phát triển hiện chưa có năng lượng điện hạt nhân, ví dụ nhưIn-đô-nê-xi-a, Ai cập và Việt nam, đang xem xét khả năng sử dụng điện hạt nhân

Ác-Ðiện hạt nhân đảm bảo tính ổn định và chủ động về năng lượng Tại Pháp, mộtnước có 60 triệu dân, năng lượng hạt nhân hiện chiếm tới 75% lượng điện sử dụng và

là nước xuất khẩu điện lớn nhất thế giới tính theo sản lượng xuất khẩu ròng Ý cũng có

60 triệu dân, nhưng lại không có điện hạt nhân và là quốc gia nhập khẩu điện lớn nhấtthế giới

Trang 8

1.3 Tình hình sử dụng điện hạt nhân tại Việt Nam

Cùng với sự hình thành và phát triển của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam(NLNTVN), ngay từ những ngày đầu đã chú trọng đến việc đưa ứng dụng kỹ thuật hạtnhân vào trong sản xuất, đời sống và đặc biệt là trong y tế Trước đây ở Việt Nam việcứng dụng này rất nhỏ lẻ chỉ có 02 cơ sở nhưng từ khi có Viện NLNTVN với đội ngũchuyên gia, tư vấn, cung cấp đồng vị và dược chất phóng xạ, thiết bị đã hình thànhtrong cả nước với hơn 20 cơ sở y học hạt nhân, giúp cho ngành y tế hình thành đượcmột ngành mới là ngành y học hạt nhân ở Việt Nam Ngoài ra, một số công nghệ mớinhư xạ trị áp sát, khử trùng dụng cụ y tế, chế tạo mạng trị bỏng bằng kỹ thuật bức xạcũng đã được Viện nghiên cứu và chuyển giao cho ngành y tế Gần đây, Viện đã hợptác với Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và Bện viện Chợ Rẫy xây dựng dự ánPET Cyclotron nhằm đưa công nghệ mới trong chẩn đoán bệnh, đặc biệt là chẩn đoánsớm ung thư vào Việt Nam Có thể nói, Viện đã trở thành một địa chỉ tin cậy cho các

cơ sở y học hạt nhân, xạ trị và X-quang của ngành y tế trong tư vấn và thực hiện vàdịch vụ kỹ thuật để đảm bảo chất lượng trong chẩn đoán và điều trị cũng như trongcông tác đảm bảo an toàn bức xạ

Trong lĩnh vực công nghiệp, Viện là đơn vị đầu tiên đưa kỹ thuật kiểm trakhông phá huỷ (NDT) vào Việt Nam và góp phần hình thành nên cộng đồng NDT ViệtNam với hàng trăm hội viên, đang thực hiện các dịch vụ NDT cho nhiều ngành côngnghiệp và các công trình trọng điểm của đất nước Hiện nay Viện vẫn đang hỗ trợ,giúp đỡ cho các đơn vị này trong đào tạo cán bộ, tư vấn kỹ thuật và trợ giúp chuyêngia trong giải quyết các vấn đề kỹ thuật phát sinh khi tiến hành các hoạt động NDT

Đối với công nghệ chiếu xạ phục vụ các ngành kinh tế, đặc biệt là phục vụ choxuất khẩu thuỷ hải sản, các kết quả nghiên cứu của Viện đã góp phần hình thành một

Trang 9

ngành chiếu xạ thực phẩm của Việt Nam và giúp cho công nghiệp xuất khẩu thuỷ sảncủa đất nước đạt được những kết quả to lớn trong những năm vừa qua Hiện nay Trungtâm chiếu xạ của Viện cùng với các doanh nghiệp tư nhân hoạt động rất hiệu quả tronglĩnh vực chiếu xạ thực phẩm.

Dầu khí là ngành kinh tế trọng điểm của đất nước Viện đã triển khai thànhcông kỹ thuật đánh giá dầu dư bão hoà trong các giếng khoan, tối ưu quy trình khaithác để nâng cao hiệu suất thu hồi dầu trong khai thác dầu khí và giải quyết một số vấn

đề kỹ thuật thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí Đây là một trong 10 kết quả hoạtđộng KH&CN nổi bật năm 2005 của Bộ KH&CN

Về nông nghiệp, Viện đã hỗ trợ cho các cơ sở nghiên cứu của ngành nôngnghiệp tạo ra các giống đột biến phóng xạ với chất lượng tốt như lúa, đậu tương, ngô.Nổi bật là giống VNĐ-95-20 đã nhận giải thưởng Nhà nước về KH&CN năm 2005

Có thể khẳng định không có Viện NLNTVN thì chắc chắn ở nước ta sẽ không cóngành đột biến nông nghiệp hạt nhân theo vùng để có thể triển khai nhanh các kết quảứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong nông nghiệp Về xây dựng chính sách phát triểnngành NLNT và chủ trương phát triển điện hạt nhân, Viện đã chủ trì cũng như thamgia xây dựng các văn bản quy phạm quan trọng như Pháp lệnh phóng xạ Hiện nay,Viện cũng đang triển khai các nghiên cứu về đột biến phóng xạ và cùng với ngànhnông nghiệp hình thành các trung tâm an toàn và kiểm soát bức xạ, Luật Năng lượngnguyên tử, Chiến lược ứng dụng Năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình và Báocáo tiền khả thi về dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên Có thể nói rằng,với các kết quả hoạt động của mình, Viện đã đưa nghiên cứu phát triển điện hạt nhân

từ trong phòng thí nghiệm ra các hoạt động chuẩn bị đầu tư, làm báo cáo tiền khả thi,sắp tới sẽ là báo cáo khả thi và xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại Việt Nam

Trang 10

Chính phủ phê duyệt Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử Đây là điềukiện rất tốt, mở ra một thời cơ mới để Việt Nam có thể đưa năng lượng nguyên tử phục

vụ hiệu quả cho sự phát triển kinh tế - xã hội Trong Chiến lược đã đề cập tới 02 địnhhướng ứng dụng năng lượng nguyên tử, một là ứng dụng bức xạ và đồng vị phóng xạtrong các ngành kinh tế xã hội và hai là phát triển điện hạt nhân Về ứng dụng bức xạ

và đồng vị phóng xạ, chúng ta đã có kinh nghiệm và một số kết quả ban đầu đángkhích lệ, song chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu đòi hỏi của phát triển kinh tế

- xã hội Nguyên nhân là do chưa có định hướng của Nhà nước, chưa có vốn đầu tư vànhững cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển lĩnh vực này Với sự ban hành Chiếnlược, chúng ta sẽ có chương trình của chính phủ về đẩy mạnh ứng dụng bức xạ vàđồng vị phóng xạ trong các ngành, huy động sức mạnh của toàn xã hội thì chắc chắn sẽmang lại hiệu quả cao cho phát triển kinh tế - xã hội như kinh nghiệm của các nước

Về lĩnh vực phát triển điện hạt nhân, đây là con đường đi tất yếu của chúng ta để giảiquyết vấn đề năng lượng cho phát triển đất nước và phù hợp với xu thế hiện nay trênthế giới Phát triển điện hạt nhân có nhiều thuận lợi, song cũng có không ít khó khăn.Thuận lợi cơ bản là công nghệ điện hạt nhân đã có lịch sử phát triển trên 50 năm,những công nghệ hiện đại đã được kiểm chứng, khẳng định độ an toàn rất cao, có sựhợp tác quốc tế rộng rãi để chia sẻ kinh nghiệm đặc biệt là kinh nghiệm trong việc đảmbảo an toàn và các cường quốc đều cam kết phát triển điện hạt nhân Ở trong nước,thuận lợi cơ bản là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về phát triển nănglượng nguyên tử, chúng ta đã có kinh nghiệm trong thực hiện các dự án năng lượnglớn như thuỷ điện, nhiệt điện cũng như kinh nghiệm bước đầu trong lĩnh vực hạt nhânthông qua việc xây dựng và quản lý lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt trong hơn 20 nămqua, nhiều quốc gia có kinh nghiệm về điện hạt nhân trên thế giới sẵn sàng hợp tác

Trang 11

chia sẻ kinh nghiệm với chúng ta Bên cạnh các thuận lợi nêu trên, cũng có nhiều khókhăn thách thức Trước hết là vấn đề đảm bảo an tòan hạt nhân, quản lý và xử lý cácchất thải phóng xạ, ngăn ngừa việc phổ biến vũ khí hạt nhân và đảm bảo an ninh chocác nhà máy điện hạt nhân Đây là những vấn đề mà cộng đồng quốc tế rất quan tâmkhi phát triển điện hạt nhân và việc giải quyết chúnng phải được thực hiện ở phạm vitòan cầu chứ không chỉ riêng của một nước Riêng đối với Việt Nam thì chúng ta còn

có khó khăn về đội ngũ chuyên gia hạt nhân, cơ sở hạ tầng pháp lý, nguồn lực tàichính và sự chấp nhận của công chúng đối với chủ trương phát triển điện hạt nhân.Trong thời gian qua, các khó khăn này đang được các cơ quan có trách nhiệm phối hợpgiải quyết từng bước để đảm bảo cho việc triển khai thực hiện chương trình điện hạtnhân một cách an toàn và hiệu quả Về nhân lực, Bộ Công nghiệp đã đệ trình một kếhọach đào tạo cán bộ cho nhà máy điện hạt nhân đầu tiên Viện NLNTVN cũng đãhoàn thành đề án đào tạo chuyên gia cho chương trình điện hạt nhân Bộ KH &CNđang chủ trì sọan thảo Luật NLNT và kiện tòan cơ quan quản lý về an tòan bức xạ vàhạt nhân Các cơ chế về tài chính cho phát triển điện hạt nhân cũng đã được cácchuyên gia nghiên cứu và đề xuất giải pháp thu xếp tài chính cho việc xây dựng nhàmáy điện hạt nhân đầu tiên Công tác thông tin đại chúng được thường xuyên thựchiện nhằm tạo được sự ủng hộ ngày càng tốt hơn của công chúng cho chủ trương pháttriển điện hạt nhân Thông qua các triển lãm chúng tôi có thăm dò ý kiến công chúng

và nhận được sự ủng hộ khá cao (trên 80%) cho chủ trương phát triển điện hạt nhâncủa Chính phủ

Trang 12

Chương 2: CHẤT THẢI CỦA NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN

VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ TỚI MÔI TRƯỜNG

2.1 Chất thải nhà máy điện hạt nhân

Chất thải phóng xạ của nhà máy điện nguyên tử sinh ra như thế nào?

Trong nhà máy điện nguyên tử, nơi sinh ra chất phóng xạ là lò phản ứng do cáchoạt động sau:

1) Nhiên liệu Uranium phân hạch tạo ra các chất phóng xạ khác

2) Các chất bên trong thùng áp lực lò phản ứng bị phóng xạ hoá do tác động củanơtron và tạo ra chất phóng xạ

Thông thường, các sản phẩm phân hạch bị nhốt kín bên trong nhiên liệu, nếu cókhuyết tật ở vỏ bọc thanh nhiên liệu thì các sản phẩm phân hạch sẽ rò rỉ vào chất tảinhiệt Đồng thời, chỉ cần một lượng nhỏ tạp chất sinh ra do ăn mòn trong chất tảinhiệt, chúng cũng sẽ bị nhiễm xạ do tác động của nơtron Nhưng chất tải nhiệt đượcđưa qua thiết bị làm sạch nên những tạp chất này sẽ bị loại trừ

Xử lý chất thải dạng khí như thế nào?

Chất thải dạng khí, trước hết được làm giảm hoạt độ phóng xạ bằng các thiết bịnhư bể giảm hoạt độ và thiết bị lưu giữ khí hiếm bằng than hoạt tính, sau đó đi qua cácthiết bị lọc để loại bỏ các chất dạng hạt, kiểm tra nồng độ phóng xạ và nếu xác nhận đã

an toàn sẽ được thải ra không khí

Xử lý chất thải dạng lỏng như thế nào?

Trang 13

Chất thải lỏng, nếu có độ phóng xạ cực thấp như nước thải sau khi giặt, thì kiểmtra nồng độ phóng xạ và nếu được xác nhận là an toàn sẽ được thải ra biển.

Còn các chất thải dạng lỏng khác, sau khi được lọc và khử muối bằng các thiết

bị lọc và nhựa trao đổi ion hoặc được cô đặc bằng thiết bị bay hơi, nước sẽ được tái sửdụng còn dịch cô đặc được trộn vào bê tông và nhựa đường rồi dồn vào các thùngphuy chuyên dụng để cất giữ bảo quản trong kho chất thải phóng xạ dạng rắn

Xử lý chất thải dạng rắn như thế nào?

Trong các loại chất thải rắn, những loại có hoạt độ phóng xạ tương đối cao nhưcặn lọc, nhựa trao đổi ion đã qua sử dụng được giữ trong các thùng chứa trong mộtthời gian dài, đến khi hoạt độ phóng xạ giảm xuống, chúng được dồn vào các thùngphuy chuyên dụng Còn những chất thải rắn có hoạt độ phóng xạ thấp như giấy, vải sẽđược nén lại rồi đem đốt, tro được đựng trong các thùng và bảo quản an toàn trong khochất thải phóng xạ dạng rắn

Người ta có những biện pháp gì để làm giảm lượng chất thải phóng xạ?

Việc đảm bảo tính bền vững của nhiên liệu là quan trọng nhất Nếu nhiên liệukhông bị hỏng thì các sản phẩm phân hạch phóng xạ sẽ bị nhốt kín bên trong các vỏbọc thanh nhiên liệu, lượng thoát ra bên ngoài rất ít

Một cách hữu hiệu nữa là giảm thiểu lượng chất ăn mòn thoát ra từ các thùngchứa, ống, bơm, van của hệ thống sơ cấp lò phản ứng Để làm được điều này, người ta

sử dụng vật liệu chống ăn mòn mạnh và áp dụng những kỹ thuật mới nhất trong việcquản lý chất lượng nước để hạn chế tối đa khả năng ăn mòn Hơn nữa, việc lựa chọnvật liệu có hàm lượng Cobalt ít cũng hết sức quan trọng

Trang 14

Chất thải phóng xạ nên cất giữ bảo quản tối đa bên trong khu vực nhà máy để

có thể quản lý và bảo quản một cách an toàn

Điều rất quan trọng là tính toán lượng chất thải phóng xạ sinh ra trong thời gianvận hành để lựa chọn địa điểm đủ rộng cho cất giữ chất thải

2.2 Ảnh hưởng của chất thải đến môi trường - Bài học từ Trecnobul

Ngày 26/4/1986, một tai nạn nghiêm trọng đã xảy ra tại nhà máy điện hạt nhânTrécnôbưn ở cách thủ đô Kiép của Ucraina gần 150 km về phía Bắc Tờ báo phươngTây gọi tai nạn này là một “Thảm hoạ” (disaster), đã gây cái chết cho hàng vạn người

Sự thực như thế nào?

Nhà máy điện hạt nhân Trécnôbưn được xây dựng vào đầu những năm 1970gồm 4 lò hạt nhân kiểu mới RBMK, viết tắt của tiếng Nga có nghĩa là “Lò phản ứngcông suất lớn kiểu nước sôi”, công suất mỗi lò 1000 MW Tai nạn xảy ra đối với lò thứ

tư Lò này đã đến lúc phải kiểm tra và sửa chữa nếu cần thiết

Hồi 1 giờ 23 phút 40 giây (giờ địa phương) ngày 26/4/1986, một nhân viên vậnhành ấn một chiếc nút để điều khiển cho các thanh an toàn vào tâm lò Những thanhcađimi (Cd) này có tác dụng hấp thu bớt nơtron để làm giảm công suất lò Công suấtđang giảm dần thì bỗng nhiên tăng vọt lên gấp hàng chục lần công suất tối đa, gây ramột vụ nổ lớn

Các lò phản ứng hạt nhân thông dụng trên thế giới từ trước đến nay như lò nước

áp lực PWR của phương Tây hay lò phản ứng nước - nước của Nga đều có một thùng

lò bằng thép không gỉ nặng chừng 200 tấn, dày 20 cm, có chuyện gì xảy ra thì chỉ giớihạn trong thùng lò Những người thiết kế loại lò phản ứng kiểu mới RBMK đã bỏthùng lò, hàng ngàn thanh nhiên liệu urani được cắm vào 1400 tấn graphit, bên trên

Trang 15

đậy một cải nắp bê tông nặng 500 tấn Khi vụ nổ xảy ra, tấm bê tông bị tung lên trờirồi rơi xuống phá vỡ cấu trúc của lò phản ứng Các sản phẩm phân hạch, một lượnglớn urani và hàng trăm tấn graphit nóng chảy, bốc hơi, tạo thành một đám mây bụiphóng xạ lên cao đến 10 km Đám mây phóng xạ này bị gió cuốn theo hướng Tây -Bắc bay lên phía Bắc Ucraina, phía Nam nước Nga, Bêlarút, các nước cộng hoàBantích, các nước Bắc và Tây Âu,…

Đã có tất cả khoảng 200.000 người tham gia vào việc xử lý hậu quả của tai nạnbao gồm chữa cháy, dọn trong lò phản ứng và khu vực nhà máy Những người nàyphải chịu một liều lượng phóng xạ lớn hơn nhiều lần mức bình thường được phép củamột nhân viên làm việc với chất phóng xạ

Ngay sau khi tai nạn xảy ra, khoảng 115.000 người dân cư trú trong phạm vibán kính 30 km quanh nhà máy đã phải di dời đi nơi khác Thành phố Pripyat có sốdân 45.000 người, nơi ở của cán bộ công nhân viên nhà máy điện hạt nhân Trécnôbưn

đã sơ tán toàn bộ sang một thành phố khác là Slavutich được xây dựng mới ở ngoàikhu vực cấm để dành riêng cho họ

Đối với lò phản ứng hạt nhân số 4 xảy ra tai nạn, người ta đã dùng máy bay trựcthăng đổ xuống khoảng 5000 tấn đất cát, bê tông, các tấm chì, các vật liệu chứa chất

Bo có khả năng hấp thu nơtron, v.v…, tạo thành một chiếc “Quan tài” khổng lò cách

ly lò phản ứng với môi trường bên ngoài

Tháng 10/1989, Chính phủ Liên Xô (cũ) đề nghị Cơ quan năng lượng nguyên tửquốc tế giúp đỡ để đánh giá tình hình nhiễm xạ môi trường và sức khoẻ của dân chúng,đồng thời đề ra các biện pháp khắc phục Một chương trình quốc tế quy mô to lớn đã

ra đời mang tên “Đề án quốc tế Trécnôbưn” huy động hơn 200 chuyên gia đến từ 25

Ngày đăng: 06/07/2015, 20:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w