1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của chính sách phát triển giao thông nông thôn đến hiện đại hóa nông nghiệp- nông thôn ở Hà Tĩnh từ 2006 đến nay

97 444 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tổng thể các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, Hà Tĩnh đã tận dụng và phát huy kịp thời các chính sách phát triển chiến lược của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là chính sách phát

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHAN VĂN TRUNG

TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG NÔNG THÔN ĐẾN HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN

Ở HÀ TĨNH TỪ 2006 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

PHAN VĂN TRUNG

TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG NÔNG THÔN ĐẾN HIỆN ĐẠI HOÁ NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN

Ở HÀ TĨNH TỪ 2006 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Chính trị học

Mã số: 60 31 02 01

Người hướng dẫn khoa học: TS Lưu Minh Văn

Hà Nội - 2014

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, tin cậy

Tác giả luận văn

Phan Văn Trung

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng gửi đến các quý thầy cô giáo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Hà Tĩnh, Khoa Khoa chính trị học, lời cảm ơn và lòng biết ơn sâu sắc đã tạo điều kiện tối đa để chúng tôi có thể hoàn thành chương trình khóa học

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn về sự chỉ bảo tận tình và chu đáo của thầy giáo hướng dẫn – TS Lưu Minh Văn; sự hỗ trợ, động viên của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp chương trình thạc sĩ

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến cơ quan: Thư viện Quốc gia, thư viện Thượng Đình (ĐH KHXH & NV), thư viện Trường Đại học Hà Tĩnh, các cơ quan lưu trữ Tỉnh , đã cung cấp những tài liệu quan trọng, quý báu cho tôi hoàn thành đề tài

Học viên

Phan Văn Trung

Trang 5

iii

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10

3.1 Mục đích nghiên cứu 10

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

4.1 Đối tượng nghiên cứu: 10

4.2 Phạm vi nghiên cứu: 10

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 11

5.1 Cơ sở lý luận: 11

5.2 Cơ sở thực tiễn: 11

5.3 Phương pháp nghiên cứu 11

6 Đóng góp của đề tài 11

7 Kết cấu của luận văn 11

Chương 1:HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP – NÔNG THÔN VÀ

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG NÔNG THÔN 12

1.1 Hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn 12

1.1.1 Khái niệm hiện đại hóa 12

1.1.2 Hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn 15

1.2 Chính sách phát triển giao thông nông thôn ở Việt Nam 24

1.2.1 Khái lược chính sách phát triển giao thông nông thôn ở Việt Nam 24

1.2.2 Nội dung chính sách phát triển giao thông nông thôn ở Việt Nam hiện nay 27

1.2.3 Một số đánh giá chính sách phát triển giao thông ở Việt Nam 29

1.3 Tác động của chính sách phát triển giao thông với quá trình hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn 30

Trang 6

iv

Chương 2 : THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG

NÔNG THÔN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN HIỆN ĐẠI HÓA

NÔNG NGHIỆP – NÔNG THÔN Ở HÀ TĨNH 35

2.1 Khái lược về việc thực hiện chính sách phát triển giao thông nông thôn của tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn từ năm 2006 đến nay 35

2.1.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách phát triển

giao thông nông thôn Hà Tĩnh 35

2.1.2 Đảng bộ và chính quyền tỉnh Hà Tĩnh cụ thể hóa chính sách

phát triển giao thông nông thôn 39

2.2 Kết quả huy động vốn xây dựng hạ tầng giao thông đường bộ

nông thôn xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Hà Tĩnh 43

2.3 Sự tác động của thực hiện chính sách giao thông nông thông đến

quá trình hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn ở Hà Tĩnh 48

2.3.1 Tác động chính trị, an ninh – quốc phòng của chính sách phát triển giao thông nông thôn 48

2.3.2 Tác động kinh tế của chính sách phát triển giao thông nông thôn 49

2.3.3 Tác động văn hóa – xã hội của chính sách phát triển giao thông nông thôn 53

2.4 Quan điểm và một số khuyến nghị về thực hiện chính sách phát triển giao thông nông thôn ở Hà Tĩnh 56

2.4.1 Quan điểm và chỉ tiêu định hướng phát triển giao thông nông thôn của Tỉnh Hà Tĩnh 56

2.4.2 Một số khuyến nghị về thực hiện chính sách phát triển giao thông nông thôn ở tỉnh Hà Tĩnh 60

KẾT LUẬN 64

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 PHỤ LỤC

Trang 7

v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 KT – XH Kinh tế - xã hội

2 QP -AN Quốc phòng, an ninh

3 GTNN Giao thông nông thôn

4 CNH-HDH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

6 GTVT Giao thông vận tải

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hà Tĩnh là một trong những tỉnh rất khó khăn của cả nước Trong những năm chiến tranh, nơi đây đã cống hiến biết bao sức người, sức của cho nền độc lập và thống nhất nước nhà Sau chiến tranh, mảnh đất này, đối diện với bộn bề khó khăn thách thức về kinh tế - xã hội Tuy nhiên, với ý chí quyết tâm của toàn bộ nhân dân trong tỉnh, cùng với sự quan tâm giúp đỡ rất nhiều từ phía trung ương và các tổ chức kinh tế - xã hội về cả tinh thần, vật chất và cơ chế chính sách Hà Tĩnh dần hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, giải quyết các vấn đề chính sách xã hội Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, số lượng đối tượng chính sách, đồng bào khó khăn càng được cộng đồng quan tâm nhiều hơn Mức sống của các gia đình có công với cách mạng được đảm bảo bằng mức sống tối thiểu trung bình của nhân dân cả nước

Trong tổng thể các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, Hà Tĩnh đã tận dụng và phát huy kịp thời các chính sách phát triển chiến lược của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là chính sách phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong tổng thể phát triển chung của đất nước, trong đó, Văn kiện Đại hội XI chỉ rõ: "phát triển nông - lâm - ngư nghiệp toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với giải quyết tốt vấn đề nông dân, nông thôn" [9; tr.57]

Chính sách phát triển về nông nghiệp, nông dân và nông thôn thời gian qua đã trở thành động lực phát triển của nền kinh tế và xã hội của Hà Tĩnh nói riêng, của cả nước trong thời kỳ đổi mới nói chung Tuy nhiên, phát triển nông

- lâm - ngư nghiệp trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã gặp phải một số vấn đề, thách thức như: Khả năng cạnh tranh, năng suất, chất lượng của sản phẩm nông nghiệp còn thấp; sự gắn kết giữa sản xuất và thị trường nội địa

và quốc tế trong nông nghiệp còn rất yếu; nền nông nghiệp phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chưa hiệu quả, kém bền vững

Trang 9

2

Vậy làm thế nào, để tạo ra động lực duy trì sự phát triển bền vững nhất

là với các tỉnh nghèo như tỉnh Hà Tĩnh? Khi mà những tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đang đặt ra những thách thức cho chính sự phát triển của nông thôn, nông nghiệp như: diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, áp lực về lao động trong nông nghiệp cũng ngày càng tăng lên, vấn đề vốn, và những đòi hỏi phải thay đổi kỹ thuật, tập quán canh tác.v.v cho đến những biến đổi về cấu trúc cộng đồng cư dân nông thôn và lao động nông nghiệp Chắc chắn, ở đây, cần có sự kết hợp đồng bộ nhiều biện pháp xây dựng và phát triển khác nhau như nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, chăm lo đời sống cho nhân dân và quyết tâm thay đổi bộ mặt nông thôn bằng chính sách gắn kết công - nông nghiệp với dịch vụ, đưa dịch vụ về đến nông thôn, công nghiệp hóa nông nghiệp bằng cách cung cấp máy móc cho nông nghiệp, cho quy trình chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp, tập trung giải quyết vấn đề thừa lao động trong nông nghiệp, tăng thêm cơ hội cho người dân, để họ nâng cao đời sống của mình

Để góp phần thay đổi toàn bộ diện mạo ở nông thôn Việt Nam thời gian vừa qua, trong tổng thể các phương sách xây dựng nông nghiệp và phát triển

nông thôn hiện nay, thì chính sách phát triển giao thông nông thôn vừa với tư

cách là chiến lược phát triển kinh tế và vừa là ưu tiên chính trị của Đảng và Nhà nước ta có tác động to lớn đối với quá trình hiện đại hóa khu vực nông nghiệp - nông thôn của cả nước, trong đó có Hà Tĩnh Kết quả quan trọng của thực hiện chính sách này tại địa phương không chỉ đã làm thay đổi cơ sở hạ tầng của tỉnh, từ đó tạo nên những nền tảng quan trọng cho sự phát triển của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa trên tât cả các mặt của đời sống xã hội

Để làm rõ vai trò, vị trí của quá trình xây dựng và thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp - nông thôn ở Hà Tĩnh, và với tư cách là một cán bộ đang tham

Trang 10

3

gia trực tiếp thực hiện chính sách phát triểm giao thông nông thôn tại địa phương

tôi chọn đề tài "Tác động của chính sách phát triển giao thông nông thôn đến

hiện đại hoá khu vưc nông nghiệp - nông thôn ở Hà Tĩnh từ 2006 đến nay" làm

đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Chính trị học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến nay, đã có khá nhiều công trình viết về chính sách phát triển giao thông nông thôn nói chung, trong đó có một số tác giả đặt trọng tâm xem xét sự chính sách phát triển giao thông nông thôn trong khung cảnh của quá trình hiện đại hoá đất nước nói chung và khu vưc nông nghiệp - nông thôn nói riêng Ở đó có thể tìm thấy, trong chừng mực nhất định, những cơ sở lý luận và tổng kết thực tiễn trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề này Tuy nhiên từ nhận thức lý luận đó đến cụ thể hóa để có thể ứng dụng phù hợp với đặc điểm ở địa phương, chẳng hạn ở Hà Tĩnh, thì còn không ít những vấn đề

Các tài liệu dùng để tổng quan tình hình nghiên cứu trong luận văn này được phân loại theo các nhóm tài liệu sau:

Nhóm tài liệu về quan điểm của Đảng CSVN về công nghiệp hoá, hiện

đại hoá:

Sau 9 năm kháng chiến chống đế quốc Pháp xâm lược lần thứ hai, chúng

ta đã giải phóng được một nửa đất nước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III (1960) đánh dấu giai đoạn phát triển mới của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Đại hội đề ra mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam Đại hội đề ra kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961

- 1965): Xác định công nghiệp hoá là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội Mục tiêu của công nghiệp hoá được đặt ra cho giai đoạn này là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu của chủ nghĩa

xã hội, thực hiện ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ

Trang 11

4

Sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, chúng ta tiếp tục thực hiện công nghiệp hoá theo mô hình kế hoạch tập trung, bao cấp như trước chiến tranh Vẫn tiếp tục ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, đồng thời phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ Theo đó, từ năm 1976 - 1985 chúng ta đầu tư 1/3 tổng chi ngân sách cho công nghiệp nặng, trong nông nghiệp thực hiện mô hình tập thể hoá triệt để Chính sách trên đã bộc lộ nhiều bất cập, không phù hợp với thực tiễn nước ta và xu thế phát triển của thời đại

Cơ cấu giữa nông, công nghiệp và dịch vụ bộc lộ những bất hợp lý lớn, không đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, sản phẩm lao động làm ra không đủ đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của xã hội Điều đó chứng tỏ rằng chúng ta không thể duy trì quan niệm về công nghiệp hoá như trước đây mà phải nhận thức lại một cách sâu sắc và đổi mới căn bản nội dung của công nghiệp hoá cho phù hợp với tình hình mới của đất nước và quốc tế Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, tháng 12 - 1986 đã đánh giá thực trạng kinh tế xã hội của nước ta Nhận thức cả mặt ưu và khuyết điểm của quá trình công nghiệp hoá trước đó, đưa ra đường lối đổi mới toàn diện và đồng bộ cả về nhận thức, quan điểm và chỉ đạo thực hiện

Trước hết là đổi mới tư duy lý luận mà trọng tâm là tư duy kinh tế, tiến hành chuyển nền kinh tế nước ta từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đại hội cũng khẳng định phải đổi mới cả nội dung và các bước tiến hành công nghiệp hoá,

từ chỗ ưu tiên phát triển công nghiệp nặng sang lấy nông nghiệp, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu làm trọng tâm, đưa ra kế hoạch:

“thực hiện cho được chương trình, mục tiêu về sản xuất lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”, coi đó là những điều kiện ban đầu không thể thiếu được để triển khai công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo

Trang 12

5

Kế thừa những nội dung cơ bản về công nghiệp hoá đất nước do Đại hội

VI xác định và thực tiễn sau hơn 4 năm thực hiện đường lối đổi mới Đại hội VII của Đảng (6/1991) đã cụ thể hoá, bổ sung và có bước phát triển mới cho phù hợp với điều kiện trong nước và quốc tế Đại hội VII của Đảng cụ thể hoá hơn về nội dung công nghiệp hoá và cho rằng phải công nghiệp hoá theo hướng hiện đại hoá, theo đó phát triển lực lượng sản xuất xã hội và phát triển nền nông nghiệp toàn diện trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Quán triệt những quan điểm về công nghiệp hoá đất nước của Đại hội VII, Nghị quyết TW 5 khoá VII (6/1993) chỉ rõ: “Đặt sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, coi đó là nhiệm vụ chiến lược có tầm quan trọng hàng đầu” Đây là lần đầu tiên trong văn kiện Đảng công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá

Đến tháng 1/1994 Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII

đã phân tích làm rõ hơn mối quan hệ giữa công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, chỉ ra sự cần thiết phải kết hợp chặt chẽ 2 nội dung trên trong quá trình phát triển và để tránh hiểu công nghiệp hoá và hiện đại hoá là 2 nội dung tách

biệt nhau Hội nghị đã thay cụm từ “công nghiệp hoá và hiện đại hoá” bằng cụm từ “công nghiệp hoá, hiện đại hoá” đồng thời Hội nghị cũng nêu ra yêu

cầu cấp bách là công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn

Tháng 7/1994 Hội nghị TW 7 khoá VII xác định chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá với nội dung là:

Quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao

Trang 13

Đại hội IX (2001) tiếp tục kế thừa và phát huy chiến lược phát triển kinh

tế xã hội và chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Đại hội nhấn mạnh: “Con đường công nghiệp hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt” đồng thời tiếp tục khẳng định quan điểm gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Đến Đại hội X chỉ rõ: “Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra về tiềm năng lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh

tế và công nghiệp hoá, hiện đại hoá” Đại hội XI, bổ sung và phát triển

“Cương lĩnh xây dụng đất nước trong thời kỳ quá độ”, tiếp tục khẳng định:

“Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển kinh tế tri thức, phát triển kinh tế thị trường gắn với giải quyết hài hòa các vấn đề xã hội, môi trường, phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào giữa thế kỷ XX”

Từ các văn kiện trên có thể thấy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

ở nước ta gồm 2 giai đoạn: Từ 1960 - 1986 chính sách công nghiệp hoá của

Trang 14

7

Việt Nam được xác định là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng nhằm xây dựng một nền công nghiệp làm nền tảng vật chất kỹ thuật cho công nghiệp hoá Từ sau Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) đường lối công nghiệp hoá

có bước chuyển căn bản Công nghiệp hoá dựa trên nền tảng kinh tế hàng hoá, thị trường, mở rộng hợp tác quốc tế Đại hội VII, VIII đã tiếp tục phát triển đường lối công nghiệp hoá là: Công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá Đại hội

IX nhấn mạnh việc cần và có thể rút ngắn thời gian thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đại hội X, XI, gắn việc đẩy mạnh công nghiệp

hoá, hiện đại hoá với phát triển kinh tế tri thức Coi kinh tế tri thức là phương

thức công nghiệp hoá mới trong điều kiện cách mạng khoa học công nghệ và toàn cầu hoá

Từ những phân tích trên có thể thấy quan niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Đảng cộng sản Việt Nam thực chất là quan niệm về phương thức, mô hình, cách thức, cơ chế tiến hành công nghiệp hoá trong các giai đoạn Tuy nhiên, quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Đảng dừng lại ở đường lối, chưa phân tích, đánh giá các yếu tố: kinh tế, chính trị, văn hoá, con người tác động vào quá trình công nghiệp hoá qua mỗi giai đoạn Mặt khác, văn kiện đại hội sau thường có xu hướng phát triển, thêm vào những yếu tố mới như công nghiệp hoá cần và có thể rút ngắn thời gian, công nghiệp hoá gắn với kinh tế tri thức nhưng chưa đề cập thoả đáng đến những yếu tố, điều kiện để rút ngắn hay kinh tế tri thức tác động như thế nào đến công nghiệp hoá,v.v Vì vậy, cần có những nghiên cứu chuyên sâu về những yếu tố và điều kiện để rút ngắn công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam, trong đó có yếu

tố văn hoá

Nhóm tài liệu về chính sách công: Chính sách công được nghiên cứu bởi

chính trị học từ phương diện nó hiện diện với tư cách là sản phẩm, là cách thức của các nhà nước và các chủ thể chính trị thông qua nhà nước để thực

Trang 15

8

hiện các hoạt động kiến tạo, hay kiểm soát, hay điều chỉnh các quá trình phát triển xã hội Đồng thời chính qua chính sách công chúng ta còn tình trạng đáp ứng và hiệu quả hoạt động của chính nhà nước Chỉ bằng ấy ý nghĩa vấn đề chính sách công đã thể hiện là chủ đề phức tạp, lý thú của các nghiên cứu chính trị học Tuy vậy, thực tế phát triển của tri thức khoa học về chính sách công cho thấy nó đã trở thành, và là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều chuyên ngành khoa học

Những công trình cung cấp cho chúng ta khái niệm chung về chính sách công và phân loại chính sách công chiếm tỷ lệ khá lớn trong các ấn phẩm loại

này ở Việt Nam, có thể kể đến ở đây như: Tìm hiểu về khoa học chính sách

công (1999) Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Viện Khoa học chính trị, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Giáo trình hoạch định và phân tích chính sách

công, Nguyễn Hữu Hải chủ biên (2004), Học viện Hành chính Quốc gia, Nxb

Đại học Quốc gia, Hà Nội v.v Trong những công trình này các tác giả đã bức tranh về sự đa chiều của các quan niệm về chính sách công qua phân tích các định nghĩa khác nhau, nhất là quan niệm của các học giả phương Tây, như Anderson, T Dye, B Guy Peter từ đó đưa ra định nghĩa chính sách công

của mình: Những hành động ứng xử của nhà nước với các vấn đề phát sinh

trong đời sống cộng đồng, được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau [32;

tr.24] Ngoài ra, qua phân tích chu trình chính sách các tác giả đã nhấn mạnh vai trò của nhà nước với tư cách là những chủ thể chính sách Ngoài ra việc phân tích các lý thuyết về chính sách công, ví dụ, lý thuyết lựa chọn công, lý thuyết chức năng

Một mảng tư liệu khác cũng rất đáng chú ý là những công trình tập

trung nghiên cứu chức năng chính sách công, chẳng hạn, Lựa chọn công

cộng – Một số tiếp cân nghiên cứu chính sách công, Học viện CTQG Hồ Chí

Minh (2010), Viện chính trị học (Tài liệu tham khảo – Lưu hành nội bộ),

Trang 16

9

trong tác phẩm này việc nhấn mạnh hai chức năng quan trọng của chính sách

- chức năng giải quyết vấn đề và chức năng kiến tạo của chính sách là nội dung đáng chú ý

Nhóm tài liệu về chính sách phát triển giao thông nông thôn:

Tài liệu nghiên cứu về chính sách giao thông nông thôn được thể hiện chủ yếu qua các tài liệu thứ cấp – các chính sách cụ thể Có thế nhắc tới các

công trình như sau: Thực trạng cơ sở hạ tầng ở nông thôn Việt Nam hiện nay (2002) của tác giả Nguyễn Trường Tài, Nxb Xây dựng, Hà Nội; Một số vấn

đề về thiết kế, đo lường và tính toán trong việc quá trình xây dựng các công trình giao thông ở nông thôn nước ta (2005) Phan Hoàng Anh, Nxb Giao

Thông Vận tải, Hà Nội; Vai trò của giao thông nông thôn đối với các tỉnh Tây

Bắc (2008), Hoàng Ngọc Nhật, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội; Hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay (2010), Huỳnh Tấn Phước, Tạp chí

Nông thôn mới (số 6), Hà Nội Ngoài ra, còn phải kể tới các văn bản, các tài liệu liên quan trong việc hướng dẫn chỉ đạo chính sách về phát triển giao

thông nông thôn của Bộ giao thông, Bộ xây dựng và của Bộ Nông nghiệp

“Cập nhật và hoàn thiện Chiến lược phát triển GTNT Việt Nam cho Cục đường bộ Việt Bộ GTVT Quyết định số 2379/QĐ-BGTVT ngày 12/8/2009; Ban hành định mức chi phí cho lập thẩm định quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH, quy hoạch ngành và quy hoạch các sản phẩm chủ yếu Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Quyết định số 281/2007/QĐ-BKH

ngày 26/3/2007

Tất nhiên, các tài liệu này cung cấp những quan điểm chính sách cụ thể của nhà nước Việt Nam hiện nay Nhưng đó không phải là những tổng kết, hoặc sáng tạo lý thuyết cho sự hoạch định chính sách giao thông nông thôn

Vì vậy, đây có thể coi là một khoảng trống nhất định chính sách giao thông nông thôn từ phương diện kiến tạo môi trường cho công cuộc hiện đại hóa nông thôn ở nước ta hiện nay

Trang 17

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:

Thứ nhất, làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chính sách phát

triển giao thông nông thôn, công nghiệp hóa và hiện đại hóa

Thứ hai, Phân tích, đánh giá những thành tựu, hạn chế trong hoạch định

và chỉ đạo thực hiện của chính sách phát triển giao thông nôn thôn ở Hà Tĩnh hiện nay

Thứ ba, đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát triển chính sách giao

thông nông thôn của tỉnh Hà Tĩnh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Tác động của chính sách phát triển giao thông nông thôn đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Hà Tĩnh

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu các chính sách phát triển giao thông nông thôn ở Hà Tĩnh từ năm 2006 đến nay, trên cơ sở có tham khảo các chính sách phát triển kinh tế xã hội của một số địa phương ở nước ta trong đó tập trung vào việc phát triển cơ sở hạ tầng các loại đường có thể áp dụng hình thức đầu tư huy động nguồn lực xã hội theo 4 loại đường trong đánh giá tiêu chí nông thông mới ( đường xã, liên xã; đường trục thôn, đường ngõ xóm và đường nội đồng)

Trang 18

- Thành tựu nghiên cứu của các nhà khoa học trong các lĩnh vực chính sách công, chính sách phát triển giao thông nông thôn và những tác động kinh

tế, chính trị - xã hội của chính sách đến sự phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nước nói chung và của Đảng bộ, Chính quyền tỉnh Hà Tĩnh nói riêng

5.2 Cơ sở thực tiễn:

Thực trạng thực hiên chính sách và tác đông của chính sách phát triển giao thông nông thôn ở tỉnh Hà Tĩnh từ 2006 đến nay

5.3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Phương pháp cụ thể: đối chiếu-so sánh, phân tích và tổng hợp các tài liệu

có liên quan và phương pháp điều tra xã hội học

6 Đóng góp của đề tài

Đóng góp về lý luận: Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ

việc học tập và nghiên cức các vấn đề chính trị học, chính sách công

Đóng góp về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng

cho công tác triển khai chính sách phát triển giao thông nông thôn và thực hiện chủ trương hiên đại hóa nông nghiệp – nông thôn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục đề tài gồm hai chương, năm tiết

Trang 19

12

Chương 1 HIỆN ĐẠI HÓA NÔNG NGHIỆP – NÔNG THÔN VÀ CHÍNH SÁCH

PHÁT TRIỂN GIAO THÔNG NÔNG THÔN

1.1 Hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn

1.1.1 Khái niệm hiện đại hóa

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa bắt đầu ở các nước tư bản trong đó đáng chú ý là cuộc cách mạng công nghiệp ở nước Anh Sau đó là hàng loạt các quốc gia, vùng lãnh thổ khác ở mọi châu lục bằng những con đường, mô hình, cách thức khác nhau đều đã hoặc đang thực hiện quá trình này Để cung cấp luận cứ xem xét cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa hoá ở Việt Nam, cần tiếp tục làm rõ những vấn đề lý luận về công nghiệp hóa, hiện đại hóa: khái niệm, đặc trưng và các giai đoạn của công nghiệp hóa, hiện đại hóa Khi nghiên cứu về công nghiệp hóa giai đoạn đầu (cách mạng công nghiệp), một số tác giả quan niệm: đó là quá trình trang bị cho một vùng hay một quốc gia các phương tiện máy móc, kỹ thuật với trọng tâm là công nghiệp

cơ khí chế tạo máy Theo quan niệm này thì nông nghiệp và các ngành kinh tế khác phải lệ thuộc vào công nghiệp

Những năm 1960 – 1990 một số nước Đông và Đông Nam Á tiến hành quá trình công nghiệp hóa theo chiến lược rút ngắn thành công Nhiều nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh vai trò, vị trí của công nghiệp chế tạo, công nghiệp chế biến có trình độ khoa học – công nghệ cao, sử dụng hiệu quả (tiết kiệm) nguồn tài nguyên thiên nhiên và mở rộng trao đổi thương mại quốc tế là đặc điểm của công nghiệp hóa

Năm 1965 tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO)

đã đưa ra định nghĩa về công nghiệp hóa như sau: “Công nghiệp hóa là một quá trình trang bị máy móc và công nghệ hiện đại cũng như phương pháp quản lý tiên tiến cho mọi hoạt động sản xuất, dù là sản xuất vật chất hay dịch

Trang 20

13

vụ nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, đưa đến tốc độ phát triển nhanh và bền vững về giá trị tăng thêm (GDP) Con đường của một nước tùy vào đặc thù về nguồn lao động và tài nguyên của nước đó Tuy vậy, đối với các nước có dân

số đáng kể, cái cầu trung gian thường là từ phát triển công nghiệp chế biến hàng hóahoá tiêu dùng, dùng sức lao động cơ bắp tiến dần lên lao động chuyên môn, rồi lên công nghiệp cao và kinh tế dịch vụ tiên tiến”

Quan niệm công nghiệp hóa như trên hàm ý đó không phải là không chỉ là quá trình “kỹ thuật”, “công nghệ” và kinh tế thuần túy mà còn là quá trình thay đổi cơ cấu nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong nền kinh tế của một quốc gia nào đó, từ đó kéo theo những thay đổi khác của đời sống xã hội như thể chế, văn hóa, lối sống Tuy nhiên, công nghiệp hóa theo quan niệm trên vẫn chủ yếu đề cập đến mặt vật chất, kỹ thuật, của quá trình phát triển chưa đề cập một cách toàn diện đến mặt chính trị, xã hội sự phát triển của quá trình công nghiệp hóa Vì vậy, cần phải bổ sung bằng khái niệm hiện đại hóa từ đó mới đi

đến một khái niệm thống nhất công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa

Ở thời kỳ đầu (vào những năm 1950 -1960) nhất là ở phương Tây khá thịnh hành các nhà lý luận đã quan niệm hiện đại hóa là quá trình phát triển theo mô hình của Tây Âu và Bắc Mỹ Mô hình ấy trước hết nhấn mạnh đến phương diện phát triển kinh tế, kỹ thuật như là quy luật chung, phổ quát và xem sự phát triển tư bản chủ nghĩa là con đường tất yếu của các nước trên thế giới Hiện đại hóa như trên cũng được gọi là hiện đại hóa mang tính nội sinh

vì hiện đại hóa nảy sinh từ những tiền đề kinh tế, văn hóa, xã hội vốn có của chính những nước đó

Các mô hình hiện đại hóa về sau không xuất phát từ những điều kiện kinh tế văn hóa nội tại của nước đó mà du nhập, vay mượn những yếu tố từ phương Tây, các nhà lý luận gọi là hiện đại hóa xuất phát từ yếu tố ngoại sinh hay mà trường hợp điển hình là hiện đại hóa đuổi đuổi theo

Trang 21

14

Khảo cứu lịch sử công nghiệp hóa, hiện đại hoá, tác giả Lương Việt Hải

(Hiện đại hoá xã hội-Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Khoa

học xã hội, Hà Nội, 2001) đưa ra nhận định: các nhà nghiên cứu lý luận hiện đại hóa trong lịch sử tổng kết rằng cả hiện đại hóa phát nguyên và hiện đại hóa đuổi theo đều có cốt lõi là tiến bộ khoa học - kỹ thuật - công nghệ công nghiệp hóa mà biểu hiện rõ nhất của nó là cuộc cách mạng công nghiệp Nó được bắt đầu từ sự phân công lao động giản đơn đến công trường thủ công và cơ khí hóa Mục đích cuối cùng của hiện đại hóa là xây dựng một xã hội giàu mạnh, văn minh, con người được thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần

Từ đó, quá trình công nghiệp hóa (XHCN và TBCN) được xem là một dạng căn bản của hiện đại hóa Công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, mặc dù có những hạn chế nhất đinh, nhưng về cơ bản đã thực hiện được vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình - xây dựng những cơ sở kỹ thuật, kinh tế cho chủ nghĩa xã hội , tạo cơ sở, nền tảng cho các nước XHCN

Như vậy, hiện đại hóa có thể được quan niệm là toàn bộ các quá trình, các dạng cải biến, các bước quá độ từ các trình độ kinh tế, xã hội khác nhau đang tồn tại lên trình độ mới cao hơn dựa trên những thành tựu mới tiên tiến của khoa học kỹ thuật nhằm phục vụ tốt hơn cho sự phát triển toàn diện của con người và tiến bộ xã hội.

Quan niệm hiện đại hóa như trên không những chỉ ra khả năng mới của các quốc gia trong thời đại cách mạng khoa học kỹ thuật có thể xuất phát từ trình độ kinh tế xã hội khác nhau đều có thể tận dụng được những điều kiện của quá trình toàn cầu hóa, phát triển kinh tế tri thức tiến thẳng lên trình độ cao mà các nước đang phát triển hướng đến, thông qua đó mà rút ngắn quá trình hiện đại hóa Thực tế là một số nước ở Đông và Đông Nam Á trong khoảng 30 năm đã tiến hành hiện đại hóa thành công Vấn đề là ở chỗ hiện đại hóa như thế nào Có thể nói lịch sử xã hội loài người chính là xã hội từng

Trang 22

15

bước hiện đại hoá từ thấp đến cao, từ xã hội lạc hậu lên xã hội tiên tiến, mà biểu hiện rõ nhất của nó là cuộc cách mạng công nghiệp - chuyển hoá xã hội nông nghiệp lên xã hội công nghiệp hóa Hiện nay, các nước tiến hành hiện

đại hóahoá đi sau phải kết hợp công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa hay

công nghiệp hóa theo hướng hiện đại Vì vậy công nghiệp hóa gắn với hiện

đại hóa là một quá trình thống nhất, đặc biệt là đối với những nước chưa qua cách mạng công nghiệp như Việt Nam Do đó, càng càng cần có sự nhận thức

về phản ánh quá trình hiện đại hóa ở những nước chưa qua công nghiệp hóa

Vì vậy, các nước này cần phải tiến hành lấy công nghiệp hóa theo hướng hiện

đại làm nền tảng của quá trình hiện đại hóa tất cả các mặt của đời sống xã hội

nói chung

Quan niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa như trên là bước chuyển trong nhận thức lý luận cách mạng của các nước tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa như Việt Nam

1.1.2 Hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn

Từ quan niệm đã trình bày ở mục 1.1.1, có thể hình dung hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là quá trình xây dựng cơ sở vật chất, kĩ thuật và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo định hướng sản xuất hàng hóa lớn, hiện đại, gắn nông nghiệp với công nghiệp và dịch vụ, cho phép phát huy có hiệu quả cao mọi nguồn lực và lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới, mở rộng giao lưu trong nước và quốc tế nhằm nâng cao năng suất lao động xã hội trong nông nghiệp và nông thôn, xây dựng nông thôn mới giàu có, công bằng, dân chủ, văn minh và xã hội chủ nghĩa

Hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là quá trình phát triển nông thôn theo hướng tiến bộ kinh tế - xã hội của một nước công nghiệp Điều

đó có nghĩa là không chỉ phát triển công nghiệp nông thôn mà bao gồm cả

Trang 23

16

việc phát triển toàn bộ các hoạt động, các lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và đời sống văn hóa, tinh thần ở nông thôn phù hợp với nền sản xuất công nghiệp

ở nông thôn và cả nước nói chung

Hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam có nhiều nét đặc thù

cả về nội dung, hình thức, quy mô, cách thức tiến hành và mục tiêu chiến lược Những nét đặc thù này được thể hiện khái quát ở một số điểm sau đây:

Thứ nhất, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một quá trình rộng lớn,

phức tạp và toàn diện Có nghĩa là nó diễn ra trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, có sự kết hợp giữa các bước đi tuần tự và các bước đi nhảy vọt, kết hợp giữa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu, kết hợp giữa biến đổi về lượng và biến đổi về chất, của các tác nhân tham gia quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn sẽ tạo tiền đề và cơ sở vững chắc thúc đẩy toàn diện quá trình công nghiệp, hiện đại hóa nền kinh tế đất nước Ở các nước chậm phát triển, sự đóng góp của nông nghiệp vào GDP là rất lớn Ở Việt Nam, lao động nông nghiệp chiếm 70% lực lượng lao động xã hội Nếu như nền kinh tế không có vốn nước ngoài, chiến lược phát triển nông nghiệp ở các nước này trong giai đoạn đầu tất nhiên phải dựa vào tích lũy nông nghiệp Hơn nữa, nông nghiệp phát triển, đời sống nông dân tăng cao mới thấy được vai trò quan trọng của nông nghiệp trong việc tích lũy cho giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế Do vậy, đối với Việt Nam và các nước chậm phát triển, để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế đất nước thì Đảng và Nhà nước phải đặc biệt coi trọng hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Mặt khác, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là mũi đột phá quan trọng nhằm giải phóng sức lao động của nông dân, tạo điều kiện khai thác tốt nhất tiềm năng dồi dào về lao động

Nguồn lao động dồi dào là một lợi thế tương đối quan trọng để tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Ngược lại, khi quá trình đó

Trang 24

17

diễn ra, nó lại giải phóng sức lao động ở nông thôn tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động Hơn nữa, nông nghiệp, nông thôn có nguồn tài nguyên đất đai vô cùng phong phú Thực hiện, hiện đại hóa nông thôn có thể khai thác tốt nhất tiềm năng đất đai để phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước

Thứ hai, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam đóng vai trò quan

trọng trong phát triển đất nước

Thứ ba, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đòi hỏi phải đi tắt, đón

đầu và có thể được rút ngắn Đây là điều kiện khách quan của nhiệm vụ thoát khỏi tình trạng tụt hậu Bối cảnh mới trong nước cũng như trên thế giới cho phép nước ta có khả năng rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một cuộc cải biến cách mạng từ xã hội nông nghiệp trở thành xã hội công nghiệp Đó cũng là cuộc cải biến cách mạng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Vì vậy, để triển khai thuận lợi và thực hiện thành công sự nghiệp này đòi hỏi phải có những tiền đề cần thiết Xuất phát từ thực trạng kinh tế, văn hoá, xã hội của nước ta, để đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phải không ngừng tạo dựng những tiền đề sau đây:

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi nguồn vốn rất to lớn Do đó, mở rộng quy mô huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn là một điều kiện, tiền đề quan trọng để công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công

Vốn để công nghiệp hoá, hiện đại hoá có hai nguồn: nguồn vốn trong nước và nguồn vốn ngoài nước Nguồn vốn trong nước được tích luỹ từ nội

bộ nền kinh tế quốc dân dựa trên cơ sở hiệu quả sản xuất, là lao động thặng

dư của người lao động thuộc tất cả các thành phần kinh tế Con đường cơ bản

để giải quyết vấn đề tích luỹ vốn trong nước là tăng năng suất lao động xã hội trên cơ sở ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, hợp lý hoá sản xuất

Trang 25

18

Ở nước ta hiện nay, để tăng năng suất lao động xã hội tạo nên nguồn vốn cho tích luỹ, trước hết và chủ yếu là phải khai thác và sử dụng tốt quỹ lao động, tập trung sức phát triển nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu Nguồn vốn trong nước còn phụ thuộc vào tỷ lệ tiết kiệm Với một khối lượng của cải nhất định, tỷ lệ tiết kiệm càng cao, nguồn vốn càng lớn Do đó, để công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công, ta phải triệt để tiết kiệm, coi "tiết kiệm là quốc sách", đấu tranh triệt để với nạn tham nhũng, lãng phí Nguồn vốn trong nước còn phụ thuộc vào các chính sách kinh tế như: chính sách cơ cấu các thành phần kinh tế, chính sách thuế, chính sách lãi suất Do đó, xây dựng chính sách kinh tế phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế trong mỗi giai đoạn phát triển là yêu cầu khách quan Nguồn vốn trong nước giữ vai trò quyết định vì đó là nhân tố bên trong bảo đảm cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; là tiền đề để huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn nước ngoài Do đó, việc đề cao nội lực là hoàn toàn cần thiết

độ quản lý và công nghệ, tạo việc làm cho người lao động Vì thế, tranh thủ nguồn vốn bên ngoài là một nhân tố đẩy nhanh thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Tuy nhiên, mặt trái của nguồn vốn nước ngoài cũng không nhỏ Sử dụng nguồn vốn nước ngoài phải chấp nhận bị bóc lột, tài nguyên bị khai thác, nợ

Trang 26

19

nước ngoài tăng lên Do vậy, không thể kỳ vọng quá lớn vào nguồn vốn bên ngoài Sử dụng nguồn vốn nước ngoài là rất cần thiết nhưng rất cần cân nhắc, lựa chọn

Để huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, xây dựng và phát triển thị trường vốn là giải pháp có ý nghĩa rất quan trọng Nhờ có thị trường vốn, người sở hữu vốn nếu nhượng quyền sử dụng vốn cho người khác sẽ có thu nhập Đồng thời, khi có thị trường vốn, đồng vốn sẽ dễ dàng chuyển dịch

từ nơi hiệu quả thấp đến nơi có hiệu quả cao Do đó, để đáp ứng nhu cầu vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và phát triển thị trường vốn ở nước ta là rất cần thiết

Quy mô huy động và hiệu quả sử dụng vốn còn tuỳ thuộc vào môi trường vĩ mô Môi trường vĩ mô càng thuận lợi thì quy mô huy động và hiệu quả sử dụng vốn càng cao Do đó, tạo môi trường vĩ mô thuận lợi cho các hoạt động đầu tư cũng là giải pháp kinh tế quan trọng Xây dựng môi trường

vĩ mô thuận lợi tức là giữ ổn định về chính trị, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; xây dựng cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế, xây dựng chính sách kinh tế phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, xây dựng môi trường pháp lý thông thoáng, bảo vệ được lợi ích chính đáng của các chủ thể kinh tế

Vấn đề đặt ra cho đất nước ta hiện nay là phải nỗ lực vượt bậc, phấn đấu làm ăn có hiệu quả, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, ý chí tự lực tự cường, ra sức cần kiệm trong sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng, khắc phục những yếu kém và tiêu cực gây thất thoát, lãng phí tiền của của Nhà nước và nhân dân, dồn vốn cho đầu tư phát triển

Đào tạo nguồn nhân lực, Công nghiệp hoá, hiện đại hoá không chỉ đòi hỏi phải có vốn, kỹ thuật, tài nguyên mà còn cần phải phát triển một cách tương xứng năng lực của con người sử dụng những phương tiện đó Nguồn

Trang 27

Trong nguồn nhân lực mới ấy, việc xây dựng giai cấp công nhân là một nhiệm vụ trọng tâm, bởi vì chỉ với một giai cấp công nhân trưởng thành về chính trị, có trình độ tổ chức, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cao, có trình

độ làm chủ khoa học - kỹ thuật và công nghệ mới, trí thức hoá mới có thể là nòng cốt để liên minh với nông dân và đội ngũ trí thức, tập hợp và đoàn kết với các thành phần khác, phấn đấu đưa sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến thành công

Để có nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phải coi việc đầu tư cho giáo dục, đào tạo là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, giáo dục và đào tạo phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu Phải đào tạo ra một cơ cấu nhân lực đồng bộ bao gồm các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, cán bộ nghiên cứu và triển khai công nghệ, cán bộ quản lý, nghiệp vụ kinh tế, cán bộ trong các ngành kinh doanh, công nhân kỹ thuật Việc xây dựng nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải tiến hành với tốc độ, quy mô thích hợp, đáp ứng yêu cầu của mỗi thời kỳ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đi đôi với việc đào tạo, bồi dưỡng, phải bố trí và sử dụng tốt nguồn nhân lực đã được đào tạo, phát huy đầy đủ khả năng, sở trường và nhiệt tình lao động sáng tạo của họ để sáng tạo ra năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trang 28

21

Phát triển khoa học và công nghệ, Khoa học và công nghệ được xác định

là động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá Khoa học và công nghệ có vai trò quyết định lợi thế cạnh tranh và tốc độ phát triển kinh tế nói chung, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói riêng của các quốc gia

Là một nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế kém phát triển nên tiềm lực khoa học và công nghệ của nước ta còn yếu Muốn tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công thì phải xây dựng một tiềm lực khoa học và công nghệ thích ứng với đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá Phấn đấu đến năm 2010, năng lực khoa học - công nghệ của nước ta đạt trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực trên một số lĩnh vực quan trọng Muốn vậy, trong giai đoạn trước mắt, việc phát triển khoa học - công nghệ ở nước ta phải tập trung vào các hướng chủ yếu sau:

Phát triển khoa học và công nghệ phù hợp xu thế phát triển nhảy vọt của cách mạng khoa học và công nghệ và kinh tế tri thức trên thế giới Cố gắng đi ngay vào công nghệ hiện đại đối với một số lĩnh vực then chốt và từng bước

mở rộng ra toàn bộ nền kinh tế Chú trọng đúng mức việc phát triển công nghệ cao để tạo đột phá và công nghệ sử dụng nhiều lao động để giải quyết việc làm

Phát triển khoa học xã hội hướng vào việc tiếp tục góp phần làm sáng tỏ những nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; giải đáp những vấn đề mới của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; con đường, bước đi của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, những nguyên tắc, nội dung cơ bản của phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phát triển con người; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn mới

Trang 29

22

Phát triển khoa học tự nhiên theo hướng tập trung nghiên cứu cơ bản định hướng ứng dụng, đặc biệt những lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu và thế mạnh Phát triển công nghệ, kết hợp đẩy mạnh có chọn lọc việc nhập khẩu công nghệ để kết hợp với công nghệ nội sinh nhanh chóng nâng cao trình độ công nghệ của các ngành có lợi thế cạnh tranh, có tỷ trọng lớn trong GDP, các ngành công nghiệp bổ trợ và tạo việc làm cho xã hội; phát triển công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ vật liệu mới

Đẩy mạnh công tác nghiên cứu để đánh giá chính xác tài nguyên quốc gia, nắm bắt các công nghệ cao cùng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ, để từ đó đề xuất một chiến lược đúng đắn cho việc ứng dụng vào các ngành kinh tế - xã hội một cách nhanh chóng và khai thác, sử dụng hợp

lý, bảo vệ tốt tài nguyên quốc gia

Mở rộng hợp tác khoa học - công nghệ với các nước và các tổ chức quốc

tế nhằm tiếp cận, kế thừa những thành tựu khoa học - công nghệ của thế giới; tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế

Xây dựng tiềm lực nhằm phát triển một nền khoa học tiên tiến, bao gồm đẩy mạnh các hình thức đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học, chú trọng đào tạo lớp chuyên gia đầu đàn, tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các ngành khoa học và công nghệ

Muốn làm được những việc trên cần phải xây dựng và thực hiện tốt cơ chế và chính sách đồng bộ cho phát triển khoa học và công nghệ Để khoa học

và công nghệ trở thành động lực của sự phát triển thì trước hết phải tạo ra động lực cho sự phát triển của chính bản thân khoa học công nghệ

Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, trong xu thế toàn cầu hoá, quan hệ kinh tế đối ngoại càng phát triển rộng rãi và có hiệu quả bao nhiêu thì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước càng được tiến hành thuận lợi

Trang 30

23

và càng thành công nhanh chóng bấy nhiêu Thực chất của việc mở rộng quan

hệ kinh tế đối ngoại là việc thu hút nhiều nguồn vốn bên ngoài, là việc tiếp thu nhiều kỹ thuật và công nghệ hiện đại, là việc mở rộng thị trường cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá được thuận lợi

Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ cùng với xu thế toàn cầu hoá kinh tế đã và đang tạo ra mối liên hệ và sự tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế của các quốc gia Do đó, việc mở rộng quan hệ kinh tế giữa nước ta với các nước khác trở thành một tất yếu kinh tế, tạo ra khả năng và điều kiện để các nước chậm phát triển tranh thủ vốn, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm tổ chức quản lý để đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Tuy nhiên, đó cũng mới chỉ là khả năng Để khả năng trở thành hiện thực, chúng ta phải có một đường lối kinh tế đối ngoại đúng đắn vừa đạt hiệu quả kinh tế cao, kết hợp được sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại, giữ vững được độc lập, chủ quyền dân tộc, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước Đây là tiền

đề quan trọng quyết định thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân, thế nhưng, công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp mang tính tự giác,

sự nghiệp đó phải do một Đảng Cộng sản tiên phong, dày dạn kinh nghiệm chiến đấu, biết tự đổi mới không ngừng lãnh đạo và một Nhà nước của dân,

do dân và vì dân, trong sạch, vững mạnh và có hiệu lực quản lý thì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước - nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta - mới có thể hoàn thành

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá trước hết là phải tiếp tục giữ vững ổn định về chính

Trang 31

24

trị, Đảng Cộng sản Việt Nam phải là người lãnh đạo duy nhất, trực tiếp và toàn diện mọi hoạt động của xã hội Việt Nam Điều này có ý nghĩa to lớn trong việc huy động các nguồn lực của đất nước nhằm đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá; phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại Thứ hai, công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải được tiến hành theo đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam Đây là nhân tố trực tiếp bảo đảm thắng lợi của

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Nhà nước có chức năng quản lý kinh tế - xã hội, Nhà nước ta có sứ mệnh

tổ chức thực hiện đường lối công nghiệp hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua việc thực thi cơ chế, chính sách và điều hành các hoạt động kinh tế

- xã hội nhằm thực hiện các mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà Đảng ta đã đề ra Có thể nói, thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trực tiếp phụ thuộc vào vai trò quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước

1.2 Chính sách phát triển giao thông nông thôn ở Việt Nam

1.2.1 Khái lược chính sách phát triển giao thông nông thôn ở Việt Nam

Mười năm qua, các chủ trương lớn của Đảng và việc thực hiện quyết liệt của Chính phủ, hiện nay hệ thống giao thông nông thôn đã có bước phát triển căn bản và nhảy vọt, làm thay đổi không chỉ về số lượng mà còn nâng cấp về chất lượng con đường về tới tận thôn xóm tạo điều kiện thuận lợi phát văn hóa, xã hội và thu hút các lĩnh vực đầu tư về khu vực nông thôn, tạo công ăn

việc làm, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội

Thực tiễn đã ghi nhận sự đột phá đầu tiên về chính sách của Đảng trong thời kỳ đổi mới cũng được khởi đầu từ lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn Tiếp sau đó, nhiều Nghị quyết của Đảng và các Nghị quyết, Quyết định,

Kế hoạch và Chương trình hành động của Chính phủ đã trực tiếp triển khai thực hiện vấn đề này, cụ thể như: Ngày 5/8/2008, Ban Chấp hành Trung ương

Trang 32

25

đã ban hành Nghị quyết số 26/NQ-TW "Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”; Nghị định số 61/2010/NĐ-CP của Chính phủ bổ sung một số chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Chương

trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020

Trong Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, đây là những mục tiêu và tiêu chí mà đòi hỏi phải có sự phấn đấu với ý chí quyết tâm cao của mọi cấp chính quyền trong giai đoạn tới mới có thể đạt được mục tiêu của chương trình, dù thực trạng giao thông nông thôn đã có sự phát triển vượt bậc trong những năm vừa qua Bộ tiêu chí quốc gia này bao gồm 19 tiêu chí và được chia thành 5 nhóm cụ thể: Nhóm tiêu chí về quy hoạch, về hạ tầng kinh

tế - xã hội, về kinh tế và tổ chức sản xuất, về văn hóa - xã hội - môi trường và

về hệ thống chính trị Theo đó, Bộ tiêu chí đưa ra chỉ tiêu chung cả nước và các chỉ tiêu cụ thể theo từng vùng: Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh

tế - xã hội cụ thể của mỗi vùng Trong 19 tiêu chí đó, tiêu chí về thực hiện quy hoạch và phát triển giao thông nông thôn được đặt lên hàng đầu

Theo số liệu thống kê, đến 01/7/2011 cả nước đã có 8940 xã, chiếm 98,6% tổng số xã cả nước đã có đường ô tô đến trung tâm xã (tăng 2,3% so với năm 2006), trong đó 8803/8940 có xã hệ thống giao thông sử dụng cả 4 mùa, tương đương với 97,1% ( tăng 3,5% so với năm 2006); số xã có đường ô

tô đến trung tâm xã đã được nhựa hóa, bê tông hóa là 7917 xã chiếm 87,3% (tăng 17,2% so với năm 2006) Điều đáng chú ý là không chỉ đường đến trung tâm huyện, xã được chú trọng mà đường đến các thôn, bản miền núi cũng được các cấp chính quyền hết sức quan tâm đầu tư với số liệu rất ấn tượng đó

là có tới 89,5% số thôn, bản có đường ô tô đến được Điều đó góp phần thay

Trang 33

26

đổi cuộc sống của người dân nơi vùng cao vốn chịu nhiều thiệt thòi về điều kiện thời tiết, thổ nhưỡng cũng như văn hóa xã hội So với năm 2005, tổng số chiều dài km đường giao thông nông thôn tăng thêm 34.811km, trong đó số

km đường huyện tăng thêm 1.563km, đường xã tăng 17.414km và đường thôn xóm tăng 15.835km Để xây dựng hệ thống giao thông nông thôn vấn đề giải quyết nguồn vốn và đa dạng hóa nguồn vốn là chủ chương đúng đắn và hiệu quả Trong đó có những nguồn chính sau đây: ngân sách trung ương, ngân sách địa phương (chiếm khoảng 50% phần dành cho cơ sở hạ tầng giao thông của các tỉnh), vốn ODA (các chương trình hạ tầng nông thôn dựa vào cộng đồng của WB, Chương trình giảm nghèo Miền trung của ADB hay Giao thông nông thôn của Ngân hàng thế giới WB), vốn huy động của doanh nghiệp, tín dụng và của cộng đồng nhân dân Theo số liệu của Bộ Kế hoạch

và đầu tư, các ngồn vốn đầu tư cho giao thông nông thôn trong 10 năm qua ước tính khoảng 170.000-180.000 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước chiếm khoảng 70% tổng nguồn vốn được huy động; vốn huy động từ cộng đồng, doanh nghiệp chiếm khoảng 10-15% tổng nguồn vốn, kể cả việc huy động từ đóng góp của cộng đồng dân cư để đầu tư; ngoài ra các địa phương còn huy động từ các nguồn khác như thu phí sử dụng đất, thu sổ số kiến thiết Chỉ tính riêng giai đoạn 2003 đến năm 2010, cả nước đã đầu tư 749 dự

án đường giao thông đến trung tâm xã trên địa bàn các xã nông thôn, miền núi thuộc các vùng: Trung du và miền núi Bắc bộ; đồng bằng sông Hồng; duyên hải miền Trung; Tây nguyên; Đông Nam bộ và Đồng bằng sông Cửu long với tổng mức đầu tư các dự án đầu tư đường ô tô đến trung tâm xã cả giai đoạn được các địa phương phân bổ vốn TPCP là 32.951 tỷ đồng, các địa phương cũng đã chủ động lồng ghép các nguồn vốn khác trên địa bàn để thực hiện Kết quả đạt được từ năm 2008 đến 2012 của các địa phương trên cả nước

đã huy động vốn từ ngân sách địa phương, đóng góp của các tổ chức, cá nhân

Trang 34

27

trong và ngoài nước, người dân đóng góp kinh phí và công lao động để xây dựng giao thông nông thôn đó là 46.796 tỷ đồng, trong đó: Trung ương hỗ trợ 12.278 tỷ đồng; Ngân sách địa phương 19.410 tỷ; nhân dân đóng góp 9.869 tỷ; các nguồn huy động khác 5.321 tỷ; huy động được 165,4 triệu ngày công lao động xây dựng giao thông nông thôn Đã xây dựng mới được 15.185 km đường; sữa chữa, nâng cấp 74.329 km đường các loại; xây dựng 7.102 cái/120.268 md cầu bê tông cốt thép; 738 cái/20.039 md cầu liên hợp; 7.146 cái/10.289 md cầu sắt; 537 cái/24.082 md cầu treo; 4.145 cái/40.466 md cầu gỗ; thay thế 873 cái/16.449 md cầu khỉ; xây dựng và cải tạo 119.679 cái/197.766 md cống các loại; đến nay đã có 9.051 xã/9.200 xã có đường ô tô

về trung tâm xã

Về giao thông, đến năm 2020 tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT đối với tất cả các vùng phải đạt 100% Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn tối thiểu là 50% đối với trung du, miền núi phía Bắc và đồng bằng sông Cửu Long, còn lại các vùng khác phải đạt từ 70% đến 100% (đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ) Tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa phải đạt 100%, phấn đấu đến năm 2015 có 35% số xã đạt chuẩn (các trục đường xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa) và đến 2020 có 70% số

xã đạt chuẩn (các trục đường thôn, xóm cơ bản cứng hóa) phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa Việt Nam

1.2.2 Nội dung chính sách phát triển giao thông nông thôn ở Việt Nam hiện nay

Phát triển Giao thông nông thôn phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, chiến lược, quy hoạch phát triển giao thông vận tải trên địa bàn, chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới; phát triển Giao thông nông thôn một cách bền vững, tạo sự gắn kết, liên hoàn thông suốt

Trang 35

28

từ mạng lưới giao thông quốc gia đến đường tỉnh, đường huyện, đường thôn

xã, giữa các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá lớn, vùng nguyên liệu với các

tụ điểm công nghiệp chế biến, giữa sản xuất - chế biến và tiêu thụ, kết hợp giữa kinh tế với an ninh, quốc phòng, nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế đất nước và nhu cầu đi lại của nhân dân

Phát huy lợi thế về địa lý và điều kiện tự nhiên của từng vùng để phát triển Giao thông nông thôn, kết hợp giữa giao thông đường bộ và giao thông đường thủy, giữa giao thông với thủy lợi, nông lâm nghiệp và các ngành kinh

tế trên địa bàn

Có chính sách ưu tiên phát triển Giao thông nông thôn ở vùng núi cao, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới có vị trí quan trọng trong đảm bảo quốc phòng, an ninh, nhằm tạo động lực phát triển, giảm chênh lệch giữa các vùng, miền

Có cơ chế, chính sách quản lý, bảo trì hệ thống Giao thông nông thôn một cách hợp lý, hiệu quả với sự tham gia của các cấp chính quyền và của người dân, trong đó huy động tối đa mọi nguồn lực phát triển Giao thông nông thôn,

từ ngân sách Trung ương, ngân sách địa phương, tiềm năng to lớn của nhân dân, của các nhà tài trợ quốc tế, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Tích cực đưa khoa học kỹ thuật, vật liệu mới, sử dụng vật liệu tại chỗ, công nghệ thi công đơn giản, dễ thực hiện để đông đảo nhân dân tự quản lý,

tự làm có sự hướng dẫn về kỹ thuật, tổ chức đưa các loại hình vận tải hành khách, hàng hoá và phương tiện vận tải phù hợp với điều kiện địa phương vào hoạt động khai thác nhằm tạo thuận lợi cho giao thương hàng hóa, hành khách khu vực nông thôn

Hoàn thiện cơ bản mạng lưới kết cấu hạ tầng Giao thông nông thôn, 100% đường huyện, đường xã được vào cấp kỹ thuật, được nhựa hóa hoặc bê tông hóa và được bảo trì theo kế hoạch; 100% đường thôn xóm được cứng

Trang 36

29

hóa, đạt tối thiểu loại A, theo tiêu chuẩn 22 TCN 210-92 Tiếp tục phát triển, nâng cao chất lượng giao thông nội đồng

1.2.3 Một số đánh giá chính sách phát triển giao thông ở Việt Nam

Xét về mạng lưới, hiện nay trên cả nước có trên 295.046km đường bộ, trong đó hệ thống giao thông nông thôn (đường huyện, đường xã, đường thôn) chiếm tới 85% Nếu xét trên diện rộng, mật độ giao thông nông thôn trên cả nước còn thấp (0,59km/km2); trong đó mật độ đường huyện chỉ là 0,14km/km2 với tỷ trọng 0,55km/1000 dân; đường xã là 0,45km/km2 và 1,72km/1000 dân Tại khu vực nông thôn đồng bằng sông Hồng, mật độ này

có cao hơn (khoảng 1,16km/km2) song còn xa mới đạt được tỷ lệ hợp lý (trung bình ở các nước phát triển tỷ lệ chiều dài km đường nông thôn trên diện tích khoảng 8,86km/km2)

Với số liệu này cho thấy, hệ thống đường nông thôn chưa theo kịp với tốc độ phát triển và tiềm lực của các vùng kinh tế sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp Hệ thống đường giao thông nông thôn chưa được phủ kín và chưa có

sự kết nối liên hoàn từ hệ thống đường tỉnh, đường huyện xuống nông thôn nhất là đối với vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo Còn 149 xã chưa có đường ô tô tới trung tâm xã, trong đó khu vực Tây Nguyên chiếm đa

số, thấp hơn 7 lần so với khu vực đồng bằng Tiêu chuẩn kỹ thuật còn thấp, chủ yếu là đường chỉ có 01 làn xe, an toàn giao thông nông thôn vẫn còn nhiều bất cập như thiếu hệ thống biển báo, tình trạng hành lang an toàn giao thông đường bộ bị lấn chiếm, phơi rơm rạ, bề rộng mặt đường hẹp, tầm nhìn người lái xe ngắn, nhiều dốc cao và nguy hiểm, chất lượng công trình còn thấp, tải trọng thấp, chưa đồng bộ trong thiết cầu cống và đường Chất lượng mặt đường giao thông nông thôn chưa cao Hiện nay, tỷ lệ mặt đường là đất

và cấp phối còn chiếm tỷ lệ cao, gây khó khăn cho đi lại và chuyển hàng hóa vào mùa mưa

Trang 37

30

Đối với quy hoạch kết cấu hạ tầng nông thôn thì hầu hết các huyện trong các tỉnh thành trong cả nước đều chưa có quy hoạch đồng bộ mạng lưới giao thông nên chưa xây dựng được kế hoạch lâu dài để phát triển, điều này làm cho việc đầu tư còn tự phát, chưa có tính định hướng, gây ảnh hưởng đến việc nâng cấp, cải tạo và phát triển sau này

Bên cạnh đó cơ cấu tổ chức quản lý hệ thống đường giao thông nông thôn còn nhiều bất cập, việc quản lý hệ thống giao thông nông thôn hiện nay chưa có một mô hình quản lý thống nhất nên còn hạn chế trong quản lý nhà nước, quy hoạch và đầu tư xây dựng, phát triển giao thông nông thôn; thiếu

hệ thống số liệu; thiếu quan tâm và bố trí kinh phí quản lý, bảo trì; thiếu cán

bộ chuyên môn quản lý hệ thống đường huyện trở xuống

1.3 Tác động của chính sách phát triển giao thông với quá trình hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn

Giao thông nông thôn là một bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn, cần được ưu tiên đầu tư nhằm tạo tiền đề cho phát triển kinh tế xã hội khu vực nông thôn, đảm bảo an ninh lương thực, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

GTNT là một trong những mắt xích thiết yếu nối các vùng nông thôn với

hệ thống quốc lộ, tỉnh lộ, khu đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất; thúc đẩy phát triển KT-XH khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện phát triển cơ giới hoá trong sản xuất, trao đổi hàng hoá, đẩy mạnh, nâng cao đời sống tinh thần vật chất cho người dân khu vực nông thôn Trong tiến trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, GTNT có vai trò và vị trí vô cùng quan trọng

Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5/8/2008 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã xác

Trang 38

31

định: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển KT-XH bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [20]

Tác động về mặt kinh tế

Nước ta là nước nông nghiệp, 76,5% dân số sống ở nông thôn, 73% lực lượng lao động xã hội đang làm việc và sinh sống nhờ vào các hoạt động sản xuất Nông - Lâm - Ngư nghiệp Thời gian qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà Nước GTVT đã có sự phát triển vượt bậc, góp phần quan trọng trong việc phát triển KT-XH nói chung và phục vụ sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn nói riêng Đến nay đã có mạng lưới giao thông với đủ các phương thức vận tải, phân bổ tương đối hợp lý trên khắp mọi miền đất nước, tạo ra sự liên hoàn từ quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện đến đường xã, thôn, bản góp phần thực hiện các chương trình quốc gia và phát triển nông thôn Về cơ bản đã chấm dứt tình trạng ách tắc vận tải, việc vận chuyển hàng hoá phục vụ sản xuất nông nghiệp, sự giao lưu đi lại của nông dân thuận lợi hơn

Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế, chưa đồng đều giữa các vùng và chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển Việc vận chuyển ở nông thôn còn khó khăn, nhiều tuyến đường bị hư hỏng hoặc không thể đi lại được trong mùa mưa; theo số liệu khảo sát đến cuối năm

2010 vẫn còn 149 xã chưa có đường cho ô tô tới trung tâm Chất lượng đường còn rất thấp: trên 70% đường huyện, hơn 80% đường xã được đánh giá là xấu hoặc rất xấu; 72% đường [16] thôn xóm còn là đường cấp phối và đất Dịch

vụ vận tải chưa đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng, chất lượng

Trang 39

32

Để thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội khu vực nông thôn, trong tiến trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, trong giai đoạn tới đòi hỏi GTNT phải được ưu tiên, tập trung đầu tư xây dựng tạo bước chuyển đổi mạnh mẽ cả về số lượng cũng như chất lượng Vì vậy, việc xây dưng chiến lược phát triển GTNT đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

là yêu cầu hết sức cần thiết

Tác động về chính trị

Việc phát triển giao thông nông thôn góp phần tạo nên những thuận lợi cho liên kết các vùng, các tỉnh, các huyện và các xã với nhau Điều này giúp cho công việc chỉ đạo, quản lí được thuận lợi và nhanh chóng Bởi tính liên kết, tính phụ thuộc và sự gần gũi trong tất cả các khâu của hành chính nhà nước cần được thực hiện đồng bộ

Kinh tế phát triển sẽ thúc đẩy những hoạt động chính trị được diễn ra nhiều hơn, thường xuyên hơn Phần lớn các vùng, các khu và các nơi có hạ tầng nông thôn phát triển thì các sự kiện chính trị sẽ diễn ra sôi động, liên tục

Và chúng ta thường thấy ở đó thường được sự quan tâm và đầu tư của các cấp

sẽ được nhiểu nơi chú ý, biết đến bởi nó là điển hình về sự phát triển của Tỉnh, của Huyện Và sẽ ngày càng có nhiều khu, nhiều vùng kinh tế trọng điểm của Tỉnh được xác lập và có các chính sách riêng

Tác động về mặt an ninh quốc phòng

Có thể khẳng định rằng, giao thông nói chung và giao thông nông thôn nói riêng có ảnh hưởng rất lớn đến lĩnh vực an ninh quốc phòng Việt Nam với điển hình là một quốc gia có địa hình phức tạp, nhiều đồi núi, nhiều kênh rạch- sông ngòi việc xây dựng giao thông cũng gặp nhiều khó khăn, tốn kém Điều này càng đúng khi xem xét việc phát triển giao thông và hiện đại hóa nông thôn ở nước ta

Trang 40

33

Nông thôn nước ta là có vị trí quan trọng, đó là nơi mà đại bộ phận dân

cư sinh sống, là cơ sở có vai trò to lớn đối với sự phát triển của đất nước Việc giữ gìn ổn định về tình hình an ninh- quốc phòng tại khu vực nông thôn là nhiệm vụ thường xuyên và cấp bách của Đảng và Nhà nước ta Nhận thức rõ được sự ảnh hưởng vai trò phát triển giao thông nông thôn, Việt Nam đã có những chính sách phát triển và xây dựng giao thông ở nông thôn

Tùy thuộc vào tình hình, đặc điểm, vị trí địa lý của các vùng nông thông trên cả nước mà việc phát triển giao thông nông thôn có những khác biệt, có những sáng kiến và chính sách linh hoạt để phù hợp với từng địa phương (đồng bằng, trung du và miền núi) Nhưng một điểm rất chung đó là phải phục vụ, đảm bảo công tác an ninh quốc phòng một cách hợp lý và có những

ưu tiên cần thiết

Thực tiễn đã chứng minh, ở các khu vực, các huyện, các xã có hạ tầng cơ

sở tốt, có hệ thống giao thông hiện đại thông suốt thì công tác đảm bảo tình hình an ninh, quốc phòng diễn ra thuận lợi và đảm bảo được ổn định chính trị

và sự bình yên cho cộng đồng dân cư

Tác động về mặt văn hóa – xã hội

Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, việc phát triển và giữ gìn bản sắc văn hóa có ý nghĩa rất thiết thực đối với nước ta Để góp phần củng cố, bảo tồn và phát huy nền văn hóa của từng cộng đồng, của từng dân tộc cần sự vào cuộc của toàn xã hội Trong các yếu tố thuộc về sự tác động đến văn hóa thì giao thông chiếm vị trí trọng yếu Giao thông thuộc về yếu tố “cần” để phục vụ các nhu cầu đáp ứng các hoạt động văn hóa, trao đổi và giao lưu văn hóa Nó góp phần giúp văn hóa giao thoa, quảng quá và phổ biến văn hóa của một vùng miền, của cộng đồng dân cư riêng biết để đến với đông đảo quần chúng nhân dân trong cả nước và trên thế giới

Ngày đăng: 06/07/2015, 20:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Hoàng Anh (2005) Một số vấn đề về thiết kế, đo lường và tính toán trong việc quá trình xây dựng các công trình giao thông ở nông thôn nước ta” Nxb Giao Thông Vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về thiết kế, đo lường và tính toán trong việc quá trình xây dựng các công trình giao thông ở nông thôn nước ta”
Nhà XB: Nxb Giao Thông Vận tải
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
25. Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Viện chính trị học(2005), Lựa chọn công cộng – Một số tiếp cân nghiên cứu chính sách công, Tài liệu tham khảo – Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lựa chọn công cộng – Một số tiếp cân nghiên cứu chính sách công
Tác giả: Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Viện chính trị học
Năm: 2005
26. Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Viện Khoa học chính trị(1999): Tìm hiểu về khoa học chính sách công, Nxb CTQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về khoa học chính sách công
Tác giả: Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Viện Khoa học chính trị
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1999
27. Học viện Hành chính Quốc gia(1997), Chính sách và phân tích chính sách, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách và phân tích chính sách
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
31. Nguyễn Hữu Hải chủ biên (2004), Học viện hành chính Quốc gia, Giáo trình hoạch định và phân tích chính sách công, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình hoạch định và phân tích chính sách công
Tác giả: Nguyễn Hữu Hải chủ biên
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2004
32. Nguyễn Hữu Hải chủ biên(2004 ), Giáo trình hoạch định và phân tích chính sách công , Học viện hành chính Quốc gia, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình hoạch định và phân tích chính sách công
Nhà XB: Nxb ĐHQG
34. Hoàng Ngọc Nhật (2008) Vai trò của giao thông nông thôn đối với các tỉnh Tây Bắc Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của giao thông nông thôn đối với các tỉnh Tây Bắc
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
35. Huỳnh Tấn Phước, (2010), Hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay Tạp chí Nông thôn mới (số 6), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay
Tác giả: Huỳnh Tấn Phước
Năm: 2010
43. Tỉnh Ủy Hà Tĩnh (2013), sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 26- NQ/TW, ngày 5/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá X) “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, Báo cáo số 187-BC/TU, ngày 19/8/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ) “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Tác giả: Tỉnh Ủy Hà Tĩnh
Năm: 2013
44. Nguyễn Trường Tài (2002) Thực trạng cơ sở hạ tầng ở nông thôn Việt Nam hiện nay , Nxb Xây dựng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng cơ sở hạ tầng ở nông thôn Việt Nam hiện nay
Nhà XB: Nxb Xây dựng
2. Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Hà Tĩnh (2013), Báo cáo kết quả triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Hà Tĩnh trong 3 năm và năm 2013, Báo cáo số 27a/BC-BCĐ, ngày 28/6/2013 Khác
3. Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 về đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn thời kỳ 2001-2010 Khác
4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Hội nghị lần thứ 7 về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Khác
5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Quyết định số 281/2007/QĐ-BKH ngày 26/3/2007 ban hành định mức chi phí cho lập thẩm định quy hoạch và điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH, quy hoạch ngành và quy hoạch các sản phẩm chủ yếu Khác
6. Ban cán sự Đảng bộ Bộ GTVT, Báo cáo số 206 BC/BCSĐ ngày 7/8/2013 về sơ kết 5 năm thực hiện nghị quyết trung ương 7 khoa X về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Khác
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
10. Bộ GTVT, Văn bản số 7815/BGTVT-KHĐT ngày 09/11/ 2009 chấp thuận nội dung đề cương của Đề án cập nhật và hoàn thiện Chiến lược phát triển GTNT Việt Nam cho Cục đường bộ Việt Nam Khác
11.Bộ GTVT, Quyết định số 3579/QĐ-BGTVT ngày 01/12/2009 tạm phê duyệt kinh phí thực hiện đề án Chiến lược phát triển GTNT Việt Nam Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 01. Kết quả phát triển hạ tầng giao thông đường bộ ở nông thôn tỉnh - Tác động của chính sách phát triển giao thông nông thôn đến hiện đại hóa nông nghiệp- nông thôn ở Hà Tĩnh từ 2006 đến nay
Bảng 01. Kết quả phát triển hạ tầng giao thông đường bộ ở nông thôn tỉnh (Trang 49)
Bảng 02. Kết quả huy động vốn phát triển giao thông đường bộ xây dựng - Tác động của chính sách phát triển giao thông nông thôn đến hiện đại hóa nông nghiệp- nông thôn ở Hà Tĩnh từ 2006 đến nay
Bảng 02. Kết quả huy động vốn phát triển giao thông đường bộ xây dựng (Trang 50)
Bảng 2 cho thấy một số điểm đáng chú ý sau: - Tác động của chính sách phát triển giao thông nông thôn đến hiện đại hóa nông nghiệp- nông thôn ở Hà Tĩnh từ 2006 đến nay
Bảng 2 cho thấy một số điểm đáng chú ý sau: (Trang 51)
Bảng tổng hợp hiện trạng hệ thống giao thông - tỉnh hà tĩnh - Tác động của chính sách phát triển giao thông nông thôn đến hiện đại hóa nông nghiệp- nông thôn ở Hà Tĩnh từ 2006 đến nay
Bảng t ổng hợp hiện trạng hệ thống giao thông - tỉnh hà tĩnh (Trang 85)
Phụ lục 6: BẢNG TỔNG HỢP KHỐI LƯỢNG  HUYỆN KỲ ANH THỰC HIỆN TIÊU CHÍ SỐ 2 - GIAO THÔNG - Tác động của chính sách phát triển giao thông nông thôn đến hiện đại hóa nông nghiệp- nông thôn ở Hà Tĩnh từ 2006 đến nay
h ụ lục 6: BẢNG TỔNG HỢP KHỐI LƯỢNG HUYỆN KỲ ANH THỰC HIỆN TIÊU CHÍ SỐ 2 - GIAO THÔNG (Trang 86)
Phụ lục 7: BẢNG TỔNG HỢP KHỐI LƯỢNG HUYỆN CẨM XUYÊN THỰC HIỆN TIÊU CHÍ SỐ 2 - GIAO THÔNG - Tác động của chính sách phát triển giao thông nông thôn đến hiện đại hóa nông nghiệp- nông thôn ở Hà Tĩnh từ 2006 đến nay
h ụ lục 7: BẢNG TỔNG HỢP KHỐI LƯỢNG HUYỆN CẨM XUYÊN THỰC HIỆN TIÊU CHÍ SỐ 2 - GIAO THÔNG (Trang 87)
Phụ lục 8: BẢNG TỔNG HỢP KHỐI LƯỢNG THỰC HIỆN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH  TIÊU CHÍ SỐ 2 - GIAO THÔNG - Tác động của chính sách phát triển giao thông nông thôn đến hiện đại hóa nông nghiệp- nông thôn ở Hà Tĩnh từ 2006 đến nay
h ụ lục 8: BẢNG TỔNG HỢP KHỐI LƯỢNG THỰC HIỆN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH TIÊU CHÍ SỐ 2 - GIAO THÔNG (Trang 88)
Phụ lục 9: BẢNG TỔNG HỢP KHỐI LƯỢNG HUYỆN HƯƠNG KHÊ THỰC HIỆN TIÊU CHÍ SỐ 2 - GIAO THÔNG - Tác động của chính sách phát triển giao thông nông thôn đến hiện đại hóa nông nghiệp- nông thôn ở Hà Tĩnh từ 2006 đến nay
h ụ lục 9: BẢNG TỔNG HỢP KHỐI LƯỢNG HUYỆN HƯƠNG KHÊ THỰC HIỆN TIÊU CHÍ SỐ 2 - GIAO THÔNG (Trang 89)
Phụ lục 10: BẢNG TỔNG HỢP KHỐI LƯỢNG HUYỆN LỘC HÀ THỰC HIỆN TIÊU CHÍ SỐ 2 - GIAO THÔNG - Tác động của chính sách phát triển giao thông nông thôn đến hiện đại hóa nông nghiệp- nông thôn ở Hà Tĩnh từ 2006 đến nay
h ụ lục 10: BẢNG TỔNG HỢP KHỐI LƯỢNG HUYỆN LỘC HÀ THỰC HIỆN TIÊU CHÍ SỐ 2 - GIAO THÔNG (Trang 90)
Phụ lục 11: BẢNG TỔNG HỢP KHỐI LƯỢNG HUYỆN THẠCH HÀ THỰC HIỆN TIÊU CHÍ SỐ 2 - GIAO THÔNG - Tác động của chính sách phát triển giao thông nông thôn đến hiện đại hóa nông nghiệp- nông thôn ở Hà Tĩnh từ 2006 đến nay
h ụ lục 11: BẢNG TỔNG HỢP KHỐI LƯỢNG HUYỆN THẠCH HÀ THỰC HIỆN TIÊU CHÍ SỐ 2 - GIAO THÔNG (Trang 91)
Phụ lục 12: BẢNG TỔNG HỢP KHỐI LƯỢNG HUYỆN VŨ QUANG THỰC HIỆN TIÊU CHÍ SỐ 2 - GIAO THÔNG - Tác động của chính sách phát triển giao thông nông thôn đến hiện đại hóa nông nghiệp- nông thôn ở Hà Tĩnh từ 2006 đến nay
h ụ lục 12: BẢNG TỔNG HỢP KHỐI LƯỢNG HUYỆN VŨ QUANG THỰC HIỆN TIÊU CHÍ SỐ 2 - GIAO THÔNG (Trang 92)
Phụ lục 13: BẢNG TỔNG HỢP KHỐI LƯỢNG HUYỆN HƯƠNG SƠN THỰC HIỆN TIÊU CHÍ SỐ 2 - GIAO THÔNG - Tác động của chính sách phát triển giao thông nông thôn đến hiện đại hóa nông nghiệp- nông thôn ở Hà Tĩnh từ 2006 đến nay
h ụ lục 13: BẢNG TỔNG HỢP KHỐI LƯỢNG HUYỆN HƯƠNG SƠN THỰC HIỆN TIÊU CHÍ SỐ 2 - GIAO THÔNG (Trang 93)
Phụ lục 14: BẢNG TỔNG HỢP KHỐI LƯỢNG HUYỆN ĐỨC THỌ THỰC HIỆN TIÊU CHÍ SỐ 2 - GIAO THÔNG - Tác động của chính sách phát triển giao thông nông thôn đến hiện đại hóa nông nghiệp- nông thôn ở Hà Tĩnh từ 2006 đến nay
h ụ lục 14: BẢNG TỔNG HỢP KHỐI LƯỢNG HUYỆN ĐỨC THỌ THỰC HIỆN TIÊU CHÍ SỐ 2 - GIAO THÔNG (Trang 94)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w