1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của hai dòng ngan thuần VS1, v72 và con lai thương phẩm hướng thịt VS172

116 235 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 5,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở nước ta, theo kinh nghiệm cổ truyền, thường xác định tốc độ mọc lông ở ngan theo các giai đoạn người ta gọi là răng lược, nửa lưng, chấm khấu, chéo cánh… Tốc độ mọc lông có tương quan

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

- -

TẠ THỊ HƯƠNG GIANG

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN, SINH TRƯỞNG

VÀ CHO THỊT CỦA HAI DÒNG NGAN THUẦN VS1, V72

VÀ CON LAI THƯƠNG PHẨM HƯỚNG THỊT VS172

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

Chuyên ngành : CHĂN NUÔI

Mã số : 60.62.40

Người hướng dẫn khoa học: TS PHÙNG ĐỨC TIẾN

PGS TS PHAN XUÂN HẢO

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi giúp đỡ để thực hiện luận văn này được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Tạ Thị Hương Giang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Có được công trình nghiên cứu này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính

trọng sâu sắc tới Ban Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương

- Viện Chăn nuôi, Khoa sau Đại học và Khoa Chăn nuôi - Thủy sản - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực tập, thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Phùng Đức Tiến - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương, PGS TS Phan Xuân Hảo đã đầu tư nhiều công sức và thời gian chỉ bảo tận tình tôi thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn Các Thầy, Cô giáo Bộ môn Chăn nuôi Chuyên khoa - Khoa Chăn nuôi Thủy sản - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã động viên tinh thần trong thời gian làm đề tài và hoàn thành luận văn

Sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ công nhân viên Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy phương, phòng Phân tích - Viện Chăn nuôi trong quá trình nghiên cứu và thí nghiệm

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các nhà khoa học, các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi nâng cao kiến thức, hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã tạo mọi điều kiện động viên tôi hoàn thành luận văn

Tác giả luận văn

Tạ Thị Hương Giang

Trang 4

3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 43

4.1.3 Khối lượng cơ thể ngan giai đoạn ngan con, dò, hậu bị 56

Trang 5

4.1.5 Tuổi đẻ, khối lượng trứng, khối lượng của ngan mái khi tỷ lệ đẻ

4.1.6 Năng suất trứng và tiêu tốn thức ăn/10 trứng 64

4.2.1 Đặc điểm ngoại hình và kích thước các chiều đo 71

4.2.4 Sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối 76

4.2.5 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể 82

4.2.6 Chỉ số sản xuất (PN), chỉ số kinh tế (EN) 84

4.2.8 Kết quả sản xuất thịt hơi của 1 ngan mái mẹ 89

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên đàn ngan sinh sản 44

3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên đàn ngan thương phẩm 44

4.1 Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn con, dò, hậu bị (đvt: %) 55

4.2 Khối lượng cơ thể ngan giai đoạn ngan con, dò, hậu bị (đvt: g) 56

4.3 Lượng thức ăn tiêu thụ cho 1 ngan bố mẹ từ 1-24 tuần tuổi (đvt: kg) 58

4.5 Khối lượng cơ thể ngan mái ở 25-38 tuần tuổi (g) 63

4.6 Năng suất trứng/chu kỳ 1 và thức ăn tiêu tốn/10 trứng 65

4.10 Tỷ lệ nuôi sống qua các tuần tuổi (đvt: %) 72

4.11 Khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi (đvt:g) 73

4.12 Sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối ngan thương phẩm 77

4.18 Kết quả sản xuất thịt hơi của 1 ngan mái mẹ 89

4.19 Chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật và hiệu quả chăn nuôi trong nông hộ 91

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Trang 9

1 MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Chăn nuôi thuỷ cầm ở nước ta nói chung và chăn nuôi ngan nói riêng trong những năm qua đã có những bước phát triển nhanh chóng Từ chăn nuôi phân tán, quy mô nhỏ, tự cung tự cấp chuyển sang chăn nuôi tập chung với quy mô lớn

Các dòng ngan Pháp có năng suất, chất lượng cao, phù hợp với yêu cầu của sản xuất đã và đang phát triển mạnh ở nước ta, góp phần tích cực đưa tổng đàn ngan toàn quốc đạt 14 triệu con năm 2003

Song trong điều kiện nền kinh tế nước ta còn nhiều khó khăn, giá nhập ngan giống rất cao (80-85 USD/một ngan ông bà) cho nên không thể thường xuyên nhập được các giống ngan mới, hơn nữa các dòng ngan mới nhập về mỗi dòng chỉ có một giới tính, sau một chu kỳ khai thác phải tiếp tục nhập

Để bảo tồn, nâng cao chất lượng nguồn gen giống ngan đã có, đồng thời nhằm giảm bớt kinh phí đầu tư nhập giống và từng bước chủ động được con giống, Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương đã tiến hành chọn tạo được

6 dòng ngan giá trị kinh tế cao qua 3 thế hệ trong đó có 2 dòng ngan VS1 và V72 có năng suất cao hơn các dòng ngan hiện tại 6 - 8%, phù hợp với chăn nuôi trang trại và thị hiếu người tiêu dùng

Tuy nhiên các đặc điểm di truyền và tính trạng sản xuất của các dòng ngan vẫn chưa ổn định Do đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã cho phép tiếp tục nghiên cứu chọn tạo 6 dòng ngan giá trị kinh tế cao thêm 2

thế hệ 4 và 5 Chính vì vậy, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh

giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của hai dòng ngan thuần VS1, V72 và con lai thương phẩm hướng thịt VS172” ở thế hệ 4

Trang 10

1.2 Mục tiêu của đề tài

1 Đánh giá được khả năng sinh sản của 2 dòng ngan VS1, V72 ở thế hệ 4

2 Đánh giá được khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt của VS1, V72 và tổ hợp ngan lai 2 dòng VS172

3 Đánh giá được ưu thế lai của tổ hợp lai

1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trên cơ sở lý luận ưu thế lai luận văn đã triển khai một tổ hợp lai giữa các dòng ngan đã được chọn tạo qua 4 thế hệ tại Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương tạo con lai có năng suất chất lượng cao, lớn nhanh, sức chống chịu cao đáp ứng nhu cầu của thị trường và người tiêu dùng

Tổ hợp lai làm tăng sản phẩm thịt, nâng cao chất lượng thịt, làm phong phú các giống ngan phù hợp với nhiều địa phương, tạo điều kiện cho nhiều hộ nông dân xóa đói giảm nghèo và tiến tới làm giàu

Luận văn là tài liệu tham khảo về công tác lai tạo giống gia cầm dùng cho nghiên cứu, giảng dạy và sản xuất

Trang 11

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở lý luận của đề tài

2.1.1 Cơ sở lý luận về đặc điểm ngoại hình của gia cầm

Các đặc điểm về ngoại hình của gia cầm là những đặc trưng cho giống, thể hiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi

2.1.1.1 Đặc điểm ngoại hình

Sơ khai ngan có 2 màu đen và trắng, sau quá trình thuần hóa ngan có nhiều màu khác nhau: trắng, đen, nâu và xanh Ngan có đầu nhỏ, trán phẳng Mào có màu đỏ tía, ở con trống mào to, rộng hơn con mái Khác với vịt, tiếng kêu của ngan khàn gần như câm, có mống thịt ở gốc mỏ màu rượu vang kéo dài đến tận sau mang tai, mắt sáng, dáng đi nặng nề và chắc chắn Mỏ ngan dẹt, dễ tiếp xúc với thức ăn dưới nước và đưa vào miệng dễ dàng So với vịt tính bầy đàn của ngan kém hơn, hiền lành và chậm chạp hơn

2.1.1.2 Sự mọc lông

Tốc độ mọc lông cũng là một trong những đặc tính di truyền liên quan đến trao đổi chất, sinh trưởng và phát triển của gia cầm Đây là một chỉ tiêu phản ánh tính thành thục sinh dục Biến dị di truyền về sự mọc lông cũng phụ thuộc vào giới tính Trong một dòng mọc lông nhanh, thì con mái mọc lông đều hơn con trống Điều này liên quan đến hoocmon, vì hoocmon có tác động ngược chiều với gen liên kết giới tính quy định sự mọc lông nhanh

Theo Phan Cự Nhân (1971) [32], Phan Sỹ Điệt (1975) [10], Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992) [28], Jaap và Mirris (1973), Marren và Payne (1945) dẫn theo Phùng Đức Tiến (2004) [48] cho rằng: Gia cầm con một ngày tuổi đã mọc rất nhanh 6 lông cánh, chính là tiêu chuẩn về sự mọc lông nhanh, sinh trưởng nhanh Đối với chất lượng lúc giết thịt, tốc độ mọc lông rất quan trọng, nó cũng phụ thuộc cả vào giống, cá thể, điều kiện chăm

Trang 12

sóc nuôi dưỡng Ở thủy cầm nói chung có đặc tính là được bao phủ cơ thể một lớp da và lông rất dày Carville, Sauveur (1985) [58] cho biết: xác định tuổi giết mổ thích hợp ở ngan liên quan rất lớn đến độ phát triển của lông, cho biết con mái ở 10 tuần tuổi lông cánh đã thành thục ở con trống là 11 tuần tuổi Ở nước ta, theo kinh nghiệm cổ truyền, thường xác định tốc độ mọc lông

ở ngan theo các giai đoạn người ta gọi là răng lược, nửa lưng, chấm khấu, chéo cánh…

Tốc độ mọc lông có tương quan chặt chẽ với tốc độ sinh trưởng, cho phép ta sử dụng tính trạng này trong công tác chọn lọc, chọn phối thích hợp

để nâng cao năng suất, chất lượng thịt của thủy cầm

2.1.1.3 Kích thước các chiều đo

Kích thước các chiều đo cơ thể có mối tương quan với khối lượng cơ thể

và hướng sản xuất của giống Nghiên cứu về các chiều đo cơ thể của vịt Bắc kinh dòng bố và dòng mẹ đã được tác giả Pingel (1977) [70], Hoàng Văn Tiệu

và cộng sự (1993) [51], đều thống nhất rằng: mọi kích thước chiều đo cơ thể đều có tương quan rõ nét với khối lượng cơ thể (0,27- 0,99) và khối lượng trứng (0,39 - 0,67) ở phần lớn các lứa tuổi

Để tạo ra giống có khả năng sản xuất thịt ngực, thịt đùi cao người ta có thể dựa vào các số tính toán cơ ngực, cơ đùi của bản thân cá thể thủy cầm hoặc thông qua mối quan hệ đo được của các nhóm con mái Khi Pingel và Jung (1969) [69] nghiên cứu về độ dày của cơ ngực cho thấy rằng kích thước các chiều đo có mối tương quan dương với tỷ lệ (%) thịt ức của ngan, vịt và ngỗng Đặc biệt cho đến nay người ta không thấy mối tương quan giữa độ dày

cơ ngực với tỷ lệ da và lớp mỡ dưới da Bochno và cộng sự (1978), Boesting (1981) cũng xem độ dày cơ ngực như là một chỉ số quan trọng để đánh giá chất lượng thịt Ngoài ra, Phùng Đức Tiến và cộng sự (2004) [48] còn đề nghị, cần chú ý đến cả chu vi lườn Theo ông các giống vịt thịt lúc 49 ngày,

Trang 13

chu vi lườn biến động từ 32,5 - 35,7cm, chiều dài lườn từ 12,3 - 14,6cm, độ dày cơ lườn từ 1,4 - 1,9cm

Độ dài chân cũng là một chỉ số đáng tin cậy để chọn lọc Theo Phùng Đức Tiến và cộng sự (2004) [48] chỉ số này biến động từ 61,2 - 65,2mm ở vịt Bắc kinh Cũng theo tác giả này, giới tính ảnh hưởng có ý nghĩa đến độ dài chân và khối lượng thịt Ở nước ta hiện nay các nhà chăn nuôi thường dùng các chiều đo dài thân, dài lườn, vòng ngực, sâu ngực, cao chân để nghiên cứu, đánh giá tốc độ sinh trưởng và là cơ sở để chọn lọc kiểu hình giống thủy cầm

2.1.2 Tính trạng sản xuất của gia cầm

2.1.2.1 Bản chất di truyền của các tính trạng sản xuất

Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia cầm , được nuôi trong điều kiện cụ thể, thực chất là nghiên cứu các đặc điểm di truyền số lượng và ảnh hưởng của những tác động môi trường lên tính trạng đó Hầu hết các tính trạng về năng suất của gia súc, gia cầm như sinh trưởng, sinh sản, mọc lông, tăng trưởng thịt, đẻ trứng đều là tính trạng số lượng Cơ sở di truyền của các tính trạng số lượng cũng là do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định Theo Nguyễn Ân và cộng sự (1983) [3], các tính trạng sản xuất là các tính trạng số lượng, thường là các tính trạng đo lường như khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo, sản lượng trứng, khối lượng trứng…

Khác với các tính trạng chất lượng, tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố tác động của ngoại cảnh Tuy các điều kiện bên ngoài không thể làm thay đổi cấu trúc di truyền, nhưng nó tác động làm phát huy hoặc kìm hãm việc biểu hiện các hoạt động của các gen Các tính trạng số lượng được quy định bởi kiểu gen và chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện ngoại cảnh, mối tương quan đó được biểu thị như sau:

P = G + E

Trong đó P là giá trị kiểu hình (phenotypic value), G là giá trị kiểu gen

Trang 14

(genotypic value), E là sai lệch môi trường (environmental deviation)

Giá trị kiểu gen (G) hoạt động theo 3 phương thức: cộng gộp, trội và át gen Từ đó cũng có thể hiểu:

G = A + D + I

- Cộng gộp (A) hiệu ứng tích lũy của từng gen

- Trội (D) hiệu ứng tương tác giữa các gen cùng một lô cút

- Át gen (I) hiệu ứng do tương tác của các gen không cùng một lô cút Hiệu ứng cộng gộp A là các giá trị thông thường (general breeding value) có thể tính toán được, có ý nghĩa trong chọn lọc nhân thuần Hiệu ứng trội D và át gen I là những hiệu ứng không cộng tính và là giá trị giống đặc biệt (special breeding value) có ý nghĩa đặc biệt trong các tổ hợp lai Ở các tính trạng số lượng giá trị kiểu hình cũng do giá trị kiểu gen (kiểu di truyền)

và sai lệch môi trường quy định, nhưng giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor gen) cấu tạo thành Đó là các gen

mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp lại sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu

Ngoài ra các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường Có hai loại môi trường chính:

- Sai lệch môi trường chung (Eg) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác động lên toàn bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi Loại yếu tố này có tính chất thường xuyên như: thức ăn, khí hậu,…

- Sai lệch môi trường riêng (Es) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể trong nhóm vật nuôi, hoặc ở một giai đoạn nhất định trong cuộc đời con vật Loại này có tính chất không thường xuyên Nếu

bỏ qua mối tương tác giữa di truyền và ngoại cảnh thì quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G) và môi trường (E) của một cá thể biểu thị cụ thể:

P = A + D + I + Eg + Es

Trang 15

Qua phân tích cho thấy các giống gia cầm, cũng như các giống sinh vật khác, con cái đều nhận được ở bố mẹ một số gen quy định tính trạng số lượng nào đó Tính trạng đó được xem như nhận từ bố mẹ một khả năng di truyền, nhưng khả năng đó phát huy được hay không còn phụ thuộc vào môi trường sống như: chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý…

Người ta có thể xác định các tính trạng số lượng qua mức độ tập chung (X), mức độ biến dị (Cv%), hệ số di truyền của các tính trạng (h2), hệ số lặp lại của các tính trạng (R), hệ số tương quan (r) giữa các tính trạng,…

2.1.2.2 Tỷ lệ nuôi sống

Tỷ lệ nuôi sống của gia cầm khi nở là chỉ tiêu chủ yếu đánh giá sức sống của gia cầm Tỷ lệ nuôi sống được xác định bằng tỷ lệ phần trăm số cá thể còn sống ở cuối giai đoạn so với các cá thể ở đầu giai đoạn Khavecman (1972) [21] cho rằng cận huyết làm giảm tỷ lệ nuôi sống, ưu thế lai làm tăng tỷ lệ nuôi sống Có thể nâng cao tỷ lệ nuôi sống bằng biện pháp nuôi dưỡng tốt, vệ sinh tiêm phòng kịp thời Các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng cao hơn các giống vật nuôi ở xứ lạnh

Tỷ lệ nuôi sống của ngan con phụ thuộc vào sức sống của đàn bố mẹ Gia cầm mái đẻ tốt thì gia cầm con có tỷ lệ nuôi sống cao hơn so với gia cầm đẻ kém Người ta đã xác nhận mối tương quan giữa sức sản xuất trứng và sức sống là r = 0,4 theo Nguyễn Văn Thiện (1992) (Trích theo Phùng Đức Tiến,

2004 [48]) Đối với cơ thể sinh vật những biểu hiện sinh lý trong phản ứng stress là tác động tương quan giữa gen và môi sinh, trong đó tất nhiên chịu ảnh hưởng vai trò của các quy luật di truyền đa gen, trội, lặn, giới tính,… Khả năng thích nghi khi điều kiện sống bị thay đổi như về thức ăn, thời tiết, khí hậu, qui trình chăn nuôi, môi trường vi sinh vật xung quanh,… của gia súc, gia cầm nói chung thích ứng rộng rãi hơn đối với môi trường sống (Phan Cự Nhân, 1998 [30])

Trang 16

Hệ số di truyền của sức sống gia cầm nói chung thấp, chỉ từ 0,05 - 0,1 Chính vì vậy, để cải tiến tính trạng này dùng phương pháp chọn lọc theo gia đình mới có khả năng mang lại hiệu quả cao qua các thế hệ Sức sống của thủy cầm được xác định theo các giai đoạn khác nhau: giai đoạn gột, giai đoạn dò, giai đoạn hậu bị đến tuổi trưởng thành và giai đoạn sinh sản đến hết

kỳ sử dụng Tùy theo các giống khác nhau mà phân chia giai đoạn khác nhau

Ví dụ ở ngan thường chia ra: giai đoạn con: 1 - 12 tuần tuổi, giai đoạn dò: 12 -

21 tuần tuổi; giai đoạn hậu bị từ 22 - 24 tuần tuổi và giai đoạn sinh sản từ 25 tuần trở đi

2.1.2.3 Khả năng sinh sản ở gia cầm

Khả năng sinh sản của gia cầm được thể hiện bởi các chỉ tiêu về sản lượng, khối lượng, hình dạng, chất lượng trứng, khả năng thụ tinh và ấp nở Đối với các giống gia cầm khác nhau, khả năng sinh sản cũng rất khác nhau

* Năng suất trứng

+ Cơ sở di truyền của năng suất trứng

Sinh sản là chỉ tiêu cần được quan tâm lâu dài trong công tác giống gia cầm, nhằm tăng số lượng và chất lượng con giống

Đối với gia cầm sự di truyền về sinh sản rất phức tạp Theo các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả, việc sản xuất trứng của gia cầm có thể do

5 yếu tố ảnh hưởng mang tính di truyền

- Tuổi thành thục về sinh dục

Tuổi đẻ quả trứng đầu là một chỉ tiêu đánh giá sự thành thục sinh dục, cũng được coi là một yếu tố cấu thành năng suất Tuổi đẻ quả trứng đầu được xác định bằng số ngày kể từ khi ngan nở đến khi ngan đẻ trứng lần đầu Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992) [28] có ít nhất 2 cặp gen cùng qui định, cặp thứ nhất E và e liên kết với giới tính, cặp thứ hai E’ và e’ Gen trội E chịu trách nhiệm tính thành thục về sinh dục Các tác giả này cho rằng có mối

Trang 17

tương quan nghịch giữa tuổi đẻ và năng suất trứng, tương quan thuận giữa tuổi đẻ và khối lượng trứng

Gudeil, Lerner và một số tác giả cho rằng: có các gen trên nhóm nhiễm sắc thể giới tính cùng tham gia hình thành tính trạng này dẫn theo Khavecman (1972) [21].Tuổi đẻ quả trứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng, các yếu

tố môi trường đặc biệt là thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm [(Khavecman, 1972) dẫn theo Phạm Minh Thu, 1996] [43]

Theo tài liệu nghiên cứu của hãng Grimaud Frères thì ngan Pháp đẻ trứng ở đầu tuần tuổi thứ 28, tăng lên nhanh ở tuần thứ 29, đẻ 50% ở tuần thứ

30 và tỉ lệ đẻ đỉnh cao ở tuần thứ 34

Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Quang Tiến và cộng sự (1999) [44], với điều kiện chăn nuôi ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam ngan Pháp đã đẻ trứng sớm, tuổi đẻ trứng đầu ở các tuần thứ 21 - 23, đẻ 5% ở tuần thứ 24 - 25 và đẻ đỉnh cao ở tuần thứ 35 -36

Theo kết quả nghiên cứu của Trần Thị Cương (2003) [6], ngan Pháp R51

đẻ trứng đầu lúc 182 ngày, đẻ đạt 5% lúc 185 ngày, đẻ đạt 50% lúc 217 ngày

và đẻ đỉnh cao lúc 244 ngày

- Cường độ đẻ

Yếu tố này do hai cặp gen R – r và R’ – r’ phối hợp cộng lại để điều hành Cường độ đẻ trong 3 - 4 tháng đầu có tương quan rất chặt chẽ với sản lượng trứng của gia cầm, nếu cường độ đẻ càng cao thì sản lượng trứng càng cao và ngược lại

- Bản năng đòi ấp do hai gen A và C điều khiển, phối hợp với nhau Ấp bóng là ngan mái ấp không có trứng theo tập tính, tính ấp bóng càng dài thì năng suất trứng càng thấp

- Thời gian nghỉ đẻ (đặc biệt là nghỉ đẻ vào mùa đông) do các gen M và

m điều khiển Gia cầm có gen mm thì mùa đông vẫn đẻ đều Vào mùa đông

Trang 18

nhiệt độ thấp nên cơ thể phải huy động năng lượng để chống rét, tuy nhiên với những giống tốt thì thời gian nghỉ đẻ rất ngắn thậm chí không có Tính nghỉ

đẻ có tương quan nghịch với năng suất trứng, tính nghỉ đẻ mùa đông càng dài thì năng suất trứng càng thấp

- Thời gian kéo dài của chu kỳ đẻ, do cặp gen P và p điều hành Chu kỳ

đẻ trứng sinh học được tính từ khi gia cầm đẻ quả trứng đầu tiên đến khi gia cầm nghỉ đẻ để thay lông, đó là chu kỳ thứ nhất và lại tiếp tục chu kỳ thứ hai Sản lượng trứng phụ thuộc vào thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học, thời gian này càng dài càng tốt Chỉ tiêu này có tương quan dương với tuổi thành thục sinh dục, sức bền đẻ trứng, chu kỳ đẻ trứng khác nhau tuỳ từng cá thể Những gia cầm đẻ trứng tốt có chu kỳ đẻ trứng dài, nhịp độ đẻ trứng đều

và thời gian nghỉ đẻ ngắn, còn những gia cầm đẻ kém có dấu hiệu ngược lại Nói chung, thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học có tính di truyền phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau nhất là chế độ chăm sóc, dinh dưỡng, mùa vụ

Yếu tố thứ 5 và yếu tố thứ nhất là hai yếu tố kết hợp với nhau, cũng có nghĩa là các cặp gen Pp và Ee có phối hợp với nhau

Tất nhiên ngoài các gen chính tham gia vào việc điều khiển các yếu tố trên,

có thể còn có nhiều gen khác nhau phụ lực vào Ngoài 5 yếu tố di truyền cá thể, sức đẻ trứng còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác như dòng, giống gia cầm, tuổi gia cầm đẻ, mùa vụ, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi Trong đó đáng quan tâm là ảnh hưởng của mùa vụ và chế độ dinh dưỡng

- Ảnh hưởng của mùa vụ

Mùa vụ có ảnh hưởng nhất định đến tuổi thành thục sinh dục, do đó ảnh hưởng đến khả năng sản xuất trứng của thủy cầm Chu kỳ ánh sáng tự nhiên giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong sự điều chỉnh chu kỳ sinh sản hàng năm của gia cầm Theo Croutte cho biết ngan mái nở vào mùa thu (ngày ngắn) sẽ đẻ

Trang 19

sớm hơn ngan ngan mái đẻ vào mùa xuân (ngày dài)

- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng

Dinh dưỡng và chế độ chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng đến sản lượng trứng ấp Nguyễn Chí Bảo (1978) [13] cho biết: hàm lượng protein và vitamin trong thức ăn ảnh hưởng đến sự tạo thành tinh dịch Từ lâu người ta đã biết, chất lượng tinh dịch phụ thuộc vào sự có mặt của vitamin A Các chất dinh dưỡng trong thức ăn ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành trứng Nếu thiếu hoặc hoàn toàn không có mặt một vài chất dinh dưỡng, muối khoáng, các chất có hoạt tính sinh học thì gia cầm có thể hoàn toàn ngừng đẻ Theo Bùi Quang Toàn và cộng sự (1975) [55] cho biết trứng ấp từ đàn gia cầm nuôi thiếu dinh dưỡng cho chất lượng kém, tỷ lệ nở không cao, gia cầm con nở ra không khỏe mạnh bình thường Thí nghiệm của Nugere cho thấy: tỷ lệ protein tăng cao hơn bình thường trong khẩu phần ăn không nâng cao được sản lượng trứng nhưng cải thiện được

tỷ lệ nở, còn tỷ lệ Methionin và Lysin tăng cao trong khẩu phần ăn sẽ nâng cao mức đẻ nhưng không nâng cao được tỷ lệ nở Hàm lượng protein trong khẩu phần dưới 12% đã ảnh hưởng xấu đến kết quả ấp nở Có thể điều khiển việc thay lông cưỡng bức, thời gian dập đẻ, thời gian đẻ trứng cũng như cường độ đẻ trứng của ngan qua việc điều chỉnh chế độ chăm sóc nuôi dưỡng Như vậy, trong các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản thì thức ăn và kỹ thuật nuôi dưỡng giữ một vai trò quan trọng

+ Năng suất trứng và tỷ lệ đẻ

Năng suất trứng là số lượng trứng một gia cầm mái sinh ra trên một đơn

vị thời gian Đối với gia cầm đẻ trứng thì đây là một chỉ tiêu năng suất quan trọng nhất, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục Năng suất trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, mùa vụ, điều kiện dinh dưỡng, chăm sóc và đặc điểm của cá thể

Trang 20

Hutt (1978) [12] đề nghị tính sản lượng trứng từ khi gia cầm đẻ quả trứng đầu tiên Còn Brandshe và Billchel (1978) [13] cho biết sản lượng trứng được tính đến 500 ngày tuổi Theo các tác giả trên sản lượng trứng cũng được tính theo năm sinh học 365 ngày kể từ ngày đẻ quả trứng đầu tiên Trong thời gian gần đây, sản lượng trứng được tính theo tuần tuổi Nhiều hãng gia cầm nổi tiếng như Shaver (Canada), Lohman (Đức),…sản lượng trứng được tính đến 70-80 tuần tuổi

Năng suất trứng là tính trạng có mối tương quan nghịch chặt chẽ với tốc

độ sinh trưởng sớm, do vậy trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, cần chú ý cho gia cầm ăn hạn chế trong giai đoạn con, dò, hậu bị để đảm bảo năng suất trứng trong giai đoạn sinh sản Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào số lượng

và chất lượng thức ăn, phụ thuộc vào mức năng lượng, hàm lượng protein và các thành phần khác trong khẩu phần thức ăn (Bùi Thị Oanh (1996) [33]) Năng suất trứng có hệ số di truyền không cao, dao động lớn Theo Hutt, (1978) [12] cho biết hệ số tương quan giữa sản lượng trứng 3 tháng đầu với sản lượng trứng cả năm là rất chặt chẽ (từ 0,7-0,9)

Về tỷ lệ đẻ gia cầm có tỷ lệ đẻ thấp trong mấy tuần đầu của chu kỳ đẻ, sau đó tăng dần và đạt tỷ lệ cao ở những tuần tiếp theo rồi giảm dần và đạt tỷ

lệ thấp ở cuối thời kỳ sinh sản

* Khối lượng trứng, chỉ số hình dạng và chất lượng trứng

+ Khối lượng trứng

Là một tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng của một số lượng lớn các gen Cho đến nay, người ta xác định được chính xác số lượng gen quy định số lượng trứng, vì ngoài các yếu tố trực tiếp khối lượng trứng còn do các yếu tố gián tiếp tác động như: Khối lượng cơ thể ngan mái khi thành thục sinh dục; chế độ chăm sóc nuôi dưỡng Trong khái niệm “năng suất” ở gia cầm sinh sản, có hai yếu tố hợp thành đó là số lượng trứng đẻ ra và khối lượng trứng

Trang 21

Nghiên cứu trên ngan, Jonhason (1972) [20] đã phát hiện: thể trọng ngan tăng thì khối lượng trứng tăng, song mối tương quan này không phải là mối tương quan tuyến tính, bởi vì những giống gia cầm nặng cân nhiều khi có thể trọng gấp đôi giống nhẹ cân, song trứng đẻ ra chỉ cao hơn 1/3 (dẫn theo Phan Sĩ Điệt, 1975 [10]), đã tìm thấy mối quan hệ giữa 3 tính trạng: tuổi thành thục sinh dục, khối lượng trứng và khối lượng cơ thể Hệ số di truyền về khối lượng trứng khá cao h2 = 52% Khối lượng trứng là một chỉ tiêu đánh giá về hiệu quả trong chăn nuôi lấy trứng thương phẩm, đồng thời khối lượng trứng cũng phản ánh sinh lực sức sống của gia cầm non

Khi nghiên cứu về các tính trạng chất lượng trứng, ta thường quan tâm đến khối lượng trứng, hình dạng, độ bền, độ dày vỏ và các chỉ số hình dạng của trứng

+ Chỉ số hình thái

Trứng gia cầm chủ yếu là hình ôvan Marble (1951) [65] cho rằng chỉ số này không biến đổi theo mùa Đối với quả trứng đẻ đầu tiên sau một thời gian ngừng đẻ cũng như mỗi quả trứng đẻ đầu tiên của mỗi chu kỳ đẻ có dài hơn

so với các quả trứng sau

Orlov (1974) [66], cho rằng giống thuần, điều kiện nuôi dưỡng càng tốt, thì hình dạng trứng của chúng đều nhau, còn nếu ngược lại thì trứng có nhiều hình dạng Cũng theo Ông chỉ số hình dạng có ý nghĩa nhất định đến sự phát triển của phôi vì nó ảnh hưởng đến vị trí của đĩa phôi khi ấp và vị trí này lại ảnh hưởng đến quá trình ấp nở của gia cầm

Người ta đã tính được chỉ số hình dạng của trứng thông qua phương pháp toán học, chỉ số hình dạng có thể tính bằng hai cách: tỷ số giữa chiều dài và chiều rộng trứng hoặc tỷ lệ phần trăm giữa chiều rộng so với chiều dài của trứng Trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, thì chỉ số hình dạng là một chỉ tiêu để xem xét chất lượng của trứng ấp Trong thực tế sản xuất cho thấy: những quả

Trang 22

trứng quá dài hoặc quá tròn đều có tỷ lệ ấp nở thấp

+ Độ dày và độ bền của vỏ trứng

Chất lượng vỏ trứng được thể hiện bằng độ bền và độ dày của vỏ trứng Chất lượng của vỏ trứng có ý nghĩa quan trọng đối với việc vận chuyển và quá trình ấp trứng Một số tác giả đã tính hệ số di truyền của độ dày vỏ trứng

là 0,03 - 0,15 và 0,27 Ngoài ra độ dày vỏ trứng còn chịu tác động của của môi trường như thức ăn, tuổi, nhiệt độ xung quanh, stress và nhiều nhân tố khác (Phùng Đức Tiến và cộng sự, 2004 [48])

Lê Thị Thuý (1993) [41], nghiên cứu trên trứng ngan nội cho biết độ dày

vỏ đạt từ 0,44 - 0,49 mm Vì trứng có vỏ dày nên thực tế trứng ngan ít dập vỡ hơn nhiều so với trứng gà, trứng vịt Và đây cũng có thể là một nguyên nhân làm cho thời gian ấp của trứng ngan là dài nhất

+ Bề mặt vỏ trứng

Thông thường trứng gia cầm đẻ ra có bề mặt trơn, đều, song bên cạnh đó cũng có một số cá thể thường đẻ ra những trứng có bề mặt xấu, xù xì, có vệt canxi hay đường gờ lượn sóng, loại trứng này có ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ ấp

nở cũng như thị hiếu của người tiêu dùng

+ Chất lượng trứng

Khi đánh giá chất lượng trứng, cần đặc biệt chú ý đến chỉ số lòng đỏ, lòng trắng và đơn vị Haugh Các chỉ số này càng cao thì tỷ lệ nở càng lớn và chất lượng trứng càng tốt (Tạ An Bình, 1973 [5])

Chỉ số lòng đỏ: chất lượng lòng đỏ được xác định bằng chỉ số lòng đỏ Chỉ số lòng đỏ là tỷ số giữa chiều cao lòng đỏ so với đường kính của nó Trứng có chỉ số lòng đỏ càng lớn thì chất lượng trứng càng tốt

Chỉ số lòng trắng: là chỉ tiêu đánh giá chất lượng lòng trắng, chỉ số này được tính bằng tỷ lệ giữa chiều cao lòng trắng đặc so với trung bình cộng đường kính lớn và đường kính nhỏ của nó Chỉ số này càng lớn, chất lượng trứng càng

Trang 23

cao Chỉ số lòng trắng bị ảnh hưởng bởi giống, tuổi và chế độ nuôi dưỡng

Lòng trắng trứng chủ yếu là albumin, nó là thành phần quan trọng trong việc cung cấp nước và muối khoáng cho phôi phát triển trong quá trình ấp Đối với trứng giống, lòng đỏ không những quan hệ chặt chẽ đến việc cung cấp chất dinh dưỡng cho phôi phát triển mà còn liên quan đến sinh lực phôi và sức sống của gia cầm mới nở

Tỷ lệ giữa các phần bên trong quả trứng khác nhau tuỳ thuộc giống, khối lượng tuyệt đối của quả trứng, tuổi, khối lượng cơ thể mẹ và vào chế độ dinh dưỡng cho con mẹ

Theo kết quả khảo sát trứng ngan nội của Lê Thị Thuý (1993) [41], cho thấy tỷ

lệ lòng đỏ đạt 37,95% - 38,16% Tỷ lệ lòng trắng đạt 48,98 - 49,75% so với khối lượng quả trứng, còn ở gà tỷ lệ lòng đỏ là 33,00%, tỷ lệ lòng trắng là 57,00%

Về đơn vị Haugh: đơn vị Haugh được Haugh (1930) xây dựng, sử dụng để đánh giá chất lượng trứng, nó phụ thuộc vào khối lượng và chiều cao lòng trắng đặc Đơn vị Haugh càng cao thì chất lượng trứng càng tốt Theo Uyterwal (2000) [78] đơn vị Haugh bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm (càng già thì đơn vị Haugh càng giảm), bệnh tật, nhiệt độ, giống gia cầm,…Theo Lê Hồng Mận và cộng sự (1989) [27], cho rằng trứng coi là mới và đảm bảo chất lượng phải có đơn vị Haugh từ 75 trở lên Theo Bạch Thị Thanh Dân (1999) [7], chất lượng trứng rất tốt có chỉ số Haugh 80 - 100, tốt 79 - 65, trung bình

64 - 55 và xấu < 55

+ Khả năng thụ tinh và tỷ lệ ấp nở

Khả năng thụ tinh là một tính trạng để xét đoán khả năng sinh sản của bố

và mẹ nhưng không thể là một tính trạng sức sống của con (M Mensi, 1974 theo Nguyễn Đức Hưng, 1981 [19]) Tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tuổi, tỷ lệ trống mái, sự chênh lệch về khối lượng bố mẹ, các điều kiện

về ngoại cảnh khác như mùa vụ, thức ăn Đặc biệt sự thích ứng từng cá thể

Trang 24

trong giao phối có ý nghĩa lớn với sự thụ tinh Điều này biểu hiện rất rõ nét ở ngan và ngỗng Con trống có tỷ lệ thụ tinh rất cao với con mái này nhưng lại thấp với con mái khác Giao phối cận huyết cũng làm giảm tỷ lệ thụ tinh (Bernier và cộng sự, 1951) [57]

Tỷ lệ ấp nở của gia cầm là tính trạng đầu tiên biểu hiện sức sống ở đời con, đó cũng là thước đo về sự phát triển của phôi và sức sống của gia cầm con Trạng thái di truyền của mẹ có thể ảnh hưởng trực tiếp về nhiều mặt đến tỷ lệ nở Theo Jonhanson (1972) [20] cho biết, các gen gây chết và nửa gây chết làm giảm khả năng nở Trong số 21 gen gây chết đã biết ở gia cầm, có 16 gen tác động lên khả năng nở gây sự phát triển không bình thường của phôi Hệ số di truyền của tính trạng ấp nở rất thấp Theo Taylor, Bogart (1988) thì h2 = 0,1, theo Đặng Hữu Lanh và cộng sự (1985)

hệ số di truyền của tính trạng này là h2 = 0,26, một số tác giả khác như Hill

và cộng sự (1954) thì h2 = 0,08 Tỷ lệ nở phụ thuộc rất lớn vào điều kiện ngoại cảnh, khối lượng trứng, chỉ số hình dạng, thời gian và chế độ bảo quản trứng như nhiệt độ, ẩm độ, thông thoáng…Hơn nữa tỷ lệ nở còn liên quan đến cấu tạo trứng Ngoài ra có sự tương quan giữa diện tích bề mặt của trứng và sự bốc hơi nước qua vỏ trứng trong thời gian ấp; quả trứng nhỏ có diện tích bề mặt tương đối lớn so với khối lượng của nó, do đó tỷ lệ hao hụt khối lượng trong thời gian ấp cao hơn

2.1.3 Khả năng sinh trưởng, cho thịt và tiêu tốn thức ăn ở gia cầm

2.1.3.1 Khả năng sinh trưởng

* Khái niệm về sinh trưởng

Sinh trưởng là quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do quá trình đồng hoá

và dị hoá, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng các bộ phận

và toàn bộ cơ thể của con vật trên cơ sở tính di truyền của đời trước Sự sinh trưởng chính là tích luỹ dần dần các chất mà chủ yếu là protein, nên tốc độ

Trang 25

tích luỹ các chất do tốc độ hoạt động các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992) [28]

Sự phát triển của cơ thể sống là sự tích lũy các tế bào tăng lên về khối lượng, thể tích ở các phần hoạt động của cơ thể, đồng thời sinh ra năng lượng

tự do, cơ thể lớn lên về khối lượng, tăng lên về chiều dài, chiều rộng và chiều cao Như vậy, sinh trưởng luôn gắn liền với phát triển, ảnh hưởng tương hỗ lẫn nhau diễn ra trên cùng một cơ thể làm cho cơ thể ngày càng hoàn chỉnh

Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như quá trình tổng hợp protein, nên người ta thường lấy việc tăng khối lượng là chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng Tuy nhiên, có khi tăng trọng không phải là tăng trưởng chẳng hạn như béo là do tích nước tạo mỡ mà không có sự phát triển của mô cơ Sự tăng trưởng thực chất là các tế bào của mô cơ đó tăng thêm khối lượng, số lượng và các chiều Vì vậy, từ khi trứng thụ tinh cho đến khi cơ thể trưởng thành được chia làm hai giai đoạn chính: giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai Đối với gia cầm là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành

Như vậy, cơ sở chủ yếu của sinh trưởng gồm hai quá trình, tế bào sản sinh và tế bào phát triển, trong đó sự phát triển là chính Tất cả các đặc tính của gia cầm như ngoại hình thể chất, sức sản xuất đều không phải có sẵn trong tế bào sinh dục, trong phôi chưa phải có đầy đủ ngay khi hình thành mà

nó chỉ được hoàn chỉnh trong suốt quá trình sinh trưởng của cơ thể con vật Đặc tính của các bộ phận hình thành trong quá trình sinh trưởng tuy là sự tiếp tục thừa hưởng các đặc tính di truyền của bố, mẹ nhưng hoạt động mạnh hay yếu, hoàn chỉnh hay không hoàn chỉnh còn phải phụ thuộc vào sự tương tác giữa các gen và môi trường

Khi nghiên cứu về sinh trưởng không thể không nói đến phát dục vì sinh trưởng và phát dục là sự phát triển chung của cơ thể sống Hai quá trình này không có ranh giới Có phát dục, đồng thời cũng có sinh trưởng và ngược lại

Trang 26

Ở bộ phận này có phát dục thì ở bộ phận khác có sinh trưởng Hoặc sự sinh trưởng và phát dục đều thực hiện song song và tồn tại trong cùng một bộ phận của cơ thể

* Một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng

Có rất nhiều yếu tố về di truyền và ngoại cảnh ảnh hưởng đến sinh trưởng của ngan như: dòng, giống, tính biệt, tốc độ mọc lông, ngoại hình và sự phát triển của hệ cơ, khối lượng bộ xương, dinh dưỡng, điều kiện chăn nuôi

- Ảnh hưởng của dòng, giống đến sinh trưởng

Giống, dòng có ảnh hưởng lớn tới quá trình sinh trưởng của gia súc, gia cầm Nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định sự sinh trưởng của từng cá thể giữa các giống, các dòng có sự khác nhau, gia cầm hướng thịt có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gia cầm kiêm dụng và hướng trứng

Theo tài liệu của hãng Grimaud Frères (1995) [64], cho biết dòng ngan siêu nặng đã nặng cân hơn dòng ngan R51 từ 400 - 900g ở 80 ngày tuổi

Theo tác giả Bùi Quang Tiến và cộng sự (1999) [44], cho biết ngan nhập

từ Pháp đã cho khối lượng thịt gấp 1,44 - 1,53 lần ở con trống và 1,23 - 1,31 lần ở con mái so với ngan nội, với cùng tuổi giết thịt 84 ngày tuổi

Sự khác nhau về tốc độ tăng trọng giữa các giống hay các dòng trong cùng một giống là do yếu tố di truyền và một phần do các gen liên kết với giới tính theo Brandshe, Billchel (1978) [13]; Theo Clayton và Powell (1979) [63], cho biết tốc độ tăng trọng có hệ số di truyền cao: giá trị h2 = 0,73

Kết qủa nghiên cứu của Chambers (1990) [62] cho biết, có rất nhiều gen ảnh hưởng tới sự sinh trưởng và phát triển của cơ thể ngan Có gen ảnh hưởng tới sự phát triển chung, có gen ảnh hưởng tới sự phát triển nhiều chiều, có gen ảnh hưởng tới một vài tính trạng riêng lẻ Những nghiên cứu trước đây dự báo

có hai hoặc bốn gen chính ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng Sau này nhiều tác giả cho rằng có ít nhất 15 cặp gen quy định tính trạng số lượng này

Trang 27

- Ảnh hưởng của tính biệt

Đối với ngan, theo nghiên cứu của Viện Nông nghiệp quốc gia Pháp, tốc

độ phát triển của ngan trống và ngan mái từ sơ sinh trở đi rất khác nhau, ví dụ lúc mới nở, khối lượng cơ thể của con mái so với con trống là 100% thì đến

70 ngày tuổi chỉ còn 58% Tốc độ sinh trưởng của con ngan đạt mức cao nhất

là lúc 2 - 7 tuần tuổi ở con mái và 2 - 8 tuần tuổi ở con trống, cơ thể tăng 500g/tuần Sau đó, tốc độ sinh trưởng chậm dần ở các tuần tiếp theo

- Ảnh hưởng của tốc độ mọc lông

Người ta thường căn cứ vào tốc độ mọc lông của gia cầm như một trong những yếu tố để xem xét sự sinh trưởng phát dục Theo kinh nghiệm cổ truyền, ở nước ta những người nuôi thuỷ cầm thường xác định tốc độ mọc lông theo các giai đoạn: Bật rạch, răng lược, nửa lưng, chấm đuôi và chéo cánh

Nguyễn Ân và cộng sự (1983) [3], cho rằng: tốc độ mọc lông có liên quan chặt chẽ tới tốc độ sinh trưởng Tốc độ mọc lông là một tính trạng di truyền có liên quan đến quá trình trao đổi chất và sinh trưởng, phát triển của ngan Những cá thể lớn nhanh, thì mọc lông nhanh, đồng đều hơn và ngược lại, những con ngan lớn chậm thì tốc độ mọc lông cũng chậm Theo Brandshe

và Billchel (1978) [13], tốc độ mọc lông là một tính trạng di truyền có liên quan đến đặc điểm trao đổi chất, sinh trưởng và phát triển của gia cầm

Gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh thì sự thành thục về thể trọng sớm hơn, chất lượng thịt tốt hơn gia cầm mọc lông chậm Song dù mọc lông chậm thì từ 9 - 12 tuần tuổi gà cũng mọc đủ lông Sự thành thục của ống lông cánh

có tầm quan trọng đối với việc vặt lông được dễ dàng và sự trình bày thân thịt được đẹp mắt Giết mổ quá sớm hay quá muộn đều không đem lại hiệu quả kinh tế Ngược lại, giết mổ ở tuổi thích hợp sẽ cho ta thịt xẻ cao, thịt nạc nhiều, chất lượng thịt ngon

Tốc độ mọc lông không những phụ thuộc vào giống, dòng từng cá thể mà

Trang 28

còn phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng Chăm sóc nuôi dưỡng tốt ngan lớn nhanh, mọc lông nhanh Chăm sóc nuôi dưỡng kém ngan lớn chậm, mọc lông chậm, sinh trưởng kém

Pingel (1977) [70] đề nghị xác định tốc độ mọc lông ở vịt bằng cách đo

độ dài lông cánh thứ 4 hàng một căn cứ vào độ dài lông cánh để xác định tuổi giết thịt thích hợp ở vịt Theo Pingel thì khi độ dài lông cánh thứ 4 đạt khoảng 13cm là giết thịt thích hợp

De Croutte (1978) trích theo Phạm Văn Trượng (1995) [56] cho biết xác định tuổi giết mổ thích hợp ở ngan liên quan rất lớn đến độ phát triển lông, ông cho biết con mái ở 10 tuần tuổi lông cánh thành thục (ống lông hầu như rỗng) và 11 tuần ở con trống

- Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng

Dinh dưỡng có mối liên quan chặt chẽ với sự duy trì sự sống, khả năng sản xuất của gia súc, gia cầm Dinh dưỡng là một quá trình sinh học nhằm duy trì cơ thể và không ngừng đổi mới những vật chất tạo nên cơ thể Cơ thể đòi hỏi được cung cấp các chất dinh dưỡng để duy trì và phát triển Do đó, trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng việc xác định nhu cầu các chất dinh dưỡng hay chế độ dinh dưỡng hợp lý cho vật nuôi là rất cần thiết và có ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng của vật nuôi

Sinh trưởng là tổng sự phát triển các phần của cơ thể như thịt, xương, da

Tỷ lệ sinh trưởng các phần này khác nhau ở độ tuổi và phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng Theo Chambers (1990) [60], thì chế độ dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển các bộ phận khác nhau của cơ thể mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của từng mô này đối với mô khác Hơn thế nữa, dinh dưỡng không những ảnh hưởng tới sinh trưởng mà còn ảnh hưởng tới biến động di truyền về sinh trưởng

Phùng Đức Tiến (1996) [45], đã xác định hàm lượng sulfat, canxi,

Trang 29

photpho trong chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng tới sinh trưởng của gia cầm Những kết quả nghiên cứu của Bùi Đức Lũng (1992) [25], chỉ ra rằng để phát huy được tốc độ sinh trưởng tối đa cần cung cấp thức ăn tối ưu với đầy

đủ chất dinh dưỡng được cân bằng nghiêm ngặt giữa protein và các axitamin với năng lượng Ngoài ra, trong hỗn hợp thức ăn còn được bổ sung hàng loạt các chế phẩm sinh học không mang ý nghĩa dinh dưỡng nhưng nó kích thích sinh trưởng làm tăng năng suất và chất lượng thịt

- Các yếu tố môi trường

Các yếu tố môi trường như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, độ thông thoáng

và mật độ nuôi có ảnh hưởng không nhỏ đến sự sinh trưởng của ngan Đặc biệt là ngan thương phẩm

Ẩm độ và nhiệt độ môi trường cao dễ làm ngan mắc các bệnh đường hô hấp và đường ruột, làm giảm tăng trưởng, do vậy cần cải thiện điều kiện chuồng nuôi để có độ thông thoáng tốt, ẩm độ và nhiệt độ thích hợp, cung cấp đầy đủ oxy, kết hợp với chế độ chiếu sáng và mật độ nuôi hợp lý

Ngoài ra, mật độ nuôi cũng có ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng của gia cầm Trong chăn nuôi ngan sinh sản giai đoạn ngan con, dò và hậu bị, mật độ nuôi thường là 7 - 20 con/m2 Mật độ nuôi quá cao, tăng khối lượng cơ thể chậm, tiêu tốn thức ăn cao, tỷ lệ hao hụt lớn và thường gây hiện tượng mổ nhau

* Các giai đoạn sinh trưởng và cách đánh giá sinh trưởng

Sinh trưởng là một quá trình sinh lý, sinh hoá phức tạp từ khi phôi thai được hình thành đến khi con vật thành thục về thể vóc Gia cầm sau khi nở ra, quá trình sinh trưởng được chia làm hai thời kỳ:

- Thời kỳ ngan con

Trong thời kỳ ngan con quá trình sinh trưởng rất mạnh do sự phát triển của các tế bào trong giai đoạn này rất lớn chúng tăng nhanh cả về số lượng, kích thước và khối lượng tế bào, trong khi đó các cơ quan nội tạng nhất là bộ

Trang 30

máy tiêu hoá lại chưa hoàn thiện về chức năng, dạ dày chưa tiêu hoá được thức ăn cứng, các men tiêu hoá chưa đầy đủ vì vậy lượng thức ăn ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng

Ở ngan con diễn ra quá trình thay lông, đây là một quá trình sinh lý quan trọng của ngan Vì thế thời kỳ này phải chú ý cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể gia cầm nhất là protein và các axit amin không thay thế được

Trong giai đoạn ngan con, chúng rất nhạy cảm với sự thay đổi điều kiện môi trường Mười ngày đầu tiên thân nhiệt ngan con chưa ổn định nên phụ thuộc rất lớn vào nhiệt độ môi trường Vì thế giai đoạn này cần phải cho ngan con sống trong điều kiện môi trường có nhiệt độ và ẩm độ thích hợp thì chúng mới có thể sinh trưởng và phát triển tốt Ngoài ra, ngan con rất mẫn cảm với các loại bệnh vì sức đề kháng còn kém

- Thời kỳ ngan trưởng thành

Trong giai đoạn này tất cả các cơ quan, tổ chức trong cơ thể ngan dần hoàn thiện Tốc độ sinh trưởng chậm lại do số lượng tế bào tăng chậm, chủ yếu là tăng lên về kích thước và khối lượng Thời kỳ này ngan đã có khả năng thích nghi tốt hơn với sự thay đổi của điều kiện môi trường Trong cơ thể ngan lúc này xảy ra quá trình tích luỹ các chất dinh dưỡng và năng lượng một phần để duy trì cơ thể, một phần dùng để tích luỹ mỡ do vậy tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn kém hơn so với thời kỳ ngan con

Sinh trưởng là một quá trình sinh học phức tạp, để có được các phép đo chính xác về sinh trưởng ở từng thời kỳ không phải dễ dàng (Chambers, 1990) [60] Để đánh giá tốc độ sinh trưởng, người ta có khuynh hướng đơn giản hoá và thực tế hoá các phép đo Theo ông, để đánh giá sức sinh trưởng của gia cầm người ta thường dùng các chỉ tiêu chính như: sinh trưởng tích luỹ (khối lượng cơ thể), sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối và đường cong sinh trưởng

Trang 31

2.1.3.2 Khả năng cho thịt

Khả năng cho thịt được phản ánh qua các chỉ tiêu năng suất và chất lượng thịt Khả năng cho thịt phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, sự phát triển của hệ cơ, kích thước và khối lượng khung xương (Brandshe và Biilchel,

1978 [13])

+ Năng suất thịt

Năng suất thịt hay tỷ lệ thịt xẻ chính là tỷ lệ phần trăm của khối lượng thân thịt so với khối lượng sống của gia cầm Năng suất của các thành phần thân thịt là tỷ lệ phần trăm của các phần so với thân thịt và năng suất cơ là tỷ

lệ phần trăm của cơ so với thân thịt (Chambers J.R, 1990 [60]) Ở ngan thịt thường tính tỷ lệ thịt đùi, thịt ngực và mỡ bụng Ricard và Pouvier, (1967) [75] đã tính toán được mối tương quan giữa khối lượng sống và khối lượng thịt xẻ là khá cao (0,9), còn giữa khối lượng sống và mỡ bụng thì thấp hơn Năng suất thịt còn phụ thuộc vào dòng, giống, tính biệt, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc nuôi dưỡng và qui trình vệ sinh thú y

Tỷ lệ thịt đùi so với khối lượng sống có khuynh hướng giảm đi khi tuổi tăng lên Ngược lại, khối lượng thịt lườn lại tăng lên không ngừng về trị số tuyệt đối cũng như tỷ lệ so với khối lượng sống Đó cũng là một căn cứ quan trọng để lựa chọn tuổi giết mổ thích hợp (Rouvier, 1987 [76])

Powell (1980) [72] cho tỷ lệ thịt xẻ không ngừng thay đổi theo tuổi mà còn có sự khác nhau theo tính biệt Tác giả thí nghiệm ở 2 lứa tuổi khác nhau:

41 ngày và 50 ngày, kết quả cho thấy thịt ức tăng từ 8,9% lên 11,8% ở vịt trống và 10,2% lên 13,4% ở vịt mái

+ Chất lượng thịt

Chất lượng thịt được phản ánh qua thành phần hóa học, thành phần vật lý

và giá trị dinh dưỡng của thịt như nước, protein, mỡ, hydratcacbon, vitamin, khoáng và một số chất cần thiết khác Thành phần hóa học của thịt được xác

Trang 32

định qua phân tích các lượng chất trong thịt Tỷ lệ các chất này trong thịt phụ thuộc vào giống, giới tính và cấu trúc các mô ở các phần khác nhau của thân thịt Ngoài việc thông qua thành phần hóa học của thịt, còn có thể đánh giá chất lượng thịt theo các chỉ tiêu cảm quan (màu sắc, trạng thái, mùi vị) Khả năng giữ nước của thịt, vệ sinh an toàn thực phẩm (các chất tồn dư độc hại: hoocmon kích thích sinh trưởng, kháng sinh, kim loại nặng)

2.1.3.3 Tiêu tốn thức ăn

Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng cơ thể là chỉ tiêu thể hiện tỷ lệ chuyển hoá thức ăn để đạt được tốc độ tăng trọng, vì tăng trọng là một chức năng chính của quá trình chuyển hoá thức ăn, hay nói cách khác tiêu tốn thức

ăn là hiệu suất giữa thức ăn trên một kg tăng khối lượng cơ thể

Chi phí thức ăn chiếm tới 80% giá thành sản phẩm Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại Khi hai cơ thể có cùng một khối lượng xuất phát, để đạt được một khối lượng nhất định nào đó thì cơ thể sinh trưởng chậm mất nhiều thời gian hơn, trong thời gian dài hơn, điều đó dẫn tới tiêu tốn thức ăn cao hơn Mặt khác tăng trọng nhanh thì cơ thể đồng hoá và dị hoá tốt hơn, khả năng trao đổi chất tăng cường hơn, làm cho hiệu quả sử dụng thức ăn cao, dẫn đến tiêu tốn thức ăn thấp Chambers và cộng sự (1984) [61], đã xác định được hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể và tăng trọng với tiêu tốn thức ăn thường là rất cao (0,5-0,9), còn tương quan di truyền giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức

ăn là âm và thấp (-0,2 đến -0,8) Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể còn phụ thuộc vào độ tuổi, khi con vật còn non chỉ tiêu này thấp, càng về sau lượng tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng cơ thể càng cao

Tiêu tốn thức ăn là một chỉ tiêu có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi Do vậy, có rất nhiều công trình nghiên cứu nhằm chọn tạo ra các dòng, giống mới có sức sinh trưởng nhanh và tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng

Trang 33

thấp Và cũng nhiều công trình đi sâu nghiên cứu về chế độ dinh dưỡng nhằm xác định chế độ dinh dưỡng thích hợp cho các dòng và giống mới, từ đó phát huy được các tiềm năng sinh trưởng và đem lại hiệu quả kinh tế cao

2.1.4 Cơ sở khoa học của lai kinh tế

2.1.4.1 Cơ sở khoa học của lai kinh tế

Lai kinh tế là lai giữa hai cơ thể thuộc hai dòng khác nhau cùng giống, khác giống hoặc thuộc hai giống khác loài (chủng),… để sử dụng con lai F1 làm sản phẩm Con lai này không để làm giống mà chỉ để lấy sản phẩm thịt, sữa, trứng… thường chủ yếu lấy thịt hay tăng sinh trưởng Lai kinh tế được gọi là lai công nghiệp vì chỉ dùng F1 làm sản phẩm nên sản phẩm có thể sản xuất nhanh, hàng loạt, có chất lượng trong một đơn vị thời gian tương đối ngắn (Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện, 1995) [29]

Tiến hành lai kinh tế để sử dụng ưu thế lai vì ưu thế lai làm tăng mức trung bình tính trạng giữa hai giống gốc, hai dòng thuần, nhất là đối với các tính trạng khối lượng, tăng trọng, tăng chiều dài, chiều ngang Con lai có thể mang những đặc tính trội của giống gốc bố, hoặc có thể phối hợp được những đặc tính của hai giống gốc hoặc vẫn giữ nguyên tính bảo thủ của một trong hai giống gốc

Năng suất vật nuôi phụ thuộc hai yếu tố, đó là bản chất di truyền và ngoại cảnh Do vậy, trong chăn nuôi có hai hướng chủ yếu để nâng cao năng suất vật nuôi đó là:

Cải tiến bản chất di truyền của vật nuôi

Cải tiến phương pháp chăn nuôi

Trong công tác giống kể từ những giống vật nuôi đầu tiên được tạo ra từ cuối thế kỷ 18, các giống mới thường được hình thành bằng con đường lai tạo

và những giống gốc ban đầu ít nhiều có pha máu giữa nhiều giống khác nhau Cho đến nay việc tạo ra sản phẩm các loại như: thịt, sữa, trứng, lông… phần

Trang 34

lớn cũng đều được thông qua lai tạo và việc lai tạo cũng đã có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng của sản phẩm (Trần Đình Miên và Nguyễn Văn Thiện, 1995) [29]

Trong lịch sử nghiên cứu về lai tạo, Darwin là người đầu tiên đã nêu lên lợi ích của lai tạo và đi đến kết luận là lai có lợi, tự giao là có hại đối với động vật Lai tạo còn nhằm sử dụng hiện tượng sinh học quan trọng đó là ưu thế lai (Hetorosis) làm cho sức sống của con vật, sức đề kháng đối với bệnh tật và các tính trạng kinh tế được nâng cao, đồng thời thông qua các chỉ tiêu kinh tế

kỹ thuật của tổ hợp lai, ưu thế lai làm căn cứ cho việc chọn lọc giống gia súc (Lê Đình Lương và Phan Cự nhân, 1994) [24]

Trong quá trình nghiên cứu di truyền, nguyên tắc hoàn toàn mới được Mendel đưa vào để nghiên cứu đó là phương pháp lai, liên quan đến việc nghiên cứu đặc điểm di truyền của từng tính trạng và đặc tính riêng rẽ Phương pháp này do ông phát hiện và hình thành nên những quy luật cơ bản của di truyền Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992) [28] thì căn

cứ vào mục đích của lai tạo người ta thường áp dụng những phương pháp lai khác nhau như: lai kinh tế, lai luân chuyển, lai cải tiến (lai pha máu), lai cải tạo, lai phối hợp (lai tạo thành) Lai kinh tế là phương pháp lai phổ biến nhất Lai kinh tế có lai đơn giản và lai phức tạp Quá trình nghiên cứu lai kinh

tế người ta quan tâm tới khả năng phối hợp (Nicking) Đó là cách chọn những con giống gốc lai với nhau nhằm tạo nên những tổ hợp gen mới, các tính trạng vốn có ở giống gốc nhưng ở mức cao hơn theo mục đích thể hiện ở con lai Theo Lê Thanh Hải (1978) [14] và các tác giả khác đã trình bày các cơ sở di truyền của việc chọn giống gia cầm về khả năng phối hợp, cũng như xem xét một loạt vấn đề có liên quan tới việc đánh giá hệ số di truyền các tính trạng khác nhau trong khi lai gia cầm

Để lai kinh tế có hiệu quả phải chọn lọc tốt các dòng thuần, trong quần

Trang 35

thể các cá thể dị hợp sẽ giảm đi và các cá thể đồng hợp tử sẽ tăng lên (Nguyễn

Ân và cộng sự, 1983) [3] Trong giống bao gồm các dòng, mỗi dòng có đặc điểm chung của giống nhưng lại có đặc điểm di truyền riêng biệt Sự khác biệt mỗi dòng về kiểu gen chính là yếu tố quyết định sẽ xuất hiện ưu thế lai, nhưng nếu sự khác biệt quá xa thì khi cho lai không có sự kết hợp Theo tài liệu của Abtopute (1968) thì muốn đạt được ưu thế lai siêu trội thì phải cho giao phối giữa các dòng xuất phát khác nhau về kiểu gen nhưng phải có khả năng kết hợp tốt với nhau

Gia cầm lai do sự giao phối giữa hai hay nhiều dòng trong cùng một giống hay nhiều giống phối hợp được nhiều đặc trưng kinh tế có lợi, vì vậy mỗi chức năng sinh lý sinh hoá của chúng được tăng cường và do đó năng suất càng được tăng lên

Trong việc lai giữa dòng người ta dùng nhiều phương pháp chọn giống khác nhau làm cho sự phối hợp giữa các dòng mang lại được hiệu quả của ưu thế lai Không phải bất cứ dòng nào đem lai cũng đạt được hiệu quả của ưu thế lai theo ý muốn, người ta chỉ cho lai những dòng có khả năng phối hợp tốt Để xác định được khả năng phối hợp đó người ta dùng phương pháp cho phối giống giữa các dòng rồi kiểm tra đánh giá chất lượng thế hệ sau

Muốn đạt được sự phối hợp cao giữa các dòng, công tác chọn giống phải

đi theo một hướng nhất định nếu không sự phối hợp giữa các dòng sẽ kém, năng suất, chất lượng con lai sẽ bị giảm sút Bởi vậy người ta không thể tạo ra được những gia cầm lai tốt bằng cách cho giao phối một cách tình cờ và tuỳ tiện giữa các dòng Muốn gia cầm có năng suất cao, phải cho giao phối giữa các dòng đã quy định, những dòng này đã được phối hợp về năng suất, chất lượng theo một phương pháp chọn giống nhất định và được thực hiện trong

cơ sở giống

Theo Phan Cự Nhân (1971) [32], gia cầm lai cũng là một phương pháp

Trang 36

phổ biến ở nhiều nước vì người ta đã xác định rõ về mặt di truyền là gia cầm

dị hợp tử có năng suất cao hơn gia cầm đồng hợp tử

Trong tất cả những khía cạnh phân tích trên thì vấn đề ở chỗ lựa chọn những con giống có giá trị di truyền cộng gộp mạnh nhất Nhưng chúng ta cũng thấy rằng đối với một số tính trạng nhất là tính trạng về sinh sản phần phương sai cộng gộp trong tổng cộng phương sai là rất nhỏ, như vậy có rất ít sai khác về giá trị cộng gộp giữa những cá thể cấu thành quần thể Trong những điều kiện đó, điều lôgic là tìm cách sử dụng những thành phần không cộng gộp của giá trị tức là những mối tác động qua lại (tính trội và những mối tác động qua lại giữa các lôcut) Những mối tác động qua lại này chủ yếu thể hiện qua hiện tượng ưu thế lai được quan sát thấy ở những cơ thể lai Những phương pháp chọn giống tìm cách sử dụng nguồn biến dị đó chủ yếu dựa vào

sự lai giống Người ta có thể dùng lai giữa các dòng hay tạo ra những dòng đồng huyết và cho chúng lai với nhau (Nguyễn Quang Thái, 1982 [37])

Hiện nay nhiều hãng gia cầm lớn với trang thiết bị kỹ thuật hiện đại đã đi vào sản xuất, thích ứng với trang thiết bị đó và để tăng năng suất trứng và năng suất thịt, hầu hết các nước có ngành chăn nuôi gia cầm phát triển đều không chỉ sử dụng gia cầm lai giữa giống vì chúng không còn đáp ứng được những đòi hỏi về năng suất của ngành chăn nuôi gia cầm theo quy mô công nghiệp chuyên môn hoá Vì vậy, hiện nay người ta chú ý rất nhiều đến phương pháp lai giữa dòng

Trong chăn nuôi gia cầm, tuỳ theo điều kiện và mục đích khác nhau mà người ta sử dụng lai đơn hay lai kép

* Lai đơn

Là phương pháp lai kinh tế đơn giản nhưng vẫn phát huy tốt ưu thế lai Lai đơn thường được áp dụng để lai một số giống cao sản có năng suất thịt hoặc trứng cao với một số giống có tầm vóc nhỏ, năng suất thấp hơn nhưng có khả

Trang 37

năng tận dụng thức ăn cao, khả năng chống chịu bệnh và ngoại cảnh cao

Ở Việt nam, nhiều tác giả đã cho lai vịt Bắc kinh với vịt cỏ (Lê Xuân Đồng và cộng sự, 1989) [11], vịt Anh Đào với vịt Cỏ hoặc vịt Bầu (Đào Đức Long, 1973 [23]; Vũ Tuyên Hoàng và cộng sự, 1990 [17]; Nguyễn Song Hoan, 1993 [16]) để tạo con lai thương phẩm có năng suất thịt cao hơn các giống vịt nội Phạm Văn Trượng, (1995) [56] đã cho lai vịt CV Super M với vịt Anh Đào Hung và vịt Anh Đào Tiệp đã cho năng suất siêu trội vượt so với trung bình bố mẹ chúng từ 4,19 - 5,48%

Đối với ngan, Hoàng Văn Tiệu và cộng sự, 2008 [52] đã cho lai giữa ngan VS1 x V72, VS1 x V52; Trần Thị Cương (2003) [6] cho lai giữa ngan pháp R51 với ngan siêu nặng

Lai đơn còn được áp dụng giữa hai dòng trong cùng một giống, hoặc hai giống khác nhau để tạo con lai thương phẩm có năng suất không chỉ hơn bố hoặc mẹ mà thậm chí có thể cao hơn cả bố và mẹ ở một vài tính trạng

* Lai kép

Là phương pháp lai phức tạp hơn Người ta thường dùng ba, bốn dòng trong cùng một giống hoặc ba, bốn giống khác nhau để tạo tổ hợp lai phát huy được khả năng phối hợp và ưu thế lai cao nhất

Trong chăn nuôi gà người ta áp dụng lai giữa ba, bốn dòng để tạo tổ hợp lai thương phẩm có năng suất cao

Đối với thuỷ cầm cũng đã có nhiều tác giả sử dụng lai kép giữa ba, bốn dòng hoặc giống như: Đặng Hữu Lanh và cộng sự (1985) [22] đã tiến hành lai kinh tế ba giống (Cỏ x Bầu) x Anh đào, Hoàng Văn Tiệu và cộng sự (2009) [53] cho lai kinh tế giữa 3 dòng VS1 x (V72 x V52) và VS1 x (V52 x V72) để tạo con lai có năng suất cao hơn và chất lượng thịt được người tiêu dùng ưa thích

2.1.4.2 Cơ sở khoa học của ưu thế lai

* Khái niệm về ưu thế lai

Trang 38

Ưu thế lai là hiện tượng sinh học biểu hiện ở sự phát triển mạnh mẽ có thể của những cá thể do lai tạo những con gốc không cùng huyết thống Cũng có thể hiểu ưu thế lai theo nghĩa toàn bộ tức là sự phát triển toàn khối của cơ thể con vật, sự gia tăng cường độ trong quá trình trao đổi chất, sự tăng thêm các tính trạng sản xuất…Mặt khác có thể ưu thế lai theo từng mặt tính trạng một,

có khi chỉ là một vài tính trạng phát triển còn các tính trạng khác giữ nguyên,

có tính trạng giảm đi (Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện, 1995) [29]

Nói chung, người ta có thể biểu thị ưu thế lai là sự tăng sức sống và tăng cường thể trọng, trong đó các cá thể lai khác loài, khác giống và khác dòng thường vượt cả hai bố mẹ chúng Ưu thế lai có thể biểu hiện qua hiện tượng sinh trưởng nhanh hơn, kích thước cơ thể tăng lên, sức sản xuất, sức sống tăng Theo Lasley (1974) [15], ưu thế lai là hiện tượng sinh học chỉ sự tăng sức sống của đời con so với bố mẹ khi có sự giao phối giữa cá thể không thân thuộc Ưu thế lai không chỉ bao gồm sức chịu đựng, nó bao hàm cả sự giảm

độ tử vong, tăng tốc độ sinh trưởng, tăng sức sản xuất và độ mắn đẻ, vì vậy người ta xem hiện tượng đó như một sinh lực

Theo Lê Đình Lương và Phan Cự Nhân (1994) [24], khi lai các loài, chủng, giống hoặc các dòng nội khác nhau phối với nhau thì dạng lai F1 thường vượt các dạng bố mẹ ban đầu về tốc độ sinh trưởng, về khả năng sử dụng chất dinh dưỡng, tính chống chịu bệnh tật Ưu thế lai làm tăng sức sống, sức chịu đựng về năng suất của đời con do giao phối không cận huyết và nuôi trong điều kiện khác nhau

Nhìn chung ưu thế lai là một hiện tượng sinh học thể hiện trên nhiều mặt, thế hệ lai hơn hẳn bố mẹ về tốc độ sinh trưởng , khả năng sinh sản, khả năng sống, chất lượng thịt, khối lượng trứng, thời gian của chu kỳ đẻ trứng, sự chuyển hoá thức ăn và những đặc tính kinh tế có lợi khác từ đó năng suất của con lai được nâng lên

Trang 39

Theo Nguyễn Ân và cộng sự (1983) [3] thì trong chăn nuôi việc lai các

cá thể khác dòng, khác giống, khác chủng nói chung đã có xuất hiện ưu thế lai

ở các tính trạng sản xuất Ưu thế lai trong chăn nuôi thể hiện đa dạng khó xếp loại thật rành mạch, nhưng một điều thể hiện rõ nhất là: con lai F1 có ưu thế lai cao hơn so với bất kỳ con lai nào ở các thế hệ tiếp theo là F2, F3, …Fn, song dựa vào sự biểu hiện của tính trạng mà người ta thấy ưu thế lai ở động vật có thể phân thành các loại sau:

Con lai F1 vượt bố mẹ về khối lượng và sức sống

Con lai F1 có khối lượng cơ thể ở mức độ trung gian giữa hai giống song khả năng sinh sản và sức sống có thể hơn hẳn bố mẹ

Con lai F1 trội hơn bố mẹ về thể chất, vững chắc tuổi thọ, sức làm việc, song nó mất một phần hoặc hoàn toàn khả năng sinh sản

Theo Lasley (1974) [15]: ưu thế lai thường được biểu hiện bằng giá trị %

và tính theo công thức sau:

* Bản chất di truyền của ưu thế lai

Bản chất di truyền của ưu thế lai là trạng thái dị hợp tử ở con lai, từ đó người ta nêu ra 3 giả thuyết để giải thích về ưu thế lai (Nguyễn Ân và cộng sự, 1983 [3]) (Lê Thị Ánh Hồng và cộng sự, 1995 [18]), (Nguyễn Văn Thiện, 1995 [40])

+ Thuyết tập trung các gen trội có lợi

Trong quá trình tiến hóa, dưới áp lực của chọn lọc tự nhiên, các gen trội

Trang 40

bất lợi bị đào thải, gen trội có lợi được nhân lên Trong khi đó các gen lặn bất lợi vẫn tồn tại ở trạng thái dị hợp, bên cạnh các gen trội có lợi Khi giao phối cận huyết, các quần thể sẽ phân hóa thành các dòng khác nhau ở trạng thái đồng hợp theo các gen trội có lợi khác nhau Khi lai các dòng này với nhau dẫn đến con lai F1 tập hợp được các gen trội có lợi ở các bố và các mẹ làm xuất hiện ưu thế lai Ví dụ có 5 locus gen cùng tham gia hình thành một tính trạng kinh tế Người ta cho rằng mỗi gen trội hoặc mỗi đôi gen lặn chỉ làm tăng giá trị tính trạng là 2 đơn vị (AA = Aa = 2) Mỗi đôi gen lặn chỉ làm tăng giá trị tính trạng lên 1 đơn vị (aa = 1), ta có AA = Aa > aa Khi lai hai dòng cận huyết, con lai F1 có các tính trạng kinh tế cao hơn cả bố và mẹ, xuất hiện ưu thế lai

P Kiểu gen: AAbbCCddEE (P1) x aaBBccDDee (P2)

+ Thuyết dị hợp và siêu trội

Thuyết dị hợp: chính sự dị hợp của nhiều gen làm xuất hiện ưu thế lai Các gen khác nhau ở cùng một locus tổng hợp các protein chức năng khác nhau trong quá trình phát triển, nhờ vậy chúng bổ sung cho nhau làm xuất hiện ưu thế lai

Thuyết siêu trội: dựa vào thuyết dị hợp phát triển thêm, các gen ở trạng thái dị hợp có sự tương tác với nhau mạnh hơn so với các gen đồng hợp Kết quả làm xuất hiện ưu thế lai ở F1: Aa > AA > aa

Có thể minh họa thuyết dị hợp và siêu trội, giải thích ưu thế lai như sau: Giả sử có 5 cặp gen tham gia xác định một tính trạng kinh tế Các kiểu gen đồng hợp lặn đóng góp 1 đơn vị tính trạng, các kiểu gen đồng hợp trội

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Tấn Anh và cộng sự (1992). “Kết quả thụ tinh nhân tạo ngan” Thông tin khoa học kỹ thuật - Viện chăn nuôi 1-2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả thụ tinh nhân tạo ngan
Tác giả: Nguyễn Tấn Anh và cộng sự
Năm: 1992
2. Nguyễn Ân (1977), “Đặc tính sinh thái, cấu tạo hóa học và hóa sinh học của trứng gà ri 11 tháng tuổi”, Tạp trí khoa học và kỹ thuật nông nghiệp, số 182, tháng 8/1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc tính sinh thái, cấu tạo hóa học và hóa sinh học của trứng gà ri 11 tháng tuổi
Tác giả: Nguyễn Ân
Năm: 1977
3. Nguyễn Ân, Hoàng Gián, Lê Viết Ly, Nguyễn Văn Thiện, Trần Xuân Thọ (1983), Di truyền học động vật, Nhà Xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, trang 86, 88, 185, 196-198,200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền học động vật
Tác giả: Nguyễn Ân, Hoàng Gián, Lê Viết Ly, Nguyễn Văn Thiện, Trần Xuân Thọ
Nhà XB: Nhà Xuất bản Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1983
4. Nguyễn Ân, Trần Cừ, Nguyễn Mộng Hùng, Lê Đình Lương (Kushner KF) (1969), “Cơ sở di truyền học của việc sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi”, trích cuốn “ Nhũng cơ sở di truyền học chọn giống và động vật”, nhà xuất bản Matxcova Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở di truyền học của việc sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi”", trích cuốn “ Nhũng cơ sở di truyền học chọn giống và động vật
Tác giả: Nguyễn Ân, Trần Cừ, Nguyễn Mộng Hùng, Lê Đình Lương (Kushner KF)
Nhà XB: nhà xuất bản Matxcova
Năm: 1969
5. Tạ An Bình (1973), “Những kết quả bước đầu về lai kinh tế gà”, Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Những kết quả bước đầu về lai kinh tế gà”
Tác giả: Tạ An Bình
Năm: 1973
6. Trần Thị Cương (2003), “Nghiên cứu khả năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa hai dòng ngan Pháp R51 và Siêu nặng”, Luận văn thạc sỹ KHCN – Viện KHCN nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa hai dòng ngan Pháp R51 và Siêu nặng”
Tác giả: Trần Thị Cương
Năm: 2003
7. Bạch Thị Thanh Dân (1999), Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ấp nở trứng ngan bằng phương pháp ấp trứng nhân tạo, Luận án tiến sỹ nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ấp nở trứng ngan bằng phương pháp ấp trứng nhân tạo
Tác giả: Bạch Thị Thanh Dân
Năm: 1999
8. Lê Tiến Dũng (2008), “Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà lai TP2 và khả năng cho thịt của tổ hợp lai giữa gà trống Sasso x 44 với gà mái TP2”, Luận văn thạc sỹ nông nghiệp, tr. 91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà lai TP2 và khả năng cho thịt của tổ hợp lai giữa gà trống Sasso x 44 với gà mái TP2
Tác giả: Lê Tiến Dũng
Năm: 2008
10. Phan Sỹ Điệt (Gudeil) (1975), “Nguyên lý sinh học của năng suất động vật”, nhà xuất bản KHCN nông nghiệp – 1975, trang 283, 338 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên lý sinh học của năng suất động vật”
Tác giả: Phan Sỹ Điệt (Gudeil)
Nhà XB: nhà xuất bản KHCN nông nghiệp – 1975
Năm: 1975
11. Lê Xuân Đồng, Hoàng Thị Lan, Lương Thị Bột (1989), “Sản lượng trứng của vịt F1, F2 Anh Đào x Cỏ”, Tạp chí khoa học và kỹ thuật nông nghiệp, số 319, tháng 1/1989 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Sản lượng trứng của vịt F1, F2 Anh Đào x Cỏ”
Tác giả: Lê Xuân Đồng, Hoàng Thị Lan, Lương Thị Bột
Năm: 1989
12. Hutt F.B (1978), Di truyền học động vật (người dịch Phan Cự Nhân), Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, trang 349 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền học động vật
Tác giả: Hutt F.B
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1978
13. H.Brandshe, H.Billchel (1978), “Cơ sở của sự nhân giống và di truyền giống gia cầm”, Cơ sở sinh học của chọn giống và nuôi dưỡng gia cầm (Nguyễn Chí Bảo, dịch). Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, trang 22 – 25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở của sự nhân giống và di truyền giống gia cầm
Tác giả: H.Brandshe, H.Billchel
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
Năm: 1978
14. Lê Thanh Hải (1978), “Các vấn đề chọn giống gia cầm”. Tạp chí KHKT nông nghiệp, số 190 tháng 4/1979 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Các vấn đề chọn giống gia cầm”
Tác giả: Lê Thanh Hải
Năm: 1978
15. Nguyễn Phúc Giác Hải, Lasley J.F (1974), “Di truyền học ứng dụng vào cải tạo gia súc”, nhà xuất bản KHKT, tr 281 – 283 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền học ứng dụng vào cải tạo gia súc”
Tác giả: Nguyễn Phúc Giác Hải, Lasley J.F
Nhà XB: nhà xuất bản KHKT
Năm: 1974
16. Nguyễn Song Hoan (1993), Một số đặc điểm sinh học và tính năng sản xuất của vịt Anh Đào, vịt Bầu và vịt Lai Anh Đào x Bầu nuôi theo phương thức chăn thả tại Thanh Hóa, Luận án phó tiến sỹ khoa học sinh học, Hà Nội 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm sinh học và tính năng sản xuất của vịt Anh Đào, vịt Bầu và vịt Lai Anh Đào x Bầu nuôi theo phương thức chăn thả tại Thanh Hóa
Tác giả: Nguyễn Song Hoan
Năm: 1993
17. Vũ Tuyên Hoàng, Lê Hồng Mận, Trần Thế Dị và cộng sự (1990), Kết quả lai tạo vịt Bạch Tuyết từ vịt Anh Đào (Chery Valley) và vịt cỏ, Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm - liên hiệp xí nghiệp gia cầm Việt Nam, số 361-NN-KHKT/QĐ, tháng 10 năm 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả lai tạo vịt Bạch Tuyết từ vịt Anh Đào (Chery Valley) và vịt cỏ
Tác giả: Vũ Tuyên Hoàng, Lê Hồng Mận, Trần Thế Dị và cộng sự
Năm: 1990
18. Lê Thị Ánh Hồng, Nguyễn Hữu Đống, Đặng Thị Chín (1995), “Ưu thế lai và việc sử dụng nó trong tạo giống cà chua”, Tạp chí sinh học, Hà Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ưu thế lai và việc sử dụng nó trong tạo giống cà chua”, "Tạp chí sinh học
Tác giả: Lê Thị Ánh Hồng, Nguyễn Hữu Đống, Đặng Thị Chín
Năm: 1995
19. Nguyễn Đức Hưng ( M. Nugene, Hays) (1981), “Nghiên cứu các tổ hợp lai giữa gà nhập nội và gà Ri”, Luận văn khoa học cấp 1 ĐHNN II – 1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các tổ hợp lai giữa gà nhập nội và gà Ri”
Tác giả: Nguyễn Đức Hưng ( M. Nugene, Hays)
Năm: 1981
20. Jonhanson (1972), “Cơ sở di truyền của nghiên cứu và chọn giống động vật” (người dịch Phạm Cự Nhân, Trần Đình Miên, Tạ Toàn, Trần Đình Trọng). Nhà xuất bản KHKT, tr 254 – 274 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở di truyền của nghiên cứu và chọn giống động vật”
Tác giả: Jonhanson
Nhà XB: Nhà xuất bản KHKT
Năm: 1972
21. Khavecman (1972), “Sự di truyền năng suất ở gia cầm”, Cơ sở di truyền của năng suất và chọn giống động vật, tập 2, Johansson chủ biên, Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên, Trần Đình Trọng dịch, Nhà Xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, trang 31, 34-37, 49, 51, 53, 70, 88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự di truyền năng suất ở gia cầm”, "Cơ sở di truyền của năng suất và chọn giống động vật
Tác giả: Khavecman
Nhà XB: Nhà Xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1972

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

3.1  Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên đàn ngan sinh sản  44 3.2  Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên đàn ngan thương phẩm  44 - Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của hai dòng ngan thuần VS1, v72 và con lai thương phẩm hướng thịt VS172
3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên đàn ngan sinh sản 44 3.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm trên đàn ngan thương phẩm 44 (Trang 7)
Bảng 4.1. Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn con, dò, hậu bị (đvt: %) - Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của hai dòng ngan thuần VS1, v72 và con lai thương phẩm hướng thịt VS172
Bảng 4.1. Tỷ lệ nuôi sống giai đoạn con, dò, hậu bị (đvt: %) (Trang 63)
Bảng 4.2. Khối lượng cơ thể ngan giai đoạn ngan con, dò, hậu bị (đvt: g) - Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của hai dòng ngan thuần VS1, v72 và con lai thương phẩm hướng thịt VS172
Bảng 4.2. Khối lượng cơ thể ngan giai đoạn ngan con, dò, hậu bị (đvt: g) (Trang 64)
Bảng 4.3.  Lượng thức ăn tiêu thụ cho 1 ngan bố mẹ từ 1-24 tuần tuổi (đvt: kg) - Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của hai dòng ngan thuần VS1, v72 và con lai thương phẩm hướng thịt VS172
Bảng 4.3. Lượng thức ăn tiêu thụ cho 1 ngan bố mẹ từ 1-24 tuần tuổi (đvt: kg) (Trang 66)
Bảng 4.4.  Tuổi đẻ, khối lượng trứng của ngan - Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của hai dòng ngan thuần VS1, v72 và con lai thương phẩm hướng thịt VS172
Bảng 4.4. Tuổi đẻ, khối lượng trứng của ngan (Trang 69)
Bảng 4.5. Khối lượng cơ thể ngan mái ở 25-38 tuần tuổi (g) - Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của hai dòng ngan thuần VS1, v72 và con lai thương phẩm hướng thịt VS172
Bảng 4.5. Khối lượng cơ thể ngan mái ở 25-38 tuần tuổi (g) (Trang 71)
Bảng 4.6. Năng suất trứng/chu kỳ 1 và thức ăn tiêu tốn/10 trứng - Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của hai dòng ngan thuần VS1, v72 và con lai thương phẩm hướng thịt VS172
Bảng 4.6. Năng suất trứng/chu kỳ 1 và thức ăn tiêu tốn/10 trứng (Trang 73)
Đồ thị 4.1. Năng suất trứng - Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của hai dòng ngan thuần VS1, v72 và con lai thương phẩm hướng thịt VS172
th ị 4.1. Năng suất trứng (Trang 74)
Bảng 4.7. Kết quả khảo sát chất lượng trứng - Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của hai dòng ngan thuần VS1, v72 và con lai thương phẩm hướng thịt VS172
Bảng 4.7. Kết quả khảo sát chất lượng trứng (Trang 75)
Bảng 4.8. Tỷ lệ trứng có phôi và kết quả ấp nở - Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của hai dòng ngan thuần VS1, v72 và con lai thương phẩm hướng thịt VS172
Bảng 4.8. Tỷ lệ trứng có phôi và kết quả ấp nở (Trang 77)
Bảng 4.9. Kích thước một số chiều đo (đvt:cm) - Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của hai dòng ngan thuần VS1, v72 và con lai thương phẩm hướng thịt VS172
Bảng 4.9. Kích thước một số chiều đo (đvt:cm) (Trang 79)
Bảng 4.10. Tỷ lệ nuôi sống qua các tuần tuổi (đvt: %) - Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của hai dòng ngan thuần VS1, v72 và con lai thương phẩm hướng thịt VS172
Bảng 4.10. Tỷ lệ nuôi sống qua các tuần tuổi (đvt: %) (Trang 80)
Bảng 4.11. Khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi (đvt:g) - Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của hai dòng ngan thuần VS1, v72 và con lai thương phẩm hướng thịt VS172
Bảng 4.11. Khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi (đvt:g) (Trang 81)
Đồ thị 4.3. Khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi - Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của hai dòng ngan thuần VS1, v72 và con lai thương phẩm hướng thịt VS172
th ị 4.3. Khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi (Trang 84)
Bảng 4.12.  Sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối ngan thương phẩm - Đánh giá khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt của hai dòng ngan thuần VS1, v72 và con lai thương phẩm hướng thịt VS172
Bảng 4.12. Sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối ngan thương phẩm (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w