Xuất phỏt từ thực tế đú, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Kim Oanh, chỳng tụi thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của một số yếu tố Trang 13 1.2 Mục đớch và yờu cầu của đề tài 1.2.1 Mụ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM OANH
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Sâm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp ngoài sự cố gắng của bản thân tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn bè và người thân
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Kim Oanh, Bộ môn Côn trùng Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
và hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin được gửi lời chân thành cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Khoa Nông học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới lãnh đạo, cán bộ, bà con nhân dân xã Quỳnh Minh, Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình Cán bộ phòng Nông nghiệp huyện Quỳnh Phụ đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả người thân, bạn bè và những người luôn bên cạnh động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện bản luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Sâm
Trang 42.2 Tình hình sản xuất ớt ở huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình 3
2.4.3 Những nghiên cứu về đặc tính sinh học, sinh thái học của bọ trĩ 14
Trang 53 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
3.2 Đối tượng, nội dung, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu: 18
3.3.1 Điều tra xác định thành phần bọ trĩ hại ớt 19 3.3.2 Phương pháp điều tra diễn biến mật độ bọ trĩ trên ớt 19 3.3.3 Phương pháp xác định sự phân bố, vị trí gây hại của bọ trĩ trên cây ớt 20 3.3.4 Phương pháp xác định ảnh hưởng của một số điều kiện tới sự gây hại
4.1 Kết quả nghiên cứu về thành phần loài, phạm vi kí chủ, và triệu chứng
của bọ trĩ hại ớt tại Quỳnh phụ, Thái Bình năm 2013 – 2014 26 4.1.1 Thành phần, mức độ phổ biến của bọ trĩ hại ớt 26 4.1.2 Đặc điểm hình thái của các loài bọ trĩ hại ớt 27
4.2 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số gây hại trên ớt 33 4.2.1 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số hại ớt vụ hè thu 2013 tại Quỳnh Phụ,
4.2.2 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số hại ớt vụ đông 2013-2014 tại Quỳnh
Trang 64.3 Sự phân bố của bọ trĩ trên cây ớt 37 4.3.1 Sự phân bố của bọ trĩ trên cây ớt vụ hè thu 2013 37 4.3.2 Sự phân bố của bọ trĩ trên cây ớt vụ đông 2013 tại xã Quỳnh Minh,
4.4 Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới sự phát sinh và gây hại của
Trang 7DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
Từ và cụm từ viết tắt Từ viết tắt
Thrips palmi T palmi
Scirtothrips dorsalis S dorsalis
Frankliniella intonsa F intonsa
Orius sauteri O sauteri
Trang 8DANH MỤC BẢNG
2.1 Tình hình sản xuất ớt tại huyện Quỳnh Phụ (2008 – 2013) 4 4.1 Thành phần và mức độ phổ biến của các loài bọ trĩ hại ớt năm 2013-
4.2 Thành phần cây ký chủ của bọ trĩ tại Quỳnh Phụ, Thái Bình (từ tháng
4.3 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số hại giống ớt cay Red chili F1 vụ hè thu
4.4 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số hại giống ớt cay Red chili F1 vụ đông
4.5 Sự phân bố của bọ trĩ trên các lá của cây ớt giai đoạn cây con, vụ hè
thu 2013 tại xã Quỳnh Hải, Quỳnh Phụ, Thái Bình 38 4.6 Sự phân bố của bọ trĩ trên các bộ phận của cây ớt giai đoạn phát triển
thân lá, vụ hè thu 2013 tại xã Quỳnh Hải, Quỳnh Phụ, Thái Bình 39 4.7 Sự phân bố của bọ trĩ trên các bộ phận của cây ớt giai đoạn hoa rộ, vụ
hè thu 2013 tại xã Quỳnh Hải, Quỳnh Phụ, Thái Bình 40 4.8 Sự phân bố của bọ trĩ trên các bộ phận của cây ớt giai đoạn quả rộ, vụ
hè thu 2013 tại xã Quỳnh Hải, Quỳnh Phụ, Thái Bình 42 4.9 Sự phân bố của bọ trĩ trên các bộ phận của cây ớt giai đoạn thu hoạch,
vụ hè thu 2013 tại xã Quỳnh Hải, Quỳnh Phụ, Thái Bình 43 4.10 Sự phân bố của bọ trĩ trên các lá của cây ớt giai đoạn cây con, vụ đông
2013 tại xã Quỳnh Minh, Quỳnh Phụ, Thái Bình 44 4.11 Sự phân bố của bọ trĩ trên các lá của cây ớt giai đoạn phát triển thân
lá, vụ đông 2013 tại xã Quỳnh Minh, Quỳnh Phụ, Thái Bình 45 4.12 Sự phân bố của bọ trĩ trên các bộ phận của cây ớt giai đoạn hoa rộ,
quả rộ, thu hoạch vụ đông 2013 tại xã Quỳnh Minh, Quỳnh Phụ, Thái
Trang 94.13 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số trên 3 giống ớt cay vụ đông 2013 tại
4.14 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số trên ớt ở các thời vụ trồng khác nhau
4.15 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số hại giống ớt cay Red chili F1 trên các
chân đất vụ đông 2013 tại xã Quỳnh Minh, Quỳnh Phụ, Thái Bình 50 4.16 Số lượng bọ trĩ vào bẫy và mật độ bọ trĩ trên cây ớt tại Quỳnh Phụ,
4.17 Hiệu lực phòng trừ của một số thuốc hoá học đối với bọ trĩ tổng số hại
Trang 10DANH MỤC HÌNH
3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm tìm hiểu ảnh hưởng của thời vụ trồng ớt cay
3.2 Sơ đồ thí nghiệm tìm hiểu ảnh hưởng của giống ớt cay đến sự phát
4.1 Đặc điểm hình thái của Frankliniella intonsa Trybom 28 4.2 Trưởng thành và ấu trùng loài Scirtothrips dorsalis 29
4.5a Mặt dưới lá ớt không bị bọ trĩ T palmi hại 32
4.8 Diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số hại giống ớt cay Red chili F1 ở hai vụ
hè thu và vụ đông 2013 tại Quỳnh Phụ, Thái Bình 37 4.9 Sự phân bố của bọ trĩ trên các lá của cây ớt giai đoạn cây con vụ hè
thu 2013 tại xã Quỳnh Hải, Quỳnh Phụ, Thái Bình 38 4.10 Sự phân bố của bọ trĩ trên các lá của cây ớt giai đoạn phát triển thân lá
vụ hè thu 2013 tại xã Quỳnh Hải, Quỳnh Phụ, Thái Bình 40 4.11 Sự phân bố của bọ trĩ trên các bộ phận của cây ớt giai đoạn hoa rộ 41 4.12 Sự phân bố của bọ trĩ trên các bộ phận của cây ớt giai đoạn quả rộ vụ
hè thu 2013 tại xã Quỳnh Hải, Quỳnh Phụ, Thái Bình 42 4.13 Sự phân bố của bọ trĩ trên các bộ phận của cây ớt giai đoạn thu hoạch
vụ hè thu 2013 tại xã Quỳnh Hải, Quỳnh Phụ, Thái Bình 43
Trang 114.14 Diễn biến tỷ lệ hại do bọ trĩ tổng số hại trên các giống ớt vụ đông
2013 tại xã Quỳnh Minh, Quỳnh Phụ, Thái Bình 47
4 15 Diễn biến tỷ lệ hại do bọ trĩ tổng số hại trên ớt ở các thời vụ trồng
khác nhau tại xã Quỳnh Hải, Quỳnh Phụ, Thái Bình 49
4 16 Diễn biến tỷ lệ hại do bọ trĩ tổng số hại trên giống ớt cay Red chili F1
trên các chân đất vụ đông 2013 tại xã Quỳnh Minh, Quỳnh Phụ, Thái
Trang 121 MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cây ớt (Capsicum annum L.) là loài cây trồng quan trọng thứ hai (sau cây cà
chua) trong các loại cây rau ăn quả thuộc họ cà Cây ớt vừa được sử dụng như một loại rau sạch ăn quả cao cấp như ớt ngọt, vừa là cây gia vị phục vụ cho bữa ăn hằng ngày như ớt cay Sử dụng quả tươi, lá non xào và nấu canh, quả ớt dùng để chế biến muối chua, nước sốt, nước ép, phơi khô, nghiền bột, đóng hộp xuất khẩu…Ớt không chỉ là gia vị tươi mà còn được sử dụng trong công nghiệp chế biến thực phẩm và dược liệu để bào chế các thuốc trị ngoại khoa như phong tê thấp, nhức mỏi, cảm lạnh hay nội khoa như thương hàn, cảm phổi, thiên thời…nhờ tính chất Capsaicinie chứa trong quả
ớt Trong quả ớt có chứa các loại Vitamin A, C, D, các chất khoáng là Ca, Fe, Na, P, S…và 1 số các axit amin, ngoài ra còn có protein và chất béo
Trồng ớt mang lại hiệu quả kinh tế cao gấp 3- 4 lần so với cây lúa, nên những năm gần đây cây ớt ở nước ta được trồng với diện tích và sản lượng ngày càng tăng đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Ớt là mặt hàng xuất khẩu đứng
vị trí số một trong các loại gia vị
Huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình có điều kiện tự nhiên và xã hội thuận lợi cho việc phát triển nhiều chủng loại rau, trong đó cây ớt luôn được chú trọng và được trồng với diện tích ngày càng tăng Tuy nhiên việc phát triển ớt chuyên canh lại là điều kiện thuận lợi cho nhiều loài sâu bệnh hại phát sinh và gây hại Trong những năm gần đây, bọ trĩ đã trở thành sâu hại nguy hiểm trên nhiều loại cây trồng, trong đó có cây ớt Với kích thước cơ thể rất nhỏ bé, nhưng có khả năng phát tán, dũa hút dịch của lá, nụ hoa và quả non gây thành những dịch hại ảnh hưởng tới năng suất và phẩm chất cây trồng, gián tiếp là vector truyền bệnh virus, vi khuẩn cho cây Do đó, việc phòng chống loài sâu hại này rất khó khăn, bởi tính kháng thuốc cao của chúng Xuất phát từ thực tế đó, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS
Nguyễn Thị Kim Oanh, chúng tôi thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của một số yếu tố
sinh thái đến diễn biến mật độ bọ trĩ hại ớt và biện pháp phòng chống tại Quỳnh Phụ, Thái Bình năm 2013- 2014”
Trang 131.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
+ Đề tài xác định được thành phần các loài bọ trĩ hại ớt tại vùng nghiên cứu + Xác định được sự phân bố của bọ trĩ trên cây ớt theo các giai đoạn sinh trưởng của cây
+ Xác định được sự tác động của các yếu tố sinh thái đến diến biến mật độ, tỷ lệ hại của bọ trĩ trên cây ớt tại vùng nghiên cứu
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
+ Trên cơ sở xác định sự phân bố của bọ trĩ trên cây ớt là cơ sở để chọn mẫu điều tra phát hiện nhanh nhằm phục vụ tốt cho nghiên cứu và quản lý bọ trĩ hại ớt + Từ việc xác định sự tác động của các yếu tố sinh thái đến diễn biến mật
độ bọ trĩ để từ đó đề xuất các biện pháp phòng chống hợp lý
+ Xác định được hiệu lực một số thuốc có hiệu lực cao trong phòng trừ bọ trĩ để khuyến cáo cho sản xuất
Trang 142 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC
CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, bọ trĩ (Thrips) đã trở thành sâu hại
nguy hiểm trên nhiều loại cây trồng, vì cơ thể tuy nhỏ bé nhưng bọ trĩ có khả năng phát tán, dũa hút dịch của lá, nụ hoa và quả non gây thành những dịch hại ảnh hưởng tới năng suất và phẩm chất cây trồng, gián tiếp là vector truyền bệnh virus, vi khuẩn cho cây Để phòng chống chúng người nông dân chỉ sử dụng biện pháp hóa học một cách liên tục thiếu hiểu biết đã dẫn đến hiện tượng bọ trĩ quen và kháng thuốc, đồng thời tiêu diệt hết các loài thiên địch của bọ trĩ – một lực lượng sinh vật
có ích quan trọng góp phần điều hòa số lượng quần thể bọ trĩ trong mỗi hệ sinh thái nông nghiệp, điều đó dẫn đến sự bùng phát số lượng của một số loài bọ trĩ chủ yếu
Hiện nay ở nước ta những nghiên cứu về loài bọ trĩ hại cây trồng nói chung, cây ớt nói chung còn rất hạn chế, cho đến nay mới chỉ có một vài công trình nghiên cứu về bọ trĩ hại cây trồng như: Phạm Thị Vượng (1988), Hà Quang Hùng (2000), Yorn Try (2008), Hà Quang Dũng (2008); Những nghiên cứu này chủ yếu là điều tra cơ bản như xác định thành phần, bước đầu tìm hiểu về đặc điểm sinh học sinh thái của một số loài bọ trĩ chính gây hại đậu rau, bông, cây có múi Do đó đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề nêu trên để góp phần tăng sự hiểu biết về khả năng ứng dụng các biện pháp phòng chống đối tượng này phục vụ phát triển sản xuất các vùng trồng ớt ở Thái Bình nói riêng và nước ta nói chung
2.2 Tình hình sản xuất ớt ở huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình
Cây ớt được trồng phổ biến ở huyện Quỳnh Phụ, trong những năm gần đây trên địa bàn Huyện chủ yếu trồng các giống ớt Redchilli F1, GS88 Thái Lan, ớt Chỉ thiên, Việt Nông là những giống ớt cay cho năng suất cao, chất lượng tốt, rất phù hợp cho chế biến và xuất khẩu Nhiều vùng trồng ớt tập trung như: Quỳnh Hải, Quỳnh Hội, Quỳnh Minh, An Ninh, An Ấp, An Cầu, Quỳnh Hồng Đây là cây trồng cho năng suất cao và là nguồn thu nhập chính của nhiều hộ nông dân trong huyện
Trang 15Bảng 2.1 Tình hình sản xuất ớt tại huyện Quỳnh Phụ (2008 – 2013)
Nguồn: Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Quỳnh Phụ
So với các huyện khác trong tỉnh thì Quỳnh Phụ là huyện có diện tích trồng
ớt lớn nhất, với tổng diện tích trồng ớt năm 2013 là 1.200 ha, chiếm trên 90% diện tích ớt gieo trồng của cả tỉnh Ớt Quỳnh Phụ có mặt ở nhiều thị trường trong và ngoài nước, được giới thương gia thu mua, sơ chế và xuất đi các tỉnh của Trung Quốc, Hàn Quốc
Điều này lý giải tại sao ớt của Quỳnh Phụ đã tăng nhanh từ khoảng 600 ha năm 2008 lên 900 ha năm 2010 và 1.000 ha năm 2012, rồi 1.200 ha vào năm 2013 Một vụ ớt ở đây có giá trị thu hoạch bằng 2 lần công thức luân canh 2 lúa - vụ đông với những cây trồng khác và bằng 4 lần làm lúa
Nhiều cán bộ địa phương các vùng trồng ớt khẳng định, dù giá ớt có rớt, thì đây vẫn là loại cây trồng cho hiệu quả cao nhất trong các cây vụ đông Tuy nhiên không phải nơi nào cũng trồng được, chân đất nào cũng mở được, và vấn đề quan trọng nhất là thị trường tiêu thụ Ớt thu hoạch đến đâu được tư thương mua hết đến đó Song trong một số thời điểm (thu hoạch rộ, giáp tết nguyên đán…) do chưa có chính sách thị trường hợp lý nên sản phẩm ớt của bà con nông dân vẫn bị tư thương ép giá gây thiệt hại về kinh tế cho người trồng
2.3 Những nghiên cứu về bọ trĩ trên thế giới
2.3.1 Những nghiên cứu về thành phần loài bọ trĩ
Từ năm 1900 các nhà côn trùng học đã phân loại bọ trĩ dựa vào cấu tạo bên ngoài và đặc tính về sinh thái của chúng tuy nhiên những hệ thống phân loại đầu tiên này cần được chỉnh sửa và bổ sung thêm Cho tới nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về phân loại bọ trĩ trên nhiều cây trồng nông nghiệp ở các nước
Trang 16khác nhau Bọ trĩ gây hại hầu hết là những loài có ký chủ rộng vì vậy nhiều công trình nghiên cứu ban đầu chỉ tập trung vào việc thu thập và định danh các loài thu ở một quốc gia hoặc một vùng
Theo Chen and Chang, (1987) đã tìm thấy 156 loài bọ trĩ ở Đài Loan trong đó có
70 loài gây hại trên cây trồng Riêng trên cây rau (Wang, 1989) cho rằng có 27 loài bọ
trĩ Các loài có ý nghĩa quan trọng là Thrips palmi, Franklinella intonsa, Thrips tabaci,
Megalurothrip usitatus Những loài không gây hại nghiêm trọng nhưng xuất hiện
thường xuyên trên đồng ruộng là Thrips hawaiiensis, Sciritothrips doralis, Thrip
colouratus, Thrip flavus, Halothrips chinensis
Mound, (1997) đã chỉ ra hầu hết các loài bọ trĩ gây hại trong bộ cánh tơ tập trung trong họ Thripidae với khoảng 1.700 loài phân bố khắp thế giới Các loài bọ trĩ là dịch hại trên cây trồng thuộc 2 giống Thrips và Liothrips là những giống lớn nhất trong bộ cánh tơ Trong đó số loài mỗi giống là Thrips khoảng 275 loài, Liothrips khoảng 255 loài Theo Bryan (1975), cho rằng có khoảng 600 loài bọ trĩ
đã được tìm thấy ở Bắc Mĩ, ở Rumani có khoảng 203 loài, ở Mongolia có 84 loài, tại Úc đã phát hiện được 422 loài thuộc bộ cánh tơ
2.3.2 Phạm vi kí chủ của bọ trĩ
Theo Wang, and Chu (1986) cho thấy bọ trĩ gây hại trên nhiều loài cây trồng bao gồm hơn 50 loài cây trồng thuộc 20 họ khác nhau Những cây trồng thường được thông báo là bị hại nặng như: lạc, ớt, khoai tây, thuốc lá, cây họ cà và cây họ đậu Bọ trĩ là dịch hại chủ yếu trên lá của dưa hấu, lạc, dưa chuột, và ớt ở Hawaii
Thrips palmi Karny có nguồn gốc từ Ấn Độ được Karny mô tả năm 1952, phân bố khắp vùng Châu Á – Thái Bình Dương Những cây trồng thường bị chúng hại nghiêm trọng là: cà tím, hạt tiêu, khoai tây, thuốc lá, dưa chuột, bí ngô, đậu trắng, đậu răng ngựa, đậu đũa, đậu xanh, đậu tương, hoa cúc, bông, hoa anh thảo,
thược dược, vừng, khoai lang Bên cạnh đó Thrips palmi còn tấn công nhiều loại cỏ
dại (Martin and Mau, 1992)
Bọ trĩ T palmi có phạm vi kí chủ rất rộng bao gồm 34 họ khác nhau với 117 loài được ghi nhân tại Nhật Bản (Miyazaki & Kudo, 1988) Mặc dù T palmi là dịch
hại quan trọng trên cây ớt ngọt, nhưng sự phát triển của quần thể là không cao và
Trang 17không thể hoàn thành vòng đời trên cây dâu tây (Kawai, 1986) Bọ trĩ Thrips palmi
tìm thấy ở Nhật Bản vào năm 1978 và trở thành dịch hại nghiêm trọng nhất của cà tím, dưa chuột và ớt ngọt cả trong nhà kính Bọ trĩ dưa tấn công một loạt các loại rau bao gồm các loại đậu, dưa chuột, dưa hấu, mướp đắng, ớt, cà tím, bí ngô, bí đỏ
và bí xanh Tuy nhiên, các loại cây trồng bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất là ớt xanh, cà tím và dưa chuột Lebanon (Zhang, et al., 2008)
Bọ trĩ Scirtothrips dorsalis có phổ kí chủ rất rộng , có thể gây hại trên 150
loài thực vật thuộc 40 họ khác nhau, trong đó có một số kí chủ chính như ớt, chuối, đậu, hạt điều, dầu thầu dầu, cây có múi, cacao, ngô, bông, cà tím, nho, vải, nhãn, xoài, dưa hấu, đậu phộng , hạt tiêu, bạch dương, hoa hồng, dâu tây, khoai lang, chè, thuốc lá, cà chua, hoa hồng (Scott W Ludwig & Carlos Bográn, 2007)
Dựa theo hệ thống phân loại của của GS.TS Laurence A Mound (2007)
* Đặc điểm hình thái loài Frankliniella intonsa Trybom
Trưởng thành cái F intonsa Râu đầu F intonsa
Đầu F intonsa Mảnh ngực trước F intonsa
Trang 18Mảnh ngực sau F intonsa Cánh trước F intonsa
Đốt bụng thứ VIII F intonsa
Dạng ống đẻ trứng của trưởng thành
cái F Intonsa
Hình 2.1: Đặc điểm hình thái loài bọ trĩ F intonsa
Nguồn ảnh: GS.TS Laurence A Mound (2007)
* Đặc điểm hình thái bọ trĩ S dorsalis
Trưởng thành cái S dorsalis Râu đầu S dorsalis
Đầu S dorsalis Mảnh lưng ngực trước S dorsalis
Trang 19Mảnh lưng ngực sau S dorsalis Cánh trước S dorsalis
Đốt bụng V-VII S dorsalis Đốt bụng thứ VIII S dorsalis
Hình 2.2: Đặc điểm hình thái loài bọ trĩ S dorsalis
Nguồn ảnh: GS.TS Laurence A Mound (2007)
* Đặc điểm hình thái của bọ trĩ Thrips palmi Karny
Trưởng thành T palmi Râu đầu T palmi
Trang 20Đầu của T palmi Mảnh lưng ngực trước T palmi
Mảnh lưng ngực sau T palmi Cánh trước T palmi
Đốt bụng thứ VIII T palmi
Hình 2.3: Đặc điểm hình thái loài bọ trĩ T palmi
Nguồn ảnh: GS.TS Laurence A Mound (2007)
2.3.2 Tình hình gây hại, triệu chứng và mức độ gây hại của bọ trĩ
Bọ trĩ là loài đa thực, chúng hại nhiều cây trồng, ở nhiều nước khác nhau Do vậy có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đã có những kết luận quan trọng như:
Ananthakrishan (1984) còn chỉ rõ Scirtothrips dorsalis gây hại nghiêm trọng
trên lạc làm thất thu năng suất trung bình 29,3%, ngoài ra còn gây hại trên bông, cà phê và chè Kết quả nghiên cứu của Kawai (1985) cho thấy năng suất bị mất đi 5%
khi mật độ T palmi đạt 0,08con trưởng thành trên lá cà tím và 4,4 con trưởng thành
trên lá dưa chuột và 0,11 con trưởng thành trên cây ớt Thời điểm bọ trĩ tấn công gây hại cây trồng thường có ảnh hưởng quyết định đến mức độ thiệt hại năng suất (Fournier et al.,1995)
Trang 21Bọ trĩ Thrips palmi Karny ở Đông Nam Á được phát hiện như một loài mới
bởi Karny vào 1925 sau khi ông thu mẫu loài bọ trĩ này gây hại trên cây thuốc ở
Sumatra –Indonesia, sau đó Dammerman 1929 cũng đã chỉ rằng Thrips palmi là loài bọ
trĩ phổ biến nhất trên đảo Java và Sumatra ở Indonesia Tỷ lệ nhiễm hại trên các cây trồng khác và vụ dịch của loài bọ trĩ này chưa được thông báo ở các nước Đông Nam
Á, cho đến khi công bố về vụ dịch của Thrips palmi trên dưa hấu xuất hiện ở Philippines vào năm 1977 Tới năm 1983 Thrips palmi vẫn là sâu hại nguy hiểm trên
cây bông ở một số vùng trồng bông của Philippines vào năm 1978 (dẫn theo Hà Quang Hùng (2005)
Sự gây hại của bọ trĩ T.palmi , giống như hầu hết các loài bọ trĩ ăn thực vật
khác Chúng dùng phần miệng dũa hút vào biểu bì, mô lá hút các chất dinh dưỡng, làm cho bề mặt lá các vết màu bạc nhăn nheo, đặc biệt theo gân chính và gân phụ
của lá Khi bọ trĩ T palmi gây hại làm xuất hiện màu bạc và nâu của lá, lá non trở
nên còi cọc, làm quả bị sẹo và biến dạng, khả năng ra quả ít và chết toàn cây khi bọ trĩ đạt mật độ cao (Zhang et al., 2008)
Bên cạnh sự gây hại trực tiếp trên cây trồng, bọ trĩ còn tạo ra các vết thương làm tăng khả năng nhiễm bệnh của cây, đặc biệt chúng là môi giới truyền bệnh virus từ cây này sang cây khác Theo Inoue et al., (2001), virus TSWV được truyền bởi 6 loài bọ trĩ:
Frankliniella occidentalis , Frankliniella intonsa, Thrips tabaci, Thrips setosus, Thrips
palmi và Thrips hawaiinensis, do chúng có khả năng tích lũy protein N của TSWV trong cơ thể Trong đó hiệu quả lây nhiễm của giống Frankliniella là 30% còn giống Thrips là 0 – 8,6% TSWV được biết đến là bệnh gây hại nghiêm trọng cho khoảng 20 cây trồng trên thế giới như thuốc lá, cà chua, rau diếp, lạc, đậu tương…
2.3.3 Đặc điểm hình thái, đặc tính sinh vật học, phát sinh của bọ trĩ
Theo Graham (1998), cho biết một vòng đời của bọ trĩ T palmi có 6 giai đoạn
phát dục, trứng, sâu non tuổi 1, tuổi 2, tiền nhộng, nhộng và trưởng thành Khi nuôi bọ
trĩ T palmi ở nhiệt độ 30oC vòng đời là 10-12 ngày và ở nhiệt độ 25oC là 14-16
ngày Theo Maurice et al., (1997) cho biết khi nuôi bọ trĩ T palmi ở điều kiện 30oC thời gian vòng đời của chúng là 11 ngày, còn khi nuôi ở nhiệt độ 22oC vòng đời là
26 ngày Lewis, (1997) đã chỉ ra rằng nuôi ở 26oC là 33,5 ngày và khi nuôi ở 30oC
Trang 22vòng đời là 22,3 ngày Một con cái có thể đẻ tới 200 quả trứng và có thể sống từ 10 ngày đến một tháng
Theo Mau and Martin (1993), và Chen et al., (1987) quần thể bọ trĩ đạt cao nhất trong các tháng mùa xuân và mùa hè, giảm vào mùa mưa và mùa đông Biến động số lượng của chúng chịu ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, khí hậu, đặc biệt là nhiệt độ và lượng mưa, điều kiện khí hậu ẩm ướt kéo dài không thuận lợi cho sự phát triển của chúng
Theo Mau and Martin (1992) vòng đời của Thrips palmi kéo dài 17-27 ngày
ở nhiệt độ 19-22oC
Ananthakrishan (1984) kết quả nghiên cứu về thời gian vòng đời một số loài
bọ trĩ hại cây trồng, trên cây lạc chỉ rõ Frankliniella intonsa: trứng 2-4 ngày, thời
gian tuổi 1 từ 1,5- 3 ngày, tuổi 2 từ 3-5 ngày, thời gian tiền nhộng và nhộng từ 3,5-
5 ngày, thời gian từ trứng đến trưởng thành là 6-9 ngày Scirtothrips dorsalis: trứng
4-7 ngày, thời gian tuổi 1 từ 2-4 ngày, tuổi 2 từ 3-6 ngày, thời gian tiền nhộng và nhộng từ 3- 6 ngày, thời gian từ trứng đến trưởng thành từ 2-3 ngày
Nghiên cứu về Thrips palmi của Wang et al., (1989) một con cái trung bình
đẻ 7,9 quả mỗi ngày và trong một đời con cái có thể đẻ từ 3-164 trứng Nếu có sự kết đôi thì số trứng đẻ là 0,8-7,3 quả mỗi ngày và từ 3-204 quả trong suốt một đời
của chúng Sinh sản đơn tính của T palmi đã được Yoshihara, and Kawai (1982) đề cập dựa trên dưa hấu, mức sinh sản cao nhất của T palmi là 15,6 quả trứng và đời
của trưởng thành dài nhất là 17,4 ngày
Morishita and Azuma (1989) nghiên cứu trên cây cà tím ngoài đồng ruộng và
trong nhà lưới ở Wakayana prefcture - Nhật Bản đã xác định đặc điểm sinh học của T
palmi, sự qua đông không xuất hiện ngoài đồng ruộng do nhiệt độ thấp, nhưng những quần thể lại duy trì trong nhà lưới Vào cuối tháng 7 những con trưởng thành đã phân tán trên cánh đồng cà tím trong khoảng cách 500m từ nhà kính nơi mà sự qua đông đã xuất hiện Sau sự phân tán mật độ quần thể thay đổi do việc dụng thuốc trừ dịch hại, bọ trĩ ở rìa ngoài cánh đồng đông hơn ở trung tâm cánh đồng Cánh đồng cà tím có bờ bao quanh có hiệu quả ngăn chặn sự di cư của loài dịch hại này
Trang 23Orius sp (Hemiptera: Anthocoridae) ăn sâu non và trưởng thành bọ trĩ,
Campylomma sp (Hemiptera: Miridae), Franklinothrips vespiformis (Crawford) ăn sâu non Nhện bắt mồi Ambliseius sp ăn sâu non tuổi 2 , Phytoseius sp ăn sâu non
tuổi 1 bọ trĩ
Theo Mau et al., (1989), ở Hawaii Thrips palmi bị khống chế bởi Orius insidiosus
và Franklinothrips vespiformis Hai loài côn trùng ăn thịt này được nhập và sử dụng như
biện pháp phòng trừ sinh học trong phòng trừ bọ trĩ Hirose et al (1990) phát hiện ra
ong Ceranisus menes (Walker) (Hymenoptera: Eulophidae) ký sinh sâu non Thrips palmi
ở Thái Lan, và Nhật Bản Orius sauteri được biết đến là một động vật ăn thịt của bọ trĩ và quan trọng nhất là kẻ thù tự nhiên của T palmi trên ớt ngọt, cà tím (Hirose, 1990; Kajita, 1985) O sauterican được sử dụng như một phần của chiến lược IPM
Ngoài ra còn sử dụng nấm Beauveria bassiane và Verticilium trong phòng trừ bọ trĩ (Saito, 1991, Saito & Kobayashi, 1987)
2.4.4 Các biện pháp phòng chống
*Biện pháp hóa học
Sử dụng thuốc trừ sâu trong phòng trừ bọ trĩ Scirtothrips dorsalis trên cây hồ
tiêu có sử dụng các hoạt chất sau: imidacloprid, chlorfenapyr, novaluron, abamectin, spiromesifen, Cyfluthrin, methiocarb, và azadirachtin Không phụ thuộc vào số lượng thuốc sử dụng thì thấy chlorfenapyr có hiệu quả nhất trong việc giảm
mật độ bọ trĩ trưởng thành Scirtothrips dorsalis và ấu trùng của bọ trĩ Sau đó là các
hoạt chất spinosad và Imidacloprid (Seal et al., 2005)
*Biện pháp vật lý cơ giới
Cỏ dại và các loài cây trồng khác trong hệ thống sản xuất nông nghiệp đóng vai trò làm suy giảm hoặc tăng lên của quần thể bọ trĩ Sự thay đổi theo mùa vụ, vùng sản xuất cũng là yếu tố tác động lớn đến sự thiết lập hay làm giảm quần thể và
Trang 24mức độ gây hại của chúng
Có thể sử dụng bẫy dính để phòng trừ bọ trĩ Mối quan hệ giữa mật độ trưởng thành trên cây dưa chuột bọ trĩ và cá thể bắt được bưỏi bẫy tấm dính màu xanh được đặt trong nhà kính được nghiên cứu bởi Kawai ở Nhật Bản, mật độ trưởng thành trên cây và số lượng trưởng thành vào bẫy có quan hệ dương Điều này có thể kết luận rằng
bẫy tấm dính có thể sử dụng để theo dõi mật độ tương đối của trưởng thành bọ trĩ T
palmi (Kawai, (1985)
Theo Kawai and Kitamura (1999), đã nghiên cứu ảnh hưởng của quần thể bọ trĩ và mức thiệt hại do chúng gây ra, đánh giá hiệu quả của các biện pháp phòng trừ
đã có những kết luận: Hiệu quả của 4 phương pháp phòng trừ bọ trĩ T palmi trên cà
tím và ớt ngọt ở 25oC đã đánh giá được việc dùng phương pháp quần thể để phát triển hệ thống phòng trừ tổng hợp có hiệu quả dịch hại Những phương pháp được dùng là thuốc trừ sâu, phương pháp vật lý ngăn cản sự lây lan, dùng số lượng lớn bẫy dính để thu hút
2.4 Những nghiên cứu về bọ trĩ trong nước
Tại Việt Nam, bọ trĩ đã xuất hiện và gây hại khá lâu tuy nhiên không có những nghiên cứu cơ bản về loài dịch hại này Một vài năm gần đây do những thiệt hại đáng kể gây ra trên nhiều loại cây trồng mà loài dịch hại này mới được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn
2.4.1 Thành phần bọ trĩ
Theo Phạm Thị Vượng, Trần Huy Thọ, G.V Ranga Rao và Nguyễn Xuân
Hồng (1995), có 4 loài bọ trĩ hại lạc bao gồm 3 loài hại trên lá đó là: Scirtothrips
dorsalis Hood, Frankliniella schultzei Trybom, Thrips palmi Karny và 1 loài hại trên hoa là: Megalurothrips usitatus Bagnall
Hà Thanh Hương và cộng sự (2008) cho rằng thành phần bọ trĩ trên cây xoài
ở (Hà Nội, Hòa Bình, Vĩnh Phúc, và Quảng Ngãi) thuộc miền Bắc và miền Trung
Việt Nam gồm 4 loài thuộc 2 họ: Phlaeothripidae và Thripidae gồm Haplothrips
leucanthemi (Schrank), Scitothrips dorsalis Hood, Thrips coloratus Schmutz, và
Thrips hawiiensis (Morgan)
Nguyễn Thị Thu Cúc và Đồng Chiến Thắng (2005) đã khảo sát thành phần
Trang 25loài bọ cánh tơ gây hại trên xoài ở Đồng bằng sông Cửu Long gồm 02 loài:
Scitothrips dorsalis và Thrips sp, trong đó loài Scitothrips dorsalis xuất hiện phổ
biến trên 100% vườn xoài khảo sát tại khu vực nghiên cứu (Cần Thơ, Tiền Giang và Đồng Tháp)
Theo Hà Quang Dũng (2008), khi nghiên cứu phạm vi ký chủ và biến động
mật độ bọ trĩ Thrips imaginis Bagnall hại cam quýt tại nông trường Cao Phong tỉnh
Hoà Bình trong vụ Xuân năm 2002 đã xác định được 16 loài cây trồng nông nghiệp và
cây dại khác nhau là cây ký chủ của bọ trĩ Thrips imagines Trong đó cam, quýt,
chanh, bưởi, nhãn và cây hoa đơn buốt có mật độ bọ trĩ cao hơn các cây khác Mật độ
bọ trĩ trên các giống cam, quýt khác nhau thì khác nhau, mật độ bọ trĩ trên giống cam
Xã Đoài là 14,5 con/ hoa cao hơn trên giống quýt Chum Hà Giang là 11,46 con/ hoa Trên cây hoa, mới chỉ có một số ít tác giả nghiên cứu về bọ trĩ Theo Hà
Quang Hùng, (2005) có 5 loài bọ trĩ thường gây hại trên hoa cúc: Thrips tabaci Linderman, Thrips flavus Schrark, Frankliniella intonsa Trybom, Sirtothrips
dorsalis Hood, và Frankliniella sp Trong đó có 3 loài thường xuyên xuất hiện và gây hại chủ yếu là Thrips tabaci, Thrips flavus và Frankliniella intonsa
Theo Hà Thanh Hương và cộng sự (2007) thành phần bọ trĩ trên hoa cúc có tiềm năng xuất khẩu ở Tây Tựu, Từ Liêm, Hà Nội chủ yếu tập trung ở họ Thripidae,
trong đó loài Thrips hawaiiensis và loài Frankliniella intonsa xuất hiện phổ biến
trên cúc trắng và cúc vàng
Trưởng thành loài Frankliniella intonsa ngoài gây hại trên lạc còn gây hại 11
loài kí chủ khác (Nguyễn Đức Thắng, 2012)
2.4.2 Tình hình gây hại của bọ trĩ
Các nghiên cứu về bọ trĩ hại cây trồng ở nước ta còn ít Mặc dù đã có một số tác giả nghiên cứu về bọ trĩ hại xoài, bọ trĩ hại hoa, khoai tây, lạc…Trên thực tế cũng chưa có nghiên cứu về bọ trĩ hại ớt
2.4.3 Những nghiên cứu về đặc tính sinh học, sinh thái học của bọ trĩ
Các kết quả nghiên cứu về đặc tính sinh học, sinh thái về bọ trĩ còn rất ít Hiện nay mới chỉ có một vài tác giả nghiên cứu về vấn đề này
Đinh Văn Thành và cộng sự (2005) đã nghiên cứu một số đặc tính sinh học
Trang 26sinh thái của bọ trĩ hại lúa (Stenchaetothrips bifomis Bagnall) tại Hà Nội Kết quả
cho thấy pha ấu trùng của bọ trĩ hại lúa có 3 tuổi với thời gian phát dục là 5,4- 11,7 ngày tùy theo mùa Pha trứng phát triển trong 3,1- 6,6 ngày; bọ trĩ trưởng thành có thể sống được trong 7- 11 ngày và có khả năng đẻ được 9- 12 trứng, thời gian vòng đời thường là 9,5 – 18, 3 ngày tùy theo điều kiện nhiệt ẩm độ
Kết quả nghiên cứu bọ trĩ Thrips palmi hại trên khoai tây của Hà Quang Hùng và Hà Thanh Hương (2002), cho thấy khi nuôi bọ trĩ Thrips palmi ở các nhiệt
độ trung bình là 15,36; 22,72 và 28,6oC thì vòng đời của Thrips palmi tương ứng là 22,99; 19,74 và 15,46 ngày Yorn Try (2008)cho biết khi nuôi bọ trĩ Thrips palmi
trên dưa chuột ở các nhiệt độ 30, 25, 20 và 15oC, các chỉ tiêu sinh học chính như thời gian, vòng đời, sức sinh sản và tỷ lệ tăng thực tự nhiên tương ứng 15,02±0,13; 11,88±0,1; 16,327±0,07 và 28,38±0,80 ngày; 38,48±3,78; 43,56±3,98; 35,15±4,7; 6,81±2,19 quả/con cái; 0,155; 0,190; 0,133 và 0,048 con/ngày/con cái
Yếu tố mưa và độ ẩm của đất có ảnh hưởng trực tiếp tới mật độ quần thể bọ
trĩ Thrips palmi trên cây dưa chuột Lượng mưa trên100mm trở lên có thể làm rửa trôi bọ trĩ Thrips palmi tới 99,34% Lượng mưa từ 3,6mm trở lên với thời gian mưa
từ 4 ngày trở lên cũng có thể làm bọ trĩ Thrips palmi rửa trôi 85,76% Những ruộng
có độ ẩm tương đương 100% làm mật độ bọ trĩ Thrips palmi giảm gấp đôi so với
ruộng có độ ẩm 75% (Yorn Try, 2008)
2.4.4 Những nghiên cứu về thiên địch của bọ trĩ
Theo Hà Quang Dũng (2008) đã xác định 10 loài thiên địch bắt mồi của bọ trĩ hại cam quýt ở Cao Bằng, Hòa Bình Theo Hà Quang Hùng (2000) bọ xít nâu
nhỏ bắt mồi O sauteri là loài côn trùng bắt mồi có ý nghĩa trong điều hòa số lượng
bọ trĩ Thrips palmi hại khoai tây ở vùng Hà Nội và phụ cận
Nguyễn Đức Thắng (2012) đã xác định được 10 loài thuộc 3 bộ (Hemiptere, Coleoptera, Hymenoptera) lớp côn trùng, 1 bộ lớp nhện, trong đó có 4 loài bọ xít
bắt mồi thuộc họ Anthocoridae Loài bọ xít nâu nhỏ O sauteri xuất hiện với mức độ cao nhất có ý nghĩa trong điều hòa số lượng bọ trĩ F intonsa ở vùng Nghệ An
Theo Trần Quý Hùng (2000) có đưa ra 4 loài thiên địch đang được nghiên
cứu để phòng trừ bọ trĩ Thrips palmi gây hại cây trồng ở Nhật Bản đó Amblyseius
Trang 27degenerans, Amblyseius californicus, Orius sauteri, Orius laevigatus
Trên cây lạc có 9 loài thiên địch bắt mồi của bọ trĩ Một số loài trong chúng
là Paederus sp., Coccinella transversalis, Chalaenius sp., Micraspin discolor…
(Phạm Thị Vượng, 1998)
2.4.5 Phòng trừ bọ trĩ
Nghiên cứu về biện pháp phòng trừ bọ trĩ, Hà Quang Hùng (2005), cho biết tuỳ theo tình hình bị hại của từng loài cây trồng mà có biện pháp phòng chống khác nhau đạt hiệu quả cụ thể
* Biện pháp hóa học: Theo Yorn Try (2008), trong 4 loại thuốc hóa học
Marshal 200SC, Amico 10EC, Conphai 10WP, Regent 800WP thì Marshal 200SC
có hiệu lực cao nhất, Regent thấp nhất Trong 4 loại thuốc sinh học Alpharil 1,8EC, Abamectin 3.6EC, thần tốc 78DD, Tập kỳ 1,8EC thì Alpharil 1.8EC có hiệu lực cao nhất, thấp nhất là Tập kỳ 1,8EC
Theo Hà Quang Dũng (2008) 3 loại thuốc trừ sâu: Tập kì 1,8EC nồng độ 0,05% liều lượng 7,2 gam ai/ha và polytrin 440EC, nồng độ 0,15% liều lương 580
gam ai/ha phòng trừ bọ trĩ F intonsa Trybom và S dorsalis Hood hại cam quýt đạt
hiệu quả cao trong đó Tập kì 1,8 EC đạt hiệu quả cao nhất
Thuốc hóa học có hiệu lực cao trong phòng chống bọ trĩ hại lạc F intonsa tại
Nghệ An là Admire 200 OD, Oshin 100 SL Thuốc sinh học có hiệu lực cao nhất là Tập kỳ 1,8 EC, tiếp theo là Alfapathrin 10 EC, và Acotrin 440 EC, (Nguyễn Đức Thắng, 2012)
Một số tác giả khác cũng đề xuất các biện pháp phòng trừ bọ trĩ hại hoa Theo Trần Văn Mão và Nguyễn Thế Nhã (2004) có thể phòng trừ bọ trĩ hại hoa cúc bằng Rogor 0,3%, Malathion 0,2% và nước chiết lá thầu dầu pha loãng 5 lần, phòng
chống bọ trĩ ngực vàng trên hoa hồng Thrips hawaiiensis Morgan bằng nước xà
phòng, thuốc sữa Derris, Rogor 0,2%, ĐVP 0,1%, Sumithion 05% Theo Hà Quang Hùng (2005), các thuốc Tập Kỳ 1,8EC, Sumicidin 20EC, Decis, Diazinon, Nicotin đều có thể phòng trừ bọ trĩ đạt kết quả tốt
*Biện pháp tổng hợp: Hiện nay có nghiên cứu của Hà Quang Dũng (2008)
để phòng chống bọ trĩ F intonsa và S dorsalis hại cam quýt đạt hiệu quả cần thực
Trang 28hiện phối hợp các biện pháp canh tác, hóa học, sinh học một cách hợp lý
Theo Yorn Try (2008) để phòng chống bọ trĩ Thrips palmi hại dưa chuột có
thể chọn giống dưa lai Sokhun 701 trồng khoảng thời gian từ giữa tháng 2 đến đầu tháng 3 (15/02- 01/4) Giữ độ ẩm của đất 100% hoặc cho nước vào giữa luống có độ sâu 35cm từ giai đoạn 7 lá đến hết thời kì thu hoạch Trước giai đoạn ra hoa nêu mật
độ bọ trĩ T palmi vượt quá 15 con/lá thì tiến hành phun thuốc Marshal 200 SL
(1,5L/ha) Giai đoạn ra hoa đến trước thu hoạch lứa quả đầu tiên, nếu mật độ bọ trĩ
T palmi vượt quá 15 con/lá tiến hành phun thuốc Alphatin 1,8EC (liều lượng
1,1L/ha) Giai đoạn thu hoạch tiến hành thả bọ xít bắt mồi O sauteri với tỷ lệ
1con/cây, thả 3 lần cách nhau 5 ngày và đồng thời hàng ngày tỉa bớt các lá tầng dưới để hạn chế mật độ sâu non
Nguyễn Đức Thắng (2012), bước đầu đề xuất quy trình quản lý tổng hợp
IPM phòng chống bọ trĩ F intonsa hại lạc tại Nghệ An bằng cách phối hợp các biện
pháp: Kỹ thuật làm đất, chọn đất, bón phân theo quy trình, sử dụng nylon làm hàng rào quanh ruộng, trong quá trình trồng lạc có thể dùng biện pháp tưới phun mưa, phun thuốc Admire 200OD hoặc Oshin 100
SL kết hợp thả bọ xít nâu nhỏ bắt mồi O sauteri với tỉ lệ 1/200 (1m2 thả 2 con)
Trang 293 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
* Thời gian: Đề tài được tiến hành từ tháng 7 năm 2013 tới tháng 6 năm 2014
* Địa điểm: Vùng trồng ớt huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình
3.2 Đối tượng, nội dung, vật liệu và dụng cụ nghiên cứu:
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các loài bọ trĩ gây hại ớt
3.2.2 Nội dung nghiên cứu
Điều tra xác định thành phần bọ trĩ gây hại trên cây ớt tại Quỳnh Phụ, Thái Bình Xác định sự phân bố của bọ trĩ trên cây ớt ở các giai đoạn sinh trưởng chính của cây
Tìm hiểu ảnh hưởng của một số yếu tố sinh thái (thời vụ, chân đất, giống) đến
diễn biến mật độ bọ trĩ tổng số trên cây ớt
Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ bọ trĩ tổng số (bẫy dính màu vàng, thuốc hóa học)
3.2.3 Vật liệu nghiên cứu
- Các giống ớt cay trồng phổ biến tại địa điểm nghiên cứu
- Một số thuốc bảo vệ thực vật: Kurabar WP, Rholam 20EC, Admire 200
OD, Scorpion 36EC
3.2.4 Dụng cụ nghiên cứu
- Hộp đựng, lọ thuỷ tinh, túi nilon, ống ephendof, khay nhựa
- Đĩa petri, bút lông, giấy thấm, panh, kéo
- Cồn 70o để bảo quản mẫu …
- Túi nilon có mép dán kín
- Kính lúp cầm tay, kính lúp soi nổi
- Sổ ghi chép, bút chì, thước, bình bơm đeo vai
Trang 303.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Điều tra xác định thành phần bọ trĩ hại ớt
Điều tra thu thập thành phần bọ trĩ được tiến hành theo quy định lấy mẫu của Cục BVTV quy định (1995), có sự tham khảo phương pháp thu thập mẫu bọ trĩ ngoài đồng của Laurence A Mound, 2007
- Thời gian điều tra lấy mẫu 7 ngày 1 lần, điều tra liên tục theo giai đoạn sinh trưởng của cây trồng có liên quan đến sự xuất hiện và gây hại của bọ trĩ Số lượng lấy mẫu càng nhiều càng tốt Tiến hành thu mẫu bổ sung trên ruộng trồng ớt quanh điểm nghiên cứu
Thu thập mẫu bọ trĩ bằng cách ngắt ngẫu nhiên những bộ phận của cây ớt có
bọ trĩ gây hại: lá, hoa, chồi (ngọn) (số lượng từ 10 đến 50 trên mỗi điểm) cho vào túi nilong mang về phòng thí nghiệm, đổ cồn 30% vào túi lắc đều cho bọ trĩ ngất lịm rồi nhẹ nhàng dùng bút lông thu bọ trĩ đặt vào lọ đựng mẫu có chứa cồn 70%, ngoài lọ có ghi ngày thu mẫu, địa điểm thu mẫu, cây trồng giai đoạn sinh trưởng, bộ phận thu mẫu vào ống
Các mẫu vật mang về phòng sinh thái côn trùng để xác định thành phần loài bọ trĩ
- Các chỉ tiêu điều tra:
+ Tên các loài bọ trĩ gây hại (tên Việt Nam và tên khoa học)
+ Mức độ phổ biến của bọ trĩ ở mỗi giai đoạn sinh trưởng của cây trồng theo
độ thường gặp của loài bọ trĩ được xác định
3.3.2 Phương pháp điều tra diễn biến mật độ bọ trĩ trên ớt
Sử dụng phương pháp điều tra chung sâu bệnh hại cây trồng do Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành (2010) “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng” (QCVN
01-38:2010/BNNPTNT)
- Chọn ruộng đại diện cho vụ hè thu và vụ đông 2013 tại Quỳnh Phụ, Thái Bình Điều tra định kì 7 ngày 1 lần theo phương pháp 10 điểm trên đường chéo góc trên mỗi ruộng điều tra và theo giai đoạn sinh trưởng của cây ớt có liên quan đến sự xuất hiện
và gây hại của bọ trĩ
- Mỗi điểm lấy 10 hoa, lá (hoặc ngọn, quả) cho vào túi nilong mang về phòng thí
Trang 31nghiệm, đổ cồn 30 độ vào túi cho bọ trĩ ngất lịm, rũ mẫu có bọ trĩ ra một đĩa pettri, gạn lấy bọ trĩ sau đó đưa lên kính lúp, lấy bút lông để đếm tổng số bọ trĩ trên 10 hoa, lá (hoặc ngọn, quả) Từ đó tính được mật độ bọ trĩ/ lá, ngọn, hoa, quả ứng vói các giai đọan sinh trưởng chính của cây ớt
3.3.3 Phương pháp xác định sự phân bố, vị trí gây hại của bọ trĩ trên cây ớt
Điều tra theo các giai đoạn sinh trưởng của cây ở 2 vụ hè thu và vụ đông Chọn ruộng đại diện cho thời vụ để điều tra Mỗi ruộng điều tra 10 điểm ngẫu nhiên nằm trên 2 đường chéo góc Mỗi giai đoạn sinh trưởng khác nhau thì cách lấy mẫu cũng khác nhau: Cụ thể như sau:
Giai đoạn cây con và phát triển thân lá, điều tra ở các loại lá non, lá bánh tẻ,
lá già Mỗi loại lấy 10 lá, đem về đếm số bọ trĩ tổng số trên mỗi lá, phân loại từng loài bọ trĩ hại Lá non được tính là lá thứ nhất và thứ 2 tính từ đỉnh sinh trưởng của câycó màu sắc xanh nhạt(xanh non) Lá Bánh tẻ được tính là lá thứ 3, 4, tính từ đỉnh sinh trưởng của cây có màu xanh đậm hơn lá non, lá già
là là thường nằm sát gốc cây (đối với cây con chư phân cành, và cũng được tính là lá sát phần thân cây với vị trí phân cành, thường có màu sắc đậm nhất, cứng nhất trong 3 lá trên Giai đoạn hoa rộ điều tra ở các bộ phận lá, ngọn, hoa Mỗi bộ phận lấy 10 mẫu Làm tương tự như 2 giai đoạn trên để xác định mật độ bọ trĩ tổng số và mật độ của từng loài Chỉ tiêu theo dõi mật độ bọ trĩ con/lá, ngọn, hoa
Giai đoạn quả rộ, điều tra ở các bộ phận lá, ngọn, hoa, quả Cũng làm tương
tự như trên Chỉ tiêu theo dõi mật độ bọ trĩ : con/lá, ngọn, hoa, quả
Giai đoạn thu hoạch điều tra các bộ phân lá, ngọn, hoa Tương tự cách làm như các giai đoạn trên Chỉ tiêu theo dõi mật độ bọ trĩ : con/lá, ngọn, hoa, quả
3.3.4 Phương pháp xác định ảnh hưởng của một số điều kiện tới sự gây hại của
bọ trĩ
* Thí nghiệm tìm hiểu ảnh hưởng của thời vụ
- Thí nghiệm tiến hành gồm 3 công thức với 3 lần nhắc lại, được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCB) Mỗi ô thí nghiệm có diện tích 30 m2 Ruộng thí
Trang 32nghiệm trồng giống ớt cay Red chili F1tại xã Quỳnh Hải,Quỳnh Phụ
+ Công thức 1: Vụ đông sớm (trồng 6/10/2013)
+ Công thức 2: Vụ đông chính vụ: Trồng 18/10/2013
+ Công thức 3: Vụ đông muộn: Trồng 2/11/2013
Sau đó tiến hành điều tra định kỳ 7ngày/lần theo phương pháp 10 điểm chéo góc, mỗi điểm 10 hoa, hoặc lá, (ngọn) Đánh giá mật độ bọ trĩ (con/lá hoặc con/ngọn), tỷ lệ hại (%)
Hình 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm tìm hiểu ảnh hưởng của thời vụ trồng ớt cay
đến sự phát sinh phát triển bọ trĩ
* Thí nghiệm tìm hiểu ảnh hưởng của chân đất trồng ớt
- Thí nghiệm với 2 công thức và 3 lần nhắc lại, được đặt tại xã Quỳnh Minh Mỗi công thức thí nghiệm có diện tích 30 m2 Ruộng thí nghiệm trồng giống ớt cay Red chili F1 và các yếu tố về phân bón, chế độ chăm sóc đều như nhau
+ Công thức 1: Chân đất trũng (1 vụ lúa, lúa chét, trồng ớt)
+ Công thức 2: Chân đất cao (vùng cây chuyên trồng các loại cây màu)
- Chỉ tiêu theo dõi: Điều tra trong ô thí nghiệm 10 điểm chéo góc, mỗi điểm
Trang 33điều tra 10 lá (ngọn, hoa, quả), đánh giá mật độ bọ trĩ (con/lá hoặc con/ngọn, hoa, quả), tỷ lệ hại (%), theo dõi định kỳ 7 ngày 1 lần
*Thí nghiệm tìm hiểu ảnh hưởng của giống ớt đến sự phát sinh phát triển của bọ trĩ
- Thí nghiệm gồm 3 công thức với 3 lần nhắc lại, được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCB) Mỗi ô thí nghiệm có diện tích 30 m2 Ruộng thí nghiệm trồng 3 loại giống ớt cay là: Red chili F1, GS88 Thái Lan, Việt Nông và được trồng tại xã Quỳnh Minh
+ Công thức 1: Red chili F1
+ Công thức 2: GS88 Thái Lan
+ Công thức 3: Việt Nông
Chỉ tiêu theo dõi: Điều tra trong ô thí nghiệm 10 điểm chéo góc, mỗi điểm điều tra 10 lá (ngọn, hoa, quả theo các giai đoạn điều tra), đánh giá mật độ bọ trĩ (con/lá hoặc con/ngọn, hoa, quả), tỷ lệ hại (%), theo dõi định kỳ 7 ngày 1 lần
\
Hình 3.2: Sơ đồ thí nghiệm tìm hiểu ảnh hưởng của giống ớt cay đến sự phát
sinh phát triển của bọ trĩ hại ớt
Trang 343.4 Phương pháp định loại
Mẫu vật bọ trĩ thu thập ở ngoài đồng, bảo quản trong cồn 70o, được cho lên đĩa pettri soi dưới kính lúp điện làm tiêu bản lam đưa lên kính lúp soi nổi và kính hiển vi để tiến hành giám định Dựa vào các đặc điểm hình thái bên ngoài như màu sắc, râu đầu, các dạng lông mọc của cánh, các lông mọc trên ngực…, với sự giúp đỡ của các thầy cô giáo bộ môn, dựa vào hệ thống phân loại của Laurence A Mound, (2007) để xác định chính xác tên loài
3.5 Một số biện pháp phòng chống bọ trĩ hại ớt
3.5.1 Phương pháp dùng bẫy dính (bẫy màu vàng) để bắt bọ trĩ
Dùng giấy bìa màu vàng mà bọ trĩ ưa thích kích thước 20 x 30 cm được bọc trong lúi nilon trắng trong, bên ngoài phết một lớp mỡ bò sao cho màu vàng thể hiện rõ nhất Chọn 3 ruộng liên tiếp để đặt bẫy, với diện tích ruộng 90 m2, mỗi luống trong ruộng có chiều dài 12m, bề rộng luống 1,2m, rãnh 0,3m Như vậy mỗi ruộng có 5 luống, trên mỗi luống cách 6m đặt 1 bẫy, sẽ có 3 bẫy/luống Treo bẫy màu vàng lên cọc tre cao bằng chiều cao cây ớt Định kì 7 ngày/ lần đếm số lượng trưởng thành bọ trĩ vào bẫy và thay bẫy mới kết hợp với các đợt điều tra diễn biến mật độ bọ trĩ trên đồng ruộng, Theo dõi khả năng vào bẫy của trưởng thành bọ trĩ đến hết thời gian nghiên cứu Xác định số lượng bọ trĩ dính vào bẫy và xác định số lượng bọ trĩ có trên ruộng
Chỉ tiêu theo dõi: Số bọ trĩ / bẫy/ 7 ngày điều tra và mật độ bọ trĩ /lá,
Trang 35tiến hành trờn ruộng được trồng giống ớt cay Red chili F1 tại xó Quỳnh Hải Thời điểm phun thuốc là lỳc cú mật độ bọ trĩ xuất hiện cao trờn đồng ruộng, thời kỡ cõy ớt
ra hoa rộ đến quả non (cú mật độ bọ trĩ trước thời điểm phun thuốc, tại bảng phụ lục chạy anova)
+ Cụng thức 1: Phun nước ló
+ Cụng thức 2: Phun thuốc Kurabar WP, hoạt chất Abamectin (0.1%) +
Bacillus thuringiensis var.kurstaki (1.9%) Lượng dựng 50g/ha
+ Cụng thức 3: Phun thuốc Rholam 20EC, hoạt chất Emamectin benzoate (Avermectin B1a 90 % + Avermectin B1b 10 %) cú tỏc dụng tiếp xỳc, vị độc và nội hấp; lượng dựng 0,2 lớt/ha
+ Cụng thức 4: Phun Admire 200 OD, với hoạt chất Imidacloprid
+ Cụng thức 5: Phun Scorpion 36EC, với hoạt chất Abamectin 35g/l + Fipronil 1g/l
Là thuốc trừ sõu hỗn hợp hai nhúm sinh học và hoỏ học, Cả hai nhúm rất mẫn cảm với hệ thống thần kinh của cụn trựng Sau khi phun thuốc cụn trựng ngừng ăn ngay, cỏc chức năng ngừng hoạt động và chết từ từ; liều lượng dựng 0,5lit/ha
Thớ nghiệm 5 cụng thức với 3 lần nhắc lại, kớch thước của mỗi ụ thớ nghiệm là 30m2 và cỏc cụng thức được sắp xếp theo khối ngẫu nhiờn hoàn chỉnh (RCB) Cú dải phõn cỏch giữa cỏc cụng thức là 1 luống ớt
- Chỉ tiờu điều tra: Mật độ bọ trĩ (con/lỏ hoặc hoa)
- Số điểm điều tra:
Mỗi ụ chọn 10 điểm trờn 2 đường chộo gúc, điều tra mật độ bọ trĩ trước khi phun thuốc, và sau khi phun thuốc 1 ngày, 3 ngày, 5 ngày, và 7 ngày
Hiệu lực của thuốc được tớnh theo cụng thức Henderson - Tilton
3.6 Cụng thức tớnh toỏn
- Tính độ thường gặp (%) để đánh giá mức độ phổ biến của từng loài côn trùng theo không gian điều tra
OD (%) = Na N x 100 (1) Trong đó:
Na: Số điểm điều tra có chứa loài a N: Tổng số điểm điều tra
Trang 36∑ bọ trĩ có trên bộ phận điều tra
∑ số bộ phận điều tra điều tra
Ta: Số cá thể sống ở công thức xử lý sau phun
Tb: Số cá thể sống ở công thức xử lý trước phun Ca: Số cá thể sống ở công thức đối chứng sau phun Cb: Số cá thể sống ở công thức xử lý thuốc trước phun
- Kết quả được xử lý thống kê trên máy vi tính theo chương trình thống kê sinh học IRRISTAT 4.0
Trang 374 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Kết quả nghiên cứu về thành phần loài, phạm vi kí chủ, và triệu chứng của
bọ trĩ hại ớt tại Quỳnh phụ, Thái Bình năm 2013 – 2014
4.1.1 Thành phần, mức độ phổ biến của bọ trĩ hại ớt
Việc hình thành vùng trồng ớt tập trung đã tạo thuận lợi cho công tác thu mua và phát triển sản xuất, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nhiều hộ nông dân trồng ớt, song chính điều này đã tạo điều kiện cho nhiều đối tượng dịch hại, trong
đó đáng kể là nhóm sâu hại do bọ trĩ gây ra, đe doạ đến tình hình sản xuất ớt của huyện Để chủ động trong các biện pháp phòng trừ do bọ trĩ gây ra, mang lại hiệu quả kinh tế, việc xác định được thành phần bọ trĩ và mức độ hại của loài bọ trĩ chính hại ớt có ý nghĩa rất quan trọng Trong thời gian thực hiện đề tài chúng tôi đã tiến hành điều tra thành phần và mức độ bị hại bởi các loài bọ trĩ gây ra trên cây ớt Chúng tôi tiến hành điều tra thu thập toàn bộ các mẫu bọ trĩ gây hại trên ngọn, lá, hoa, quả non ớt từ vụ trồng ớt hè thu và vụ đông để xác định thành phần bọ trĩ hại
ớt Kết quả thu được trình bày ở bảng 4.1
Bảng 4.1 Thành phần và mức độ phổ biến của các loài bọ trĩ hại ớt
năm 2013-2014 tại Quỳnh Phụ, Thái Bình
Trang 38Kết quả điều tra cho thấy trong cả hai vụ trồng ớt chủ yếu của huyện, cây ớt bị 3
loài bọ trĩ gây hại lần lượt là: Bọ trĩ Thrips palmi Karny và Scirtothrips dosalis Hood gây hại ở lá, ngọn, và hoa Loài bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom chỉ xuất
hiện khi cây ớt ở giai đoạn ra hoa, nhưng mật độ không cao Trong 3 loài bọ trĩ trên,
thì Thrips palmi Karny xuất hiện phổ biến nhất, loài Scirtothrips dosalis Hood xuất
hiện phổ biến, chúng đều xuất hiện từ giai đoạn trồng đến khi thu hoạch Loài bọ trĩ
Frankliniella intonsa xuất hiện không phổ biến và chỉ gây hại trên hoa, chúng dần biến mất ở giai đoạn cuối thu hoạch
4.1.2 Đặc điểm hình thái của các loài bọ trĩ hại ớt
* Đặc điểm hình thái loài Frankliniella intonsa Trybom
Bọ trĩ Frankliniella intonsa Trybom thuốc giống Frankliniella họ Thripidae
Trưởng thành cơ thể dài 1,6mm, phần đầu và ngực trước màu vàng nâu sẫm, bụng màu đen Râu đầu có 8 đốt, trong đó có đốt 1 và đốt 2 màu nâu (đốt 2 đậm hơn), đốt thứ 3-5 màu vàng đậm, đỉnh đốt 4 và đốt 5 màu nâu đậm, đốt thứ 6- 8 màu nâu, đốt râu 3 và 4 đều có cơ quan cảm giác chia 2 nhánh.Đầu chiều rộng lớn hơn chiều dài, phình ra ở phần gốc Lông ở giữa 2 mắt đơn sau rất phát triển Chân màu vàng, chày chân sau có hàng lông gai ở mép trong Trên mảnh lưng ngực trước có 5 đôi lông dài, lông ở góc trước hơi dài hơn lông ở mép trước, các đôi lông ở góc sau dài hơn đôi lông ở giữa Mảnh lưng ngực sau có 1 đôi lông dài nằm sát mép trước
Cánh trước màu vàng, gân đều có lông dài và màu đậm, diềm lông mép sau lượn sóng Mép sau của mặt lưng đốt bụng thứ VIII có hàng lông dạng lược mảnh
và phình ra ở gốc, mảnh lược nằm trước lỗ thở tính từ mép bụng vào giữa bụng Hai đôi cánh không che hết bụng khi bọ trĩ đứng yên Máng đẻ trứng dài
Trang 39Hình 4.1 Đặc điểm hình thái của Frankliniella intonsa Trybom
(Nguồn ảnh: GS.TS Laurence A Mound, 2007)
Loài này chỉ xuất hiện khi cây ớt ở giai đoạn ra hoa, chúng dần dần biến mất
ở giai đoạn cuối thu hoạch, nên chúng là dịch hại thứ yếu trên cây ớt
* Đặc điểm hình thái bọ trĩ S dorsalis
Trưởng thành cơ thể mới vũ hóa màu trắng, sau chuyển thành màu vàng đậm, giữa bụng có màu đậm Trưởng thành đực có cơ thể nhỏ hơn con cái, bụng thon nhỏ Râu đầu có 8 đốt màu xanh nhạt, đầu có 1 đôi lông nằm giữa 2 mắt đơn phía sau Mảnh lưng ngực trước có 4 đôi lông ở mép sau, mảnh lưng ngực giữa có những sọc ngang chạy dài Lông ở mảnh lưng ngực sau không nằm sát mép trước Cánh trước có lông ở mép trước, gân thứ 2 chỉ có 2 lông Đốt bụng thứ V-VII có những hàng lông nhỏ ở 2 bên sườn (đây là đặc điểm phân biệt của giống
Scirtothrips) Đốt bụng thứ VIII có những hàng lông nhỏ ở giữa Mép sau của mặt lưng đốt bụng thứ VIII có hàng lông dạng lược mảnh và dài
Trang 40
Hình 4.2 Trưởng thành và ấu trùng loài Scirtothrips dorsalis
(Nguồn ảnh: Hoàng Thị Sâm, 2013 )
* Đặc điểm hình thái của bọ trĩ Thrips palmi Karny
Trưởng thành cơ thể màu vàng nhạt, cơ thể dài 0,6mm, râu đầu có 7 đốt, râu đốt thứ III màu đậm ở đỉnh; đốt thứ IV, thứ V đậm nhưng nhạt dần ở gốc; đốt thứ
VI và thứ VII đậm; đốt râu thứ III và thứ IV có cơ quan cảm giác hình nón chia thành 2 nhánh Đầu có 1 đôi lông ở gần mắt đơn thứ nhất và 1 đôi lông nhỏ hơn ở gần mắt kép, mảnh lưng ngực trước có 2 đôi lông ở góc mép sau Cánh trước hàng gân thứ nhất của cánh trước có 7 lông ở gốc và 2 hoặc 3 lông ở ngọn, hàng gân thứ hai
có 12 lông xếp thành hàng ngang Giữa mảnh lưng ngực sau có 1 đôi lông Mép sau của mặt lưng đốt bụng thứ VIII có hàng lông dạng lược dài và mảnh lược (ctenidia) nằm sau lỗ thở tính từ mép bụng vào giữa bụng