1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát tư tưởng mỹ học và văn học của Phạm Quỳnh

125 530 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Sát Tư Tưởng Mỹ Học Và Văn Học Của Phạm Quỳnh
Tác giả Nguyễn Thanh Tùng
Người hướng dẫn Phó Giáo Sư – Tiến Sỹ Phùng Quý Nhâm
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lý Luận Văn Học
Thể loại Luận Văn Thạc Sỹ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài về : Khảo sát tư tưởng mỹ học và văn học của Phạm Quỳnh

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

————————————

NGUYỄN THANH TÙNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN

Chuyên nghành: Lý luận văn học

Mã số: 60 22 32

Người hướng dãn khoa học:

PHÓ GIÁO SƯ – TIẾN SỸ PHÙNG QUÝ NHÂM

Thành phố Hồ Chí Minh tháng 9 năm 2010

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó giáo sư – Tiến sỹ Phùng Quý Nhâm

Những luận điểm khoa học trong luận văn này là kết quả do chúng tôi nghiên cứu, bảo đảm tính trung thực và chưa từng được ai giải quyết trong bất kỳ công trình khoa học nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Tùng

Trang 3

LỜI TRI ÂN

Luận văn này là kết quả quá trình học tập, nghiên cứu suốt ba năm trong chương trình đào tạo Thạc sỹ, dưới sự truyền dạy, hướng dẫn nhiệt tình, nghiêm túc và khoa học của tập thể thầy cô là các Giáo sư, Phó giáo sư, tiến sỹ đáng kính của Trường Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Trường Đại học Văn Hiến, Trung tâm nghiên cứu quốc học, Viện nghiên cứu giáo dục và Viện nghiên cứu văn học Vì thế, trước tiên, tôi xin kính gửi đến quí thầy cô lời tri ân sâu sắc về những tri thức và tình cảm mà quý thầy cô đã dành cho tôi trong thời gian qua!

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đến Phó giáo sư – Tiến sỹ Phùng Quý Nhâm, một nhà giáo mẫu mực trong nhân cách; tận tâm trong giảng dạy và nghiêm túc, khách quan trong khoa học, người đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành luận văn này!

Nhân đây, tôi cũng xin gửi đến vợ, con, bạn bè và những đồng nghiệp thân thiết của tôi – những người đã động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi, trong thời gian học tập và thực hiện công trình khoa học đầu tiên của mình – lời cảm ơn chân thành, thắm thiết!

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 9 năm 2010

Nguyễn Thanh Tùng

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Văn hóa Việt Nam nói chung và văn học Việt Nam nói riêng, trong tiến trình lịch sử của mình đã có những cuộc tiếp xúc, ảnh hưởng lớn, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp với văn hóa, văn học nước ngoài Trong quá trình tiếp xúc ấy, văn hóa - văn học Việt Nam đã tiếp thu, chắt lọc tinh hoa của nhân loại để tự làm phong phú và tạo nên bản sắc riêng của dân tộc

Trong suốt hành trình dài hơn mười thế kỷ phát triển của văn hóa – văn học Việt Nam, phải kể đến hai cuộc tiếp xúc lớn, với những ảnh hưởng vô cùng quan trọng:

- Một của văn hóa phương Đông, mà chủ yếu là văn hóa Trung Hoa, từ thế kỷ XIX trở

Trong công cuộc tiếp thu những kinh nghiệm và thành tựu của văn hóa – văn học phương Tây để hiện đại hóa nền văn hóa – văn học Việt Nam ở chặng đường những năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, công đầu thuộc về những tên tuổi lớn như Pétrus Trương Vĩnh Ký, Paulus Huỳnh Tịnh Của, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn…Đó là người thuộc lớp trí thức Tây học đầu tiên của Việt Nam, với tinh thần cầu thị, với tư tưởng tiến bộ và đặc biệt là với nhiệt tình yêu nước và ý thức dân tộc, đã tự nguyện làm người đi tiên phong trong công cuộc tiếp thu, truyền bá những tư tưởng văn hóa – văn học tiên tiến của phương Tây, góp phần không ít vào công cuộc chấn hưng, hiện đại hóa văn hóa – văn học dân tộc

Một trong những nhân vật xứng đáng được lịch sử văn học Việt Nam ghi công đầu trong công cuộc chấn hưng, hiện đại nói trên đó là nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn, nhà giáo,

học giả Phạm Quỳnh Trần Văn Chánh, trong Lời giới thiệu Phạm Quỳnh và Thượng Chi văn tập vào tháng 7 năm 2005, đã viết về trường hợp Phạm Quỳnh như sau:

Trang 5

“Trong lịch sử văn học Việt Nam thời kỳ cận – hiện đại, Phạm Quỳnh có lẽ là một trong những nhân vật nổi bật nhưng lại có vẻ gây nên nhiều cuộc tranh luận với những ý kiến đánh giá khác nhau nhất Nói như vậy, dù tán thành hay phản đối, hoặc giữ thái độ chiết trung, mặc nhiên mọi người đã thừa nhận vai trò không thể xem thường của của nhân vật này trong bối cảnh lịch sử văn hóa cụ thể nhất định”

[3, 9]

Bằng tài năng và sở học uyên bác, bằng sự kiên trì và cẩn trọng trong khoa học và đặc biệt là bằng tình yêu tha thiết với văn hóa, văn học nước nhà, Phạm Quỳnh đã đóng góp một

sự nghiệp trước tác khá đồ sộ Tạp chí Nam Phong, trong mười bảy năm tồn tại, ấn hành

được 210 số, riêng Phạm Quỳnh đã đóng góp có tới chục ngàn trang viết, trải rộng ra trên hầu khắp mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, triết học, giáo dục đến văn chương, ngôn ngữ, …Với sự đóng góp lớn lao ấy, Phạm Quỳnh xứng đáng được thừa nhận là một trong những người có công lớn trong thời kỳ đầu xây dựng và phát triển của nền báo chí và văn học quốc ngữ nước nhà Đặc biệt, với tư cách là một nhà văn, một nhà biên khảo, Phạm Quỳnh là người đầu tiên cung cấp cho người đọc những khái niệm bước đầu về mỹ học nói chung cũng như về thơ, về tiểu thuyết… nói riêng

Ngay trước năm 1945, tên tuổi của Phạm Quỳnh đã được nhắc đến một cách trang

trọng trong một số công trình nghiên cứu có giá trị như Phê bình và cảo luận của Thiếu Sơn, Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm, Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan…Ở

miền Nam trước năm 1975, trong một số sách văn học sử tiêu biểu của các tác giả như Thanh

Lãng, Phạm Thế Ngũ…Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong cũng được giới thiệu khá chi tiết

qua hàng trăm trang sách với tất cả mọi khía cạnh phức tạp của vấn đề Năm 1963, cũng ở

miền Nam, diễn ra cuộc tranh luận với tên gọi Vụ án truyện Kiều hết sức kịch liệt và kéo dài,

mà giáo sư Nguyễn Văn Trung đã tập hợp lại thành một “hồ sơ”

Tuy nhiên trong suốt một thời gian khá dài, vì những lý do khác nhau, vấn đề Phạm Quỳnh vẫn chưa thật sự được tìm hiểu, nghiên cứu một cách đầy đủ, đúng mức, xứng tầm với sự đóng góp của ông đối với nền văn học nước nhà Thời gian gần đây, tư tưởng đổi mới

tư duy do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc nhận thức và đánh giá lại một cách khách quan hơn đối với một số vấn đề trong lịch sử văn hóa - văn học nước nhà Phạm Quỳnh và sự nghiệp của ông đã được đặt ra và đánh giá lại trong tình hình chung ấy

Trang 6

Trong điều kiện như vậy, việc nghiên cứu để có cái nhìn toàn diện, khách quan và khoa học về sự nghiệp văn hóa – văn học của Phạm Quỳnh cũng như những đóng góp của ông đối với văn hóa – văn học Việt Nam là điều hết sức cần thiết Đó cũng là lý do mà chúng

tôi chọn đề tài: KHẢO SÁT TƯ TƯỞNG MỸ HỌC VÀ VĂN HỌC CỦA PHẠM QUỲNH

làm đối tượng nghiên cứu khoa học để thực hiện luận văn

Nghiên cứu về Phạm Quỳnh và sự nghiệp của ông là một vấn đề hết sức khó khăn và phức tạp Bởi lẽ như trên đã nói, sự nghiệp văn hóa - văn học của Phạm Quỳnh khá đồ sộ, trải rộng ra trên hầu khắp mọi lĩnh vực Dẫu có nhiều tham vọng, nhưng vì nhiều lý do, người viết chỉ có thể tiến hành nghiên cứu một khía cạnh nhỏ trong sự nghiệp của Phạm Quỳnh như đã xác định ở trên, với mong muốn góp thêm tiếng nói vào việc nghiên cứu sự nghiệp của học giả này

2 MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài được thực hiện với mục đích khảo sát tư tưởng mỹ học và văn học của Phạm Quỳnh nhằm tìm hiểu một cách có hệ thống các quan niệm về mỹ học cũng như văn học được thể hiện trong các tác phẩm của ông Trên cơ sở đó, đánh giá một cách đúng đắn và khách quan những đóng góp về tư tưởng mỹ học và văn học của Phạm Quỳnh

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Sự nghiệp khoa học của Phạm Quỳnh, như đã giới thiệu một cách khái quát ở trên, rất

đồ sộ, trải rộng ra trên nhiều lĩnh vực Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chỉ giới hạn qua việc tập trung khảo sát tư tưởng mỹ học và văn học của Phạm Quỳnh thể hiện qua các bài viết, công trình mà tác giả đã công bố Khi khảo sát tư tưởng mỹ học và văn học của Phạm Quỳnh, luận văn chủ yếu tập trung tìm hiểu những quan niệm về mũ học và văn học của ông

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 7

Mục đích nghiên cứu của đề tài là khảo sát tư tưởng mỹ học và văn học của học giả – nhà văn Phạm Quỳnh, với tư cách là một trong số những người đi tiên phong trong giai đoạn đầu của quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả luận văn sẽ nêu ý kiến đánh giá về những đóng góp của Phạm Quỳnh đối với văn hóa – văn học nước nhà, chủ yều ở giai đoạn những năm đầu thế kỷ XX

Trong quá trình nghiên cứu và xử lý các yêu cầu khoa học do đề tài đặt ra, chúng tôi chủ yếu sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thống kê, là phương pháp vay mượn từ một ngành khoa học chuyên biệt của toán học – ngành thống kê học, được chúng tôi sử dụng như một công cụ hỗ trợ cho việc thu thập, tổ chức và phân tích các tài liệu, ý kiến có liên quan đến việc tìm hiểu các quan niệm về mỹ học và văn học của học giả Phạm Quỳnh được thể hiện một cách khá rải

rác và tản mạn trên các số báo của tạp chí Nam Phong Qua đó, chúng tôi mong có thể rút ra

những kết luận khách quan về tư tưởng mỹ học và văn học của học giả này

- Phương pháp so sánh được sử dụng để làm rõ những nét tương đồng cũng như dị biệt

về nội dung và hình thức giữa văn học Trung đại và hiện đại; làm rõ được sự khác biệt của

tình hình báo chí trước và từ khi Nam Phong tạp chí ra đời để làm rõ được vai trò của Phạm Quỳnh và Nam Phong đối với tiến trình phát triển của văn học và báo chí trong thời kỳ đầu

Mặt khác, nó cũng được sử dụng để nghiên cứu tác giả Phạm Quỳnh trong mối tương quan với các tác giả cùng thời để qua đó có đánh giá một cách đúng đắn, khách quan về những đóng góp của Phạm Quỳnh đối với mỹ học và văn học của dân tộc

- Phương pháp hệ thống được dùng để hệ thống hóa các công trình trước tác của Phạm Quỳnh, từ đó có những đánh giá, kết luận về đóng góp của Phạm Quỳnh trong một bối cảnh đặc biệt của lịch sử văn hóa dân tộc

Ngoài ra chúng tôi đồng thời sử dụng các thao tác quen thuộc như liệt kê, phân tích, tổng hợp v.v…

4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Trang 8

lực chung nghiên cứu sự nghiệp khoa học của Phạm Quỳnh, ghi nhận vai trò của học giả – nhà văn này đối với giai đoạn phát triển đặc biệt của văn hóa – văn học Việt Nam những năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp thêm một cái nhìn hệ thống về tư tưởng mỹ học và văn học của Phạm Quỳnh; những đóng góp cũng như hạn chế của ông trong các lĩnh vực này Ngoài ra, kết quả nghiên cứu này cũng có thể được sử dụng ở cấp học trung học phổ thông và đại học như một tài liệu tham khảo bổ ích, phục vụ cho giảng dạy và học tập văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX

5 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Vấn đề Phạm Quỳnh và sự nghiệp của ông đã được các nhà nghiên cứu quan tâm ngay

từ khi ông còn sống

Trong tác phẩm Phê bình và cảo luận, xuất bản năm 1933, tác phẩm được xem như

một trong những công trình lý luận phê bình hiện đại đầu tiên của văn học Việt Nam, Thiếu Sơn đã có những nhận định hết sức xác đáng và toàn diện cả về tư tưởng chính trị cũng như

về sự nghiệp văn hóa của Phạm Quỳnh Đánh giá những đóng góp của Phạm Quỳnh về văn

hóa, ở phần thứ nhất, mục Phê bình nhân vật của tác phẩm này, Thiếu Sơn viết:

“… những công trình về văn học, triết học của Âu châu và nhất là của nước Pháp, ông diễn dịch ra quốc văn rất nhiều, mà dịch thật đúng, thật hay, vừa biết tôn trọng cái nguyên ý của tác giả lại vừa lựa theo cái giọng điệu của quốc văn

Bởi mưu cái công cuộc mới mẻ đó, mà cái tiếng nói bản quốc còn nghèo nàn túng thiếu quá, nên ông lại phải lo tài bồi cho quốc văn, mượn những danh từ triết học khoa học của tiếng Tàu, tiếng Nhật cho nhập tịch vào quốc ngữ để có thể diễn thuật được những cái mà tiếng Nôm ta không đủ để gọi ra…(…)

Cái công phu trứ tác của ông, ích cho quốc dân không phải là nhỏ mà ảnh hưởng đối với nhân chúng cũng thiệt là sâu (…)

Cái cây bút quốc văn của ông Phạm Quỳnh nó đã ảnh hưởng đến thế mà cái cây bút Pháp văn của ông nó cũng danh giá lắm thay (.…)

Mà đọc văn ông, tất cũng có thể biết thêm được cái tinh thần bổn sắc của nước Việt Nam nó cũng không đến nỗi hèn kém gì.” [18, 59; 60]

Trang 9

Theo đánh giá của Thiếu Sơn trên đây, thì đóng góp của Phạm Quỳnh đối với văn hóa nước nhà quả là không nhỏ Sự đóng góp ấy trải rộng ra trên nhiều lĩnh vực: Ngôn ngữ, trước tác, học thuật …

Về sự nghiệp chính trị của Phạm Quỳnh, ông Thiếu Sơn cũng có những nhận xét khá khách quan và xác đáng Theo ông, việc Phạm Quỳnh tham gia làm chính trị, nhằm thực hiện

cái ước muốn về chủ trương lập hiến của mình, cho dù “Cái chương trình lập hiến của ông

nó cũng có giá trị lắm chớ!” [19, 61], là không phù hợp với hoàn cảnh của đất nước lúc bấy

giờ Đây là điều đáng tiếc, nếu không nói là sai lầm Bản thân Phạm Quỳnh cũng chịu không

ít hệ lụy từ hành động chính trị đó của mình Tuy nhiên, động cơ, mục đích của hành động ấy cũng không ngoài tấm lòng thiết tha với đất nước, với dân tộc Chiêu tuyết cho Phạm Quỳnh,

Thiếu Sơn viết: “Căn cứ vào cái quan niệm riêng của ông, ông khởi thảo ra một cái chương trình Lập hiến mà cho rằng nếu thiệt hành ra thì sẽ thỏa mãn được cái tư tưởng quốc gia của dân tộc An Nam và định yên được thời cục” [18, 61]

Năm 1941, trong Việt Nam văn học sử yếu, phần chương trình dành cho Năm thứ ba,

ban Trung học Việt Nam, Dương Quảng Hàm đã viết hẳn một chương về Phạm Quỳnh với kết luận rất xác đáng về những đóng góp của học giả – nhà văn này đối với nền quốc văn như sau:

“Ông Vĩnh có công diễn dịch những tiểu thuyết và kịch bản của Âu Tây và phát biểu những cái hay trong tiếng Nam ra; Ông Quỳnh thì có công dịch thuật các học thuyết tư tưởng của Thái Tây và luyện cho tiếng Nam có thể diễn đạt được các ý tưởng mới Đối với nền văn hóa cũ của nước ta thì ông Vĩnh hay khảo cứu những phong tục tín ngưỡng của dân chúng, mà ông Quỳnh thường nghiên cứu đến chế

độ, văn chương của tiền nhân Văn ông Vĩnh có tính cách giản dị của một nhà văn bình dân, văn ông Quỳnh có tính cách trang nghiêm của một học giả Tuy văn nghiệp của mỗi người có tính cách riêng, nhưng hai ông đều có công với việc thành lập quốc văn vậy.” [8, 403]

Năm 1942, khi xuất bản bộ sách Nhà văn hiện đại, ở phần Các nhà văn đi tiên phong,

nhà nghiên cứu phê bình văn học Vũ Ngọc Phan đã dành hơn ba mươi trang sách viết về Phạm Quỳnh cùng những đánh giá khá trọng thị đối với các công trình khảo cứu, dịch thuật,

du ký và bình luận của ông:

“Ông là người viết nhiều nhất trong tạp chí Nam Phong(…) [16, 73] Nhưng một điều mà người đọc nhận thấy trước nhất trong những bài biên tập và trước thuật

Trang 10

của ông là ông không cẩu thả(…) [16, 75] Phạm Quỳnh là một nhà văn có thể bàn luận một cách vững vàng và sáng suốt bất cứ về một vấn đề gì, từ thơ văn cho đến triết lý, đạo giáo cho đến chính trị, xã hội, không một vấn đề nào là ông không tham khảo tường tận trước khi đem bàn trên mặt giấy Trong lịch sử văn học hiện đại, người ta sẽ không thể nào quên được tạp chí Nam Phong, vì nếu ai đọc toàn

bộ tập tạp chí này, cũng phải nhận là rất đầy đủ, có thể giúp cho người học giả một phần to tát trong việc soạn một bộ bách khoa toàn thư bằng quốc văn” [16, 109]

Ở miền Nam, trước năm 1975, tên tuổi và sự nghiệp của Phạm Quỳnh cũng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm tìm hiểu Kết quả nghiên cứu về Phạm Quỳnh được công bố qua một số công trình tiêu biểu như: các bộ sách văn học sử của các tác giả Thanh Lãng,

Phạm Thế Ngũ…; như: Văn học Việt Nam dẫn luận (Introduction à la litérature

Vietnamiene) của Maurice Durant và Nguyễn Trần Huân (Maison neulve et la rose, Paris,

1969); như: Bài học Phạm Quỳnh của Thiếu Sơn, Chủ đích Nam Phong, Trường hợp Phạm Quỳnh, Vụ án truyện Kiều của Nguyễn Văn Trung…

Đặc biệt, trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (tập III, phần văn học hiện đại),

tác giả Phạm Thế Ngũ đã dành hẳn một chương (Chương III) với hơn một trăm hai mươi trang sách để nghiên cứu một cách hết sức tỉ mỉ, nghiêm túc, khách quan về cuộc đời, sự

nghiệp cũng như những đóng góp của Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí đối với văn hóa,

văn học dân tộc, mà ta có thể tách ra như một công trình khoa học độc lập

Trong mục bàn về Tư tưởng bảo thủ của Phạm Quỳnh, tác giả nêu nhận định:

“Như vậy, việc ý thức cái cốt cách, cái cá tính, cái bản ngã của mình để mà bảo

vệ, mà tài bồi thật là tối cần Nó chỉ có thể có với dân tộc nào hoặc với những ai quay về mình còn thấy cái gì cho là đáng quý đáng yêu, nghĩa là còn có tinh thần bảo thủ Không có nó, người ta sẽ trôi dạt đến chỗ bơ vơ mất gốc Có nó, người ta

có thể chống chọi lại mọi mưu mô quyến rũ từ ngoài, mọi mặc cảm tự ti từ mình Vấn đề đặt ra cho cả dân tộc cũng như cho mỗi cá nhân [14, 145]

Tuy bàn về “tư tưởng bảo thủ” của Phạm Quỳnh nhưng cách viết như trên của Phạm

Thế Ngũ chính là đã công tâm nhận ra cái ưu điểm của Phạm Quỳnh trong việc tiếp thụ và vận dụng kinh nghiệm văn hóa Thái Tây vào việc xây dựng văn hóa nước nhà

Kết thúc mục nghiên cứu về Chủ nghĩa quốc gia của Phạm Quỳnh, tác giả cũng có

những ý kiến hết sức khách quan và công tâm:

Trang 11

“Ngày nay chúng ta có nghiên cứu Phạm Quỳnh là nghiên cứu nhà báo và nhà văn của tạp chí Nam Phong, con người cùng tư tưởng trước 1932, con người tốt đẹp đã đóng một vai trò tương đối tiến bộ trong một giai đoạn lịch sử chánh trị và nhất là đã dày công xây đắp cho nền học và nền văn mới” [14, 170]

Ở miền Bắc, từ sau năm 1945 đến năm 1975, vấn đề Phạm Quỳnh là một vấn đề hết sức nhạy cảm Trong suốt thời gian này, hầu như không có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, khách quan về Phạm Quỳnh cũng như những đóng góp của ông đối với văn hóa và văn học nước nhà

Học giả Đặng Thai Mai, một người có uy vọng lớn trong giới nghiên cứu văn học ở

miền Bắc lúc bấy giờ, trong sách Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX (xuất bản năm

1961), thủy chung vẫn đánh giá Phạm Quỳnh chỉ là một tên tay sai, bồi bút phục vụ cho mưu

đồ xâm lăng, đồng hóa của thực dân Pháp đối với dân tộc ta Ông cả quyết khẳng định:

“Phạm Quỳnh đã đọc khá nhiều sách, đã viết về rất nhiều vấn đề Nhưng y chưa

hề nghiên cứu về một vấn đề gì Và về mọi mặt, chỗ “độc đáo” của y là điểm lạc hậu của bọn học giả phản động Pháp! Cảm tưởng cuối cùng của người đọc Nam Phong, nếu họ chịu khó suy nghĩ, thì Phạm Quỳnh là một người đã đọc khá nhiều sách và đã đem học thức ra bán rẻ cho bọn thống trị; là một nhà “học giả” có đủ chữ Hán và tiếng Việt để bịp người Tây; và cũng có đủ chữ Tây để lòe người An Nam” [10, 124]

Sau những nhận định có tính chất phán quyết chung thẩm của Đặng Thai Mai thì vấn

đề Phạm Quỳnh hầu như không có ai bàn đến hoặc có thì cũng chẳng nói khác hơn (ngoại trừ

duy nhất ý kiến của nhà văn Nguyễn Công Hoan trong Đời viết văn của tôi, NXB Văn học

Hà Nội 1971)1 Đây có lẽ cũng là hiện tượng có thể giải thích được trong một giai đoạn đặc biệt của lịch sử!

1

Nhà văn Nguyễn Công Hoan cho biết, Phạm Quỳnh là “người có chính kiến”; là người chủ trương thuyết lập hiến, rằng “người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884 nghĩa là chỉ đóng vai trò bảo hộ, còn công việc trong nước thì để vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy Bấy giờ, Phạm Quỳnh vào Huế làm quan không phải vì danh Quốc dân biết tên Phạm Quỳnh hơn nhiều Thượng

thư Nam triều Mà cũng chẳng phải vì lợi Đơn cử làm chủ bút Nam phong, Phạm Quỳnh được cấp 600 đồng một tháng Món này

to hơn lương Thượng thư Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ để lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884 Vậy là một người yêu nước như Phạm Quỳnh sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua là một việc miễn cưỡng trái với

ý mình để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn chứ thực lòng một người dân mất nước ai không đau đớn, ai không khóc thầm”

Trang 12

Cho đến gần đây, trong không khí đổi mới và dân chủ của đời sống văn hóa tư tưởng, với sự nhận thức trầm tĩnh, khách quan hơn về các vấn đề thuộc quá khứ lịch sử, Phạm Quỳnh và văn nghiệp của ông mới được nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học quan tâm trở lại

Năm 2000, tên của Phạm Quỳnh chính thức được nêu lên thành mục trong quyển Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của Nhà xuất bản giáo dục

Năm 2004, Từ điển văn học, bộ mới (Nhà xuất bản Thế giới, tháng 10/ 2004) đã bổ

sung mục Phạm Quỳnh, do Nguyễn Huệ Chi viết, dài đến ba trang Trong đó, công lao của ông đối với văn học nước nhà đã được đánh giá một cách khách quan và thừa nhận một cách

trang trọng Kết luận về Phạm Quỳnh, tác giả Nguyễn Huệ Chi có đoạn viết: “Là người biên khảo, lần đầu tiên Phạm Quỳnh cung cấp cho người đọc những khái niệm bước đầu về mỹ học nói chung cũng như về thơ, về tiểu thuyết…nói riêng” [9, 1366]

Ngoài những công trình có tính chất quy mô như trên, từ những năm 2000 đến nay tạp

chí Nghiên cứu văn học lần lượt đăng tải nhiều bài nghiên cứu sâu sắc và nghiêm túc về Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí: “Báo chí và văn chương qua một trường hợp: Nam Phong tạp chí” (Nguyễn Đình Chú, Trịnh Vĩnh Long – Số 2, 2005), “ Về thuật ngữ tiểu thuyết trên tạp chí Nam Phong” (Nguyễn Đức Thuận – Số 2, 2005), “Vai trò của trí thức trong quá trình tiếp nhận văn hóa phương Tây ở Việt Nam đầu thế kỷ XX” (Vương Trí Nhàn – Số 7, 2005), “Tình hình nghiên cứu phần văn trên Nam Phong tạp chí (1917 – 1934) từ

1975 đến nay” (Nguyễn Đức Thuận – Số 5, 2006), “Thượng Chi bàn về tiểu thuyết trên tạp chí Nam Phong” (Nguyễn Đình Chú – Số 4, 2007), “Thể tài du ký trên tạp chí Nam Phong”

(Nguyễn Hữu Sơn – Số 4, 2007) …

Ý thức sâu sắc về giá trị di sản tinh thần quý báu của cha ông và với niềm kính trọng một bậc thức giả, chúng tôi đã dành nhiều thời gian tìm hiểu về vấn đề Phạm Quỳnh Chúng tôi lấy làm băn khoăn khi nhận thấy rằng, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về tư tưởng mỹ học và văn học của Phạm Quỳnh cũng như những đóng góp và hạn chế của những tư tưởng đó đối với văn hóa – văn học Việt Nam trong một giai đoạn đặc biệt của lịch sử văn hóa – văn học của dân tộc Thảng hoặc, những vấn đề này cũng được nhắc đến trong một số công trình nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu uy tín nhưng để có một sự xem xét, nghiên cứu một cách hệ thống, kỹ lưỡng thì, như đã nói ở trên, cho đến nay vẫn còn là vấn đề bỏ ngõ

Trang 13

Đề tài Khảo sát tư tưởng mỹ học và văn học của Phạm Quỳnh có lẽ là một vấn đề vẫn

mang tính nhạy cảm Trở ngại không nhỏ đối với người thực hiện luận văn là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị điểm tựa hết sức hạn chế, chúng tôi hầu như phải tự mình giải quyết tất

cả các nội dung khoa học mà không được kế thừa nhiều thành quả của những nhà nghiên cứu

đi trước

6.CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài mở đầu và kết luận, luận văn gòm ba chương:

Chương 1: Vai trò của Phạm Quỳnh đối với báo chí và văn học những năm đầu thế kỷ

XX

Chương 2: Quan niệm về mỹ học của Phạm Quỳnh

Chương 3: Quan niệm về văn học của Phạm Quỳnh

Trang 14

CHƯƠNG 1

VAI TRÒ CỦA PHẠM QUỲNH ĐỐI VỚI BÁO CHÍ VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX

1.1 Tình hình báo chí Việt Nam trước khi Nam Phong tạp chí ra đời

Mầm mống báo chí đã có ở nước ta từ lâu, thể hiện dưới nhiều hình thức hết sức đa dạng, phong phú Đó là những câu vè lưu truyền trong dân gian, những lời rao của mõ làng,

những cuộc “giảng thập điều” trong trong sinh hoạt làng xã… cho đến những hình thức

“thông tin chính thức” của nhà nước phong kiến bằng cách yết bảng văn ở Quảng Văn Đình

thời Lê Thánh Tông hay Quảng Minh Đình thời Nguyễn Gia Long…

Nói về nguồn gốc báo chí, trong bài Nước ta xưa có được tự do ngôn luận không? đăng trên tạp chí Tri Tân, số 206 (04/ 10/ 1945), Ứng Hòe Nguyễn văn Tố cho biết:

“Khâm định Việt sử (quyển 14, tờ 15a) chép lại rằng: “Nguyên trước, những chiếu, lệnh của nhà vua, lâm thời bộ đem yết bảng, đến năm Tân Hợi (1491), vua

Lê Thánh Tông cho dựng một cái đình ở ngoài cửa Đại Hưng (tức cửa Nam thành Thăng Long) để làm nơi niêm yết những phép tắc trị dân, đặt tên là Quảng Văn Đình… Ba chữ “Quảng Văn Đình” nghĩa là một cơ sở để thu nhặt giấy tờ ở các nơi Đến đời Gia Long (1802 – 1819), làm đình ở phường Nam Hưng (tức Cửa Nam bây giờ), trên có đặt tên là Quảng Minh Đình… cũng để dán những huấn lệnh của nhà vua Cạnh đó có hai tòa nhà ngói ở cửa Đông Nam gọi là Hiệp Nghị đường (Nhà để họp bàn), phàm dân gian có việc gì uất ức, cho đến bày tỏ, cho nên các đình, ở mé ngoài miếu thờ Thành Hoàng vừa là nơi để tụ họp khi tế lễ, lúc hương ẩm, vừa để dán những huấn lệnh của nhà vua, cứ ngày Một và Rằm các huynh thứ trong làng ra đọc những huấn lệnh và giảng nghĩa cho dân gian nghe, thường gọi là giảng thập điều”

Như vậy cái đình tức là báo chí, có định lệ mồng Một và Rằm tức là nhật báo hoặc tuần báo…Báo chí tức là những tờ huấn lệnh dán ở đình làng tựa như tờ Acta diurna của người La Mã đời xưa” [Dẫn theo Đỗ Quang Hưng 37, 8; 9] Cách cắt nghĩa độc đáo trên của Ứng Hòe cho ta ý niệm về một “hình thức báo chí”

trong xã hội Việt Nam cổ truyền Tuy nhiên, theo đúng nghĩa hiện đại, báo chí Việt Nam chỉ thực sự xuất hiện cùng với sự thiết lập chế độ thuộc địa của Thực dân Pháp trên đất nước ta

Trang 15

Báo chí ở Việt Nam ra đời đầu tiên và trước hết là nhằm phục vụ cho mưu đồ xâm lăng và thống trị của thực dân Pháp về nhiều phương diện, đặc biệt là phương diện chính trị

và văn hóa Ngay từ khi chiếm được Nam Kỳ, vào năm 1861, thực dân Pháp đã cho xuất bản

tờ công báo đầu tiên phục vụ cho công cuộc viễn chính của chúng ở xứ này Đó là tờ Bulletin officiel de l'Expédition de la Cochinchine (Kỷ yếu công vụ cuộc viễn chinh xứ Nam Kỳ) mà

nội dung của nó là những nghị định, công văn, đạo luật, các chỉ thị, các bài diễn văn… phát

ra từ soái phủ Nam Kỳ Tờ báo được lưu hành và sử dụng như một phương tiện thông tin và thống nhất chỉ đạo cho cuộc đánh chiếm và cai trị của Pháp ở Nam Kỳ Nó đặt nền móng cho các tờ công báo chính thức về sau này của chính quyền thực dân

Cùng với tiến trình đánh chiếm và áp đặt chế độ cai trị của thực dân Pháp lên các vùng đất của Việt Nam, hàng loạt tờ báo, tạp chí bằng tiếng Pháp của chính quyền thực dân đã nối

tiếp nhau ra đời: Le Courrier de Saigon (Tin Sài Gòn) ấn hành số đầu tiên vào ngày 01/ 01/

1864, đến năm 1879 đổi thành Journal Officiel la Cochinchine (Công báo xứ Nam Kỳ), và cuối cùng, năm 1889, mang tên Journal Officiel de l'Indochine (Công báo Đông Dương); những bản Niên giám (An nuaire) được xuất bản hàng năm, từ năm 1865; Bulletin Officiel du protectorat de l'Annam et du Tonkin (Kỷ yếu công vụ của nền bảo hộ xứ Trung và Bắc kỳ)

ấn hành vào năm 1883, đến năm 1886 đổi thành Moniteur du Protectorat de l'Annam et du Tonkin; L'Avenir du Tonkin (Tương lai xứ Bắc Kỳ - 1884); Bulletin du comité agricole et industriel de la Cochinchine (Kỷ yếu của Ủy ban canh nông và kỹ nghệ xứ Nam Kỳ - 1869 – 1881); Bulletin de la Societé Etudes Indochinoise (Kỷ yếu của Hội nghiên cứu Đông Dương – 1883); Revue Indochinoise (Tạp chí Đông Dương – 1892)…

Ngoài những tờ công báo của chính quyền thực dân, hàng loạt các tờ báo tư nhân bằng tiếng Pháp cũng thi nhau ra đời Tính từ sau 1861 cho đến đầu thế kỷ XX, ta thấy số lượng các tờ báo bằng tiếng Pháp này chiếm một số lượng đáng kể ở cả Bắc và Nam Kỳ

Ở Nam Kỳ (chủ yếu tập trung ở Sài Gòn) có các tờ báo sau đây: Independance de Saigon (Sài Gòn độc lập – 1870), L'Ere nouvelle (Nhật tân báo – 1879), Journal de Saigon (Nhật báo Sài Gòn – 1880), Le Mékong (Mê Kông – 1883), Le Saigonais (Người Sài Gòn – 1883), L'Indochine (Đông Dương – 1884), Unité Indochinoise (Đông Dương thống nhất – 1884), La Trompette (Kèn đồng – 1884), L'Extrême Orent (Viễn Đông – 1887), L'Independant (Tự lập – 1888), Le Courier Saigonais (Tin Sài Gòn – 1889), Saigon Respublicain (Sài Gòn cộng hòa – 1888), Petites affiches (Rao vặt – 1888), Le Cochinchinois (Dân Nam Kỳ - 1888), Le progres de Saigon (Sài Gòn tiến bộ - 1889), …

Trang 16

Ở Bắc Kỳ, dòng báo chữ Pháp có phần ít ỏi hơn Cuối thế kỷ XIX, ngoài tờ báo

L'Avernir du Tonkin (Tương lai xứ Bắc Kỳ) còn có các tờ Le Courier d'Haiphong (Tin tức Hải Phòng - 1886), L'Indépendance Tonkinoise (Xứ Bắc Kỳ tự lập - 1889), L'escho du Tonkin (Tiếng vang Bắc Kỳ - 1896), Le France d'Asie (Pháp – Á, 1893), Le gazette d'Haiphong (Báo Hải Phòng, 1895)…

Có một thực tế là từ năm 1861, sau sự ra đời của tờ báo Bulletin officiel de l'Expédition de la Cochinchine (Kỷ yếu công vụ cuộc viễn chinh xứ Nam Kỳ) tuy hàng loạt

tờ báo bằng tiếng Pháp đã xuất hiện trên khắp cõi Việt Nam với số lượng khá lớn nhưng chủ yếu chúng chỉ dành cho độc giả Pháp, chủ yếu là giới quân sự và dân sự trong bộ máy chính quyền thuộc địa mà rất ít người Việt sử dụng được

Như đã nói ở trên, báo chí ở Việt Nam ra đời trước hết là nhằm phục vụ cho mưu đồ xâm lăng và thống trị của thực dân Pháp Sau Hòa ước 1862, về cơ bản thực dân Pháp đã hoàn tất việc xâm chiếm và thiết lập chế độ cai trị ở ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ Nhận thấy

đã đến lúc cần phải truyền bá học thuật và tư tưởng văn hóa Pháp vào Việt nam, nhất là tạo cho việc đưa chữ Quốc Ngữ vào quĩ đạo xâm lăng văn hóa, đánh bại chữ Nho và văn hóa phương Đông, đầu năm 1865 Soái phủ Nam Kỳ đã quyết định cho xuất bản tờ báo tiếng Việt

đầu tiên ở nước ta, tờ Gia Định báo Có thể nói đây là tờ báo mở đầu cho nền báo chí Việt

Nam

Nhận thức được sức mạnh lớn lao của công cụ báo chí trong tiến trình xâm lăng, đô hộ

và đồng hóa, nhưng đồng thời thực dân Pháp cũng ý thức một cách sâu sắc “tác hại” ghê gớm của nó đối với an nguy của nền đô hộ của chúng ở Việt Nam Vì vậy mà trong suốt hơn

80 năm cai trị, thực dân Pháp đã thực hiện một chế độ báo chí hết sức khắt khe và không đồng nhất ở cả ba kỳ trên đất nước ta Ngay cả ở Nam Kỳ, sau các hiệp ước Harmand (1883)

và Patenôtre (1884) đã thực sự trở thành xứ thuộc địa trực trị của Pháp ở Đông Dương, lẽ ra

phải được hưởng những điều khoản của Luật thừa nhận tự do báo chí ngày 29 tháng 7 năm

1881 ( Loi du 29 Juiller 1881, sur la liberté de la presse) của Pháp, nhưng thực tế thì hoàn

toàn ngược lại Về phạm vi điều chỉnh, điều 10, đạo luật nói trên cho phép áp dụng tại chính quốc cũng như tại Algérie và các xứ thuộc địa khác Về đối tượng áp dụng, các điều 5, 6, 7 của đạo luật này quy định: dù báo chí xuất bản bằng tiếng Pháp hay tiếng bản xứ đều tự do, muốn ra báo không cần phải có một điều kiện nào ngoài việc viên quản lý phải có quốc tịch Pháp, đã là thành viên và có đăng ký thủ tục với Sở Biện lý Tuy nhiên sớm nhận thấy chỗ

“sơ hở chết người” này, một mặt, thực dân Pháp vẫn cho phép báo chí bằng tiếng Pháp được

Trang 17

tự do xuất bản, mặt khác, chúng ban hành sắc lệnh ngày 30 tháng 12 năm 1898, buộc tất cả các báo tiếng Việt, chữ Hán và các tiếng khác phải có giấy phép trước khi xuất bản Tất nhiên là đối với Trung Kỳ và Bắc Kỳ thì việc xuất bản báo chí lại càng phức tạp và gắt gao hơn Và một điều mỉa mai là hầu như đa số các tờ báo tiếng Việt, lúc đầu đều do người Pháp

đứng tên: Gia Định báo (1865) với E Poteau, Đồng Văn nhật báo (1893) với F H Schneider, Nông Cổ Mín Đàm (1901) với Cavanaggio…

Do chính sách báo chí bất bình đẳng cùng với chế độ kiểm duyệt gắt gao như vậy nên

từ năm 1865, kể từ thời điểm Gia Định Báo ra đời, cho đến đầu thế kỷ XX (năm 1900), thời

gian ngót ngét gần nửa thế kỷ nhưng ở Việt Nam chỉ lác đác dăm bảy tờ báo lớn nhỏ, kể cả

viết bằng chữ Hán: Gia Định báo (1865), Phan Yên báo (1868), Nhựt Trình Nam Kỳ (1883), Thông loại Khóa Trình (1888), Đại Nam Đồng Văn nhật báo (1893)…trong số này, có những tờ phải sớm đình bản vì có hơi hướng yêu nước như trường hợp Phan Yên báo chẳng

hạn Sang đến đầu thế kỷ XX, do áp lực của phong trào yêu nước ngày một phát triển, đặc

biệt là các phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, Đông Du, cùng với tình hình thế

giới có nhiều biến động, thực dân Pháp có nới lỏng chính sách báo chí đôi chút Chính điều này đã tạo điều kiện cho nhiều tờ báo ra đời, góp phần vào sự phát triển của báo chí Việt Nam cũng như sự phát triển của chữ quốc ngữ và văn học Tính từ thời điểm đầu thế kỷ XX

đến năm 1917, khi Nam Phong tạp chí ra đời, số lượng các tờ báo bằng tiếng Việt so với giai

đoạn trước đó đã có sự gia tăng đáng kể Chỉ trong 17 năm, số lượng các tờ báo đã gấp ba lần

so với nửa thế kỷ trước đó Với sự ra đời nhanh chóng như vậy trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của văn hóa và xã hội nước nhà, có thể nói báo chí trong thời kỳ này đã đóng vai trò

“bà đỡ mát tay” cho sự sinh thành, phát triển của văn học quốc ngữ và đã góp phần hình thành nên đời sống văn học hiện đại Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, khi nghiên cứu về văn học giai đoạn 1907 – 1932, đã coi “vai trò tiên phong của báo chí” là một trong năm “yếu tính” của văn học Thanh Lãng trong Bảng lược đồ văn học Việt Nam cũng đặc biệt nhấn mạnh tới tầm quan trọng của báo chí khi nói đến “văn học thế hệ 1913” và dành hẳn một chương cho Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh với hai tờ Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí, hai nhà văn – nhà báo và hai tờ báo theo ông là tiêu biểu đương thời Bùi Đức Tịnh trong Những bước đầu của báo chí, tiểu thuyết và thơ mới, Bằng Giang trong Văn học Quốc ngữ ở Nam Kỳ 1865 – 1930 cũng cho báo chí là một “bộ môn tiên phong của nền văn học mới”

Trang 18

Tuy nhiên, khảo sát chung các tờ báo ra đời trong giai đoạn từ năm 1900 đến năm

1917, trừ Đông Dương tạp chí và Trung Bắc tân văn, ta thấy chúng vẫn còn nhiều hạn chế so

với báo chí phương Tây cả về ngôn ngữ, nội dung, đề tài, phạm vi phản ánh Hầu hết các báo đều ở dạng sơ khai, chưa thật đúng với nghĩa một tờ báo hiện đại Sở dĩ có hiện tượng trên là

do sự chi phối của những nguyên nhân mà nhà chí sỹ Huỳnh Thúc Kháng đã phân tích khá

khái quát trên tờ Tiếng Dân do ông làm chủ bút:

- Thiếu tài liệu cho Bộ biên tập làm việc: Tài liệu là yếu tố quan trọng cho bất cứ

tờ báo nào Muốn viết bài xã luận hay một bài báo đều cần nhiều tài liệu Riêng tờ Tiếng Dân thì tài liệu thiếu thốn quá nhiều

- Đường giao thông khó khăn: Muốn được độc giả chú ý, tờ báo cần có tin tức hằng ngày Phương tiện giao thông ở xứ ta còn yếu kém, muốn đi từ Nam ra Bắc, phải tốn 5, 7 ngày, vùng thôn quê, vùng sơn cước lại là nơi khó tới lui Như vậy làm sao thu thập tin tức?

- Nạn mù chữ: Báo sống nhờ độc giả Ở Trung Kỳ, ngoại trừ thành thị, chỉ có 10 phần trăm dân chúng ở thôn quê biết đọc Bởi vậy người ta đọc báo rất ít

- Sự yếu kém về kỹ nghệ và thương mại: Báo phát triển mạnh khi giới doanh thương chú ý đến nó Giới doanh thương cần quảng cáo hàng hóa trên báo và họ cần giúp đỡ cho tờ báo được sống Ở xứ ta, thương mại và kỹ nghệ hầu như không

có vậy thì tờ báo làm sao đứng vững lâu dài nếu thiếu người chịu đăng quảng cáo

- Hiện tượng tâm lý: Ở những nước tiên tiến, báo chí được phồn thịnh nhờ tất cả mọi người đọc báo, từ kẻ doanh nghiệp đến người lao động, từ văn sỹ đến chính trị gia Báo chí nhờ đó mà trở thành một lực lượng đáng kể Nhưng ở xứ ta, thấy ít nói đến báo chí và thích đọc báo Không được dư luận công chúng biết đến thì báo khó mà sống dai được [Dẫn theo Đỗ Quang Hưng 37, 220]

Nhưng Huỳnh thúc Kháng cũng chỉ mới phân tích đến những nguyên nhân kinh tế, xã hội mà chưa đề cập đến một nguyên nhân hết sức quan trọng, kìm hãm sự phát triển của báo chí trong giai đoạn này đó là chính sách báo chí hà khắc cùng với một chế độ kiểm duyệt vô cùng gắt gao của thực dân Pháp Tất cả những nguyên nhân trên đã kìm hãm sự phát triển của báo chí Việt Nam trong thời kỳ này

Tóm lại, cho đến đầu thế kỷ XX báo chí vẫn là một cái gì đó chưa được biết đến một cách rộng rãi trong đời sống Việt Nam Do ảnh hưởng của phong trào yêu nước cùng với nhiệt tình, tâm huyết của những nhà trí thức nặng lòng với dân tộc, báo chí Việt Nam từ sau

Trang 19

năm 1900 trở đi đã có phần khởi sắc nhưng phải đợi đến khi Đông Dương tạp chí (1913) và Trung Bắc tân văn (1915) ra đời thì báo chí Việt Nam mới bước sang một kỷ nguyên mới

Và đến năm 1917, với sự ra đời của Nam Phong tạp chí thì báo chí Việt Nam mới thực sự

trưởng thành vượt bậc

1.2 Vai trò của Phạm Quỳnh đối với báo chí

Bàn về những điều kiện cho sự phát triển của tư tưởng, học thuật, ngôn ngữ và văn học hiện đại những năm đầu thế kỷ XX, không thể không nhắc đến vai trò vô cùng quan trọng, có tính tiên phong của báo chí Mà nói đến báo chí, thì không thể không nhắc đến những tên tuổi lớn, có ảnh hưởng đến sự phát triển của nó trong những bước phát triển đầu

tiên của buổi sơ khai như Pestrus Trương Vĩnh Ký với Gia Định báo; Diệp Văn Cương với Phan Yên báo; Lương Khắc Ninh, Gilbert Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Đồng Trụ, Lê Văn Trung, Nguyễn Chánh Sắt…với Nông Cổ Mín Đàm; Nguyễn Văn Vĩnh và một số cây bút của phong trào Đông kinh nghĩa thục với Đăng Cổ tùng báo…Một trong số những nhân vật

có công rất lớn đối với sự phát triển của báo chí Việt Nam trong giai đoạn mở đầu này, nhất

thiết phải nói đến là nhà báo Phạm Quỳnh, chủ bút Nam Phong tạp chí

Nói đến Phạm Quỳnh là nói đến một trong những trường hợp đặc biệt của văn hóa

Việt Nam đầu thế kỷ XX Đó là một trong “những người khổng lồ”1 cách đây hơn một thế

kỷ mà tài năng, trí tuệ thể hiện một cách rờ rỡ trên mọi lĩnh vực văn hóa Nhà nghiên cứu

phê bình văn học Vũ Ngọc Phan, trong tác phẩm Nhà văn hiện đại (Quyển 1, phần III), khi

bàn về Phạm Quỳnh, đã có những nhận xét khá xác đáng về sự uyên bác và nghiêm túc, cẩn

trọng của nhân vật này như sau: “Phạm Quỳnh là một nhà văn có thể bàn luận một cách vững vàng và sáng suốt bất cứ về một vấn đề gì, từ thơ văn cho đến triết lý, đạo giáo cho đến chính trị, xã hội, không một vấn đề nào là ông không tham khảo tường tận trước khi đem bàn lên mặt giấy” [16, 109]

Nói Phạm Quỳnh là một trong những trường hợp đặc biệt là vì ngoài những uẩn khúc của cuộc đời đã gây nên không ít những cuộc tranh luận với lắm nhận định, đánh giá khen chê từ bảy thập kỷ qua, sự nghiệp văn hóa của ông cũng hết sức đồ sộ, thể hiện ở tất cả mọi lĩnh vực Ở Phạm Quỳnh là sự tổng hòa của những nhân tố đáng khâm phục: một học giả uyên bác, một nhà văn hóa lớn, một nhà văn tâm huyết và một nhà báo có tài Khác với Nguyễn Văn Vĩnh, khởi đầu sự nghiệp văn hóa là một nhà văn, báo chí là lĩnh vực mà Phạm

1

Chữ dùng của Nguyên Ngọc

Trang 20

Quỳnh tiếp xúc trước nhất, và cũng ở lĩnh vực này, tinh hoa của con người học giả, con người văn hóa, con người nhà văn của ông được phát tiết Sự nghiệp báo chí của Phạm

Quỳnh bắt đầu từ rất sớm Ngay từ khi Nam Phong tạp chí chưa ra đời, ông đã là một nhà

báo chuyên nghiệp Năm 1913, khi mới ngoài hai mươi tuổi, Phạm Quỳnh đã là một trong

những thành viên của Ban biên tập, gồm nhiều cây bút tên tuổi của tờ Đông Dương tạp chí

như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Tố, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Đỗ Mục, Phan Kế Bính…do

Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút Với Đông Dương tạp chí, Phạm Quỳnh đã nổi danh là nhà

báo sâu sắc, độc đáo, uyên thâm qua những bài dịch thuật văn học và tư tưởng mà ông gửi

đăng trên báo này Và năm 1917, khi Nam Phong tạp chí ra đời, ông trực tiếp làm tổng biên

tập và là cây bút chủ lực với hàng ngàn trang viết trên tất cả mọi lĩnh vực trong suốt thời gian

tồn tại của tờ báo cho đến khi nó đình bản vào năm 1934 Với Nam Phong tạp thí, Phạm

Quỳnh là linh hồn của tờ báo và cũng trên mặt báo này toàn bộ sự nghiệp văn hóa của Phạm

Quỳnh được thể hiện Vì vậy mà khi nói đến Nam Phong tạp chí tức là nói đến Phạm Quỳnh

và ngược lại Có thể nói ngay rằng Phạm Quỳnh là một nhà báo lớn, có những đóng góp vô cùng quan trọng cho sự phát triển của báo chí Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX

Nếu chia tiến trình phát triển của báo chí Việt Nam từ năm 1865 (thời điểm ra đời

của tờ báo tiếng Việt đầu tiên: Gia Định báo) đến năm 1945 ra làm bốn giai đoạn (1865 –

1907; 1907 – 1918; 1918 – 1930; 1930 – 1945) thì từ năm 1865 đến năm 1907 là giai đoạn hình thành, báo chí vẫn còn mang tính sơ khai; giai đoạn từ 1907 đến năm 1918, báo chí Việt Nam đã có sự trưởng thành cả về số lượng và chất lượng Trong số hơn ba mươi tờ báo xuất

bản trong giai đoạn này thì Đông Dương tạp chí được xem là tờ báo mở ra một kỷ nguyên mới và Nam Phong tạp chí là sự trưởng thành vượt bậc tạo nên sự phát triển mạnh mẽ, rầm

rộ của báo chí Việt Nam ở các giai đoạn sau Có được thành tích ấy là sự đóng góp tài năng tâm huyết của những cây bút xuất sắc, đặc biệt trong đó có Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh

Với Đăng Cổ tùng báo và đặc biệt là Đông Dương tạp chí, Nguyễn Văn Vĩnh được xem là người đóng vai trò tiên phong cho nền báo chí Việt Nam hiện đại thì với Nam Phong tạp chí, Phạm Quỳnh là người có công đối với sự hoàn thiện và phát triển vượt bậc của thể

loại báo chí Ở giai đoạn đầu, báo chí ra đời mục đích chủ yếu là thông báo những tin tức trong các địa phương và ban bố những mệnh lệnh, chỉ thị của chính quyền thực dân Một số

tờ báo cũng có các mục về văn học với một vài bản dịch tiểu thuyết Trung Hoa ra tiếng Việt, nhưng nhìn chung nội dung của báo còn nghèo nàn, ngôn ngữ còn hạn chế, cách đưa tin còn

Trang 21

vụng về, chưa đảm bảo được tính ngắn gọn, chính xác…Đến Nam Phong, dưới sự điều hành

và tác nghiệp của Phạm Quỳnh, báo chí đã mang một diện mạo mới

Ra đời trong bối cảnh đặc biệt của tình hình lịch sử, chính trị, xã hội và văn hóa Việt

Nam lúc bấy giờ, Nam Phong tạp chí xác định rất rõ ràng và thiết thực tôn chỉ của mình qua Mấy nhời nói đầu của ông chủ bút Phạm Quỳnh, đăng trong số ra đầu tiên vào tháng Bảy năm 1917 là “đem sức nhỏ, tài mọn mà giúp cho sự học trong nước” Cụ thể đó là:

1/ Dùng chữ quốc ngữ để diễn tả, giải thích các tư tưởng, học thuật Âu - Á để mang những kiến thức này đến cho người không biết tiếng Pháp hoặc chữ Nho 2/ Nâng cao trình độ chữ quốc ngữ thành một nền ngôn ngữ so sánh được với tiếng Pháp và chữ Nho

Với việc xác định rõ ràng tôn chỉ, mục đích như vậy, Phạm Quỳnh đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản, mang tính lý luận của thể loại báo chí, đó là chức năng thông tin, tuyên truyền

và giáo dục

Về nội dung của tờ báo, Phạm Quỳnh và nhóm biên tập Nam Phong, gồm nhiều cây

bút nổi tiếng như Phan Khôi, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Hữu Tiến, Trần Văn Ngoạn, Thân Trọng Huề, Trần Mỹ, Hoàng Yến, Tản Đà, Dương Bá Trạc, Hoàng Tích Chu, Nguyễn Mạnh Bổng…đã đề ra các nội dung cơ bản mà Phạm Quỳnh đã xác định trong

bài Mấy nhời nói đầu, được Phạm Thế Ngũ tóm lược như sau:

1/ Mục luận thuyết: Bàn chung những vấn đề có liên hệ đến thời thế, nhất là những vấn đề có liên hệ đến riêng dân ta, để cho độc giả trong nước có một quan niệm minh chính về các vấn đề đó

2/ Mục văn học bình luận: Gồm những khoa văn chương lịch sử, đại để những môn tổng danh gọi là văn học Bàn rộng những sách hay dù cũ dù mới, thâu thập những ý kiến tư tưởng mới hay danh tiếng

3/ Mục triết học bình luận: Nghiên cứu các lý thuyết tư tưởng đời xưa đời nay, so sánh tư tưởng Âu Tây với Á Đông ta để giúp cho sự đề xướng một tư trào riêng cho nước ta Tôn chỉ là giúp cho quốc dân về trí thức và đạo đức

4/ Mục khoa học bình luận: Không chuyên luận về từng khoa một nhưng chỉ trình bày những vấn đề đại cương, những nguyên lý, lịch sử tiến hành của khoa học 5/ Mục văn uyển: Sưu tầm những thi ca cũ bằng chữ Hán, chữ Nôm, đồng thời đăng tải những bài thơ mới đủ các loại: Đường thi, phú, ca trù, văn tế, kinh sách, lục bát trường thiên

Trang 22

6/ Mục tạp trở: Gồm có những bài nho nhỏ, những câu chuyện vụn vặt không thuộc vào những loại trên, những bài giới thiệu sách mới, những bài danh ngôn trích lục các sách, những tin tức về học giới

7/ Mục thời đàm: Bàn về thời sự các việc lớn trong cũng như ngoài nước, luôn luôn giữ một thái độ bình tĩnh mà thuật những việc đó, mưu toan ích lợi cho dân

ta

8/ Mục tiểu thuyết: Dịch những bộ tiểu thuyết hay ở Pháp văn ra, cần nhất là những cuốn có văn chương hay, nghĩa lý cao, kết cấu khéo, làm mẫu mực cho tiểu thuyết ta sau này

So với Đông Dương tạp chí, nội dung của Nam Phong tạp chí phong phú hơn nhiều

Các bài biên tập, khảo cứu vừa sâu, vừa rộng Với chủ trương dung hòa Đông – Tây, vừa thâu thái những tinh thần tiến bộ của tư tưởng Thái – Tây, vừa bảo tồn cổ học và quốc túy,

Nam Phong đã tạo được đất đứng cho cả những cây bút xuất thân Nho học Đặc biệt, Nam Phong rất chú trọng thơ ca Tạp chí đăng tải rất nhiều thơ ca kim cổ, góp phần tạo nên một

phong trào thơ ca sôi nổi lúc bấy giờ

Với những nội dung phong phú như vậy, rõ ràng thông qua Nam Phong, Ban biên tập

của tờ báo, mà chủ yếu là Phạm Quỳnh, đã góp phần vô cùng to lớn trong việc hoàn thiện và phát triển báo chí Việt Nam, đưa báo chí Việt Nam mau chóng vươn lên trình độ hiện đại, đúng với đặc trưng của thể loại

Hầu hết các mảng nội dung của báo Nam Phong, đặc biệt là trong thời gian làm chủ

bút, Phạm Quỳnh đều tham gia tác nghiệp Ông viết rất nhiều và đều đặn trên các số báo với khối lượng rất lớn những bài từ dịch thuật, khảo cứu, luận thuyết, đến ký sự, đoản thiên…

Nam Phong tạp chí là một tờ báo lớn, mặc dù hình thức chân phương, thường in với

khổ lớn, đậm đặc những chữ theo hai cột dài, trên dưới trăm trang, không kể phần chữ Hán

và chữ Pháp, với những nội dung phong phú, gồm nhiều mục như đã nói ở trên, nó vẫn có sức hấp dẫn đối với độc giả thời bấy giờ vì bài vở được kén chọn kỹ càng và còn vì độ sâu tri thức của các bài viết Với phong cách của một tạp chí có tính bách khoa toàn thư như vậy

Nam Phong đã để lại một kho tư liệu quý mà đầu thập kỷ bốn mươi Tạp chí Tri Tân đã tính đến chuyện làm thư mục về nó Ngay cả Dương Quảng Hàm, khi soạn bộ sách Việt Nam văn học sử yếu, hầu như cũng dựa vào tư liệu lấy từ Nam Phong tạp chí là chủ yếu Đó là những đóng góp quý báu của Phạm Quỳnh và Nam Phong đối với báo chí nói riêng, cũng như đối

với văn hóa nước nhà vậy!

Trang 23

Một đóng góp quan trọng nữa của Phạm Quỳnh và báo Nam Phong đối với báo chí

Việt Nam đó là về mặt ngôn ngữ báo chí và cách thức biên tập, đưa tin Ngôn ngữ báo chí

đến thời Nam Phong đã đạt đến sự trong sáng, rõ ràng về mặt từ ngữ; khúc chiết, mạch lạc về

cách hành văn Cách đưa tin cũng ngắn gọn, chính xác và hấp dẫn, thể hiện qua những bài biên tập kỹ càng và sâu sắc của Phạm Quỳnh và Ban biên tập

Tiếp nối sự nghiệp truyền bá chữ quốc ngữ của thế hệ trí thức đi trước như Pétrus Trương Vĩnh Ký, Paulus Huỳnh Tịnh Của và sau này là của Nguyễn Văn Vĩnh và các chí sỹ

trong phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, Phạm Quỳnh và báo Nam Phong đã kiên

trì nghiên cứu, cải tạo câu văn quốc ngữ, khiến nó có khả năng diễn đạt một cách trong sáng,

rõ ràng mọi khái niệm thâm thúy của tư tưởng triết học kim cổ đông tây thông qua việc tổ chức biên dịch, giới thiệu các tư tưởng ấy trên mặt báo Những cố gắng ấy của Phạm Quỳnh

và Nam Phong đã góp phần không nhỏ trong việc phát triển ngôn ngữ tiếng Việt nói chung

và ngôn ngữ báo chí, nói riêng Ngay trong những số đầu của Nam Phong, Phạm Quỳnh đã nêu vấn đề Văn quốc ngữ (Số 2 – Năm 1917) làm mục tiêu để xây dựng và phát triển tờ báo:

“Vấn đề quan trọng nhất trong nước ta ngày nay là vấn đề văn quốc ngữ, vấn đề

ấy có giải quyết được thì sự học mới có thể tấn tới, dân trí mới có thể mở mang, cuộc tiến hóa sau này mới có thể mong mỏi được Đến ngày chữ quốc ngữ dùng làm quốc văn được thì người nước Nam mới có thể thâu thái các khoa học mới, mà gây thành nền học thích hợp với trình độ, với tính cách dân ta Đến ngày ấy thì người nước ta mới phát biểu được tinh thần cốt cách của mình, tinh thần cốt cách

ấy hiện nay còn mập mờ phảng phất như ảnh không hình vậy Nói rút lại quốc ngữ

có phát đạt thì nền quốc học mới gây dựng được, quốc dân ta mới không đến nổi chung kiếp đi học mướn viết nhờ như từ xưa đến nay vậy” [3, 58]

Không chỉ nêu lên tầm quan trọng của văn quốc ngữ đối với nền học của nước nhà, trong bài viết này Phạm Quỳnh cũng đã chỉ ra những giải pháp cụ thể để phát triển văn quốc

ngữ cũng như trách nhiệm của các trí thức Tây học và Nho học đối với việc phát triển ấy Đánh giá về công lao của Phạm Quỳnh và báo Nam Phong đối với nền quốc văn của nước nhà, Vũ Ngọc Phan đã viết trong Nhà văn hiện đại (Tập 1, quyển nhất, phần Các nhà văn hồi mới có chữ quốc ngữ) như sau:

“Đến cái công của Phạm Quỳnh đối với quốc văn thì ai cũng phải nhận là một công lớn như công của Nguyễn Văn Vĩnh vậy

Trang 24

Trong mười sáu năm chủ trương Nam Phong tạp chí, ông đã xây đắp cho nền móng quốc văn được vững vàng bằng những bài bình luận và khảo cứu rất công phu mà từ Bắc chí Nam người thức giả đều phải lưu tâm đến Nhiều người thanh niên trí thức đã có thể căn cứ vào những bài trong Nam Phong tạp chí để bồi bổ cho cái học còn khuyết điểm của mình Thậm chí có người đã lấy Nam Phong làm sách học mà cũng thâu thái được tạm đủ tư tưởng học thuật Đông Tây Muốn hiểu được những vấn đề về đạo giáo, muốn biết văn học sử cùng học thuật tư tưởng nước Tàu, nước Nhật, nước Pháp, muốn đọc thi ca Việt Nam từ thời Lý, Trần cho đến ngày nay, muốn biết thêm lịch sử nước Nam, tiểu sử của các đấng danh nhân nước nhà, muốn am hiểu các vấn đề chính trị xã hội Âu Tây và cả những học thuyết của mấy nhà hiền triết cổ La – Hy, chỉ đọc kỹ Nam Phong là có thể hiểu biết được Một người chỉ biết đọc quốc ngữ mà có khiếu thông minh có thể dùng Nam Phong tạp chí để mở mang học thức của mình Nam Phong tạp chí sinh sau Đông Dương tạp chí bốn năm, nhưng sống lâu hơn và ở vào một thời thích hợp hơn nên ảnh hưởng về đường văn chương đối với quốc dân Việt Nam đã to tát hơn nhiều

[16, 108; 109]

Một đóng góp khác cũng không kém phần quan trọng của Phạm Quỳnh đối với phong trào báo chí Việt Nam, đặc biệt là trong giai đoạn từ thập kỷ 20 đến những năm của thập kỷ

30, đó là thông qua báo Nam Phong, ông đã khơi ngòi cho những cuộc tranh luận hết sức sôi

nổi và rất có ý nghĩa về tư tưởng cũng như học thuật trên báo chí như cuộc tranh luận về

Truyện Kiều, cuộc tranh luận về quốc học…Thông qua những cuộc tranh luận như vậy, rõ

ràng không khí sinh hoạt báo chí đã trở nên sôi động chứ không tĩnh lặng, buồn tẻ như giai đoạn đầu

Ở giai đoạn đầu của lịch sử phát triển báo chí Việt Nam, ta dễ thấy là lực lượng độc giả còn rất hạn chế, chủ yếu tập trung vào thành phần trí thức và các viên chức của chính quyền thực dân Đây là hiện tượng không khó lý giải ở một xã hội kém phát triển như nước

ta thời bấy giờ Những nguyên nhân chủ yếu đưa đến hạn chế về lực lượng độc giả trong giai đoạn đầu của báo chí Việt Nam có thể kể đến đó là: sự yếu kém về kinh tế; sự lạc hậu về cơ

sở hạ tầng, trong đó có sự hạn chế về giao thông, về kỹ thuật in ấn; tâm lý, thói quen của công chúng độc giả và đặc biệt là nạn mù chữ Số lượng người biết chữ quốc ngữ ngày càng gia tăng là nhân tố khách quan, nhưng chính nội dung hấp dẫn và cách hành văn sáng sủa của

các bài viết đăng trên Nam Phong tạp chí lại là nhân tố “nội lực” mà Phạm Quỳnh và báo

Trang 25

Nam Phong đã phát huy tác dụng thay đổi thói quen, tâm lý của công chúng, thu hút sự chú ý

của công chúng đối với báo chí và qua đó, góp phần không nhỏ trong việc phát triển lực lượng độc giả không phải chỉ cho Nam Phong Tạp Chí nói riêng, mà còn cả cho báo chí Việt Nam lúc bấy giờ

Đối với việc rèn luyện đội ngũ nhà báo, bằng vào việc nêu ra những vấn đề về vai trò, trách nhiệm, nghĩa vụ của người làm báo cũng như chức năng, tác dụng của báo chí đối với đời sống xã hội, chính Phạm Quỳnh là người sớm có ý thức xây dựng cơ sở lý luận nghiệp

vụ báo chí để làm cẩm nang cho những người hành nghề Trong bài Nghĩa vụ làm báo, đăng trên Nam Phong tạp chí, số 6 năm 1917, sau khi trích dịch nguyên văn bài diễn thuyết của

ông toàn quyền Albert Sarraut đọc tại Hội các báo quán Nam Kỳ vào tháng 10 năm 1917, Phạm Quỳnh đã bàn luận một cách hết sức cặn kẽ, với những ý kiến vô cùng sâu sắc về sức mạnh, tác dụng của báo chí và thiên chức, nghĩa vụ của người làm báo Theo Phạm Quỳnh thì nghề làm báo chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong xã hội, và nhà báo là người có

thế lực rất lớn, thế lực ấy có thể “chuyển dịch được lòng người, thay thế được cục diện, rèn đúc uốn nắn được cái vật vô hình, vô trạng gọi là “dư luận” vậy” [4, 66] Sở dĩ nhà báo có được uy quyền, sức mạnh như vậy là bởi “nhà báo vừa tiêu biểu mà vừa tạo thành ra dư luận trong một nước”, [4, 66] mà dư luận ấy chính là sức mạnh của quần chúng nhân dân

Uy quyền của nhà báo là ở chỗ tiêu biểu cho sức mạnh ấy, phát ngôn và điều tiết cho sức

mạnh ấy Và cái công cụ để thực hiện uy quyền của nhà báo chính là báo chí, bởi vì “ai nói đến báo là nói đến dư luận, ai hỏi đến dư luận là tìm đến báo, báo với dư luận, dư luận với báo là lần lót, là hình ảnh cho nhau, là tinh thần và hình thức của nhau vậy.” [4, 66] Theo

Phạm Quỳnh, để thực hiện sứ mạng lớn lao của mình, nhà báo cần phải thực hiện tốt những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Xác định rõ ràng tư tưởng, lập trường chính trị

- Xây dựng chương trình, kế hoạch rõ ràng cho việc tác nghiệp

- Nhà báo phải là người trung gian, là chiếc cầu nối giữa chính quyền và nhân dân; giữa nhà nước và xã hội

- Nhà báo không chỉ là người phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ chính trị trong hiện tại mà

cả trong tương lai

Kết luận về tác dụng của báo chí và vai trò của nhà báo đối với vận mệnh của đất nước, Phạm Quỳnh viết:

Trang 26

“Nước Nam ta sau này hay hay dở, các nhà báo cũng có phần vào đấy Nếu biết khéo dùng cái động lực là tờ báo ngọn bút kia, mà gây thành một dư luận sáng suốt khôn ngoan, thông hiểu tình thế, giúp được cho cái công tiến hóa về chính trị của quốc dân, thì mới thực là xứng đáng với lương tâm cùng thiên chức của nhà nghề vậy” [3, 70]

Đánh giá về vai trò của thế khai phá và đặt nền móng báo chí hiện đại Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, từ những trình bày ở trên có thể rút ra nhận định: Nếu Nguyễn

Văn Vĩnh được xem là nhà báo tiên phong “mở lối cho nghề xuất bản và phong trào ngôn luận quốc văn của người mình” [16, 106] thì Phạm Quỳnh là người có công lớn trong việc

phát triển báo chí Việt Nam hiện đại Bằng tài năng và tâm huyết của mình, ông đã có những đóng góp quan trọng cho báo chí nước nhà cả về mặt lý luận và thực tiễn

1.3 Tình hình văn học ba mươi năm đầu thế kỷ XX

Trước khi bị người Pháp xâm lược và đô hộ thì Việt Nam đã là một quốc gia có nền văn học phát triển với bản sắc độc đáo gắn với bề dày hàng ngàn năm văn hiến của lịch sử dân tộc

Văn học viết Việt Nam chính thức ra đời từ thế kỷ X cùng với nền độc lập, tự chủ của dân tộc và từ đó trở thành một bộ phận quan trọng, không thể thiếu của nền văn hóa dân tộc Trong tiến trình ngót mười thế kỷ xây dựng và phát triển, văn học viết Việt Nam, một mặt chủ động tiếp thu một cách có chọn lọc những yếu tố ngoại lai, mặt khác kế thừa những thành quả của văn hóa, văn học dân gian dân tộc, đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, kết tinh trong sáng tác của những tên tuổi lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương,…

Tuy đã đạt được những thành tựu lớn về nhiều phương diện, nhưng cho đến cuối thế kỷ XIX, nhìn chung văn học viết Việt Nam vẫn như một dòng sông nhỏ hiền hòa, êm trôi giữa đôi bờ của vùng đất văn hóa Trung đại phương đông, phong kiến, cổ truyền, chở nặng trong mình những hạt phù sa của tư tưởng văn hóa ấy và vẫn còn quẩn quanh trong vùng châu thổ già cỗi này mà chưa vươn mình ra biển lớn của văn học thế giới; nó vẫn nằm trong quĩ đạo của văn hóa – văn học khu vực Đông Á, mà Trung Hoa là nền văn hóa – văn học hạt nhân Nói một cách cụ thể, đó vẫn là một nền văn học chịu ảnh hưởng và sự chi phối sâu sắc của văn học và văn hóa phương Đông, mà chủ yếu là của Trung Hoa, về nhiều phương diện: tư tưởng học thuật, quan niệm văn học, hệ thống thi pháp, thể loại, ngôn ngữ, chữ viết,… Chính

Trang 27

sự chi phối và ảnh hưởng ấy mà trên đại thể, văn học Việt Nam thời Trung đại có những đặc điểm nổi bật sau đây:

Về phương diện nội dung tư tưởng, văn học Trung đại Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc các hệ tư tưởng Phật giáo, Lão giáo, và đặc biệt là Nho giáo

Yêu nước trong văn học Trung đại Việt Nam luôn gắn liền với tư tưởng trung quân, ở những thời đoạn giai cấp phong kiến có vai trò tích cực xứng đáng đại diện cho bản lĩnh và quyền lợi dân tộc đã đành, đến khi chế độ phong kiến suy thoái, giai cấp phong kiến đã trắng trợn bộc lộ sự phản động, quay lưng lại với dân tộc, thì trong sáng tác của các nhà nho, tư tưởng ấy vẫn ngự trị, dù cho các tác giả có giả tưởng chuyển hướng lý tưởng vào một vị

minh quân nào đi chăng nữa Thế kỷ XV, Nguyễn Trãi khăng khăng giữ tấm lòng “Trung lẫn hiếu, mài chẳng khuyết nhuộm chẳng đen” Đến cuối thế kỷ XIX, Nguyễn Đình Chiểu vẫn viết Lục Vân Tiên với tuyên ngôn:

“Trai thời trung hiếu làm đầu Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”

(Lục Vân Tiên) Ngay cả khi triều đình Tự Đức quay lưng lại với dân chúng, nhẫn tâm bán rẻ Nam Kỳ cho thực dân Pháp thì trong sáng tác của nhà thơ được xem là lá cờ đầu của dòng văn học yêu nước chống thực dân Pháp vào cuối thế kỷ XIX vẫn thấy xuất hiện những dòng thơ, những câu văn cảm động đến tuyệt vọng về tư tưởng trung quân:

“Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy đã rành rành, một chữ ấm đủ đền công đó”

(Văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc)

Hay:

“Bao giờ thánh đế ân soi thấu

Một trận mưa nhuần rửa núi sông”

(Xúc cảnh)

Nhân đạo cũng là một nội dung lớn của văn học Trung đại Việt Nam Đó là tình cảm

tự nhiên, thiết tha trân trọng những giá trị nhân sinh, chân thành xúc cảm trước sự vui buồn của con người, căm phẫn những thế lực gian tà chà đạp quyền lợi nhân dân và tổ quốc Những tình cảm đó tùy hoàn cảnh lịch sử – xã hội và tùy vào từng tác giả mà có sắc thái khác nhau ở mỗi tác phẩm nhưng, hoặc nhạt hoặc đậm, có chịu ảnh hưởng tư tưởng từ bi bác

ái của Phật giáo hoặc là tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo

Trang 28

Về phương diện hình thức, văn học viết Trung đại Việt Nam là một nền văn học song ngữ, một bộ phận viết bằng chữ Hán và một bộ phận viết bằng chữ Nôm Buổi đầu xây dựng nền văn học viết nước nhà, do chưa có văn tự riêng nên cha ông ta lâm thời buộc phải vay mượn chữ Hán để sáng tác Bộ phận văn học chữ Hán vì vậy ra đời trước Đã vay mượn chữ Hán thì buộc phải vay mượn luôn cả hệ thống kinh nghiệm văn học do các thế hệ thi văn nhân Trung Hoa đúc rút qua thực tiễn hàng ngàn năm sáng tác, bao gồm từ quan niệm văn học, loại thể, cho đến thủ pháp nghệ thuật và nguồn thi văn liệu,… Tuy vay mượn văn tự và thi pháp Trung Hoa nhưng suốt trong quá trình sáng tác, mỗi một tác giả đều luôn có ý thức Việt hóa sáng tác của mình để tác phẩm là của dân tộc Đến thế kỷ XIII, chữ Nôm bắt đầu được sử dụng để sáng tác và dưới thời Trần căn bản chỉ mới ở mức độ ứng dụng kinh nghiệm đúc rút được từ sáng tác văn thơ chữ Hán vào sáng tác thơ văn chữ Nôm Sau nhiều thế kỷ bền bĩ nỗ lực, đến thế kỷ XVIII, XIX các tác giả mới có điều kiện vận dụng một cách trực tiếp và rộng rãi kinh nghiệm văn học dân gian dân tộc vào sáng tác văn học chữ Nôm, đưa văn học tiếng Việt phát triển đạt được nhiều thành tựu rực rỡ

Một đặc điểm quan trọng nữa về mặt hình thức của văn học Việt Nam Trung đại đó là tính quy phạm khá rõ rệt Tính quy phạm thể hiện trước hết ở quan điểm nghệ thuật coi trọng mục đích giáo huấn của văn chương, xem văn chương là công cụ chuyển tải đạo lý, là

phương tiện phục vụ cho việc “sửa sang việc đời” Quan niệm “Văn dĩ tải đạo” (Văn để chở

đạo) và “Thi ngôn chí” (Thơ nói chí) có địa vị thống soái, chi phối quá trình văn học từ

sáng tác đến tiếp nhận Chúng ta dễ dàng nhận thấy quan niệm ấy được phát biểu công khai qua sáng tác của nhiều tác giả:

“Đao bút phải dùng tài đã vẹn,

Chỉ thư nấy chép việc càng chuyên

Vệ Nam mãi mãi ra tay thước,

Điện Bắc đà đà yên phận tiên.”

(Nguyễn Trãi)

“Học theo ngòi bút chí công,

Trong thơ cho ngụ tấm lòng Xuân Thu.”

(Nguyễn Đình Chiểu)

“Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,

Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.”

(Nguyễn Đình Chiểu)

Trang 29

Cái gốc của văn chương là đạo lý:

“Văn và đạo tuy có tên khác nhau nhưng nội dung của nó thì bắt nguồn từ đạo”

(Nguyễn Văn Siêu)

“Văn của thánh nhân là để chở đạo, văn của văn nhân là để luận đạo Cho nên bàn về văn của thánh nhân – như sự trong sáng, tinh tế của Chu dịch, sự thông thoát chí lý của Thượng thư, sự uyển chuyển trung hậu của Kinh thi, sự cung kính trang nghiêm của Kinh lễ, sự khen chê có cân nhắc của sách Xuân Thu – văn đến năm kinh là tột đỉnh…” (Nguyễn Tư Giản)

Lực lượng sáng tác của văn học thời kỳ trung đại từ sau thế kỷ XIII chủ yếu là nhà

nho, những người được đào tạo từ “cửa Khổng sân Trình” Họ thấm nhuần giáo huấn của Tứ thư, Ngũ kinh, họ tha thiết trung thành với đạo của người quân tử Thơ văn là để nói lên cái

chí của người quân tử, nó không tách rời với mục đích giáo huấn Nguyễn Bỉnh Khiêm đã

khẳng định: “Ôi, nói tâm là nói về cái chỗ mà chí đạt tới vậy, mà thơ là để nói chí” Văn là

để chở đạo, thơ để nói chí mà đạo và chí thì noi theo mẫu mực thánh nhân, còn cách thức tư duy và hình thức biểu đạt cũng tuân theo những kiểu mẫu có sẵn, đã trở thành công thức,… nên văn học thời kỳ trung đại nhìn chung có xu hướng bị xóa nhòa phong cách, mang tính

“phi ngã”…

Về quy mô và phạm vi kết tinh, văn học trung đại có phạm vi kết tinh ở văn vần hơn là văn xuôi; quy mô kết tinh vừa và nhỏ Quy mô nghệ thuật này sẽ thiên về bút pháp chấm phá, điểm nhãn, gợi hơn là tả Các tác giả văn học thời kỳ này thường hướng về cái đẹp trong quá khứ, thiên về cái đẹp xinh xắn, thanh cao, tao nhã Do vậy, trong sáng tác của mình, họ luôn thể hiện kiểu tư duy nghệ thuật giàu khả năng nắm bắt cái bản chất, cái tinh túy, cái thần của sự vật, của tâm trạng con người hơn cái vẻ bề ngoài của sự vật

Văn học Việt Nam cho đến đầu thế kỷ XX mới thực sự bước vào thời kỳ hiện đại hóa

để hình thành nên một nền văn học mới Đó là một nền văn học phát triển trong xu hướng

tiếp cận cùng văn học thế giới với những nét đặc thù Nói như Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên, đó là “hầu như tân tạo trong một giai đoạn lịch sử mới”,

khác hẳn với văn học trung đại cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức thể loại

Ở phương diện nội dung, nếu như văn học trung đại chịu ảnh hưởng và chi phối chủ yếu bởi tư tưởng, học thuật Trung Hoa; luân lý, đạo đức Khổng Mạnh, thì sang thế thế kỷ

XX, văn học hiện đại chủ yếu chịu ảnh hưởng của tư tưởng, học thuật phương Tây với những

lý thuyết về dân chủ, về ý thức cá nhân,… Do vậy, tuy vẫn tiếp thu và kế thừa những truyền

Trang 30

thống lớn của văn học dân tộc đó là yêu nước và nhân đạo, nhưng văn học hiện đại đã phát huy lên một bước mới: tinh thần dân chủ

Về nội dung yêu nước, văn học hiện đại không còn bị ràng buộc bởi cái vòng kim cô của tư tưởng trung quân như trong văn học trung đại nữa mà đã thực sự giải phóng với sự biểu hiện phong phú trên tinh thần dân chủ Các tác giả là những nhà cách mạng theo xu

hướng tư sản, chẳng hạn như Phan Bội Châu, ngay từ đầu thế kỷ đã quan niệm: “Dân là dân nước, nước là nước dân” Các tác giả thuộc bộ phận văn học cách mạng vô sản thì gắn chủ

nghĩa yêu nước với lý tưởng xã hội chủ nghĩa Với bộ phận văn học hợp pháp, do nhiều lý do khách quan, tinh thần yêu nước được thể hiện một cách kín đáo hơn nhưng cũng không kém sâu sắc và cảm động qua tình yêu đối với những đường nét, dáng vẻ đáng yêu của con người

và cảnh vật của đất nước; cái đẹp của văn hóa dân tộc và đặc biệt là đối với ngôn ngữ dân tộc Ở khía cạnh này, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh là những là những gương mặt tiêu biểu

Tinh thần dân chủ cũng đem đến cho nội dung nhân đạo của văn học hiện đại những biểu hiện mới mẻ Đối tượng chủ yếu của văn học hiện đại là những con người bình thường trong xã hội Chủ nghĩa nhân đạo trong văn học hiện đại còn gắn liền với sự thức tỉnh về ý thức cá nhân của người cầm bút Do vậy mà trong nhiều tác phẩm văn học thời kỳ này, ta thấy sự thể hiện khá sâu sắc khát vọng sống, sự đề cao tài năng, phẩm giá của mỗi con người; sự đấu tranh không khoan nhượng với luân lý, lễ giáo phong kiến để bảo vệ hạnh phúc cá nhân, đặc biệt là các vấn đề về tình yêu đôi lứa, hôn nhân, gia đình…

Ở phương diện hình thức thể loại, nếu văn học trung đại chỉ tập trung chủ yếu vào các thể loại văn vần với những hình thức chật hẹp và quy định khắc khe, nghiêm ngặt về niêm luật; văn xuôi có thì cũng là loại văn biền ngẫu và phương tiện sáng tác là chữ Hán, chữ Nôm, rất khó khăn cho sự tiếp nhận của công chúng bình dân, thì ở văn học hiện đại, ta thấy

có sự phát triển hết sức đa dạng các thể loại Bên cạnh các thể thơ cũ, đã thấy xuất hiện các thể thơ tự do, thơ văn xuôi được sáng tác bằng chữ quốc ngữ Đặt biệt là sự xuất hiện của các thể loại văn xuôi quốc ngữ như tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự, bút ký, tùy bút, lý luận phê bình văn học cũng như các thể kịch là dấu hiệu của một nền văn học hiện đại

Tuy nhiên để có một nền văn học hiện đại phát triển trong xu hướng tiếp xúc, hòa nhập với văn học thế giới, mang những nét đặc thù như đã nói ở trên, văn học Việt Nam đã phải trải qua một quá trình cách tân, hiện đại hóa hết sức lâu dài và phức tạp với nhiều giai đoạn Mà mỗi một giai đoạn cách tân là kết quả của biết bao nhiêu tâm huyết, tài năng của

Trang 31

các thế hệ cầm bút Về đại thể, văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX cho đến Cách mạng tháng Tám năm 1945, là một nền văn học đang ở trong quá trình hiện đại hóa, mà thời gian

từ năm 1900 đến 1930 là những giai đoạn đầu của quá trình ấy Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi chủ yếu chỉ tập trung khái quát tình hình văn học Việt Nam trong ba mươi năm đầu của thế kỷ XX

Như đã nói ở trên, văn học Việt Nam trong khoảng ba mươi năm đầu thế kỷ XX là nền văn học đang ở trong tiến trình hiện đại hóa Tiến trình này trải qua hai chặng đường chủ yếu:

Chặng đường thứ nhất, diễn ra trong khoảng hai mươi năm đầu thế kỷ XX Quá trình hiện đại hóa bắt đầu bằng sự hình thành các thể văn xuôi quốc ngữ Chữ quốc ngữ vốn do các giáo sĩ phương Tây sáng tạo ra vào khoảng thế kỷ XVII nhằm phục vụ cho mục đích truyền giáo Sau gần ba thế kỷ phát triển, với sự tham gia cải tiến, sáng tạo của của các thế

hệ giáo sỹ phương Tây và trí thức Việt Nam, cho đến cuối thế kỷ XIX, chữ quốc ngữ về cơ bản đã hoàn thiện và từ địa hạt tôn giáo, nó chuyển dần sang lĩnh vực văn hóa, văn học Đầu thế kỷ XX, ý thức được sự thuận tiện cũng như tầm quan trọng của nó trong việc truyền bá tư

tưởng văn minh phương Tây, nâng cao dân trí, chấn hưng đất nước, các sỹ phu trong Duy tân hội và Đông kinh nghĩa thục cũng như một số trí thức Tây học có tâm huyết như Phạm

Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh v.v…ra sức hô hào, vận động cho việc truyền bá và học chữ quốc

ngữ Nói về tầm quan trọng cũng như sự tiện lợi của chữ quốc ngữ, thơ Đông kinh nghĩa thục có đoạn viết:

“Trước hết phải học ngay quốc ngữ,

Khỏi đôi đường tiếng, chữ khác nhau

Chữ ta, ta đã thuộc làu,

Nói ra nên tiếng, viết câu nên bài

Sẵn cơ sở để khai tâm trí…”

Năm 1907, cùng với sự vận động, hô hào tích cực của phong trào Duy tân, Nguyễn Văn Vĩnh đã vận động đổi tờ báo chữ Hán Đại Nam Đồng Văn nhật báo thành tờ báo quốc ngữ Đăng Cổ tùng báo với hai tôn chỉ: truyền bá học thuật phương Tây và cổ động cho chữ quốc ngữ Tiếp theo Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh và phái Nam Phong cũng tích cực ra sức truyền bá chữ quốc ngữ Năm 1917, trên tạp chí Nam Phong số ra đầu tiên, Phạm Quỳnh

đã có hẳn một bài luận thuyết bàn về Văn quốc ngữ

Trang 32

Chính sự truyền bá rộng rãi chữ quốc ngữ như vậy đã tác động tích cực đến sự hình thành tầng lớp công chúng văn học mới cũng như sự ra đời và phát triển nền văn xuôi nước

ta

Nhưng điều kiện quan trọng hơn cho sự phát triển của văn xuôi quốc ngữ ở giai đoạn này phải kể đến sự xuất hiện và phát triển của báo chí cũng như phong trào dịch thuật Từ văn thông tin báo chí và văn dịch thuật mà câu văn xuôi nghệ thuật tiếng Việt ra đời, trưởng thành và phát triển

Thực ra mầm mống của văn xuôi nghệ thuật tiếng Việt đã xuất hiện vào cuối thế kỷ

XIX với một số sáng tác như bài ký Chuyến đi thăm Bắc Kỳ năm Ất Hợi của Trương Vĩnh

Ký (1876), truyện Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản (1887)…Nhưng phải đến đầu

thế kỷ XX thì mới có hẳn một phong trào viết văn xuôi quốc ngữ, đặc biệt là ở miền Nam

Năm 1910, Trần Thiện Trung đã cho ra đời cuốn tiểu thuyết Hoàng Tố Anh hàm oan viết

theo lối mới khá chững chạc Tuy nhiên những sáng tác văn xuôi trong giai đoạn này cũng mới chỉ là những thử nghiệm bước đầu chứ chưa thực sự có giá trị cao về mặt nghệ thuật và phạm vi phát triển của nó cũng mới chỉ thu hẹp ở một số đô thị ở miền Nam Văn xuôi giai đoạn này chủ yếu vẫn tập trung ở mảng dịch thuật

Nhìn một cách tổng quát, sự phát triển của văn học Việt Nam trong giai đoạn này vẫn

gắn với những tên tuổi của những tác giả thuộc phong trào Duy tân, Đông kinh nghĩa thục

như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Nguyễn Thượng Hiền, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Lương Văn Can, Lê Đại…Với tư tưởng canh tân, họ kêu gọi nâng cao dân trí, khai thông dân khí, hô hào thực nghiệp, bỏ hư văn, học khoa học, phổ biến chữ quốc ngữ, mở rộng báo chí…Qua đó, họ đã tạo nên cả một phong trào sáng tác thơ văn tuyên truyền cổ động có nội dung chính trị mới mẻ, mang hơi thở và khí phách thời đại Tuy nhiên bộ phận văn học này cũng chỉ mới thể hiện sự đổi mới về tư tưởng chính trị, xã hội và học thuật mà chưa có sự đổi mới thực sự về tư tưởng thẩm mỹ

Tóm lại là ở giai đoạn này, văn học đã có sự đổi mới về nội dung tư tưởng Chẳng hạn

về ý thức hệ, văn học chủ yếu chịu sự chi phối của ý thức hệ tư sản; về lý tưởng chính trị xã hội, chủ nghĩa yêu nước đã gắn với lý tưởng cách mạng dân chủ tư sản, khác với văn học trung đại chủ nghĩa yêu nước không thể tách rời lý tưởng tôn quân Về mặt nghệ thuật, văn học giai đoạn 1900 – 1920 vẫn chưa có những đổi mới đáng kể Các tác giả chỉ dừng lại ở mức độ cách tân nghệ thuật sáng tác của nhà nho trước kia Tiêu biểu nhất là thơ văn yêu nước và cách mạng Còn nhiều tác phẩm thể hiện những vấn đề mới của cách mạng bằng

Trang 33

hình thức nghệ thuật cũ Các tác giả còn ít dùng chữ quốc ngữ để sáng tác, chưa bỏ được lối văn biền ngẫu, thơ vẫn là loại thể được ưa chuộng, ngôn ngữ vẫn còn mang tính chất cầu kỳ, bóng bẩy

Chặng thứ hai, diễn ra từ khoảng năm 1920 đến năm 1930 Quá trình hiện đại hóa đã đạt được nhiều thành tựu Văn học không chỉ đổi mới về nội dung mà cả nghệ thuật cũng đã khác trước rất nhiều

Văn xuôi nghệ thuật đã phát triển mạnh hơn trước với sự phong phú của nhiều thể loại

Ở thể loại tiểu thuyết, phải kể đến những gương mặt tiêu biểu như Hồ Biểu Chánh ở trong Nam với hàng chục tiểu thuyết dày dặn; Hoàng Ngọc Phách, Trọng Khiêm ở ngoài Bắc với

các tác phẩm Tố Tâm, Kim Anh lệ sử Truyện ngắn ở giai đoạn này cũng đã phát triển với

những tên tuổi tiêu biểu như Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Nhất Linh Về thể bút ký, có

sự góp mặt của những gương mặt tiêu biểu như Phạm Quỳnh, Tương Phố, Đông Hồ… Phần lớn những tác giả kể trên thuộc lớp trí thức Tây học đầu tiên do vậy tác phẩm của họ chịu ảnh hưởng rõ rệt tiểu thuyết, truyện ngắn của Pháp

Trên lĩnh vực thi ca, “cái Tôi” cá nhân đã bắt đầu cựa quậy từ cuối thế kỷ XVIII –

đầu thế kỷ XIX với những cá tính độc đáo như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ, thì đến giai đoạn này nó càng tự khẳng định mạnh mẽ hơn với Trần Tuấn Khải, đặc biệt là Tản Đà với hồn thơ phóng túng, tràn đầy tình cảm và cảm xúc Tuy nhiên,

thơ ca giai đoạn này cũng chỉ mới dừng lại ở chỗ khẳng định “cái Tôi” cá nhân về mặt nội

dung cảm xúc và khai thác những thể điệu tự do trong thơ cổ, xét về mặt hình thức thể hiện,

mà chưa thực sự cách tân một cách triệt để

Ở giai đoạn này, văn học Việt Nam thấy xuất hiện một loại hình văn học mới du nhập

từ phương Tây, tuy thành tựu còn khiêm tốn nhưng rất đáng chú ý Đó là thể loại kịch nói

với những tác phẩm của các tác giả tiêu biểu như Chén thuốc độc, Tòa án lương tâm của Vũ Đình Long; Bạn và vợ của Nguyễn Hữu Kim; Ông Tây An Nam của Nam Xương…

Tóm lại, trong ba mươi năm đầu thế kỷ XX, tình hình văn học Việt Nam có nhiều biến động sâu sắc Văn học dân tộc đang trong cơn vật vã dữ dội của sự sinh thành, sự lột xác để hòa mình vào với văn học hiện đại thế giới Sự chuyển mình ấy đã đạt được những thành tựu đáng kể cả về nội dung lẫn hình thức, mặc dù nó vẫn chưa thực sự thoát ra khỏi ảnh hưởng của văn học cũ Tuy nhiên, để giai đoạn mở đường của văn học Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa có được những thành tựu bước đầu như vậy là nhờ sự cống hiến to lớn và hết mình của những trí thức vừa có tâm, lại vừa có tài như thế hệ của Phạm Quỳnh

Trang 34

1.4 Vai trò của Phạm Quỳnh đối với văn học

Đối với công cuộc xây dựng và phát triển nền văn học Việt Nam theo hướng hiện đại trong ba mươi năm đầu thế kỷ XX, Phạm Quỳnh với vai trò là một trong những nhà văn đi tiên phong, đã có những đóng góp nhất định, cần được ghi nhận Sự đóng góp ấy, thể hiện trên nhiều lĩnh vực văn học: Tiếp tục công cuộc truyền bá chữ quốc ngữ đã được khởi xướng

ở giai đoạn trước, cải tiến câu văn quốc ngữ, xây dựng và phát triển nền quốc văn; phát triển phong trào dịch thuật; giới thiệu những khái niệm cơ bản, mang tính lý luận về đặc điểm, kết cấu, nguyên tắc xây dựng các thể loại văn học cũng như việc phát triển các thể loại đó

Về việc truyền bá chữ quốc ngữ, như đã nói qua ở phần Vai trò của Phạm Quỳnh đối với báo chí, tiếp tục sự nghiệp của thế hệ trí thức đi trước như Pétrus Ký, Paulus Của và sau này là Nguyễn Văn Vĩnh và các chí sỹ trong phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, Phạm Quỳnh và các đồng sự của ông trong Nam Phong tạp chí đã ra sức quảng bá chữ quốc

ngữ đến mọi tầng lớp độc giả thông qua những bài viết được biên tập kỹ càng, bao quát nhiều lĩnh vực, nội dung chọn lọc, sâu sắc mà đơn giản, dễ đọc, dễ hiểu Mục đích đầu tiên

và quan trọng nhất mà Phạm Quỳnh và các cộng sự của ông hướng đến khi thành lập Nam Phong tạp chí không ngoài việc xây dựng, nâng cao trình độ quốc ngữ, nhằm thay thế tiếng

Pháp và chữ Nho Trong bài diễn thuyết ở Hội Trí tri (Hà Nội ngày thứ Năm 21 tháng 4 năm

1921) nhân dịp ra mắt công trình khảo cứu Tục ngữ ca dao, Phạm Quỳnh cũng nhắc lại điều

này:

“Tôi bình sinh chỉ có một chút nhiệt thành, là nhiệt thành với chữ quốc ngữ, hết sức trông mong về cái vận mệnh quốc văn ta sau này, thường nghe thiên hạ phẩm bình về văn quốc ngữ, người khen thời hởi dạ, người chê thì đau lòng, dường như

có quan hệ đến công phu bấy lâu nay, sự nghiệp cả một đời” [3, 890]

Đánh giá về vai trò của Phạm Quỳnh đối với việc phát triển chữ quốc ngữ, Lê Kim

Ngân, Võ Thu Tịnh, và Nguyễn Tường Minh – tác giả của Văn Học Việt Nam thế kỷ thứ XX (do Văn Hiệp xuất bản) đã nhận xét như sau: “ Ta có thể nói: Phạm Quỳnh là người chiếm công đầu trong việc vun đắp chữ quốc ngữ Nhờ ông mà chữ quốc ngữ đã từ thời ấu trĩ bước sang giai đoạn trưởng thành”

Nam Phong tạp chí do Louis Marty, trưởng phòng chính trị Sở mật thám của Phủ toàn

quyền Pháp tại Đông Dương thành lập và bảo trợ, tất nhiên là nhằm phục vụ cho mục đích chính trị của Pháp tại Đông Dương, nói chung và Việt Nam, nói riêng Nhưng khi được giao

Trang 35

cho quản lý và điều hành, Phạm Quỳnh và các đồng sự của ông đã lợi dụng tờ báo như một công cụ để xây dựng, truyền bá chữ quốc ngữ và các tư tưởng học thuật Âu Tây, góp phần xây dựng và phát triển nền học thuật nước nhà Ta hãy nghe Phạm Quỳnh kín đáo giải bày tâm nguyện của mình trong câu trả lời bài phỏng vấn của ông Đào Hùng, phóng viên báo

Phụ Nữ tân văn:

“Sở dĩ tôi nhận mở báo Nam Phong là vì chính phủ tự lòng cho phép chớ không phải tôi yêu cầu Vả tôi cũng muốn lợi dụng làm một cơ quan bồi bổ quốc văn, cho thêm nhiều tiếng, cho đủ tài liệu để phiên dịch và truyền bá các tư tưởng Âu Tây…” [Dẫn theo Phạm Thế Ngũ, 14, 129]

Phát ngôn một cách kín đáo tế nhị trên báo như vậy, nhưng thật ra, ý định thành lập một tờ tạp chí để xây dựng, phát triển quốc ngữ, truyền bá tư tưởng Âu Tây là điều mà Phạm

Quỳnh đã từng ấp ủ ngay từ khi ông còn cộng tác với Đông Dương Tạp Chí Phạm Thế Ngũ, trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, đã viết về điều này như sau:

“Nên nói thêm là đối với Phạm Quỳnh việc phiên dịch và truyền bá tư tưởng Âu Tây ấy là trong một mục đích rộng rãi hơn, mà ông từng ấp ủ ngay từ ngày viết trên Đông Dương, ấy là xây dựng cho nước nhà trong buổi Âu - Á giao thoa, một nền học thuật mới để thay thế cho Hán học suy tàn…” [14, 129]

Vấn đề mà Phạm Quỳnh và phái Nam Phong của ông đặc biệt quan tâm khi thực hiện tôn chỉ, mục đích của tờ báo chính là xây dựng, “bồi bổ quốc văn, cho thêm nhiều tiếng, cho

đủ tài liệu để phiên dịch và truyền bá các tư tưởng Âu Tây” [Dẫn theo Phạm Thế Ngũ, 14,

129] Nghĩa là phải xây dựng, phát triển một nền quốc văn mới chứ không chỉ đơn thuần về mặt văn tự Chữ quốc ngữ, trải qua ba thế kỷ hình thành, phát triển cùng với sự tích cực truyền bá của nhiều thế hệ trí thức ở các giai đoạn trước và sau này là của Nguyễn Văn Vĩnh,

cho đến khi Nam Phong ra đời, đã mặc nhiên được thừa nhận ở nước ta, bởi tính đơn giản và

tiện lợi của nó Tuy nhiên, từ thứ chữ đó mà xây dựng một nền văn mới, đủ sức diễn tả những tình cảm sâu sắc, thắm thiết; những tư tưởng, học thuật sâu xa, thâm thúy của văn hóa Đông – Tây là cả một nhiệm vụ khó khăn, nặng nề, cần nhiều công sức, tâm huyết và trí tuệ

Phạm Quỳnh và Phái Nam Phong đã tự nguyện gánh lấy nhiệm vụ khó khăn, nặng nề ấy

Một trong những khó khăn, trở ngại cho công cuộc xây dựng quốc văn mà Phạm Quỳnh và các đồng sự của ông vấp phải, đó là tâm lý sùng ngoại, coi thường quốc ngữ, với thành kiến

“nôm na là cha mách qué” của cả hai phái tân học lẫn cựu học Chính vì vậy mà ngay trong

Trang 36

bài luận thuyết Văn quốc ngữ, đăng trên số 2 – năm 1917, của Nam Phong tạp chí, Phạm

Quỳnh đã thiết tha kêu gọi:

“Nào các nhà Tây học, sau khi các ông đọc xong một truyện hay, lại chẳng nên nghĩ rằng câu truyện này ta thử thuật lại ra tiếng ta cho vợ con ta nghe xem năm phần có được một phần không Đương khi các ông gặp được một tư tưởng lạ, lại chẳng nên tự hỏi rằng: tư tưởng này ta thử đem diễn ra lời nôm xem mười phần có được một phần không, cái ý nghĩa của nó sẽ kém đi bao nhiêu, sự sâu sắc của nó

sẽ giảm mất chừng nào Ông tự nghĩ tự hỏi thế rồi ông thử cầm bút viết lần đầu tất chưa được thanh thoát lắm, lần thứ hai đến lần thứ ba thì có lẽ năm phần đã đến được ba mà mười phần đã đến được bảy rồi Thế là đội văn nôm được thêm một suất tinh binh, mà thiện nghiệp của ông được tăng một công đức mới vậy! Việc đó tưởng cũng không khó khăn gì, miễn là có chút hảo tâm là đủ Và các ông cũng có thể tự chắc rằng có công tất có quả, vì một cái tiếng đã dùng để giải bày được tính tình tâm sự một cô Kiều không phải là tiếng man mọi gì mà không thể thành văn được

Lại các nhà Nho học trong khi các ông bình một đoạn văn hay, lời gióng giả như bài biểu Chư Cát, giọng nhịp nhàng như bài tựa Vương Bột, khí mát mẻ như bài phú Đông Pha, tình cảm động như bài văn Hàn Dũ, lại chẳng nên tự hứa trong bụng rằng: Ta sẽ cố luyện cho tiếng nôm ta cũng có cái thể cách trang nghiêm như lời văn chữ, để gây lấy một lối từ chương cho người mình sau này cũng có thể làm tựa, làm ký, làm tứ lục, biền ngẫu được như người Tàu Nếu cái văn chương mới

ấy mà gây dựng nên được thì công đức của các ông không phải là nhỏ vậy” [3,

61]

Không chỉ kêu gọi những nhà trí thức có ý thức trong việc xây dựng, phát triển văn quốc ngữ, Phạm Quỳnh còn hướng đến đông đảo công chúng độc giả, phát động ở họ ý thức cảm thông và trân trọng những thành quả bước đầu của nền quốc văn non trẻ, cùng góp sức, hiệp lực luyện tập, xây dựng nền văn quốc ngữ của nước nhà Ta hãy nghe lời kêu gọi đầy

tâm huyết của ông: “Ngày nay người nào chịu tập văn nôm là làm một việc công đức, người nào chịu xem văn nôm là làm một việc nghĩa vụ vậy Công đức ấy, nghĩa vụ ấy, người có lòng, có dạ với nước há chẳng nên vui vẻ mà làm dư?” [3, 61]

Để xây dựng, cải tiến và phát triển văn quốc ngữ, Phạm Quỳnh chủ trương mọi người cần phải học tiếng Việt, cần phải luyện cho câu văn xuôi và văn nghị luận ngày một hoàn

Trang 37

thiện, vừa thể hiện được cốt cách dân tộc, vừa mới mẻ, hiện đại, đủ khả năng diễn đạt được những tư tưởng sâu sắc, thâm thúy, mới mẻ của văn hóa Đông – Tây bằng cách tự tạo ra những từ ngữ mới hoặc vay mượn thêm những từ ngữ của nước ngoài nhằm làm phong phú hơn kho từ vựng của tiếng ta Nhằm góp phần khuyến khích việc học tập và phát triển tiếng

Việt, ta thấy ở cuối mỗi số báo của Nam Phong Phạm Quỳnh đều cho in phụ trương phần từ

vựng gồm quốc ngữ, chữ Nho, tiếng Pháp Bác bỏ quan niệm sai lầm và tự ti, cho rằng tiếng Việt nghèo nàn, không thuận tiện cho giao tiếp và sự tiến bộ của quốc dân, trong bài luận

thuyết Chữ Pháp có dùng làm quốc văn An Nam được không? đăng trên báo Nam Phong, số

22 tháng Tư năm 1919, Phạm Quỳnh đã bàn luận hết sức cặn kẽ với những lý lẽ, lập luận mang tính thuyết phục rất cao để khẳng định một cách dứt khoát rằng người Việt không thể dùng tiếng Pháp như một quốc văn được Có thể tóm lược bài viết của ông qua những nội dung chủ yếu như sau:

- Ngôn ngữ của một quốc gia là phương tiện giao tiếp, thể hiện tư tưởng, tình cảm, nhận thức của con người trong quốc gia ấy Sự phát triển của ngôn ngữ một nước, phản ánh trình độ phát triển của xã hội nước ấy Không thể đem ngôn ngữ của một dân tộc ra so sánh cao thấp với với những ngôn ngữ khác được;

- Sở dĩ tiếng Việt chưa có những danh từ khoa học, triết học như tiếng Pháp, tiếng Tàu

là vì trình độ khoa học, kỹ thuật; trình độ học thuật của ta còn thấp Nếu ra công học tập, tiếp thu, phát triển những tri thức tiến bộ, cố gắng diễn đạt những tri thức đã tiếp thu ấy ra tiếng Việt, sáng tạo ra những từ mới hoặc vay mượn và cải tiến những từ ngữ có sẵn của nước ngoài thì tiếng Việt chẳng phong phú bằng tiếng Pháp, tiếng Tàu ư?

- Việc học tiếng Pháp để giao thiệp với thế giới và chính quyền thuộc địa chỉ cần thiết với một số người chứ toàn thể dân Việt Nam quyết không thể nào học chữ Pháp cho phổ thông được Bởi vì tiếng Pháp không phải là ngôn ngữ của người Việt Nam, nhiều người học

mà không thành thì sẽ hóa thành kẻ lai căng, mất gốc, “Tây không ra Tây, ta không ra ta, tiếng ngoài thì học không đủ dùng, tiếng mình thì không biết nữa” [3, 394];

- Ngôn ngữ là tiếng nói tự nhiên của một quốc gia, dân tộc, thể hiện tâm hồn, cốt cách của dân tộc ấy Giữ gìn và phát triển ngôn ngữ dân tộc chính là giữ gìn bản sắc của dân tộc

ấy trước sự tấn công của các yếu tố ngoại lai Bởi vì “quốc âm chính là sự biểu hiện tự nhiên của quốc hồn” [3, 384] Duy trì, bảo vệ và phát triển ngôn ngữ dân tộc chính là duy trì, bảo

vệ sự sống còn và phát triển của dân tộc

Trang 38

Qua nội dung của bài viết, ta thấy Phạm Quỳnh đã thể hiện một quan điểm tiến bộ về vấn đề ngôn ngữ dân tộc, một quan điểm vừa mang tính thời sự, vừa có giá trị lịch sử, chính trị, tư tưởng cao, lại vừa thể hiện được tầm cao văn hóa trong thức nhận của tác giả Đáng trân trọng hơn nữa, nó kín đáo thể hiện tình yêu nước, niềm tự hào về văn hóa dân tộc của tác giả Nó cũng giúp ta lý giải ý nghĩa của câu nói nổi tiếng, trở thành đề tài cho những ý

kiến công kích tác giả cách đây hơn bảy mươi năm: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn Tiếng ta còn, nước ta còn”

Xây dựng nền văn mới cho đất nước, Phạm Quỳnh chủ trương luyện câu văn xuôi quốc ngữ Phạm Quỳnh cho rằng trước ta đã có câu văn tiếng Việt, nhưng do ông cha ta xưa chỉ chú trọng về văn vần chứ chưa dùng chữ nôm để viết văn xuôi Vì vậy, ngày nay xây dựng quốc văn cần phải chú trọng xây dựng nền văn xuôi Mà trong văn xuôi, cần đặc biệt chú trọng luyện tập câu văn nghị luận Vì theo ông:

“nghị luận thuyết lý chính là cái phần cốt yếu của học vấn Học vấn mà không có cái văn nghị luận thuyết lý đích đáng để làm cơ quan đạo đạt truyền bá thì học vấn không thể nào tiến bộ được Học vấn không tiến bộ thì không sao mong có một nền quốc văn đặc biệt được” [1, 104]

Phạm Quỳnh phân biệt có hai loại văn: văn nghệ thuật – loại văn dùng trong thi phú, tiểu thuyết mà ông gọi là văn tiêu khiển; và văn luận thuyết – loại văn xuôi dùng để diễn đạt

những lý thuyết về triết lý, khoa học mà ông gọi là văn học vấn Theo ông thì “văn tiêu khiển

ta đã có ít nhiều, nên vun trồng cho nảy nở thêm ra, văn học vấn ta tuyệt nhiên chưa có, phải gia công mà xây đắp cho thành”[1, 105] để “gây dựng tổ chức lấy một cái tản văn thích hợp với đời nay, vừa có cốt cách An Nam mà vừa có thể cách tân thời đủ dùng để diễn được các

tư tưởng mới, đó là cái cấp vụ hiện nay mà là cái bước đường thứ nhất trong việc gây dựng một nền quốc học sau này vậy” [1, 105] Với chủ trương như vậy nên đọc văn Phạm Quỳnh,

ta thấy phần lớn các bài viết của ông đều mang tính chất trang nghiêm của văn nghị luận, thể

hiện chiều sâu của tư tưởng chứ ít khi có giọng phù phiếm Trong tác phẩm Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã so sánh rất chính xác lối văn của Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh như sau: “Trong khi Nguyễn Văn Vĩnh đi tìm những cái nhẹ nhàng hoa mỹ trong văn chương Pháp để diễn ra quốc văn một cách phóng túng, thì Phạm Quỳnh đã có cái khuynh hướng biên dịch những bài về tư tưởng, về lý thuyết Âu Tây” [16, 76]

Vấn đề dịch thuật có một ý nghĩa quan trọng đối với tiến trình hiện đại hóa của văn học cũng như sự phát triển của văn hóa Việt Nam Thông qua dịch thuật, các tư tưởng văn

Trang 39

hóa Đông – Tây, kim cổ được truyền bá vào Việt Nam, góp phần làm thay đổi nhận thức, tư tưởng của con người về đời sống, về xã hội Ở lĩnh vực văn học, dịch thuật cung cấp những kiến thức mới mẻ và phong phú về văn học thế giới, đặc biệt là văn học phương Tây: những quan niệm, trào lưu văn học, triết học hiện đại; những kiểu loại, thể tài văn học mới; những motif, chủ đề, cốt truyện có sẵn…góp phần thúc đấy sự phát triển của văn học trong nước Dịch thuật thực ra không phải là vấn đề mới mẻ, xa lạ đối với văn hóa, văn học Việt Nam Ngay từ cuối thời Trần, sau khi chữ Nôm ra đời, ở Việt Nam ta đã có những bản dịch về các kinh điển của Nho gia sang chữ Nôm Và hoạt động này vẫn tiếp tục duy trì cho đến thời hiện đại Khi chữ quốc ngữ được truyền bá ở Việt Nam thì việc chuyển nghĩa những tác phẩm văn học, triết học nước ngoài, đặc biệt là văn học Pháp, sang quốc ngữ cũng đã được quan tâm từ rất sớm Trương Minh Ký được xem là người đầu tiên đã dịch và in thành tập ngụ ngôn của La Fontaine sang quốc ngữ tại Sài Gòn vào năm 1886 Tuy nhiên thực sự đi đầu trong phong trào dịch thuật các tư tưởng triết học, văn hóa; các tác phẩm văn học

phương Tây, mà chủ yếu là văn học Pháp, phải kể đến Nguyễn Văn Vĩnh, với Đông Dương tạp chí và đặc biệt là Phạm Quỳnh, với Nam Phong tạp chí

Giống như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh là một dịch giả lớn của Việt Nam trong

giai đoạn giao thời Trong suốt 17 năm tồn tại của báo Nam Phong, ông là cây bút dịch thuật

chủ yếu của tờ báo, với đủ mọi thể loại: Tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ ca, kịch, luân lý triết học.v.v…

Về văn xuôi nghệ thuật, Phạm Quỳnh có các dịch phẩm tiêu biểu như truyện Người lính bằng tuyết (Georges d'Esparbès), Cái dấu đỏ, Cái gậy song (Alfred de Vigny), Tự truyện góa chồng (Paul d'Ivoi), Người hủi thành A ốc (Xavier de Maistre), Chàng Van-nông (Voltaire), Một thầy Bà la môn (Ander-xen), Ôi thiếu niên (G Courteline), Ái tình (Guy de Maupassant), Cái buồn của một tên tù già, Thương hão (Loti)…

Về thơ ca và kịch, có các tác phẩm tiêu biểu như thơ của Baudelaire, kịch Le Cid, Horace của Corneille, Hóa khôn vì tình (hài kịch của Mari-vaux)…

Về triết học, luân lý, có các tác phẩm như Phương pháp luận của Descartes, Sách cách ngôn của Epictète, Đời đạo lý của P Carton, tư tưởng của Barrès, Le Bon, Maurras…

Ngoài các tác phẩm dịch, Phạm Quỳnh còn có nhiều tác phẩm kết hợp giữa dịch thuật

và biên khảo, tạo nên một đặc điểm mới của dịch thuật mà ông là người khởi xướng Bằng những tác phẩm biên khảo này, Phạm Quỳnh đã cung cấp những khái niệm, tư tưởng chủ

Trang 40

yếu cho văn hóa, văn học Việt Nam trong buổi đầu của tiến trình phát triển, hiện đại hóa Các tác phẩm biên khảo của Phạm Quỳnh, được Phạm Thế Ngũ chia ra làm hai loại:

- Về Tây học, có các tác phẩm như Văn minh luận, Chính trị nước Pháp, Lịch sử thế giới, Luân lý học thuyết Thái Tây, Lịch sử và học thuyết Rouseau, Montesquieu, Voltaire, Triết học Auguste Comte, Triết học Bergson, Văn học sử Pháp, Khảo luận về tiểu thuyết, Bình luận tác phẩm của P Bourget, H Bordeaux, G de Maupassant, Alfred de Vigny

- Về Đông học có các tác phẩm như Phật giáo lược khảo, Người quân tử trong đạo Nho…

Với sự nghiệp dịch thuật đồ sộ như vậy, Phạm Quỳnh thực sự là một học giả uyên thâm về văn hóa Đông – Tây và là một dịch giả lớn, có vai trò quan trọng trong nền dịch thuật của nước nhà Từ những công trình dịch thuật của mình, bên cạnh việc truyền bá tư tưởng văn hóa, học thuật Đông – Tây, cung cấp những kiến thức mới mẻ về văn học, triết học, giáo dục cho nước nhà, ông còn đóng góp cho nền dịch thuật Việt Nam những kinh

nghiệm và mẫu mực về phương pháp dịch thuật Cũng từ phong trào dịch thuật trên báo Nam Phong, Phạm Quỳnh đã phát động được cả một phong trào dịch thuật sôi nổi và rầm rộ trong

văn học Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX

Đánh giá về giá trị các tác phẩm dịch thuật của Phạm Quỳnh, Vũ Ngọc Phan đã viết

trong Nhà văn hiện đại như sau: “Về văn dịch, nếu so với Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh không có giọng tài hoa bằng, nhưng nếu căn cứ vào sự dịch đúng, dịch sát ý, thì họ Phạm hơn họ Nguyễn.” [16, 85] Trước đó, trong tác Phẩm Phê bình và cảo luận, nhà văn Thiếu Sơn cũng đã có những nhận xét rất chính xác về dịch thuật của Phạm Quỳnh: “Những công trình về văn học, triết học của Âu châu và nhất là của nước Pháp, ông diễn dịch ra quốc văn rất nhiều, mà dịch thật đúng thật hay, vừa biết tôn trọng cái nguyên ý của tác giả, lại vừa lựa theo cái giọng điệu của quốc văn” [18, 59]

Kiên trì với chủ đích kiến thiết nền văn học nước nhà, thông qua việc kết hợp dung hòa những tư tưởng văn hóa Đông – Tây, Phạm Quỳnh là một trong những người tích cực nhất trong việc dịch thuật những tác phẩm học thuật nước ngoài, truyền bá những tư tưởng mới mẻ ấy vào Việt Nam Và cũng với chủ đích ấy, một trong những tiêu chí mà ông chủ

báo Nam Phong đề ra (mặc dù không phát ngôn trực tiếp) là tính chính xác của những bản

văn dịch thuật Muốn vậy, bản thân dịch giả phải là người tinh thông ngôn ngữ, văn hóa không chỉ của dân tộc mình mà của cả dân tộc mà ở đó văn bản được dịch sinh thành Nhận

xét về trình độ Pháp văn và Hán học của Phạm Quỳnh, Nhà văn Nguyên Ngọc, ở bài viết "Sự

Ngày đăng: 11/04/2013, 11:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w