Hiện nay, để tiếp tục xây dựng và phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội ở Tây Nguyên, ngoài việc nghiên cứu để giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của Tây Nguyên, cần có giải
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Phạm Ngọc Thanh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện Luận văn
Phương Thị Nhung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện luận văn tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ
và động viên của quý thầy cô, gia đình và bạn bè
Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Phạm Ngọc Thanh về những ý
kiến đóng góp và sự chỉ dẫn tận tình của Thầy trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn này
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các Thầy giáo, Cô giáo trong khoa Triết học trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn đã cung cấp cho tôi những tri thức quý báu trong suốt quá trình học tập cũng như đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Phương Thị Nhung
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Tình hình nghiên cứu 5
3 Mục đích của luận văn 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 8
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 8
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Ý nghĩa của luận văn 9
8 Kết cấu của luận văn 9
PHẦN NỘI DUNG 10
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 10
1.1 Giá trị văn hóa truyền thống 10
1.1.1 Văn hóa 10
1.1.2 Giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam 13
1.2 Phát triển bền vững 19
1.2.1 Khái niệm 19
1.2.2 Nội dung phát triển bền vững: 22
1.2.3 Định hướng chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam 24
1.3.Mối quan hệ giữa giá trị văn hóa truyền thống và phát triển bền vững 28
1.3.1 Ảnh hưởng của giá trị văn hóa truyền thống đến phát triển bền vững 28
1.3.2 Tác động của phát triển bền vững đến những giá trị văn hoá truyền thống 31
Kết luận chương 1: 32
Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI TÂY NGUYÊN TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI 34
2.1 Tổng quan về Tây Nguyên và các giá trị văn hóa truyền thống của Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới 34
Trang 62.1.1 Thực trạng phát triển bền vững ở Việt Nam: Thành tựu và hạn chế 34
2.1.2 Tổng quan chung về Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới 36
2.1.1 Những giá trị văn hóa truyền thống của Tây Nguyên 38
2.2 Ảnh hưởng của các giá trị văn hóa truyền thống đối với sự phát triển kinh tế 52
2.3 Ảnh hưởng của các giá trị văn hóa truyền thống đến phát triển trong lĩnh vực xã hội, nâng cao chất lượng sống cho con người 57
2.4 Ảnh hưởng của các giá trị văn hóa truyền thống đến bảo vệ môi trường 60 2.5 Ảnh hưởng của các giá trị văn hóa truyền thống đến chính trị, an ninh – quốc phòng 63
Kết luận chương 2: 66
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI TÂY NGUYÊN GIAI ĐOẠN TIẾP THEO 68
3.1 Các quan điểm định hướng 68
3.1.1 Chiến lược phát triển bền vững Tây Nguyên đến năm 2020 68
3.1.2 Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 72
3.1.3 Định hướng phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong phát triển bền vững tại Tây Nguyên đến năm 2020 74
3.2 Một số giải pháp chủ yếu 77
3.2.1 Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách 77
3.2.2 Nhóm giải pháp về công tác cán bộ 79
3.2.3 Nhóm giải pháp về công tác giáo dục, tuyên truyền 82
3.2.4 Nhóm giải pháp về kinh tế và cơ sở hạ tầng 84
3.2.5 Nhóm giải pháp về các vấn đề văn hóa 86
Kết luận chương 3: 90
PHẦN KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ đổi mới, xây dựng kinh tế trở thành nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta Đảng và nhà nước đã huy động tổng thể mọi nguồn lực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Việc xác định nhiệm vụ trung tâm là yêu cầu khách quan của quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc Trong thời đại hiện nay bên cạnh việc phát triển kinh tế xã hội, thì việc việc phát triển giá trị văn hóa truyền thống, xây dựng nền tảng vật chất tinh thần của xã hội trở thành yêu cầu cấp thiết của cuộc sống Kinh tế ngày càng phát triển theo thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các thành phần kinh tế được phát huy, giao lưu và hội nhập quốc tế ngày càng nhiều Nền kinh tế của nước ta đang từng bước khởi sắc thoát khỏi khủng hoảng và đạt được nhiều thành tựu trên nhiều mặt Tuy nhiên, mặt trái của nó là không ngừng tác động xấu đến nhiều mặt của đời sống văn hóa tinh thần, lối sống của con người và làm đảo lộn trật
tự xã hội Chính vì vậy, phát huy giá trị văn hóa truyền thống là nhiệm vụ chiến lược nhằm thúc đẩy kinh tế thị trường phát triển nhanh và bền vững, đồng thời còn có tác dụng điều tiết những hạn chế của kinh tế thị trường đem lại sự ổn định cho xã hội
Đứng trước những thách thức mới của thế giới hiện đại, vấn đề xây dựng và phát triển đời sống văn hóa tinh thần càng có tầm quan trọng to lớn Nhận thức rõ điều này Đảng ta đã nhấn mạnh vai trò của giá trị văn hóa truyền thống trong sự nghiệp đổi mới đất nước, trước những thời cơ và thách thức mà dân tộc ta đương đầu Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), Hội nghị Trung ương 9 Khóa XI, và Hội nghị tổng kết 15 năm (1998 - 2013) thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 về văn hóa đã quyết tâm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng
Trang 8tinh thần của xã hội Với 54 dân tộc anh em cùng chung sống trong một lãnh thổ chung mỗi dân tộc lại mang một nét đặc sắc văn hóa đặc trưng cho dân tộc mình góp phần hình thành nên một nền văn hóa Việt Nam rất phong phú, đa dạng và giàu bản sắc Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vấn đề văn hóa truyền thống và khai thác các giá trị văn hóa truyền thống phục
vụ sự phát triển đất nước là vấn đề được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm Việc quan tâm chú trọng đến nhân tố giá trị văn hóa truyền thống sẽ góp phần vào sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế và mở rộng hợp tác trên tất cả các lĩnh vực
Cùng với cả nước, Tây Nguyên cũng đang bước vào công cuộc xây dựng phát triển kinh tế của địa phương Sự phát triển kinh tế của Tây Nguyên trong nhiều năm trở lại đây đã góp phần không nhỏ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của cả nước Nền kinh tế thị trường cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên trong đó có vấn đề giá trị văn hóa truyền thống Những giá trị văn hóa truyền thống đang đứng trước những thách thức về nguy cơ mai một dần Hiện nay, để tiếp tục xây dựng và phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội ở Tây Nguyên, ngoài việc nghiên cứu để giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của Tây Nguyên, cần có giải pháp hạn chế những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa đối với các giá trị văn hóa truyền thống, đảm bảo cho quá trình phát triển bền vững Tây Nguyên là một vùng kinh tế chiến lược của cả nước, có vai trò quan trọng trong quốc phòng an ninh, do đó
mà vấn đề Tây Nguyên được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Do tính đặc thù của Tây Nguyên, việc giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống có
ý nghĩa lớn trong sự phát triển bền vững của Tây Nguyên nói riêng và của
cả nước nói chung
Trang 9Xuất phát từ những điều nói trên, tác giả đã chọn đề tài “Phát huy giá
trị văn hóa truyền thống trong phát triển bền vững tại Tây Nguyên giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Chủ nghĩa Mác – Lênin khi bàn đến vấn đề văn hóa đã khẳng định văn hóa là một trong những động lực để thúc đẩy xã hội phát triển Hiện nay, giá trị văn hóa truyền thống đang thay đổi cùng sự thay đổi của kinh tế thị trường vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu với những quy mô và cấp
độ khác nhau về văn hóa, giá trị văn hóa truyền thống Đó là nguồn tư liệu hết sức quý báu giúp cho em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Nhóm công trình là sách nghiên cứu về giá trị văn hóa truyền thống Việt
Nam như sách của tác giả Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền
thống của dân tộc Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Cuốn
sách đã tập trung làm rõ khái niệm giá trị truyền thống của dân tộc và đưa
ra một số giá trị tiêu biểu của dân tộc, khẳng định vai trò của nó trong lịch
sử dựng nước và giữ nước
Nhóm công trình nghiên cứu cấp nhà nước theo hướng đề tài về giá trị văn hóa truyền thống như chương trình KX07 – 02/1994 của GS Phan Huy
Lê, TSKH Vũ Minh Giang “Các giá trị truyền thống của con người Việt
Nam” Công trình nghiên cứu của GS Nguyễn Trọng Chuẩn, TS Phạm Văn
Đức, TS Hồ Sĩ Quý về “Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” xuất phát từ quan điểm biện chứng
của lịch sử và quan điểm triết học văn hóa đã làm rõ mối quan hệ giữa giá trị truyền thống với phát triển, nhấn mạnh vị thế chủ thể của văn hóa nội sinh trong hội nhập, khẳng định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhất định thắng lợi khi khai thác và phát huy được vai trò của các giá trị truyền thống
Trang 10Tài liệu liên quan đến vấn đề văn hóa Tây Nguyên và các gía trị văn hóa truyền thống của Tây Nguyên có thể kể đến như luận án tiến sĩ Văn hóa và con người Tây Nguyên trong văn xuôi nghệ thuật 1945 – 2000 của tác giả Đặng Văn Vũ Luận án đã làm nổi bật vẻ đẹp cũng như sự phong phú của các giá trị văn hóa Tây Nguyên được thể hiện một cách độc đáo trong các tác phẩm văn xuôi Luận án cũng đã phân tích những yếu tố tiêu cực của các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của người Tây Nguyên Luận án nêu lên thực trạng biến đổi văn hóa ở Tây Nguyên theo hướng tích cực lẫn tiêu cực đồng thời Luận án cũng đã làm hiện lên hình ảnh người Tây Nguyên với những phẩm chất tốt đẹp của họ trong chiến đấu cũng như trong cuộc sống thường nhật Luận án cũng đã phân tích sự thay đổi về phẩm chất con người Tây Nguyên trong thời buổi hòa nhập với các dân tộc khác Đó như là một sự cảnh tỉnh về hiện trạng đang mất dần đi vẻ đẹp đó trong hiện tại và tương lai
Nhóm tài liệu liên quan trực triếp đến vấn đề Tây Nguyên và phát triển bền vững Tây Nguyên có thể kể đến các tài liệu như: cuốn sách của TS Bùi
Minh Đạo (2011), Một số vấn đề cơ bản của xã hội Tây Nguyên trong phát
triển bền vững, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội; TS Bùi Minh Đạo (2012), Thực trạng phát triển Tây Nguyên: một số vấn đề phát triển bền vững, Nhà
xuất bản Khoa học Xã hội; TS Bùi Minh Đạo (2010), Tổ chức và hoạt động
buôn làng Tây Nguyên trong phát triển bền vững, Nhà xuất bản Khoa học
Xã hội; Lê Văn Khoa, Bùi Quang Tú (2014) Hướng tới phát triển bền vững
Tây Nguyên, Nhà xuất bản Tri thức Những tác phẩm đã đề cập trực tiếp tới
vấn đề phát triển bền vững Tây Nguyên hiện trạng và giải pháp, những tồn tại hạn chế trong phát triển kinh tế xã hội của Tây Nguyên hôm nay
Nhóm tài liệu là Kỷ yếu hội thảo khoa học liên quan đến vấn đề Tây
Nguyên gồm có: “Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Tây
Trang 11Nguyên: Lý luận và thực tiễn” thuộc đề tài TN3/X07 do PGS.TS Phạm
Ngọc Thanh làm chủ nhiệm đề tài, Hà Nội ngày 12 tháng 4 năm 2013 Kỷ
yếu hội thảo: “Quản lý phát triển xã hội bền vững ở Tây Nguyên: thực
trạng và giải pháp” cũng nằm trong đề tài TN3/X07 tổ chức tại Buôn Ma
Thuột, tháng 5/ 2014 Đề tài đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề Tây Nguyên trong phát triển bền vững như phát triển kinh tế xã hội,
y tế, giáo dục, đào tạo hay phát triển nguồn nhân lực cho Tây Nguyên
Trong các bài tham luận tại hội thảo đó có vấn đề về: “Nhận diện những
giá trị văn hóa truyền thống của Tây Nguyên” của PGS.TS Nguyễn Duy
Thiệu và vấn đề: “Biến đổi giá trị truyền thống tại Tây Nguyên và những
nhân tố tác động tới mô hình quản lý xã hội hiện đại” của Thạc sĩ Hoàng
Thị Hải Yến, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Trong bài
“Nhận diện những thách thức đối với quá trình phát triển bền vững vùng Tây
Nguyên”, PGS.TS Phạm Ngọc Thanh cũng phân tích một số khó khăn, hạn
chế cần phải khắc phục trong quá trình phát triển bền vững vùng Tây Nguyên
Ngoài các công trình trên còn phải kể đến rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học khác như các luận văn, luận án, khóa luận viết về văn hóa, giá trị văn hóa truyền thống ở các địa phương Tuy nhiên, trong phạm vi
hiểu biết của học viên, chưa có một nghiên cứu toàn diện về “Phát huy giá
trị văn hóa truyền thống trong phát triển bền vững tại Tây Nguyên giai đoạn hiện nay” Vì vậy tác đã chọn vấn đề trên làm đề tài nghiên cứu cho
luận văn tốt nghiệp của mình
3 Mục đích của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Làm sáng tỏ thực trạng và giải pháp của việc phát huy những giá trị văn hóa truyền thống trong phát triển bền vững tại Tây Nguyên giai đoạn hiện nay
Trang 123.2 Nhiệm vụ của luận văn
Làm rõ cơ sở lý luận của việc phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong phát triển bền vững tại Tây Nguyên
Làm rõ thực trạng của việc phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong phát triển bền vững tại Tây Nguyên giai đoạn khoảng 10 năm gần đây
Đề xuất một số giải pháp để có thể phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong phát triển bền vững tại Tây Nguyên giai đoạn tiếp theo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Văn hóa và giá trị văn hóa truyền thống trong phát triển bền vững tại Tây Nguyên giai đoạn hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Tác giả chủ yếu xem xét vấn đề dưới góc độ triết học văn hóa, lý giải chúng trên cơ sở chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn thạc
sỹ, tác giả không thể nghiên cứu tất cả những giá trị văn hóa truyền thống trong phát triển bền vững tại Tây Nguyên giai đoạn hiện nay mà chỉ lựa chọn một số giá trị tiêu biểu của các dân tộc Tây Nguyên như văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, sinh kế hay chính là cách kiếm sống truyền thống của các cư dân khu vực cao nguyên, vai trò của luật tục trong đời sống xã hội, luật tục trong xã hội cổ truyền, tín ngưỡng dân gian, các giá trị văn hóa khác…Qua đó chỉ rõ vai trò của giá trị văn hóa truyền thống trong phát triển bền vững tại Tây Nguyên giai đoạn hiện nay
Về thời gian nghiên cứu là trong thời kỳ đổi mới, tập trung vào khoảng
10 năm gần đây và hướng tới giai đoạn tiếp sau
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Trang 13Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, truyền thống văn hóa dân tộc gắn với phát triển bền vững Tác giả cũng có sử dụng những thành tựu đã có của các công trình đi trước trong việc phân tích cơ sở lý luận chung
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học về mối quan hệ của văn hóa và phát triển xã hội
Luận văn sử dụng phương pháp: phân tích - tổng hợp, lôgic – lịch sử, đối chiếu so sánh và các phương pháp khác
6 Đóng góp của luận văn
Làm rõ cơ sở lý luận về triết học và chủ nghĩa xã hội khoa học của việc phát huy giá trị văn hóa truyền thống tại Tây Nguyên trong phát triển bền vững
Làm rõ thực trạng các giá trị văn hóa truyền thống tại Tây Nguyên trong phát triển bền vững
Đề xuất một số giải pháp cho việc phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong phát triển bền vững tại Tây Nguyên giai đoạn tiếp theo
7 Ý nghĩa của luận văn
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ việc giảng dạy, học tập và nghiên cứu các vấn đề như: văn hóa, giá trị văn hóa truyền thống trong phát triển bền vững
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 10 tiết
Trang 14PHẦN NỘI DUNG Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN
THỐNG TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1.1 Giá trị văn hóa truyền thống
1.1.1 Văn hóa
Cho đến tận hôm nay, những định nghĩa văn hóa đang được sử dụng, trên thực tế, cũng vẫn chỉ là những định nghĩa có tính chất quy ước nhằm đi tới một khái niệm thỏa thuận để tiện sử dụng, việc định nghĩa văn hóa do vậy cũng vẫn đang được xem như là một điều thách thức Những định nghĩa mới xuất phát từ cách hiểu khác tiếp tục xuất hiện Theo thống kê hiện nay đã có hơn 700 định nghĩa về văn hóa
Các nhà khoa học trên thế giới hiện nay đều đánh giá rằng những giá trị văn hóa thực sự là một động lực tinh thần quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ
xã hội Nó là yếu tố nối liền quá khứ với hiện đại, đem lại cơ sở để chúng
ta có thể nhận thức về bản thân mình và thời đại mình
mới được tiến hành Trái lại, với truyền thống của một đất nước ngàn năm văn hiến, cha ông ta từ lâu đời đã làm công việc sưu tầm, ghi chép và nghiên cứu văn hóa
hội Theo Người, văn hóa là một trong những mục tiêu, nhiệm vụ của sự nghiệp xây dựng con người mới, xã hội mới xã hội chủ nghĩa
đậm đà bản sắc dân tộc, thể hiện sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của dân tộc Việt Nam Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII khẳng định công cuộc đổi mới toàn diện đẩy mạnh công
Trang 15mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh đòi hỏi chúng
ta phải xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc… coi đó vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội
Tại hội nghị quốc tế họp ở Mêhicô do UNESCO chủ trì họp từ 26/7 đến 6/8 năm 1982 người ta chấp nhận một quan niệm về văn hóa như sau:
“Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hoặc của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người những khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tìm tòi không biết mệt, ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”[dẫn theo11, tr.5-6]
Định nghĩa văn hóa của Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn và phát triển của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở, và các phương thức sử dụng Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [1 tr, 431]
Như vậy trong định nghĩa văn hóa của Hồ Chí Minh chúng ta thấy được cái nhìn toàn diện về nguồn gốc, lịch sử của văn hóa, phạm vi rộng
Trang 16lớn của văn hóa trong đời sống và trong toàn bộ hoạt động sinh hoạt của con người
Sở dĩ có những quan niệm khác nhau về văn hóa như vậy là do: Thứ nhất, văn hóa là lĩnh vực có phạm vi bao quát rộng lớn, nó hiện diện và tác động trong mọi lĩnh vực của đời sống con người, của xã hội, nó
vô cùng phong phú và phức tạp, vì vậy quan niệm về văn hóa cũng đa nghĩa Cũng vì vậy trong nghiên cứu văn hóa mỗi người có thể chọn những góc tiếp cận riêng và hình thành những cách hiểu biết riêng về nó Đó là một thực tế không thể không chú ý khi nghiên cứu hiện tượng văn hóa
Thứ hai, trong nghiên cứu văn hóa chúng ta thường thấy hiện tượng phổ biến là các nhà nghiên cứu do những mục đích nghiên cứu khác nhau thường có xu hướng “quy văn hóa vào những lĩnh vực hạn hẹp cụ thể”, mặc dù việc giới hạn phạm vi nghiên cứu là yêu cầu của người nghiên cứu, nhưng từ đó chỉ thấy văn hóa trong cái bộ phận, cái cá biệt của nó điều đó
là một hạn chế
Ngày nay văn hóa không chỉ bó hẹp trong phạm vi cá nhân, gia đình
và cộng đồng mà còn mở rộng ra phạm vi các quốc gia, dân tộc trên thế giới Văn hóa hình thành trong quá trình tiếp xúc, giao lưu, sàng lọc, cải biến văn hóa bản địa với những nền văn hóa khác Do đó văn hóa bao giờ cũng thể hiện sự đa dạng, phong phú nhưng luôn mang những nét độc đáo của dân tộc, đồng thời bao hàm tiềm ẩn những giá trị chung của nhân loại Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa giao lưu văn hóa giữa các quốc gia khu vực bao gồm cả những nước có chế độ chính trị khác nhau đang diễn ra trên quy mô rộng lớn và tốc độ nhanh Sự biến đổi văn hóa của các quốc gia dân tộc đó cũng diễn ra nhanh chóng Bên cạnh những thời cơ lớn việc giữ gìn, bảo vệ và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc chống nguy cơ đồng hóa về văn hóa là một trong những thách thức lớn đối với các quốc gia
Trang 171.1.2 Giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam
Giá trị (Value) là một khái niệm của nhiều bộ môn khoa học khác nhau, toán học, xã hội học, triết học, nghệ thuật, văn hoá học , do vậy trong mỗi
bộ môn khoa học, khái niệm này mang những hàm nghĩa khác nhau Giá trị cũng như tập quán, chuẩn mực, tri thức đều là sản phẩm của quá trình tư duy, sản xuất tinh thần của con người, nó là yếu tố cốt lõi nhất của văn hoá Giá trị, giá trị văn hoá là một hình thái của đời sống tinh thần, nó phản ánh
và kết tinh đời sống văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của con người Cho nên, quan điểm cho rằng văn hoá hay giá trị văn hoá chỉ là lĩnh vực đời sống tinh thần thôi thì chưa thật thoả đáng
Giá trị, trước nhất là hệ thống những đánh giá mang tính chủ quan của con người về tự nhiên, xã hội và tư duy theo hướng những cái gì là cần,
là tốt, là hay, là đẹp, nói cách khác đó chính là những cái được con người cho là chân, thiện, mỹ, giúp khẳng định và nâng cao bản chất người Do vậy, giá trị văn hoá nói ở đây là giá trị xã hội, nó gắn bó mật thiết với hoạt động sống của con người, sự tồn tại và phát triển của mỗi xã hội
Thực chất của giá trị là những quan hệ xã hội tốt đẹp đánh dấu sự phát triển về mặt chân, thiện, mỹ mà xã hội đã đạt được nhằm phát triển và hoàn thiện đời sống xã hội Về điều này GS Nguyễn Tài Thư nhận xét:
Nói đến giá trị là nói đến cái có ích, có lợi cho nhân dân, cho dân tộc, cho
sự phát triển xã hội, nói đến những gì có thể thỏa mãn được nhu cầu và lợi ích của con người trong lịch sử Đối với mỗi dân tộc trong những hoàn cảnh lịch sử và xã hội cụ thể đều tồn tại hệ giá trị tổng quát và những hệ giá trị bộ phận Hệ giá trị tổng quát bao gồm những giá trị chung nhất, mang tính phổ quát, có vai trò định hướng đối với tư duy và hành động của cả cộng đồng Ví dụ, GS Trần Văn Giầu đã nêu 7 giá trị mang tính tổng quát nhất của dân tộc Việt Nam, đó là: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc
Trang 18quan, thương người, vì nghĩa Nghị quyết TW 5 nêu những đức tính nổi bật của bản sắc Việt Nam, cũng có thể hiểu đó là các giá trị của con người Việt Nam: “Lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết,
ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc, lòng khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, tính cần cù sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống” Những thập niên vừa qua người
ta còn nêu hệ giá trị chung của Châu Á: Hiếu học, cộng đồng, cần cù, huyết thống Bên cạnh những giá trị tổng quát như vậy, trong từng lĩnh vực của đời sống, hoạt động của con người thì người ta lại đúc rút nên các giá trị, có vai trò định hướng trong từng lĩnh vực riêng lẻ ấy
Trong từ điển Bách khoa Xô Viết định nghĩa: “Truyền thống là những yếu tố văn hóa, xã hội truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ trong các xã hội, giai cấp và nhóm xã hội trong một quá trình lâu dài Truyền thống được thể hiện trong chế định xã hội, chuẩn mực của hành vi, các giá trị tư tưởng, phong tục, tập quán và lối sống… Truyền thống tác động khống chế đến mọi xã hội và tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” [Dẫn theo 16, tr 11]
Giáo sư Phan Huy Lê cho rằng: “Truyền thống là tập hợp những tư tưởng, tình cảm, những thói quen trong tư duy, lối sống, ứng xử của một cồng đồng nhất định, được hình thành trong lịch sử và đã trở nên ổn định, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [24, tr 03] Theo TS Trần Nguyên Việt thì có thể coi truyền thống là một bộ phận tương đối ổn định của ý thức xã hội, được lặp đi lặp lại trong suốt tiến trình hình thành và phát triển của các nền văn hóa tinh thần và vật chất, là một giá trị nhất định đối với từng nhóm người, từng giai cấp, cộng đồng và xã hội nói chung
Truyền thống dù được tiếp cận theo góc độ nào cũng đều được hiểu theo nghĩa là những hiện tượng văn hóa xã hội (bao gồm các giá trị, các
Trang 19chuẩn mực giao tiếp, các khuôn mẫu văn hóa, các tư tưởng xã hội, các phong tục, nghi thức xã hội…) được bảo tồn qua năm tháng trong đời sống vật chất và tinh thần của các cộng đồng xã hội khác nhau và có thể được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác
Truyền thống là một bộ phận đặc biệt của ý thức xã hội, chịu sự quy định bởi tồn tại xã hội Truyền thống không phải tự nhiên mà có, nó được hình thành trong quá trịnh lịch sử, bị quy định bởi điều kiện sinh hoạt xã hội của mỗi dân tộc, được lưu truyền từ đời này sang đời khác C Mác đã khẳng định: “Cả một kiến trúc thượng tầng những cảm giác, những ảo tưởng, những lối suy nghĩ và quan niệm sống khác nhau và độc đáo đã mọc lên trên những hình thức khác nhau, trên các điều kiện sinh hoạt xã hội Toàn thể giai cấp tạo ra và hình thành nên tất cả những cái đó trên cơ sở những điều kiện sinh hoạt vật chất của mình và trên những quan hệ xã hội tương ứng Một cá nhân, qua truyền thống hoặc giáo dục mà tiếp thu được những tình cảm và quan điểm ấy….” [25, tr 179 – 180]
Truyền thống luôn được bảo vệ trong cộng đồng vì vậy mà dù có thay đổi như thế nào thì nó vẫn giữ được bản chất cốt lõi của nó Truyền thống luôn lưu giữ trong nó tính cách riêng của một dân tộc qua đó người ta
có thể nhận biết bản sắc riêng của mỗi dân tộc thông qua đời sống tinh thần cũng như thông qua những phong tục tập quán, tín ngưỡng của dân tộc đó Truyền thống của mỗi dân tộc luôn biểu hiện tính hai mặt: mặt giá trị và mặt phản giá trị Truyền thống vừa chứa đựng trong bản thân nó năng lực
to lớn để tạo ra cái mới, vừa chứa đựng những yếu tố tiêu cực cản trờ hình thành cái mới Có những truyền thống tích cực tạo ra được sức mạnh cho dân tộc, xong cũng có những truyền thống tiêu cực cản trở sự phát triển
Mác đã viết trong tác phẩm “Ngày 18 tháng sương mù của Luis Bonaparte”
đã viết: “Truyền thống của tất cả các thế hệ đã chết đè nặng như quả núi,
Trang 20lên đầu óc những người đang sống” [25, tr 145] GS Trần Văn Giàu cũng thừa nhận rằng: “Mỗi dân tộc đều có truyền thống của mình, không dân tộc nào không có Truyền thống là những đức tính hay những thói tục kéo dài nhiều thế hệ, nhiều thời kỳ lịch sử và hiện có nhiều tác dụng, tác dụng cũng
có thể tích cực, cũng có thể tiêu cực” [16, tr 50] Điều này có nghĩa là dù là những truyền thống lâu đời của một dân tộc nhưng trong quá trình phát triển luôn cần vận dụng linh hoạt các giá trị truyền thống tránh tình trạng tư duy duy trì trệ cản trở sự phát triển của lịch sử Vì vậy, việc chắt lọc lấy những gì tinh túy nhất của truyền thống, loại bỏ những gì là cản trở, níu kéo sự phát triển cần được thực hiện một cách cần thực hiện một cách cẩn trọng và khoa học
Quan niệm về giá trị văn hóa truyền thống: như đã nói ở trên văn hóa
là nét đặc sắc của mỗi dân tộc, còn truyền thống là những gì được lưu giữ hàng ngàn năm cùng với văn hóa làm nên sức sống của mỗi dân tộc Giá trị truyền thống rất đa dạng và phong phú, có giá trị vật chất, giá trị tinh thần, giá trị đạo đức, giá trị thẩm mỹ… song được hiểu là sự tổng hòa tất cả các mảng giá trị truyền thống về tâm lý, ý thức, tình cảm, tư tưởng quan điểm
về văn hóa, đạo đức thẩm mỹ với tư cách là hạt nhân, sức sống tiềm tàng bên trong mỗi dân tộc
Theo như GS Trần Văn Giàu, đã viết: “Truyền thống thì có cái tốt, cái xấu, nhưng khi chúng ta nói “giá trị truyền thống” thì ở đây chỉ có cái tốt mà thôi, bởi vì chỉ có những gì tốt đẹp đều được gọi là giá trị, mà phải
là những cái tốt, phổ biến, cơ bản, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức luân lý, có cả tác dụng hướng dẫn sự nhận định và hướng dẫn sự hành động, thì mới được mang danh là giá trị truyền thống” [16, tr 50]
Giá trị văn hóa truyền thống là những nét đẹp văn hóa được lưu truyền từ ngàn đời nay, là nơi hội tụ toàn bộ tâm hồn, khí phách, phẩm chất
Trang 21của một cộng đồng Nó được thử thách, cô đúc, tái tạo qua nhiều thế hệ kế tiếp nhau trong những biến cố của lịch sử, trong sự giao lưu, tiếp xúc với nền văn hóa của các dân tộc khác Đặc biệt trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, xu thế toàn cầu hóa, hợp tác phát triển thì việc giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc càng trở nên quan trọng và cấp thiết
Giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc là yếu tố tiềm năng và bền vững, là sức mạnh vốn có của mỗi dân tộc Nó vừa là cái giữ thế vững chắc, vừa là yếu tố chỉ đạo tư tưởng, hành động, củng cố và phát triển ý chí, bản lĩnh của một dân tộc Bản chất của các giá trị văn hóa truyền thống
là bất biến nhưng lại có những phần biến động, kế thừa, bổ sung phát triển
do sự chi phối bởi điều kiện lịch sử cụ thể trong mỗi thời kỳ
Giá trị văn hóa truyền thống không phải là hiện tượng tự nhiên mà là sản phẩm của con người do con người sáng tạo ra dựa trên những cơ sở thực tiễn nhất định Mỗi một thành viên của một dân tộc đều trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào sự sáng tạo giá trị văn hóa chung của cộng đồng Chính những chủ thể sáng tạo đó là những người hấp thụ giá trị mà họ đã sáng tạo ra Vì vậy, có những giá trị văn hóa truyền thống hôm qua còn giá trị nhưng hôm nay đã bị loại bỏ hoặc có những giá trị văn hóa truyền thống tuy vẫn giữ được cái hạt nhân của nó, song phải được bổ sung, chuyển hóa
ở mức độ nhất định cho phù hợp với yêu cầu của thời đại
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, trước hết là toàn cầu hóa về kinh tế, đã làm đảo lộn nhiều giá trị đã từng được xem là chuẩn mực trong đời sống cộng đồng Tuy nhiên, nhiều người không ý thức được rằng; các giá trị văn hóa của mỗi dân tộc đều có sức sống riêng, tạo nên bản sắc, tính đa dạng và
sự khác biệt của chính dân tộc ấy, chính vì vậy mà người ta tiếp thu các tư tưởng văn hóa ngoại bang một cách ồ ạt, không có chọn lọc, không biết “gạn đục, khơi trong” Hậu quả đương nhiên xét ở lĩnh vực văn hóa là dễ tạo ra thói
Trang 22quen quên lãng truyền thống, mất phương hướng trong thưởng thức, cảm thụ
và sáng tạo nghệ thuật, lối sống gấp gáp, không tình không nghĩa, không còn
lý tưởng,… Điều đó trái ngược với truyền thống văn hóa dân tộc
Văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực thức đẩy sự phát triển của xã hội Văn hóa truyền thống Việt Nam
là nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc GS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và được cố định hóa dưới dạng những phong tục tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận…” (2, tr.26) Song cũng có quan điểm cho rằng: “Nền văn hóa được truyền lại được gọi là truyền thống văn hóa Như vậy, nó phản ánh được những thành tựu con người, tích tập được trong quá trình tìm hiểu, thực hiện và truyền
bá ý nghĩa sâu lắng nhất của cuộc sống Đó chính là truyền thống theo nghĩa hài hòa của nó như là một hiện thân của trí tuệ” (4, tr.19)
Ở Việt Nam đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, truyền thống “lá lành đùm
lá rách” trở thành những giá trị ổn định Nó là những thước đo, khuôn mẫu đánh giá nhân cách con người, hành vi của mỗi cá nhân và cả cộng đồng xã hội Tính giá trị, tính ổn định và tính lưu truyền đã tạo nên dáng vẻ riêng của văn hóa truyền thống Việt Nam Trong những cuộc đụng đầu lịch sử với những kẻ thù hung bạo nhất, dân tộc ta tìm thấy sức mạnh vĩ đại trong những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam Giữa truyền thống và truyền thống văn hóa có mối quan hệ thống nhất nhưng không đồng nhất Truyền thống mang trong nó tính hai mặt Một mặt, truyền thống góp phần suy tôn, giữ gìn những
gì quý giá, là cốt cách, là nền tảng cho sự phát triển của cộng đồng dân tộc, ở góc độ này truyền thống mang những giá trị tích cực, là chỗ dựa không thể thiếu của dân tộc trên con đường đi đến tương lai Mặt khác, truyền thống còn
Trang 23là nơi dung dưỡng duy trì, làm sống lại mặt bảo thủ lạc hậu khi điều kiện và hoàn cảnh đã thay đổi Mặt này góp phần kìm hãm, níu kéo làm chậm trễ sự phát triển của một quốc gia dân tộc Như vậy, văn hóa truyền thống là một bộ phận của truyền thống, là mặt tích cực, mặt giá trị của truyền thống.Vì vậy, khi nói đến văn hóa truyền thống là nói đến những truyền thống đã được lịch sử đánh giá, khẳng định ý nghĩa tích cực của chúng đối với cộng đồng trong một giai đoạn lịch sử nhất định Đồng thời, khi xem xét đánh giá truyền thống và các giá trị văn hóa truyền thống cần phải có quan điểm biện chứng, quan điểm lịch sử cụ thể nghĩa là phải đặt chúng trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử nhất định của cả quá khứ và hiện tại
Như vậy văn hoá truyền thống hay giá trị văn hoá truyền thống được hiểu như là văn hoá và giá trị gắn với xã hội tiền công nghiệp, phân biệt với văn hoá, giá trị văn hoá thời đại công nghiệp hoá Tất nhiên, khái niệm
truyền thống(Tradition) để chỉ những cái gì đã hình thành từ lâu đời, mang
tính bền vững và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thì không chỉ xã hội tiền công nghiệp mới có mà với cả xã hội công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì truyền thống vẫn hình thành và định hình Hơn thế nữa, còn có
sự kết nối giữa truyền thống tiền công nghiệp với truyền thống công nghiệp hoá thể hiện trong từng hiện tượng hay giá trị văn hoá
1.2 Phát triển bền vững
1.2.1 Khái niệm
Quan điểm về phát triển:
Phát triển là phạm trù triết học khái quát quá trình vận động tiến lên
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện Như vậy, sự phát triển là quá trình không ngừng gia tăng về trình độ,
về kết cấu phức tạp của sự vật và do đó làm nảy sinh tính quy định mới cao hơn về chất Phép biện chứng duy vật khẳng định sự phát triển, đổi mới là
Trang 24quá trình diễn ra không ngừng trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy của con người Trong giới hữu sinh, sự phát triển biểu hiện ở việc tăng cường khả năng thích nghi của cơ thể trước sự biến đổi của môi trường, ở khả năng sản sinh và hoàn thiện chính mình, ở khả năng hoàn thiện về trao đổi vật chất giữa cơ thể với môi trường Trong xã hội, sự phát triển biểu hiện ở khả năng nhận thức, cải biến tự nhiên và xã hội theo quy luật, thông qua hoạt động thực tiễn của con người, hướng tới sự nghiệp giải phóng con người Trong tư duy, sự phát triển biểu hiện ở khả năng nhận thức ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn về tự nhiên và xã hội và nhận thức chính bản thân con người Phép biện chứng duy vật khẳng định phát triển là khuynh hướng chung của các sự vật, hiện tượng nhưng không diễn ra một cách trực tuyến,
mà quanh co, phức tạp, theo hình xoáy ốc; trong đó có thể có bước thụt lùi tương đối
Phát triển được định nghĩa khái quát trong Từ điển Oxford là: “Sự gia tăng dần của một sự vật theo hướng tiến bộ hơn, mạnh hơn ” (The gradual grow of sth so that it becomes more advanced, stronger ) Trong
Từ điển Bách khoa của Việt Nam, phát triển được định nghĩa là: “Phạm trù triết học chỉ ra tính chất của những biến đổi đang diễn ra trong thế giới” Con người và mọi sự vật đều thay đổi theo thời gian, nhưng sự phát triển được bao hàm cả khía cạnh thay đổi theo hướng đi lên, hướng tốt hơn tương đối (Sự phát triển theo hướng đi lên như vậy, trong sinh học được gọi đó là phát triển tiến bộ hay tiến hóa, và ngược lại là phát triển thoái bộ - thoái hóa)
Khái niệm phát triển bền vững:
Phát triển bền vững là một khái niệm mới nhằm định nghĩa một sự phát triển về mọi mặt trong hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai Khái niệm này hiện đang là mục tiêu hướng tới của
Trang 25nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó
Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980
trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn
Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo
Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi
trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Theo Brundtland: "Phát triển bền vững là sự phát triển thoả mãn những nhu cầu của hiện tại và không phương hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những
hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật”
Như vậy, khái niệm "Phát triển bền vững" được đề cập trong báo cáo Brundtland với một nội hàm rộng, nó không chỉ là nỗ lực nhằm hoà giải kinh tế và môi trường, hay thậm chí phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường Nội dung khái niệm còn bao hàm những khía cạnh chính trị xã hội, đặc biệt là bình đẳng xã hội Với ý nghĩa này, nó được xem là "tiếng chuông" hay nói cách khác là "tấm biển hiệu” cảnh báo hành vi của loài người trong thế giới đương đại
Năm 1987 hoạt động của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới trở nên nóng bỏng khi xuất bản báo cáo có tựa đề “Tương lai của chúng
Trang 26ta” Bản báo cáo này lần đầu tiên công bố chính thức thuật ngữ “phát triển bền vững”, sự định nghĩa cũng như một cái nhìn mới về cách hoạch định các chiến lược phát triển lâu dài Với tầm quan trọng đó bản báo cáo
“Tương lai của chúng ta” đã được đưa ra bàn bạc tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc và đã dẫn đến sự ra đời của Nghị quyết 44/228 – tiền đề cho việc tổ chức Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc
Năm 1992: Hội nghị về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc họp tại Rio de Janeiro, đã thông qua chương trình Nghị sự 21 về Phát triển bền vững Từ đó, Chương trình Nghị sự 21 về Phát triển bền vững đã trở thành chiến lược phát triển của toàn cầu trong thế kỷ XXI, và “Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ”,
Năm 2002: Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững nhóm họp tại Johannesburg, Nam Phi bổ sung hoàn chỉnh khái niệm “phát
triển bền vững” như sau: Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự
kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển, đó là phát triển bền vững về kinh tế, phát triển bền vững về xã hội và phát triển bền vững về môi trường
Trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 của Việt Nam quan điểm
phát triển bền vững được thể hiện như sau: “Phát triển bền vững là phát
triển đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó ở các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” –
Luật số 52/2005/QH11- Luật Bảo vệ môi trường 2005
1.2.2 Nội dung phát triển bền vững:
Như đã nêu thuật ngữ phát triển bền vững lần đầu tiên được sử dụng trong bản Chiến lược bảo tồn thế giới năm 1980 Nhưng phải đến năm
1987, trong báo cáo Tương lai chung của chúng ta Ủy ban quốc tế về môi
Trang 27trường và phát triển mới lần đầu tiên đưa ra 1 định nghĩa tương đối đầy đủ
về phát triển bền vững Theo đó, thuật ngữ này được định nghĩa: phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu của hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng của thế hệ tương lai trong việc đáp ứng những nhu cầu của họ” Định nghĩa bao hàm hai ý niệm cơ bản: trước hết là ý niệm của các nhu cầu của con người trên thế giới (dĩ nhiên để thỏa mãn các nhu cầu vô tân của mình, đối tượng đầu tiên mà con người hướng đến là môi trường tự nhiên) và ý niệm về các giới hạn mà tình trạng hiện tại của khoa học kỹ thuật và sự tổ chức xã hôi áp đặt lên khả năng đáp ứng của môi trường nhằm thỏa mã nhu cầu hiện tại và tương lai
Định nghĩa của báo cáo Brundtland được tái khẳng định trong Hội
nghị thượng đỉnh môi trường và phát triển Rio de Janeiro năm năm sau đó
(1992) Tại hội nghị Rio, nỗi ám ảnh về một sự phản bội của loài người đương đại với thế hệ tương lai do việc tiêu thụ thái quá tài nguyên của họ xuất hiện trong nhiều diễn ngôn nổi tiếng như “chúng ta không thừa kế hành tinh từ cha ông mình mà đang mượn nó từ con cháu của chúng ta”
Xuất phát từ nỗi ám ảnh ấy không có gì ngạc nhiên khi vấn đề môi trường trở thành vấn đề trọng tâm của Hội nghị Rio de Janeiro và những thành quả căn bản nhất của Hội nghị thượng đỉnh 1992 đều xoay quanh trụ cột môi trường: tuyên bố các nguyên tắc quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững rừng; công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu nhằm
ổn định các khí gây hiệu ứng nhà kính ở mức độ không gây đảo lộn cho hệ thống khí hậu toàn cầu và công ước đa dạng sinh học
Như vậy, từ báo cáo Brundtland đến hội nghị Rio de Janeiro, phát triển bền vững đều được nhìn nhận như là hệ quả của một phương thức ứng
xử mới của con người đối với môi trường: thay vì tận khai thác tài nguyên
để thỏa mãn các nhu cầu trước mắt, loài người dần chuyển sang sử dụng tài
Trang 28nguyên một cách hợp lý và hiệu quả hơn nhằm cân bằng lợi ích, nhu cầu giữa các thế hệ hiện tại và tương lai Bởi vậy, cho đến nửa đầu thập niên
1990, phát triển bền vững có nghĩa là sự phát triển đảm bảo sự bền vững về tài nguyên và môi trường
Hội nghị Johannesburg đã tiếp tục khẳng định một số mục tiêu được
ưu tiên trong phát triển bền vững đó là xóa đói giảm nghèo, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môi trường nhằm thay thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Tháng 6 năm 2012, tại Rio de Janeiro, Liên hợp quốc đã tổ chức Hội nghị Rio +20 với chủ đề “Kinh tế xanh và khuôn khổ thể chế cho phát triển bền vững”, khởi đầu cho một hướng đi mới trong phát triển bền vững đó là kinh
tế xanh
1.2.3 Định hướng chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam
Khái quát chung về định hướng chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam
Việt Nam đã sớm tham gia vào tiến trình chung của thế giới trong việc xây dựng Chương trình Nghị sự 21 Năm 1992, đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam tham dự Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và Phát triển ở Rio de Janeiro (Braxin) đã ký Tuyên bố chung của thế giới về môi trường và phát triển, Chương trình Nghị sự 21 toàn cầu, cam kết xây dựng Chiến lược phát triển bền vững quốc gia và Chương trình nghị sự 21 địa phương Việt Nam cũng đã tha gia nhiều cam kết quốc tế nhằm bảo vệ môi trường và phát triển xã hội Sau tuyên bố Rio, Quốc hội đã ban hành Luật bảo vệ môi trường năm 2003 Tháng 6 năm 1998, Bộ chính trị đã ban hành chỉ thị số 36-CT/TW về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” và khẳng định phát triển bền vững là cơ sở quan trọng đảm bảo phát triển đất nước Năm 2004 Việt
Trang 29Nam đã phê chuẩn Chiến lược quốc gia về bảo vệ môi trường thời kỳ đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Hội đồng phát triển bền vững quốc gia cũng đã được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 1032/QĐ-TTg ngày 27/9/2005 Hội đồng do Phó Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư là Phó Chủ tịch thường trực Cơ quan Thường trực giúp việc cho Hội đồng phát triển bền vững là Văn phòng phát triển bền vững, đặt tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Hòa nhập với cộng đồng quốc tế, trong quá trình đổi mới kinh tế và
xã hội, phát triển bền vững, với những nội hàm phát triển toàn diện và có hiệu quả về kinh tế, đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo
vệ môi trường, luôn luôn là mục tiêu phát triển trong từng thời kỳ kế hoạch của đất nước
Đại hội Đảng lần thứ IX đã thông qua Mục tiêu chiến lược 10 năm (2001-2010), mà nội dung tập trung vào những nhân tố phát triển bền vững
đó là đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân Tạo nền tảng đến năm 2020 nước
ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh
tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản Vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao
Để thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững như Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc đã đề ra và thực hiện cam kết quốc tế về phát triển bền vững, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) Đây là chiến lược khung, bao gồm những định hướng lớn, làm cơ sở pháp lý để
Trang 30các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức và cá nhân triển khai thực hiện và phối hợp hành động, nhằm bảo đảm phát triển bền vững đất nước trong thế
kỷ XXI Định hướng Chiến lược về phát triển bền vững ở Việt Nam nêu lên những thách thức mà Việt Nam đang phải đối mặt, đề xuất những chủ trương, chính sách, công cụ pháp luật và những lĩnh vực hoạt động ưu tiên
để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững Chiến lược này nêu lên mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững ở Việt Nam là tăng trưởng bền vững, có hiệu quả đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia
Cụ thể hơn thì mục tiêu phát triển bền vững về kinh tế là bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là các cân đối lớn, giữ vững an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh tài chính Chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu; từng bước thực hiện tăng trưởng xanh, phát triển nền kinh tế cácbon thấp Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả mọi nguồn lực
Mục tiêu phát triển bền vững về xã hội là xây dựng xã hội dân chủ,
kỷ cương, đồng thuận, công bằng, văn minh; nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gia đình ấm no, tiến bộ hạnh phúc, con người phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, tinh thần, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ trở thành động lực phát triển quan trọng, giữ vững ổn định chính trị - xã hội bảo
vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia
Mục tiêu phát triển bền vững về môi trường là giảm thiểu tác động tiêu cực của hoạt động kinh tế đến môi trường Khai thác hợp lý và sử dụng
có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên không tái tạo Phòng ngừa, kiểm soát và khắc phục ô nhiễm môi trường, cải thiện
Trang 31chất lượng môi trường, bảo vệ phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học Hạn chế tác hại của thiên tai; chủ động thích ứng có hiệu quả với biến đổi khí hậu, nhất là nước biển dâng
Với những định hướng chiến lược phát triển dài hạn, văn bản Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam sẽ thường xuyên được xem xét, bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển, cập nhật những kiến thức và nhận thức mới nhằm hoàn thiện hơn về con đường phát triển bền vững ở Việt Nam Định hướng chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam không thay thế các chiến lược quy hoạch tổng thể
và kế hoạch hiện có, mà là căn cứ để cụ thể hóa chiến lược phát triển kinh
tế - xã hội 2001 – 2010 và 2011 – 2020 Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 định hướng đến năm 2020 và là căn cứ để xây dựng
kế hoạch của các ngành, địa phương nhằm kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường
Mục tiêu, quan điểm và nguyên tắc phát triển bền vững của Việt Nam được nhắc đến trong định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam
là: Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật
chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và
sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên
Quan điểm phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững tăng trưởng kinh
tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Phát triển kinh tế xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, đảm bảo sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học
Nguyên tắc: để đạt được mục tiêu trên cần quán triệt những nguyên tắc chính trong quá trình phát triển bền vững như sau: con người là trung tâm của phát triển; phát triển kinh tế là trung tâm trong giai đoạn trước mắt;
Trang 32phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường; khoa học công nghệ là nền tảng và động lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển nhanh, mạnh và bền vững đất nước; phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn Đảng, các cấp chính quyền, các bộ ngành, địa phương, các
cơ quan doanh nghiệp, đoàn thể xã hội, cộng đồng dân cư và mọi người dân; gắn chặt xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển bền vững; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh
tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường với đảm bảo quốc phòng, an ninh
và trật tự an toàn xã hội
1.3 Mối quan hệ giữa giá trị văn hóa truyền thống và phát triển bền vững
1.3.1 Ảnh hưởng của giá trị văn hóa truyền thống đến phát triển bền vững
Trong vài thập kỷ trước đây, có một số nước cho rằng: chỉ cần tăng trưởng kinh tế với việc sử dụng cơ chế kinh tế thị trường cùng với việc phát triển sử dụng khoa học công nghệ cao là có sự phát triển Sau một thời gian thực hiện kết quả cho thấy, các quốc gia đó đạt được một số mục tiêu về tăng trưởng kinh tế nhưng đã vấp phải sự xung đột gay gắt trong xã hội, sự suy thoái về đạo đức, văn hóa ngày càng tăng Từ đó, kéo theo kinh tế phát triển chậm lại, mất ổn định xã hội tăng lên và cuối cùng là sự phá sản của các kế hoạch phát triển kinh tế, đất nước rơi vào tình trạng suy thoái, không phát triển được Đây là quan niệm phát triển nhanh bằng cách hi sinh các giá trị văn hóa – xã hội cho sự phát triển Trên thực tế đã bị phá sản
Từ thực tế đó, một số nước đã lựa chọn mô hình: tăng trưởng kinh tế, cùng với việc phát triển bền vững tài nguyên con người, bảo vệ môi trường sinh thái Mô hình này, tuy tăng trưởng kinh tế không nhanh, nhưng lại bền vững, xã hội ổn định Đây là quan niệm phát triển kinh tế gắn liền với phát triển văn hóa, được các nhà khoa học, các chính khách thừa nhận
Trang 33Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do lao động của người sáng tạo ra, được cộng đồng khẳng định tích lũy lại, tạo ra bản sắc riêng của từng tộc người, từng xã hội Trong Nghị quyết Trung ương 5
(Khóa VIII), Đảng ta khẳng định: Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước…, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc
Giá trị văn hóa truyền thống là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là mục tiêu của sự phát triển Vì xét cho cùng, mọi sự phát triển đều do con người quyết định mà văn hóa thể hiện trình độ vun trồng ngày càng cao, càng toàn diện con người và xã hội, làm cho con người và xã hội ngày càng phát triển, tiến bộ; điều đó nghĩa là ngày một xa rời trạng thái nguyên
sơ, mông muội để tiến tới một cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc và văn minh Trong đó, bản chất nhân văn, nhân đạo của mỗi cá nhân cũng như của cả cộng đồng được bồi dưỡng; phát huy trở thành giá trị cao quý và chuẩn mực tốt đẹp của toàn xã hội Mục tiêu này phù hợp với khát vọng lâu đời của nhân loại và là mục đích phát triển bền vững, tiến bộ của các quốc gia, dân tộc Đây là một nội dung quan trọng của chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang xây dựng
Giá trị văn hóa truyền thống là động lực của sự phát triển bền vững, bởi lẽ mọi sự phát triển đều do con người quyết định chi phối Văn hóa truyền thống đã và đang khơi dậy và nhân lên mọi tiềm năng sáng tạo của con người, huy động sức mạnh nội sinh to lớn trong con người đóng góp vào sự phát triển xã hội
Trang 34Giá trị văn hóa truyền thống là hệ điều tiết của sự phát triển Bởi lẽ, văn hóa phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của các nhân tố khách quan và chủ quan, của các điều kiện bên trong và bên ngoài, bảo đảm cho
sự phát triển được hài hòa, cân đối, lâu bền
Trong nền kinh tế thị trường, một mặt văn hóa dựa vào chuẩn mực của nó là chân, thiện, mỹ (cái đúng, cái tốt, cái đẹp) để hướng dẫn và thúc đẩy người lao động không ngừng phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nâng cao tay nghề, sản xuất hàng hóa với số lượng ngày càng nhiều với chất lượng ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng lên của xã hội; mặt khác, văn hóa sử dụng sức mạnh của các giá trị truyền thống, của đạo lý, dân tộc để hạn chế xu hướng sùng bái hàng hóa, sùng bái tiền tệ, nghĩa là hạn chế xu hướng tiêu cực của hàng hóa và đồng tiền “xuất hiện với tính cách là lực lượng có khả năng xuyên tạc bản chất con người, cũng như những mối liên hệ khác” Hạn chế những tiêu cực này chỉ có thể là văn hóa và chủ yếu bằng văn hóa
Vì sự phát triển bền vững, văn hóa truyền thống phê phán lối sống thực dụng, chụp giật, chạy theo ham muốn quá mức của “xã hội tiêu thụ”, dẫn đến chỗ làm cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường sinh thái Như vậy, văn hóa đã góp phần quan trọng vào vấn đề bảo vệ môi trường và sự phát triển bền vững Văn hóa truyền thống Việt Nam đưa ra mô hình ứng
xử có văn hóa của con người đối với thiên nhiên, vì sự phát triển bền vững của thế hệ hiện nay và các thế hệ con cháu mai sau
Phát triển tách khỏi cội nguồn dân tộc thì nhất định sẽ lâm vào nguy
cơ tha hóa Thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà xa rời những giá trị văn hóa truyền thống sẽ làm mất đi bản sắc dân tộc, đánh mất bản thân mình, trở thành cái bóng mờ của người khác, của dân tộc khác Nhận thức sâu sắc giá trị của
Trang 35văn hóa truyền thống trong quá trình phát triển bền vững, Đảng ta xác định tiến hành đồng bộ và gắn kết chặt chẽ ba lĩnh vực: Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt cùng với việc xây dựng văn hóa, nền tảng tinh thần của xã hội nhằm tạo nên sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của đất nước Trong đó, nội dung xây dựng văn hóa được xác định: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, một định hướng quan trọng để đất nước phát triển bền vững
1.3.2 Tác động của phát triển bền vững đến những giá trị văn hoá truyền thống
Quá trình phát triển bền vững cũng có những tác động nhất định đến giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Một chính sách phát triển bền vững đúng đắn là chính sách làm cho các yếu tố cấu thành giá trị văn truyền thống hóa thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực sáng tạo của con người: văn hóa trong sản xuất, văn hóa trong quản lý, văn hóa trong lối sống, văn hóa trong giao tiếp, văn hóa trong sinh hoạt gia đình, ngoài xã hội, văn hóa trong giao lưu và hợp tác quốc tế… Nói cách khác, hàm lượng trí tuệ, hàm lượng văn hóa trong các lĩnh vực của đời sống con người càng cao bao nhiêu thì khả năng phát triển kinh tế - xã hội càng trở nên hiện thực bấy nhiêu
Việc phát triển bền vững về mọi mặt của đời sống xã hội cũng tạo điều kiện cho những giá trị văn hóa truyền thống ngày càng ăn sâu, bám rễ vào trong đời sống con người, tạo nên sự thống nhất hài hòa trong tổng thể phát triển đất nước Sự phát triển kinh tế - xã hội tại mỗi địa bàn, mỗi đất nước không chỉ là sự vận hành của riêng hệ thống kinh tế, mà là một tổng thể phức tạp các mối quan hệ tương tác và gắn bó hữu cơ, được bao hàm trong khái niệm “văn hoá” Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu song phải dựa trên sự tôn trọng các giá trị văn hóa thì mới đảm bảo ổn định xã hội, làm tiền đề cho sự phát triển Nhận thức về phát triển bền vững nêu trên
Trang 36cũng đã đề cập đến văn hóa như một phần của bền vững xã hội Tuy nhiên, tính bền vững về văn hóa là một thuật ngữ mới đang được cộng đồng quốc
tế quan tâm UNESCO, Liên minh các đô thị và chính quyền địa phương (UCLG) đã có nhiều nỗ lực đề cao vai trò của văn hóa như một yếu tố thứ
tư, đóng vai trò thiết yếu đối với sự phát triển bền vững bên cạnh các yếu tố môi trường, kinh tế và xã hội đã được công nhận rộng rãi Năm 2001, nhà nghiên cứu Jon Hawkes (Australia) đã đưa ra định nghĩa cơ bản và được chấp nhận rộng rãi về “bền vững văn hóa”: Bền vững văn hóa là sự phát triển, làm mới và duy trì văn hóa để tạo ra các mối quan hệ tích cực và lâu bền giữa con người với con người và con người với tự nhiên
Kết luận chương 1:
Với cơ sở lý luận như trên, trong luận văn này, phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong phát triển bền vững ở Tây Nguyên được hiểu theo những khía cạnh cụ thể sau:
Văn hóa truyền thống là một trong những nhân tố riêng có tạo nên một Tây Nguyên với bản sắc vô cùng độc đáo Việc giữ gìn những giá trị văn hóa truyền thống này một cách tốt nhất là một trong những điều kiện quan trọng nhằm đảm bảo cho quá trình phát triển bền vững ở Tây Nguyên khi mà văn hóa đang trở thành trụ cột thứ tư của sự phát triển Với đặc trưng là vùng đất đa dân tộc, đa văn hóa nên chịu nhiều tác động từ các tương tác xã hội như buôn, làng, các chuẩn mực văn hóa, niềm tin, tín ngưỡng và sự tin tưởng lẫn nhau giữa các thành viên trong cộng đồng do vậy mà giá trị văn hóa truyền thống có những nét đặc trưng và sức mạnh rất lớn trong đời sống đồng bào Tây Nguyên Với tư cách như một chỉnh thể đang vận động, mang theo bảo tồn, kế thừa nhiều giá trị văn hóa truyền thống, chịu nhiều áp lực từ nội tại sự vận động và từ bên ngoài hệ thống xã hội đang phát triển thì cần đánh giá và nhìn nhận đúng hơn vai trò của văn
Trang 37hóa truyền thống trong phát triển bền vững vùng Tây Nguyên Việc kế thừa phải đảm bảo cho các giá trị văn hóa truyền thống này ngày một phát triển hơn, có ảnh hưởng to lớn đến các lĩnh vực trong điều kiện ngày nay như phát triển kinh tế, phát triển xã hội – nâng cao chất lượng sống cho con người, bảo vệ môi trường và đảm bảo an ninh quốc phòng
Văn hóa truyền thống Tây Nguyên hướng dẫn và cổ vũ lối sống hòa hợp, hài hòa với thiên nhiên Nó đưa ra mô hình ứng xử có văn hóa của con người với thiên nhiên vì sự phát triển bền vững của thế hệ hiện nay và các thế hệ con cháu mai sau Phát triển tách khỏi cội nguồn dân tộc thì nhất định sẽ lâm vào nguy cơ tha hóa Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà xa rời những giá trị văn hóa truyền thống sẽ làm mất đi bản sắc của dân tộc, đánh mất bản thân mình, trở thành cái bóng của một dân tộc khác Do vậy mà những văn hóa truyền thống Tây Nguyên cần được nhìn nhận đánh giá đúng về giá trị của mình để giữ vững được vai trò trong nền kinh tế thị trường
Một trong những định hướng quan trọng để đất nước phát triển bền vững đó là xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Tây Nguyên cũng là một vùng văn hóa đặc trưng của cả nước do đó việc kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống Tây Nguyên sẽ giúp cho nền văn hóa này hòa đồng chung với nền văn hóa truyền thống của dân tộc Đồng thời có thể tiếp thu tinh hoa văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và văn hóa thế giới làm cho các giá trị này vẫn giữ được bản sắc của mình nhưng ngày càng hiện đại, có khả năng hội nhập quốc tế cao trong điều kiện ngày nay
Trang 38Chương 2 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI TÂY NGUYÊN TRONG
THỜI KỲ ĐỔI MỚI 2.1 Tổng quan về Tây Nguyên và các giá trị văn hóa truyền thống của Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới
2.1.1 Thực trạng phát triển bền vững ở Việt Nam: Thành tựu và hạn chế
Sau hai thập niên tiến hành đổi mới và thực hiện các cam kết quốc tế
về phát triển bền vững, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường
Về mặt kinh tế: những năm qua nền kinh tế nước ta liên tục tăng
trưởng với mức độ khá cao, tương đối ổn định, tổng sản phẩm trong nước liên tục tăng Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng công nghiệp từng bước hiện đại hóa, kinh tế vĩ mô cơ bản được giữ vững, thâm hụt gân sách và nợ quốc gia được kiểm soát trong giới hạn an toàn tỷ lệ xuất khẩu trên GDP ngày một tăng Năng lực nội sinh được cải thiện đáng
kể Những thành tựu đạt được về kinh tế đã tạo điều kiện giải quyết thành công hàng loạt các vấn đề xã hội
Về xã hội: kết quả của tăng trưởng kinh tế đã đưa đến nâng cao chất
lượng cuộc sống của dân cư Chỉ số phát triển con người (HDI) tăng nhanh, tuổi thọ bình quân đạt 71 tuổi, ngang bằng với các nước có thu nhập trung bình Cùng với những nhiệm vụ tăng trưởng kinh tế, Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động Xóa đói giảm nghèo đạt kết quả tốt Tỷ lệ nghèo đói giảm nhanh tính theo chuẩn nghèo quốc tế và chuẩn nghèo của Việt Nam
Về môi trường: hình thành hệ thống tổ chức bảo vệ môi trường từ
trung ương đến cơ sở và ban hành được hệ thống pháp luật khá đồng bộ
Trang 39Nhờ đó, công tác bảo vệ môi trường đạt kết quả tốt hơn Độ che phủ rừng tăng nhanh Các doanh nghiệp quan tâm hơn đến đổi mới công nghệ, xây dựng hệ thống xử lý chất thải
Song bên cạnh những thành tựu đạt được thì trong chiến lược phát triển bền vững vẫn còn nhiều hạn chế, thành tựu đạt được còn chưa tương xứng với tiền năng thực tế của Việt Nam, cụ thể là:
Về kinh tế: tăng trưởng kinh tế của nước ta chủ yếu dựa vào vốn, tài
nguyên và lao động, phần đóng góp của khoa học – công nghệ còn nhỏ bé Các nền tảng cơ bản cho tăng trưởng kinh tế cao, bền vững ở mức thấp như: trình độ công nghệ thấp, chất lượng nguồn nhân lực kém, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế yếu, hệ thống kết cấu hạ tầng lạc hậu Cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động chuyển dịch chậm Nguồn thu ngân sách nhà nước chủ yếu còn dựa vào bán tài nguyên và thuế nhập khẩu Hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhà nước thấp Theo chỉ số năng lực cạnh tranh do Diễn đàn kinh tế thế giới xếp hạng thì Việt Nam đứng số 77/125 nước được xếp hạng, đứng sau Philippin (71), Indonesia (50), Thái Lan (35) và đứng trước Capuchia (111) Tỷ lệ đóng góp vốn và tăng tưởng GDP còn khá cao 57,5%
Về xã hội: mặc dù thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam có
tăng lên, song vẫn ở mức thấp, chưa vượt ngưỡng cửa của nước có thu nhập thấp Khoảng cách giàu nghèo chưa thật bền vững Tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm còn cao Chất lượng giáo dục đào tạo còn thấp, tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng
Về môi trường: chưa kết hợp hài hòa mục tiêu tăng trưởng kinh tế
với khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên Môi trường sinh thái đang bị hủy hoại, suy thoái và xuống cấp nghiêm trọng Công tác bảo vệ môi trường thiếu sự phối kết hợp giữa các vùng, liên vùng, quốc gia và toàn cầu, giữa trung ương và địa phương, nhất là ở
Trang 40các cấp huyện và cấp xã Xét về góc độ an toàn môi trường thì Việt Nam đứng cuối bảng trong số 8 nước ASEAN, và xếp thứ 98 trong 117 nước đang phát triển
2.1.2 Tổng quan chung về Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới
Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng, diện tích tự nhiên 54.474 km2, chiếm 16,8% diện tích cả nước,
có đường biên giới chung với hai nước Lào và Campuchia dài 573km, dân
số đến cuối năm 2009 là 5.107.437 người, là một trong bảy vùng kinh tế - sinh thái của nước ta hiện nay Toàn vùng có 61 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 5 thành phố (Buôn Ma Thuột, Pleiku, Đà Lạt, Kon Tum, Bảo Lộc), 4 thị xã (An Khê, Ayun Pa, Buôn Hồ, Gia Nghĩa) và 52 huyện; 722 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 77 phường, 47 thị trấn và 598 xã; 7.334 thôn buôn, tổ dân phố, trong đó có 2.764 thôn, buôn, bon, làng có đông đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống
Ở vào vị trí trung tâm của miền núi Nam Đông Dương, có những hành lang tự nhiên thông với Nam Lào, Đông Bắc Campuchia; có hệ thống đường giao thông liên hoàn nối với các tỉnh duyên hải miền Trung và Đông Nam bộ; có các cửa khẩu quốc tế trên tuyến hành lang Đông - Tây và không quá xa các cảng biển nước sâu như Dung Quất, Chân Mây, Nhơn Hội Vì vậy, Tây Nguyên vừa có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh, vừa có điều kiện để phát triển một nền kinh tế mở
Tây Nguyên có tổng diện tích đất tự nhiên rộng lớn, khí hậu tương đối mát mẻ, mưa nhiều, đất đai màu mỡ là điều kiện lý tưởng cho phát triển nhiều loài cây công nghiệp với giá trị kinh tế cao Hệ thống kết cấu hạ tầng
kỹ thuật điện, đường, trường, trạm qua nhiều năm được nhà nước đầu tư xây dựng đã phát triển rộng khắp đến xã, thôn Tây nguyên cũng là vùng đất giàu tiềm năng du lịch với những thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng,