Các nguồn năng lượng được khuyến khích sử dụng trong tương lai hướng đến việc khai thác và sử dụng bền vững năng lượng...11 3... Từ đó đến nay có rất nhiều định nghĩa được đưa ra để giải
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
VÀ TIÊU THỤ NĂNG LƯỢNG
CBGD: PGS TS LÊ CHÍ HIỆP HỌC VIÊN: KIỀU THU HÀ
LỚP: QLMT – K2010 MSHV: 1080100016
TP HỒCHÍ MINH, THÁNG 6/2011
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: CÁC ĐỊNH NGHĨA VỀ BỀN VỮNG, QUẢN LÝ BỀN VỮNG 4
1 Định nghĩa “Bền vững”: 4
2 Định nghĩa “Phát triển bền vững” (PTBV) 4
3 Định nghĩa “Quản lý bền vững” 6
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGUỒN NĂNG LƯỢNG 7
1 Định nghĩa “Năng lượng” (NL) 7
2 Phân loại các dạng NL 7
3 Tình hình tiêu thụ NL trên thế giới và Việt Nam 7
CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ BỀN VỮNG, QUẢN LÝ BỀN VỮNG TRONG KHAI THÁC VÀ TIÊU THỤ NĂNG LƯỢNG 11
1 Chiến lược khai thác và tiêu thụ bền vững năng lượng 11
2 Các nguồn năng lượng được khuyến khích sử dụng trong tương lai hướng đến việc khai thác và sử dụng bền vững năng lượng 11
3 Chiến lược phát triển bền vững năng lượng của Việt Nam 14
CHƯƠNG 4: Ý KIẾN CÁ NHÂN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 3LỜI NÓI ĐẦU
Trong chiến lược phát triển bền vững của các quốc gia, năng lượng luôn đóngvai trò trung tâm, có tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến các sự phát triển của kinh
tế, xã hội và môi trường Tuy nhiên thói quen sử dụng năng lượng hóa thạchđang gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng về môi trường và đe dọa đến việc pháttriển của nhiều quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng
Học viên lựa chọn đề tài này để tìm hiểu những khái niệm cơ bản về bền vững,quản lý bền vững, quản lý bền vững dưới góc độ khai thác và tiêu thụ nănglượng Ngoài ra học viên còn tìm hiểu về những xu hướng sử dụng năng lượngtrong tương lai để có những hiểu biết theo phù hợp với thời đại
Trang 4CHƯƠNG 1: CÁC ĐỊNH NGHĨA VỀ BỀN VỮNG, QUẢN LÝ BỀN
VỮNG
1 Định nghĩa “Bền vững”:
Theo từ điển tiếng Việt thì “Bền vững” tức là vững vàng, đứng vững lâu dài.Điều này có thể hiểu là: một đối tượng được gọi là bền vững khi các yếu tố cấuthành của nó cân bằng với nhau, đảm bảo sự tồn tại của đối tượng đó trong thờigian dài
2 Định nghĩa “Phát triển bền vững” (PTBV)
Khái niệm "Phát triển bền vững" xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong
ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên
và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự pháttriển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôntrọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh tháihọc"
Từ đó đến nay có rất nhiều định nghĩa được đưa ra để giải thích cho kháiniệm “Phát triển bền vững”, như là:
- “Phát triển bền vững là sự cân bằng nhằm điều tiết mối quan hệ mâu thuẫn
giữa nhu cầu con người và khả năng tái sản xuất của thiên nhiên” – HOK
- Hay như định nghĩa của AIA: “Phát triển bền vững là khả năng làm cho xã
hội tiếp tục vận động hướng đến tương lai nhưng không làm gây hại (làmcạn kiệt, làm quá tải,…) những nguồn tài nguyên chính mà xã hội conngười đang phụ thuộc”
Trang 5- Trong đó định nghĩa được sử dụng nhiều nhất là định nghĩa do Ủy ban
Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) đưa ra lần đầu tiên: “Pháttriển bền vững là sự phát triển để đáp ứng được nhu cầu hiện tại mà khôngphương hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của cả thế hệ tương lai”
- Trong phát triển bền vững các hệ thống “kinh tế”-“xã hội”-“môi
trường”có sự liên hệ chặt chẽ với nhau (hình 1.1)
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa các hệ thống kinh tế - xã hội – môi trường trong
PTBV
Theo đó, mối quan hệ giữa từng cặp yếu tố được giải thích cụ thể như là:
- Xã hội-Môi trường: có thể chịu đựng được.
- Xã hội-Kinh tế: hợp lý, công bằng.
- Kinh tế-Môi trường: có thể sống được, có thể nảy mầm được.
Cũng theo WCED con người có thể đạt được mục tiêu PTBV như vậy bằngcách chuyển giao một cách hợp lý các công nghệ, xây dựng năng lực về khoa học
và quản lí, đồng thời với việc sử dụng một cách đúng đắn các nguồn tài nguyên;
Trang 6tất cả các quốc gia khi sử dụng tài nguyên và các nguồn lực để phát triển thì cầnphải tính đến việc duy trì hay đồng thời tạo nên một nguồn tài nguyên để đảmbảo nhu cầu cho các thế hệ tương lai Cũng có nghĩa là: cải thiện cuộc sống củacon người trong phạm vi khả năng chịu đựng được của hệ sinh thái PTBV sẽ tạonên một nền kinh tế bền vững và từ đó mới hình thành được một xã hội bềnvững
Từ những năm cuối cùng của thế kỉ 20, PTBV đã trở thành sự nghiệp chungcủa toàn thế giới, là mục tiêu phấn đấu của tất cả các quốc gia trên thế giới.Chiến lược để phát triển bền vững đối với mỗi quốc gia là khác nhau; mỗi quốcgia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa lý, văn hóa riêng để hoạchđịnh chiến lược phù hợp nhất với quốc gia của mình
Trang 73 Định nghĩa “Quản lý bền vững”
Quản lý bền vững là khả năng để nhắm đến tiến trình của một công ty, cộngđồng, tổ chức, hay quốc gia theo cách thức khôi phục và tăng cường các hìnhthức vốn (con người, thiên nhiên, sản xuất, và tài chính) để tạo ra lợi nhuận chocác bên tham gia, đồng thời đóng góp cho phúc lợi của thế hệ hiện tại và thế hệtương lai
Trang 8CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGUỒN NĂNG LƯỢNG
1 Định nghĩa “Năng lượng” (NL)
Năng lượng theo lý thuyết tương đối của Albert Einstein là một thước đo kháccủa lượng vật chất được xác định theo công thức liên quan đến khối lượng toànphần E = mc²
2 Phân loại các dạng NL
NL trên Trái đất (TĐ) có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau:
- Theo khả năng tái tạo: NL tái tạo và NL không tái tạo
- Theo khả năng gây ô nhiễm: NL sạch và NL gây ô nhiễm
- Theo bản chất NL: NL bức xạ mặt trời (BXMT), NL hóa thạch, NL thủytriều, NL sinh khối,
Tóm lại có thể phân loại các nguồn NL trên TĐ thành một số dạng cơ bảnsau:
- Các dạng NL có thể tái tạo và vĩnh cửu: BXMT, NL gió, dòng chảy và sóngbiển, NL sinh khối,
- Các dạng NL không tái tạo và vĩnh cửu: NL địa nhiệt, NL nguyên tử và hạtnhân,
- Các dạng NL không tái tạo và có giới hạn: NL hóa thạch (dầu mỏ, khí đốt, than,
đá cháy, )
- Năng lượng điện
Hai dạng NL đầu là dạng năng lượng cơ bản và là cội nguồn của tất cả cácdạng NL đang được loài người khai thác và sử dụng
Trang 93 Tình hình tiêu thụ NL trên thế giới và Việt Nam
- Trên thế giới:
Diễn đàn chính sách an ninh năng lượng Châu á – Thái Bình Dương (ASEM lần thứ nhất được tổ chức tại Việt Nam tháng 4 năm 2008 với sự tham gia của 45nước thành viên của ASEM Các đại biểu đã đặt ván đề làm thế nào để đáp ứngnhu cầu năng lượng ngày càng tăng của con người là một trong các vấn đề nóngbỏng trong thời gian tới Hiện nay, trên thế giới sự giới hạn nguồn năng lượng tỷ
lệ nghịch với nhu cầu ngày càng tăng của của khu vực và trên thế giới Vấn đề
an ninh năng lượng của thế giới đang trở nên bức bách hơn bao giờ hết Việc sửdụng năng lượng hiện nay đang tập trung ở nguồn năng lượng hóa thạch Theothống kê, các nguồn năng lượng con người đang tiêu thụ 41,7% dầu mỏ, 24,7%than, 21,% ga, 6,% năng lượng nguyên tử, 6,% thủy điện và năng lượng gió, mặttrời, địa nhiệt, năng lượng sinh học, thủy triều, vv… chỉ chiếm khoảng gần 1% nhu cầu năng lượng của con người
Theo dự báo của Cơ quan năng lượng quốc tế, nếu lượng tiêu thụ năng lượngcủa thế giới tiếp tục giữ mức như hiện nay, nhu cầu năng lượng sẽ tăng hơn 30%vào năm 2030, riêng về nhu cầu của dầu lửa có thể tăng đến 41% Trong bốicảnh hiện nay, đảm bảo an ninh năng lượng phục vụ sự phát triển bền vững,giảm sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng nhập khẩu từ bên ngoài, đặc biệt là dầu
mỏ, trở thanh vấn đề đặc biệt quan tâm ở quốc gia
Sự tăng trưởng về nhu cầu năng lượng tập trung vào các nước đang phát triển
Dự kiến các nước này nhu cầu năng lượng sẽ đạt 50% nhu cầu năng lượng củathế giới vào năm 2030 Các dạng năng lượng truyền thống như than, dầu mỏ, khíđốt.vv… đang ngày càng cạn kiệt Nhiều nước trong khu vực ASEM có nguồndầu khí, trong đó Brunei,Inđônêsia thuộc nhóm các nước xuất khẩu dầu Nhưng
Trang 10nhu cầu năng lượng của khu vực như hiện nay sẽ dẫn đến nguy cơ phải chịu sựphụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng Theo nghiên cứu dự báo của giám đốcTrung tâm năng lượng ASEM, mức độ phụ thuộc này có thể đạt khoảng 49% đến58%.
Theo đánh giá của các chuyên gia năng lượng trên thế giới, trong hai thập kỷtới sẽ chưa có thay đổi lớn về tỉ trọng các dạng năng lượng sử dụng Tiêu thụnăng lượng vẫn tăng mạnh, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Trong đó cácnước Châu Á đang phát triển sẽ chiếm 40% trong tổng số năng lượng tiêu thụtăng trên toàn cầu
Theo đánh giá của tạp chí IEO2004, tiêu thụ năng lượng của thế giới sẽ vẫnchủ yếu là các nhiên liệu hoá thạch trong thời gian từ nay đến 2025 Dầu lửa vẫn
sẽ là nguồn nhiên liệu chính (chiếm 39% tổng năng lượng tiêu thụ trên thế giới),tuy nhiên khí tự nhiên sẽ là nguồn năng lượng sơ cấp có tốc độ tăng trưởngnhanh nhất (khoảng 2,2% một năm) Trong 20 năm tới than vẫn tiếp tục là nguồnnhiên liệu chính cho sản xuất điện, nhưng khí tự nhiên sẽ dần khẳng định vai tròcủa mình trong lĩnh vực này nhờ hiệu suất sử dụng cao hơn và các lợi ích trongviệc bảo vệ môi trường Năng lượng hạt nhân sẽ chiếm khoảng 5% năng lượng
sơ cấp tiêu thụ trên toàn thế giới vào năm 2025, trong khi đó năng lượng tái tạo
sẽ chiếm khoảng 8%
- Việt Nam
Việt Nam là một nước hiên đang xuất khẩu than Năm 2004, tổng công ty thanViệt Nam đã khai thác và tiêu thụ 25 triệu tấn than, trong đó xuất khẩu 10,5 triệutấn Trong khi đó, theo thăm dò mới nhất của Tổng công ty than Việt Nam chobiết, trữ lượng than ở độ sâu 350 m có khoảng 6,5 đến 7 tỷ tấn Than có chất
Trang 11lượng tốt tập trung ở Quảng Ninh Việc xuất khẩu than của Việt nam chưa đảmbảo tính bền vững Theo chiến lựoc phát triển ngành điện, xi măng, phân bón,hóa chất… đến năm 2010 khả năng tiêu thụ than trong nước có thể lên đến 80triệu tấn Đièu đó cảnh báo cho biết, nếu chúng ta không có chiến lược khai thácthan hợp lí thì trong tương lai, chúng ta sẽ là một nước nhập khẩu than hoặc phảiđóng cửa một số nhà máy.
Theo số liệu từ Viện Năng lượng (Bộ Công nghiệp), nếu không có đột biếnlớn về khả năng khai thác từ sau năm 2010 thì nguồn tài nguyên trong nước sẽkhông còn đáp ứng được nhu cầu năng lượng Dự tính năm 2015 lượng thiếu hụtnhiên liệu cho sản xuất điện khoảng 9 tỉ kWh (ở phương án cao), tương tự năm
2020 thiếu hụt nhiên liệu cho sản xuất điện khoảng 35-64 tỉ KWh ở phương án
cơ sở và phương án cao Và vào năm 2030 thiếu hụt nhiên liệu cho sản xuất điệnlên tới 59-192 tỉ KWh
Các nhà hoạch định chính sách còn cho biết, vào các năm sau đó, khả năngthiếu hụt điện năng còn nhiều hơn; các giải pháp nhập khẩu điện, than, khí để sảnxuất có thể không đáp ứng được lượng thiếu hụt
Việc khai thác nguồn năng lượng này làm cho chúng ngày càng bị kạn kiệt vàtác động rất lớn đến môi trường, như ô nhiễm môi trường, rừng bị tàn phá đất bịxói mòn, tăng hiệu ứng nhà kính, băng tan, biến đổi khí hậu vv… Theo nghiêncứu thống kê, lượng khí CO2 thải bình quân trên đầu người ở các nước côngnghiệp như Mỹ là 21tấn/năm(năm1990), Singapore là 10 tấn/năm, Việt Nam là0,8 tấn/năm (năm 2003)
Khai thác nguồn năng lượng như than, dầu tác động xấu đến môi trường vàsức khỏe con người Ở Quảng Ninh hàng năm để khai thác than, đa bóc dỡ các
Trang 12lớp đất đá đá và xuất hiện những bãi thải đá cao gần 200m và đã bị mất khoảng1.000 ha rừng.
Vận chuyển than, đất đá gây bụi, làm ô nhiễm không khí, đặc biệt là dân cưtrong vùng và xuất hiện các bệnh nghề nghiệp do bụi than gây nên
Trong quá trình khai thác đã gây nhiều sự cố, làm tổn thất cho con người.Những người thợ mỏ, hàng ngày luôn luôn đối mặt với rủi ro Hàng trăm đại xatrọng tải từ 40 đến 96 tấn, xe cẩu, máy xúc, máy nổ, bom mìn, điện cao thế …tainạn luôn rình rập, nguy hiểm đến tính mạng
Tại Quảng Ninh, công việc khai thác than trong những năm gần đây luôn luônxảy ra các sự cố, làm nguy hại đến tính mạng của các thợ mỏ Một trong các vụ nghiêm trọng là vụ bục nước hầm lò của xí nghiệp khai thác than 86, Tổng công
ty than Đông Bắc, xảy ra vào ngày 23/1/2007 đã vùi lấp 12 công nhân, trong đólàm 2 người thiệt mạng Tại Quảng Ninh, nạn thổ phỉ khai thác than bừa bãi,những dự án bị biến tướng (Dự án “Tận thu” đã biến việc nuôi trồng thủy sản,thành việc khai thác than làm nguy hại đến môi trường Trong quá trình khai thácthan tại Quảng Ninh đã xâm phạm đến các di tích như Yên tử, làm ô nhiễm các
hồ chứa nước Theo kết quả quan trắc chất lượng nước các hồ thủy lợi ở QuảngNinh đã ở mức báo động Độ pH đo đựợc tại 9 hồ đều ở mức rất thấp, nhất là hồBến Châu 3,75; hồ Cầu Cuốn 3,21; hồ Nội Hoàng 3,02 vv… Trong khi độ pH đểcác sinh vật sinh sống được phải ở mức 5,5 đến 6 Việc lấy nước từ các hồ trên
để nuôi cá đã làm cá chết hàng loại hoặc bị nổ mắt, nếu không chết thì năng suấtgiảm rõ rệt
Trước tình hình nguồn năng lượng truyền thống ngày càng cạn kiệt, nhu cầu
sử dụng ngày càng tăng và các vấn đề về môi trường đang là vấn đề thách thứcđối với toàn cầu Điều đó đã dẫn dến tìm kiếm nguồn năng lượng thay thế Một
Trang 13số nước tìm nguồn năng lượng nguyên tử, một số nước tìm đến nguồn nănglượng có nguồn gốc từ mặt trời, gió, nước, thủy triều, năng lượng địa nhiệt, sinhkhối vv… Những nguồn năng lượng này có khả năng vô tận và khai thác sử dụngkhông gây ô nhiễm môi trường
Trang 14CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ BỀN VỮNG, QUẢN LÝ BỀN VỮNG TRONG
KHAI THÁC VÀ TIÊU THỤ NĂNG LƯỢNG
1 Chiến lược khai thác và tiêu thụ bền vững năng lượng
Theo các nhà khoa học Đức, trữ lượng dầu hỏa và khí đốt trên toàn cầu chỉcòn đủ để sử dụng cho khoảng… 50 năm, than đá khoảng 230 năm và uraniumkhoảng 70 năm Trong bối cảnh đó, năng lượng gió, năng lượng mặt trời… sẽ trởthành các nguồn năng lượng chính của loài người
Các chiến lược được đưa ra để hướng đến vấn đề bền vững, quản lý bền vữngtrong khai thác và tiêu thụ năng lượng như sau:
- Ưu tiên giảm nhu cầu dầu thô và sản phẩm dầu vì dầu thô đã được thanhlọc thành sản phẩm dầu thỏa mãn gần một nửa nhu cầu năng lượng khảdụng, có nhiều áp dụng công nghiệp bắt buộc phải tiêu thụ dầu thô hay sảnphẩm dầu làm nguyên liệu, dầu thô là nguồn năng lượng cơ bản trongtương lai sẽ cạn trước nhất
- Phải chú trọng đồng đều đến phát triển bền vững của ba ngành giao thôngvận tải, công nghiệp và tiện nghi nhà ở vì mỗi ngành đó chia nhau tiêu thụ
¾ tổng lượng năng lượng sử dụng và những ngành khác chỉ tiêu thị ¼ cònlại
Những biện pháp được đề nghị để thực hiện các chiến lược đó là :
- Gia tăng hiệu suất năng lượng để giảm nhu cầu về năng lượng và giảmlượng khí có hiệu ứng nhà kính thải ra khí quản
Trang 15- Chuyển sang một nguồn năng lượng khác hãy còn dồi dào, tái tạo, rẻ hay/
và ô nhiễm ít hơn để dành nguồn năng lượng đang dùng cho những côngnghệ bắt buộc phải dùng đến năng lượng đó
- Chuyển sang những công nghệ khác đạt một hay cả hai hiệu quả trên
2 Các nguồn năng lượng được khuyến khích sử dụng trong tương lai hướng đến việc khai thác và sử dụng bền vững năng lượng
Những năm gần đây, dư luận nói đến nhiều về nguồn năng lượng mới, gọi lànăng lượng thay thế hay năng lượng xanh Ưu điểm của nguồn năng lượng này làsạch, có sẵn trong thiên nhiên, không gây ô nhiễm, không bị cạn kiệt và là giảipháp tốt nhất nhằm tiết kiệm năng lượng hóa thạch cho tương lai
- Pin nhiên liệu
Đây là kỹ thuật có thể cung cấp năng lượng cho con người mà không hề phát
ra khi thải CO2 hoặc những chất thải độc hại khác Một pin nhiên liệu tiêu biểu cóthể sản sinh ra điện năng trực tiếp bởi phản ứng giữa hydro và ôxy Hydro có thểlấy từ nhiều nguồn như khí thiên nhiên, khí mêtan lấy từ chất thải sinh vật và dokhông bị đốt cháy nên chúng không có khí thải độc hại Đi đầu trong lĩnh vựcnày là Nhật Bản Quốc gia này sản xuất được nhiều nguồn pin nhiên liệu khácnhau, dùng cho xe phương tiện giao thông, cho ôtô hoặc cả cho cả các thiết bịdân dụng như điện thoại di động
- Năng lượng mặt trời
Nhật Bản, Mỹ và một số quốc gia Tây Âu là những nơi đi đầu trong việc sửdụng nguồn năng lượng mặt trời rất sớm (từ những năm 50 ở thế kỷ trước) Tínhđến năm 2002, Nhật Bản đã sản xuất được khoảng 520.000 kW điện bằng pinmặt trời, với giá trung bình 800.000 Yên/kW, thấp hơn 10 lần so với cách đây