Đề tài về : Sách giáo khoa và phương pháp làm việc với sách giáo khoa ngữ văn 10
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trần Ngự Đàn
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp dạy học môn Văn
Mã số : 60 14 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN THANH BÌNH
Thành phố Hồ Chí Minh - 2008
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Trước hết, chúng tôi xin trân trọng cám ơn sự chỉ đạo, giúp đỡ của Phòng Khoa học - Công nghệ - Sau Đại học, khoa Ngữ văn trường Đại học
Sư Phạm TP Hồ Chí Minh đã có định hướng cụ thể, thiết thực giúp chúng tôi hình thành ý tưởng của đề tài này
Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của TS.TRẦN THANH BÌNH Em xin chân thành cám ơn!
Triển khai phần khảo sát, chúng tôi nhận được sự quan tâm hợp tác của nhiều giáo viên Ngữ văn các trường THPT trên địa bàn TP Phan Thiết, quý phụ huynh và học sinh lớp 10 trường THPT Phan Bội Châu Chúng tôi cũng nhận được sự ủng hộ của giáo viên các trường THPT Trần Khai Nguyên (TP Hồ Chí Minh), Lâm Thới (Huyện Nhà Bè) và Trần Phú (TP Vũng Tàu) Chúng tôi xin chân thành cám ơn sự nhiệt tình, quan tâm cộng tác của quý thầy cô
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu trường THPT Phan Bội Châu – Phan Thiết đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành khóa học
Cuối cùng, tôi xin tri ân cha mẹ và gia đình đã luôn quan tâm, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng do vấn đề còn mới mẻ, nguồn tài liệu nghiên cứu chưa nhiều, năng lực của người thực hiện đề tài còn có hạn, luận văn chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế Một lần nữa, chúng tôi xin ghi nhận và chân thành cám ơn những ý kiến chỉ đạo, sự trao đổi, đóng góp, giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Phan Thiết, tháng 8 năm 2008 TRẦN NGỰ ĐÀN
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Nghị quyết số 40/2000/QH10, ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội khóa X đã khẳng định:
“Mục tiêu của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổ thông mới nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế
hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam; tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới
Việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học qui định trong Luật Giáo dục; khắc phục những mặt còn hạn chế của chương trình, sách giáo khoa hiện hành; tăng cường tính thực tiễn, kỹ năng thực hành, năng lực tự học; coi trọng kiến thức khoa học xã hội và nhân văn; bổ sung những thành tựu khoa học
và công nghệ hiện đại phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh” [10, tr.683]
Như vậy, khác với những lần cải cách trước đây (năm 1950, 1956, 1980), lần cải cách này chỉ tập trung đổi mới chương trình và sách giáo khoa (SGK) giáo dục phổ thông Trong các sách giáo dục, SGK là bộ phận quan trọng nhất vì là sách dùng trong nhà trường, chứa đựng những kiến thức cơ bản
mà học sinh (HS) phổ thông phải đạt được SGK là tài liệu thể hiện một cách cụ thể nhất nội dung và phương pháp giáo dục của mỗi môn học trong chương trình giáo dục Đó là công trình khoa học sư phạm, thể hiện mục tiêu giáo dục qui định trong Luật Giáo dục SGK là đối tượng, nội dung và cả phương pháp trong suốt quá trình dạy và học ở nhà trường phổ thông Mỗi bộ SGK chứa đựng những kiến thức cơ bản thích hợp với nhận thức của HS, là bộ sách dùng chung cho HS và giáo viên (GV) SGK chính là một trong những phương tiện giáo dục Có vai trò quan trọng như vậy nhưng trên thực tế những vấn đề cơ bản về SGK cũng như vai trò của SGK đối với việc dạy học phát triển hay vấn đề sử dụng SGK tất cả đều chưa được GV và HS quan tâm đúng mức
Theo quan điểm biên soạn mới ngoài việc cung cấp kiến thức, SGK còn là tài liệu nhằm giúp học sinh tự học Tự học là chiến lược học tập của xã hội ngày nay Biết cách làm việc với SGK bộ môn, tận dụng mọi điều kiện mà SGK cung cấp để học tập và rèn luyện chính là thể hiện của tự học
Để có thể tự làm việc với SGK GV và HS phải hiểu được nguyên tắc biên soạn của bộ sách, nội dung
bộ sách, cấu trúc bộ sách, cấu trúc bài học trong bộ sách, ưu điểm và hạn chế của bộ sách… Khảo sát
93 GV dạy Ngữ văn ở các trường Trung học phổ thông (THPT) trên địa bàn thành phố Phan Thiết, một trường ở Vũng Tàu và hai trường tại thành phố Hồ Chí Minh về kỹ năng hướng dẫn HS làm việc với SGK Ngữ văn 10, chúng tôi nhận thấy không phải tất cả GV đều quan tâm xem HS tự làm việc với bộ sách này như thế nào Con số GV không giới thiệu cho HS biết nguyên tắc biên soạn bộ sách Ngữ văn
10 là 46,23%; 41,93% GV không giới thiệu cấu trúc bộ sách Ngữ văn 10 cho HS; 58,06% GV không
Trang 4giới thiệu cho HS nhận biết cấu trúc bài học trong sách Ngữ văn 10 Có hơn một nửa GV được khảo sát (60,02%) không hướng dẫn HS làm việc với SGK Ngữ văn 10
Để đáp ứng chương trình và SGK mới, việc đổi mới phương pháp dạy học là rất quan trọng, đòi hỏi một phong cách làm việc, học tập mới của đội ngũ GV và HS Đổi mới phương pháp dạy học không đồng nghĩa với việc xóa bỏ phương pháp dạy học truyền thống mà tiếp tục tận dụng những ưu điểm của phương pháp truyền thống và làm quen với những phương pháp dạy học mới, kết hợp các phương pháp một cách khoa học Trong hệ thống phương pháp đó có cả ý thức của GV và HS trong việc hiểu và sử dụng SGK Dạy học theo phương pháp tích cực, GV không chỉ hướng dẫn HS chiếm lĩnh kiến thức mà còn hướng dẫn HS biết cách tự làm việc với SGK, chủ động học tập chống lại thói quen học tập thụ động nhằm hình thành cho HS kỹ năng tự học Trên cơ sở những điều đã trình bày,
chúng tôi chọn đề tài “Sách giáo khoa và phương pháp làm việc với sách giáo khoa Ngữ văn 10” để
góp phần vào việc giải quyết những vấn đề nêu trên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu thứ nhất của luận văn là những vấn đề lí luận cơ bản của SGK.Vì thế, chương 1 của luận văn trình bày những vấn đề lí luận như: quan niệm về SGK, mối quan hệ giữa SGK với sách giáo viên (SGV) và sách tham khảo (STK), cấu trúc của SGK, phương pháp trình bày nội dung kiến thức trong SGK, chức năng của SGK Chính mục tiêu giáo dục sẽ quy định việc đổi mới chương trình, chương trình sẽ quy định nội dung SGK Cấu trúc và nội dung của SGK sẽ quy định tiến trình thực hiện chương trình môn học, phương pháp dạy học bộ môn cách thức làm việc với bộ SGK
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Do khuôn khổ của luận văn, đề tài tập trung nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề cơ bản của SGK sau năm 2000 chú trọng đến bộ SGK Ngữ văn 10 Từ những nhận xét về bộ sách Ngữ văn 10, luận văn giúp GV và HS làm việc với bộ sách này một cách có hiệu quả
Trang 54 Lịch sử vấn đề
Ở nước ta, vấn đề nghiên cứu về SGK chưa nhận được sự quan tâm đúng mức từ các tổ chức xã hội, giáo dục khác Các công trình chuyên sâu về SGK không nhiều Sau mỗi lần cải cách thay SGK, những bài viết đăng tải trên các trang báo chỉ là những ý kiến khen, chê Mặc dù, những ý kiến này đã
có những đóng góp nhất định nhưng để xây dựng một hệ thống lí luận hoàn chỉnh về SGK thì cần phải
có những công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa
Có thể nói, mới chỉ có Nhà xuất bản Giáo dục đặt vấn đề nghiên cứu về SGK một cách hệ thống Trong quá trình 45 năm làm sách phục vụ cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai và lần thứ ba, Nhà xuất bản Giáo dục đã xuất bản 15 tập “Các vấn đề Sách giáo khoa”, 3 tập “Thông tin Sách giáo dục” và hơn 10 tập “Các vấn đề Sách giáo dục” Đây là một tủ sách nghiệp vụ có giá trị lớn
Để hình dung cụ thể hơn lịch sử vấn đề, chúng tôi xin phép dừng lại ở công trình “Các vấn đề Sách giáo dục - Tuyển tập”, là công trình tuyển chọn các bài viết có giá trị rút ra từ các Kỉ yếu và các tập sách nghiệp vụ nói trên
“Các vấn đề Sách giáo dục - Tuyển tập” trình bày những vấn đề cơ bản của việc nghiên cứu lí luận về SGK như: quan niệm về SGK, phương thức biên soạn, mô hình cấu trúc của SGK, chức năng của SGK, ngôn ngữ trong SGK, mĩ thuật trong SGK, phương pháp luận đánh giá SGK, quan niệm và chức năng của SGV, nội dung SGV, quan niệm về STK và đánh giá STK, chất lượng STK, …
Nguyễn Khắc Phi, Vũ Dương Thụy, Dương Trọng Bái có chung quan điểm về SGK Các tác giả này cho rằng: SGK là sách viết cho HS và GV dùng theo những nội dung chuyên môn đã quy định trong chương trình và theo những chỉ đạo thống nhất trong Luật giáo dục Trong bài viết “Những tiêu chí của ngôn ngữ bản văn sách giáo khoa”, Nguyễn Ngọc Nhị nêu thêm một cách hiểu về SGK: “SGK
có thể bao gồm cả sách viết cho học sinh và một cuốn sách kèm theo sách đó như sách hướng dẫn giáo viên, sách bài tập” [70, tr.40] Theo đó, tác giả cho rằng các STK cũng như sách công cụ có liên quan đến GV và HS tạo thành tổ hợp giáo khoa Như vậy, Nguyễn Ngọc Nhị quan niệm về SGK theo nghĩa rộng Nói đến SGK không phải là nói đến một cuốn sách độc lập mà là một tổ hợp giáo khoa
Giáo sư Phan Trọng Luận dẫn ra một quan niệm mới về SGK khác với những quan niệm trước đây.Trong bối cảnh sự tiến bộ không ngừng của công nghệ thông tin, một CD-ROM có khả năng ghi hàng tỉ bít tương đương với 500 cuốn sách thì khái niệm quen thuộc về SGK không thể giữ nguyên như
cũ Với CD-ROM, SGK không thể chỉ là những kênh chữ, kênh hình hay các kiểu bài tập ghi chép Như vậy, công tác biên soạn SGK trong tương lai cần quan tâm một cách thực sự đến yêu cầu hiện đại hóa
Phương thức biên soạn SGK là một trong những vấn đề mà tài liệu “Các vấn đề Sách giáo dục - Tuyển tập” đề cập đến Biên soạn SGK theo công thức “CTWA” (Comprehensive textbook writing approach) đang được chú ý Ưu điểm của việc tổ chức biên soạn theo công thức “CTWA” phần nào khắc phục được hạn chế của phương thức biên soạn “cuốn chiếu” Phương thức này giảm bớt được sự
Trang 6không đồng bộ trong nội dung kiến thức, sự không liên tục về trình độ và phần nào sự quá tải Khi ứng dụng công thức “CTWA” ta cũng rút ngắn được thời gian biên soạn Cùng thời gian 12 tháng, có thể hơn 12 tháng, biên soạn theo công thức này hoàn thành được 5 bản thảo ở mức hoàn chỉnh, nếu theo phương thức “cuốn chiếu” chỉ hoàn thành một bản thảo Dù biên soạn theo phương thức nào cũng cần coi trọng tính đặc thù của bộ môn, cố gắng bám sát mô hình chung của SGK mới để có sự thống nhất tương đối giữa SGK các môn học
Tập tài liệu “Các vấn đề Sách giáo dục - Tuyển tập” cung cấp khá đầy đủ các bài nghiên cứu về
mô hình cấu trúc SGK Trong bài “Mô hình cấu trúc sách giáo khoa sau năm 2000”, Trần Kiều - Lê Xuân Trọng đã nêu lên những điểm chung về cấu trúc SGK các môn học trong nhà trường phổ thông Cấu trúc chung của SGK đều gồm ba phần: phần đầu SGK, phần giữa SGK và phần cuối SGK Trong
đó, phần giữa SGK là phần chính của sách, bao gồm các phần, các chương, các bài học Khi nghiên cứu cấu trúc một chương SGK, các tác giả lưu ý cuối mỗi chương nên có những thành phần gì để HS
có thể tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả học tập của mình Nội dung các câu hỏi, bài tập trong cấu trúc bài học nên hướng vào kỹ năng vận dụng kiến thức nhằm phát triển trí tuệ cho HS Mức độ bài tập thể hiện sự phân hóa nhằm đáp ứng được những năng lực khác nhau của HS
Ngoài những vấn đề chung về mô hình cấu trúc SGK, các nhà nghiên cứu chú ý bước đầu đến
mô hình cấu trúc SGK bộ môn Về cơ bản, SGK mỗi bộ môn có sự thống nhất tương đối với mô hình chung của SGK nhưng tùy theo đặc trưng bộ môn mà cấu trúc SGK mỗi bộ môn có những điểm khác biệt Theo Đỗ Ngọc Thống, mô hình và cấu trúc nội dung SGK môn Ngữ văn phải thể hiện được những quan điểm cơ bản về xây dựng và biên soạn SGK Ngữ văn Mô hình đó được xây dựng theo tinh thần tích hợp, không chỉ chú trọng nội dung mà còn phục vụ tích cực cho việc đổi mới phương pháp dạy học Về mô hình SGK môn Sinh học, tác giả Nguyễn Quang Vinh xác định mô hình đó vừa cung cấp thông tin vừa hướng dẫn HS xử lí thông tin HS được làm việc với các thông tin mới bằng cách trả lời câu hỏi, trình bày một vấn đề, tiến hành làm thí nghiệm… Nguyễn Minh Phương, Phạm Thu Phương đề xuất những kiến nghị xây dựng mô hình SGK thí điểm môn Địa lí Cấu trúc bài học được trình bày sao cho HS có thời gian tiếp thu lượng kiến thức của bài học, HS thực sự thực sự được làm việc, phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập và có thể tự kiểm tra lại kết quả làm việc
Có thể nói, nghiên cứu mô hình cấu trúc SGK sẽ giúp chúng ta có những kinh nghiệm bổ ích, đóng góp trực tiếp cho việc biên soạn SGK mới ngày càng khoa học và hiện đại hơn
Tài liệu “Các vấn đề Sách giáo dục - Tuyển tập” cũng tuyển chọn các bài viết của nước ngoài nghiên cứu về các chức năng của SGK.Theo Francois Marie Gerard và Xavier Roegiers, SGK phổ thông có thể có nhiều chức năng khác nhau tùy theo người sử dụng, tùy theo môn môn học và tùy hoàn cảnh biên soạn sách Khi HS sử dụng, một cuốn SGK sẽ có nhiều chức năng hướng vào việc học tập và các chức năng hướng vào việc thiết lập liên hệ giữa học tập với đời sống Các SGK phổ thông còn có
Trang 7chức năng đào tạo đối với GV SGK là công cụ cho phép GV thực hiện được vai trò nghề nghiệp của mình trong quá trình dạy học
Tài liệu cũng tuyển chọn một số bài nghiên cứu về ngôn ngữ SGK Các bài nghiên cứu đều có chung một điểm: ngôn ngữ giáo khoa gồm hai kênh thông tin (kênh chữ và kênh hình) nhằm truyền tải kiến thức, kỹ năng đến với HS theo đúng yêu cầu của chương trình môn học Tuy nhiên, mỗi bài viết này có một diện mạo riêng, góp phần nâng cao chất lượng ngôn ngữ bản văn SGK Nguyễn Trí chỉ ra những thay đổi trong cách viết phần bài học, cách diễn đạt tiêu đề bài học và tiêu đề các phần trong bài học; Nguyễn Quốc Siêu phân tích ý nghĩa các yếu tố ngôn ngữ trong bản văn SGK; Nguyễn Văn Tùng bàn về chức năng của ngôn ngữ SGK; Nguyễn Ngọc Nhị chỉ ra các yếu tố tạo nên chất lượng ngôn ngữ bản văn và những tiêu chí đánh giá chất lượng ngôn ngữ bản văn
Ngoài những vấn đề chung về ngôn ngữ SGK, các nhà nghiên cứu còn quan tâm đến những yêu cầu riêng đối với ngôn ngữ SGK bộ môn Mỗi môn học mang những đặc trưng riêng do đó ngôn ngữ SGK bộ môn cũng có những yêu cầu riêng Theo Nguyễn Quốc Luân ngôn ngữ SGK Văn học phổ thông phải đạt 4 yêu cầu cơ bản: chính xác, đủ hiểu, phát triển, kết hợp hài hòa tính khoa học và tính nghệ thuật Trần Phương Dung chỉ ra những chỗ dùng kí hiệu toán học, kí hiệu logic, câu trong SGK Toán chưa rõ, gây ra sự hiểu lầm làm mất đi sự chính xác của một đề toán Từ đó, tác giả đưa ra những yêu cầu riêng đặc thù đối với ngôn ngữ bản văn SGK Toán Đặc biệt là sự phân biệt giữa các từ trong ngôn ngữ thông thường được dùng trong toán Dựa vào lí luận SGK, Nguyễn Thị Hồng Việt nêu một
số suy nghĩ về việc dùng từ và câu trong SGK Vật lí để đi đến kết luận: ngôn ngữ bản văn SGK Vật lí cũng có tính đặc thù riêng của bộ môn
Phương pháp luận đánh giá SGK là một trong những yếu tố xây dựng hệ thống lí luận SGK Đào Trọng Quang, Vũ Dương Thụy, Nguyễn Quốc Túy tìm hiểu tiến trình, các tiêu chí và phương pháp cụ thể đánh giá SGK Đánh giá SGK phải gắn liền với quan niệm SGK thể hiện chương trình bộ môn Mỗi môn học có những sắc thái riêng, vì thế bên cạnh tiêu chí chung, nên có hệ thống những tiêu chí riêng cho từng bộ môn, từng lớp hoặc từng cấp học
Trở lên trên là những vấn đề lí luận SGK mà tập tài liệu “Các vấn đề Sách giáo dục - Tuyển
tập” đã đề cập đến Có thể xem Tuyển tập này là một tài liệu tham khảo quan trọng khi tìm hiểu về
SGK
“Sách giáo khoa một số vấn đề lí luận và thực tiễn” là nhan đề của phần bốn trong tài liệu
“Nguyễn Khắc Phi tuyển tập” do Vũ Thanh tuyển chọn Phần này giới thiệu một số bài viết của Giáo
sư Nguyễn Khắc Phi trao đổi về chương trình và SGK Ngữ văn bậc Trung học cơ sở (THCS) Trong các bài viết, Giáo sư Nguyễn Khắc Phi nhấn mạnh một số điểm về phương pháp khi tiếp cận SGK mới làm sao phát huy được ưu thế của phương châm tích hợp
Các bài viết “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa”, “Cơ sở lựa chọn học vấn phổ thông để xây dựng chương trình môn học”, “Về chương trình và sách giáo khoa phổ
Trang 8thông”, “đổi mới cách viết sách giáo khoa bậc Trung học”, “Những điều kiện ràng buộc đối với công cuộc đổi mới chương trình và sách giáo khoa Trung học” của Trần Bá Hoành đi sâu vào nghiên cứu những mục đích yêu cầu và những định hướng chính cho việc thiết kế chương trình và viết SGK Qua các bài viết này, tác giả mong muốn chúng ta sẽ có một bộ máy chuyên và một cơ chế đáp ứng nhanh hơn nữa để không ngừng phát triển chương trình phổ thông theo yêu cầu phát triển của đất nước
Riêng đối với SGK Ngữ văn lớp 10, chúng ta có các tài liệu “Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn 10” của Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Trọng Hoàn, Lê Hồng Mai, Nguyễn Thị Nhuận, Lê Thị Thanh Tâm; “Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn Trung học phổ thông” của Đỗ Ngọc Thống; “Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10 Trung học phổ thông môn Ngữ văn” của Bộ Giáo dục và Đào tạo Các tài liệu này trình bày các nguyên tắc đổi mới chương trình giáo dục môn Ngữ văn, nội dung chương trình môn Ngữ văn lớp 10, những định hướng đổi mới phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn lớp 10 và đánh giá kết quả học tập
Về vấn đề “phương pháp làm việc với SGK”, ở nước ta hiện nay chưa có tư liệu chuyên sâu nào Vấn đề này chỉ mới được nhắc đến trong tài liệu “Phương pháp dạy học văn” tập 2 của Phan Trọng Luận, Trương Dĩnh Các tác giả viết:
“Làm việc với giáo khoa” rèn cho HS năng lực nghiên cứu, năng lực tự học theo giáo khoa Hoạt động này tận dụng sách giáo khoa, khắc phục tình trạng “thiếu kiến thức nhưng thừa giáo khoa” như đã nói ở trên “Làm việc với giáo khoa” đòi hỏi HS phải chuẩn bị bài học văn học sử theo nếp: đọc giáo khoa, lập dàn ý kiến thức bài học, nêu thắc mắc
“Làm việc với giáo khoa” có thể vận dụng qua cá biện pháp sau: HS dàn ý hóa giáo khoa, HS đọc giáo khoa, HS phát hiện luận điểm và các dẫn chứng minh họa cho luận điểm, HS thắc mắc về nội dung cấu trúc giáo khoa, HS học bài theo giáo khoa…, HS đối chiếu nội dung và cách trình bày kiến thức giữa các bộ sách khác nhau… Các biện pháp này có thể thực hiện theo sự gợi ý của GV, có thể do
GV thuyết giảng độc thoại hoặc có thể cho HS làm bài tập ở nhà” [54, tr.46]
Tóm lại, các vấn đề lí luận SGK tuy đã được đặt ra và đã có nhiều bài viết đề cập đến nhưng để xây dựng được một hệ thống lí luận hoàn chỉnh về SGK thì vẫn cần được tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa Những bài viết, công trình nghiên cứu, các cuộc thảo luận về SGK là cơ sở khoa học để SGK trở thành một đối tượng nghiên cứu khoa học, một công trình khoa học Đây chính là nền tảng để xây dựng một hệ thống lí luận hoàn chỉnh về SGK
5 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của luận văn là quan điểm đổi mới giáo dục của Đảng, nghị quyết của Quốc hội, chỉ thị của Chính phủ, các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới phương pháp dạy học, các nguyên tắc biên soạn chương trình, SGK các bộ môn nói chung và môn Ngữ văn nói riêng
Trang 9Luận văn sử dụng phương pháp thu thập tài liệu, phương pháp nghiên cứu sản phẩm, phương pháp so sánh Ngoài ra, để vấn đề nghiên cứu có cơ sở chứng thực, luận văn dùng phương pháp khảo sát, trắc nghiệm, xử lý kết quả khảo sát
6 Ýnghĩa khoa học của đề tài
Luận văn cố gắng hệ thống hóa các luận điểm về SGK nhằm giúp GV và HS hiểu được những vấn đề cơ bản về SGK Đó chính là cơ sở lí luận để GV và HS phát huy vai trò của SGK, sử dụng SGK trong thực tế dạy học một cách có hiệu quả
Từ việc phân tích cấu trúc, nội dung và hình thức của SGK Ngữ văn 10, những cảm nhận của bản thân đối với bộ sách Ngữ văn 10 nói riêng và những bộ SGV, STK Ngữ văn khác, luận văn giúp
GV và HS chủ động đưa ra hướng giải quyết trong quá trình soạn giảng cũng như soạn bài, học bài theo SGK
Trang 10Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN CỦA SÁCH GIÁO KHOA
1.1 Quan niệm về sách giáo khoa
Đại từ điển Tiếng Việt định nghĩa “Sách giáo khoa là sách soạn theo chương trình để dạy và học
trong nhà trường” [114, tr.1354]
Định nghĩa trên được hiểu theo nghĩa hẹp và quen thuộc, SGK là sách viết cho HS theo những nội dung chuyên môn đã được quy định trong chương trình và theo những quan điểm chỉ đạo thống nhất về phương pháp dạy học Theo định nghĩa này, một số nhà nghiên cứu cho rằng các loại sách phục
vụ cho HS mẫu giáo, sách dạy học vần chưa được coi là SGK
Luật Giáo dục, chương 2 mục 2 điều 29 quy định: “Sách giáo khoa cụ thể hoá yêu cầu về nội
dung kiến thức và kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục của các môn học ở những lớp của giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu về phương pháp giảng dạy phổ thông Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình phổ thông, duyệt sách giáo khoa để sử dụng chính thức, ổn định, thống nhất trong giảng dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông, trên cơ sở thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa” [9, tr.16]
Điều lệ trường Trung học, điều 23 ghi “Sách giáo khoa Trung học bao gồm sách bài học và sách
bài tập theo danh mục được Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định để sử dụng chính thức, ổn định, thống nhất trong giảng dạy, học tập ở trường Trung học” [10, tr 144]
Hiểu theo nghĩa rộng SGK có thể bao gồm cả sách viết cho HS và một số sách kèm theo như SGV, sách bài tập (SBT) Đây là một đặc điểm của giáo dục hiện đại, quan tâm nhiều đến kỹ năng thực hành Trước đây, hệ thống SGK không bao gồm SBT, phần bài tập được in luôn trong SGK dành cho
HS nay hầu như tất cả các bộ môn đều có SBT bên cạnh SGK
Tập hợp các cuốn SGK, các STK và sách công cụ có liên quan đến việc dạy học của GV và HS
tạo thành một tổ hợp giáo khoa Tổ hợp giáo khoa đó phải là một chỉnh thể gắn bó mật thiết với nhau,
trong đó SGK phải là tài liệu thể hiện cụ thể nhất nội dung, phương pháp giáo dục và các loại sách
trong tổ hợp nói trên phải phụ thuộc vào SGK Cho nên nói đến SGK là nói đến một tổ hợp giáo khoa
và lí luận về SGK cũng là lí luận một tổ hợp sách
Cho đến nay SGK vẫn là tài liệu chủ yếu để dạy và học ở các lớp học phổ thông Do đó, các yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông về cơ bản đã được thể hiện trong nội dung và phương pháp biên soạn SGK Trong quá trình biên soạn chương trình và SGK mới, chúng ta đã chú ý đến quan điểm đổi mới phương pháp dạy học “lấy học sinh làm trung tâm” các nội dung, hình thức trình bày của SGK mới về
cơ bản đã tạo điều kiện thuận lợi cho HS tiếp tục nâng cao năng lực tự học và giúp GV đổi mới phương
Trang 11pháp dạy học theo hướng tổ chức, hướng dẫn HS chủ động, sáng tạo trong quá trình tìm hiểu, tiếp nhận tri thức
1.2 Quan hệ giữa sách giáo khoa với sách giáo viên và sách tham khảo
Tuỳ theo người sử dụng, môn học và từng hoàn cảnh biên soạn mà một cuốn SGK phổ thông có thể có nhiều mối quan hệ khác nhau Một nguyên tắc khi xây dựng chương trình và SGK phổ thông là làm sao đảm bảo được sự cân đối hài hòa giữa nhiều mối quan hệ: đặc trưng của môn học với nhiệm
vụ chính trị và cuộc sống từng giai đoạn lịch sử, nội dung chương trình với đặc điểm tâm lý lứa tuổi
HS, tri thức môn học gắn liền với hệ thống kỹ năng cần hình thành; mối quan hệ giữa SGK môn học này với SGK môn học khác trong chương trình; mối quan hệ giữa SGK bậc THPT với SGK bậc THCS cũng như SGK Tiểu học trong một hệ thống hoàn chỉnh; đặc biệt là mối quan hệ giữa SGK với SGV, SGK với STK trong một bộ môn
Có hai quan niệm về SGV: SGV đóng và SGV mở
SGV đóng là tài liệu giúp GV sử dụng SGK về mặt sư phạm Sách sẽ bao gồm những lời khuyên cải tiến việc sử dụng, khai thác SGK SGV cung cấp những chỉ dẫn về cách tiến hành bài học gắn liền với SGK
SGV mở như là một công cụ tham khảo nhằm nuôi dưỡng sự suy nghĩ của GV Sách bổ sung những thông tin khoa học và sư phạm, nêu các đề nghị liên quan đến quá trình học tập nhưng không trói buộc GV trong những chỉ dẫn và một trình tự gò bó
Như vậy, SGV đóng được biên soạn dựa trên cơ sở SGK và không còn ý nghĩa nếu tách rời SGK SGV mở có thể sử dụng độc lập với SGK, dù vẫn dựa trên SGK
Trong quá trình triển khai cải cách giáo dục, bên cạnh hệ thống SGK biên soạn theo chương trình mới còn song hành hệ thống SGV Tác giả SGK cũng là tác giả SGV tương ứng, công thức này đảm bảo tốt hơn chất lượng của SGV SGV là một loại sách nghiệp vụ, trong đó có sự kết hợp giữa khoa học giáo dục và khoa học cơ bản, nhằm phục vụ việc dạy học về mặt nội dung và phương pháp Một cuốn SGV có thể được biên soạn trước, trong khi hoặc sau khi biên soạn SGK cho HS
Trước hết, một cuốn SGV có thể được coi như một cuốn hướng dẫn sư phạm, tức là một tài liệu giúp đỡ việc sử dụng SGK sao cho phù hợp với khoa sư phạm SGV có nhiệm vụ giúp GV hiểu được ý
đồ biên soạn SGK nói chung cũng như nội dung và phương pháp giảng dạy từng bài cụ thể trong SGK Tuy không có tính bắt buộc, nhưng SGV vẫn là tài liệu quan trọng trong quá trình soạn bài và dạy học theo SGK
Các định hướng kiến thức cơ bản, phương pháp cơ bản và cả kĩ thuật giảng dạy đều được trình bày sao cho SGV có thể như là một “khuôn mẫu” để GV hướng dẫn HS học tập Nó sẽ gồm những lời khuyên, những chú ý nhằm cải tiến việc dùng SGK và khai thác mọi khả năng của sách Có thể coi đây
là nguồn văn bản thông tin chủ đạo, chủ yếu của việc soạn bài, giảng bài của GV Tuy nhiên, nó không đồng nhất với bài soạn, các định hướng của SGV không thể loại bỏ đặc trưng của lao động giảng dạy,
Trang 12tính chất linh hoạt đa dạng của các bài soạn, bài giảng, diễn tiến giờ học, khả năng tiếp nhận của HS,… SGV chỉ là một cơ sở để GV phát huy tiềm lực vốn có và đang phát triển của lao động sư phạm chứ không thể là một tư liệu sử dụng nguyên mẫu
SGV thường dành những trang đầu để trao đổi với GV những vấn đề phương pháp giúp cho HS nắm được tri thức ghi trong chương trình và thể hiện trong SGK Nội dung chính của SGV là cung cấp những thông tin về cách hiểu bài, cách khai thác, trả lời các câu hỏi và lưu ý những điểm HS cần lưu ý sau mỗi bài học, gợi ý những tư liệu tham khảo thiết yếu,… Những nội dung này chưa được trình bày trong SGK Cùng với SGK, SGV góp phần thực hiện mục tiêu chung của chương trình
STK là sách chuyên dùng để tra cứu, đọc thêm nhằm hiểu rõ hơn vấn đề cần phải dạy học
Muốn hiểu được mối quan hệ giữa SGK với STK không thể không nhắc lại chức năng của SGK SGK có nhiều chức năng Ở đây chỉ đề cập đến những chức năng có quan hệ đến HS: chức năng truyền đạt kiến thức, phát triển các khả năng và kỹ năng, củng cố và đánh giá những hiểu biết, giáo dục về mặt xã hội và văn hóa Tính chất đa chức năng ấy đảm bảo cho SGK đóng vai trò chủ yếu trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của môn học
Trong khi đó, STK chỉ có một chức năng duy nhất đó là chức năng tham khảo Đối chiếu với
những chức năng của SGK, STK chỉ thiên về phát triển các khả năng và kỹ năng, hoặc chức năng củng
cố những hiểu biết Với tính chất đơn chức năng ấy, STK có vai trò bổ trợ cho SGK trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo của môn học (trừ trường hợp những cuốn STK được biên soạn với mục đích thuần tuý thương mại, phi giáo dục)
Thông tư Liên tịch số 35/1999/TTLT-BGD&DT ghi “Sách tham khảo bổ trợ sách giáo khoa dùng cho hoc sinh các bậc học phổ thông là tài liệu học tập dựa theo chương trình sách giáo khoa do
Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý đảm bảo chất lượng khoa học, nâng cao tính sư phạm nhằm thực hiện chương trình theo danh mục bậc học đã được quy định” [9, tr 821]
Theo quan niệm thông thường, SGK được coi là sách học chính thức, bắt buộc còn STK là sách đọc thêm, không bắt buộc Trong quan hệ với SGK, xét chung, STK vừa phụ thuộc SGK vừa có phần độc lập với SGK, tuy cả hai đều cùng nhằm thực hiện mục tiêu môn học Những cuốn STK như các loại Từ điển, sách tra cứu, Văn tuyển v.v… hoàn toàn độc lập với SGK
STK các bộ môn vừa phải đảm bảo tính chính xác, chặt chẽ của các đơn vị kiến thức vừa bổ sung nhiều nội dung kiến thức mà SGK không chứa đựng hết Kiến thức trong STK thường được tổng kết theo vấn đề hay chuyên mục STK cung cấp thêm những thông tin mới, những tư liệu cập nhập giúp GV và HS hiện đại hóa kiến thức trong SGK
Trong xã hội học tập, bao giờ cũng có một nhu cầu lớn về STK Có thể nói, STK liên quan đến
một phương châm quan trọng của giáo dục: biến quá trình học thành quá trình tự học Nhiều STK các
môn khoa học xã hội gợi ý cho GV và HS những hướng tiếp cận tác phẩm, bài học, giai đoạn lịch sử v.v…; những phân tích mới lạ nhằm làm sáng tỏ thêm, hoàn thiện thêm những kiến thức trong SGK
Trang 13Ví dụ: những bộ STK môn Tiếng Việt và Làm văn, kiến thức cung cấp trong các bộ sách này, nhìn chung, đã bám sát các kiến thức chuẩn trong SGK, được trình bày rõ ràng, dễ hiểu, có tính sư phạm cao Các bộ sách này đều có những kiến thức mở rộng, đi sâu vào những vấn đề được trình bày trong các bài học, tiết học Với những gợi ý, những hướng giải bài tập, HS đủ điều kiện thu nhận kiến thức tự mình hoàn thành bài học một cách căn bản, thậm chí có tính sáng tạo Trong các sách “hướng dẫn Làm văn”, các tác giả đã chú ý về kỹ năng làm bài của HS Trong chừng mực nhất định, sách cũng tạo cho các em những cảm thụ tinh tế khi tiếp xúc với từng loại bài tập Làm văn Ở các sách “hướng dẫn giải bài tập Tiếng Việt”, các tác giả đã hệ thống kiến thức tiếng Việt được học trong SGK các bậc học Những kiến thức đó được trình bày cụ thể, cô đọng, diễn giải rõ ràng, có tính sư phạm cao GV có thể tham khảo vận dụng vào các giờ dạy trên lớp để bài giảng phong phú hơn
STK các môn khoa học tự nhiên căn cứ vào chương trình và SGK mà chia thành các chủ đề nhỏ hoặc các chương giống như SGK sao cho HS có thể tham khảo song song với SGK STK các môn khoa học tự nhiên trình bày các phương pháp giải các bài tập cơ bản của môn học theo yêu cầu của chương trình; thông qua đó, HS nắm được kiến thức cơ bản của SGK Mở rộng một số vấn đề trong SGK, phân tích theo chiều sâu những vấn đề lí thuyết hay bài tập đã được SGK đề cập nhưng chưa có điều kiện đi sâu, kể cả các dạng bài tập đòi hỏi sự tổng hợp nhiều đơn vị kiến thức với mục đích cung cấp cho HS phương pháp tư duy logic và vận dung kiến thức đã học để giải các bài tập GV có thể tham khảo sách để dạy các giờ bài tập trên lớp, tổng kết, hướng dẫn HS ôn tập sau mỗi chương, mỗi học kì và cả năm học, bước đầu bồi dưỡng HS khá giỏi
Ở phổ thông, vai trò người GV rất quan trọng Chính GV là người dẫn dắt lớp học để HS nắm được những yêu cầu chính của bài học Nhưng một GV giỏi không chỉ làm tốt việc truyền thụ kiến thức mà còn phải gợi mở cho HS suy nghĩ những gì mà SGK chưa đề cập đến, những kiến thức chưa được cập nhập hay những cách hiểu khác nhau, cách giải khác hoặc những vấn đề mới vượt quá yêu cầu của bậc học STK là nguồn tư liệu nuôi dưỡng niềm đam mê nghiên cứu, học tập ấy
Tóm lại, SGK, SGV và STK có mối quan hệ liên thông với nhau, hỗ trợ cho nhau Mỗi loại sách
có những đặc trưng riêng đồng thời giữa chúng có những điểm chung, phối kết với nhau Trong đó, SGK đóng vai trò trung tâm, SGK không đơn giản là tài liệu thông báo các kiến thức có sẵn mà là tài liệu giúp HS tự học, tự phát hiện giải quyết các vấn đề để chiếm lĩnh và vận dụng kiến thức mới một
cách linh hoạt SGV và STK phụ thuộc, xoay quanh SGK để tạo nên một tổ hợp giáo khoa đảm bảo mục tiêu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông Trong quá trình giảng dạy, mỗi người GV lấy SGK
làm tài liệu giảng dạy chính thức nhưng không nên phụ thuộc hoàn toàn vào SGK, độc tôn SGK mà cần nghiên cứu SGV, không ngừng học tập qua STK phối hợp một cách linh hoạt các tri thức giữa các tài liệu tạo nên sự thống nhất tương đối để nâng cao chất lượng giảng dạy SGK chỉ thực sự có ý nghĩa khi được xác định trong mối tương quan với việc học tập của HS, với việc dạy của GV, với SGV và STK, với các công cụ dạy học khác
Trang 141.3 Mô hình cấu trúc sách giáo khoa
1.3.1 Cấu trúc chung của sách giáo khoa
Theo tinh thần Nghị quyết 40/2000/QH10 và chỉ thị 14/2001/CT-TTg về đổi mới chương trình
giáo dục phổ thông, với tư cách là văn bản được “sử dụng chính thức, thống nhất, ổn định trong giảng
dạy, học tập ở các cơ sở giáo dục phổ thông”, tư tưởng xuyên suốt của mô hình SGK mới là SGK phải
vừa cung cấp thông tin vừa hướng dẫn HS hình thành và phát triển phương pháp, kỹ năng học tập, nghiên cứu và vận dụng kiến thức vào việc giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trình học tập cũng như trong thực tiễn đời sống; đồng thời SGK phải phù hợp với khả năng nhận thức, với đặc điểm tâm - sinh lí lứa tuổi HS ở từng cấp, lớp học
SGK của các môn học khác nhau hoặc đối với cùng môn học cho những lớp học khác nhau có thể có vài điểm khác nhau trong cấu trúc Tuy nhiên, về mặt lí thuyết mô hình cấu trúc SGK thường gồm 3 phần:
a) Phần đầu SGK
Phần đầu SGK mỗi môn học thường có những thành phần sau:
- Trang bìa chính, bìa lót ghi tên Bộ Giáo dục và Đào tạo, tên các tác giả, tên sách, tên lớp, tên Nhà xuất bản và năm xuất bản
- Trang mở đầu giới thiệu về quan điểm biên soạn bộ môn, mục đích, nội dung, hướng dẫn sử dụng sách, giới thiệu phương pháp học tập chủ yếu HS cần vận dụng, tóm tắt về chương trình môn học của lớp…
Nhìn chung trang mở đầu SGK chưa được chú ý nhiều, phần hướng dẫn sử dụng sách, giới thiệu phương pháp học tập hầu như bị bỏ qua, nếu có đề cập thì cũng rất sơ lược và thường chỉ được ghi một cách rất chung ở SGK đầu cấp học, trong khi đó môn học ở từng lớp học cũng có những đặc điểm riêng Bên cạnh việc giới thiệu quan điểm biên soạn SGK, nên chăng ở SGK mỗi lớp học chúng ta quan tâm hơn đến việc hướng dẫn HS sử dụng sách, hướng dẫn phương pháp học tập bộ môn phù hợp với quan điểm biên soạn và nội dung sách
- Tuỳ theo môn học, phần đầu của sách có thêm chú thích về những kí hiệu thống nhất dùng trong SGK
- Bài mở đầu cho mỗi môn học mới bắt đầu ở cấp học (giới thiệu đối tượng nghiên cứu của môn học; vai trò, ý nghĩa của môn học đối với thực tiễn, phương pháp học bộ môn…)
b) Phần giữa SGK
Phần giữa SGK là phần chính của sách, bao gồm các phần, các chương, các bài học Đó là những đơn vị kiến thức của môn học trình bày dưới dạng lời văn, hình ảnh (ảnh chụp, tranh vẻ, sơ đồ, lược đồ, bản đồ…) và những chỉ dẫn về cách tiến hành các hoạt động học tập để lĩnh hội các đơn vị kiến thức
c) Phần cuối SGK
Trang 15Tuỳ theo tính chất của môn học mà nội dung phần cuối khác nhau, phần cuối SGK thường những phần sau:
- Phần tra cứu: dùng để tra cứu ngữ nghĩa của môn học theo lớp và mục lục thuật ngữ, từ mới, bảng tên riêng, những sự kiện Chúng được sắp xếp theo thứ tự ABC và ghi thứ tự của trang trong SGK
Tra cứu ngữ nghĩa và mục lục có thể được viết riêng hoặc ghép với nhau thành một, có tên là phần tra cứu
- Phần phụ lục: tuỳ theo các môn học mà phần phụ lục có thể có những phần sau : các biểu bảng
kí hiệu, công thức, đơn vị đo lường, bảng tổng kết ngữ pháp, từ ngữ, danh mục tiểu sử tác giả, tác phẩm
- Phần trả lời bài tập: trả lời gắn gọn hoặc thông báo đáp án những bài tập trong SGK
- Xuất xứ các tranh ảnh (chú thích ngắn gọn về nguồn gốc các tranh ảnh đã dùng; trích từ tài liệu nào, của ai…)
- Tài liệu tham khảo: liệt kê các tài liệu đã dùng trong quá trình biên soạn SGK
- Mục lục của SGK: tên bài học được sắp xếp theo phân phối chương trình
1.3.2 Cấu trúc một chương trong sách giáo khoa
Tuỳ theo đặc trưng bộ môn mà SGK có thể được cấu trúc theo phần hay chương (có khi còn
được hiểu là cụm bài) Nhìn chung, một chương của SGK có cấu trúc như sau:
- Trang mở đầu của mỗi chương gồm số thứ tự của chương, tên chương Mở đầu mỗi chương nhằm nêu vấn đề, định hướng vấn đề sẽ nghiên cứu, kết quả cần đạt
- Các bài học trong chương cụ thể hóa kiến thức của chương được bố trí dạy theo phân phối chương trình
- Cuối mỗi chương thường có những phần sau:
+ Tóm tắt những kiến thức cơ bản của chương Đây là nội dung kiến thức HS phải nắm vững sau khi học xong một chương
+ Bài thực hành, thí nghiệm của chương: gồm có nội dung, yêu cầu và hướng dẫn thí nghiệm, thực hành Tuỳ theo môn học có thể có bài thực hành có tính tổng hợp kiến thức, kỹ năng của một chương Bài thực hành thí nghiệm có thể trình bày bằng kênh chữ hoặc kênh hình Câu hỏi và bài tập tổng hợp của chương gồm các bài tập tự luận, bài tập trắc nghiệm để HS có thể tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của cá nhân
Truyền thống của SGK Ngữ văn nói chung không có khái niệm “chương” Cấu trúc SGK Ngữ văn là cấu trúc bài Cấu trúc SGK Ngữ văn 10 không chia thành các chương, các phần như cấu trúc SGK các môn học khác
1.3.3 Cấu trúc bài học trong sách giáo khoa
Trang 16“Theo truyền thống của lí luận dạy học và phương pháp dạy học bộ môn, bài học (t.Anh: lesson; t.Nga: ypok) được xác định là hình thức cơ bản, chủ yếu nhất của việc tổ chức các hoạt động dạy học trong nhà trường Mỗi bài học là một đơn vị, đơn vị đó vận dụng nhiều phương pháp, biện pháp sư phạm phong phú, đa dạng để tổ chức các tập thể học sinh thực hiện hoạt động học tập trong một thời gian nhất định và theo một kế hoạt dạy học nhất định Như một chỉnh thể kiến thức, mỗi bài học đều có mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, hình thức, tiến trình, phương pháp, biện pháp dạy học,… của mình; đồng thời, như một mắt xích nhận thức, mỗi bài học đều có những mối liên hệ logic, mật thiết với các bài học trước và sau nó trong một chương trình dạy học - giáo dục thống nhất” [4, tr.63]
Bài học là hình thức cơ bản, chủ yếu nhất của việc tổ chức các hoạt động học tập trong nhà trường, có liên quan trực tiếp đến việc xây dựng chương trình và biên soạn sách giáo khoa bộ môn… SGK phải thể hiện được các quan điểm chỉ đạo việc biên soạn SGK các môn học trong nội dung thông qua các bài học cụ thể Cấu trúc bài học trong SGK các bộ môn có những điểm tương đồng, có thể phác họa như sau:
- Phần mở bài
Phần này nhằm xác định mục tiêu của bài học (những kiến thức, kỹ năng, kết quả cần đạt) Phần
mở bài trình bày ngắn gọn, hướng HS tới đích của bài, nêu cả gợi ý về phương pháp học tập; có thể từ những điều HS đã biết, đề xuất những vấn đề HS chưa biết có liên quan đến bài học; có thể trình bày một hiện tượng, một câu hỏi hay một thí nghiệm làm nảy sinh vấn đề cần nghiên cứu Phần mở bài có
vai trò tạo tâm thế chuẩn bị bước vào nội dung bài học, GV có thể sử dụng phần này như một lời vào
bài Trong quá trình soạn bài, giảng bài mọi hoạt động học tập quy về mục tiêu của bài học GV cần
hướng dẫn cho HS trong khi soạn bài, học tập phải nắm vững phần mở bài để có hướng tiếp cận bài học đúng đắn, khoa hoc Đây là một thao tác tưởng chừng như đơn giản, nhiều GV thường không lưu ý
HS khi dặn dò HS soạn bài Cần lưu ý: cấu trúc bài học trong SGK trước năm 2000 không có phần mở bài xác định mục tiêu cần đạt (chỉ được ghi trong SGV)
- Nội dung bài học
Nội dung bài học thường bao gồm các thành phần: thông báo thông tin, xử lí các thông tin, kết quả cần đạt được
Thông tin được cung cấp qua kênh chữ và kênh hình Thông tin có thể là văn bản, các sự kiện, các hiện tượng, quá trình, quy luật, những ý tưởng mới, những kĩ năng mới… Nội dung của một bài học được xây dựng qua các đề mục trong bài học, tên các đề mục trong bài học thường là một tình huống vấn đề phải giải quyết, hoặc một câu hỏi ngắn gọn nói lên một nội dung cơ bản của bài, của mục
sẽ học
Xử lí thông tin là các hướng dẫn HS hoạt động giải quyết vấn đề HS xử lí thông tin có thể bằng cách: trả lời các câu hỏi đặt ra đối với các hình vẽ, biểu đồ, đồ thị; trình bày một vấn đề buộc HS phải suy nghĩ nhiều về thông tin mới đó và trao đổi thảo luận; giải bài tập; tiến hành các thí nghiệm thực
Trang 17hành… Qua xử lí thông tin dưới sự hướng dẫn của GV, HS phải đi đến kết luận, tức là nắm được nội dung cần đạt của bài học Các lệnh yêu cầu và hướng dẫn HS xử lí thông tin phải rõ ràng, ngắn gọn để
HS dễ dàng nhận biết nhiệm vụ và cách thức thực hiện, tạo điều kiện để HS được làm việc với những thông tin mới
Kết quả cần đạt được là những kiến thức, kỹ năng cơ bản của bài học Thành phần này đòi hỏi
HS phải chiếm lĩnh được sau khi đã xử lí các thông tin Hình thức trình bày mục kết quả cần đạt thường là những dòng chữ được in đậm, đóng khung
- Phần bài tập
Tùy môn học mà số lượng bài tập có thể dao động trong một giới hạn khá rộng Bên cạnh các bài tập có tính truyền thống là bài tập tự luận, nên sử dụng rộng rãi các loại bài tập trắc nghiệm Nội dung các câu hỏi, bài tập hướng vào sự vận dụng kiến thức đã học Mức độ bài tập đám ứng được những năng lực khác nhau của HS Tăng cường các loại bài tập có tác dụng phát triển trí tuệ, kỹ năng thực hành thí nghiệm cho HS
Dưới đây xin trình bày tóm tắt mô hình bài 23, sách Ngữ văn 9 :
BÀI 23 Kết quả cần đạt
Do có vai trò là hình thức cơ bản, chủ yếu nhất của việc tổ chức các hoạt động dạy học, nhìn
vào cấu trúc của đơn vị bài học, chúng ta có thể xây dựng được phương pháp dạy học tương ứng Nội dung và mục tiêu cần đạt của bài học là những yếu tố quan trọng nhất để GV dựa vào đó thiết kế bài học và xác định phương pháp dạy học
1.4 Phương pháp trình bày nội dung kiến thức trong sách giáo khoa
SGK là một xuất bản phẩm đặc biệt, cho một đối tượng rộng lớn, đa dạng về tính chất, chủng loại, về các ngành khoa học khác nhau, nó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ… Bởi vậy nó phải được hoàn thiện về nội dung và đẹp về hình thức Trong mười năm trở lại đây,
kể từ khi tiến hành cải cách giáo dục, mà trọng tâm là cải cách chương trình và nội dung SGK các môn học, xây dựng một phương pháp trình bày nội dung kiến thức trong SGK sao cho thể hiện được mục tiêu của giáo dục là một đòi hỏi cấp thiết
Trang 18Kênh chữ và kênh hình là những thông tin chủ yếu được dùng trong SGK để trình bày nội dung tri thức của môn học, đó là những chỉ dẫn về phương pháp dạy và học cũng như việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập Kênh chữ và kênh hình phải thể hiện tính chính xác, khoa học, sao cho hài hòa, cân đối và hỗ trợ lẫn nhau một cách có hiệu quả về mặt thẩm mĩ, mặt sư phạm Tức là, kênh chữ phải là thông tin chính phản ánh đúng nội dung tri thức môn học Kênh hình (ảnh chụp, tranh ảnh, hình vẻ, sơ
đồ, đồ thị…) thể hiện đúng đối tượng nghiên cứu, phù hợp với nội dung kênh chữ, không mang yếu tố hiểu lầm hoặc làm phân tán sự tập trung suy nghĩ của HS, kênh hình cần được khai thác, hỗ trợ cung cấp thông tin song song với thông tin chính nếu bỏ đi sẽ hạn chế việc hiểu bài
Phương pháp trình bày kiến thức phải phù hợp với tâm lí lứa tuổi HS ở từng lớp học, có tác dụng hình thành các thao tác tư duy ngày một nâng cao và hình thành được ở HS một số năng lực hành động ứng xử cần thiết Nội dung những thông tin trình bày trong mỗi bài học phải thể hiện được phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa hoạt động của người học, tạo điều kiện để HS được suy nghĩ, được làm việc thực sự, tự kiểm tra đánh giá khả năng nhận thức,… Từ đó, HS chiếm lĩnh được kiến thức, hình thành được kỹ năng
Số lượng, chất lượng và sự bố trí, sắp xếp các thông tin trong mỗi bài học phải vừa sức đối với
HS, đề xuất được sự áp dụng cụ thể, tiến trình những kiến thức được chuyển tải qua nội dung các môn học ở các lớp học đi từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao Hệ thống câu hỏi, bài tập hay thí nghiệm thực hành vừa phải sát hợp nội dung bài học vừa đa dạng giúp HS có được phương pháp tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho HS khai thác nội dung, làm xuất hiện tình huống vấn đề, sau đó hướng dẫn HS quan sát, giải thích, tìm tòi cách giải quyết vấn đề một cách tối ưu, đồng thời HS có thể
tự kiểm tra sự tiến bộ và thành tích của mình Tình huống có vấn đề có thể phát sinh trong môn học hoặc trong đời sống hằng ngày có liên quan trực tiếp tới môn học
Ở cấp phổ thông, SGK là sự thể hiện những nội dung cụ thể của chương trình phổ thông Các kiến thức khoa học về tự nhiên, xã hội… có sự lựa chọn rất kĩ Kiến thức trong SGK là một hệ thống khoa học, chính xác theo trình tự logic chặt chẽ, được gia công về mặt sư phạm cho phù hợp với trình
đô học sinh vàthời gian học tập Nội dung kiến thức được trình bày bằng lối văn phong sáng rõ, dễ hiểu
có hiệu lực, phù hợp với môi trường văn hóa, đạo đức, chính trị và dân tộc Ngoài phần kiến thức, SGK còn có một phần về rèn luyện các kỹ năng và các phương pháp giảng dạy môn học Phương pháp trình bày nội dung kiến thức trong SGK đã tạo ra sự khác nhau giữa SGK và các loại sách khoa học khác
Phương pháp trình bày nội dung kiến thức trong SGK đầu thế kỉ XXI đã có nhiều thay đổi Các tác giả không mô tả, giảng giải kiến thức mà đưa ra các hướng dẫn quan sát, hướng dẫn thí nghiệm, hướng dẫn HS trao đổi, thảo luận, câu hỏi kiểm tra kiến thức,… với phương pháp trình bày như vậy, hứng thú học tập và năng lực làm việc của HS đã được tính đến Có thể nói, mỗi cuốn SGK được coi như một cuốn sách “phương pháp hướng dẫn học tập” ở một chừng mực nào đó
1.5 Các chức năng của sách giáo khoa
Trang 19SGK trước hết là một loại sách nên cũng như các loại sách khác nó cũng phải đảm bảo chức năng chung là chức năng giáo dục nhân văn theo những chuẩn mực đang được xã hội thừa nhận Chức năng này liên quan đến mọi điều kiện học tập về hành vi, về các mối quan hệ với người khác, về cuộc sống xã hội nói chung Một cuốn SGK không chỉ chuyên nhằm truyền thụ kiến thức, mà cũng có thể phát triển khả năng ứng xử, cho phép HS xác định được vị trí của mình trong phạm vi xã hội, gia đình, văn hoá, dân tộc Đặc biệt đối với SGK các môn học khoa học xã hội và nhân văn chức năng giáo dục nhân văn càng biểu hiện rõ Thông qua tri thức, SGK giáo dục HS về đạo đức, nhân cách, tình yêu quê hương, đất nước, tinh thần say mê học tập Nhưng khác với các loại sách, SGK tồn tại trong một môi trường đặc biệt, đó là nhà trường phổ thông, SGK chứa đựng những kiến thức về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội mà nhà trường phải trang bị cho học sinh SGK là một trong những phương tiện dạy học quan trọng ở trường phổ thông Do đó, chức năng chủ yếu của SGK là hướng vào việc học tập trong nhà trường SGK là phương tiện làm việc của HS và là phương tiện hỗ trợ GV hiểu và thực hiện chương trình dạy học đã quy định Nó bao gồm chức năng truyền thụ kiến thức, chức năng hướng dẫn chỉ đạo học tập và chức năng kích thích hướng thú học tập
1.5.1 Chức năng thông tin kiến thức
Đây là chức năng truyền thống, thông tin kiến thức là chức năng quan trọng nhất; chính vì thế
có một số quan điểm cho rằng SGK chỉ có một chức năng duy nhất là chức năng thông tin, còn hai chức năng hướng dẫn chỉ đạo học tập và kích thích hướng thú học tập chỉ là sự kéo theo, khi GV đứng lớp để thực hiện được chức năng thông tin thì bản thân GV phải hướng dẫn HS, kích thích hướng thú học tập tạo tâm thế học tập cho HS
Chức năng thông tin được thể hiện qua nội dung của SGK, trình bày dưới dạng lời văn (kênh chữ) và hình ảnh (kênh hình) Đối với SGK Tiểu học và Trung học cơ sở, kênh hình và kênh chữ gần như tương đương Nhưng lượng kênh hình này phải phục vụ cho chức năng thông tin chứ không phải phục vụ nghệ thuật Kênh hình trong SGK phải được tính toán sao cho giúp HS lĩnh hội kiến thức một cách liên tục và không cho phép học sinh phân tán bởi những yếu tố khác Đối với SGK bậc THPT kênh chữ là chủ yếu Một yếu tố kiến thức nào đó nếu cần làm rõ thêm qua kênh hình thì kênh hình bao giờ cũng phải có chữ đi kèm để giải thích, chỉ dẫn Như vậy, kênh chữ trong SGK giữ vai trò chủ đạo trong việc thực hiện chức năng thông tin
SGK cung cấp những thông tin kiến thức gì? Kiến thức đó có đặc điểm như thế nào?
Nội dung SGK hay lượng thông tin trong SGK bao gồm các đơn vị kiến thức của môn học; những chỉ dẫn về cách tiến hành các hoạt động học tập để lĩnh hội các đơn vị kiến thức Những kiến thức đó có nhiều mức độ: khái niệm, quy tắc, định lí, định luật, quy luật, các dữ liệu đặc biệt, các sự việc,…
Cần khẳng định rằng kiến thức dường như không đứng yên mà luôn vận động do đó nhận thức của con người mới phát triển được Kiến thức nhân loại thì vô cùng phong phú đa dạng trong khi đó
Trang 20kiến thức trong SGK thì phải ổn định, sử dụng lâu dài Để giải quyết vấn đề này chức năng thông tin phải hướng đến tính vừa sức và tính chuẩn mực, cổ điển SGK dùng chủ yếu ở trường phổ thông, biên soạn riêng cho từng lớp Sách của lớp này, cấp này không thể dùng cho HS lớp dưới, cấp dưới Tính vừa sức tạo ra sự khác nhau giữa SGK và các loại sách khác Sách nói chung đều trình bày các kiến thức về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhưng các sách khác không quan tâm đến trình độ của người đọc còn SGK có sự lựa chọn rất kĩ trước khi đưa những đơn vị kiến thức khoa học vào sách Đặc biệt cần chú ý tới tính hệ thống chặt chẽ phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của HS Những đơn vị kiến thức khoa học trong SGK phải làm cho HS ở một độ tuổi nào đó hiểu được, đảm bảo hoạt động tư duy tích cực của HS, đảm bảo sự phát triển có thể được về khả năng nhận thức của HS Khác với thông báo khoa học hay các giáo trình có thể trình bày những vấn đề khoa học mới phát minh thậm chí còn hết sức mới mẻ, chưa hoàn toàn được thừa nhận thì SGK phải đưa vào chương trình những kiến thức khoa học phổ thông cơ bản nhất, chuẩn mực và đã ổn định, những kiến thức ít thay đổi, không thay đổi quá nhiều theo những xu thế thời cuộc, các kiến thức đó không mâu thuẫn nhau không tạo nên những cuộc tranh luận lâu dài Kiến thức đó phải được mọi người thừa nhận, trở thành nhận thức chung của nhân loại
SGK không những thông tin kiến thức mà còn chỉ dẫn cách thức để hiểu được, lĩnh hội được các kiến thức đó, trang bị cho HS những phương pháp tư duy, phương pháp học tập, kỹ năng thực hành những bộ môn cụ thể Cho nên, hệ thống kiến thức trong SGK phải xây dựng theo những hệ thống nhất định, phương pháp nhất định, trình tự nhất định để HS dùng hệ thống kiến thức ấy làm tư liệu học tập dưới sự chỉ đạo của GV Điều đó toát lên từ nhiều bình diện trong bài học dễ thấy nhất là cách trình bày các yếu tố kiến thức trong mỗi bài học: các kiến thức đi từ dễ đến khó, từ cụ thể đến trừu tượng, phần lí thuyết trình bày trước, sau đó đến phần hướng dẫn học bài, cuối đến là phần ôn luyện
1.5.2 Chức năng hướng dẫn chỉ đạo học tập
So với các loại sách khác, SGK thể hiện tương đối rõ chức năng hướng dẫn chỉ đạo học tập Góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy là một trong các yêu cầu hàng đầu của SGK mới Để HS chuyển từ học tập thụ động sang học tập chủ động, để GV phát triển các phương pháp dạy học tích cực, SGK cần chuyển cách trình bày kiểu thông báo, giải thích sang cách tổ chức các hoạt động học tập Cấu trúc bài học trong SGK mới chủ yếu xoay quanh nội dung hướng dẫn hoạt động học tập, với cấu trúc bài học như thế thì chức năng hướng dẫn chỉ đạo học tập ngày càng thể hiện rõ hơn Đây là một bước tiến của SGK mới
Thiết kế các hoạt động học tập khám phá là sự thể hiện rõ nhất của chức năng hướng dẫn chỉ đạo học tập Hoạt động học tập khám phá có nhiều dạng khác nhau: trả lời câu hỏi; điền từ, điền bảng, điền tranh; lập bảng, biểu, đồ thị, sơ đồ, bản đồ, đọc và phân tích; làm thí nghiệm, đề xuất giả thiết, phân tích nguyên nhân, thông báo kết quả; thảo luận tranh cải về một vấn đề; giải bài toán nhận thức,
xử lí tình huống, v.v… tương ứng với các dạng hoạt động có các hình thức tổ chức hoạt động: cá nhân;
Trang 21cặp hai người; nhóm nhỏ; nhóm A thảo luận, nhóm B quan sát, rút kinh nghiệm; làm việc chung cả lớp, sắm vai,… HS được đưa vào tình huống cụ thể để buộc phải làm việc và có điều kiện để thực hiện các công việc đó Thông qua các hoạt động học tập, HS tìm tòi, khám phá, phát hiện vấn đề vấn đề và trình bày lại quá trình làm việc, kết quả làm việc Đây là cách học rất cần đối với HS, tạo khả năng tự học cho HS
HS không bao giờ nắm vững kiến thức, nếu SGK đem kiến thức đến cho HS dưới dạng có sẵn Chiếm lĩnh được kiến thức là thành quả của những cố gắng của tư duy chứ không phải của trí nhớ Chức năng hướng dẫn chỉ đạo học tập trong mỗi bài học phải nhằm vào hình thành những kiến thức,
kỹ năng, thái độ mục tiêu bài học tránh khuynh hướng hình thức chỉ thiết kế hoạt động gọi là có hoạt động, đưa ra các lệnh hoạt động quá đơn giản như: trả lời nhiều các câu hỏi tái hiện, trả lời câu hỏi “là gì?”, tìm thêm ví dụ minh họa Các hoạt động đề ra cho HS là những hoạt động tìm tòi, khám phá tri thức mới, phù hợp với vốn kiến thức và trình độ tư duy của HS Chức năng hướng dẫn chỉ đạo học tập phải đi song song với chức năng thông tin kiến thức Hai chức năng này phải được thực hiện đồng thời Trong mỗi bài học, SGK không thể chỉ thiết kế các lệnh hoạt động mà không đưa ra nội dung kiến thức
1.5.3 Chức năng kích thích hứng thú học tập
SGK tự nó đã chứa đựng nhiều yếu tố kích thích hứng thú học tập, động viên tính ham hiểu biết
và tính tích cực tư duy của HS Đó là tính chất mới lạ của tri thức khoa học, tính sáng tỏ của các sự kiện, tính độc đáo của các kết luận K.Đ.Usinxki đã viết: “… môn học phải giới thiệu cho chúng ta điều mới lạ có tác dụng hoặc bổ sung, hoặc xác nhận, hoặc bác bỏ, hoặc phân tích cái đã có sẵn trong đầu óc chúng ta; tóm lại, đó là cái mới lạ có thể làm thay đổi một cái gì đó trong các dấu vết đã hằn sâu trong chúng ta” [38, tr.71]
Những năm cuối thế kỉ XX, chúng ta đã tiến hành cải cách giáo dục mà trọng điểm là cải cách chương trình và SGK Nhìn chung, chương trình và SGK mới đã có những cải tiến đáng kể nhưng bên cạnh đó, nội dung kiến thức ở một số môn vừa thiếu tính cơ bản, hệ thống vừa thiếu tính hiện đại, dạy những kiến thức trùng lặp, việc phân phối chương trình các tiết học chưa hợp lí Do đó cần sớm có một
bộ chương trình - SGK ổn định tương đối ở các cấp để đảm bảo chất lượng giáo dục Cần chú ý nâng cao sức hấp dẫn của bộ SGK phổ thông sao cho dễ hiểu, dễ nhớ, không có những cuốn sách nặng nề,
ôm đồm, nhồi nhét kiến thức Nội dung SGK gọn nhẹ, đảm bảo cho HS nắm vững các kiến thức cơ bản, cần thiết và có hệ thống, có tính yêu cầu hiện đại, tiên tiến nhất là về phương pháp Có như vậy mới tạo được hứng thú học, kích thích sự học tập say mê sáng tạo, nâng cao tính ham hiểu biết của HS Bên cạnh đó, trong quá trình giảng dạy GV phải thường xuyên chăm lo cho bài giảng của mình không đơn thuần là thuật lại SGK, mà có nội dung sinh động, sâu sắc làm phong phú và mở rộng thêm kiến thức vốn có của HS
Trang 22Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 10 (CHƯƠNG
TRÌNH CHUẨN VÀ CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO)
2.1 Những thay đoi của sách giáo khoa Ngữ văn 10
2.1.1 Những thay đổi về hình thức
Các định hướng đổi mới chương trình và SGK phổ thông đã được nêu ra từ Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12/1996), được thể chế hóa trong Luật Giáo dục 912/1998) Mục tiêu của việc đổi mới chương trình và SGK phổ thông là góp phần đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ So với các lần cải cách trước, việc đổi mới chương trình và SGK môn Ngữ văn 10 có những ưu điểm nổi bật như: biên soạn SGK theo quan điểm tích hợp; SGK thể hiện sự đổi mới phương pháp giảng dạy, theo đó SGK không còn là một hệ thống các bài học trình bày các tri thức đã được xác định sẵn Trong SGK mới, phần chủ yếu của bài học là các hoạt động học tập được đề ra cho HS, GV phải tổ chức cho HS hoạt động để các em tìm tòi, phát hiện, khám phá những điều phải học theo mục tiêu cần đạt của từng bài
Nếu như chương trình cũ, SGK ba phân môn Văn học, Tiếng Việt và Làm văn được biên soạn tách rời, độc lập, thì chương trình Ngữ văn mới được xây dựng theo nguyên tắc tích hợp Tích hợp ở đây được hiểu là sự gắn kết, phối hợp các lĩnh vực tri thức gần nhau của các phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn nhằm hình thành và rèn luyện cho HS các kỹ năng đọc, nói, nghe, viết Theo tinh thần này tên môn học đã được thay đổi Trước đây môn học này được gọi theo tên của ba phân môn là Văn học - Tiếng Việt - Làm văn, tương ứng với tên gọi đó có ba bộ sách được biên soạn một cách độc lập:
Văn học, Tiếng Việt và Làm văn Nay theo chương trình mới môn học này gọi là Ngữ văn và SGK cũng chỉ còn một cuốn cho cả ba phân môn và được gọi là sách Ngữ văn Việc ba cuốn sách nhập làm
một không phải là sự sát nhập một cách cơ học, máy móc ba phân môn của bộ môn này mà là sự đáp
ứng yêu cầu tích hợp của chương trình Ngữ văn mới Sự thay đổi này là sự tiếp tục nối kết với môn Ngữ văn THCS thành một chỉnh thể thống nhất, đảm bảo tính liên thông, đồng bộ và nhất quán của hệ thống chương trình môn học Theo đó phương pháp dạy học cũng đổi mới cho phù hợp với sự thay đổi của tên môn học Học Ngữ văn trong nhà trường không thể tách rời ba phân môn vốn là những yếu tố hợp thành của chương trình Trong SGK Ngữ văn 10, các bài học về đọc - hiểu tác phẩm, tiếng Việt và làm văn được sắp xếp đan xen nhau, hỗ trợ cho nhau Thông qua tri thức của ba phân môn năng lực
đọc văn và làm văn của HS phải được hình thành và rèn luyện đồng bộ Đồng thời qua việc rèn luyện
kỹ năng đọc văn, làm văn mà củng cố và phát triển kỹ năng tiếng Việt
Chương trình Ngữ văn 10 lựa chọn văn bản tác phẩm theo thể loại và tổ chức dạy học theo đặc
trưng thể loại Căn cứ vào thành tựu của mỗi giai đoạn văn học, với hệ thống thể loại đã xác định, SGK Ngữ văn 10 cung cấp một số vấn đề tri thức đọc văn như là các công cụ giúp HS đọc - hiểu văn bản
Trang 23trong giai đoạn đó Theo tinh thần này, Lịch sử văn học, Lí luận văn học được coi như là những công
cụ giúp HS tiếp nhận tốt hơn văn bản-tác phẩm hơn là một đối tượng cần nghiên cứu, một tri thức cần trang bị đầy đủ, toàn diện
Một điểm nổi bật trong SGK nói chung và SGK Ngữ văn 10 nói riêng, các tác giả biên soạn đã lưu ý cách trình bày thể hiện rõ sự hỗ trợ cho đổi mới phương pháp dạy học Cấu trúc bài học trong SGK đã tạo điều kiện cho HS làm việc tích cực, chủ động; hạn chế việc cung cấp sẵn kiến thức Ví dụ:
bài “Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ” (sách Ngữ văn 10 tập 1, trang 14), tiêu đề mục I là một câu
hỏi “Thế nào là hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ ?” đã tác động được sự tìm tòi, suy nghĩ của HS
Bài học cung cấp cho HS một đoạn trích trong văn bản Hội nghị Diên Hồng, HS phải tìm hiểu, khai
thác tất cả các nhân tố tạo nên văn bản mẫu đó thông qua việc trả lời các câu hỏi Qua các hoạt động học tập HS hiểu được tri thức cần đạt
Do yêu cầu phân ban nên SGK Ngữ văn 10 được biên soạn thành hai bộ sách: Ngữ văn 10 nâng
cao dành cho những HS ban Khoa học xã hội và nhân văn và Ngữ văn 10 dành cho HS ban Khoa học
tự nhiên và ban Cơ bản Do nội dung nhiều và thời lượng tiết học lớn nên mỗi cuốn sách đều có hai
tập Sách Ngữ văn 10 nhằm đáp ứng cho HS có nhu cầu nắm vững nội dung môn học để có thể hoàn thành tốt kì thi tốt nghiệp THPT Sách Ngữ văn 10 nâng cao ngoài những nội dung có trong sách Ngữ
văn 10 còn có thêm một số yêu cầu và nội dung khác biệt nhằm phân hóa và đáp ứng nhu cầu của
những HS không chỉ thi tốt nghiệp mà còn thi đại học vào các ngành Khoa học xã hội và nhân văn Yêu cầu về nội dung, khối lượng kiến thức và mức độ kỹ năng của hai chương trình có khác nhau nhưng không quá chênh lệch Cho nên, trong quá trình dạy và học, GV và HS có thể dùng cả hai bộ sách để tìm hiểu và tham khảo thêm
2.1.2 Những thay đổi về nội dung
Theo cách dạy truyền thống, dạy văn chủ yếu là nhằm làm cho HS thấy được cái hay, cái đẹp của những tác phẩm văn chương Nhưng cái hay cái đẹp ấy lại do chính GV cảm nhận và phân tích hộ cho HS Trong giờ giảng văn, HS ghi chép lại những gì GV cung cấp; khi đánh giá kiểm tra HS chỉ cần tái hiện lại những gì đã được GV cung cấp cho Theo quan niệm dạy học hiện nay, dạy học văn thực
chất là dạy cho HS phương pháp đọc - hiểu văn bản Đọc - hiểu được hiểu là một quá trình bao gồm
việc tiếp xúc với văn bản, hiểu cả nghĩa đen, nghĩa bóng, thấy được vai trò tác dụng của các hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, các thông điệp tư tưởng, tình cảm thái độ của người viết và cả các giá trị
tự thân của hình tượng nghệ thuật
Trong các công trình lí luận gần đây, tác phẩm văn học được hiểu theo nghĩa rộng Văn bản văn học không chỉ là những tác phẩm hư cấu, tưởng tượng mà còn là những văn bản không phải hư cấu, tưởng tượng với nhiều thể loại khác nhau như: sử kí, địa chí, văn bia, văn thuyết minh, văn nghị luận,… Việc đưa những thể loại này vào chương trình Ngữ văn giúp HS thấy được diện mạo phong phú đa dạng trong việc phản ánh hiện thực và đời sống tinh thần của văn học dân tộc, đồng thời làm
Trang 24dồi dào thêm năng lực đọc - hiểu theo thể loại cho HS, biết cách đọc - hiểu nhiều kiểu văn bản khác nhau Văn bản đọc - hiểu không những bồi dưỡng kiến thức về văn học mà còn thiết thực trong đời sống, giúp HS có thể vận dụng vào đời sống
Vì những lí do, so với sách Văn học 10 (Chương trình cũ) chương trình Ngữ văn 10 có nhiều thay đổi Chương trình Văn học 10 chủ yếu sắp xếp theo tiến trình lịch sử văn học, còn chương trình
Ngữ văn 10 dựa vào tiến trình lịch sử văn học để lựa chọn hệ thống tác phẩm tiêu biêu cho các thể loại
của mỗi giai đoạn văn học Chương trình và SGK Ngữ văn 10 có sự kế thừa SGK Văn học 10 về nội
dung kiến thức và cấu trúc chương trình, ngoài các tác phẩm quen thuộc đã có trong sách Văn học 10,
kiến thức văn học trong sách Ngữ văn 10 rộng hơn, nhiều thể loại văn học hơn Phần văn học dân gian: đưa thêm truyền thuyết (Truyện An Dương Vương và Mị châu, Trọng Thủy), truyện cười (Tam đại con
gà; Nhưng nó phải bằng hai mày), ca dao hài hước và chèo (Xúy Vân giả dại trích chèo Kim Nham)
Những văn bản văn học mới về truyện cổ tích (Tấm Cám), về sử thi (trích đoạn Chiến thắng Mtao
Mxây trong sử thi Đăm Săn )…
Sau đây là bảng so sánh phần văn học dân gian trong sách chỉnh lí-hợp nhất năm 2000 (sách
Văn học 10) và sách Ngữ văn 10
Sử thi Trích đoạn:
- Đi bắt Nữ thần Mặt Trời (trích: Sử thi Đăm Săn)
Trích đoạn:
- Chiến thắng Mtao Mxây (trích: Sử thi Đăm Săn) Truyền thuyết Không học - Truyện An Dương Vương và
Mị Châu, Trọng Thủy Truyện cổ tích - Chử Đồng Tử
- Làm theo vợ dặn
- Tấm Cám
Truyện cười Không học - Tam đại con gà
- Nhưng nó phải bằng hai mày
Truyện thơ - Thân em chỉ bằng thân con
bọ ngựa (trích Tiễn dặn người yêu)
Đọc thêm: Vượt biển (trích Vượt biển)
Đọc thêm: Lời tiễn dặn (trích Tiễn dặn người yêu)
Ca dao - Những câu hát than thân
- Những câu hát tình nghĩa Không học ca dao hài hước
- Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa
- Ca dao hài hước
Trang 25Phần văn học trung đại đưa thêm các kiểu văn bản như : bình sử (Phẩm bình nhân vật lịch sử của Lê Văn Hưu), sử kí (Thái phó Tô Hiến Thành trích Đại Việt sử lược; Thái sư Trần Thủ Độ; Hưng
Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn trích Đại Việt sử kí toàn thư - Ngô Sĩ Liên), văn bia (Hiền tài là nguyên khí của quốc gia Thân Nhân Trung), tựa (Tựa “Trích diễm thi tập” của Hoàng Đức Lương),
thư (Thư lại dụ Vương Thông của Nguyễn Trãi) Ngoài các tác giả, tác phẩm đã có trong sách Văn học
10, sách Ngữ văn 10 có đưa thêm các tác giả, tác phẩm, đoạn trích mới như: Quốc tộ (Đỗ Pháp Thuận);
Chức phán sự đền Tản Viên (Nguyễn Dữ); Sa hành đoản ca (Cao Bá Quát); Hàn nho phong vị phú
(Nguyễn Công Trứ); Thề nguyền trích Truyện Kiều - Nguyễn Du; Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trích bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm khúc - Đoàn Thị Điểm; Nhàn (Nguyễn Bỉnh Khiêm);…
Phần văn học nước ngoài trong sách Văn học 10 được xếp riêng trong tập 2 cùng với phần lí luận văn học Ở sách Ngữ văn 10, lấy văn học Việt Nam làm trục chính và thêm các tác phẩm văn học
nước ngoài sắp xếp theo cùng thể loại một cách tương ứng để HS dễ dàng so sánh, đối chiếu Có thể kể
đến Tuỳ viên thi thoại (Viên Mai); Tào Tháo uống rượu luận anh hùng (La Quán Trung); Dế chọi (Bồ Tùng Linh); Khe chim kêu (Vương Duy); Khuê oán (Vương Xương Linh); Thơ Hai-kư của Nhật
Bản;…
Đối chiếu chương trình văn học nước ngoài trong sách Văn học 10 và sách Ngữ văn 10, có thể
thấy sự kế thừa và thay đổi
Văn học
Hi Lạp
- Uy-lít-xơ trở về (trích: Sử thi Ô-đi-xê)
Đọc thêm: Uy-lít-xơ và
Ca-líp-xô
- Uy-lít-xơ trở về (trích: Sử thi Ô-đi-xê)
Đọc thêm: Tảo phát Bạch Đế Thành
- Đỗ Phủ: Thu hứng Đọc thêm: Đăng cao
- Thôi Hiệu: Lầu Hoàng Hạc
Thơ Đường
- Lí Bạch: Tại lầu Hoàng hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng
- Đỗ Phủ: Thu hứng Đọc thêm: Thôi Hiệu: Lầu Hoàng Hạc
Trang 26Đọc thêm: Vương Xương Linh: Khuê oán
Đọc thêm: Vương Duy: Điểu minh giản
Tiểu thuyết Minh Thanh
Đọc thêm: Tào Tháo uống rượu luận anh hùng (trích:Tam quốc diễn nghĩa -
La Quán Trung) Văn học
Anh
Sêcxpia
- Thề hẹn (trích Rômêô và Giuliet)
- Sống hay không sống-đó là vấn đề (trích Hamlet)
Đọc thêm: Sự lựa chọn của Baxaniô (trích Người lái buôn thành Vơnidơ
dụng các thao tác làm văn một cách tổng hợp, linh hoạt Sách Ngữ văn 10 thể hiện rõ quan điểm này Phần Làm văn trong sách Ngữ văn 10 tập trung vào hai nội dung cơ bản:
Một là ôn lại và luyện tập để củng cố và hoàn thiện các kiểu văn bản đã học ở THCS Ngữ văn
10 nâng cao có các bài Luyện tập về các kiểu văn bản và phương thức biểu đạt; Thực hành lập ý và viết đoạn văn theo các yêu cầu khác nhau; Tóm tắt văn bản tự sự; Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh; Luyện tập vận dụng các hình thức kết cấu văn bản thuyết minh; Luyện tập về liên kết trong văn bản; Tóm tắt văn bản thuyết minh; Luận điểm trong bài văn nghị luận; Đề văn nghị luận; Thực hành thao tác chứng minh, giải thích, quy nạp, diễn dịch;… Ngữ văn 10 tập trung vào các kiểu
văn bản và sự đan xen, kết hợp các phương thức trong một kiểu văn bản Đó là văn bản tự sự, miêu tả,
biểu cảm, thuyết minh
Hai là rèn luyện cách thức sinh ý, tạo ý và lập ý cho một bài văn Sách Ngữ văn 10 nâng cao có các bài Quan sát, thể nghiệm đời sống; Đọc tích lũy kiến thức; Liên tưởng, tưởng tượng;… Sách Ngữ
Trang 27văn 10 có các bài Phương pháp thuyết minh; Lập dàn ý bài văn nghị luận; Lập luận trong văn nghị luận; Các thao tác nghị luận;…
Ngoài hai nội dung trên chương trình Ngữ văn 10 còn chú ý rèn luyện cho HS kỹ năng nói, kỹ
năng tạo lập một số văn bản hướng vào tính nhật dụng như Lập kế hoạch cá nhân; Viết quảng cáo
Các nội dung tiếng Việt trong sách Ngữ văn 10 so với sách Tiếng Việt 10 cũng có nhiều thay
đổi Trước đây, Tiếng Việt được dạy như một phân môn tách biệt với văn học và làm văn Nay Tiếng Việt được dạy theo một tinh thần khác Với quan điểm tích hợp, chương trình Ngữ văn 10 tập trung vào thực hành tiếng Việt, vận dụng những kiến thức và kỹ năng tiếng Việt vào việc đọc - hiểu văn bản
và tạo lập văn bản Thông qua đó mà củng cố và nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt cho HS Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn 10 tập trung vào hai nội dung :
Một là ôn tập, rèn luyện và vận dụng các tri thức, kỹ năng đã được học ở THCS Các bài học
này thường tập trung vào sửa chữa các lỗi như dùng từ, đặt câu, lỗi về tu từ… Sách Ngữ văn 10 gồm các bài như : Thực hành phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ; Thực hành các phép tu từ: phép điệp và phép
đối Sách Ngữ văn 10 nâng cao có các bài: Luyện tập về nghĩa của từ; Luyện tập về từ Hán Việt
Hai là học một số nội dung mới như Văn bản; Phân loại văn bản theo phương thức biểu đạt;
Phân loại văn bản theo phong cách chức năng ngôn ngữ; Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt; Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật…
Nhìn chung, so với SGK Văn học 10 trước đây SGK Ngữ văn 10 có những bước phát triển Đó
là quan điểm tích hợp trong xây dựng và biên soạn nội dung SGK, tích cực trong dạy học Việc đổi mới chương trình Ngữ văn theo quan điểm tích hợp đòi hỏi đổi mới về phương pháp dạy học Trước đây chúng ta đã quen với lối dạy từng phân môn tách rời, với SGK mới các phân môn được giảng dạy như một thể thống nhất, trong đó mỗi phân môn vừa giữ bản sắc riêng vừa hòa nhập với nhau để hình thành nên tri thức và năng lực, kỹ năng Ngữ văn thống nhất ở HS Định hướng của phương pháp giảng dạy mới theo quan điểm tích hợp là tận dung tri thức và kỹ năng về tiếng Việt để tạo lập và giải mã văn bản rồi từ việc dạy tạo lập, giải mã văn bản lại củng cố và phát triển các tri thức và kỹ năng khi dạy học tiếng Việt
Để đáp ứng chương trình SGK mới phương pháp dạy học đòi hỏi phải phát huy nguyên tắc lấy
HS làm trung tâm, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong quá trình học tập ở tất cả mọi khâu Tính cực trong việc học tập Ngữ văn dễ thể hiện thành bề nổi của phong trào do đó GV cần phải chú ý đến bề sâu khi tổ chức các hoạt động học tập cho HS GV nên động viên HS làm tốt những vấn đề cụ thể, nhỏ nhặt mà có ý nghĩa như: tra cứu từ khó, lập hồ sơ, sưu tập ảnh, khai thác STK liên quan đến một nội dung sẽ học Bản chất của định hướng lấy HS làm trung tâm là nhằm tích cực hóa hoạt động của người học Tinh thần của phương pháp dạy học mới là tôn trọng HS HS tự mình tiếp xúc với bài học, tự suy nghĩ, khám phá kiến thức Công việc của GV khác trước ở chỗ là phải biết tổ chức hệ thống công việc để hướng dẫn HS tự tìm hiểu, GV không làm thay, nói thay và hiểu thay
Trang 28Kế thừa SGK Văn học 10 trong quá trình biên soạn, SGK Ngữ văn 10 có lưu ý tới xu thế tiên tiến trên thế giới, đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản, tinh giản, hiện đại, sát thực tiễn Việt Nam, đảm bảo tính liên môn, tạo điều kiện trực tiếp giúp GV đổi mới phương pháp giảng dạy, chú trọng mục tiêu bồi dưỡng, nâng cao năng lực đọc - hiểu cho HS, hình thành và phát triển ở HS năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống và đặc biệt là phương pháp tự học
Việc nắm những thay đổi về hình thức và nội dung của SGK Ngữ văn 10 sẽ giúp GV có những điều chỉnh trong bài giảng cho thích hợp mà vẫn kế thừa được những tài liệu cũ
2.2 Những điểm giống nhau và khác nhau của sách giáo khoa Ngữ văn 10 và Ngữ văn 10 nâng cao
2.2.1 Những điểm giống nhau
Chương trình nâng cao thống nhất với Chương trình chuẩn Hai chương trình thống nhất trên
các điểm: hệ thống văn bản, hệ thống thuật ngữ, khái niệm, quan niệm về các vấn đề Lịch sử văn học,
Lí luận văn học, tiếng Việt và Làm văn thống nhất Tất cả các văn bản đọc - hiểu có trong sách Ngữ
văn 10 đều có trong sách Ngữ văn 10 nâng cao Phân bố các văn bản đọc - hiểu theo trình tự các tuần
học là tương đương Nội dung kiến thức và kỹ năng của các văn bản đọc - hiểu tương đương nhau giữa hai bộ sách cùng bám sát và đảm bảo yêu cầu của Chuẩn chương trình đề ra Cách thức thể hiện và khai thác có thể khác nhau nhưng nội dung, yêu cầu về kiến thức và kỹ năng của phần tiếng Việt giữa hai bộ sách là giống nhau Phần làm văn giữa hai bộ sách giống nhau về các nội dung, yêu cầu về kiến thức, về kỹ năng (ngoài một số nội dung nâng cao, HS các ban khác nhau đều học các kiểu văn bản giống nhau) Phương pháp dạy học và yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học ở hai chương trình cơ bản
là giống nhau Tính tích hợp, tích cực hóa hoạt động của người học, hình thành phương pháp đọc - hiểu, thói quen tự học đều được tính đến trong cả hai bộ sách Đổi mới đánh giá kết quả học tập ở hai
bộ sách là thống nhất và tuân thủ theo yêu cầu của chuẩn chương trình
Sự giống nhau giữa hai bộ sách Ngữ văn 10 và Ngữ văn 10 nâng cao nói lên sự thống nhất của
các tác giả về nguyên tắc biên soạn SGK, về yêu cầu đổi mới chương trình môn học, về nhận thức trình
độ học vấn của HS, thống nhất trong phương pháp giảng dạy, cách thức đánh giá kiểm tra kết quả học tập và phương pháp học tập bộ môn cho các phân ban khác nhau… Trong nhà trường phổ thông, một
GV có thể dạy cả hai bộ sách, vì thế cần nắm được những điểm giống nhau và khác nhau để thực hiện tốt yêu cầu của mỗi bộ sách
Trang 29tài liệu để tham khảo, đối chiếu, so sánh… từ đó có thể rút ra những kết luận cần thiết và phù hợp cho quá trình giảng dạy và học tập
Điểm khác nhau đầu tiên là thời lượng học tập và số bài viết của hai chương trình khác nhau
Chương trình Ngữ văn 10 nâng cao HS học 140 tiết cho cả năm chia thành 4 tiết/tuần; Ngữ văn 10 có
105 tiết cho cả năm phân phối 3 tiết/tuần Ngoài việc luyện viết các đoạn văn, chương trình Ngữ văn
10 nâng cao yêu cầu HS phải viết 8 bài làm văn Chương trình Ngữ Văn 10 có 7 bài kiểm tra
Chỉ thị 30/1998/CT – TTg của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu nội dung giáo dục THPT phải dựa
trên cơ sở một chương trình chuẩn Chênh lệch về kiến thức của các môn học phân hóa giữa chương
trình chuẩn và chương trình nâng cao không quá 20% Nội dung học tập trong sách Ngữ văn 10 nâng
cao có thêm một số nội dung mà Ngữ văn 10 không có:
Về văn bản đọc - hiểu: ngoài các văn bản - tác phẩm có ở sách Ngữ văn 10, trong sách Ngữ văn
10 nâng cao có thêm Đẻ đất đẻ nước; Chữ Đồng Tử; Mười tay; Tục ngữ về đạo đức, lối sống; chèo Kim Nham; Cảm hoài của Đặng Dung; Hàn nho phong vị phú của Nguyễn Công Trứ; Thư lại dụ Vương Thông (trích: Quân trung từ mệnh tập của Nguyễn Trãi); Thái phó Tô Hiến Thành; Ngọc Hoa đối mặt với bạo chúa (trích Phạm Tải - Ngọc Hoa); Nỗi sầu oán của người cung nữ (trích Cung oán ngâm khúc - Nguyễn Gia Thiều; Dế chọi (trích Liêu trai chí dị - Bồ Tùng Linh); Tì Bà Hành - Bạch
Cư Dị
Về lí luận văn học: sách Ngữ văn 10 nâng cao chú trọng hơn việc trang bị cho HS phương
pháp đọc hiểu bằng các bài lí luận như Đọc - hiểu văn bản văn học và Đọc - hiểu văn bản văn học
trung đại
Về các nội dung làm văn: sách Ngữ văn 10 nâng cao học thêm một số nội dung như Lập ý theo
các yêu cầu khác nhau, Đọc tích luỹ kiến thức, Quan sát, thể nghiệm đời sống, Đề văn nghị luận
Cấu trúc sách Ngữ văn 10 có bảng phụ lục từ Hán - Việt nêu ở cuối sách, sách Ngữ văn 10 nâng
cao không có phần này Cấu trúc bài học ở hai bộ sách cũng có điểm khác nhau: Ngữ văn 10 có phần Ghi nhớ còn Ngữ văn 10 nâng cao không có Ngữ văn 10 nâng cao có thêm phần Tri thức đọc - hiểu
và Bài tập nâng cao
Ảnh chân dung và ảnh tư liệu minh họa cho bài học ở sách Ngữ văn 10 nâng cao nhiều hơn sách Ngữ văn 10 ( ảnh tư liệu: 50 ảnh trong sách Ngữ văn 10 nâng cao còn Ngữ văn 10 có 15 ảnh)
Hai bộ sách khác nhau ở hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài, cách hỏi và cách dẫn dắt trình bày vấn đề Dưới đây là hệ thống câu hỏi hướng dẫn học bài của hai bộ sách cho cùng một văn bản đọc
hiểu: Ra-ma buộc tội (trích sử thi Ra-ma-ya-na)
1 Văn bản tự sự được cấu tạo bằng lời
kể, lời thoại, lời miêu tả Anh (chị) hãy
1 Sau chiến thắng, Ra-ma và Xi-ta gặp lại nhau trước sự chứng kiến của “mọi
Trang 30chỉ ra các yếu tố trên của đoạn trích ? người” Công chúng đó bao gồm những
ai ? a) Anh em, bạn hữu của Ra-ma
b) Đội quân của loài khỉ Va-na-ra
c) Quan quân, dân chúng của loài quỷ Rắc-sa-va
d) Tất cả những đối tượng trên
Hoàn cảnh ấy có tác động như thế nào đến tâm trạng, ngôn ngữ đối thoại của Ra-ma, Xi-ta ? (Phân tích những câu cho thấy ý thức của Ra-ma, Xi-ta về tình thế
“trước mặt những ngưởi khác”, “trước mặt đông đủ mọi người”,…)
2 Vì sao Ra-ma ra sức cứu Xi-ta rồi lại
kết tội, ruồng bỏ nàng ? Tại sao Ra-ma
nói những lời đay nghiến Xi-ta trước
mặt những người khác ?
2 Theo lời tuyên bố của Ra-ma :
- Chàng giao tranh với quỷ Ra-va-na, tiêu diệt hắn để giải cứu Xi-ta vì động cơ
gì ? a) Danh dự người anh hùng bị xúc phạm khi Ra-va-na dám cướp vợ của chàng b) Tình yêu thương của người chồng đối với vợ, khát khao đoàn tụ vợ chồng c) Cả hai lí do trên
- Chàng ruồng bỏ Xi-ta vì lí do gì ? a) Danh dự không cho phép người anh hùng chấp nhận một người vơ đã chung chạ với kẻ khác
b) Sự ghen tuông của người chồng không chấp nhận người vợ đã chung chạ với kẻ khác
c) Cả hai lí do trên
Phân tích những từ ngữ lặp đi lặp lại nhiều lần trong lời nói của Ra-ma cho thấy ý chí, tâm trạng của chàng
Phân tích thái độ của Ra-ma khi Xi-ta
Trang 31bước lên giàn lửa
3 Xi-ta đã bênh vực mình như thế nào ?
Lời đáp và hành động của Xi-ta cho thấy
- Sự khác biệt giữa điều tùy thuộc vào số mệnh của nàng, vào quyền lực kẻ khác (“cái thân thiếp đây”) và điều trong vòng kiểm soát của nàng (“trái tim thiếp đây”)
?
Từ vai trò của thần A-nhi trong văn hóa
Ấn Độ, có thể hiểu như thế nào về quyết định bước lên giàn hỏa và những lời cầu khấn thần A-nhi của nàng Xi-ta ?
4 Tìm chi tiết mang tính chất huyền
thoại trong đoạn trích này và phân tích ý
nghĩa của chi tiết đó ?
4 Phân tích thái độ của công chúng khi chứng kiến Xi-ta nạp mình cho lửa Cảm nghĩ của anh chị trước cảnh Xi-ta bước vào lửa
5 Tìm hiểu nghệ thuật thể hiện tâm lí,
tính cách nhân vật của tác giả trong đoạn
trích ?
Do kết quả cần đạt cho cùng một bài học ở hai sách có khác nhau nên hệ thống câu hỏi hướng
dẫn học bài ở sách Ngữ văn 10 khác sách Ngữ văn 10 nâng cao Số lượng câu hỏi ở sách Ngữ văn 10 ít hơn Ngữ văn 10 nâng cao, nhưng ở sách Ngữ văn 10 một câu hỏi lại có từ hai đến ba vấn đề phải trả lời còn ở sách Ngữ văn 10 nâng cao mỗi một câu chỉ hỏi một vấn đề Sách Ngữ văn 10 không có câu
hỏi về nghệ thuật của đoạn trích mặc dù yêu cầu cần đạt của bài học là giúp HS thấy được nghệ thuật
thể hiện nhân vật của sử thi Ra-ma-ya-na Trong bốn câu hỏi ở sách Ngữ văn 10, hình thức hỏi của ba câu đầu là câu hỏi trắc nghiệm, có kèm theo cách hỏi phân tích Mức độ hỏi ở sách Ngữ văn 10 dễ hơn sách Ngữ văn 10 nâng cao Với hai bảng câu hỏi khác nhau này GV có thể tham khảo, so sánh, gia
công thêm tuỳ theo đối tượng HS, trình độ nhận thức chung của lớp học để xây dựng hệ thống câu hỏi dẫn dắt HS tìm hiểu kiến thức bài học một cách tốt nhất
Trong bộ sách Văn học 10 chú thích từ ngữ được xếp thành một phần riêng ngay sau phần tác
phẩm; còn ở sách Ngữ văn 10 từ ngữ cần chú thích được ghi ở cuối mỗi trang để người đọc dễ theo dõi
Trang 32khi cần tra cứu từ ngừ khó Sách Ngữ văn 10 và Ngữ văn 10 nâng cao khác nhau ở số lượng từ ngữ cần chú thích và mức độ chi tiết của nội dung được chú thích Chẳng hạn, ở đoạn trích Chiến thắng Mtao
Mxây: sách Ngữ văn 10 có 26 từ được chú thích, sách Ngữ văn 10 nâng cao có 24 từ Từ “ché đuê”
trong sách Ngữ văn 10 được giải thích cụ thể hơn Ngữ văn 10: “Ché đuê: ché là đồ đựng (thường đựng
rượu) bằng sành, sứ, thân tròn, giữa phình to, miệng loe, có nắp đậy Người Ê-đê sử dụng nhiều loại
ché Ché đuê thuộc loại ché cao và rất quý” Sách Ngữ văn 10 nâng cao: “Ché đuê: tên một loại ché
của người Ê-đê (ché: vò ủ rượu)” Chi tiết của nội dung được chú thích có thể ở những mức độ khác nhau nhưng tránh chú thích cùng một từ lại có nội dung ngược nhau GV và HS có thể tham khảo chú thích ở cả hai bộ sách để hiểu từ khó một cách thấu đáo nhất
Hai bộ sách có nhiều điểm giống nhau nhưng cũng có nhiều điểm khác biệt Sự khác nhau đó là bình thường, do yêu cầu phân hóa chương trình bộ môn giữa các ban học khác nhau Trong quá trình
giảng dạy, GV cần tìm hiểu và đánh giá sự khác nhau đó Khi dạy chương trình Ngữ văn 10 thì có thể xem Ngữ văn 10 nâng cao như một tài liệu tham khảo và ngược lại Ngữ văn 10 là tài liệu bổ trợ cho
Ngữ văn 10 nâng cao GV cũng nên khuyến khích HS học sách Ngữ văn 10 tham khảo thêm sách Ngữ văn 10 nâng cao và ngược lại
2.3 So sánh mô hình cấu trúc bài học trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 và Ngữ văn 10 nâng cao
Như đã đề cập ở chương 1: bài học là hình thức cơ bản, chủ yếu nhất của việc tổ chức các hoạt động dạy học trong nhà trường, có liên quan trực tiếp đến việc xây dựng chương trình, biên soạn SGK
bộ môn Có thể coi, cấu trúc một bài học trong SGK như một cái khung định sẵn cho tiến trình lên lớp của GV và HS làm việc với SGK cũng dựa trên cấu trúc đó Theo Golupkov, nhà nghiên cứu phương pháp dạy học của Nga, “Mỗi bài học văn đều phải có một mục tiêu xác định để mở rộng kiến thức và rèn luyện cho học sinh một kĩ năng nhất định, để nâng học sinh lên một trình độ phát triển văn học mới.” [DTTL 4, tr.4] Mục tiêu bài học và cấu trúc bài học - đó là những yếu tố quan trọng nhất để GV dựa vào đó xây dựng bài giảng và xác định phương pháp dạy học
2.3.1 Cấu trúc bài học đọc văn
Cấu trúc bài đọc văn trong sách Ngữ văn 10 và Ngữ văn 10 nâng cao được xây dựng như sau :
Tên văn bản, tên tác giả: Ngữ văn 10 và Ngữ văn 10 nâng cao đều có phần này Nếu tên bài học của chương trình Ngữ văn bậc THCS được ghi bằng số thứ tự (mỗi bài bao gồm cả ba phân môn
Văn học, Tiếng Việt và Làm văn) thì mỗi bài học trong SGK Ngữ văn 10 và Ngữ văn 10 nâng cao đều
nêu tên văn bản đọc - hiểu và tên tác giả Nếu là văn bản dịch thì ghi tên dịch sau đó nêu tên nguyên văn Tên dịch giả được ghi sau phần văn bản
Ví dụ: sách Ngữ văn 10, tập 1 trang 143:
TẠI LẦU HOÀNG HẠC TIỄN MẠNH HẠO NHIÊN ĐI QUẢNG LĂNG
Lí Bạch (Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng)
Trang 33 Kết quả cần đạt: nêu những yêu cầu HS cần đạt về kiến thức và kĩ năng qua bài học Tuy
mục Kết quả cần đạt viết ngắn gọn nhưng đấy là đích người dạy buộc phải đạt tới Trong mục này chủ yếu chỉ ra hai điểm cần đạt là nội dung và nghệ thuật Về nghệ thật, bám sát đặc trưng thể loại Chẳng hạn, Kết quả cần đạt bài Tấm Cám, về nội dung là “Hiểu được cuộc đấu tranh giữa thiện và ác, ước mơ
thiện thắng ác, tinh thần lạc quan và nhân đạo của nhân dân thể hiện trong truyện”; về nghệ thuật là
“Thấy được nghệ thuật sử dụng yếu tố kì ảo và lối kể chuyện hấp dẫn tạo nên giá trị nghệ thuật đặc sắc của truyện Tấm Cám nói riêng và truyện cổ tích thần kì nói chung”
Cả hai bộ sách Ngữ văn 10 và Ngữ văn 10 nâng cao đề có mục Kết quả cần đạt và đều được trình bày dưới hình thức đóng khung Riêng cấu trúc bài đọc thêm không có mục Kết quả cần đạt Kết
quả cần đạt có tính bắt buộc Đó là chuẩn chung mà mỗi HS phải đạt được qua mỗi bài học Kết quả cần đạt có vai trò như là những chỉ dẫn giúp GV và HS có được con đường tiếp nhận văn bản - tác phẩm một cách khoa học đúng đắn nhất Do đó, trước khi soạn giảng, GV cần nghiên cứu kĩ mục này
GV cũng cần hướng dẫn HS phải biết trước mục đích của môn học, bài học trong SGK Khi hướng dẫn
HS soạn bài, học bài GV nên hướng HS đến yêu cầu cần đạt mà SGK đã đặt ra Yêu cầu này không chỉ giúp HS có hướng đi đúng khi đọc - hiểu văn bản mà còn nhằm tập luyện cho HS thói quen làm bất cứ việc gì cũng cần phải biết mục đích của việc làm
Ảnh tác giả: phần lớn các tác giả có trong sách đều có ảnh chân dung hoặc ảnh tư liệu liên
quan đến tác giả và tác phẩm đó Sách Ngữ văn 10 nâng cao có 5 ảnh chân dung, tượng tác giả (ảnh
chân dung các tác giả Lí Bạch, Đỗ Phủ, Ba-sô, Nguyễn Trãi, ảnh tượng Nguyễn Du) và 50 ảnh tư liệu
(tập một có 28 ảnh tập hai có 22 ảnh) Sách Ngữ văn 10 có (ảnh tượng Nguyễn Bỉnh Khiêm, tranh chân
dung các tác giả Lí Bạch, Ba-sô, Nguyễn Trãi) và 15 ảnh tư liệu (tập một có 9 ảnh, tập hai có 6 ảnh)
Các ảnh tư liệu chủ yếu nhằm minh họa cho văn bản đọc - hiểu, chẳn hạn bài đọc thêm Thề nguyền trang 144 sách Ngữ văn 10 nâng cao tập hai có tranh “Kiều gảy đàn trong đêm tâm tình với Kim Trọng” của Trần Văn Cẩn; bài Uy-lít-Xơ trở về trang 51 sách Ngữ văn 10 tập một có tranh minh họa
“Pê-nê-lốp vui sướng nhận ra chồng mình” (Tranh minh họa cuốn Ô-đi-xê xuất bản tại Pa-ri, 1996)
Tiểu dẫn: nêu ngắn gọn về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà văn; tóm tắt nội dung của những tác phẩm dài mà bài đọc chỉ là đoạn trích; nêu ngắn gọn xuất xứ của đoạn trích và chỉ ra thể loại
tác phẩm Ví dụ, về bài Hồi trống Cổ Thành (trích Tam quốc diễn nghĩa), phần Tiểu dẫn SGK Ngữ văn
10, trang 74, tác giả biên soạn cho biết tác giả “La Quán Trung (1330 - 1400 ?) tên La Bản, hiệu Hồ
Hải tản nhân, người vùng Thái Nguyên thuộc tỉnh Sơn Tây cũ Ông lớn lên vào cuối thời Nguyên đầu thời Minh, tính tình cô độc, lẻ loi, thích một mình ngao du đây đó Khi Minh Thái Tổ đánh đuổi được
quân Mông Cổ, thống nhất đất nước, ông chuyên tâm sưu tầm và biên soạn dã sử”; về tác phẩm, phần
Tiểu dẫn chỉ ra thời điểm tác phẩm ra đơi: “Tam quốc diễn nghĩa ra đời vào đầu thời Minh (1368 -
1644)”; về giá trị nội dung: “Tam quốc diễn nghĩa phơi bày cục diện chính trị Trung Hoa mà đường
nét nổi bật là “cát cứ phân tranh”, cá lớn nuốt cá bé, chiến tranh liên miên, nhân dân đói khổ, điêu linh
Trang 34Trong một thời kì như vậy, nhân dân mong muốn hòa bình, ổn định, thống nhất Nguyện vọng đó được gửi gắm vào một triều đình có ông vua biết thương dân, có văn võ bá quan biết thực hiện đường lối
“nhân chính””; về xuất xứ: “Đoạn trích thuộc hồi 28, trước đó ba anh em Lưu, Quan, Trương náu mình
dưới trướng Tào Tháo Hiểu được bản chất gian hùng của Tào Tháo, họ tìm cách bỏ đi Tháo cho quân đuổi đánh ba anh em thất tán mỗi người mỗi ngả Quan Công vì phải hộ tống hai chị dâu (vợ Lưu Bị) nên tạm hàng Tào Tháo với điều kiện hàng Hán chứ không hàng Tào (vua Hán đang bị Tào khống chế); hễ biết tin anh ở đâu là sẽ đi ngay Tào Tháo tìm cách thu phục Quan Công: ba ngày một tiệc nhỏ, năm ngày một tiệc lớn, lại ban thưởng chức tước, vàng bạc, mĩ nữ,… Nhưng Quan Công “thân tại Tào doanh, tâm tại Hán” - vừa nghe tin Lưu Bị đang ở bên Viên Thiệu là lập tức trả hết ấn tín, vàng bạc, châu báu, lên ngựa đi tìm anh Trên đường đi, bị các tướng Tào ngăn cản, Quan Công vung long đao chém luôn sáu tướng, vượt năm cửa quan Đến Cổ Thành, gặp Trương Phi, vui mừng khôn xiết Nào ngờ…
Khi học đoạn trích GV có thể giúp HS nắm vị trí của đoạn trích và tóm tắt nội dung tác phẩm bằng cách khuyến khích HS đọc trước toàn bộ tác phẩm và tự tóm tắt tác phẩm thay vì chỉ đọc SGK Nắm vững vị trí đoạn trích và tóm tắt nội dung những tác phẩm dài giúp HS tiếp thu bài học một cách liền mạch có hệ thống
Phần “Tiểu dẫn” như là một sự chuẩn bị cho HS trước khi bước vào phân tích văn bản đọc - hiểu Đó là những tư liệu có liên quan đến tác phẩm, trang bị cho HS cái nhìn sơ bộ về tác phẩm
Chẳng hạn, phần “Tiểu dẫn” bài Đọc Tiểu Thanh kí của Nguyễn Du, cả hai bộ sách đều giới thiệu về
cuộc đời nàng Tiểu Thanh Chính yếu tố kiến thức này giúp cho HS hiểu vì sao Nguyễn Du viết bài thơ
Đọc Tiểu Thanh kí Hoàn cảnh sáng tác đó tạo nên giá trị tinh thần của bài thơ Khi đọc - hiểu bài thơ
phải trả nó về với hoàn cảnh sáng tác
Cùng một văn bản đọc - hiểu nhưng nội dung phần “Tiểu dẫn” ở sách Ngữ văn 10 và Ngữ văn
10 nâng cao có thể không hoàn toàn giống nhau Để có tư liệu đầy đủ hơn trong quá trình giảng dạy,
GV nên đọc cả hai bộ sách Ví dụ: nội dung phần “Tiểu dẫn” cho bài Uy-lít-xơ trở về ở sách Ngữ văn
10 nâng cao cung cấp thêm thông tin về Sử thi I-li-át và nối tiếp câu truyện trong I-li-át là Sử thi
Ô-đi-xê Sự nối tiếp của hai thiên sử thi này tạo nên sự trọn vẹn cho hình tượng người anh hùng lí tưởng đẹp
về sức mạnh thể chất và sức mạnh trí tuệ
Các bài về tác giả và tác phẩm như bài Nguyễn Trãi hoặc Truyện Kiều của Nguyễn Du không có phần Tiểu dẫn Để giúp hiểu phần Tiểu dẫn một cách sâu sắc hơn, cuối mỗi bài học trong sách Ngữ văn
10 nâng cao có thêm phần Tri thức đọc - hiểu
Như vậy, phần tiểu dẫn sẽ cung cấp ngắn gọn nhưng đầy đủ về tác giả, tác phẩm, nội dung, thể loại (xuất xứ nếu là đoạn trích) văn bản phải soạn giảng Do đó, sau khi nắm được Kết quả cần đạt, GV phải đọc kĩ Tiểu dẫn, qua đó nắm bắt những thông tin quan trọng nhất về văn bản
Trang 35 Văn bản: hệ thống văn bản của chương trình Ngữ văn 10 và Ngữ văn 10 nâng cao vừa có sự
kế thừa chương trình Văn học 10 vừa có sự thay đổi Hệ thống văn bản mới phục vụ cho việc giảng
dạy đọc - hiểu theo thể loại
Văn bản được nêu dưới hai hình thức, chữ in nhỏ là phần dành cho HS đọc ở nhà, không cần đi
sâu phân tích và phần chữ lớn dùng để dạy đọc - hiểu trên lớp Chẳng hạn văn bản Uy-lít-xơ trở về có hai đoạn ngắn được in chữ nhỏ: “Sau khi Uy-lít-xơ chiến thắng… Nhưng Pê-nê-lốp không tin” và “Uy-
lít-xơ bảo mọi người đi tắm rửa… Uy-lít-xơ cũng đi tắm”
Nếu là văn bản Nôm, Hán gặp những chữ có nhiều cách phiên âm, người biên soạn đã chọn
cách phiên âm phù hợp với nội dung toàn văn bản Như bài thơ chữ Nôm Cảnh ngày hè của Nguyễn Trãi, câu 4: “Hồng liên trì đã tịn mùi hương” hay “đã tạn mùi hương”, “đã tiễn mùi hương” ? Người biên soạn chọn cách phiên âm là “tiễn” với nghĩa là đang tỏa ra (sách Văn học 10 chọn cách phiên âm
“tịn” với ý nghĩa hết mùi hương) Câu 1 bài thơ chữ Hán Đọc Tiểu Thanh kí “Tây hồ hoa uyển tẫn thành khư” hay “tận thành khư” ? Người biên soạn chọn cách phiên âm là “tẫn” với ý nghĩa biến đổi
kéo dài mất dần hình ảnh
Những bài thơ chữ Hán, SGK cung cấp phần nguyên âm toàn bài, rồi dịch nghĩa bài thơ và đưa
ra bản dịch thơ Chọn được bài dịch thành thơ vừa sát nghĩa từng chữ, từng câu vừa giữ đúng niêm luật lại vừa hay là rất khó Bởi vậy, tác giả SGK chỉ chọn bài dịch hay nhất trong các bản dịch thành thơ Trong nhiều bài thơ Đường, SGK cung cấp hai bản dịch thơ khác nhau của cùng một tác phẩm gốc
(Hoàng Hạc lâu - Thôi Hiệu qua bản dịch của Tản Đà và Khương Hữu Dụng, Khuê oán - Vương Xương Linh qua bản dịch của Tản Đà và Nguyễn Khắc Phi, Điểu minh giản - Vương Duy qua bản dịch
của Ngô Tất Tố và Tương Như) Khi dạy những bài thơ chữ Hán GV cần đạt câu hỏi yêu cầu HS so sánh đối chiếu bản dịch thơ với bản phiên âm và bản dịch nghĩa GV gợi cho HS phân tích những thành công, hạn chế riêng của từng bản dịch để hiểu sâu hơn tác phẩm gốc đồng thời cảm nhận hết cái hay riêng của mỗi bản dịch
Những bài biền văn hoặc văn xuôi như Phú, Cáo, Văn bia, Tựa, Sử kí SGK chỉ đưa phần dịch nghĩa không đưa phần phiên âm vào
Hướng dẫn học bài: nêu hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS đọc - hiểu, trung bình khoảng 4 câu
với bài đọc văn ngắn (1 tiết) và 5 câu với văn bản dài (2-3 tiết) Câu hỏi Hướng dẫn học bài mang tính
hệ thống và bám sát Kết quả cần đạt Hệ thống câu hỏi đa dạng : có câu hỏi chỉ để gợi mở hoặc ôn lại
kiến thức đã học, có câu hỏi đi vào nội dung, có câu hỏi đi vào nghệ thuật,…
Trong hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS đọc - hiểu, SGK chú ý tích hợp ba phân môn của Ngữ văn là Văn học, Tiếng Việt và Làm văn Kiến thức về các biện pháp tu từ, về các loại văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm,… mà HS đã học trong phần Tiếng Việt, Làm văn được huy động để hiểu các tác
phẩm văn học Ví dụ: trong sách Ngữ văn 10 nâng cao, bài Hồi trống Cổ Thành, câu 4 “Hãy phân tích
tính cách của nhân vật Trương Phi và Quan Công được thể hiện qua đoạn trích Những biện pháp nào
Trang 36được dùng để khắc họa tính cách nhân vật Trương Phi ?” Đây là câu hỏi để HS tìm hiểu sự lựa chọn các chi tiết tiêu biểu, cách miêu tả nhân vật trong văn bản tự sự Nói cách khác câu hỏi trên đã dùng những kiến thức của phân môn Làm văn để tìm hiểu hình tượng nhân vật trong một đoạn trích của
phân môn văn học Bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, câu hỏi 2 và 3 “Hãy chỉ ra yếu tố ngoại
cảnh thể hiện tâm trạng người chinh phụ và ý nghĩa diễn tả nội tâm của các yếu tố đó”, “Theo anh (chị), những dấu hiệu nào cho thấy nỗi cô đơn của người chinh phụ ?” Đây là các câu hỏi vận dụng
kiến thức Làm văn về cách miêu tả và biểu cảm để tìm hiểu ý nghĩa của đoạn trích Bài Thơ hai - cư,
câu 2 cho bài 1 “Tác giả đã dùng cách nào để tạo được tính hàm súc cao của bài thơ ?” Để trả lời câu hỏi này, HS phải vận dụng kiến thức tiếng Việt về tính hàm súc Qua câu hỏi này, HS hiểu được đặc điểm thơ hai - cư hiểu ý nghĩa và cảm nhận được vẻ đẹp trong những bài thơ hai - cư
Trong hệ thống câu hỏi hướng dẫn HS đọc - hiểu, SGK chú ý kết hợp cách tiếp cận thi pháp học
và cách tiếp cận lịch sử - xã hội học, cách tiếp cận văn hóa học Tác phẩm văn chương như một nghệ thuật ngôn từ, đồng thời nó được nhìn nhận như một phương diện văn hóa dân tộc, phản ánh đời sống con người của dân tộc đó Tri thức đời sống xã hội, lịch sử, triết học, tôn giáo… như là cái “vốn” trong
đọc - hiểu tác phẩm Chẳng hạn, trong sách Ngữ văn 10 nâng cao, bài Ra-ma buộc tội câu hỏi 4 “Tìm chi tiết mang tinh chất huyền thoại trong đoạn trích này và phân tích ý nghĩa của chi tiết đó”; bài Ca
dao than thân trong sách Ngữ văn 10 nâng cao, câu hỏi 3 “Phân tích tình cảnh con cò trong bài ca dao
Giải thích nghĩa của cụm từ “Tôi có lòng nào” và hình ảnh ẩn dụ “nước trong”, “nước đục” Tâm sự
của con cò thể hiện điều gì ? Con cò thường là biểu tượng của ai ? Vì sao ?; câu hỏi 5 bài Hưng Đạo
Đại Vương Trần Quốc Tuấn, sách Ngữ văn 10 “Chi tiết về lòng tin của dân chúng vào sự hiển linh của
Hưng Đạo Vương, đặc biệt là hình ảnh “tráp đựng kiếm có tiếng kêu” có ý nghĩa gì ?
a) Cho thấy tín ngưỡng và những tập tục thờ cúng của nhân dân ta thời xưa
b) Cho thấy lòng cảm phục và ngưỡng mộ của nhân dân đối với Hưng Đạo Vương sâu sắc đến mức họ đã thần thánh hóa ông, cho rằng ông đã trở thành thần linh để giúp dân, giữ nước
c) Chỉ là những truyền thuyết để làm nổi bật tấm lòng thương dân yêu nước và khí phách anh hùng của ông những nét đẹp đã trở thành bất tử trong lòng người
d) Ý kiến khác
Các câu hỏi vừa nêu trên được xây dựng từ góc độ thi pháp học (đi từ nghệ thuật đến nội dung)
và cách tiếp cận văn hóa học HS phải chỉ ra được những đặc điểm nghệ thuật đồng thời kết hợp văn hóa mỗi dân tộc để hiểu được chi hình ảnh, chi tiết trong mỗi đoạn trích hay tác phẩm Ngoài những
câu hỏi trong mục Hướng dẫn học bài, GV cần đầu tư thêm hệ thống câu hỏi trong bài soạn giảng phù
hợp với trình độ nhận thức chung của lớp học Khi lên lớp, GV cần biết phối hợp nhiều loại câu hỏi, chọn câu hỏi nào đi sâu, câu hỏi nào GV giảng, câu hỏi nào HS thảo luận, trả lời,…
Ngoài phần Hướng dẫn học bài, sách Ngữ văn 10 nâng cao có thêm Bài tập nâng cao để HS
làm quen với một số thao tác nghiên cứu cơ bản Đây là phần không thể thiếu đối với HS học chương
Trang 37trình nâng cao Bài tập nâng cao mang tính tổng hợp sau khi đã học xong toàn bài Để làm được bài
tập kiểu này, HS phải biết vận dụng toàn bộ kiến thức đã học vào kỹ năng thực hành trình bày một vấn
đề liên quan đến bài học Chẳng hạn, sau khi học xong bài Tựa “Trích diễm thi tập”, HS có Bài tập
nâng cao “Đọc Lời nói đầu của một quyển sách mà anh (chị) có Hãy nhận xét lời nói đầu đó theo yêu
câu một bài tựa” hay yêu cầu sau khi học xong các đoạn trích trong Truyện Kiều và bài Nguyễn Du là
“Qua các bài học về Truyện Kiều và tác giả Nguyễn Du, hãy nêu những đặc điểm về chủ nghĩa nhân đạo của nhà thơ” GV cần gợi ý giúp HS thực hiện tốt phần Bài tập nâng cao
Riêng những bài đọc thêm và bài Nguyễn Trãi không có phần Bài tập nâng cao
Ngoài các phần vừa nêu trên, cấu trúc bài học đọc văn trong sách Ngữ văn 10 có thêm phần Ghi
nhớ và Luyện tập, sách Ngữ văn 10 nâng cao có thêm phần Tri thức đọc - hiểu
Ghi nhớ: nêu nội dung chính của bài học mà HS phải ghi nhớ Phần Ghi nhớ được trình bày
dưới hình thức đóng khung Nội dung phần Ghi nhớ thường là chủ đề của tác phẩm, nội dung chính và nghệ thuật tiêu biểu của tác phẩm Chẳng hạn, Ghi nhớ cho bài Chuyện chức phán sự đền Tản Viên gồm hai ý chính: nội dung là “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên đề cao tinh thần khảng khái, cương
trực, dám đấu tranh chống lại cái ác trừ hại cho dân của Ngô Tử Văn, một người trí thức nước Việt; đồng thời thể hiện niềm tin công lí, chính nghĩa nhất định sẽ chiến thắng gian tà”, nghệ thuật là “Bằng nghệ thuật kể chuyện lôi cuốn, nhân vật được xây dựng sắc nét, tình tiết và diễn biến truyện giàu kịch
tính, truyện đã để lại ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đọc” Phần Ghi nhớ được biên soạn ngắn
gọn, dễ hiểu giúp HS nắm được cốt lõi toàn bài học Sau mỗi bài học, GV hướng dẫn HS tự đúc kết
phần Ghi nhớ
Cấu trúc bài đọc thêm trong sách Ngữ văn 10 không có phần Ghi nhớ Tuy nhiên, cuối mỗi bài
học GV nên tổng kết nội dung bài học một cách ngắn gọn giúp HS nắm kiến thức cơ bản của bài
Luyện tập: đây là phần cuối trong cấu trúc bài học đọc văn của sách Ngữ văn 10 Sách Ngữ
văn 10 nâng cao không có phần này vì đã có Bài tập nâng cao Số lượng bài tập phần này không nhiều
trung bình là hai câu, nhiều nhất là ba câu Các bài tập của phần Luyện tập khá đa dạng: thuộc lòng một
số câu hoặc toàn bộ tác phẩm, có bài phân tích nội dung một đoạn ngắn, lập sơ đồ kết cấu của tác phẩm, sưu tầm, tóm tắt truyện, viết kết thúc khác cho truyện, nêu cảm nhận chung về tác phẩm hoặc nhân vật, so sánh một đoạn thơ với tác phẩm đang học, trình bày ý kiến của cá nhân về một vấn đề của văn học hoặc của đời sống,… Phần lớn những bài tập này nhằm phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của HS, rèn luyện tư duy tự nghiên cứu, nâng cao năng lực sáng tạo cho HS GV cần hướng
dẫn HS hoàn thành tốt phần Luyện tập và có kế hoạch kiểm tra thường xuyên công việc của HS
Những bài giới thiệu về tác giả Nguyễn Trãi, tác phẩm Truyện Kiều, các đoạn trích trong Truyện
Kiều và các bài về văn học sử không có phần Luyện tập
Tri thức đọc - hiểu: gồm một số khái niệm thể hiện rõ đặc trưng thể loại, ngôn ngữ và những hiểu biết về lịch sử, chính trị, văn hóa cơ bản của các thời kì văn học khác nhau
Trang 38Trong sách Ngữ văn 10 nâng cao, phần này được đặt ở cuối cùng của bài học Có nhiều tri thức
đọc - hiểu được cung cấp nhằm hình thành và rèn luyện năng lực và phương pháp đọc văn theo thể loại cho HS Mỗi thời kì, mỗi thể loại những cách tổ chức và xây dựng văn bản nghệ thuật mang tính đặc trưng riêng biệt Chẳng hạn, muốn đọc - hiểu các văn bản văn học dân gian HS cần phải nắm một số
khái niệm như: Sử thi Tây Nguyên, Đặc điểm của sử thi anh hùng, Sử thi Ấn Độ, Truyện cổ tích, Cốt
truyện, Truyện cười, Truyện thơ, Ca dao, Sân khấu chèo, … Để đọc - hiểu các văn bản phần văn học
trung đại, HS cần chú ý các khái niệm như : Quan niệm của nhà nho về con người, Thể thơ thất ngôn chen lục ngôn, Luật thơ Đường, Cách biểu hiện chủ thể trữ tình trong thơ trung đại, Thơ Hai-cư, Phú, Cáo, Văn biền ngẫu, Bình sử, Văn bia, Tựa, Sử, Truyện kí, Tiểu thuyết chương hồi, Tính cách văn học, Ngâm khúc, Thơ song thất lục bát, Truyện nôm, Độc thoại, Độc thoại nội tâm, Chủ nghĩa nhân đạo…
Trong mỗi bài học, HS được cung cấp một số phạm trù như là công cụ để khám phá tác phẩm
văn học theo đặc trưng thể loại Ví dụ: ở bài Phẩm bình nhân vật lịch sử (trích Đại Việt sử kí toàn thư), phần Tri thức đọc hiểu có 2 nội dung:
Về tri thức Bình sử, SGK chỉ ra nguồn gốc: “Bình sử là một mục trong các tác phẩm sử thời
xưa, khởi đầu từ thới Tống (Trung Quốc) ghi lại sự đánh giá của sử gia đối với các sự kiện và nhân vật
lịch sử”; giới thiệu về Đại Việt sử kí toàn thư soạn giả viết: “Trong Đại Việt sử kí toàn thư, Lê Hưu có
31 lời bình, bàn về các nhân vật lịch sử liên quan đến sự hưng vong của đất nước Lê Văn Hưu đã gửi gắm tình yêu nước thương dân và lòng tự hào dân tộc vào lời bình của mình Qua 31 lời bình còn lại, ta thấy rõ khí phách cũng như quan điểm khen chê thẳng thắn của tác giả…”; tính chất của thể văn bình
sử “Văn bình sử mang tính chất nghị luận, bộc lộ trực tiếp quan điểm của tác giả Ngôn ngữ trong văn bình sử ngắn gọn, sắc sảo và đòi hỏi người cầm bút phải có dũng khí”
Về bốn sự kiện lịch sử trong bài học là: về Trưng Vương “Hai Bà Trưng nổi dậy đánh đuổi Tô Định, lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam, tự lập làm vua năm 40”; về Tiền Ngô Vương “Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, bắt sống Lưu Hoằng Thao, mở ra một kỉ nguyên độc lập cho dân tộc năm 938”; về Đinh Tiên Hoàng “Đinh Bộ Lĩnh dẹp yên mười hai sứ quân, năm 986 lên ngôi hoàng đế, thiết lập triều đình mới”; về việc ban thưởng “Năm 1129, tháng 2, Nguyễn Lộc dâng hươu trắng, được thăng chức Đại liêu ban; tháng 3, Nguyễn Tử Khắc dâng hươu trắng, được phong tước Minh tự, vì Lí thần Tông cho đó là điềm lành của đất nước”
Các bài về tác gia không có phần Tri thức đọc hiểu
Tri thức đọc - hiểu như những tư liệu tham khảo hữu ích giúp GV và HS nắm vững hơn hiểu
sâu hơn các văn bản đọc hiểu theo từng loại thể Trước khi soạn giảng GV cần nghiên cứu và tận dụng những tri thức này mới có thể đi đúng hướng và khai thác được sâu sắc ý nghĩa của văn bản Trong quá
trình giảng dạy, GV phải hướng dẫn HS đọc, tự nghiên cứu Tri thức đọc - hiểu coi đây như một hệ
thống công cụ đọc - hiểu cần phải trang bị cho HS
Trang 39Do đối tượng học khác nhau nên cấu trúc và cách biên soạn của hai bộ sách Ngữ văn 10 và Ngữ
văn 10 nâng cao có khác nhau Trong mỗi bộ sách, do tính chất các bài học khác nhau, nên nhìn chung
mô hình và cấu trúc cũng khác nhau Cấu trúc bài học đọc văn trong sách Ngữ văn 10 và Ngữ văn 10
nâng cao đã có những bước cải tiến đáng kể, khắc phục được những hạn chế của cấu trúc bài giảng văn
trong sách Văn học 10 Cấu trúc bài đọc văn trong SGK mới đã tạo điều kiện để HS được làm việc, phát huy tính tích cực, chủ động ttrong học tập, đồng thời giúp HS tự kiểm tra đánh giá kết quả làm việc của mình
Có thể tóm tắt cấu trúc bài đọc văn như sau:
Sách Ngữ văn 10 Sách Ngữ văn 10 nâng cao
Tên văn bản, tên tác giả
Tri thức đọc - hiểu
2.3.2 Cấu trúc bài học Tiếng Việt và Làm văn
Bài học Tiếng Việt và Làm văn có hai loại: bài học lí thuyết và bài học thực hành Dù lí thuyết hay thực hành thì bài học đều có nội dung cho HS luyện tập, qua luyện tập để củng cố lí thuyết vừa học Cấu trúc bài học lí thuyết và bài học thực hành của hai phân môn Tiếng Việt và Làm văn có nhiều
phần tương đồng nhau Cấu trúc này cũng tương tự nhau giữa hai bộ sách Ngữ văn 10 và Ngữ văn 10
nâng cao
2.3.2.1 Bài học về lí thuyết
Cấu trúc bài học lí thuyết Tiếng Việt và Làm văn trong hai bộ sách Ngữ văn 10 và Ngữ văn
10 nâng cao thường theo các mục sau :
Tên bài học: tên bài học Tiếng Việt và Làm văn hàm chứa nội dung toàn bài Bài học lí thuyết là loại bài hình thành kiến thức và kỹ năng mới Nội dung của những bài này chưa được dạy hoặc chưa được đề cập một cách trực tiếp trong chương trình Ngữ văn ở THCS
Kết quả cần đạt: nêu những yêu cầu HS cần đạt được về kiến thức và kĩ năng qua bài học
Giống như mục Kết quả cần đạt trong cấu trúc bài đọc văn, Kết quả cần đạt trong cấu trúc bài
học lí thuyết Tiếng Việt và Làm văn được viết ngắn gọn, trình bày dưới hình thức đóng khung Nội
dung của mục này thường đề cập đến hai yêu cầu mà HS phải đạt được sau mỗi bài học Ví dụ 1, Kết
quả cần đạt cho bài Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (môn Tiếng Việt, sách Ngữ văn 10): về kiến thức
“Nắm được các khái niệm ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ sinh hoạt với những đặc trưng cơ
Trang 40bản của nó”; về kỹ năng “Nâng cao kỹ năng phân tích và sử dụng ngôn ngữ theo phong cách ngôn ngữ
sinh hoạt” Ví dụ 2, bài Chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu (môn Làm văn, sách Ngữ văn 10 nâng cao), nội dung Kết quả cần đạt bao gồm hai ý chính: “Hiểu được vai trò và tác dụng của sự việc, chi tiết tiêu
biểu trong một văn bản” và “Biết chọn sự việc, chi tiết tiêu biểu để thể hiện thái độ và tình cảm khi viết”
Kết quả cần đạt mang tính bắt buộc, GV và HS trước khi chuẩn bị soạn bài cần phải đọc kĩ,
hướng mọi hoạt động học tập vào Kết quả cần đạt
Nội dung bài học: trình bày một cách ngắn gọn nội dung lí thuyết của bài học
Mục tiêu của phần Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn 10 là nhằm hình thành một số kiến thức về ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng trên cơ sở những kiến thức đã có ở THCS Nâng cao kỹ năng sử dụng tiếng Việt khi nói, khi viết và năng lực phân tích, lĩnh hội văn bản khi nghe, khi đọc Bồi dưỡng tình cảm yêu quý tiếng Việt, thái độ tôn trọng và ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Nguyên tắc mục tiêu của phần Làm văn trong chương trình Ngữ văn 10 là giúp HS biết nhận diện các kiểu văn bản, biết phân tích và đánh giá các văn bản theo đặc trưng, biết tạo ra các văn bản thông dụng đã học
Với những mục tiêu trên, bài học lí thuyết Tiếng Việt và Làm văn trong hai bộ sách Ngữ văn 10
và Ngữ văn 10 nâng cao được lựa chọn, trình bày không phải dưới hình thức có sẵn mà HS phải được
làm việc, hoạt động học tập và tự rút ra kiến thức
Cùng một nội dung bài học nhưng cách khai thác vấn đề giữa sách Ngữ văn 10 và Ngữ văn 10
nâng cao tương đối khác nhau Chẳng hạn, bài Trình bày một vấn đề, SGK Ngữ văn 10, gợi ý cách
trình bày một vấn đề bằng hệ thống câu hỏi sau: bắt đầu trình bày “Bước lên diễn đàn như thế nào ? Có nên vội vàng, hấp tấp trình bày ngay không ?”, “Chào cử tọa và tự giới thiệu (nếu cần) bằng những lời
lẽ và cử chỉ nào ?”; trình bày nội dung chính “Bắt đầu nội dung thứ nhất như thế nào ?”, “Làm thế nào
để chuyển ý từ nội dung này sang nội dung khác ?”, “Người nghe có phản ứng như thế nào ? Cần điều chỉnh nội dung, cách nói và tư thế, điệu bộ của mình ra sao ?”; kết thúc “Tóm tắt, nhấn mạnh một số
ý”, “Cám ơn người nghe” Sách Ngữ văn 10 nâng cao, đưa ra các bước cần chuẩn bị để trình bày một
vấn đề với ba nội dung: xác định đề tài và đối tượng, xác định nội dung cơ bản và phạm vi tư liệu, lập
đề cương cho bài phát biểu, trình bày Hai nội dung đầu được khai thác bằng các câu hỏi Nội dung thứ
ba là những chỉ dẫn về đề cương một bài phát biểu Đề cương bài phát biểu thường gồm ba phần : mở đầu “nêu vấn đề”; nội dung cơ bản “Lần lượt trình bày những nội dung chính theo một thứ tự hợp lí Khi trình bày, kết hợp một cách hài hòa giữa dẫn chứng và lí lẽ, tư liệu và phương tiện,…”; kết thúc
“Tóm tắt các nội dung đã trình bày; khẳng định ý nghĩa, vai trò và tác dụng của vấn đề vừa trình bày;
gợi ra cho người nghe những suy nghĩ và hành động thiết thực Nhìn chung, ở bài học này sách Ngữ