1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HIỆN TRẠNG KHAI THÁC, SỬ DỤNG VÀ BIỆN PHÁP GIẢM THIỂU CÁC TÁC ĐỘNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG CHO NGÀNH THAN Ở VIỆT NAM

36 2,1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 675 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy việc tranh giành các nguồn năng lượng cónguy cơ cạn kiệt diễn ra ngày một khốc liệt trên thế giới, những việc quan tâm, tuyêntruyền, giáo dục con người sống một cách hài hòa hơn với

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM

VIỆN MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN

  

MÔN HỌC: QUẢN LÝ BỀN VỮNG CÁC NGUỒN NĂNG LƯỢNG

BÀI TIỂU LUẬN:

Tp Hồ Chí Minh, tháng 05 năm 2011

Trang 2

MỤC LỤC

Mở đầu 3

Chương I NHỮNG KHÁI NIỆM VÀ HIỂU BIẾT CHUNG VỀ THAN ĐÁ I Khái niệm chung 5

II Than đá 5

Chương II TRỮ LƯỢNG VÀ TÌNH HÌNH KHAI THÁC SỬ DỤNG THAN TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM I Trữ lượng than đá trên thế giới 7

1.1 Tình hình phân bố than trên thế giới 7

1.2 Hiện trạng sử dụng 10

II Trữ lượng than ở Việt Nam 11

2.1 Sơ lược về lịch sử khai thác than ở Việt Nam 11

2.2 Trữ lượng than ở Việt Nam 14

III Ứng dụng của than trong đời sống và sản xuất 17

IV Những tác động của việc khai thác và sử dụng than đến môi trường 20

4.1 Trong quá trình khai thác ở Việt Nam 20

4.2 Ô nhiễm môi trường trong quá trình sử dụng 25

V Giải pháp 27

5.1 Đối với các mỏ khai thác than 27

5.2 Đối với các hoạt động sử dụng than làm nhiên liệu 28

Chương III NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN I Nhận xét 33

II Kết luận 34

Tài liệu tham khảo 35

Trang 3

MỞ ĐẦU

Năng lượng có một vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống của loài người.Không kể đến năng lượng sống để tồn tại, thì bất cứ mặt nào trong đời sống của conngười cũng cần đến năng lượng Từ việc sử dụng các phương tiện đi lại, ánh sáng,nước, sửa ấm, làm mát, giải trí … đều cần dùng đến năng lượng và để đáp ứng đượcnhu cầu ngày càng cao của mình thì mỗi ngày lượng năng lượng tiêu thụ ấy càng lúccàng tăng cao vì vậy có thể nói, khủng hoảng năng lượng đang làm cho cuộc sống củacon người khủng hoảng theo, bên cạnh đó nó cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhiềulĩnh vực trong xã hội từ vấn đề quân sự đến kinh tế, ngoại giao, môi trường … đều bắtnguồn từ các cuộc khủng hoảng này Tuy việc tranh giành các nguồn năng lượng cónguy cơ cạn kiệt diễn ra ngày một khốc liệt trên thế giới, những việc quan tâm, tuyêntruyền, giáo dục con người sống một cách hài hòa hơn với việc sử dụng năng lượnghợp lý và hiệu quả lại chưa được quan tâm, chú trọng điều đó không thể khiến cho cácvấn đề năng lượng được giải quyết ổn thỏa, Vì vậy trong tương lai điều quan trọngcủa toàn thế giới chính là hướng xã hội loài nguồi tới ý thức sử dụng một cách bềnvững các nguồn năng lượng trên trái đất

Trong quá trình phát triển của con người từ ngàn xưa thì một trong những loạinăng lượng được sử dụng phổ biến nhất, lâu đời nhất chính là nguyên liệu hóa thạch

mà trong đó than đá đứng thứ hai chiếm khoảng 26,6% trong lượng nguyên liệu hóathạch trên trái đất và cũng đóng góp một phần khá quan trọng trong đời sống conngười Than đóng góp một phần rất lớn vào nguồn năng lượng được tạo ra trên thếgiới, hàng năm than cung cấp 23% nguồn năng lượng chính toàn cầu và trong lượngthan được sử dụng thì có tới 60% là phục vụ cho sản xuất điện và chiếm 38% lượngđiện được sản xuất ra trên toàn cầu Đồng thời, than đóng một vai trò quan trọng trongsản xuất thép, chiếm 70% sản lượng thép được sản xuất trên thế giới Than được tiêuthụ trên thế giới được phân chia như sau: Các nước thuộc OECD chiếm 51% trongtổng lượng tiêu thụ than cứng, các nước có nền kinh tế chuyển đổi là 9% và 40% là tỉ

lệ của các nước đang phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà than đá manglại thì những ảnh hưởng tiêu cực của nó đến môi trường cũng ngày một lớn, ngoài làmột nguồn năng lượng không có khả năng tái tạo, việc khai thác quá mức than cũngnhư các nguồn năng lượng hóa thạch còn là nguyên nhân có thể làm rỗng đàn vỏ tráiđất và khiến cho cường độ các cuộc động đất có thể mạnh hơn và sử dụng than tronghoạt động sản xuất cũn là nguồn phát sinh CO2 ô nhiễm môi trường, hàng năm cũng

Trang 4

có hàng trăm vụ tai nạn lao động chết người trên trái đất vì việc khai thác than không

an toàn …

Việt Nam là một trong những quốc gia có trữ lượng than lớn trên thế giới, vớiước tính có khoảng 4 tỷ tấn than Antraxit Với trữ lượng than phân bố chủ yếu là ở độsâu dưới 500m trong khi lượng than ở các mỏ lộ thiên lại rất nhỏ, khoảng 300 triệutấn nên gặp không ít khó khăn trong việc khai thác Hơn nữa, Việt Nam có trữ lượngkhoảng 17 tỷ tấn than nâu thích hợp cho việc sử dụng trong các ngành công nghiệpnồi hơi, nhưng phần lớn lượng than này nằm dưới Đồng bằng châu thổ sông Hồngnên số than này sẽ rất khó khăn trong việc khai thác do việc ảnh hưởng đến diện tíchđất nông nghiệp và ảnh hưởng của lượng nước ngầm cao Than Antraxit nằm chủ yếu

ở vùng mỏ Quảng Ninh còn than nâu chủ yếu tập trung ở Đồng bằng sông Hồng.Ngành than là một bộ phận của nền kinh quốc dân thống nhất, phát triển củangành than phải đặt trong sự phát triển của các ngành liên quan và đặt trong tổng thểphát triển của nền kinh tế và xã hội Ngành than là một trong những ngành côngnghiệp mang tính chất hạ tầng và là nguồn cung cấp đầu vào phục vụ cho nhiều ngànhkinh tế khác Mang tính chất là một ngành công nghiệp hạ tầng nên ngành cần có tínhchất đặc thù cho cả đầu tư phát triển nội ngành và cả con người, đảm bảo cho ngànhthan Việt Nam phát triển một cách bền vững, chắc chắn và đồng bộ với các ngành nóphục vụ

Vì vậy, việc nghiên cứu về than đá, về các vấn đề như trữ lượng, lợi ích, tác hạicủa than đá sẽ giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan và đưa ra những dự báo chính xáccũng như việc quản lý, sử dụng một cách có tính toán, khoa học, hợp lý và bền vữnghơn đối với nguồn năng lượng hóa thạch này trong tương lai, ngoài ra việc tìm ra cácgiải pháp phù hợp vấn đề quản lý, sử dụng than đá hay những giải pháp thay thế khácđều cần có sự hiểu biết về bản thân nó, đề tài “ Hiện trạng khai thác, sử dụng và cácbiện pháp giảm thiểu những tác động đến môi trường của ngành than ở Việt Nam”được lựa chọn để đi sâu tìm hiểu trong yêu cầu tiểu luận của môn “ Quản lý và sửdụng bền vững nguồn năng lượng”

Trang 5

Chương I NHỮNG KHÁI NIỆM VÀ HIỂU BIẾT CHUNG VỀ THAN ĐÁ

I Khái niệm chung:

Phát triển bền vững:

Sự phát triển trên cơ sở đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làmảnh hưởng đến việc thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai

Năng lượng hóa thạch:

Là năng lượng được sinh ra trong quá trình đốt cháy nhiên liệu hóa thạch Nhiênliệu hóa thạch chủ yếu là than đá và dầu mỏ Như chúng ta đã biết, việc tạo ra than đá

và dầu mỏ là 1 quá trình xảy ra hàng triệu năm Đó là quá trình cây cối và các chấthữu cơ khác bị vùi lấp lâu ngày phân hủy tạo nên Vậy khi đốt cháy nhiên liệu hóathạch thì sẽ xảy ra việc phát thải khí CO2, lượng CO2 này hàng triệu năm sau các loạithực vật mới hấp thụ hết để tạo sự cân bằng CO2 Người ta coi nhiên liệu hóa thạch lànhiên liệu không tái tạo

Năng lượng tái tạo:

Có nhiều dạng năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, địa nhiệt, thủy triều,năng lượng sinh ra khi đốt cháy các loại nhiên liệu như trấu, bã mía

Trang 6

II Than đá:

Khái niệm về than đá

Than đá là một loại nhiên liệu hóa thạch được hình thành ở các hệ sinh thái đầmlầy nơi xác thực vật được nước và bùn lưu giữ không bị ôxi hóa và phân hủy bởi sinhvật (biodegradation) Thành phần chính của than đá là cacbon, ngoài ra còn có cácnguyên tố khác như lưu huỳnh Than đá, là sản phẩm của quá trình biến chất, là cáclớp đá có màu đen hoặc đen nâu có thể đốt cháy được Than đá là nguồn nhiên liệusản xuất điện năng lớn nhất thế giới, cũng như là nguồn thải khí carbon dioxide lớnnhất, được xem là nguyên nhân hàng đầu gây nên hiện tượng nóng lên toàn cầu Than

đá được khai thác từ các mỏ than lộ thiên hoặc dưới lòng đất (hầm lò)

Trang 7

Chương II TRỮ LƯỢNG VÀ TÌNH HÌNH KHAI THÁC SỬ DỤNG THAN

TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

I Trữ lượng than đá trên thế giới:

1.1 Tình hình phân bố than trên thế giới:

Trữ lượng than của cả thế giới vẫn còn cao so với các nguyên liệu năng lượngkhác ( dầu mỏ , khí đốt ) Được khai thác nhiều nhất ở Bắc bán cầu , trong đó 4/5thuộc các nước sau : Hoa Kì, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Úc, Đức, Ba Lan, Canada ,sản lượng than khai thác là 5 tỉ tấn/năm

Than được dùng làm nguồn năng lượng phục vụ nhu cầu của con người từ hàngngàn năm nay, trên thế giới cũng như Việt Nam, than được dùng làm chất đốt trongsinh hoạt, là nguyên liệu phục vụ trong các ngành công nghiệp luyện kim, hóa chất,sành sứ và thủy tinh… Kể từ cuộc khủng hoảng năng lượng vào những năm thập niên

70 đến nay, nhu cầu sử dụng nguồn năng lượng thương mại không ngừng được tănglên với mức tăng khoảng 60%, trong dó 1/4 nguồn năng lượng được cung cấp từ than.Trên thực tế thì than vẫn là nguồn năng lượng hóa thạch có trữ lượng lớn nhất trongcác nguồn năng lượng hóa thạch khác như dầu mỏ, khí đốt, Uran, với trữ lượng chiếmkhoảng 68% nguồn trữ lượng của năng lượng hóa thạch Trong lòng trái đất đang cómột trữ lượng than khổng lồ mà chưa thể khai thác hết được, theo dự báo của Cơ quannăng lượng thế giới – IEA thì tổng lượng than khoáng sản của thế giới hiện nay vàokhoảng 1089 tỷ tấn và được nằm rải rác trên khắp trái đất Các quốc gia có trữ lượngthan lớn trên thế giới là Mỹ 25%, Liên Xô cũ 23%, Trung Quốc 12%, các quốc gia Ấn

Độ, Australia, Nam Phi, Đức có tổng trữ lượng chiếm 29% và phần còn lại là cácnước khác trên thế giới

Trang 8

Biểu đồ: Phân bố trữ lượng Than khoáng sản trên thế giới

Sản lượng than toàn thế giới

Năm Sản lượng (triệu tấn)

Bảng: Sản lượng than trên toàn thế giới từ năm 1950 - 2003

Nếu tính toán theo lượng tiêu thụ năng lượng năm 1999 thì dầu lửa còn đủ sửdụng trong 41 năm, khí gas thiên nhiên 62 năm, riêng than đá 230 năm Điều cần chú ý ở đây là lượng tiêu thụ năng lượng được lấy làm cơ sở tính toán lànăm 1999, không thể tính toán chính xác do nhu cầu về năng lượng trong tương lai sẽtăng nhanh với nguồn tài nguyên có hạn sẽ càng chóng làm cạn kiệt nguồn nănglượng

Nếu chỉ sử dụng năng lượng tự nhiên (tính theo lượng sử dụng nhiên liệu năm1999) thì dầu lửa còn đủ sử dụng 16,6 năm, khí gas thiên nhiên 14,9 năm, than đá 58năm; tổng cộng chỉ còn đủ sử dụng trong vòng 90 năm

Đương nhiên trong tương lai lượng tiêu thụ nhiên liệu tăng lên sẽ làm nguồnnăng lượng càng chóng cạn kiệt Số lượng tài nguyên than đá còn lại có khả năng khaithác được do BP công bố gần đây thì: nếu mức tiêu thụ vẫn trên đà giống như năm

2004 thì dầu lửa / khí thiên nhiên / than đá còn 40.5 năm / 66.7 năm / 164 năm nữa

Trang 9

Về than đá, trữ lượng xác nhận có thể khai thác căn cứ theo cách tính này đềudựa vào con số báo cáo của WEC năm 2003 là 909,6 tỷ tấn, mới đây WEC cũng đãbáo cáo bản thống kê năm 2006 Theo như vậy thì trữ lượng có thể khai thác được là847,5 tỷ tấn Nếu chia theo lượng sản xuất năm 2005 thì còn khoảng 143 năm nữa Theo báo cáo của BP statistical Review 2004, tính đến năm 2004 thì trữ lượngthan trên toàn thế giới là 984 tỷ tấn trong đó 50% than Antraxit và 50% là than nâu,chỉ có thể được trong 192 năm nữa Tiềm năng cung cấp năng lượng tự nhiên chochúng ta thấy lượng tài nguyên năng lượng hóa thạch còn tồn tại bao nhiêu.

Các quốc gia Mỹ, Cộng đồng các quốc gia độc lập và Trung Quốc là có trữlượng lớn nhất (chiếm trên 50% trữ lượng than của thế giới), một số quốc gia có trữlượng than như: Ấn Độ là 90 tỷ tấn, Úc là 90 tỷ tấn và Nam phi là 50 tỷ tấn than…

Bảng: Phân bố trữ lượng than trên thế giới năm 2004

(Nguồn: BP statistical Review 2004)

Trong hơn 50 năm qua, sản lượng than được khai thác và tiêu thụ trên thế giớităng lên gấp 3 lần, cùng với các giao dịch và buôn bán than trên thế giới được mởrộng nên đã tăng hệ số sử dụng than trong ngành năng lượng, giảm được sức ép lêndầu mỏ Nhờ việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào quá trình khai thác ở các mỏ thannên sản lượng sản xuất của năm sau luôn lơn hơn năm trước, đấy cũng là một phầncủa nguyên nhân vì sao giá than trên thị trường ít có biến động lớn so với giá của cácnguồn năng lượng khác Mỗi năm ước tính con người moi từ lòng đất lên hơn 3 tỷ tấnthan

Trang 10

1.2 Hiện trạng sử dụng:

Dự đoán trong tương lai, trong khoảng năm 2005 đến 2030 các nước phát triển

sẽ tiêu thụ khoảng 74% lượng gia tăng tiêu thụ năng lượng tự nhiên trên thế giới

So sánh tỉ lệ tiêu thụ năng lượng trong tương lai, lấy mốc năm 2005 là gốc, cóthể nhận thấy vào thời điểm năm 2030 lượng khí thiên nhiên sẽ tăng gần đến mức1.7%, than đá sẽ tăng suốt với mức độ khoảng 2.9%, dầu lửa giảm khoảng 3.5%.Tuy nhiên ước tính tỷ lệ lượng nhiên liệu hóa thạch sẽ tăng từ 80.9% lên 82.0%.Đặc biệt là than đá, nhu cầu sử dụng dự tính tăng mạnh lên tới 73%

Nhận xét:

Dựa vào biểu đồ phân bố trữ lượng than trên thế giới, có thể thấy trữ lượng thanhiện nay còn nhiều nhất là ở Hoa Kỳ và Trung Quốc Có thể nói, tiềm năng về nănglượng cũng chính là một trong những thước đo để phát triển và gia tăng sức mạnh vềkinh tế cũng như quân sự, vì vậy việc phát triển một chính sách về năng lượng hợp lýcũng chính là một cách để bảo đảm được tiềm lực này một cách hiệu quả Chưa nóiđến những tác động về môi trường, thì có thể thấy than là một trong những nguồnnăng lượng có sức ảnh hưởng to lớn đến đời sống, vì vậy việc khai thác sử dụng thanhiệu quả cũng là cách để phát triển nền kinh tế một các khoa học hơn Hiện nay, việckhai thác than ngày càng được gia tăng và thúc đẩy bởi các công nghệ kỹ thuật mới và

cả những lợi ích không thể phủ nhận của nó, vì vậy tuy hiện tại giá than chỉ có sự biếnđộng nhỏ, nhưng với lượng tài nguyên ngày càng cạn kiệt thì chẳng mấy chốc thancũng sẽ có những tác động trực tiếp đến những biến động về năng lượng trên thịtrường thế giới Chính vì thế, việc xem xét trữ lượng và các vị trí khai thác ở các khuvực khác nhau trên thế giới sẽ giúp các nước có cái nhìn tổng thể để điều chỉnh việc

sử dụng và khai thác hợp lý hơn

1.3 Hiện trạng trữ lượng và sử dụng tại một số nước trong khu vực:

Tổng lượng xuất khẩu than điện của các nước Châu Á – Thái Bình Dương năm

2007 đạt khoảng 680 triệu tấn trong đó: Australia xuất 250 triệu tấn (có 112 triệu tấnthan cho điện); Indonexia xuất 196 triệu tấn (có 125 triệu tấn cho điện) Tổng lượngnhập khẩu than điện của các nước Châu Á – Thái Bình Dương năm 2007 khoảng 425triệu tấn bằng 63% tổng lượng than buôn bán trên thế giới bằng đường biển Trongđó: Nhật Bản nhập 112 triệu tấn, Hàn Quốc nhập 66 triệu tấn, Trung Quốc nhập 51triệu tấn, Ấn Độ nhập 45 triệu tấn, Malaixia nhập 11 triệu tấn, Thái Lan 11 triệu tấn.Trong tương lai, do vấn đề đảm bảo an ninh năng lượng các nước sẽ tăng sử dụngthan trong nước, hạn chế xuất khẩu than ví dụ như Indonexia từ năm 2010 chỉ duy trì

Trang 11

xuất khẩu ở mức 150 triệu tấn than năng lượng/năm Trong khi đó thị trường nhậpkhẩu than truyền thống từ Indonexia và Australia đã được phân chia từ trước Ví dụ:Năm 2007 Australia xuất khẩu 101 triệu tấn than butum, thị phần được chia như sau:Nhật 57 triệu tấn (56,5%); Đài Loan 15,5 triệu tấn (15,4%); Hàn Quốc 13,7 triệu tấn(13,7%); các nước khác 14,5 triệu tấn (14,4%)(*) Indonexia năm 2007 xuất khẩu145,6 triệu tấn than bitum, với thị phần chia như sau: Nhật 28,7 triệu tấn (19,7%);Hàn Quốc 23,9 triệu tấn (16,4%); Đài Loan 20,5 triệu tấn (14,1%); Ấn Độ 18,2 triệutấn (12,5%); Hồng Kông+Trung Quốc 16 triệu tấn (11%); các nước ĐNÁ 19,4 triệutấn (13,3%); các nước khác 18,9 triệu tấn (13%)(**) Việt Nam trong quan hệ thươngmại với các nước cũng chỉ có thể nhập khẩu tối đa tới vài chục triệu tấn than cho điện.(Ghi chú: (*) Nguồn: Tổng cục thống kê Astralia; (**) Nguồn BTS ltd)

Nhận xét:

Ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương việc sử dụng than vào mục đích cungcấp điện là khá phổ biến Hầu hết các nước ở khu vực này đều vừa phải đáp ứng nhucầu than trong nước vừa phải đáp ứng cho việc xuất khẩu than vì vậy việc khai thácthan ở các nước đều ngày càng tăng sản lượng theo từng năm, tuy nhiên hiện nay vớitrữ lượng than ngày càng giảm dần đi (tuy chưa đến mức nghiêm trọng) nhưng đểđảm bảo cho tương lai thì việc phải hạn chế sử dụng than cho phát triển điện cũng cầnđược xem xét, kiềm chế và tìm một xu hướng giải quyết khác Vừa phải thúc đẩy việckhai thác trong nước mà vừa phải hạn chế việc phát triển và mở rộng của các nhà máynhiệt điện chạy bằng than

II Trữ lượng than ở Việt Nam:

2.1 Sơ lược về lịch sử khai thác than tại Việt Nam:

Than đá ở Quảng Ninh là loại than Antraxit có tỷ lệ độ tro 19,09%, tỷ lệ các bon

91,72% nhiệt lượng trên 8.200 Kcalo/kg (theo tính toán của Cục địa chất Việt Namnăm 1994) Than Quảng Ninh chiếm 90% trữ lượng than cả nước, được phát hiện vàkhai thác rất muộn từ đầu thế kỷ XIX (trên thế giới, than đá được phát hiện và khaithác khoảng 3.000 năm) Theo sử sách ghi lại: Vào đầu thế kỷ XIX, nhất là bắt đầu từTriều Minh Mạng (1820) than đá khai thác Năm 1937, Bộ công sai Triều Nguyễn vậnchuyển 10 vạn cân than (tương đương với 80 tấn) ở Đông Triều để chuyển về kinh đôHuế

Tháng 12 năm 1839, năm Minh Mệnh thứ 39 Tổng đốc Hải An là Tôn Thất Bậtdâng sớ lên triều Nguyễn, xin thuê dân công khai thác than đá ở núi Yên Lãng (thuộc

xã Yên Thọ - Đông Triều ngày nay) Dưới thời vua Tự Đức (1846-1884), công việc

Trang 12

khai thác than đá được chú ý hơn, triều đình đã cho dịch một tài liệu về phương pháp

khai thác than, lấy tên là khai môi yếu pháp để phổ biến cho những người làm mỏ.

Trong thời gian này đã tiến hành khai thác than ở vùng Mạo Khê - Đông triều dướihình thức trưng khai, sản xuất mang tính thủ công là chính Mỏ than Mạo Khê đượcgiao cho một nhà buôn người Hoa là Vạn Lợi (sau gọi là Văn Lôi) trưng khai

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, sau hiệp ước ký với triềuđình nhà Nguyễn năm 1874, thực dân Pháp ở Đông Dương đã ép buộc triều đình nhàNguyễn thoả thuận cho chúng được phái các đoàn “chuyên gia kỹ thuật” ra Bắc kỳ đểthăm dò mỏ trước khi triều đình nhà Nguyễn chưa ký giấy bán khu mỏ, năm1879 nhàNguyễn cho một người Pháp là Bô đi ê vào trưng khai mỏ Đam Khê Đông Triều, mộtngười Thanh và một người Phổ vào khai thác mỏ Mạo Khê theo đó trong các năm1880; 1881 các kỹ sư người Pháp gồm: Phuýt-sơ (Fuchs), Xa-la-đanh (Saladin), Xa-răng (Sarran) đã tiến hành khảo sát vùng trầm tích chứa than ở địa phận Đông triều,Hòn Gai, Cẩm Phả thuộc tỉnh Quảng Ninh ngày nay Đến năm 1882, kỹ sư Phuýt-sơ

đã lấy mẫu than ở Hà Lầm (trong vùng mỏ Hòn Gai) để đưa về Pa-ri phân tích hoánghiệm và chính thức lập bản đồ địa chất Đông Dương tỷ lệ 1: 4.000.000 Trên đóông ta đã sơ lược vạch ranh giới phía nam của trầm tích chứa than thuộc các địa phậntrên

Ngày 12/3/1883, thực dân Pháp đem quân đánh chiếm khu mỏ Hòn Gai - Cẩm

Phả, ngày 24/4/1884 thực dân Pháp đã ép buộc triều đình nhà Nguyễn làm “văn tự”

bán mỏ Hòn Gai - Cẩm Phả (lúc đó gọi là Hòn Gấc), với diện tích 21.932 héc-ta cho

Tư bản Pháp Đến năm 1888 triều đình nhà Nguyễn bán tiếp khu mỏ than Mạo Khê Đông Triều cho thực dân Pháp

-Tháng 9 năm 1884, thực dân Pháp ở Đông Dương đã thành lập và cho ra đời Hộikhai khoáng Bắc kỳ, cũng vào năm đó các xí nghiệp khai thác than của thực dân Phápbắt đầu đi vào hoạt động khai thác mỏ tại Hòn Gai, Cẩm Phả, Mạo Khê Đông Triều Năm 1898 chính quyền bảo hộ Pháp ở Hà Nội cho thành lập Sở Địa chất ĐôngDương, kể từ đây công cuộc khai thác than đá của các chủ mỏ tư bản Pháp ở vùng đấtQuảng Ninh được diễn ra với quy mô ngày một lớn, để mang lợi nhuận về làm giàucho chính quốc (nước Pháp) Nghề khai thác than ở Quảng Ninh do chủ Tư bản Pháptrực tiếp thực hiện, mạnh nhất vào năm 1939 quá trình này được chia làm 3 giai đoạnsau:

Giai đoạn I: Từ năm 1888 – 1900 làm công tác thăm dò, khảo sát và chuẩn bị cơ

sở vật chất cho khai thác thử Năm 1890 bắt đầu khai thác đạt 3.000 tấn, cuối năm

1900 đạt sản lượng 201.000 tấn than

Trang 13

Giai đoạn II: Từ 1901 – 1914 mở rộng khai thác, ra đời nhiều Cty khai thác than.Cuối năm 1914 đạt sản lượng 604.000 tấn.

Giai đoạn III: Từ năm1915 – 1939 đẩy mạnh khai thác, các Cty mỏ cạnh tranhkhốc liệt để giành quyền khai thác mỏ Năm 1918 mới đạt 637.000 tấn, đến cuối năm

1939 sản lượng than khai thác ở Quảng Ninh đã đạt 2.515.000 tấn tăng gấp gần 4 lầnnăm 1918, chiếm trên 96% tổng sản lượng than đá khai thác ở Đông Dương(2.615.000 tấn), tăng khoảng 900 lần so với năm 1890; riêng Cty Bắc Kỳ SFCT

(Sociéte Francaise des Charboneges du TonKin ), Cty khai thác than lớn nhất Đông

Dương thời kỳ đó, đã đạt sản lượng 1.810.000 tấn

Cũng vào thời gian này, một nhà tư sản Việt Nam tên là Bạch Thái Bưởi cũngtiến hành đầu tư mở mỏ khai thác than ở Thác Than ( Yên Than huyện Tiên Yên ngàynay) nhưng không cạnh tranh nổi với Cty Than mỏ Bắc Kỳ SFCT của Pháp nên bịphá sản

2.2 Trữ lượng than ở Việt Nam:

Bể than Quảng Ninh được phát hiện và khai thác rất sớm, đã bắt đầu cách đâygần 100 năm dưới thời thuộc Pháp Hiện nay và có lẽ trong tương lai, sản lượng thankhai thác từ các mở ở bể than Quảng Ninh chiếm khoảng 90% sản lượng than toànquốc

Tính chất đặc trưng của than Antraxit tại các khoảng sản bể than Quảng Ninh làkiến tạo rất phức tạp, tầng chứa than là những dải hẹp, đứt quãng dọc theo phươngcủa vỉa, góc dốc của vỉa thay đổi từ dốc thoải đến dốc đứng (9o – 51o) Các mỏ than cónhiều vỉa với cấu tạo và chiều dày của vỉa thay đổi đột ngột

Đối với việc khai thác than ở bể Quảng Ninh trước đây, có thời kỳ sản lượng lộthiên đã chiếm đến 80%, tỷ lệ này dần dần đã thay đổi, hiện nay còn 60%, trong tương

Trang 14

lai sẽ còn xuống thấp hơn Vì các mỏ lộ thiên lớn đã và sẽ giảm sản lượng, đến cuốigiai đoạn 2015-2020 có mỏ không còn sản lượng; các mỏ mới lộ thiên lớn sẽ không

có, nếu có là một số mỏ sản lượng dưới 0,5-1 tr.T/n Tỷ lệ sản lượng than hầm lò tăng,nói lên điều kiện khai thác khó khăn tăng, chi phí đầu tư xây dựng và khai thác tăng,dẫn tới giá thành sản xuất tăng cao Cho nên, tuy trữ lượng địa chất của bể thanQuảng Ninh là trên 3 tỷ tấn, nhưng trữ lượng kinh tế là 1,2 tỷ tấn và trữ lượng côngnghiệp đưa vào quy hoạch xây dựng giai đoạn từ nay đến 2010-2020 mới ở mức 500-

600 triệu tấn Mức độ khai thác xuống sâu là -150m Còn từ -150m đến -300m, cầnphải tiến hành thăm dò địa chất, nếu kết quả thăm dò thuận lợi, thiết bị và công nghệkhai thác tiên tiến, việc đầu tư cho mức dưới -150m sẽ được xem xét vào sau năm2020

Ngoài ra, còn có trữ lượng than đá antraxit khác nằm rải rác ở các tỉnh: HảiDương, Bắc Giang, Thái Nguyên, Sơn La, Quảng Nam, với trữ lượng từ vài trămnghìn tấn đến vài chục triệu tấn ở các nơi này, quy mô khai thác thường từ vài nghìntấn đến 100-200 ngh.T/n Tổng sản lượng hiện nay không quá 200 ngh.T/năm

Than mỡ được dùng chủ yếu cho ngành luyện kim với nhu cầu rất lớn sau năm

2000, nhưng trữ lượng than mỡ ở ta lại rất ít, điều kiện khai thác rất khó khăn Sảnlượng than mỡ khó có khả năng cao hơn 0,2 – 0,3 tr.T/năm, trong khi nhu cầu sẽ tăngđến 5 – 6tr.T/năm vào giai đoạn 2010 – 2020

Trang 15

Trước đây vừng đồng bằng Nam Bộ được đánh giá có trữ lượng là 1 tỷ tấn vàcòn cao hơn nữa, nhưng nạn cháy rừng đã phá hủy đi rất nhiều trữ lượng than

d Tha ngọn lửa dài:

Chủ yếu tập trung ở mỏ Na Dương (Lạng Sơn), với trữ lượng địa chất trên 100triệu tấn Hiện nay khai thác được thực hiện bằng phương pháp lộ thiên với sản lượngtrên dưới 100 nghìn tấn/năm Than Na Dương là loại than có hàm lượng lưu huỳnhcao, có tính tự cháy nên việc khai thác, vận chuyển, chế biến sử dụng rất khó khăn vàhạn chế Do đó, Tổng công ty Than Việt đang nghiên cứu hợp tác với nước ngoài xâydựng nhà máy điện trong vùng mỏ, để sử dụng loại than này Vì nếu không khai thác,than sẽ tự cháy và phá hủy nguồn tài nguyên đồng thời gây tác động xấu hơn đến môitrường

e Than nâu:

Tập trung chủ yếu ở đồng bằng Bắc Bộ, trữ lượng dự báo 100 tỷ tấn Theo đánhgiá sơ bộ, than có chất lượng tốt, có thể sử dụng cho sản xuất điện, xỉ măng và côngnghiệp hóa học

Nhưng để có thể khai thác được, cần tiến hành thăm dò ở khu vực Bình Minh –Khoái Châu Hưng Yên, để đánh giá một cách chính xác trữ lượng, chất lượng than,điều kiện kiến tạo của vỉa than, nghiên cứu công nghệ khai thác thiết kế Nói chungviệc khai thác này rất khó khăn về mặt địa hình, dân cư trong vùng và về phươngpháp khai thác v.v… Theo đánh giá của một số nhà nghiên cứu địa chất và khai thác,đối với than nâu ở đồng bằng sông Hồng thì có thể đưa vào đầu tư xây dựng mỏ vàkhai thác từ 2015 – 2020 trở đi

Bảng: Trữ lượng tài nguyên và sản lượng khoáng sản Việt Nam

Trữ lượng (1.000

tấn)

Sản lượng

2006 (1.000 tấn)

Tăng trưởng trung bình từ 2002

(%/năm)

% sản lượng thế giới

Trang 16

Vàng (a) 35.000 2.500 5,6 0,13

(Nguồn: Bộ Công Thương và USGS)

((a) Trữ lượng và sản lượng tính bằng kg)

Bảng: Công nghiệp Việt Nam

Sản lượng năm 2007 Tăng trưởng

(%/năm) (tỷ VNĐ

1997 2007

2002 2007

Sản xuất và phân phối điện, khí

Trang 17

Tuy sản lượng và tiềm năng về khoáng sản than ở Việt Nam không phải là quálớn nhưng nó cũng góp một phần rất quan trọng về ổn định thị trường năng lượng tạiViệt Nam Ngoài ra, nó cũng góp phần củng cố được đời sống của người công nhântrong ngành than Tuy nhiên, cũng như rất nhiều nơi khác ở Đông Nam Á thì sảnlượng than ở Việt Nam vừa phải đáp ứng nhu cầu trong nước vừa phải xuất khẩu mộtlượng đáng kể để bù lại lượng than bán trong nước với giá rẻ hơn vì vậy áp lực lênngành khai thác than đang ngày càng lớn.

III Ứng dụng của nhiên liệu than trong đời sống và sản xuất:

Than đá sử dụng nhiều trong sản xuất và đời sống Trước đây, than dùng làmnhiên liệu cho máy hơi nước , đầu máy xe lửa Sau đó , than làm nhiên liệu cho nhàmáy nhiệt điện , ngành luyện kim Gần đây than còn dùng cho ngành hóa học tạo racác sản phẩm như dược phẩm , chất dẻo , sợi nhân tạo Than chì dùng làm điện cực

Than có tính chất hấp thụ các chất độc vì thế người ta gọi là than hấp thụ hoặc làthan hoạt tính có khả năng giữ trên bề mặt các chất khí , chất hơi , chất tan trong dungdịch Dùng nhiều trong việc máy lọc nước, làm trắng đường, mặt nạ phòng độc

Theo báo cáo của Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), khả năng sảnxuất than căn cứ vào quy hoạch phát triển ngành than Việt Nam giai đoạn 2006 - 2015(có xét triển vọng 2025) thì đến năm 2015 khả năng khai thác than tối đa cũng chỉ đạt

Trang 18

61,4 triệu tấn Trong khi đó, than cho sản xuất điện năm 2009 mới là 7,3 triệu tấn, đếnnăm 2013 dự kiến lên tới hơn 40 triệu tấn.

Năng lượng than cho sản xuất điện:

Mặc dù sản xuất năng lượng cơ bản khiêm tốn, Việt Nam vẫn còn xuất siêu vềnăng lượng vì nhiều nguyên nhân Công nghiệp Việt Nam có tăng trưởng nhưng chưađạt trình độ để tiêu thụ hết năng lượng sản xuất Những ngành công nghiệp biến chếkhoáng sản thành sản phẩm trung gian (luyện kim, hóa chất, lọc dầu, ximăng, ) lànhững ngành công nghiệp tiêu thụ năng lượng nhiều nhất và gây ô niễm khí quyểnnhiều nhất Ở Việt Nam, những ngành này chưa quan trọng mấy Những ngành côngnghiệp chủ lực là những ngành dùng nhiều nhân công với hàm lượng năng lượngthấp Những dự án đầu tư và kêu gọi đầu tư vào những ngành phân hóa học, lọc dầuhay luyện kim sẽ là nguy cơ thay đổi tình trạng xuất siêu năng lượng này trong vàinăm tới Một trong những ngành sử dụng than nhiều nhất ở Việt Nam là nhiệt điện, vìvậy tác giả xin đi sâu vào phân tích ngành sản xuất này

Tình hình sản xuất điện năng trên thế giới và ở Việt Nam

Trong tổng sản lượng điện năng sản xuất ra trên thế giới, phần tỷ lệ điện năng docác nguồn nhiên liệu hữu cơ chiếm tỷ trọng chủ yếu, tỷ lệ thủy điện ngày càng giảm

Tỷ lệ hạt nhân tăng rất nhanh trong các thập kỷ 70 và 80 của thế kỷ trước, nhưng mấynăm gần đây có xu hướng chững lại, ở một số nước bắt đầu giảm

Sản lượng điện của 7 nước G7 chiếm một nửa tổng sản lượng điện của thế giới.Trừ Canada là nước có tỷ lệ thủy điện chiếm khoảng 2/3 tổng sản lượng điện và Pháp

là nước có tỷ lệ điện hạt nhân tăng rất nhanh (từ 23,8% năm 1980 tăng lên 77,1% năm1995), năm nước còn lại có tỷ lệ nhiệt điện dùng nhiên liệu hữu cơ từ 2/3 tổng sảnlượng điện trở lên, trong đó Mỹ và Đức có tỷ lệ nhiệt điện đốt than chiếm trên 50%trong suốt một thời gian dài mấy chục năm Hiện nay, ở hai nước này, tỷ lệ nhiệt điệnđốt than vẫn chiếm trên 50% và có xu hướng tăng dần

Trong thập kỷ 70 và những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, nhiều dự báolạc quan đã dự kiến tỷ lệ điện hạt nhân có thể tới 50% tổng sản lượng điện của thếgiới vào nửa đầu thế kỷ này Tuy nhiên từ sau sự cố Trec-nô-bưn (1986), các dự báo

về điện hạt nhân đã chững lại; ở một số nước phát triển đã có xu hướng giảm Để bùlại, xu hướng phát triển nhiệt điện đốt than lại tăng lên, nhiều nhà máy điện đốt than

Ngày đăng: 06/07/2015, 19:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w