Thực hiện đổi mới cơ chế tài chính, việc nhà nước trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp có thu đã giúp các đơn vị chủ động hơn trong việc tổ chức công việc, sắp
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng Các đánh giá, kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công
bố trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đó
Hà Nội, ngày 06 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Lưu Thị Thắm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô trong Khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh - Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong thời gian học tập cũng như thực hiện Luận văn Kiến thức mà các thầy cô truyền đạt sẽ là hành trang giúp tôi vững bước hơn trên con đường đời sau này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô PGS.TS Kim Thị Dung đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn tốt nghiệp Nhờ có sự hướng dẫn của cô mà tôi đã hoàn thành được Luận văn của mình và tích luỹ được nhiều kiến thức quý báu trong môi trường tôi đang công tác
Tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, người thân đã động viên tôi rất nhiều trong thời gian vừa qua
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng xin chúc Quý thầy cô và các bạn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong cuộc sống /
Tác giả
Lưu Thị Thắm
Trang 42.1.2 Vai trò, nhiệm vụ của quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu 8 2.1.3 Nội dung quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu 10 2.1.4 Nguyên tắc quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp 17 2.1.5 Quy trình quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu 18 2.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính của đơn vị sự
Trang 52.2.1 Kinh nghiệm về quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có
2.2.2 Kinh nghiệm về quản lý tài chính ở Việt Nam 32
2.2.4 Bài học kinh nghiệm rút ra trong quản lý tài chính đối với Trung
3.1.4 Tình hình phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh những năm qua 39
3.2.1 Quá trình hình thành và phát triển Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc 41 3.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm văn hoá Kinh Bắc 42 3.2.3 Cơ cấu tổ chức, biên chế, cơ chế hoạt động của Trung tâm Văn
3.2.4 Tình hình cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật 47
3.3.4 Hệ thống chỉ tiêu chủ yếu trong phân tích 50
4.1 Thực trạng công tác quản lý tài chính tại Trung tâm Văn hoá
4.1.2 Lập dự toán thu chi tại Trung tâm Văn hoá Kinh Bắc 65
Trang 64.1.3 Tổ chức thực hiện và chấp hành kế hoạch thu chi 70 4.1.4 Thực trạng công tác kiểm tra, kiểm soát thu chi tại Trung tâm
4.1.5 Thực trạng công tác hạch toán và quyết toán thu chi tài chính tại
4.2 Đánh giá công tác quản lý tài chính của Trung tâm văn hóa Kinh
4.3 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính tại Trung tâm
4.3.1 Định hướng và mục tiêu hoạt động của Trung tâm Văn hóa Kinh
5.2.2 Kiến nghị đối với Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh 101
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBCNV Cán bộ công nhân viên ĐVSN Đơn vị sự nghiệp HĐND Hội đồng nhân dân HCSN Hành chính sự nghiệp KBNN Kho bạc nhà nước NĐ-CP Nghị định chính phủ NSNN Ngân sách nhà nước TSCĐ Tài sản cố định TTVHKB Trung tâm Văn hoá Kinh Bắc UBND Ủy ban nhân dân
XDCB Xây dựng cơ bản
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
3.2 Tình hình kinh tế tỉnh Bắc Ninh từ năm 2010 đến năm 2012 40
4.1 Định mức thu từ hoạt động sản xuất, dịch vụ tại Trung tâm Văn
4.3 Hệ số chi phụ cấp đối với một số vị trí công việc 54 4.4 Định mức chi thu nhập tăng thêm cho cán bộ, nhân viên trung tâm 56
4.7 Định mức chi tiền điện thoại tại các phòng ban 59 4.8 Mức chi hỗ trợ cước phí sử dụng điện thoại cá nhân 60
4.10 Dự toán thu của Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc 66 4.11 Dự toán chi của Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc 69 4.12 Kinh phí NSNN cấp cho Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc 71 4.13 Các nguồn thu sự nghiệp và nguồn thu hợp pháp khác của
4.14 Số lượng và cơ cấu các nguồn thu thực tế của Trung tâm văn hóa
4.15 Tổng hợp các khoản chi đã thực hiện trong 3 năm tại Trung tâm
4.16 Tình hình kiểm tra, kiểm soát thực hiện thu chi tại Trung tâm
Trang 94.17 Kết quả hạch toán thu chi tại Trung tâm VHKB qua 3 năm
4.18 Kết quả thực hiện kế hoạch nguồn thu của trung tâm qua 3 năm 83 4.19 Kết quả thực hiện dự toán chi tài chính tại Trung tâm Văn hóa
4.20 Số lượng và tỷ lệ ý kiến trả lời của cán bộ nhân viên về thực hiện
các nguyên tắc quản lý tài chính của trung tâm 88 4.21 Số lượng và tỷ lệ ý kiến trả lời của khách hàng đã sử dụng dịch
4.22 Số lượng và tỷ lệ ý kiến trả lời của CBCNV và khách hàng về
quản lý chi đầu tư xây dựng cơ bản của trung tâm 90 4.23 Định mức chi tiền điện thoại tại các phòng ban 95
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
2.1 Sơ đồ quá trình lập dự toán thu, chi tài chính 21
3.1 Bản đồ tỉnh Bắc Ninh 37
3.2 Toàn cảnh Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc 41
3.3 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc 44
3.4 Biểu đồ trình độ chuyên môn của cán bộ, viên chức và người lao động – Trung tâm Văn hóa Kinh Bắc 45
3.5 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý tài chính của Trung tâm VHKB 46
3.6 Khung phân tích lý thuyết về quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu 48
Trang 111 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, đổi mới toàn diện để phát triển kinh tế - xã hội là một xu thế tất yếu của các nước trên thế giới, đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam.Chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ trương xã hội hóa dịch vụ công, các đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam không còn đơn thuần thực hiện chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước giao mà còn tự tổ chức cung ứng dịch vụ cho xã hội Nguồn tài chính của các đơn
vị này không chỉ do ngân sách Nhà nước cấp mà từng đơn vị đều khai thác thêm các nguồn thu từ hoạt động dịch vụ cho xã hội Trong những năm gần đây, số thu
từ hoạt động cung ứng dịch vụ không chỉ là nguồn thu bổ sung mà còn chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng nguồn kinh phí của đơn vị Thực hiện đổi mới cơ chế tài chính, việc nhà nước trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị
sự nghiệp có thu đã giúp các đơn vị chủ động hơn trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm
vụ được giao, phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội, tăng nguồn thu nhằm từng bước nâng cao thu nhập cho cán
bộ, viên chức và người lao động
Thực hiện lộ trình cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001- 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định về
cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế
và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập Cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP tạo điều kiện cho đơn vị chủ động sử dụng nguồn lực tài chính, lao động, cơ sở vật chất để thực hiện nhiệm vụ được giao, chủ động phân
bổ nguồn tài chính của đơn vị theo nhu cầu chi tiêu đối với từng lĩnh vực trên tinh thần tiết kiệm, thiết thực hiệu quả; khuyến khích các đơn vị mở rộng hoạt động dịch
vụ, tăng nguồn thu; tiết kiệm chi, tăng thu nhập cho người lao động; cơ chế tự chủ tạo điều kiện cho đơn vị sự nghiệp thực hiện việc kiểm soát chi tiêu nội bộ; nâng cao kỹ năng quản lý và chất lượng hoạt động sự nghiệp
Trang 12Năm 2012 Ban chỉ đạo Nhà nước về thực hiện đổi mới cơ chế hoạt động các đơn vị sự nghiệp công lập được thành lập là một trong những bước đi khá toàn diện nhằm thay đổi tư duy, nhận thức của nhiều đơn vị khi thực hiện chủ trương của Nhà nước và Chính phủ, nhất là trong thực hiện đổi mới cơ chế tài chính đối với các đơn
vị sự nghiệp công lập Mục tiêu đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp là trao quyền tự chủ thật sự cho cơ quan, đơn vị trong việc tổ chức công việc, sử dụng lao động, tăng cường huy động và quản lý thống nhất các nguồn thu, đồng thời sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả các nguồn tài chính nhằm mở rộng và nâng cao chất lượng công tác quản lý hành chính, hoạt động sự nghiệp, khuyến khích tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp đảm bảo trang trải kinh phí hoạt động và nâng cao thu nhập của cán bộ viên chức
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính ở các đơn vị sự nghiệp đã bộc lộ không ít những hạn chế vướng mắc cần khắc phục và hoàn thiện, những hạn chế đó có thể bắt nguồn từ cơ chế chính sách của Nhà nước hoặc từ bản thân các đơn vị được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính
Trung tâm Văn hoá Kinh Bắc tỉnh Bắc Ninh với tư cách là một đơn vị sự nghiệp có thu Mặc dù trong những năm vừa qua, công tác quản lý tài chính của Trung tâm văn hoá Kinh Bắc tỉnh Bắc Ninh đã đạt được một số kết quả nhất định, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đề ra, song công tác quản lý tài chính ở Trung tâm Văn hoá Kinh Bắc tỉnh Bắc Ninh hiện cũng bộc lộ những hạn chế, khiếm khuyết
Để góp phần làm cho công tác quản lý tài chính của Trung tâm Văn hoá Kinh Bắc tỉnh Bắc Ninh ngày càng tốt hơn, phù hợp hơn với tiến trình đổi mới của đất nước trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới và khu vực Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn
đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở
Trung tâm Văn hoá Kinh Bắc Tỉnh Bắc Ninh”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở phản ánh và đánh giá công tác quản lý tài chính ở Trung tâm Văn hoá Kinh Bắc trong những năm qua, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở Trung tâm Văn hoá Kinh Bắc trong thời gian tới
Trang 131.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến công tác quản
lý tài chính ở Trung tâm Văn hoá Kinh Bắc
- Về nội dung: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận, tập trung chủ yếu vào công tác quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng công tác quản lý tài chính ở Trung tâm Văn hoá Kinh Bắc, trong đó tập trung vào công tác quản lý thu tài chính, quản lý chi tài chính và quản lý tài sản tại Trung tâm Văn hoá Kinh Bắc
Thứ ba, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính ở Trung tâm Văn hoá Kinh Bắc trong thời gian tới
Trang 142 TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm liên quan
2.1.1.1 Khái niệm về quản lý
Theo Koontz, Odonnell, and Weihrich (1974), quản lý là sự cộng tác liên tục
có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp
cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng Đối tượng quản lý có thể trên qui mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể
là một con người, sự vật cụ thể Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện tài chính,… để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định trước Chủ thể muốn kết hợp được các hoạt động của đối tượng theo một định hướng quản lý đặt ra phải tạo ra được “quyền uy” buộc đối tượng phải tuân thủ Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình
xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra Sự tác động của quản lý, phải bằng cách nào đó để người chịu quản lý luôn luôn hồ hởi, phấn khởi đem hết năng lực và trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho cả xã hội Quản lý là một môn khoa học sử dụng trí thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội nhân văn khác như: toán học, thống kê, kinh tế, tâm lí và xã hội học… Nó còn là một “nghệ thuật” đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế
để đạt tới mục đích
Theo Fayei (1987), quản lý là hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm năm yếu tố tạo thành là kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát thực hiện kế hoạch ấy
Hard Koont (2001) cho rằng quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định Quan điểm này cũng
Trang 15phù hợp với ý tưởng của tác giả Hồ Văn Vĩnh (2005) về quản lý cho rằng đó là sự tác động có tổ chức, hướng tới đích của chủ thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra
Cụ thể, theo tác giả này, hoạt động quản lý có một số đặc trưng như sau:
- Quản lý luôn là tác động hướng đích, có mục tiêu;
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận, gồm chủ thể quản lý (cá nhân hoặc tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, điều khiển) và đối tượng quản lý (bộ phận chịu sự quản lý)
Từ những lý luận trên đây có thể định nghĩa quản lý như sau:
Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến động của môi trường Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động quản lý nhằm dẫn dắt đối tượng quản lý đến mục tiêu Chủ thể có thể là một người, một bộ máy quản lý gồm nhiều người, một thiết bị Đối tượng quản lý tiếp nhận các tác động của chủ thể quản lý Như vậy quản lý là sự tác động có
tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất tiềm năng, cơ hội của tổ chức để đạt được những mục tiêu đã đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường
Vì thế, quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từ tính chất xã hội của lao động Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người
Về cơ bản, mọi người đều cho rằng quản lý chính là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn
2.1.1.2 Khái niệm về tài chính
Tài chính là quá trình phân phối các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ thể kinh tế Hoạt động tài chính luôn gắn liền với sự vận động độc lập
tương đối của các luồng giá trị dưới hình thái tiền tệ thông qua việc hình thành và
sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế.
Một cách khái quát, tài chính được xác định như sau: tài chính là hiện tượng đặc trưng bằng sự vận động độc lập tương đối của tiền tệ với chức năng phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ trong quá trình tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ đại diện cho những sức mua nhất định ở các chủ thể kinh tế - xã hội Tài chính phản
Trang 16ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn lực tài chính thông qua tạo lập hay sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích luỹ hay tiêu dùng của các chủ thể (pháp nhân hay thể nhân) trong xã hội.[1] Giáo trình Tài chính học, NXB Tài chính 1997, tr 12
2.1.1.3 Khái niệm về quản lý tài chính
Quản lý là yêu cầu tất yếu để đảm bảo sự hoạt động bình thường của mọi quá trình và hệ thống kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị có sự tham gia tự giác của nhiều người Thực chất của quản lý là thiết lập và thực hiện hệ thống các phương pháp và biện pháp khác nhau của chủ thể quản lý để tác động một cách có ý thức tới đối tượng quản lý nhằm đạt tới kết quả nhất định Quản lý bao gồm nhiều phương diện như quản lý công nghệ, quản lý thương mại, quản lý nhân sự, quản lý tài chính
- Quản lý tài chính là hoạt động của chủ thể quản lý trong lĩnh vực tài chính nhằm sử dụng nguồn tài sản dưới hình thái tiền, giấy tờ có giá của một đơn vị, tổ chức vừa đảm bảo cho đơn vị, tổ chức hoạt động bình thường, vừa đảm bảo cho nguồn tài chính sử dụng tiết kiệm và sinh lợi nhiều nhất
- Quản lý tài chính là một bộ phận, một khâu của quản lý kinh tế xã hội và là khâu quản lý mang tính tổng hợp Quản lý tài chính được coi là hợp lý, có hiệu quả nếu nó tạo ra được một cơ chế quản lý thích hợp, có tác động tích cực tới các quá trình kinh tế xã hội theo các phương hướng phát triển đã được hoạch định Việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính ở các đơn vị sự nghiệp có liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh tế xã hội do đó phải có sự quản lý, giám sát, kiểm tra nhằm hạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính đồng thời nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn tài chính
- Quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu là công tác quản lý các vấn
đề trong đơn vị sự nghiệp mình có liên quan đến việc tổ chức thực hiện các biện pháp đảm bảo tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả kinh phí, tăng tích lũy để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng thu nhập cho đơn vị và cá nhân
Có khá nhiều tác giả đã đưa ra các khái niệm về quản lý tài chính.Theo các tác giả C.Paramasivan và T.Subramanian (2000) thì quản lý tài chính là hoạt động
Trang 17lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, điều chỉnh và giám sát việc thu chi tiền của một cá nhân, tổ chức.Về cụ thể, có thể thấy khái niệm này kết hợp giữa khái niệm về quản
lý (các tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên các đối tượng quản lý) và khái niệm tài chính (thu, chi tiền)
Theo tác giả Joseph Massie (2010) thì quản lý tài chính là hoạt động quản lý tiền (quỹ tiền) một cách có chủ đích nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức Hoạt động này bao gồm hai nội dung quan trọng là làm thế nào để có tiền và phân bổ số tiền ấy vào chi tiêu như thế nào?
Như vậy có thể hiểu quản lý tài chính là hoạt động quản lý việc tạo lập và sử dụng các nguồn tiền để đạt được mục tiêu của cá nhân, tổ chức
2.1.1.4 Khái niệm về đơn vị sự nghiệp có thu
Đơn vị sự nghiệp có thu là một loại đơn vị sự nghiệp công lập, có nguồn thu
sự nghiệp, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập để thực hiện các hoạt động sự nghiệp Hoạt động sự nghiệp là những hoạt động cung cấp dịch vụ công cho xã hội nhằm duy trì và đảm bảo sự hoạt động bình thường của xã hội Hoạt động sự nghiệp không trực tiếp tạo ra của cải vật chất nhưng nó tác động trực tiếp tới lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, có tính quyết định năng suất lao động xã hội Những hoạt động sự nghiệp mang tính chất phục vụ là chủ yếu và không nhằm mục tiêu lợi nhuận Trong quá trình hoạt động được ngân sách nhà nước cấp hoặc
hỗ trợ kinh phí để thực hiện chức năng nhiệm vụ được giao, nhưng vẫn có chức năng sản xuất kinh doanh, dịch vụ nhằm tận dụng cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện
có để tạo thêm thu nhập, nhằm hỗ trợ nâng cao đời sống cán bộ công chức, viên chức và bổ sung kinh phí hoạt động thường xuyên
Có nhiều cách phân loại đơn vị sự nghiệp, tuỳ theo mục đích nghiên cứu, quản lý
- Căn cứ vào hình thức sở hữu, đơn vị sự nghiệp được chia thành đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị sự nghiệp bán công, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập (dân lập, tư thục)
- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, các đơn vị sự nghiệp được chia thành đơn
vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực giáo dục & đào tạo, đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực y
tế, đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực văn hóa, xã hội, ;
Trang 18- Căn cứ vào phân cấp quản lý, các đơn vị sự nghiệp được chia thành đơn vị
sự nghiệp thuộc Nhà nước quản lý, đơn vị sự nghiệp thuộc địa phương quản lý, đơn
vị sự nghiệp thuộc các công ty, tổng công ty, tập đoàn quản lý;
Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước Căn
cứ vào mức độ tự chủ, Luật Viên chức năm 2011 phân đơn vị sự nghiệp công lập thành đơn vị sự nghiệp được giao quyền tự chủ hoàn toàn và đơn vị sự nghiệp chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính Phủ phân chia đơn vị sự nghiệp công lập thành 3 loại:
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên;
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp;
- Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động;
2.1.2 Vai trò, nhiệm vụ của quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu
2.1.2.1 Vai trò của quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu
Quản lý tài chính là một trong những hoạt động quản lý quan trọng của bất
kỳ một tổ chức nào trong điều kiện kinh tế thị trường Bởi vì, tài chính biểu hiện tổng hợp và bao quát hoạt động của đơn vị Thông qua quản lý tài chính, chủ thể quản lý không chỉ kiểm soát được toàn bộ chu trình hoạt động của đơn vị mà còn đánh giá được chất lượng hoạt động của chúng Tài chính còn biểu hiện lợi ích của các chủ thể tham gia và liên quan đến đơn vị Thông qua quản lý tài chính, chủ thể quản lý sử dụng được công cụ kích thích lợi ích một cách hữu hiệu
Ngoài ra, do hoạt động của các đơn vị sự nghiệp (ĐVSN) rất đa dạng, tham gia trong nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và theo đuổi không chỉ mục tiêu riêng, mà còn phục vụ mục tiêu chung của toàn xã hội nên quản lý tài chính khá phức tạp, thường được quy định cụ thể cho từng ngành Trong điều kiện kinh tế thị
Trang 19trường, yêu cầu về chất lượng dịch vụ công và hiệu quả hoạt động của các ĐVSN là những vấn đề còn mang tính phức tạp hơn nữa Bên cạnh các khoản chi của ngân sách nhà nước đối với các ĐVSN, các đơn vị này còn có nguồn thu nhập từ chi trả của dân cư Quản lý tốt tài chính của ĐVSN không những góp phần làm giảm bớt các khoản chi sự nghiệp của ngân sách nhà nước, mà còn khuyến khích cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho xã hội với chi phí tiết kiệm
Việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính ở các ĐVSN liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh tế - xã hội và chi tiêu đóng góp của nhân dân Do đó, nếu tài chính của các ĐVSN được quản lý, giám sát, kiểm tra tốt, sẽ góp phần hạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính công, đồng thời nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn tài chính của đất nước
Ngoài ra, quản lý tài chính các ĐVSN còn cung cấp thông tin để tái cơ cấu hoạt động cung cấp dịch vụ văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao, trong tương quan với sự cạnh tranh của khu vực tư nhân
Từ những vai trò cơ bản trên ta có thể thấy công tác quản lý tài chính thực sự
có ý nghĩa to lớn trong đời sống kinh tế xã hội Để các khoản chi cho đơn vị sự nghiệp có thu thực sự mang lại hiệu quả và phát huy được những vai trò to lớn của mình thì đòi hỏi công tác quản lý tài chính phải được tăng cường và hoàn thiện
Do đó công tác quản lý tài chính có vai trò rất quan trọng trong đơn vị sự nghiệp, đảm bảo tăng cường nguồn thu hoạt động dịch vụ, sử dụng kinh phí tiết kiệm, tăng thu cho đơn vị giảm kinh phí từ ngân sách cấp góp phần xây dựng và phát triển đất nước
2.1.2.2 Nhiệm vụ quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu
+ Lập dự toán thu, chi ngân sách trong phạm vi được cấp có thẩm quyền giao hàng năm;
+ Tổ chức chấp hành dự toán thu, chi tài chính hàng năm theo chế độ chính sách của Nhà nước; chủ trì hoặc phối hợp với các ngành hữu quan xây dựng các chế
độ chi tiêu đặc thù của ngành, lĩnh vực, địa phương theo sự ủy quyền của cơ quan
có thẩm quyền;
+ Thực hiện quản lý sử dụng tài sản Nhà nước giao cho cơ quan, đơn vị;
Trang 20+ Chấp hành chế độ kế toán thống kê theo pháp luật;
+ Lập báo cáo quyết toán thu, chi tài chính quý và năm về tình hình sử dụng các nguồn tài chính của cơ quan, đơn vị theo luật ngân sách Nhà nước;
2.1.3 Nội dung quản lý tài chính trong các đơn vị sự nghiệp có thu
Công tác quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp có thu được quy định theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của Chính Phủ về việc quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
Căn cứ vào mục tiêu quản lý tài chính, các đơn vị sự nghiệp có thu thực hiện nội dung quản lý tài chính cụ thể qua bốn nội dung sau: quản lý nguồn thu, quản lý các khoản chi, quản lý tài sản thuộc sở hữu của đơn vị và kiểm tra, kiểm soát hoạt động tài chính tại đơn vị
2.1.3.1 Quản lý nguồn thu
Nguồn thu tại các đơn vị sự nghiệp có thu bao gồm: Ngân sách Nhà nước cấp, nguồn thu sự nghiệp và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật
- Ngân sách Nhà nước cấp như kinh phí dùng cho các hoạt động thường xuyên của các đơn vị theo quy định của Chính phủ; kinh phí thực hiện các hoạt động khoa học và công nghệ, chương trình mục tiêu quốc gia và các nhiệm vụ khác được cấp có thẩm quyền giao; vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động chuyên môn, hoạt động khoa học và công nghệ theo dự án và kế hoạch hằng năm; vốn đối ứng do các dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Nguồn thu sự nghiệp như thu học phí, lệ phí; Thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Thu từ các hoạt động liên doanh, liên kết, hoạt động khoa học
và công nghệ; Kinh phí Nhà nước thanh toán cho các đơn vị theo chế độ đặt hàng
để thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước;
- Các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật như đầu tư của các tổ chức,
cá nhân ở trong nước và nước ngoài để phát triển các đơn vị sự nghiệp theo quy định của pháp luật; Tài trợ, viện trợ, ủng hộ, quà biếu, tặng, cho của các tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài; Các nguồn thu hợp pháp khác
Trang 21Quản lý nguồn thu là xác định đúng đối tượng thu, thực hiện thu đúng, thu
đủ theo mức thu do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định Nếu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành khung mức thu đối với một số hoạt động, thì đơn vị căn cứ vào mức chi tối thiểu có thể đảm bảo hoạt động thường xuyên diễn ra bình thường và khả năng đóng góp của xã hội để quyết định mức thu cụ thể cho từng loại hoạt động; cho từng đối tượng thu miễn sao mức thu không vượt mức trần khung thu do cơ quan có thẩm quyền quy định Những hoạt động nào không có quy định khung mức thu thì đơn vị tự quyết định mức thu theo nguyên tắt bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy
Đối với các khoản thu phí, lệ phí: Căn cứ vào đối tượng thu, mức thu và tỷ lệ được để lại chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Đối với các khoản thu sự nghiệp: Căn cứ vào kế hoạch hoạt động dịch vụ và mức thu do đơn vị quyết định hoặc hợp đồng kinh tế đơn vị đã ký kết
- Quản lý toàn diện từ hình thức, quy mô đến các yếu tố quyết định số thu Bởi vì tất cả các hình thức, quy mô và các yếu tố ảnh hưởng đến số thu đều quyết định số thu tài chính làm cơ sở cho mọi hoạt động của ĐVSN Nếu không quản lý toàn diện sẽ dẫn đến thất thoát khoản thu, làm ảnh hưởng không chỉ đến hiệu quả quản lý tài chính, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của ĐVSN
- Thực hiện nghiêm túc, đúng đắn các chính sách, chế độ thu do cơ quan có thẩm quyền ban hành ĐVSN không được tự ý đặt ra các khoản thu cũng như mức thu
- Quản lý các nguồn thu theo kế hoạch, đảm bảo thu sát, thu đủ, tổ chức tốt quá trình quản lý thu, đồng thời đề ra các biện pháp tổ chức thu thích hợp
- Đối với các đơn vị được sử dụng nhiều nguồn thu phải có biện pháp quản
lý thu thống nhất nhằm thực hiện thu đúng mục đích, thu đủ và thu đúng kỳ hạn
2.1.3.2 Quản lý các khoản chi
Các khoản chi trong các đơn vị sự nghiệp có các nhóm chi lớn, bao gồm: chi cho con người (nhóm I), chi quản lý hành chính (nhóm II), chi nghiệp vụ chuyên môn (nhóm III) và chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định (nhóm IV)
- Chi cho con người (nhóm I)
Bao gồm các khoản về lương và phụ cấp lương (được tính theo chế độ hiện
Trang 22hành, kể cả nâng bậc lương hàng năm cho từng đơn vị hành chính sự nghiệp) và các khoản phải nộp theo lương, bao gồm bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn Theo quy định, nhóm chi này thường chiếm tỷ trọng khoảng 40% tổng chi thường xuyên của các đơn vị sự nghiệp.Tuy nhiên tỷ trọng này cũng có thể thay đổi tùy vào tình hình tăng, giảm biên chế lao động hợp đồng của đơn vị
- Chi quản lý hành chính (nhóm II)
Nhóm này bao gồm các khoản chi sau: tiền điện, tiền nước, văn phòng phẩm, thông tin liên lạc, hội nghị, khánh tiết, xăng xe Nhóm này mang tính gián tiếp nhằm duy trì sự hoạt động của bộ máy quản lý của các đơn vị sự nghiệp Do vậy, các khoản chi này đòi hỏi phải chi đúng, chi đủ, kịp thời và cần sử dụng tiết kiệm,
có hiệu quả Tỷ lệ nhóm chi này thường nằm trong khoảng từ 10% đến trên dưới 15% tổng chi thường xuyên của các đơn vị sự nghiệp
- Chi nghiệp vụ chuyên môn (nhóm III)
Bao gồm chi mua hàng hóa, vật tư dùng cho công tác chuyên môn, trang thiết bị kỹ thuật, sách, tài liệu chuyên môn .Nhóm này thường chiếm tỷ trọng khoảng từ trên 30% tổng chi thường xuyên của các đơn vị Đây là nhóm chi thiết yếu nhất, thể hiện rõ nhu cầu chi tiêu thực tế nên Nhà nước ít khống chế việc sử dụng kinh phí nhóm này
- Chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định (Nhóm IV)
Hàng năm, do nhu cầu hoạt động, do sự xuống cấp tất yếu của các tài sản cố định dùng cho hoạt động chuyên môn cũng như quản lý nên thường phát sinh nhu cầu kinh phí để mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi giá trị sử dụng cho những tài sản đã bị xuống cấp Đây là những khoản chi mà các đơn vị sự nghiệp thường quan tâm vì chúng làm thay đổi bộ mặt của các đơn vị và làm thay đổi công nghệ khoa học kỹ thuật theo hướng phát triển từng giai đoạn Tùy theo tình hình cụ thể của mỗi đơn vị, khoản chi này thường chiếm khoảng trên dưới 10% trong tổng chi thường xuyên nhằm các mục tiêu duy trì và phát triển cơ sở vật chất, duy trì và phát triển tiện nghi làm việc, duy trì và phát triển trang thiết bị, duy trì và phát triển kiến thức, kỹ năng của cán bộ công nhân viên
Trang 23Khi thực hiện các khoản chi nêu trên phải đảm bảo quy trình chi chấp hành đúng quy chế tài chính của Chính phủ và quy chế chi tiêu nội bộ Phải đảm bảo chứng từ chi hợp lệ, hợp pháp theo luật định
Trong thực tiễn, các ĐVSN có nhiều biện pháp quản lý các khoản chi tài chính khác nhau, nhưng các biện pháp quản lý chung nhất là:
- Thiết lập các định mức chi Định mức chi vừa là cơ sở để xây dựng kế hoạch chi, vừa là căn cứ để thực hiện kiểm soát chi của các ĐVSN Các định mức chi phải được xây dựng một cách khoa học Từ việc phân loại đối tượng đến trình tự, cách thức xây dựng định mức phải được tiến hành một cách chặt chẽ và
có cơ sở khoa học Các định mức chi phải bảo đảm phù hợp với loại hình hoạt động của từng đơn vị
Các định mức chi phải có tính thực tiễn tức là phải phản ánh mức độ phù hợp của các định mức với nhu cầu kinh phí cho các hoạt động Chỉ có như vậy, định mức chi mới trở thành chuẩn mực cho quản lý kinh phí
- Lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các loại hoạt động hoặc theo nhóm mục chi sao cho với tổng số chi có hạn nhưng khối lượng công việc vẫn hoàn thành và đạt chất lượng cao Để đạt được điều này phải có phương án phân phối và sử dụng kinh phí khác nhau Trên cơ sở đó lựa chọn phương án tối ưu cho cả quá trình lập dự toán, phân bổ và sử dụng kinh phí
- Xây dựng quy trình cấp phát các khoản chi chặt chẽ, hợp lý nhằm hạn chế tối đa những tiêu cực nảy sinh trong quá trình cấp phát, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm soát chi của các cơ quan có thẩm quyền
- Thực hiện công tác kiểm tra và kiểm soát nhằm ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực trong việc sử dụng nguồn kinh phí của Nhà nước, đồng thời qua công tác này phát hiện những bất hợp lý trong chế độ, chính sách nhằm bổ sung hoàn thiện chúng
2.1.3.3 Quản lý tài sản
Đơn vị sự nghiệp thực hiện quản lý tài sản theo quyết định số TTg ngày 31/12/2006 của Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập Cụ thể như sau:
Trang 24202/2006/QĐ-Nguồn kinh phí đầu tư xây dựng, mua sắm tàn sản trong đơn vị sự nghiệp bao gồm: Kinh phí do NSNN cấp
Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, Quỹ phúc lợi
Vốn viện trợ, tài trợ, biếu, tặng cho và các dự án đơn vị được tiếp nhận theo quy định của pháp luật
Nguồn vốn thu từ bán chuyển nhượng tài sản của đơn vị được phép sử dụng theo quy định của pháp luật
Các ngồn thu khác từ hoạt động sự nghiệp của đơn vị được phép sử dụng Các nguồn vốn huy động, liên doanh liên kết theo quy định của pháp luật Đơn vị sự nghiệp đảm bảo toàn bộ chi phí và đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động được sử dụng các nguồn kinh phí như trên để đầu tư xây dựng mua sắm tài sản theo kế hoạch, dự toán, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt Riêng đối với tài sản trang bị thêm để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch
vụ của đơn vị không được sử dụng từ nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp
Việc mua sắm tài sản từ nguồn quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, từ vốn huy động theo chế độ quy định để phục vụ cho hoạt động sự nghiệp hoặc sản xuất kinh doanh, dịch vụ của đơn vị, thủ trưởng đơn vị sự nghiệp căn cứ vào kế hoạch,
dự toán, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, tiêu chuẩn định mức sử dụng và nhu cầu cần thiết phục vụ hoạt động của đơn vị để quyết định việc mua sắm cho phù hợp, đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả
Thủ trưởng đơn vị tự đảm bảo toàn bộ chi phí và đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động được quyết định dùng tài sản đã đầu tư, mua sắm từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, từ các nguồn huy động để góp vốn liên doanh, liên kết với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo kế hoạch, dự toán, dự án liên doanh, liên kết đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, khả năng của đơn vị và hỗ trợ cho hoạt động sự nghiệp, không làm ảnh hưởng đến chức năng, nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cho đơn vị phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật
Đơn vị sự nghiệp được dùng tài sản mua sắm từ nguồn quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp và từ nguồn vốn huy động, để thế chấp vay vốn phục vụ cho hoạt
Trang 25động sự nghiệp hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị
Tài sản cố định sử dụng cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ và tài sản cố định được dùng để góp vốn liên doanh, liên kết theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, được trích khấu hao tài sản cố định theo chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định theo quy định áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước
Toàn bộ tiền trích khấu hao tài sản của nhà nước được dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, liên kết, đơn vị được giữ lại để bổ sung vào quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp để sử dụng tái tạo lại tài sản, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị Số tiền trích khấu hao từ tài sản đầu tư, mua sắm từ nguồn vốn huy động được dùng để trả nợ vay, trường hợp đã trả đủ nợ vay được bổ sung vào quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị
Tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp phải được quản lý, sử dụng đúng mục đích, tiêu chuẩn, chế độ, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả để phục vụ công tác và các hoạt động của đơn vị [Trang 5 - điều 10 - Quyết định số 202/2006/QĐ-TTg ngày 31/12/2006 của Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý tài sản nhà nước tại các đơn vị sự nghiệp công lập]
Để thực hiện được các hoạt động sự nghiệp, các đơn vị sự nghiệp có thu phải có tài sản đưa vào sử dụng trong quá trình hoạt động Trong quá trình sử dụng phải bảo toàn tài sản và khai thác tối đa hiệu năng công suất thiết kế của máy móc, thiết bị, nghĩa là phải có chế độ quản lý tài sản thích hợp với từng loại tài sản Thông thường, việc quản lý tài sản của đơn vị do một phòng hoặc một ban chuyên trách thực hiện
Bộ phận chuyên trách thiết lập kế hoạch tăng giảm tài sản hằng năm, theo dõi tài sản trong quá trình sử dụng, phân bổ tài sản cho các bộ phận trong nội bộ đơn vị Việc quản lý tài sản luôn thực hiện trên hai phương diện: quản lý về hiện vật để có kế hoạch sử dụng hợp lý, khai thác tối đa hiệu năng sử dụng tài sản và quản lý về giá trị
để thu hồi đủ vốn đã đầu tư vào tài sản
Hằng năm các đơn vị sự nghiệp có thu đều thực hiện kiểm kê tài sản vào cuối hoặc đầu năm tài chính Đối với trường hợp bàn giao, chia tách, sát nhập, giải thể một hay một vài bộ phận theo chủ trương của các đơn vị thì tiến hành lập biên bản bàn giao tài sản, biên bản đánh giá lại tài sản (nếu cần) Trong quá trình kiểm kê phải ghi chép đầy đủ, kịp thời vào các sổ theo dõi tài sản; xác định rõ nguyên nhân
Trang 26hư hỏng mất mát, đề xuất biện pháp xử lý tài sản Bên cạnh đó, phải thực hiện kiểm tra và báo cáo hiệu suất sử dụng tài sản để có định hướng tái đầu tư, điều chuyển, thanh lý tài sản kịp thời
Tất cả TSCĐ được quản lý tập trung, một phần TSCĐ được giao về cho các
bộ phận trực tiếp sử dụng quản lý đồng thời với đơn vị Trưởng các bộ phận thường xuyên nắm bắt tình hình tài sản thuộc phạm vi quản lý, giao nhiệm vụ rõ ràng cho các các bộ phân chuyên môn và cá nhân phụ trách; thường xuyên đôn đốc kiểm tra việc thi hành các chế độ báo cáo, kiểm kê TSCĐ định kỳ hoặc sau khi xảy ra sự cố
để có hướng giải quyết kịp thời
Khi mua sắm TSCĐ đều thực hiện đúng theo quy trình mua sắm máy móc thiết bị do các đơn vị ban hành TSCĐ được phân loại thống kê, đánh số (số hiệu tài sản), theo dõi chi tiết và được phản ánh trong sổ theo dõi TSCĐ Mọi việc tăng giảm, điều chuyển TSCĐ ở bộ phận nào đều phải có hồ sơ gửi bộ phận quản lý tài sản để cùng phối hợp ghi sổ theo dõi tài sản
Giá trị TSCĐ được ghi theo nguyên giá tại thời điểm hình thành do mua sắm; hoặc đầu tư xây dựng; hoặc điều chuyển đến; hoặc được biếu tặng Những TSCĐ đã khấu hao hết những vẫn sử dụng được trong hoạt động của đơn vị thì không ghi giảm trong sổ theo dõi TSCĐ và tiếp tục quản lý cho đến khi điều chuyển hoặc thanh lý Trong quá trình sử dụng, khi có cải tạo, nâng cấp, sửa chữa lớn, đánh giá lại TSCĐ, tháo dỡ một phần TSCĐ phải lập biên bản ghi rõ các căn cứ thay đổi và xác định lại các chỉ tiêu nguyên giá, giá trị còn lại, số hao mòn lũy kế của TSCĐ trên sổ
kế toán và hạch toán theo quy định hiện hành
TSCĐ được hình thành từ viện trợ, các chương trình hay dự án, tài sản tự chế tạo hoặc được biếu tặng nếu chưa xác định được nguyên giá thì khi đưa vào sử dụng phải thành lập Hội đồng/Tổ định giá tài sản hoặc thuê đơn vị có tư cách pháp nhân thẩm định giá trị tài sản để xác định nguyên giá TSCĐ
TSCĐ hình thành từ nguồn viện trợ không hoàn lại phải có sổ sách theo dõi từng dự án từ khi nhận về đến khi kết thúc dự án Khi kết thúc dự án, Ban quản lý
dự án có trách nhiệm bảo quản tài sản và hồ sơ của tài sản theo nguyên trạng cho đến khi bàn giao cho đơn vị tiếp nhận hoặc hoàn thành việc bán thanh lý tài sản
Trang 27theo quyết định của cấp có thẩm quyền
Nếu TSCĐ có giá trị lớn và nhiều bộ phận cùng sử dụng thì sẽ giao cho một
bộ phận trong các bộ phận đó để tổ chức sử dụng và quản lý Đối với loại TSCĐ mà một bộ phận sử dụng không hết công suất hoặc không sử dụng trong giai đoạn còn tính khấu hao thì điều chuyển đến bộ phận khác có nhu cầu sử dụng hoặc bố trí thêm bộ phận sử dụng chung để khai thác tối đa công suất thiết kế của TSCĐ
2.1.4 Nguyên tắc quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp
Nguyên tắc quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp gồm các nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc hiệu quả: Là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong quản lý tài
chính nói chung và trong quản lý các ĐVSN nói riêng Hiệu quả trong quản lý tài chính thể hiện ở sự so sánh giữa kết quả đạt được trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội với chi phí bỏ ra Tuân thủ nguyên tắc này là khi tiến hành quản lý tài chính các ĐVSN, Nhà nước cần quan tâm cả hiệu quả về xã hội và hiệu quả kinh
tế Mặc dù rất khó định lượng hiệu quả về xã hội, song những lợi ích đem lại về xã hội luôn được đề cập, cân nhắc thận trọng trong quá trình quản lý tài chính công Nhà nước phải cân đối giữa việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu trên cơ sở lợi ích của toàn thể cộng đồng, những mục tiêu chính trị quan trọng cần phải đạt được trong từng giai đoạn nhất định với định mức chi hợp lý Hiệu quả kinh tế là tiêu thức quan trọng
để các cá nhân hoặc cơ quan có thẩm quyền cân nhắc khi xem xét các phương án, dự
án hoạt động sự nghiệp khác nhau Hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế là hai nội dung quan trọng phải được xem xét đồng thời khi hình thành một quyết định hay một chính sách chi tiêu ngân sách liên quan đến hoạt động sự nghiệp
- Nguyên tắc thống nhất: Là thống nhất quản lý tài chính ĐVSN bằng những
văn bản luật pháp thống nhất trong cả nước Thống nhất quản lý chính là việc tuân theo một khuôn khổ chung từ việc hình thành, sử dụng, thanh tra, kiểm tra, thanh quyết toán, xử lý những vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện quản lý thu, chi tài chính ở các ĐVSN Thực hiện nguyên tắc quản lý này sẽ đảm bảo tính công bằng, bình đẳng trong đối xử với các ĐVSN khác nhau, hạn chế những tiêu cực và rủi ro trong hoạt động tài chính, nhất là những rủi ro có tính chất chủ quan khi quyết định các khoản thu, chi
Trang 28- Nguyên tắc tập trung, dân chủ: Là nguyên tắc quan trọng trong quản lý tài
chính đối với các ĐVSN thụ hưởng ngân sách nhà nước Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý tài chính ĐVSN đảm bảo cho các nguồn lực của xã hội được sử dụng hợp lý cả ở quy mô nền kinh tế quốc dân lẫn quy mô ĐVSN
- Nguyên tắc công khai, minh bạch: ĐVSN là tổ chức công nên việc quản lý
tài chính các đơn vị này phải đáp ứng yêu cầu chung trong quản lý tài chính công,
đó là công khai, minh bạch trong động viên, phân phối các nguồn lực xã hội, nhất là nguồn lực về tài chính Bởi vì tài chính công là đóng góp của xã hội Thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý sẽ tạo điều kiện cho cộng đồng có thể giám sát, kiểm soát các quyết định về thu, chi tài chính công, hạn chế những thất thoát và đảm bảo tính hợp lý trong chi tiêu của bộ máy nhà nước
2.1.5 Quy trình quản lý tài chính trong đơn vị sự nghiệp có thu
2.1.5.1 Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ
Theo tinh thần Nghị định 43/2006/NĐ-CP của chính phủ các đơn vị sự nghiệp công lập phải xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ để làm căn cứ triển khai thực hiện cơ chế tự chủ tài chính Đây cũng là căn cứ để các cơ quan quản lý Nhà nước (cơ quan chủ quản, Kho bạc…) giám sát hoạt động tài chính của đơn vị theo tinh thần tự chủ tài chính do nhà nước chủ trương
a Mục đích xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ
Quy chế chi tiêu nội bộ có các mục đích như sau: Tạo quyền chủ động trong việc quản lý và chi tiêu tài chính cho Thủ trưởng đơn vị; Tạo quyền chủ động cho cán bộ, viên chức trong đơn vị hoàn thành nhiệm vụ được giao; Là căn cứ để quản
lý, thanh toán các khoản chi tiêu trong đơn vị; thực hiện kiểm soát của Kho bạc nhà nước, cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan tài chính và các cơ quan thanh tra, kiểm toán theo quy định; Sử dụng tài sản đúng mục đích, hiệu quả; Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Tạo sự công bằng trong đơn vị, khuyến khích tăng thu, tiết kiệm chi, tăng thu nhập cho cán bộ viên chức, thu hút và giữ được những người có năng lực trong đơn vị
b Nguyên tắc, nội dung và phạm vi xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ
- Quy chế chi tiêu nội bộ do Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp ban hành sau khi tổ
Trang 29chức thảo luận rộng rãi dân chủ, công khai trong đơn vị và có ý kiến thống nhất của
tổ chức công đoàn đơn vị Quy chế chi tiêu nội bộ phải gửi cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan tài chính cùng cấp để theo dõi giám sát thực hiện; gửi Kho bạc nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch để làm căn cứ kiểm soát chi Trường hợp có các quy định không phù hợp với quy định của Nhà nước thì trong thời gian 15 ngày
kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan quản lý cấp trên có ý kiến yêu cầu đơn vị phải điều chỉnh lại cho phù hợp; đồng thời gửi cơ quan tài chính cùng cấp và Kho bạc nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch
- Nội dung quy chế chi tiêu nội bộ bao gồm các quy định về chế độ, tiêu chuẩn định mức, mức chi thống nhất trong đơn vị, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao, phù hợp với hoạt động đặc thù của đơn vị, sử dụng kinh phí tiết kiệm có hiệu quả và tăng cường công tác quản lý
- Đối với nội dung chi thuộc phạm vi xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ (chi quản lý, chi nghiệp vụ thường xuyên) đã có chế độ tiêu chuẩn, định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định:
Đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động và đơn vị sự nghiệp
tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động: Thủ trưởng đơn vị được quyết định mức chi quản lý và chi nghiệp vụ cao hơn hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước
Đối với một số tiêu chuẩn, định mức và mức chi các đơn vị sự nghiệp phải thực hiện đúng các quy định của Nhà nước: Tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô; Tiêu chuẩn, định mức về nhà làm việc; Tiêu chuẩn, định mức trang bị điện thoại công vụ tại nhà riêng và điện thoại di động; Chế độ công tác phí nước ngoài; Chế độ tiếp khách nước ngoài và hội thảo quốc tế ở Việt Nam; Chế độ quản lý, sử dụng kinh phí các
Trang 30chương trình mục tiêu quốc gia; Chế độ sử dụng kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao; Chế độ chính sách thực hiện tinh giảm biên chế; Chế độ quản lý, sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm, sửa chữa lớn tài sản
cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Riêng kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp nhà nước, cấp bộ, ngành theo hướng dẫn của Bộ tài chính - Bộ khoa học và công nghệ
Thủ trưởng đơn vị căn cứ tính chất công việc, khối lượng sử dụng, tình hình thực hiện năm trước, quyết định phương thức khoán chi phí cho từng cá nhân, bộ phận, đơn vị trực thuộc hạch toán phụ thuộc sử dụng như: sử dụng văn phòng phẩm, điện thoại, xăng xe, điện nước, công tác phí, kinh phí tiết kiệm do thực hiện khoán được xác định chênh lệch thu, chi và được phân phối, sử dụng theo chế độ quy định
c Cơ sở pháp lý xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ
Việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị phải dựa trên các cơ sở pháp lý dưới đây:
Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ về việc quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức máy, biên chế và tài chính đối với sự nghiệp công lập
Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc ban hành Chế độ Kế toán hành chính sự nghiệp
Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006 và Thông tư số BTC ngày 24/9/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập
113/2007/TT-Thông tư 81/2006/TT-BTC ngày 6/9/2006 của Bộ Tài chính hướng chế độ kiểm soát chi đối với các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế về tài chính
2.1.5.2 Lập dự toán thu chi
Đây là quá trình phân tích, đánh giá giữa khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính để xây dựng các chỉ tiêu thu, chi tài chính hằng năm của đơn vị một cách
Trang 31đúng đắn, có căn cứ khoa học và thực tiễn Các đơn vị sự nghiệp có thu khi lập dự toán thu chi tài chính của đơn vị mình cần căn cứ vào định mức, chế độ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, căn cứ vào nhiệm vụ được giao của đơn
vị năm kế hoạch Việc lập dự toán có thể được thực hiện theo một trong hai phương pháp: phương pháp lập dự toán dựa trên cơ sở quá khứ, dựa vào kết quả hoạt động thực tế của năm trước liền kề, có điều chỉnh theo tỷ lệ tăng trưởng và tỷ
lệ lạm phát dự kiến và phương pháp lập dự toán dựa trên cơ sở nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động trong năm kế hoạch Đối với các đơn vị sự nghiệp có thu, dự toán chi có thể được xác định dựa trên cơ sở phân chia các nhóm mục chi (chi cho con người hay chi thanh toán cho cá nhân; chi nghiệp vụ chuyên môn; chi cho mua sắm, sửa chữa tài sản; và các khoản chi khác) và tiến hành tính toán số chi thường xuyên cho từng nhóm mục chi cụ thể
Mục đích của việc lập dự toán phải đảm bảo: Cung cấp thông tin về toàn bộ
kế hoạch kinh doanh một cách có hệ thống; thực hiện các mục tiêu đã đề ra; là căn
cứ đánh giá thực hiện; dự báo khi có tiềm ẩn; liên kết toàn bộ các hoạt động của đơn vị; tạo động lực khuyến khích nhân viên
Quá trình lập dự toán được thể hiện qua sơ đồ sau :
Kế hoạch Kiểm tra
Hình 2.1 Sơ đồ quá trình lập dự toán thu, chi tài chính
- Căn cứ lập dự toán thu, chi hàng năm :
+ Nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh; + Những nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị sự nghiệp có thu;
+ Chế độ thu, chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách, thông tư hướng dẫn của nhà nước, quy định nội bộ của đơn vị sự nghiệp có thu;
Hoạt động điều chỉnh
Trang 32+ Tình hình thực hiện dự toán thu, chi năm trước;
- Thời hạn lập dự toán: Căn cứ chỉ thị, hướng dẫn của cơ quan cấp trên về thời hạn lập dự toán thu, chi và thông báo số kiểm tra về dự toán thu, chi;
Việc lập dự toán được thực hiện căn cứ vào các quy định tại Điều 37 của Luật NSNN Việt Nam và Điều 30 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP, cụ thể như sau:
- Lập dự toán thu, chi thường xuyên:
+ Dự toán thu: Đơn vị căn cứ vào đối tượng thu, mức thu và tỷ lệ được để lại chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền lập dự toán các khoản thu phí,
lệ phí; căn cứ vào kế hoạch hoạt động dịch vụ và mức thu do đơn vị quyết định hoặc theo hợp đồng đơn vị đã ký kết để lập dự toán thu đối với các khoản thu sự nghiệp
+ Dự toán chi: Đơn vị thực hiện lập dự toán chi tiết cho từng loại nhiệm vụ theo quy định như: chi thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhà nước giao; chi phục vụ cho công tác hoạt động sự nghiệp và chi hoạt động dịch vụ
- Lập dự toán các khoản chi không thường xuyên: đơn vị lập dự toán theo từng nhiệm vụ chi theo quy định
Dự toán thu, chi của đơn vị phải có thuyết minh cơ sở tính toán, chi tiết theo từng nội dung thu, chi gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp để xem xét tổng hợp gửi cơ quan chủ quản theo quy định của pháp luật
- Đối với dự toán thu, chi hoạt động thường xuyên: căn cứ vào quy định của nhà nước để lập dự toán thu, chi hoạt động thường xuyên của năm kế hoạch Trong đó: kinh phí NSNN đảm bảo hoạt động thường xuyên theo mức kinh phí NSNN đảm bảo hoạt động năm trước liền kề, cộng (+) hoặc trừ (-) kinh phí của nhiệm vụ tăng hoặc giảm của năm kế hoạch do cơ quan có thẩm quyền quyết định
- Đối với dự toán chi không thường xuyên: lập dự toán theo từng nhiệm vụ được giao và theo quy định hiện hành
2.1.5.3 Tổ chức thực hiện và chấp hành dự toán thu chi tài chính
- Thực hiện dự toán là khâu quan trọng trong quá trình quản lý tài chính Đây là quá trình vận dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế tài chính và hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi tài chính trong dự toán của đơn vị thành hiện thực Tổ chức thực hiện dự toán là nhiệm vụ của tất cả các phòng, ban, các
Trang 33bộ phận trong đơn vị, việc thực hiện dự toán diễn ra trong một niên độ ngân sách (từ 01/01 đến 31/12 hằng năm)
Các đơn vị sự nghiệp có thu căn cứ vào dự toán được giao, triển khai thực hiện, đưa ra các biện pháp cần thiết để đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ thu, chi được giao; đồng thời có kế hoạch sử dụng kinh phí ngân sách theo đúng mục đích, chế độ, tiết kiệm và có hiệu quả
Sau khi được cơ quan chủ quản giao dự toán thu, chi hoạt động thường xuyên và dự toán các khoản chi không thường xuyên, các đơn vị triển khai thực hiện kế hoạch tài chính của đơn vị mình
Đối với các khoản chi thường xuyên được cấp có thẩm quyền giao, các đơn
vị được điều chỉnh nội dung chi cho phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị mình; đồng thời gửi cơ quan cấp trên và Kho bạc nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch để theo dõi quản lý, thanh toán và quyết toán
Trên cơ sở dự toán ngân sách được giao, các đơn vị sự nghiệp tổ chức triển khai thực hiện, đưa ra các biện pháp cần thiết đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ thu chi được giao đồng thời phải có kế hoạch sử dụng kinh phí ngân sách theo đúng mục đích, chế độ, tiết kiệm và có hiệu quả
- Chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước: Để theo dõi quá trình chấp hành
dự toán thu chi, các đơn vị sự nghiệp cần tiến hành theo dõi chi tiết, cụ thể từng nguồn thu, từng khoản chi trong kỳ của đơn vị Được tự chủ thực hiện nhiệm vụ thu đúng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định khung mức thu, đơn vị căn cứ nhu cầu chi phục vụ cho hoạt động, khả năng đóng góp của xã hội để quyết định mức thu cụ thể cho phù hợp với từng loại hoạt động, từng đối tượng, nhưng không được vượt quá khung mức thu do cơ quan có thẩm quyền quy định Đối với những hoạt động dịch vụ theo hợp đồng với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các hoạt động liên doanh, liên kết, đơn vị được quyết định các khoản thu, mức thu cụ thể theo nguyên tắc bảo đảm đủ bù đắp chi phí và có tích luỹ
- Các căn cứ tổ chức thực hiện và chấp hành dự toán thu chi tài chính:
Một là, dựa vào định mức chi được duyệt của từng chỉ tiêu trong dự toán Đây
là căn cứ mang tính quyết định nhất trong quá trình tổ chức thực hiện và chấp hành
Trang 34dự toán chi ngân sách nhà nước, bởi vì hầu hết các nhu cầu chi đã có định mức, tiêu chuẩn và đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt và thông qua
Hai là, dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể dành cho nhu cầu chi ngân sách nhà nước trong mỗi kỳ báo cáo Chi thường xuyên của ngân sách nhà nước luôn bị giới hạn bởi khả năng huy động của các nguồn thu Mặc dù các khoản chi thường xuyên đã được ghi trong dự toán nhưng khi số thu không đảm bảo vẫn phải cắt giảm một phần nhu cầu chi tiêu Đây là một trong những giải pháp thiết lập lại sự cân đối giữa thu và chi ngân sách nhà nước trong quá trình tổ chức thực hiện và chấp hành dự toán
Ba là, dựa vào các chế độ, chính sách chi ngân sách nhà nước hiện hành Đây là căn cứ mang tính pháp lý cho công tác tổ chức thực hiện và chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước, bởi vì tính hợp lý của các khoản chi sẽ được xem xét dựa trên cơ sở các chính sách, chế độ của Nhà nước đang có hiệu lực thi hành Để làm được điều đó các chính sách, chế độ phải phù hợp với thực tiễn
2.1.5.4 Kiểm tra, kiểm soát quy trình thu chi tài chính
Việc thực hiện kế hoạch không phải bao giờ cũng đúng như dự kiến Do vậy đòi hỏi phải có sự kiểm tra, kiểm soát thường xuyên để phát hiện sai sót, uốn nắn và đưa công tác quản lý tài chính đi vào nề nếp.Việc kiểm tra giúp đơn vị nắm được tình hình quản lý tài chính nhằm đảm bảo hiệu quả đầu tư
Cùng với việc kiểm tra, kiểm soát công tác đánh giá rất được coi trọng trong quá trình quản lý tài chính Đánh giá để xem việc gì đạt hiệu quả, những việc gì không đạt hiệu quả gây lãng phí để có biện pháp động viên kịp thời cũng như rút kinh nghiệm quản lý
- Sau mỗi quý, năm ngân sách, đơn vị sự nghiệp lập báo cáo quyết toán quý, quyết toán năm gửi cơ quan quản lý cấp trên theo quy định Quyết toán thu, chi tài chính là quá trình kiểm tra, tổng hợp số liệu về tình hình chấp hành dự toán trong kỳ báo cáo và là cơ sở để phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán để từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho các kỳ tiếp theo
Trong quá trình thực hiện chu trình quản lý ngân sách tại các đơn vị sự nghiệp, việc kiểm tra kiểm soát cần được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục trong suốt chu trình ngân sách Kiểm soát chi của các đơn vị sự nghiệp được KBNN
Trang 35thực hiện theo quy định hiện hành Đồng thời, các đơn vị có trách nhiệm tự kiểm tra tình hình thực hiện các nhiệm vụ thu, chi ngân sách của mình; các cơ quan chủ quản
và cơ quan nhà nước có liên quan thực hiện việc kiểm tra, thanh tra các hoạt động thu, chi của các đơn vị theo quy định
Thủ trưởng các đơn vị dự toán cấp trên có trách nhiệm kiểm tra và duyệt quyết toán thu, chi ngân sách của các đơn vị trực thuộc, chịu trách nhiệm theo dõi các khoản chi thường xuyên của NSNN
Công tác kiểm soát chi là nhiệm vụ của tất cả các đơn vị Luật Ngân sách Nhà nước qui định chi ngân sách chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện:
+ Đã có trong dự toán được duyệt;
+ Đúng chế độ tiêu chuẩn định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; + Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người ủy quyền chuẩn chi
2.1.5.5 Hạch toán kế toán và quyết toán thu chi
Các tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ thu, chi tài chính phải tổ chức hạch toán kế toán, báo cáo và quyết toán tài chính theo đúng chế độ kế toán nhà nước đã ban hành
Công tác quyết toán là khâu cuối cùng của quá trình sử dụng kinh phí Đây là quá trình phản ánh đầy đủ các khoản chi và báo cáo quyết toán ngân sách theo đúng chế độ báo cáo về biểu mẫu, thời gian, nội dung và các khoản chi tiêu Trên cơ sở các số liệu báo cáo quyết toán có thể đánh giá hiệu quả phục vụ chính của các đơn vị sự nghiệp có thu, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch đồng thời rút ra ưu, khuyết điểm của từng bộ phận trong quá trình quản lý để làm cơ sở cho việc lập kế hoạch của năm sau
Công tác quyết toán được diễn ra tốt cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Tổ chức bộ máy kế toán theo quy định nhưng đảm bảo tinh giản, gọn nhẹ, linh hoạt và hiệu quả
- Mở sổ sách theo dõi đầy đủ và đúng quy định
- Ghi chép cập nhật, phản ánh kịp thời và chính xác
- Thường xuyên tổ chức đối chiếu, kiểm tra
Trang 36- Số liệu trong báo cáo phải đảm bảo tính chính xác, trung thực Nội dung các báo cáo tài chính phải theo đúng nội dung ghi trong dự toán được duyệt và theo đúng mục lục ngân sách nhà nước quy định
- Cuối kỳ báo cáo theo mẫu biểu thống nhất và xử lý những trường hợp trái với chế độ để tránh tình trạng sai sót
- Thực hiện báo cáo quý sau 15 ngày và báo cáo năm sau 45 ngày theo quy định của Nhà nước
- Quy trình thực hiện quyết toán: (Thực hiện theo Điều 70, Nghị định số 60/2003/NĐ-CP)
Sau khi năm ngân sách kết thúc, các đơn vị có các hoạt động chi ngân sách nhà nước tiến hành lập quyết toán thu chi trong phạm vi đơn vị mình, số liệu quyết toán được đối chiếu với Kho bạc nhà nước nơi đơn vị giao dịch xác nhận, sau đó gửi cơ quan tài chính thẩm tra xét duyệt
2.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu
2.1.6.1 Những nhân tố chủ quan
a, Tổ chức bộ máy quản lý tài chính
Thông thường bộ máy quản lý tài chính được tổ chức thành một tổ chuyên môn đối với đơn vị có quy mô hoạt động nhỏ hoặc bố trí thành Phòng nghiệp vụ với quy mô hoạt động của đơn vị là lớn Bộ phận quản lý tài chính được tổ chức trực thuộc sự điều hành trực tiếp từ Ban Giám đốc Đây là bộ phận lưu trữ, nắm bắt mọi hoạt động tài chính diễn ra trong trung tâm giúp cho quá trình kiểm tra giám soát được thực hiện liên tục Tạo cơ sở tham mưu, tư vấn cho Ban Giám đốc khi ra quyết định tài chính, hoặc quyết định hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ chính trị được giao
Đơn vị sự nghiệp có thu cũng là một dạng tổ chức giống như Doanh nghiệp nên
bộ máy quản lý tài chính được tổ chức theo một cơ cấu rõ ràng, có phân công, phân nhiệm cụ thể cho từng bộ phận trong một bộ máy Nếu tổ chức bộ máy không hợp lý, chồng chéo lẫn nhau sẽ kiềm hãm hay cản trở quá trình thực hiện mục tiêu đề ra Tạo
sự chay lì, mai một năng lực làm việc của cán bộ chuyên trách trong bộ máy quản lý tài
Trang 37chính Nếu tổ chức bộ máy hợp lý sẽ phát huy tính sáng tạo và năng lực chuyên môn của cán bộ quản lý làm cho các hoạt động trong đơn vị được thông suốt trôi chảy
b, Trình độ và năng lực quản lý của cán bộ
Nhân tố chủ quan không kém phần quan trọng ảnh hưởng đến quá trình hoàn thiện quản lý tài chính là trình độ và năng lực của cán bộ quản lý cũng như cán bộ chuyên trách của bộ máy quản lý tài chính
Mặc dù, ngày nay khoa học công nghệ đã được ứng dụng nhiều vào các hoạt động văn hóa xã hội nhưng không thể thay thế hoàn toàn lao động của con người bằng máy móc Con người luôn là yếu tố cốt lõi của mọi vấn đề, bởi nhận thức của con người làm phát sinh quyết định hành động, cách thức thực hiện quản lý, sáng tạo tri thức mới để giải quyết vấn đề thực tiễn đơn giản hơn, đạt được mục tiêu đề ra nhanh hơn Khi trình độ và năng lực nhận thức của con người càng cao thì quyết định cũng như hành động càng chính xác Do đó con người là nhân tố trung tâm của quá trình quản lý, trong đó, trình độ của cán bộ quản lý là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến tính kịp thời, chính xác của các quyết định quản lý và quyết định đến sự thành công hay thất bại của công tác quản lý Đối với công tác quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp, cán bộ quản lý tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và thực thi các chính sách, chế độ tài chính
Thực tế đã chứng minh, khi đội ngũ CBCNV của một bộ máy có trình độ chuyên môn và năng lực phù hợp với yêu cầu công việc thì bộ máy đó hoạt động rất hiệu quả trong việc xây dựng chính sách, thực thi đúng chủ trương chính sách đã đề
ra, thông tin được xử lý kịp thời, linh hoạt, đạt hiệu quả cao và hướng hoạt động của đơn vị tuân thủ đầy đủ các chế độ, các quy định của Nhà nước cũng như hoạt động tài chính của đơn vị được quản lý chặt chẽ Người quản lý có trình độ cao sẽ thiết lập tổ chức bộ máy quản lý tài chính thanh gọn vừa quản lý chặt chẽ vừa tiết kiệm chi phí duy trì hoạt động cho bộ máy quản lý tài chính Ngược lại, khi đội ngũ CBCNV của một bộ máy thiếu kinh nghiệm quản lý, trình độ chuyên môn và năng lực yếu kém sẽ dẫn đến sự trì trệ trong quá trình xử lý nhiệm vụ được giao, kéo theo Ban Lãnh đạo của đơn vị không được cung cấp thông tin cố vấn về tài chính kịp
Trang 38thời Dẫn đến việc ra quyết định không phù hợp với tình hình tài chính thực tế khiến cho hoạt động của đơn vị bị trì trệ hoặc không thực hiện được
Vì vậy để làm tốt công tác quản lý tài chính thì đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản
lý tài chính phải có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm trong công tác quản lý tài chính thì công tác quản lý tài chính mới hiệu quả, đảm bảo khai thác triệt để nguồn thu, đảm bảo kinh phí phục vụ cho việc thực hiện các nhiệm vụ được giao Đồng thời, đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ chi một cách tiết kiệm, hiệu quả, tránh lãng phí, thất thoát Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ quản lý tài chính có kinh nghiệm, trình độ chuyên môn cao sẽ xây dựng được chiến lược quản lý tài chính tốt, đưa ra các biện pháp quản lý tài chính hiệu quả và đảm bảo cho công tác quản lý tài chính của đơn vị được thực hiện theo đúng các chế độ quy định, góp phần vào hiệu quả hoạt động chung của toàn đơn vị Ngược lại, đội ngũ cán bộ quản lý tài chính thiếu kinh nghiệm, hạn chế về trình độ chuyên môn sẽ dẫn đến tình trạng quản lý tài chính thiếu chặt chẽ, gây thất thoát, lãng phí, từ đó, làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động chung của đơn vị
c, Quy định chế độ kiểm tra, kiểm soát nội bộ
Chế độ kiểm tra, kiểm soát là những quy định về chính sách, về cách thức tổ chức thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động trong đơn vị để đảm bảo tổ chức
đó hoạt động hiệu quả, đạt được mục tiêu đặt ra một cách hợp lý
Chế độ kiểm tra, kiểm soát của đơn vị là yếu tố quan trọng trong việc quản lý tài chính hiệu quả Nếu không kiểm tra, kiểm soát thường xuyên sẽ không thu nhận được thông tin phản hồi về đối tượng quản lý; sẽ không nắm bắt kịp thời và chính xác tình hình hoạt động cũng như tình hình tài chính của đơn vị Nên không phát hiện những điểm bất hợp lý trong quá trình thực hiện hoạt động tài chính tại đơn vị Mặt khác, việc kiểm tra, kiểm soát thường xuyên sẽ kích thích nhân sự làm việc có trách nhiệm với nhiệm vụ được giao, hạn chế được sự sao lãng trong công việc Nhưng nếu kiểm tra, kiểm soát quá dày có khi dẫn đến sự lãng phí về nhân lực và vật lực, tạo cảm giác nặng nề giữa các bộ phận có liên quan Chính vì thế đòi đơn vị phải xây dựng chế độ kiểm tra, kiểm soát hợp lý để nắm bắt thông tin kịp thời, chính xác nhằm kịp thời điều chỉnh, khắc phục những quyết định quản lý tài chính
Trang 39chưa phù hợp hoặc còn sơ hở trong khâu quản lý; hoặc để ngăn ngừa những việc sai phạm, sai trái đối với chủ trương của đơn vị và những hành vi vi phạm pháp luật về chính sách, chế độ tài chính - kế toán do Nhà nước quy định
Trong chế độ kiểm tra, kiểm soát của một đơn vị cần phải thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm phát hiện sớm những sai sót và kịp thời điều chỉnh, giúp đơn
vị tránh những sai sót lớn vi phạm chế độ tài chính cũng như chế độ kế toán hiện hành do Nhà nước ban hành Đồng thời, giúp đơn vị nâng cao năng lực thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao Hệ thống kiểm soát nội bộ là mắt xích quan trọng đảm bảo cho đơn vị tuân thủ pháp luật và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính trong đơn vị
2.1.6.2 Những nhân tố khách quan
a,Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước
Đây là nhân tố quyết định nội dung hoạt động của các đơn vị sự nghiệp Khi nội dung hoạt động thay đổi thì cách thức và phương tiện thực hiện phải thay đổi theo Bởi vậy, cơ chế quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp phải thay đổi, phải hoàn thiện để đáp ứng nội dung hoạt động của đơn vị
Dễ nhận thấy trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, kinh phí hoạt động trong các đơn vị sự nghiệp được ngân sách Nhà nước cấp phát toàn bộ và việc sử dụng những kinh phí này phải theo đúng dự toán Điều tất yếu khi lập dự toán là không thể lường hết các khoản gia tăng chi tiêu ngoài dự toán của đơn vị, cụ thể như số lượng người dân có nhu cầu sử dụng dịch vụ hay cơ sở vật chất, trang thiết
bị kỹ thuật bị hư hỏng do nguyên nhân khách quan, dẫn đến sự mất cân đối trong thu chi của đơn vị Hơn nữa, Ngân sách Nhà nước có hạn nhưng nhu cầu chi tiêu có khuynh hướng tăng nhiều hơn giảm, biện pháp giải quyết tình trạng mất cân đối này trước mắt phải giảm chi tiêu Nếu giảm chi tiêu cho một trong những hoặc toàn bộ các yếu tố như cơ sở vật chất trang bị cho việc phục vụ các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ, giảm lương CBNV, sẽ dễ dàng kéo theo chất lượng dịch vụ không được đảm bảo
Khi Đảng và Nhà nước có chủ trương thực hiện xã hội hóa các dịch vụ công Thì biện pháp giải quyết tình trạng mất cân đối thu chi trong các đơn vị sự nghiệp
Trang 40có thu là giao việc quản lý tài chính cho các đơn vị thực hiện Các đơn vị sự nghiệp phải chủ động tìm nguồn thu ngoài NSNN để trang trải mọi chi phí phát sinh trong nội bộ của đơn vị Chủ trương này kết hợp với môi trường pháp lý rõ ràng, chặt chẽ và công bằng đã tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp xây dựng
cơ chế quản lý tài chính chủ động, sáng tạo phù hợp với luật định và điều kiện hoạt động của đơn vị mình
Rõ ràng khi chủ trương, đường lối và chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội thay đổi thì chế độ tài chính của các đơn vị sự nghiệp cũng phải thay đổi theo, không còn bó hẹp trong phạm vi cấp phát và chi tiêu theo kế hoạch được giao của Nhà nước Nói cách khác đây là nhân tố khách quan quan trọng tác động đến quá trình hoàn thiện quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp có thu
b, Tác động của thị trường
Với tình hình hiện nay giá cả và các yếu tố đầu vào leo thang làm cho chi phí sản xuất tăng lên Đồng thời, tỷ lệ lạm phát có xu hướng tăng, nguồn vốn đầu tư bị giảm, thu nhập của người lao động và các lớp dân cư không tăng làm cho sức mua giảm, lượng hàng tiêu thụ sẽ giảm, giá bán không bù đắp được chi phí sản xuất kinh doanh Khi đó lượng tiền vào đơn vị nhỏ hơn lượng tiền ra khỏi đơn vị đến hạn, tình trạng mất cân đối về dòng tiền đã xảy ra Sự mất cân đối này tiềm ẩn một rủi ro lớn đối với hoạt động kinh doanh Do thiếu tiền, việc mua nguyên nhiên vật liệu phục
vụ cho sản xuất kinh doanh có thể bị dừng lại, dẫn đến ngừng sản xuất; tiền lương của công nhân và các khoản vay (nếu có) không được trả đúng hạn ảnh hưởng lớn
uy tín của đơn vị
Bên cạnh đó, để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh đầu tư, hầu hết các đơn vị đều phải sử dụng vốn vay Do đó lãi suất tiền vay - chi phí sử dụng vốn trở thành bộ phận cấu thành quan trọng trong chi phí sản xuất kinh doanh và đầu tư của đơn vị Tuy nhiên lạm phát tăng, lãi suất tiền vay tăng theo cũng là một khó khăn cho đơn vị về huy động vốn đầu tư Tất cả các nhân tố trên sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị cũng như việc nâng cao hiệu quản trị tài chính trong đơn vị