1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hồn- Tinh - Hình _ Nhạc trong thơ Hoàng Cầm

184 1,7K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hồn – Tình – Hình - Nhạc Trong Thơ Hoàng Cầm
Tác giả Văn Thị Lệ Hiền
Người hướng dẫn PGS.TS. Phùng Quý Nhâm
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lý luận văn học
Thể loại Luận văn thạc sĩ văn học
Năm xuất bản 2009
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 184
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài về : Hồn- Tinh - Hình _ Nhạc trong thơ Hoàng Cầm

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

VĂN THỊ LỆ HIỀN

HỒN – TÌNH – HÌNH - NHẠC TRONG THƠ HOÀNG CẦM

Chuyên ngành : Lý luận văn học

Mã số : 60 22 32

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS PHÙNG QUÝ NHÂM

Thành phố Hồ Chí Minh -2009

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình giúp đỡ của Ban Giám Hiệu Trường Đại học Sư Phạm Tp.HCM, Phòng Khoa học Công nghệ - Sau Đại học cùng tập thể các Thầy, Cô khoa Ngữ văn của trường

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phùng Quý Nhâm, người

đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện luận văn

Cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian tôi học tập và thực hiện luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

kỉ niệm sống, được xếp hàng ngang và mỗi tác phẩm hay là một nốt nhạc riêng, mang cung bậc và sức âm vang riêng, làm nên sự phong phú, đa dạng với vẻ đẹp độc đáo của khu vườn văn học

1.2 Nền văn học ta giai đoạn từ nửa sau thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX là thời ngự trị của những đại danh hào, những giá trị cổ điển bậc nhất như: Nguyễn

Du, Hồ Xuân Hương…, những tên tuổi đã làm rạng danh nền văn học nước nhà Và giai đoạn nửa đầu thế kỉ XX, bên cạnh những tên tuổi như: Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử…, Hoàng Cầm là một

hiện tượng tiêu biểu trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại

Dấn thân trên bước đường kịch nghệ và thi ca, với Hoàng Cầm, đâu chỉ là cái

duyên mà như là một thiên mệnh Quả vậy, chất chứa trong hồn người thi sĩ Hoàng

Cầm là niềm mê đắm khôn nguôi với đời và với thơ ca Phất cánh diều thơ từ rất sớm, chàng thi sĩ tự nhận mình có duyên với làng quê và có nợ với thi ca ấy, trọn đời một lòng chung thủy với nàng thơ, lấy thơ làm cứu cánh, làm mục đích và lẽ sống cho mình Tiếng thơ Hoàng Cầm không ồn ào mà khiêm nhường, lặng lẽ, sâu lắng Giọng thơ Hoàng Cầm mượt mà, đầy sức quyến rũ, bởi hơn ai hết, nhà thơ có

biệt tài trong việc khai thác chất men say của thơ và hơn thế, còn sở hữu một thế

giới nội tâm sâu thẳm và chiều sâu văn hóa làng quê Việt Thơ ông đẹp vẻ đẹp thướt tha mà dạt dào, hào sảng, óng ả, thanh cao mà ngọt ngào, lắng đọng Bước vào thế giới ấy, người đọc sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước nét bút tài hoa mà rất đỗi nguyên khôi, một hồn thơ đặc biệt tinh tế và nhạy cảm Vậy nên, dù gia tài văn chương thi nhân để lại cho đời không thật nhiều song những tiếng vọng từ sâu thẳm tâm can ông, qua thơ, lại có ấn tượng không nhỏ trong lòng người đọc

Trang 4

1.3 Làm nên tên tuổi của Hoàng Cầm trên văn đàn, bên cạnh những sáng tác thơ còn phải nói đến những tác phẩm văn xuôi và kịch thơ nổi tiếng Đương nhiên, chỉ với mảng sáng tạo đầy chất mộng của mình, Hoàng Cầm đã xứng đáng được xem là một trong những nhà thơ xuất sắc của nền thi ca Việt Nam hiện đại Giữa mênh mông cuộc đời, tâm hồn anh minh, sâu lắng và luôn luôn rộng mở ấy, tiếng thơ tràn đầy nhiệt huyết và giàu trải nghiệm về cuộc sống ấy đã không thể lẫn vào đâu được, càng không thể phai mờ được Tuy vậy, đời thơ nhiều tìm tòi, nhiều trăn trở Hoàng Cầm, trước nay vẫn chưa có được sự quan tâm nghiên cứu đúng mức Sự yêu thích và niềm trân trọng của người thưởng thức đối với thi phẩm ông là không thể diễn tả hết nhưng việc nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở những bài viết nhỏ, những tiểu luận ngắn Nhìn lại những cống hiến to lớn của Hoàng Cầm đối với nền thi ca nước nhà, sẽ thấy, rất cần thiết phải có những công trình nghiên cứu chuyên sâu đối với di sản thơ ca quý giá của ông, để cho, cuộc đời sáng tạo không mệt mỏi ấy được tri ân một cách đúng nghĩa

Với những lẽ trên, chúng tôi thực hiện luận văn nghiên cứu: Hồn – Tình – Hình – Nhạc trong thơ Hoàng Cầm với mong muốn phát hiện ra những điểm sáng

giá trị trong thơ ông, khẳng định một lần nữa tài năng và những đóng góp nhất định của thi nhân trong dòng chảy lớn của nền thi ca Việt Nam hiện đại Điều đó, thiết nghĩ, có ý nghĩa không nhỏ đối với việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập thơ Hoàng Cầm

2 Mục đích nghiên cứu

Ý thức được giá trị to lớn của nguồn thơ Hoàng Cầm, nhận thấy có những vấn đề mà các công trình nghiên cứu trước đây hoặc chỉ đề cập hoặc có quan tâm khai thác, song vì lý do nào đó, đã chưa triển khai được một cách sâu sắc, chúng tôi

nghiên cứu mảng vấn đề: Hồn - Tình – Hình – Nhạc trong thơ Hoàng Cầm với mục đích tìm hiểu những phần sâu hơn, khám phá được nhiều hơn chất ngọc tiềm ẩn

trong những sáng tác thơ của ông Việc tiếp thu có chọn lọc thành quả nghiên cứu của những người đi trước trong quá trình làm luận văn nhằm hướng đến trang bị cho người đọc những nhận thức đúng đắn, đầy đủ về di sản thơ Hoàng Cầm Nét văn phong riêng, sự sáng tạo đặc sắc và độc đáo của người nghệ sĩ tài hoa Hoàng Cầm cũng được khẳng định theo đó

Mục đích đặt ra là không nhỏ, những gì có thể làm được hẳn cũng chưa phải

là tất cả khi sự nghiên cứu còn gặp nhiều khó khăn Dẫu vậy, bằng niềm say mê và lòng nhiệt thành, chúng tôi rất mong mang lại những đóng góp mới mẻ, dù nhỏ, cho

Trang 5

ngành nghiên cứu văn học

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nếu những vở kịch thơ và những trang văn xuôi của Hoàng Cầm bộc lộ một

bề dày văn hóa cùng những trải nghiệm về đời, về nghệ thuật sâu sắc và thấu đáo thì

suối thơ của ông chính là dòng sông tâm hồn ông – nơi luôn đầy ắp những con sóng

dạt dào, trẻ trung và ngọt mát Quả là, ở lĩnh vực nào Hoàng Cầm cũng tạo ra được

ấn tượng đẹp trong lòng người đọc Song có lẽ, với thi ca, sức bung tỏa của tài năng

và mạch cảm xúc bất tận trong tâm hồn ông mới thực sự tuôn trào Luận văn không

đề cập đến toàn bộ sáng tác của Hoàng Cầm mà chỉ tập trung nghiên cứu phần thơ của thi nhân Ở đó, chúng tôi cũng không bàn đến mọi phương diện về nội dung và nghệ thuật mà chỉ đi sâu tìm hiểu cái hay, nét đẹp của thơ ông qua những yếu tố về

hồn thơ, tình thơ, hình ảnh và nhạc điệu trong thơ

Để thực hiện mục đích nghiên cứu đã đặt ra ấy, chúng tôi khảo sát toàn bộ

sáng tác thơ của Hoàng Cầm, cụ thể qua những tập thơ: “Mưa Thuận Thành”, NXB Văn hóa 1991; “Bên kia sông Đuống”, NXB Văn học 1993; “Lá Diêu Bông”, NXB Văn học 1993; “Về Kinh Bắc”, NXB Văn học 1994; “Men đá vàng”, NXB Văn học 1995; và “99 tình khúc”, NXB Văn học 1996 Ngoài ra, Hoàng Cầm còn có

nhiều tác phẩm thơ được in trên các báo và tạp chí song chúng tôi chỉ xem đó như là những tài liệu tham khảo hữu ích cũng như những sáng tác văn xuôi và kịch thơ vậy

Tuy sự nghiên cứu chỉ tập trung vào những vấn đế mà đề tài đặt ra nhưng để những điều ấy được khai thác trọn vẹn, được làm sáng rõ, người nghiên cứu đặt chúng trong mối quan hệ chặt chẽ, mật thiết với toàn bộ sáng tác của Hoàng Cầm, với cả những sáng tác văn xuôi và kịch thơ của ông Và trong chừng mực nhất định,

sự liên hệ, đối sánh những nét độc đáo, đặc sắc trong thơ Hoàng Cầm với sáng tác thơ của một số tác giả trước, sau hay cùng thời với thi nhân nhằm khẳng định nét đẹp riêng của tiếng thơ ông, xét thấy cũng là điều cần thiết

4 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Thơ Hoàng Cầm như chính con người ông, thu hút sự quan tâm của mọi người không phải bằng sự ồn ào, làm say mê lòng người không phải từ sự trau chuốt đến bóng bẩy bởi lớp ngôn từ nhiều phép tắc Vẻ đẹp thơ ông toát ra từ thế giới tâm hồn, từ tình cảm bao la mà rất mực chân thành của một nhà thơ suốt đời tận tụy vì nghệ thuật, xem thơ là lẽ sống của mình Sức quyến rũ kì lạ của thơ Hoàng Cầm khiến cho những ai yêu thơ khó lòng mà dứt ra được, để rồi càng thấy thương hơn, quý hơn tấm lòng và tài nghệ con người ấy Tuy vậy, nhìn lại lịch sử

Trang 6

nghiên cứu văn học trước nay, có thể nói chưa có công trình nào nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm một cách toàn diện và có hệ thống Dưới hình thức những tiểu luận, những bài viết ngắn, giới nghiên cứu, phê bình, người giảng dạy và độc giả yêu thích thơ Hoàng Cầm đã khám phá ra được những giá trị nhất định của thi phẩm

ông, khẳng định sự cống hiến to lớn của thi nhân trong nền văn học hiện đại

Chính thức bước vào làng Văn từ năm 1939 và thành công với nhiều vở kịch thơ, nhưng phải nói, thơ là lĩnh vực Hoàng Cầm thử bút sớm nhất Cậu bé ấy năm lên tám tuổi đã thổi hồn mình vào trang thư tình trên nền thơ lục bát trao cho người Chị yêu dấu của mình Tuy vậy, thi nghiệp của ông chỉ thực sự được khẳng định khi

Bên kia sông Đuống ra đời Bài thơ đã nâng tên tuổi Hoàng Cầm lên trên đài thơ, đứng cạnh các bậc liền anh Thế Lữ, Nguyễn Bính, Xuân Diệu…, và cùng với những Lá Diêu Bông, Quả vườn ổi…, thơ Hoàng Cầm làm say lòng độc giả bằng

cách riêng của nó, thu hút mạnh mẽ sự chú ý của giới nghiên cứu, phê bình văn học

Đến với thơ Hoàng Cầm, người nghiên cứu dù đứng ở góc độ nào, bàn về phương diện gì cũng đều nhận ra cái tài thơ với tấm lòng yêu thơ, yêu cuộc sống hiếm thấy nơi ông, ngưỡng mộ thật sự vẻ đẹp tâm hồn, cốt cách của thi nhân Và ở những mức độ đậm nhạt khác nhau, các bài viết thể hiện niềm ưu ái, sự đồng cảm

và trân trọng đối với những vần thơ chan chứa tình đời, tình người, ngút đầy nỗi nhớ, niềm thương của ông Những bài viết ấy được tập hợp lại trong mấy quyển

sách sau đây: Quyển thứ nhất do Hoài Việt sưu tầm, biên soạn, có tên: Hoàng Cầm, thơ văn và cuộc đời của NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 1997 Quyển thứ hai của Vũ Tiến Quỳnh, quyển Lý luận phê bình – bình luận văn học, giới thiệu các tác

giả Hồng Nguyên, Chính Hữu, Trần Hữu Thung, Quang Dũng và Hoàng Cầm, NXB Văn nghệ, thành phố Hồ Chí Minh, 1998 Tiến sĩ Nguyễn Xuân Lạc biên soạn

quyển Hoàng Cầm và giai điệu thơ Kinh Bắc, tập sách có sự tham gia của nhiều

giáo sư, tiến sĩ, nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng và được Hội Nghiên cứu và Giảng

dạy Văn học thành phố Hồ Chí Minh, NXB Trẻ xuất bản năm 2004 Quyển Hoàng cầm – Tác giả, tác phẩm, tư liệu và quyển Nhà văn và tác phẩm trong nhà trường,

về hai tác giả Nguyễn Đình Thi và Hoàng Cầm, được Nguyễn Bích Thuận và Lê Lưu Oanh sưu tầm, tuyển chọn và biên soạn nhiều bài viết về đời và thơ Hoàng Cầm song phần lớn đã được giới thiệu trong những sách trên Ngoài ra, còn có một

số bài nghiên cứu nằm rải rác trên các sách, báo và tạp chí, với những cách nhìn, cách nghĩ khác nhau, tác giả mỗi bài viết đã góp những tiếng nói đầy ý nghĩa cho việc nhìn nhận, đánh giá về sự nghiệp thơ ca Hoàng Cầm Trong phạm vi giới hạn

Trang 7

của luận văn, chúng tôi điểm qua những bài nghiên cứu, phê bình, những bài viết có liên quan và ít nhiều có ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu chuyên luận này

Tìm hiểu lịch sử nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm từ trước đến nay, có thể thấy, thơ ông được tiếp cận theo hai hướng Hướng thứ nhất gồm những bài giới thiệu về cuộc đời và con người nhà thơ, những bài bình luận, đánh giá mang tính khái quát về cái hay, nét đẹp và cả những điểm hạn chế trong thơ Hoàng Cầm Hướng thứ hai đi vào phân tích, thẩm bình một số tác phẩm cụ thể nhằm cung cấp những tư liệu cần thiết, những gợi ý hữu ích cho việc khám phá, cảm thụ tác phẩm văn học nói chung và tác phẩm trong nhà trường nói riêng Việc trình bày sơ lược những hướng tiếp cận thơ Hoàng Cầm nhằm có cái nhìn đúng đắn, toàn diện về đặc điểm nội dung và nghệ thuật thơ ông là điều mà chúng tôi mong muốn

Theo hướng tiếp cận thứ nhất, người nghiên cứu trên nhiều phương diện khác nhau đã đem đến cho người đọc những ấn tượng chung nhất về thơ Hoàng Cầm Tác giả các bài viết ấy là những nhà nghiên cứu, phê bình văn học nổi tiếng, những nhà văn, nhà thơ và những người bạn thân thiết của ông Đó là những tên tuổi được nhiều người biết đến như: Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Đức Hiểu, Hoài Việt, Chu Văn Sơn, Nguyễn Đăng Điệp, Đỗ Lai Thúy, Ngô Văn Phú, Nguyễn Xuân Lạc…

Hoàng Cầm sinh ra và lớn lên trên đất Kinh Bắc huê tình, diễm ảo, vùng đất

đã nuôi dưỡng, bồi đắp cho hồn thơ Hoàng Cầm từ nhiều nguồn, nhiều phía Nhận định về điều này, Nguyễn Xuân Lạc viết: “Ta từng biết một Nguyên Ngọc gắn bó với rừng xà nu Tây Nguyên, một Quang Dũng phiêu diêu trong mây trắng xứ Đoài,… nhưng dễ thường ít có thi nhân nào lại gắn bó đến mức máu thịt với quê

hương Kinh Bắc như Hoàng Cầm Có sự hòa hợp cộng hưởng giữa thế giới Kinh Bắc với hồn thơ Hoàng Cầm để làm nên một gương mặt thi nhân, một người thơ

Kinh Bắc quen mà lạ, với phong cách và sắc điệu riêng, chỉ riêng ông mới có” [66, tr.15] Bài viết của Nguyễn Xuân Lạc về Hoàng Cầm và thơ ông tuy không thật dài song đã bộc lộ một sự am hiểu sâu sắc về đời thơ này Tác giả viết: “Người thơ ấy

đã đi một chặng đường thơ hơn nửa thế kỉ Nhiều dáng thơ, kiểu thơ, lối thơ nhưng

vẫn chung một hồn thơ Kinh Bắc Hồn thơ ấy đã lắng đọng và thăng hoa để làm nên những nét đẹp riêng của thơ Hoàng Cầm mà dường như chỉ ông mới có” [66, tr.20]

“Những nét đẹp riêng” ấy trong thơ Hoàng Cầm được người viết nhận ra từ những

chiếc Lá Diêu Bông, từ Cây Tam Cúc, Quả vườn ổi, từ Bên kia sông Đuống…, từ cả tập Mưa Thuận Thành, Về Kinh Bắc , và được khẳng định đó là “cái đẹp kì ảo”,

Trang 8

“lý tưởng”, là “cái đẹp của thơ siêu thực”, “thơ của cái viết tự động”

Thơ Hoàng Cầm là vậy, làm khó ngay cả những người thật sự am hiểu và

yêu thích thi ca Nghĩ về thơ ông, Nguyễn Đăng Mạnh băn khoăn: “Hình như có một không gian Kinh Bắc rất đỗi cổ kính trong thơ anh” [66, tr.26] Cùng suy nghĩ

ấy, Nguyễn Xuân Lạc khẳng định: “Cái may mắn lớn nhất trong đời thơ ông là được

hút nhụt ngọt từ vườn hoa thơ diễm tình Kinh Bắc Và vùng đất thơ ấy đã nuôi

dưỡng, ôm ấp, nâng đỡ cho hồn thơ ông bay lên” [66, tr.24] Đây là điều không ai

có thể phủ nhận trước mỗi thi phẩm của Hoàng Cầm, mà có chăng chỉ là những cách nói khác nhau, xuất phát từ những điểm nhìn khác nhau

Thật vậy, Đỗ Đức Hiểu trong bài viết Hoàng Cầm, đã nói: “Tính hiện đại của

thơ Hoàng Cầm không phải là như ở thơ Vũ Hoàng Chương (nhà thơ đô thị với phố

xá đô thị, sàn nhảy đô thị, tiệm hút đô thị…), mà là một vùng cỏ cây, sông hồ nhẹ

bay của thôn quê Kinh Bắc, được siêu thực hóa thành cỏ Bồng Thi, cầu Bà Sấm, bến

Cô Mưa và lá Diêu Bông, hay những người con gái mờ ảo, những mối tình hư ảo xứ

Kinh Bắc, xóa nhòa trong mưa bụi bay” [66, tr.30] Còn Nguyễn Đăng Điệp thì khẳng định: “Chắc hẳn, nếu tước đi cái không khí Kinh Bắc thì có lẽ thơ Hoàng

Cầm sẽ hết thiêng! Bởi lẽ, “Kinh Bắc đã trở thành quê thiêng – quê thơ – quê tình trong thơ Hoàng Cầm”, và “Vũ trụ thơ ấy thực chất là hồn quê Kinh Bắc rung lên

qua những sợi dây thần kinh thi ca nhạy cảm được ươm ủ từ thời ấu thơ” [66, tr.44] Hiểu rõ điều đó, lại có diệp đi sâu nghiên cứu vườn thơ Hoàng Cầm, Nguyễn Đăng Điệp đi đến kết luận: “Trong thơ Việt Nam thế kỉ XX, chưa một ai sánh được Hoàng Cầm khi viết về Kinh Bắc” [66, tr.44] Phải có một cái nhìn bao quát, sự am hiểu sâu sắc và lòng yêu thích thực sự về thi giới Hoàng Cầm, người viết mới có thể đưa ra được những lời nhận định đầy sức thuyết phục như vậy Những nhận xét như thế tuy có phần cảm tính và chủ quan nhưng kì thực bắt nguồn từ chính hồn thơ Hoàng Cầm, từ những trang thơ giàu sức lan tỏa của ông

Thâm nhập sâu vào thế giới nghệ thuật thơ Hoàng Cầm, Nguyễn Đăng Mạnh gọi đó là “phạm trù siêu thơ” “Một thứ thơ hướng nội ở độ sâu thẳm nhất Nó đi hẳn vào cõi tiềm thức, vô thức và diễn tả bằng chính ngôn ngữ mông lung vô thức” [66, tr.28] Ông cũng cho rằng: “Sáng tạo ra thứ thơ này phải là những nhân cách

vô cùng trung thực, trung thực với mình, trung thực với người” [66, tr.28] Chính phẩm chất tốt đẹp ấy đã giúp Hoàng Cầm tạo nên phong cách riêng, vẻ đẹp riêng cho thơ ông Và cũng từ đó, nhiều sự nghiên cứu đã chú ý đến đặc điểm này của thơ ông Nguyễn Đăng Điệp xem Hoàng Cầm là “Người dệt thơ từ những giấc mơ”;

Trang 9

Nguyễn Xuân Lạc khẳng định cái đẹp trước hết trong thơ Hoàng Cầm là “cái đẹp kì

ảo, lý tưởng trong thơ tình”, và là “cái đẹp của thơ siêu thực, thơ của cái viết tự động” [66, tr.20-21]; còn Đỗ Lai Thúy thì nhận định: “Có thể Hoàng Cầm không có

lý luận, không có tuyên ngôn như nhóm siêu thực của Bréton, nhưng trên thực tế ông đã sáng tạo như họ” [66, tr.56] Cũng trên quan điểm ấy, Đỗ Đức Hiểu viết về

Mưa Thuận Thành: “Mưa Thuận Thành là thế giới siêu Thuận thành, siêu Kinh Bắc, siêu mưa” [66, tr.30]

Tìm hiểu thơ ông, nhất là những sáng tác ở giai đoạn sau, nhiều nhà nghiên cứu, điển hình như Nguyễn Đăng Điệp, đã khẳng định: “Đó là tiếng vọng của cõi

mơ, là sự siêu thăng của vô thức” [66, tr.52] Dễ hiểu hơn, Đỗ Lai Thúy nói: “Đó là thơ của tiềm thức, của giấc mơ, mê sảng, của cái viết tự động…” [66, tr.56] Một chỗ khác, tác giả viết: “Nhà thơ chìm vào tiềm thức để cho ngòi bút tự tuôn chảy”

Điều kì lạ mà hết sức thú vị này, chính Hoàng Cầm đã chia sẻ trong nhiều

bài viết của mình Trong Đôi dòng tâm tưởng về thơ, thi nhân viết: “Thơ, từ những

khát vọng người, từ vùng u huyền, bí ẩn nhất, bật ra như một điệu đàn, như một hình bóng, bất chợt, như tiếng nói các thần linh không biết tự thưở nào” [101, tr.89]

Sự thật, nhiều bài thơ của Hoàng Cầm đã ra đời như vậy, và sự thật, đó là những tác phẩm được độc giả yêu thích trước nay Nhà thơ tâm tình: “Nói chung, hầu hết những bài thơ được độc giả yêu thích trong nhiều năm của tôi, bao giờ cũng bắt đầu một cách vi diệu là từ ngoài tôi, vẳng lên đôi ba câu nghe rất rành rẽ giọng phụ nữ lảnh lót mà rất xa, như hát mà như đọc” [101, tr.93] Kì thực, đó chính là tiếng nói dội lên từ tiềm thức thi nhân, những gì tưởng đã lắng đọng thật sâu trong hồn ông bỗng có lúc vọng về, thổn thức, khôn nguôi Gọi là “thơ của giấc mơ”, chớ hiểu

giấc mơ theo nghĩa thông thường của nó, bởi giấc mơ ấy thật diệu kì mà chẳng mấy

ai có đuợc Đó là kết quả của bao đêm thao thức không ngủ, là sự thăng hoa của một hồn thơ, là sự kết tinh máu thịt của cuộc đời và tâm hồn nhà thơ Trong “những liên tưởng đứt đoạn, những hình ảnh rời rạc là rất nhiều các khoảng trắng, các dấu lặng Tất cả trôi đi trong một nhịp điệu thôi miên” [66, tr.56], Đỗ Lai Thúy viết Vậy nên, tìm hiểu thơ Hoàng Cầm, nhất định phải nhìn thât kĩ, thật lâu và phải thật

sâu nữa Sẽ thấy, trên trang thơ ông, những khoảng lặng ấy chất chứa thật “nhiều

xót xa, nhiều bi kịch, không nói” [66, tr.31] Thấy được điều này trong thơ Hoàng Cầm xem như chúng ta đã tiếp cận được một đặc điểm thi pháp của thơ ông

Quan tâm nhiều đến nỗi ẩn ức, khối tình nghẹn ứ đầy trong lồng ngực thi nhân, trong bài Ấn tượng thơ Hoàng Cầm, Chu Văn Sơn viết: “Thứ tình nào làm

Trang 10

thành ẩn ức của nguồn thơ Hoàng Cầm? Một mối tình non? Mối tình câm? Mối tình đau? Không, một mối tình nghẹn! Như cây lúa nghẹn đòng, như cây chuối nghẹn buồng…Thơ Hoàng Cầm là thứ hoa trái vật vã mộng du, óng ả thanh cao mà phong trần lận đận của nỗi nghẹn ngào đó” [151, tr.285-286] Bài viết thuyết phục người đọc bằng sự lý giải sâu sắc mối liên quan mật thiết giữa thế giới tinh thần, tình cảm của nhà thơ với thi phẩm ông, bằng những viện dẫn về cuộc đời và về thơ được rút

ra từ nhiều tác phẩm của thi nhân

Luận giải về chất thơ Hoàng Cầm, Chu Văn Sơn đề cập đến vấn đề nhạc thơ, điệu thơ Hoàng Cầm Cụ thể, ông nói đến tình điệu riêng trong thơ Hoàng Cầm:

“Có cảm giác điệu thơ Hoàng Cầm như con hạc đầu đình muốn bay không cất nổi mình mà bay, nó là những sải cánh, đập cánh chới với, chơi vơi” [151, tr.289] Nửa sau bài nghiên cứu, phần bàn về “sự hội nhập của nghệ thuật Hoàng Cầm”, qua đi

sâu phân tích bài thơ Cây Tam Cúc, tác giả Chu Văn Sơn bày tỏ suy nghĩ, cảm nhận

của mình về “bản lĩnh nghệ thuật quái kiệt” của nhà thơ này Theo Chu Văn Sơn,

“Cây Tam Cúc là một trong những bài cao thủ nhất của Hoàng Cầm, một tìm tòi thành công trong thi pháp của ông”, “là cái giá đã trả được của đời thơ Hoàng Cầm” [151, tr.291-297] Ở đó, chàng thi sĩ tài hoa, đa tình này “đã biết tiết chế tình cảm của mình, đã nén chìm tính biểu cảm vào câu chữ, để nỗi nghẹn ngào khuất chìm trong câu chữ đặng kí thác trọn vẹn vết thương tủi cực của số phận mình” [151, tr.297]

Đồng cảm với Chu Văn Sơn, trong bài Đọc Mưa Thuận Thành của Hoàng Cầm, nhà văn Phạm Thị Hoài viết: “Trước hết, tôi thấy Hoàng Cầm đẹp và xa cách

Thật lạ lùng, là thực ra hầu hết những gì tạm gọi là chất liệu làm nên thế giới thơ ông đều còn nguyên cả đấy, thực ra không xa vời, không siêu nhiên hoang đường gì hết, mà hồn thơ ông vẫn là một người khách xa…” [151, tr.250] Ngẫm về điều đó, nhà văn cho rằng: “Hoàng Cầm có một hệ lời tinh vi và lắt léo… Cái hệ lời ới hời vi vút sấp ngửa khép nép nghiêng ngửa mê và tê mê vời vợi ấy lại đi đôi với một âm vận rất riêng, dường như đã được gọt rũa tính toán cho không còn một chút ngẫu nhiên nào lọt lưới… Tất nhiên là Hoàng Cầm cầu kì Bất kì câu nào của ông cũng tiêu tao yểu điệu…” [151, tr.250-251]

Phạm Thị Hoài bộc lộ cảm nhận của mình: “Lần đầu đọc thơ ông, tôi hơi bối rối trước những từ ngữ không ngờ có thể đặt cạnh nhau, những hình ảnh không ngờ

có thể nối tiếp nhau để xuất hiện những thi tứ không ngờ và một nhạc điệu không ngờ” [151, tr.255] Chính khả năng liên tưởng kì lạ đã “gợi về cho ông những cảm

Trang 11

xúc đang lang thang đâu đó, đã xâu chuỗi những hình ảnh, đã lảy ra những từ ngữ, nhạc điệu không thể có nổi ở một trường liên tưởng nông cạn, nghèo nàn, hoặc tầm thường hơn” [151, tr.256], Phạm Thị Hoài kết luận

Về phương diện tình cảm trong thơ Hoàng Cầm, nhân đọc Mưa Thuận Thành, Phạm Thị Hoài nhận xét: “Thế giới tình cảm của Hoàng Cầm trong Mưa

Thuận Thành, dù gồm nhiều mảng rất khác nhau, chỉ xót xa phiền muộn, yểu điệu,

yếu ớt, tinh vi, nhiều mặc cảm, nhiều nữ tính” [151, tr.253] Còn Về Kinh Bắc thì

“cho đến bây giờ vẫn tiếp tục mang vầng hào quang riêng…, và chỉ cái tên riêng của nó thôi đã hứa hẹn, và hơn cả hứa hẹn: đã thiết lập hẳn một không gian tinh

thần đặc trưng” [151, tr.248] Đó chính là không gian văn hóa Kinh Bắc

Nghĩ về hồn thơ ấy, Hoàng Như Mai viết: “Đọc thơ Hoàng Cầm, ta cảm tưởng như nhà thơ viết một mạch, một hơi những lời từ trái tim nhà thơ rót thẳng vào lòng người đọc, không sắp xếp, không điểm trang, như nước suối từ khe đá tuôn ra, như hoa mọc tự nhiên ngoài đồng nội Thơ Hoàng Cầm mang sự nguyên trinh của tình cảm, không trải qua một sự chế biến nào, không thêm một chút phụ gia nào” [66, tr.82] Về điều này, Lê Hồng Lâm cho rằng: “Hoàng Cầm làm thơ không bao giờ có chủ ý từ trước mà phần lớn bắt nguồn từ một rung cảm, một kỉ niệm, một chuyện cũ hay một nỗi đau buồn nào đấy… Những tập thơ của ông đều xuất phát từ những cảm xúc đó và xuyên suốt trong thơ là chất trữ tình bay bổng của một vùng văn hóa phồn thực Kinh Bắc, của một con chim vàng với giọng hót lảnh lót, của một cây đàn hoàng tử với âm điệu lịch lãm sang trọng ngân vang mãi trong nền thơ Việt Nam” [152, tr.69]

Khái quát về đường thơ Hoàng Cầm, trong bài viết Đến với Hoàng Cầm,

Hoài Việt nói rằng: “Trước 1945, trong bảng phong thần của các nhà thơ mới chưa

có tên anh” Tháng ngày qua, người ta ngỡ ngàng nhận ra “con chim có bộ lông vàng quen nhả giọng véo von” ấy hóa ra là “một người làm vườn cần mẫn cuốc xới trên mảnh đất hương hỏa, gieo vãi những hạt hoa nhài, hoa ngâu… xen vào hoa păngxê, hoa tuylíp Vườn hoa thơ ấy bỗng trở nên đẹp lạ lùng” [151, tr.7-12]

Không tình nguyện làm một “phu chữ” như Lê Đạt, nhưng Hoàng Cầm cũng quan niệm: “Thơ là thành tựu của cả tâm lực (dụng công trong việc đầu tư chất xám) và thần lực (như có tiếng một người nào đó từ thâm cung nội tâm hay từ cõi mịt mờ hư ảo của xứ sở tâm linh thì thầm bên tai) Thơ là thành tựu của cả hữu thức lẫn vô thức” [66, tr.36-37] Cũng chẳng vướng vào bệnh cầu kì hình thức, quá xem

trọng việc mạ hình đẽo chữ trong sáng tác “Con chữ trong tay anh như âm binh

Trang 12

trong tay phù thủy có tài phù phép Anh muốn thổi hồn vào con chữ” [66, tr.38] Thơ Hoàng Cầm do vậy có sức gợi cảm rất lớn, làm lay động cả tâm thức người đọc Nhận rõ điều đó, qua bài viết, Hoài Việt bày tỏ tình cảm, niềm tâm đắc của mình về nhiều phương diện của tài thơ này

Về vấn đề sáng tạo hình ảnh trong thơ, Hoài Việt ghi nhận: “Anh không thuộc trường phái cấu trúc luận nhưng lại rất có duyên cấu trúc hình ảnh trong thơ” [66, tr.38] Về khả năng dùng chữ thì biệt tài của “con người mái tóc bụi tro này là việc mày mò tìm ra cái lẫn đằng sau chữ, tầng tầng lớp lớp chồng lên nhau, tạo nên

bề dày chữ nghĩa, không chỉ nổi mà còn chìm…” [66, tr.38] Và với những gì đã có,

Mưa Thuận Thành, Về Kinh Bắc, Men đá vàng và 99 tình khúc, Hoàng Cầm nghiễm

nhiên được coi là “một cao thủ trong làng thơ hiện đại” [151, tr.11]

Bài nghiên cứu Hoàng Cầm và 99 tình khúc của Trần Mạnh Hảo đánh giá về

thơ Hoàng Cầm trên cả hai phương diện: thành công và hạn chế, cái hay và điểm khuyết của nó Qua đây, một lần nữa, cái đẹp, nét duyên của đời và thơ Hoàng Cầm được ghi nhận: “Hoàng Cầm trong đời và trong thơ vốn là một thi khách tài hoa và một ái khách đào hoa… Nhà thơ đã lấy yêu làm nghiệp để trang trải cái nghề thơ vốn nhiều oan khiên của mình” [109, tr.110] Bằng sự thấu hiểu và đồng cảm, tác giả nói tiếp: “Chừng như nhà thơ có duyên phận với nỗi đau, nên cứ đụng vào nỗi đau, thơ ông lại được người đọc cảm thông, chia sẻ” [109, tr.115] Tuy chỉ đi sâu

bàn về 99 tình khúc nhưng những lời nhận định của tác giả lại có ý nghĩa với mọi

thi phẩm của Hoàng Cầm và đặc biệt với mảng thơ tình của ông Trần Mạnh Hảo khẳng định: “Tựu trung, thơ tình Hoàng Cầm đằm thắm, nồng nhiệt, thậm chí mê cuồng nhưng không kém phầm quằn quại đau thương” [109, tr.113]

Lại nói về chữ nghĩa trong thơ Hoàng Cầm, cũng như Hoài Việt, Trần Mạnh Hảo cho rằng: “Hoàng Cầm rất giỏi dùng chữ nghĩa, rất sành điệu trong kĩ thuật thơ” [109, tr.116] Tuy vậy, cũng có khi vì quá đỗi cầu kì mà “cho chữ nghĩa chơi son phấn, cho vần điệu lụa là quá xá rồng bay phượng múa, khiến cái Chân Mộc có lúc bị tổn thương” [109, tr.124] Theo Trần Mạnh Hảo, chính sự thiếu trong sáng của những câu, những chữ quá ư cầu kì ấy đôi khi “đánh bạt” đi ý nghĩa của thơ,

“đánh hỏng” tình thơ, “người đọc không còn thấy thơ đâu nữa mà chỉ toàn những chữ mạ kền, chữ vàng mã nhóng nhánh thông thênh…” [109, tr.117]

Chia sẻ với suy nghĩ của Trần Mạnh Hảo, Phạm Thị Hoài nhận xét: “Sự lắt léo quá mức của ngôn ngữ thơ Hoàng Cầm có khi chẳng giúp được gì… Lắm chỗ

cứ ngang phứa lên, phá kỉ lục của cả những tay chơi thượng hạng nhất, tuy có chỗ

Trang 13

chỉ là một sự chơi không thấm thía lắm, không làm người đọc bàng hoàng bởi một

sự phi thường nào đó phát lộ qua vài con chữ…” [151, tr.251] Nhà văn đi đến kết luận: “Có thể say mê Hoàng Cầm, cũng có thể khó chịu, hoặc cả hai thứ một lúc” [151, tr.257] Dù vậy, “cũng có thể thuần túy thán phục tài thơ ông, học ở ông, thậm

chí chịu ảnh hưởng của ông…” [151, tr.257] Trong bài viết 75 tuổi… Hoàng Cầm,

Lê đạt phát biểu: “Trong hàng ngũ các nhà thơ kháng chiến, ngoài Tố Hữu ra có lẽ

ít người nổi tiếng như Hoàng Cầm Cái quá nổi tiếng ấy cũng có mặt không hay Nó khiến một số người vội vã liệt anh vào hàng dễ dãi” [151, tr.237]

Đánh giá chung về đời thơ Hoàng Cầm, Phạm Thị Hoài cho rằng: “Hoàng Cầm quả thật là một trong số không nhiều lắm những người lập được cho mình một vương quốc thơ riêng, với nền móng, bản sắc và các nghi thức không thể trộn lẫn” [151, tr.257] Hoàng Cầm – cái tên ấy, vì thế đã được tiếp nối vào danh sách không dài lắm những tên tuổi sống mãi trong lòng bạn đọc

Tóm lại, những kiến giải tuy không giống nhau song trong chừng mực nào

đó, thể hiện sự thống nhất trong cách nhìn nhận, đánh giá về thơ Hoàng cầm, sự ngưỡng mộ, quý trọng đối với tài năng thơ của thi nhân Sẽ càng có ý nghĩa nếu đời thơ ấy nhận được ngày càng nhiều sự thấu hiểu, lòng yêu thương cùng niềm cảm thông của người đọc

Hướng tiếp cận thứ hai đi sâu phân tích, tìm hiểu một số tác phẩm nổi tiếng,

tiêu biểu cho hồn thơ Hoàng cầm như: Bên kia sông Đuống, Lá Diêu Bông, Cây Tam Cúc… Trong đó, Bên kia sông Đuống – một tác phẩm đặc sắc được chọn giảng

dạy trong nhà trường phổ thông – được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất Ở đây, chúng tôi đề cập đến một số bài viết của những tác gia như: Hà Minh Đức, Hoàng Như Mai, Lê Trí Viễn, Trần Đăng Xuyền, Phạm Tiến Duật…

Ngay từ lúc ra đời đã gây một tiếng vang lớn, thi phẩm Bên kia sông Đuống

thu hút mạnh mẽ sự quan tâm của giới nghiên cứu, phê bình văn học Hoàng Như

Mai nhận định: “Bài thơ Bên kia sông Đuống là một sáng tác tiêu biểu trong thời kì

kháng chiến chống Pháp Nó thể hiện sâu sắc, cảm động cuộc sống, tâm trạng, ước

vọng của nhân dân Việt Nam” [66, tr.91] Trong bài Hoàng Cầm và các bài thơ Bên kia sông Đuống, Lá Diêu Bông, Hà Minh Đức cũng khẳng địng giá trị bất hủ của Bên kia sông Đuống: “Bài thơ đã nói lên được khá sâu sắc tình cảm với quê hương

đất nước, vẻ đẹp của vùng quê Kinh Bắc, tội ác của kẻ thù trên quê hương và tấm lòng của người con nơi xa khi nghĩ về làng quê trong cảnh ngộ đau lòng đó” [132,

tr.100] Có thể nói Bên kia sông Đuống đã mang được tấm lòng của nhà thơ đến với

Trang 14

Hoàng Cầm” [66, tr.101] Và chỉ mấy tiếng Bên kia sông Đuống thôi, theo Phạm

Tiến Duật, cũng “gợi nên một tình thế dân ca sẽ là dòng nhạc chính trong cả phức điệu trôi xuôi”, là “âm hình chủ đạo của cả bản sônat thơ dào dạt tình đời này” [66,

tr.100] Nhìn Bên kia sông Đuống bằng cái nhìn đậm tính nhạc và đầy chất thơ ấy,

nhà thơ thấy “dòng sông Đuống như sáng rực lên, hắt ánh sáng ngũ sắc lên quê hương, lộng lẫy một cách xa xót và xa xót một cách lộng lẫy đến kì lạ” [66, tr.101]

Bình về tính nhạc trong bài thơ, Lê Trí Viễn nói đến cái giọng, cái điệu, cái tông, nốt, âm thanh… của nhạc phẩm thơ này Ông nói: “Bài thơ là một âm điệu tha

thiết, đau thương sâu sắc mà vẫn là dịu nhẹ, sâu xa, không ồn ào, to tiếng” [109, tr.226] Cái độc đáo của bài thơ, theo giáo sư, là đã mang “một giọng điệu nghĩa tình thấm sâu, đi thẳng vào lòng người” [109, tr.231]

Qua Bên kia sông Đuống, Trịnh Thanh Sơn đánh giá tài năng sáng tạo của Hoàng Cầm: “Kể từ bài Bên kia sông Đuống, Hoàng Cầm đã tự lập nên một trường thơ riêng, một gạch nối cực kì ngoạn mục giữa cổ điển và hiện đại, giữa đài các và dân dã, giữa duy tâm và duy lý, vừa hiện hữu vừa thoát tục, vừa trần thế vừa bồng lai… Hoàng Cầm như một con nhện vàng, ngày đêm miệt mài giăng tơ Ông chăng

tơ không phải để bắt ruồi muỗi mà để bắt bóng giai nhân Người xưa có câu thả mồi bắt bóng là để nói về Hoàng Cầm và về thơ Hoàng Cầm là như vậy” [28, TT] Đỗ

Lai Thúy thì cho rằng: “Hoàng Cầm là người kế tục Thơ Mới không phải như một

sự kéo dài, mà như là sự phát triển, sau một đứt đoạn Chỗ đứt đoạn tuyệt vời ấy là

Bên kia sông Đuống” [66, tr.55]

Viết về Bên kia sông Đuống, bài nghiên cứu của Trần Đăng Xuyền thể hiện

một sự cảm nhận tinh tế và sâu sắc Tác giả bài thơ được ngợi ca trước hết bởi những tình cảm thật đẹp: “Tình yêu tha thiết, say mê vùng quê Kinh Bắc vốn tiềm tàng, chất chứa bấy lâu trong hồn thơ ông, chỉ chờ một hoàn cảnh nào đấy là bùng lên mạnh mẽ, trào ra đầu ngọn bút thành những vần thơ dòng dòng cảm xúc” [66,

tr.105] Và Bên kia sông Đuống là ngọn lửa tình cảm cháy lên từ dòng mạch cảm

xúc cuồn cuộn bao nỗi nhớ thương, tiếc nuối, đau đớn, xót xa, căm giận… trong lòng thi nhân Đồng cảm sâu sắc với nhà thơ cũng như nắm bắt được linh hồn của

Trang 15

tác phẩm, Trần Đăng Xuyền nhận ra: “Trên một cái nền nhạc buồn, cái hồn của quê hương, cái hồn của dân tộc phảng phất trong mỗi dòng thơ” [66, tr.112]

Cùng cảm nhận ấy, Vũ Dũng cho rằng: tìm hiểu bài thơ Bên kia sông Đuống bên cạnh lưu ý đến chất Kinh Bắc trong hồn nhà thơ, phải thấy được tình huống,

hoàn cảnh khơi dậy mạch nguồn cảm xúc trong ông Sẽ hiểu vì sao “Bài thơ là một dòng thác tình cảm tuôn trào Nó không muốn dừng lại để chọn lựa và gọt rũa từng câu, từng chữ Nó cứ trào ra từng đợt, từng đợt như những đợt sóng tình cảm, cảm xúc, và mỗi đợt như thế lại gọi dậy một cách tự nhiên trong kho kí ức, hàng loạt kỉ niệm đẹp nhất, thân thiết nhất về quê hương mình…” [109, tr.233] Bài phân tích

khá tỉ mỉ và ấn tượng của Tạ Đức Hiền về bài thơ Bên kia sông Đuống cuối cùng

cũng đi đến kết luận: “Có thể nói cảnh sắc và con người Kinh Bắc đã tạo nên chất tài hoa, độc đáo trong thơ Hoàng Cầm Chất Kinh Bắc làm nên vẻ đẹp thẩm mĩ của

bài thơ Bên kia sông Đuống để ta yêu quý và trân trọng [158, tr.560]

Trong bài Bên kia sông Đuống, niềm xót xa, tiếc nhớ gửi về quê hương trong cảnh điêu tàn, Phan Huy Dũng khẳng định: “Hoàng Cầm vốn hay nói về miền quê Kinh Bắc cổ kính, thì ở đây, trong Bên kia sông Đuống, miền quê ấy hiện lên đầy

màu sắc” [66, tr.92] Và theo Phan Huy Dũng: “Dòng chảy của thơ Hoàng Cầm trước hết là dòng chảy lãng mạn Điều đó cũng được chứng minh cụ thể qua bài thơ này – một bài thơ của sự giãi bày miên man, của tâm trạng ứ đầy đòi hỏi phải được bộc lộ hết” [66, tr.92] Người viết nói tiếp: “Thơ Hoàng Cầm cũng thấp thoáng nét tượng trưng, thậm chí siêu thực với sự xuất hiện của những câu thơ đột xuất, thần tình, khó giải thích, ở sự khởi đầu linh diệu của nhiều bài thơ, ở sự chập chờn trong những cơn mê không dứt Bên kia sông Đuống không xa những điều vừa nói” [66, tr.92] Nguyễn Đăng Mạnh viết: “Vinh dự thay cho thi sĩ Hoàng Cầm, trong cuộc đời sáng tác hơn nửa thế kỉ của mình, đã tạo được một vài bài thơ như thế” [66, tr.29]

Với Bên kia sông Đuống, tên tuổi Hoàng Cầm được rạng danh trên vòm trời thơ Việt Nam hiện đại, nhưng sự thành công của đời thơ này còn ở Lá Diêu Bông, Quả vườn ổi… Đỗ Đức Hiểu cho rằng: “Hoàng Cầm của Men đá vàng, của Mưa Thuận Thành, theo tôi nghĩ là người kế tục (xa, rất xa) Thơ Mới, với Lá Diêu Bông, Quả vườn ổi, Cỏ Bồng Thi…” [66, tr.91] Đó là những tác phẩm được xem như

bằng chứng tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật độc đáo của Hoàng Cầm Nói như Nguyễn Đăng Điệp: “Nếu được quyền chọn lấy những bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ

Hoàng Cầm, tôi sẽ chọn Bên kia sông Đuống, Lá Diêu Bông, Cây Tam Cúc, Về với

Trang 16

ta Bốn bài thơ mang bốn vẻ đẹp riêng nhưng bài nào cũng có Kinh Bắc, bài nào

cũng khép mở những ẩn khuất dục tình, bài nào cũng mở ra khát vọng về cái đẹp bình dị mà thanh cao…” [66, tr.53]

Sau Bên kia sông Đuống, có lẽ, khi nói đến Hoàng Cầm, người ta nhớ đến Lá Diêu Bông Suy ngẫm về chiếc lá kì diệu đầy bí ẩn ấy, Hà Minh Đức nhận ra: “Ở

Hoàng Cầm, chất say thơ tựa như mối duyên tiền kiếp, nên tâm hồn dường như vừa sống trong thực tại vừa sống trong hoài niệm, ước mơ Trải qua bao thăng trầm thế

sự, tâm hồn ấy “được dựng nên bằng nhiều lớp kỉ niệm của tuổi trẻ gắn với một vùng đất quê hương đẹp, giàu có, thơ mộng” [132, tr.101] Cuộc đời nhờ đó mà có

Lá Diêu Bông! “Bài thơ đã để lại những ấn tượng đẹp, bình dị mà rất nên thơ…”

[132, tr.104] Về ẩn ý của bài thơ, “tôi nghĩ rằng anh muốn nói đến hiện thực và mơ ước như một bi kịch trong tình yêu lứa đôi” [132, tr.104] Rộng ra, ấy là “bi kịch ngàn đời của con người, là những mong ước mà con người suốt đời lặn lội tìm kiếm”, theo Lê Tiến Dũng [66, 399]

Mai Thục khẳng định: “Lá Diêu Bông chính là ẩn ức của Hoàng Cầm về một

tình yêu đã mất” [151, tr260] Kiến giải về điều đó, người viết cho rằng: “ càng đọc, càng thấy âm vang tiếng vọng của ngàn xưa, thân thương gần gũi mà xa xôi vời vợi… Lá Diêu Bông xôn xao một thế giới riêng như ảo, như thực ẩn hiện giữa một không gian mênh mông của đồng quê Việt Nam” [151, tr.259]

Đánh giá về bài thơ Cây tam cúc, Đặng Tiến viết: “Cây tam cúc là một bài

thơ hay, tiêu biểu cho những thành tựu nghệ thuật của Hoàng Cầm Từ một trò chơi dân gian khá phổ biến, tác giả đã sáng tạo nên một bức tranh trữ tình đặc sắc và phong phú, đã vẽ lên giấc mơ hạnh phúc, giấc mộng lứa đôi…” [66, tr.60] Phần

quan trọng của thi phẩm đã được người viết chú trọng – Không khí và văn hóa quan

họ Chính nhờ yếu tố ấy mà bài thơ có thêm hương sắc “Nó chuyên chở tình người,

tình quê nhiều hơn luyến ái lứa đôi” [66, tr.61]

Cùng với nội dung, phương diện nghệ thuật của bài thơ cũng được tìm hiểu

kĩ lưỡng Đặng Tiến nhận xét: “Thơ Hoàng Cầm giàu âm điệu… Cây tam cúc là

một bài thơ ngắn dồi dào nhịp điệu vào hàng đầu trong thơ Việt” [66, tr.61] Bên cạnh đó, hệ thống ngôn từ được sử dụng một cách tài hoa và tinh tế, từ cách chọn chữ đặt câu, đến cách xe kết âm thanh, nhịp điệu, màu sắc, hình ảnh, tác phẩm theo

đó hiện ra trong một cấu trúc đặc biệt – “một tấm áo đẹp, một họa phẩm tuyệt vời” [66, tr.62]

Trang 17

Tóm lại, đó là những tác phẩm được quan tâm nghiên cứu sâu sắc, được xem

là bằng chứng tiêu biểu cho thành tựu nghệ thuật của đời thơ Hoàng Cầm nói riêng

và của nền thơ hiện đại nói chung Trên cơ sở phân tích, lý giải, nhận định những giá trị nội dung và nghệ thuật của thi phẩm Hoàng Cầm, các nhà nghiên cứu đã giúp người đọc thấy được một hồn thơ tài hoa, quyến rũ, một phong cách thơ độc đáo và đặc sắc

Hành trình thơ dẫu có lúc gập ghềnh, trắc trở, nhà thơ ấy đã nâng những cánh thơ của mình lên đài vinh quang và bền bĩ đẩy chiếc xe thơ đi hết con đường thiên mệnh của nó Tìm hiểu lịch sử nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm, chúng tôi nhận thấy, những hướng tiếp cận khác nhau tuy cũng có những điểm khác nhau trong sự đánh giá về thơ ông song nhìn chung đều thống nhất cho rằng:

- Hoàng Cầm – một hồn thơ trữ tình, tài hoa, một nguồn thơ trong trẻo mà nồng sâu, chung thủy

- Hoàng Cầm – một Người thơ đa tình với tiếng thơ tha thiết, nghẹn ngào,

mê đắm Thơ Hoàng Cầm thấm đẫm tình yêu quê hương, yêu cuộc sống, yêu cái đẹp

- Thơ Hoàng Cầm là thơ siêu thực kiểu Phương Đông – lối thơ siêu thực – hiện đại – dân gian Hoàng Cầm

- Chất thơ Hoàng Cầm đậm tính nhạc, chất say, ngôn ngữ giàu sức gợi hình, gợi cảm, hàm súc, cô đọng

Từ nhiều góc độ khác nhau, các nhà nghiên cứu ít nhiều đã đề cập đến những

vấn đề về hồn thơ, tình thơ, hình ảnh và nhạc điệu trong thơ Hoàng Cầm Tiếp nối

những gì đã được gợi ra ấy, chúng tôi – những người thực hiện chuyên luận này, hy vọng về sự thành công và những đóng góp nhất định của một công trình nghiên cứu

một cách toàn diện và có hệ thống về thơ Hoàng Cầm Thiết nghĩ, đề tài Hồn – Tình – Hình – Nhạc trong thơ Hoàng Cầm tuy không thật mới lạ song sự giải mã đầy đủ,

hoàn thiện về chúng vẫn là điều quan tâm sâu sắc đối với giới nghiên cứu, phê bình văn học cũng như những người quan tâm, yêu thích thơ ông

5 Phương pháp nghiên cứu

Để việc nghiên cứu đạt được hiệu quả cao, trong quá trình thực hiện luận văn này, chúng tôi vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

5.1 Phương pháp hệ thống

Đặt thi nghiệp Hoàng Cầm trong dòng chảy chung của nền thơ hiện đại để nhận rõ và đánh giá những nét độc đáo riêng cùng những đóng góp của thi nhân

Trang 18

trong tiến trình thơ của dân tộc Nhìn thế giới thơ Hoàng Cầm trong một chỉnh thể toàn vẹn, để qua đó, thấy được thế giới tâm hồn, tình cảm và những suy nghĩ của nhà thơ về con người và về cuộc đời, những đặc trưng nghệ thuật trong sáng tác của ông Vấn đề nghiên cứu cũng theo đó mà được soi sáng một cách tường tận

5.2 Phương pháp phân tích và tổng hợp

Thao tác phân tích giúp đem lại sự cảm nhận sâu sắc, thấu đáo về một hồn thơ vốn đầy ắp những nỗi niềm, những suy tư về nhân thế Bên cạnh đó, các yếu tố hình ảnh, nhạc điệu qua sự phân tích, miêu tả cụ thể, sinh động, sẽ là nền tảng, là cơ

sở thuyết phục cho những nhận định mang tính khái quát về sắc điệu riêng của thơ Hoàng Cầm

5.3 Phương pháp thống kê, phân loại

Thực hiện việc thống kê, phân loại thơ Hoàng Cầm về mặt thể loại, cấu trúc câu thơ, hệ thống những hình ảnh tiêu biểu, nổi bật, các hiện tượng ngôn ngữ mang tín hiệu thẩm mĩ đặc biệt… là việc làm cần thiết, góp phần làm sáng tỏ linh khiếu sáng tạo nghệ thuật tuyệt vời của người nghệ sĩ này

5.4 Phương pháp so sánh

Với phương pháp so sánh, nét phong cách riêng, độc đáo và đặc sắc của Hoàng Cầm và thi phẩm ông sẽ được khẳng định và được làm nổi bật giữa những nhà thơ khác, trước, sau và cùng thời với ông Việc đánh giá về vị trí, sự đóng góp của thi nhân trong nền thơ dân tộc nhờ vậy thuận tiện hơn, khách quan và đúng đắn hơn

6 Một số đóng góp của luận văn

Đặt vấn đề nghiên cứu những yếu tố: Hồn – Tình – Hình – Nhạc trong thơ Hoàng Cầm, luận văn trên cơ sở khai thác, lý giải một cách sâu sắc và hệ thống

những phần cốt lõi về nội dung và nghệ thuật trong thơ Hoàng Cầm, hướng đến dựng nên hình ảnh về người nghệ sĩ tài hoa, tinh anh trong cách thể hiện tâm hồn, tình cảm và trong mĩ cảm Chúng tôi rất mong luận văn được xem là một tài liệu hữu ích đối với việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập về thơ Hoàng Cầm

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Hồn thơ Hoàng Cầm

Chương 2: Tình cảm trong thơ Hoàng Cầm

Chương 3: Hình ảnh – Nhạc điệu trong thơ Hoàng Cầm

Trang 19

Chương 1 HỒN THƠ HOÀNG CẦM

1.1 Hồn thơ

Thơ là tiếng lòng của người nghệ sĩ, là sự hòa điệu tâm hồn nhà thơ với những âm vang của cuộc đời Thơ là cuộc sống muôn màu muôn vẻ được nhìn, được mô tả không chỉ bằng mắt, bằng tai mà bằng tâm, bằng sự linh cảm và cả tâm hồn Sự gặp gỡ, tri kỉ, phút tâm giao giữa nhà thơ và độc giả cũng chỉ thực sự diễn

ra ở phần hồn của tác phẩm, nơi tiếng vọng, dư ba của tác phẩm đọng lại sau câu chữ, nơi cảm xúc hòa cùng cảm xúc và những điệu tâm hồn cứ rung lên mãi, ngân

xa mãi

Thơ, sở dĩ có sức sống và trường tồn theo tháng năm, bởi ngoài chất trí tuệ, chất suy tưởng, nó có chất thơ, hồn thơ Những nhà thơ lớn vừa là những nhà tư tưởng lớn lại vừa là những kĩ sư tâm hồn giỏi Văn học nói chung và thi ca thực chất là sự nhập cuộc, là quá trình thâm nhập một cách sâu sắc đời sống xã hội và thế giới tâm hồn con người Thi phẩm suy cho cùng là nơi nhà thơ thể hiện những trải nghiệm tinh thần, bộc bày tâm tư, tình cảm và thố lộ những gì sâu kín nhất, chân thật nhất, trong sáng, hồn nhiên nhất trong hồn mình Dụng công sáng tạo nên tác phẩm nghệ thuật, trong sâu thẳm lòng mình, người nghệ sĩ không mong muốn cảm hóa được lòng người bằng những lời lẽ tuyên truyền, những lập luận hay lý giải mà bằng những lay động trong tâm hồn, trong trái tim với niềm cảm xúc thực sự Khi tác phẩm nghệ thuật được viết ra từ chính nỗi lòng, từ niềm rung cảm mạnh mẽ, chân thành, nó sẽ thực hiện được sứ mệnh thiêng liêng: “Mang tiếng nói của mỗi người đến cho mọi người và mang tiếng nói của mọi người đến cho từng người” [140, tr.18] Thi nhân phải là người biết nuôi nấng, bồi dưỡng cho hồn thơ phát triển, bay bổng Chẳng phải ngẫu nhiên mà Marx nói rằng: “Chỉ có âm nhạc mới thức tỉnh được cảm giác về âm nhạc của con người” [60, tr.137] Thơ, không thể đi vào lòng người và nhận được những sự đồng điệu khi tác phẩm chỉ là sự mô phỏng, sao chép hiện thực một cách máy móc, khô khan, vô hồn, vô cảm

Ngôn ngữ thơ trong những mã mĩ học đặc sắc của nó, trở thành một hữu thể

sống, là tiếng nói từ trái tim chứ không phải chỉ là những từ Trong Sổ tay nghệ thuật, B Brếch viết: “Từ ngữ có linh hồn riêng của chúng Đừng làm chúng trở

thành vô vị Đó là cái bắt đầu của sự kết thúc” [9, tr.38] Có lẽ, ý thức được điều đó

Trang 20

mà “Xuân Diệu suốt đời phấn đấu trở thành thi sĩ của tiếng mẹ đẻ, Tô Hoài thì ra sức tìm kiếm và phục sức cái thần của tiếng nói, còn người nghệ sĩ tài hoa Nguyễn Tuân thì luôn tâm niệm Nghề văn là nghề của chữ…” [121, tr.46] Nếu văn xuôi

thâm nhập, khám phá cuộc sống trong tầng sâu của nó để các hiện tượng đời sống được nhìn ngắm và phân tích một cách cụ thể, sinh động, kĩ lưỡng, thì thơ thực chất

là những mảnh tâm hồn, những khoảnh tâm trạng, những nhát cắt của cảm xúc Nói

cách khác, nếu Văn nói chuyện đời thì “Thơ chính là tiếng đời u huyền trực tiếp, là

độc bạch của nhà thơ, là tiếng nói, là tâm hồn của nhà thơ Thơ là sự trong trẻo, vô

tư lự Thơ là tiếng nói tri âm, là chuyện đồng điệu” [72, tr.10] Đó là tinh hoa, là thể chất cô đọng của trí tuệ và tình cảm của thi nhân

Sinh thời, Xuân Diệu từng nói: “Quy luật của thơ là quy luật của cảm xúc Cũng như đã là nước thì có thể đục, có thể trong, nhưng không thể khô” [93, tr.12]

Thơ, không chỉ có bề mặt mà còn có bề sâu và cả bề xa nữa, theo Chế Lan Viên

Trong thơ, mỗi con chữ đều mang trong nó hồn cốt, tình điệu riêng của nhà thơ Chẳng cứ phải là một tác phẩm thật hay với nhiều mĩ từ, đề cập đến những vấn đề

to tát, được vận dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật đặc sắc thì có giá trị và tạo được sự đồng cảm với độc giả Trái lại, làm thơ phải làm sao tạo được cái hồn cho bài thơ Hồn thơ thể hiện chiều sâu, chiều rộng và chiều cao tư tưởng, tình cảm trong tác phẩm Hồn thơ càng sâu, tác phẩm càng có nội lực với sức chứa tình ý sâu sắc, giá trị thẩm mĩ nhờ đó sẽ càng cao

Trước một tác phẩm văn học, đặc biệt là thi ca, nếu chỉ cố công chiếm lĩnh tác phẩm ở mặt nội dung và hình thức nghệ thuật thôi thì chưa đủ Phải làm sao

nhận diện cho được cái hồn cốt, thần thái của nó, thẩm thấu được dư ba vị ngọt của

thi phẩm sau từng con chữ Có vậy, sự giao tiếp bằng thơ mới diễn ra theo đúng nghĩa của nó và giá trị đặc biệt to lớn của tác phẩm thi ca mới được nhìn nhận, đánh

giá đúng mức Yếu tố hồn thơ quả thực có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với một

bài thơ, một đời thơ Dù vậy, vấn đề này trước nay vẫn chưa dành được sự quan tâm

sâu sắc và nghiên cứu như một vấn đề lý luận Khái niệm hồn thơ xem ra còn chưa

được làm sáng tỏ và giá trị thẩm mĩ, nghệ thuật của nó vì thế cũng chỉ được nói đến một cách chung chung, sơ sài, mờ nhạt Vậy hồn thơ là gì? Ý nghĩa của nó trong sáng tác thơ? Làm thế nào để nhận diện một hồn thơ?

Thơ là một trong những thành quả đẹp nhất, cao quý nhất của tâm hồn con người Đó “là tiếng gọi đàn, là sự đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu của những con người lao động, phấn đấu, suy nghĩ, yêu thương, trong cái phần cao nhất,

Trang 21

sâu nhất của họ, tức là tâm trí” [18, tr.34] Nói cách khác, “tác phẩm thơ được sinh

ra do sự quyện xe của thực tại khách quan với tâm hồn, trí tuệ con người” [18, tr.33] Đây là quy luật quan trọng trước hết của sự sáng tạo mà cả người sáng tác và người thưởng thức đều phải hiểu và quan tâm Để cho, một bài thơ ra đời phải chạm được vào tâm hồn của người đọc bằng chính phần hồn của nó, phải làm cho họ rung động, yêu thích và say mê Muốn vậy, người làm thơ phải gửi được vào trong ấy thật đậm, thật sâu, hương sắc tâm hồn mình Tự nhiên, và hết sức chân thành, thơ mang giai điệu tâm hồn của thi nhân, thể hiện cá tính sáng tạo của anh ta Làm đuợc

điều này, nhà thơ có thể nói đã tạo được sức sống, tinh chất cho thơ, chất thơ cho

thi phẩm của mình Có vậy, tác phẩm mới tạo được ấn tượng mạnh mẽ nơi người đọc, làm cho người ta nhớ, nhớ mãi, và ngẫm nghĩ mãi không thôi

Cũng như giọng điệu, từ lâu, hồn thơ đã được nói đến và được xem như một nhân tố quan trọng để đón nhận dung mạo, xác định chân tài thi nhân Luận về văn chương, Nguyễn Đức Đạt viết: “Văn thâm hậu thì con người của nó trầm mà tĩnh; văn ôn nhu thì con người của nó khiêm mà hòa; văn cao khiết thì con người của nó đạm mà giản; văn hùng hồn thì con người của nó cương mà nhanh; văn uyên sâu thì con người của thuần túy mà đứng đắn” [169, tr.189] Văn chính là người mà thơ là

“bản tự thuật tâm trạng” Tâm hồn nhà thơ thế nào thì sẽ bộc lộ ra thơ như thế Xem thơ ắt hiểu người Sáng tác ngôn từ bao giờ cũng lưu lại đậm nét dấu ấn riêng của người cầm bút Dường như trong mỗi bức thông điệp thẩm mĩ mà nhà thơ gửi đến

cho đời, đậm hay nhạt, luôn có bóng dáng, cái tôi của người nghệ sĩ Vì thế, Lê Quý Đôn, một học giả và là một nhà thơ, sau khi đọc Nghệ An thi tập của Bùi Huy Bích,

đã viết: “ Đọc thơ ông như thấy con người ông” [45, tr.101] Còn Trương Quang

Đản, đại học sĩ dưới triều Nguyễn, khi đọc Giá viên thi tập của Phạm Phú Thứ,

cũng nói: “Văn ông thì nhuần nhã nhưng cao đẹp, hùng biện nhưng kiên cường, đó

là cái phong cốt xui ra như vậy Đem cái tính tình bản nhiên kết hợp với cái phong cốt phiêu nhiên, mà cái góc cạnh bình sinh của ông ở đó” [45, tr.101] Từ rất lâu,

người ta đã nhận ra rằng, “mỗi người đều có một cái thần thơ riêng, và mỗi thời

cũng có thơ của một thời” [45, tr.103]

Trong thực tế, thơ, cuộc đời và con người nhà thơ có quan hệ gắn bó, mật thiết với nhau Dù rằng, đó không phải là mối quan hệ mang nghĩa đồng nhất, nhưng có thể nói tất cả những gì tạo nên một hồn thơ đều được nảy sinh trên mảnh đất hồn người Nói cuộc sống là chất liệu tạo nên thơ, nghĩa là nó phải được “đào”, được “xới”, được “chắt lọc”, “phải được ủ thành men và bốc lên trong tâm hồn thi

Trang 22

sĩ” mới thành thơ được” [72, tr.74] Và nếu nói thơ là thiên nhiên thứ hai được sáng tạo nên từ thiên nhiên thứ nhất thì tâm hồn nhà thơ chính là đấng tạo hóa thứ hai

vậy Thơ là cuộc sống nhưng cuộc sống chỉ thành thơ qua sự thanh lọc của tâm hồn thi nhân

Quả vậy, thơ, kì thực là tiếng vọng của tâm hồn thi nhân trước âm thanh đa sắc của thế giới thực tại Và nhà thơ, theo Coleridge, “là người đưa linh hồn của con người vào giữa hành động bằng cách đẩy chúng kết ước tháp tùng lẫn nhau trong cuộc phiêu du đuổi bắt chiếc bóng của giá trị và phẩm giá Anh thả âm thanh và tinh thần vào cùng một mảnh đất, ở đấy, chúng quấn lấy nhau, trộn lấy nhau để tạo thành một sức mạnh toàn diện và thần diệu” [Dẫn theo 37, tr.170] Nguyễn Địch Cát, vì thế đã nói: “Người nào trội về nhân cách thì làm thơ hay trang nhã, người nào trội

về khí phách thì làm thơ hay hùng hồn, người nào giỏi dùng chữ đặt câu thì làm thơ hay hoa mĩ, người nào giỏi về điển cố thì làm thơ hay vững vàng Xem thơ thì có thể mường tượng mà thấy được người [72, tr.34] Với triết lý: “Cố lấy hồn tôi để hiểu hồn người”, Hoài Thanh – người thẩm thơ và bình thơ xuất sắc nhất trong nền văn học Việt Nam hiện đại – đã nhận ra hồn thơ của các anh tài Thơ Mới: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lúc một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu” [123, tr.37]

Hồn thơ thể hiện bản lĩnh nghệ thuật, phẩm chất thẩm mĩ và bộc lộ cảm quan hiện thực của thi nhân Để một hồn thơ lướt qua được sự nghiệt ngã của bao lớp thời gian và lưu mãi trong lòng nguời, nhà thơ phải biết bứt ra khỏi khuôn hình chung để xác lập giọng điệu riêng, sắc thái riêng cho thơ mình Những cây bút lớn đều có phong thái riêng và sở hữu một hồn thơ độc đáo, không nhòe lẫn giữa mọi người Điều đó hoàn toàn hợp với quy luật sáng tạo của nghệ thuật nói chung và biệt là thơ ca Bởi lẽ, thơ là tâm hồn, là sự bộc lộ tính tình và những linh cảm của nhà thơ Khi đưa vào tác phẩm cái tôi sáng tạo của mình, nhà thơ góp phần làm phong phú hơn lên thế giới tinh thần, kinh nghiệm nghệ thuật của mọi người và đồng thời khẳng định nét bản sắc sáng tạo của riêng mình Vì cuộc sống trong tác phẩm nghệ thuật không bao giờ có thể tồn tại ngoài cách nhìn thế giới của nhà thơ, ngoài phương thức tư duy hình tượng và sáng tác của anh ta Lẽ đương nhiên, không phải tất cả những gì được thể hiện trong tác phẩm đều là sự tự biểu hiện của bản thân nhà thơ Bởi trong sáng tác, ngoài nhu cầu thể hiện bản thân, nhà thơ con

Trang 23

phải bao quát được những vấn đề lớn lao của cuộc sống, của thời đại Duy có điều

chắc chắn rằng thơ là sự kết tụ, thăng hoa của cái đẹp [27, 12] Trái tim giàu yêu

thương và trách nhiệm cùng với một tâm hồn phong phú, giàu trí tưởng tượng, tinh

tế và nhạy cảm sẽ giúp nhà thơ làm nên những trang thơ lung linh màu sắc, phản chiếu được mọi mặt của cuộc sống vốn đa chiều, phức tạp

Hồn thơ, bên cạnh thể hiện cá tính sáng tạo độc đáo của thi nhân, bộc lộ những nét nhân cách của anh ta Điều này giải thích vì sao Lev.Tolxtoi viết “Khi chúng ta đọc hoặc quan sát một tác phẩm nghệ thuật của một tác giả mới thì câu hỏi chủ yếu nảy ra trong lòng chúng ta bao giờ cũng là như sau: Nào, anh là con người như thế nào đây? Anh có gì khác với tất cả những người mà tôi đã biết, và anh có thể nói cho tôi một điều gì mới về việc cần phải nhìn cuộc sống của chúng ta như thế nào?” [63, tr.90] Văn học nghệ thuật vốn không dung nạp những cây bút thường thường bậc trung, những tác giả không tạo được chất giọng riêng, hồn thơ

riêng cho mình Nhà thơ sáng tạo ra tác phẩm cũng đồng thời sáng tao ra hơi thơ, hồn thơ của mình Nếu không có được điều đó, anh ta khó có thể trở thành một thi

sĩ thực thụ “Người đọc thơ muốn rằng thơ phải xuất phát từ thực tại, từ đời sống, nhưng phải đi qua một tâm hồn, một trí tuệ, và khi đi qua như vậy, tâm hồn, trí tuệ

ấy phải in dấu vào đó thật sâu sắc, càng cá thể càng độc đáo, càng hay” [72, tr.75]

Hồn thơ được hình thành từ sự hội tụ của hai yếu tố: tố chất bẩm sinh, thiên phú và sự dày công tìm tòi, học tập và thể nghiệm của nhà thơ Luôn giữ cho tâm hồn trong sáng, lung linh với những cảm xúc dào dạt, những rung động sâu xa và gửi nó vào tác phẩm nghệ thuật là công việc suốt đời và nhiều kiếp của thi nhân Thế giới tâm hồn con người và đặc biệt của người nghệ sĩ vốn phong phú, đa dạng,

kỳ ảo, vô hình Để tâm hồn thấm vào câu chữ, làm rung đông trái tim người đọc và làm nên sự bất tử của tác phẩm văn chương, nhà thơ không chỉ là người sáng tạo mà còn phải biết dấn thân Sống giữa cuộc đời, giữa mọi người, anh ta phải biết đau nỗi đau của người khác, buồn, thương, vui sướng phải nhiều hơn người khác Mỗi tác phẩm, với họ, là một sự hóa thân, là một phần tâm hồn, khí lực của họ Sâu trong ấy

là những tâm nguyện, những ước muốn cao đẹp của nhà thơ về cuộc đời và về con người Hiện lên qua tác phẩm dù là một cái tâm trong sáng hay một miền tâm linh

kỳ ảo, một tương lai tươi sáng hay những giấc mơ mờ ảo của vùng tiềm thức xa xôi…, hết thảy đều là những nét đẹp sâu kín trong hồn nhà thơ Nỗi khát khao được gửi hồn vào tác phẩm cũng là nỗi khát khao được giao cảm với thiên nhiên, đất trời

Trang 24

và lòng người của thi nhân Hồn thơ, trong chừng mực nào đó, thể hiện nhân sinh quan, thế giới quan của người nghệ sĩ

Trong tâm hồn nhà thơ, có những phần không dễ gì chạm tới được, không thể hiểu và lý giải được Chỉ biết rằng đến một lúc nào đó, nó trào ra mạnh mẽ, liên tục dưới ngòi bút nhà thơ Ấy có thể nói là cái duyên đặc biệt mà người cầm bút nào cũng mơ ước Trút được tâm hồn vào thơ đã khó, cảm nhận cho đúng, cho sâu những giao động, những cung bậc hết sức tinh tế và kì diệu của một hồn thơ lại còn

khó hơn Người thưởng thức, ngoài lí trí, tình cảm, còn phải có tâm, và phải lắng hồn lại, mới nghe được Vì hồn thơ, ấy là cái tinh diệu của thơ, là chất ngọc trong

thơ Điểm tựa của thơ ca, sức sống của thơ ca, thực ra, chính là ở cái hồn của nó

Là một phạm trù thuộc về nội dung song hồn thơ luôn có mối liên hệ chặt chẽ đến các phương diện hình thức và được bộc lộ qua những yếu tố có tính hình thức Đặc điểm này của hồn thơ bắt nguồn từ đặc trưng mang tính bản chất của thơ

ca Thơ vốn dĩ không náu mình dưới mái nhà che chở của hình thức, bởi chính bản thân nó đã là hình thức Và chỉ trong một hình thức cụ thể nào đó, nó mới có lý do

để tồn tại Chính nhờ những dấu hiệu hình thức, hồn thơ thể hiện được chiều sâu nội cảm của tác phẩm Trong chỉnh thể tác phẩm, hồn thơ hiện ra không phải qua những mảnh rời rạc, chắp vá mà trong sự liền mạch, xuyên suốt của hệ thống ngôn từ được

tổ chức khéo léo và tinh vi Với tư cách là một hiện tượng phong cách, ngôn từ nghệ thuật đảm nhiệm một chức năng khá phức tạp, nó tạo ra hồn điệu cho bài thơ Nhờ vậy, qua hệ lời của tác phẩm, người ta nhận ra hồn thơ của mỗi tác giả và nhận xét

sự khác biệt giữa các hồn thơ

Hồn thơ chi phối trực tiếp và mạnh mẽ đến sự lựa chọn và sử dụng các yếu tố hình thức trong tác phẩm Một thể loại phù hợp là điều kiện thuận lợi để bộc lộ những cung điệu cảm xúc, tình cảm trong hồn thi nhân Vì mỗi thể loại luôn hàm chứa trong nó sức mạnh biểu cảm với những hiệu quả thẩm mĩ riêng Hồn thơ chân quê, thuần hậu Nguyễn Bính sống mãi bên đời một phần nhờ những đặc điểm ưu trội của thể lục bát Trong loại thơ 8 chữ, Thế Lữ đưa được “hồn thơ rộng mở” của mình đến với người đọc và nhận lại biết bao niềm cảm thông, chia sẻ…

Bên cạnh đó, hồn thơ điều phối việc xây dựng các thủ pháp nghệ thuật và cả cách xây dựng kết cấu tác phẩm Đây thực chất là mối liên hệ bên trong của thơ, là mối tương liên đem lại sự thống nhất, hoàn chỉnh cho tác phẩm Không phải chỉ đến khi tác phẩm đã hoàn tất và được cố định lại trong một hình thức nhất định mới xuất hiện hồn thơ Trong thực tế, hồn thơ định hình ngay từ đầu, trong tư duy, tình cảm

Trang 25

của nhà thơ, trong điểm nhìn nghệ thuật của anh ta Nó can dự trực tiếp vào quá trình sáng tạo và góp phần làm nên sự thành công cho thi phẩm Cùng viết về làng quê như Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân, Anh Thơ…nhưng sao chỉ Nguyễn Bính đưa được bức tranh thơ thấm tình đồng nội của mình chạm tới được cái hồn của dân tộc? Có lẽ, vì Nguyễn Bính, nhà thơ ấy đã thổi được hồn mình vào trong thơ, và hơn thế, đã tạo nên được tiếng thơ mới mang sắc điệu riêng, đầy biến hóa trên nền thơ lục bát quen thuộc

Vấn đề hồn thơ với những đặc điểm phức tạp như thế, để hiểu cho sâu sắc, thấu đáo kỳ thực là một thử thách không nhỏ đối với thưởng thức và nghiên cứu thơ

ca Việc chiềm lĩnh thi phẩm suy cho cùng là nhận diện hồn thơ và chỉ ra những điểm đặc sắc, độc đáo của nhà thơ Một nền thơ phong phú, đa dạng, phát triển cả

bề rộng lẫn bề sâu, phải là một nền thơ đa phong cách, đa sắc điệu, thực sự giàu có

về hồn điệu Đó phải như là một bầu trời đầy sao, lung linh, lấp lánh, một khu vườn đầy hoa thơm cỏ lạ, trăm sắc, trăm hương…Bởi vì, hồn thơ chân chính luôn luôn và bao giờ cũng là hiện thân của cái đẹp, cái cao cả, chất nhân văn trong tâm hồn, cốt cách con nguời Thêm nữa, khi hồn thơ kết đọng trong nó tâm hồn nhà thơ với hồn dân tộc, hồn đất trời, vũ trụ, nó sẽ thành bất tử với những giá trị nghệ thuật đích thực

1.2 Hồn thơ Hoàng Cầm

1.2.1 Dòng sông thơ trong trẻo

“Thơ ra đời cốt để nói những điều tinh vi nhất, sâu kín nhất, mong manh nhất, mơ hồ nhất của tâm hồn con người” [66, tr.28] Để tạo ra được những thi phẩm có độ hướng nội sâu thẳm như thế, nhà thơ – những tài năng thiên bẩm – phải

có lòng trung thực, trung thực với người và trung thực với chính mình Để cho, tiếng thơ đích thực là tiếng lòng, là giai điệu ngân lên từ tâm hồn tinh tế, nhạy cảm của thi nhân Sáng tác ngôn từ theo đó sẽ vượt qua những nguyên tắc của cú pháp thông thường, của sự tư duy theo logic thông thường để vươn tới lĩnh vực siêu thơ – những tác phẩm giàu nhạc tính và men say hồn thơ

Bước vào thi giới Hoàng Cầm, người đọc nhận ra một tấm lòng tận hiến cho thơ, một tâm hồn đặc biệt tinh tế và nhạy cảm trước cuộc sống Tiếng thơ ấy đẹp

như những điệu ngọc rung lên huyền diệu trên những sợi tơ vàng trong sâu thẳm

tâm hồn thi nhân Tình yêu cuộc sống, quê hương, tình yêu cái đẹp và thi ca trong Hoàng Cầm thiêng liêng, đầy mê đắm, không chút tính toán, so bì Tình yêu rất đẹp

ấy đã giúp nhà thơ đánh thức được hồn quê Kinh Bắc trong cõi sâu vô thức của hồn

Trang 26

mình Tiếng vọng sau câu chữ của tác phẩm ông không phải từ phép cộng các thủ pháp nghệ thuật đơn thuần mà ở giai âm tiêu tao, sâu lắng của một hồn thơ tinh tế

Đi đến tận cùng chiều sâu hồn mình, khát khao đến cháy bỏng được yêu trọn đời những cảnh, những người trên đất Kinh Bắc cổ kính và thanh tao, Hoàng Cầm

đã tạo được cho mình tiếng thơ riêng hết sức độc đáo Đó là tiếng vọng của “những lớp trầm tích văn hóa được thẩm thấu qua bộ lọc tinh tế của thi nhân” [66, tr.50] Thực chất, đó là tiếng vọng của cõi mơ, là sự siêu thăng của vô thức Khi tình yêu

và niềm cảm xúc dâng tràn bất tận, sẽ cất thành thơ Sự kì lạ, đôi khi khó hiểu của thơ Hoàng Cầm thực chất bắt nguồn từ những khát khao, những ẩn ức nằm sâu trong hồn ông Thi phẩm Hoàng Cầm mỗi bài một vẻ, bài nào cũng khép mở những

ẩn khuất riêng tư nhưng bài nào cũng mở ra khát vọng đẹp, thanh cao, bình dị và rất đỗi chân thành Nhà thơ tự nhận mình xa lạ với mọi bon chen và chỉ biết hết lòng tận hiến cho thơ Ông như “người khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo và phiêu lãng trong những bến mơ, bến mộng, bến tình” [66, tr.49] Lắm khi, thi nhân để hồn chìm hẳn vào tiềm thức, mặc cho ngòi bút cứ thế tuôn chảy, tự nhiên, dạt dào, mãnh liệt Thơ Hoàng Cầm có thể nói như chính tâm hồn ông, con người ông, chân thành, nồng nhiệt và sáng trong vô ngần

Trong cuộc đời cầm bút của mình, khác với nhiều nhà thơ khác, Hoàng Cầm sáng tác theo sự mách bảo của cảm hứng, của tâm thức Thơ ông hầu như chẳng có những kĩ xảo nghệ thuật cầu kì về tu từ hay cấu trúc “Đọc thơ Hoàng Cầm, ta có cảm tưởng như nhà thơ viết thẳng một mạch, những lời từ trái tim anh rót thẳng vào lòng bạn đọc không sắp xếp, không điểm trang, như nước suối từ khe đá tuôn ra, như hoa mọc tự nhiên ngoài đồng nội Thơ anh mang sự nguyên trinh của tình cảm, không trải qua một sự chế biến nào, không thêm một chút phụ gia nào” [66, tr.82] Tình cảm ấy trinh nguyên như dòng nước cất trong suốt rót từ hồn thi nhân vào thơ rồi thấm dần vào trái tim người đọc Tình cảm ấy vốn tiềm tàng, chất chứa từ rất lâu trong hồn ông để trong một khoảnh khắc nào đấy, một hoàn cảnh nào đấy sẽ bùng lên mạnh mẽ, trào ra đầu ngọn bút thành những dòng sông cảm xúc bất tận

Ở Hoàng Cầm, những ý nghĩ rõ ràng dường như chẳng bao giờ đến trước câu thơ “Thơ đến hồn nhiên và nhiều khi cũng không giải thích được tại sao mình lại viết như thế” – Hoàng Cầm nói [132, tr.101] Thi hứng dẫu bất chợt, chất say thơ vẫn tràn đầy trong tâm hồn một con người vừa sống trong thực tại, vừa sống trong hoài niệm, mộng tưởng Yêu người, yêu cuộc sống và đặc biệt yêu thơ, Hoàng Cầm

đã sống hết mình trong mỗi bài thơ, gửi gắm hết tâm tư, tình cảm của mình trong

Trang 27

mỗi câu thơ Nhà thơ đến bên đời với tấm lòng trinh nguyên, mong tìm đến cõi nhân tình, cõi suy tưởng, tuôn chảy suối nguồn xúc cảm thành thơ Trên con đường thơ phiêu bồng, có lúc vắng vẻ đến rợn ngợp, hồn mênh mang, thi nhân tìm cái bất chợt để cảm, và để yêu

Thơ Hoàng Cầm hay bởi sự tự nhiên, thanh thoát, không sắp xếp gò bó, tình cảm toát ra một cách hồn nhiên, chân thành mà sâu sắc Thơ ông, những rung động chân thành trong trái tim người nghệ sĩ tài hoa, đa tình ấy như điệu đàn huyền diệu xui người ta biết say sưa với cuộc đời đầy hương sắc, đam mê dù cũng nhiều đắng cay, đau khổ Thi phẩm được viết ra theo nhịp rung động của toàn thân, của cả tâm hồn và thể chất, khí chất ắt hẳn sẽ là tiếng lòng chân thật và cuộc đời sẽ có những trái ngọt hoa thơm

Suốt đời mình, Hoàng Cầm lặn lội tìm kiếm và chắt lọc sự sáng trong, tinh khôi, tinh hoa của cuộc sống và nghệ thuật Tiếng thơ ấy – chất trữ tình bay bổng của văn hóa mẹ Kinh Bắc, của con chim vàng với giọng hót lảnh lót, trong trẻo, của cây đàn hoàng tử với âm điệu lịch lãm, sang trọng, ngân vang mãi trong nền thơ dân tộc Sự hồn nhiên, thanh khiết trong tâm hồn thi nhân hẳn phải do thiên phú Thời gian có nghiệt ngã và cuộc sống có thăng trầm đến mấy dường như cũng không thể làm cằn, làm vẩn tâm hồn ấy được Nhìn vào tâm hồn thi nhân ấy, có lúc người ta còn tưởng rằng thế gian này đã chẳng có những khổ đau và nước mắt, những phiền muộn, trái ngang

Mang tâm hồn trong sáng vô ngần ấy, nhà thơ đi giữa mọi người và nhìn ngắm cuộc đời Nguồn thi cảm thanh khiết đã đem đến cho ông ánh nhìn trong ngần, ngời sáng:

- Con sông Đuống hồng như giải lụa

Con sông Cầu tựa tấm sồi non

Cùng đổ về đông theo mấy cánh buồm

Tìm đến phương trời nắng mới

Những mái nhà quần tụ dưới thôn

Gà gáy trong mùi khói rạ

Khoai nướng thoáng thơm

Em bé trái đào hát ru lanh lảnh

Bếp nhà ai lửa ánh

Chập chờn yếm trắng sau rặng tre thưa…

[Quan họ mở đầu, 6, tr.71]

Trang 28

- Tôi người làng quan họ

Ngày trở về nghe hát nổi trên đê

Tiếng hát dường như mê

Ném ngọc trên trời lanh lảnh

Em đừng lớn nữa Chị đừng đi Cũng như, nếu không có sức mạnh của một tình yêu

trong sáng như pha lê, một tình yêu không mảy may gợn chút tính toán, người thơ

ấy chẳng thể suốt đời thương nhớ hoài mộng đẹp Diêu Bông:

- Diêu Bông gọi mãi không về

Cứ ngồi canh một giấc mê mặn nồng

Lá – em tuyệt sắc thành không

Tòa sen tỏa rọi bềnh bông kiếp người

[Bao giờ nói hết chuyện Diêu Bông, 6, tr.246]

Vẫn biết, đi tìm lá Diêu Bông là vô vọng nhưng suy cho cùng, đó chính là khát vọng thiêng liêng của con người: tìm đến cái đẹp, tìm đến niềm hạnh phúc đích thực trong cuộc đời Người đọc nhiều thế hệ yêu bài thơ cũng vì cái khát vọng đẫm chất nhân văn ấy Chính nguồn thi cảm thanh khiết của Hoàng Cầm đã giúp ta thấm thía giá trị cao quý ấy của tình yêu và cuộc sống

Nhìn cuộc đời bằng ánh mắt hồn nhiên, trong trẻo, tiếng thơ Hoàng Cầm vì thế luôn tươi trẻ, nồng nàn Hoàng Cầm trong đời và trong thơ, lúc nào cũng say xưa, hân hoan, thoáng chút ngỡ ngàng Cuộc sống với ông có lẽ cũng như là trang thơ, đầy thanh sắc, đầy chất thơ, ngọt ngào, cuốn hút:

- Xuân lá em nhung tơ đính hẹn

Anh phất diều cánh liệng ngang mây

Xanh em thấm nuột trắng này

Hòa âm hồ xế xang đầy nhịp đôi

[Nhịp đôi, 6, tr.343]

Trang 29

- Em sống lao xao em hát vì sao

Em giữ nghìn năm mắt răm má đào

Em xuân trong veo, lớn đến đây thôi

Em vịn hồn anh vin xanh ngôi trời

[Xuân trăn trở, 6, tr.337]

Hoàng Cầm say mê cuộc sống và thơ ca, say mê sáng tạo không phải chỉ bởi

sự ảnh hưởng của yếu tố quê hương, gia đình mà căn bản vì ông có một linh khiếu bẩm sinh và một tâm hồn nhạy cảm Tâm hồn thi nhân đặc biệt tinh nhạy trước mọi biến thái tinh vi của cuộc sống và lòng người Dường như lúc nào nhà thơ cũng có thể rung cảm, rung cảm một cách chân thành, thiết tha với mọi biến động, mọi thay đổi của cuộc sống trên quê hương, với những kỉ niệm chất đầy trong hồn mình Lại vốn là người có nết đa cảm, giữa cuộc đời, thi nhân đâu thể lặng thinh khi suối nguồn tình cảm trong mình cứ chực tuôn trào, réo rắt, sục sôi

Hoàng Cầm, thi nhân ấy có thể nói, như người tình nhân thân thiết của cuộc

đời Ông sinh ra trên đời để yêu, để nhớ và để tin rằng cuộc đời vốn đẹp lung linh, huyền ảo như những giấc mơ Căn cốt thơ Hoàng Cầm chính là tình cảm, là lòng yêu thương bao la, rộng khắp phủ đầy mọi nẻo nhân gian Thơ Hoàng Cầm chinh phục người đọc không phải ở chất sử thi với những gì lớn lao, kì vĩ mà ở những rung động nhẹ nhàng, êm ái, đằm thắm Ông nâng niu, ca ngợi vẻ đẹp những con

người, những cảnh đời gần gũi, thân thương, bình dị: Từ Mẹ già nua còm cõi gánh hàng rong, Những cô hàng xén răng đen, Những nàng dệt sợi đến Cô gái hái chè, Đàn con thơ hay những Chị em gặt lúa tháng mười, những Chị em cấy lúa ngày đông, Em gái gánh gạo…

Dễ hiểu vì sao Hoàng Cầm hay viết về những dòng sông: sông Đuống, sông Thương, sông Cầu…, về những điệu lý huê tình quan họ và về những con người thân thiết, ruột thịt: người mẹ, người vợ, người em…Thực vậy, dù chưa một lần đi qua Kinh Bắc, người đọc vẫn mường tượng ra được hình ảnh những dòng sông Kinh Bắc thơ mộng, trữ tình chảy qua không gian và thời gian Kinh Bắc Cuộc sống quê vốn gắn với ký ức tuổi thơ đầy mộng đẹp lướt qua tâm hồn dạt dào cảm xúc của người nghệ sĩ nhiều mộng mơ bổng trở thành dòng sông đất nước thiêng liêng, đầy trăn trở

Thơ Hoàng Cầm lay động tâm hồn người đọc bằng sự rung động của một trái tim nhân hậu phảng phất nỗi buồn thương trong trẻo Đó là những rung động trong sáng gắn với những cảnh và người trên đất quê hương: Niềm hạnh phúc và tự hào

Trang 30

được sinh ra và lớn lên giữa làng quan họ, được nhìn những nóc lều tranh giữa bốn bên đồng khoai đồng lúa, được nghe tiếng gà gáy trong mùi khói rạ, hương khoai nướng thoảng thơm, tiếng em bé trái đào hát ru lanh lảnh, giấc mộng trầu cau, tình say hội yếm đào, nỗi khắc khoải chuyện tình dang dở… Với Hoàng Cầm, cảm xúc

với cuộc sống dường như lúc nào cũng tươi mới, cũng đắm say như thuở ban đầu Vậy nên, cả những điều tưởng như nhỏ bé, bình thường nhất cũng đi vào ý thơ, khơi dậy niềm cảm xúc mãnh liệt trong ông Lẽ đương nhiên, phải có lòng yêu cuộc sống thiết tha và một tâm hồn sáng trong, nồng nàn cảm xúc, thi nhân mới có được những câu thơ, bài thơ như thế

Từ những điều thân quen, bình dị, đời thường, thơ Hoàng Cầm vươn tới những niềm cảm xúc lớn – tình quê hương, dân tộc Thơ Hoàng Cầm, phía sau câu

từ, chữ nghĩa, sau mỗi hình ảnh thơ là những nỗi niềm, tâm sự của nhà thơ Một lời

ca dao, mặt trăng tròn, nụ hồng non, hoa gạo đầu đình, hay phù sa sông Đuống, bến hát sông Cầu, đêm tiền sử…tất cả đều gắn với một tâm trạng nào đó, hoặc vui,

hoặc buồn, hoặc băn khoăn, trăn trở, cũng có khi chỉ là những rung động thoáng qua nhưng suy cho cùng là tình cảm của nhà thơ đối với con người và mảnh đất quê hương:

- Cúi lạy Mẹ con trở về Kinh Bắc

Chiều xưa giẻ quạt voi lồng

Thân cau cụt vẫy đuôi mèo trắng mốc

Chuồn chuồn khiêng nắng sang sông

[Đêm Thổ, 6, tr.105]

- Én bay đi không hướng tìm xuân

Lá ngọt hết rồi

cỏ chát cứ phân vân

Muốn nuôi người còn sợ đau dạ người

Rêu xóa vết chân bạn cũ

Chè tươi cáu miệng bát đàn

Trang 31

Hoàng Cầm luôn biết tự lắng nghe mình, lắng nghe cuộc sống ngay cả những rung động nhỏ nhất và tìm cách mã hóa, bất tử hóa chúng thành những vần thơ rút

từ gan ruột Cũng nhờ đất Kinh Bắc huê tình, diễm lệ, dạt dào nguồn sống và cảm xúc thơ ca về thiên nhiên, về cuộc sống thường xuyên nuôi dưỡng hồn thơ ông nên trong đời còn ngân mãi những vần thơ như thế

Đọc thơ Hoàng Cầm, ấn tượng đọng lại trong lòng nguời đọc là dòng cảm xúc tuôn trào bất tận tưởng như không bờ bến, vượt qua mọi khuôn khổ nhỏ hẹp của thơ ca thường tình Nhà thơ để mặc cho trái tim, tâm hồn mình tự do ca hát như thể dòng sông khi đã tìm thấy con đường ra đến biển Thơ Hoàng Cầm, do vậy, cứ như lời nói tự nhiên, hồn nhiên, tùy hứng Thật vậy, hồn thơ ông trong trẻo như cơn mưa đầu hạ, dịu dàng, mềm mại như con sông quê hương, vàng tươi nắng hạ ấp áp, và tím biếc một màu chiều dịu êm Đó chính là vẻ đẹp của một tâm hồn đầy đam mê, say đắm và tinh tế Nó tạo nên sức cuốn hút mạnh mẽ không thể nào lý giải được về thơ Hoàng Cầm

Hoàng Cầm luôn suy tư nhưng là cái suy tư của một tâm hồn trong sáng, anh minh Những khúc mắc, u uẩn trong thơ ông không những không làm vẩn đục một hồn thơ mà trái lại, còn thể hiện tình cảm chân thành, cháy bỏng, thiết tha Nỗi băn khoăn, trăn trở, sự buồn thương, lo âu trong trái tim ấy về cuộc đời thường bộc lộ một cách nhẹ nhàng, bắt nguồn từ tấm lòng đôn hậu và một tâm hồn đằm thắm Ta thường bắt gặp qua thơ ông một cái tôi cô đơn, lặng lẽ với nỗi hoài vọng, chìm khuất, đầy tiếc nuối:

Có nét buồn khôi nguyên

Chìm sâu vào đằng đẳng

Có tiếng ca ưu phiền

Chìm sâu vào lẳng lặng

[Nhớ, 6, tr.174]

Hội thêu gấm mở ra “không gian tĩnh lặng” của tình yêu với những khát

khao ẩn ức, lắng sâu được đặt trong mạch nguồn văn hóa Kinh Bắc:

Một mái rạ vàng ấm Châu Long Dương Lễ

Ngơ ngẩn đường khâu áo lạnh Lưu Bình

Ai luồn kim giải áo dở dang mơ

Chàng Lưu ứa nước mắt

bước ra thềm hong mưa…

[Thi thêu gấm, 6, tr.166]

Trang 32

Đi giữa cuộc đời với tấm lòng tận hiến và khát khao đế cháy lòng được hòa điệu hồn mình vào mỗi dòng thơ, nhiều lúc, ta vẫn thấy thi nhân âm thầm, lặng lẽ như chiếc bóng Dù vậy, nỗi khổ đau, cay đắng trong ông cũng không quằn quại đau thương mà sâu lắng, nhẹ nhàng:

- Tôi về tu cõi ai đây

Không ăn chay để nằm chay hết mình

Tôi đi quằn quại u minh

Gửi đăng thơ cuối chương tình đỏ hoe

Tôi về nhặt lá đáy khe

Đưa em xuống nghĩa trang

Đưa em vào hư không

rộng ra cả quê hương, dân tộc Đan trong nỗi nhớ mênh mông ấy là nỗi buồn trong suốt rất dễ đồng cảm của thi nhân

Dường như, mọi niềm vui, nỗi buồn, sự đau khổ hay nhung nhớ trong thơ Hoàng Cầm đều được giãi bày một cách chân thành, bình dị, chứa chan cảm xúc Nhà thơ mang tâm hồn sầu mộng này đã sống hết lòng và thực lòng với đời và với thơ Chính niềm khát khao được sống trọn vẹn và tận hiến tình yêu trong sáng cho đời và cho thơ ấy đã cô đọng khối ẩn ức và hình thành thế giới mộng ảo trong tâm

tư Hoàng Cầm Sớm nhận ra cuộc đời dẫu rất đẹp vẫn đầy những đau thương, oan trái, thi nhân hướng hồn mình về với thiên nhiên thanh sạch, về với Nàng thơ thuần khiết Và, dấn sâu vào bản thể hồn mình để chép thơ cho đời cũng là cách để nhà

Trang 33

thơ ấy bảo toàn sự hồn nhiên, thanh cao của tâm hồn Nhưng có lẽ, ngay cả khi không như thế, ngay cả khi những khổ đau và nước mắt thấm mềm câu thơ ông thì người đọc vẫn nhận ra qua đó một tâm hồn trong trẻo và sáng lán vô ngần

Bởi lẽ, Hoàng Cầm đã sống trong đời và trong thơ bằng tấm lòng trung thực đến tận cùng Người yêu đời, yêu cuộc sống và yêu thơ đến độ luôn khát khao được sống gắn bó, được bộc bày và thổ lộ lòng mình Tình yêu ấy và nỗi khát khao được thể hiện ấy, hồn nhiên, không chút mặc cảm, ngại ngùng Thi nhân tự họa mình:

Ta con bê vàng lạc dáng chiều xanh

đi mãi tìm sim chẳng chín (…)

Ta con chào mào khát nước

về vườn xưa hạt nhãn đã đâm mầm (…)

Ta con chim cu

về gù rặng tre

Đưa nắng ấu thơ

về sân đất trắng (…)

Ta con phù du ao đời chật chội

đứng cánh bèo đo gió lặng tìm sao…

[Về với ta, 6, tr.187-188]

Có lúc, nhà thơ tự nghiệm về cái cội nguồn đầy ải của thơ mình:

Thuở ấy Chị chưa về thơ anh

Áo tơ dính chặt bó khuôn hình

- Em mười hai tuổi tìm theo Chị

Qua cầu bà Sấm bến cô Mưa

Đi…

Ngày tháng lụi tìm không thấy

Giải yếm lòng trai mải phất cờ

[Quả vườn ổi, 6, tr.151]

Trang 34

Hoàng Cầm thuở “mười hai” hay đến cuối cuộc đời vẫn thế - bùi ngùi nuốt

nghẹn trong nỗi cô đơn đoạn kiếp mà giấc mộng tình đời cũng vẫn chưa nguôi:

Bảy mươi đứng phía ngoẹn cười

Tám mươi đứng khóc nẻo đời chưa khô

Trăm năm nhào quyện hư vô

Biết đâu em vẫn lửng lơ hát buồn

[Hai ngả, 6, tr.266]

Thương sao người thi sĩ đâu chỉ đau nhiều trên nẻo đường đời, còn ngập trong hồn nỗi buồn thương trên cả hành trình thơ ca Hồn thơ Hoàng Cầm có sức lay động và truyền cảm mãnh liệt Nó toát lên từ những nỗi niềm thực hơn là từ câu chữ

Thơ Hoàng Cầm không thiếu những hình ảnh độc đáo, lấp lánh chất trí tuệ nhưng sự chân thành của tình cảm, cảm xúc quả thực có ý nghĩa rất lớn trong thơ ông Người đọc yêu quý Hoàng Cầm trước hết bởi sự nhiệt thành, chân thực ấy Nó lay động tâm hồn người đọc, khiến họ nhớ mãi, vấn vương mãi về một hồn thơ giàu mộng mơ nhưng thành thực đến lạ kì Nhiều bài thơ Hoàng Cầm là sự chập chờn nhớ lại, là hoài niệm về những gì đã rất xa xôi nhưng không nhạt nhòa, hư ảo Nỗi nhớ vì rất sâu và nguồn xúc cảm dạt dào, bất tận đã làm sống lại thật nhanh và thật

rõ nét, sống động mọi thứ

Để sáng tác của mình sống được mãi với thời gian, người nghệ sĩ ngoài vốn sống, năng khiếu và kinh nghiệm nghệ thuật, còn phải có một tấm lòng Lòng chân thành, đó là phẩm chất không thể thiếu đối với người nghệ sĩ trong lĩnh vực nghệ thuật đặc biệt này Muốn vậy, tình cảm, cảm xúc, điều nhà thơ muốn bộc lộ, thể hiện trong tác phẩm phải thực sự được dâng lên từ đáy lòng anh ta, phải được rung

từ trái tim chân thành của anh ta Để cho, trước một tác phẩm văn học, người đọc bao thế hệ nhìn thấy qua đó không chỉ là một tài năng, không chỉ những giá trị đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm mà quan trọng hơn, nó tạo được những đồng điệu quý báu về tâm hồn Thiết nghĩ, điều đó góp phần làm nên thế mạnh và đặc trưng riêng của văn học

Nỗi sầu hận của Ức Trai, tiếng thơ cháy lòng của Tố Như, nỗi cảm hoài của Đặng Dung…, nhói lòng bạn đọc từ những ngày xưa cho đến hôm nay và cả mai sau nữa, cũng bởi các nhà thơ, họ đã thắp sáng thi phẩm bằng ngọn lửa trái tim mình Và Hoàng Cầm, cuộc đời lao động nghệ thuật đầy đam mê, không mệt mỏi ấy hội tụ hết thảy những tố chất của người nghệ sĩ mà điểm sáng đầu tiên, nét đẹp đầu

Trang 35

tiên và trước hết khiến người đọc yêu say thơ ông chính là sự chân thành, trong sáng trong tâm hồn ông Tiếng thơ, tiếng vọng tâm hồn thi nhân cũng nhờ vậy có sức vọng rất sâu, rất xa, vọng mãi, ngân nga mãi trong lòng người bao thế hệ

Hoàng Cầm nói về sáng tác nghệ thuật và tác phẩm của mình: “Thơ, từ những khát vọng người, từ vùng u huyền, bí ẩn nhất, bật ra như một điệu đàn, như một hình bóng, bất chợt, như tiếng nói các thần linh không biết tự thuở nào Thơ nối yêu thương vào khát vọng, lại nhân lên đến hệ số vô cùng Thơ cho ta được yêu, biết yêu, biết đau và chịu đau Thơ cho ta cái thật trong cuộc đời, cho ta cái sáng láng trong lành của bầu trời tịnh khí, cho ta màu sắc và âm thanh đẹp nhất” [101, tr.89-90] Quả vậy, khi câu thơ, bài thơ cất lên thành tiếng, thành lời, thì theo đó, bao số phận người, vui hay buồn, hạnh phúc hay bất hạnh, cũng được vỗ về trong

hai tiếng yêu thương Đời thơ Hoàng Cầm dù đầy những biến động, thi nhân vẫn

như cái bóng âm thầm đi giữa dòng đời, có khi lặn tìm về tận miền quá khứ xa xôi

để rung mãi trong đời điệu hồn thiết tha, trong trẻo, dậy lên từ trái tim năng nỗi yêu thương

Có thể nói, thơ Hoàng Cầm trước sau luôn là tiếng nói trung thực của bản ngã, là sự chiêm nghiệm từ những điều tai nghe mắt thấy, những gì trải qua trong đời Thi nhân lúc nào cũng sống rất thật với lòng mình, với niềm cảm xúc của mình:

- Anh đâu biết buồn vui nào chỉ dẫn

Tìm giọt sương lỡ hẹn mấy bình minh

Vạch tia chớp đêm mù đi lận đận

Xót xa em nhiều chớp mắt hóa vô tình

[Nhiều chớp mắt vô tình, 6, tr.231]

Sống trên đời, phải sống hết mình Cuộc sống, số phận cho ta những gì, ta phải đón nhận và chấp nhận… Thơ Hoàng Cầm, sau những đau khổ, bất hạnh hay đêm tối luôn ẩn chứa một nguồn hy vọng, mở ra một bình minh tâm trạng đầy hứa hẹn Có thể nói, đời thơ lắm vinh quang, nhiều hệ lụy ấy chưa bao giờ khuất phục

dù cái nghiệp thơ có nhiều đau khổ, oan trái và cuộc đời có lắm đắng cay Vụ Nhân văn – Giai Phẩm qua đi như một cơn lốc, một tai nạn nghề nghiệp đáng tiếc trong

Trang 36

đời và thơ Hoàng Cầm, vậy mà, nhà thơ vẫn “không mang trong lòng – dẫu chỉ một

ly – nỗi oán hận, nỗi buồn phiền, hoặc trách móc hờn giận gì ai Đôi lúc, chỉ nghĩ về chính số phận mình, có chút cay đắng, có xót xa” [6, tr.193] Thiết nghĩ, thế sự có thăng trầm đến mấy, bụi thời gian có rơi mãi, hồn thơ ấy vẫn tinh anh, sung sức và yêu đời

Với Hoàng Cầm, dường như những quy tắc, chuẩn mực của câu từ, chữ nghĩa không đủ sức để chứa đựng và thể hiện cho hết, cho trọn suối nguồn tình cảm luôn dâng tràn bất tận trong ông Đọc thơ Tế Hanh, nhà thơ Chế Lan Viên cho rằng:

“Tứ trong thơ Tế Hanh là cái tứ của trái tim hơn là khối óc” [Dẫn theo 29, tr.372]

Lời nhận xét ấy cũng đúng với cả Hoàng Cầm Thật vậy, Hoàng Cầm làm thơ cốt để trải lòng mình trên trang giấy và gửi hồn trong ý thơ Điều đó mang lại mối đồng cảm sâu sắc giữa nhà thơ với người đọc Nó giúp xóa đi khoảng cách vời vợi của không gian và sự vô định của thời gian để cái tình riêng trong sâu thẳm lòng ông lan tỏa, cộng hưởng với cuộc đời

Sự hồn nhiên, thanh khiết của tâm hồn, sự dạt dào của mạch nguồn cảm xúc

và lòng chân thành khiến thơ Hoàng Cầm như vượt khỏi khuôn khổ chật hẹp, gò bó của ngôn từ, hóa thành dòng sông trữ tình chảy vào lòng người, tự nhiên, sâu lắng Hồn thơ Hoàng Cầm, ấy là một hồn thơ trữ tình, là sự giãi bày chân thực nỗi lòng thi nhân giữa cuộc đời Có lẽ vì thế mà đọc thơ ông, Hoài Việt đã viết: “Thử làm

một người bộ hành dạo chơi vườn thơ Hoàng Cầm từ trước khi có tập Mưa Thuận Thành, ta bắt gặp một người làm vườn cần mẫn cuốc xới trên mảnh đất hương hỏa,

gieo vãi những hạt hoa nhài, hoa ngâu” [151, tr.12] Thật ra, Hoàng Cầm lắm lúc

cũng hay làm duyên, làm dáng cho thơ mình, nhưng nhìn chung, dòng thơ ông vốn

cứ tự nhiên như không ấy “Hoàng Cầm ít khi bị sa chân vào cái bẫy của mê hồn trận – chữ Anh cố đổ sức ra tìm tòi trong khi vẫn đứng chân trên cái nền từ vựng cũ” [151, tr.12] Đó là tố chất đáng trân trọng của người nghệ sĩ ngôn từ nói chung

và nét đẹp riêng của thi nhân Hoàng Cầm

Không nguyện làm một phu chữ ra sức mạ chữ, đẽo chữ, nấp mình sau lớp

ngôn từ mắc mớ, khó hiểu, trong sáng tác, Hoàng Cầm chỉ mong muốn thổi được hồn vào con chữ Khi ý thơ xuất hiện trong hồn thi nhân, tình cảm trào ra ngọn bút thì con chữ thi nhau nhảy múa thành thơ Dù vậy, Hoàng Cầm vốn là người rất thạo dùng chữ và tài sai khiến con chữ của nhà thơ không ai có thể phủ nhận được Sức gợi cảm, khả năng lay động tâm thức người đọc, cả những người khó tính nhất của thơ ông cũng nhờ biệt tài ấy của thi nhân

Trang 37

Không xem thơ là kĩ xảo, kĩ thuật nhằm khỏa lấp, che đậy những cảm xúc nhạt, nông, dễ dãi, tầm thường, Hoàng Cầm quan niệm thơ hay phải là tiếng lòng trung thực của thi nhân, là một phần máu thịt của đời mình Cho nên, trong nhiều trường hợp, “tôi không hề cấu tứ, nghĩ ngợi gì về câu, chữ, không theo một luật lệ nào gọi là thi pháp hoặc tu từ, hoặc chịu sự ràng buộc nào của phép tắc về thanh điệu, ngữ điệu gì hết Tôi chỉ tuân theo nhịp rung động của toàn thân, cả hồn và thể chất, khí chất” [132, tr.77] Đọc thơ Hoàng Cầm, dường như thi phẩm nào cũng tạo cho người đọc cảm giác suối thơ ông như tuôn chảy từ trái tim nóng bỏng yêu

thương, từ tâm hồn ngập đầy cảm xúc Bên kia sông Đuống có thể nói là trường hợp

điển hình

Một đêm giữa tháng 4 năm 1948, khi nghe tin quê hương bị giặc chiếm đóng, tàn phá, niềm thương cảm, nỗi xúc động dâng tràn, ý thơ bung tỏa thành lời, ào ạt, mãnh liệt “Hình như bao nhiêu nỗi niềm ngổn ngang, xót xa, thổn thức, bao nhiêu tiếng hát buồn, lời ru con não nuột, những tiếc hận, thương nhớ cứ cuồn cuộn trào ra” [132, tr.88] Và trong khoảnh khắc dạt dào ấy, bài thơ dù chẳng được bố cục, định ý hay cấu từ, từ ngữ cũng được bật ra hết sức tự nhiên theo dòng chảy cảm xúc, lại có sức ngân nga, ám ảnh hoài tâm trí người đọc

Rõ ràng, với Hoàng Cầm, thơ đến hồn nhiên, tự nhiên không định trước

Hình ảnh dòng sông Đuống Nằm ngiêng ngiêng trong kháng chiến trường kỳ hay nỗi nhớ tiếc, xót xa như rụng bàn tay… đến bất chợt như cơn sóng lòng chợt dâng

trong nhà thơ khoảnh khắc ấy Bao nhiêu tác phẩm đặc sắc khác của Hoàng Cầm:

Cây Tam Cúc, Quả Vườn Ổi, Về với ta, Mưa Thuận Thành, Dáng thơ, Lá Diêu Bông…, mỗi thi phẩm một dòng tâm trạng, một khối tâm tình, bài nào cũng được

viết ra từ đáy tâm hồn nhà thơ Làm được cái điều không mấy ai có thể, lại hết sức nhẹ nhàng như thế cũng nhờ Hoàng Cầm đã hòa được hồn thơ mình với chất thơ

của cuộc đời Nếu Bên kia sông Đuống để lại những ấn tượng đẹp, bình dị mà tinh

tế, nên thơ, thì với Lá Diêu Bông, một chiềc lá không có thực trong cuộc đời, một chiếc lá kỳ ảo, nhà thơ đã tạo nên và thả nó trên dòng sông thơ để nó trôi về đôi nẻo

cuộc đời:

Từ thuở ấy

Em cầm chiếc lá

đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi

Diêu Bông hời…

…ới Diêu Bông…!

[Lá Diêu Bông, 6, tr.150]

Trang 38

Bài thơ tựa như một khúc nhạc buồn, nhẹ, êm nhưng giàu chất say, từ một

thuở nào xa xôi lắm, có lẽ từ tiền kiếp, vọng về trong tâm hồn nhà thơ: Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng Ẩn tình Lá Diêu Bông nên chăng hiểu rằng tác giả

muốn nói đến bi kịch trong tình yêu lứa đôi và rộng ra là bi kịch trong cuộc đời về hiện thực và mơ ước? Nỗi băn khoăn và ước mơ thật trong sáng, thật nhân văn: chiếc lá nhiệm màu có sức mạnh thiêng liêng, có thể thay đổi cuộc đời Chị và Em

Kỳ ảo Lá Diêu Bông – tình yêu kỳ ảo mà sao đẹp và đáng thương, đáng được đồng

cảm, chia sẻ Để rồi, mãi mãi trong đời, người ta vẫn luôn hy vọng và mong mỏi sẽ làm một điều gì đó để tình yêu không đi cùng nỗi bất hạnh ở bên đời

Và Cây Tam Cúc, trong ổ rơm thơm, giữa những khát khao trong trẻo nhất của thời thơ dại, Em muốn cuộc đời thật ngưng đọng trong cái ngọt ngào thơ trẻ của cuộc chơi này:

Cỗ bài tam cúc mép cong cong

Rút trộm rơm nhà đi trải ổ

Chị gọi đôi cây

trầu cay má đỏ

kết xe hồng đưa Chị đến quê Em

Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm

Em đừng lớn nữa Chị đừng đi

Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa

ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì…

[Cây Tam Cúc, 6, tr.149]

Những cây tam cúc nở xòe trên tay Em đẹp như niềm tin thơ dại đầy mộng

mơ Ngớ ngẩn, nực cười nhưng tội nghiệp và đáng trân trọng làm sao khi cứ muốn

níu cuộc đời thực vào cuộc đời thơ:

Em đi đêm tướng điều sĩ đỏ

đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em

Năm sau giặc giã

Quan Đốc đồng áo đen nẹp đỏ

thả tịnh vàng cưới Chị

võng mây trôi

Em đứng nhìn theo Em gọi đôi

[Cây Tam Cúc, 6, tr.149]

Trang 39

Tiếng gọi chới với, mơ hồ, mờ nhòa rơi vào khoảng không xa hút nhưng khoảng lặng tình yêu, tình người, tình quê hương xứ sở, trong vẻ đẹp truyền thống lẫn với những gieo neo của thân phận hẳn đọng mãi trong lòng người Gấp trang thơ lại, lòng ta như còn vương vấn mãi làn hương mái tóc người con gái đương thì, mùi rơm thơm ngái của đồng quê và nhất là hương vị của tình yêu đơn phương, vô vọng vừa chớm nở

Tứ trong thơ Hoàng Cầm thường được lập từ một trạng thái tình cảm, một sự

việc nào đó Nhiều thi phẩm của ông mang cái tứ rất lạ và đẹp mà có khi nhà thơ đã chẳng cất công cấu tứ hay dự định gì cả Đó là những lúc ý thơ bật ra theo dòng chảy cảm xúc, bất chợt, mạnh mẽ chẳng đợi thi nhân suy nghĩ, lựa chọn hay cân nhắc Gắn với tứ thơ ấy là giọng điệu thiên về giãi bày, chia sẻ, ít triết lý, giọng của

cái tôi trữ tình luôn mê mải, ngỡ ngàng trước cuộc đời mình tin yêu Bên kia sông Đuống cũng như nhiều bài thơ khác của Hoàng Cầm có cấu tứ đơn giản, hình ảnh

thơ không quá cầu kì nhưng rất sinh động và có hồn:

Em ơi buồn làm chi

Anh đưa em về sông Đuống

Ngày xưa cát trắng phẳng lì

Sông Đuống trôi đi

Một dòng lấp lánh

Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì

[Bên kia sông Đuống, 6, tr.23-24]

Bài thơ mở ra một cách giản dị, bình thường như lời nói tâm tình nói chuyện

với người thân, chẳng chút quanh co, rào đón Vậy mà, Bên kia sông Đuống nói

riêng và thơ Hoàng Cầm nói chung lại khiến người đọc, người nghe bao lần lịm đi trong niềm xúc động không sao diễn tả được:

- Dẫu anh biết Diêu Bông không thực

Sao Diêu Bông cứ thức hồn em

Cứ sao băng mãi đường đêm

Cứ trăng lên đậu cành mềm xuân quê

[Bao giờ nói hết chuyện Diêu Bông, 6, tr.245]

- Trong ngần giọt nước mắt rơi

Mắt tôi trong, nối mắt người tôi thương

Dám đâu mơ ngát thiên đường

Chỉ mê man nẻo dư hưong cuối mùa

Thương nhau vì một dòng thơ…

[Gửi vào gió biển, 6, tr.258]

Trang 40

Chàng thi sĩ đi theo tiếng gọi của Nàng thơ, mặc tâm hồn rộng mở, rung lên những điệu nhạc êm đềm, sâu lắng Ý thơ tràn về dưới ngòi bút, dạt dào, dồn dập, những tiếng thơ sáng trong, lung linh, tuyệt diệu, đẹp đến lạ lùng Nhìn vào những dòng thơ ấy, người ta ngỡ như nhà thơ phải tốn rất nhiều công sức, phải gọt đẽo ngôn từ rất đỗi công phu Kỳ thực, ngôn ngữ thơ Hoàng Cầm không cầu kỳ, lóe sáng mà bình dị, thấm đượm tình cảm chân thành Ngôn ngữ thơ vốn là “ngôn ngữ đến từ nơi ngọn nguồn của nó, như tia lửa bay lên từ tâm hồn con nguời đang xúc động, như chiếc lá non vừa từ chồi nụ nở ra Mỗi từ như một viên ngọc nguyên thủy, một giọt ánh sáng, và câu thơ như dòng nước nguồn trong suốt”, theo Nguyễn Đình Thi Ngôn ngữ thơ Hoàng Cầm chính là thứ ngôn ngữ ấy, trong suốt, tinh khôi, toát ra từ một hồn thơ trong trẻo

Bằng một hệ lời đầy sáng tạo, thơ Hoàng Cầm đủ sức biểu cảm để diễn tả đúng những rung động tinh tế của tâm hồn một cách sinh động và chân thành Sáng tác của ông đã tuân thủ “quy luật quan trọng trước tiên của tác phẩm thơ: cộng thêm vào thực tại một tâm hồn, một trí tuệ, một tình cảm, một sáng tạo” [18, tr.35] Trên

cơ sở đó, thơ ông phát huy được nhiều nhất, mạnh mẽ nhất “năng khiếu thơ” trong nó: truyền cảm xúc vào lòng người, hồn người Có lẽ cũng vì thế mà Hoài Việt đã phác thảo chân dung Hoàng Cầm: Ấy là “Con chim có bộ lông vàng quen nhả giọng véo von”, là “Tiếng tơ đồng giọt giọt rơi từ một cây đàn vàng”, là “Một tinh thể trong thiên hà thơ bốc cháy lửa hoàn nguyên sao Chổi” [151, tr.5]

1.2.2 Hồn thơ sâu lắng, đậm chất suy tư

Toàn bộ cuộc sống nội tâm, cuộc sống tinh thần của con người là mảnh đất thầm kín của tâm hồn và trái tim, nơi từ đó vươn lên một khát vọng mơ hồ về cái tốt đẹp và cao cả Và cũng từ nơi đó, tác phẩm nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng được phát khởi và hình thành Hoạt động sáng tạo của người nghệ sĩ thực chất bắt nguồn từ sự thôi thúc bên trong Cuộc sống đầy hương sắc với bao niềm vui, nỗi buồn, lòng yêu thương, sự căm giận cùng những đắng cay ngọt bùi… tất cả kết đọng và cựa quậy trong tâm hồn nhà thơ Nó tựa hồ những cơn sóng cứ vỗ mãi vào lòng thi nhân, làm dậy nên bao niềm rung cảm, xúc động, tựa như những hạt phù sa tích tụ lâu dần thành những cánh đồng màu mỡ, chờ được gieo trồng Giữa cuộc sống bao la, muôn hình, có khi chỉ một vầng trăng, một cái ráng chiều, một cơn gió, một hạt sương mai, một kiếp người hay một sự đời cũng làm ta rưng rưng xúc động, yêu thương, vỗ về hay khinh ghét, căm phẫn Với thi nhân, những ấn tượng và cảm nhận ấy có khi thành nỗi ám ảnh, day dứt khôn nguôi trong lòng họ, đòi hỏi được

Ngày đăng: 11/04/2013, 11:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w