Là quận mới được thành lập và là một địa bàn trọng điểm về tệ nạn ma tuý của Thủ đô Hà Nội, với số đối tượng nghiện ma tuý tính đến ngày 05/12/2012 là 1.140 người trong đó có mặt tại cộn
Trang 1Đại học quốc gia hà nội Tr-ờng đại học khoa học Xã HộI Và NHâN VĂN
- -
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHềNG, CHỐNG MA TÚY ĐỐI VỚI THANH NIấN QUẬN LONG BIấN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI (Nghiờn cứu tại hai phường Thượng Thanh và Ngọc Lõm)
LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyờn ngành: Cụng tỏc xó hội
Hà Nội - 2014
Trang 2Đại học quốc gia hà nội Tr-ờng đại học khoa học Xã HộI Và NHâN VĂN
- -
TRẦN VĂN SƠN
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHềNG, CHỐNG MA TÚY ĐỐI VỚI THANH NIấN QUẬN LONG BIấN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI (Nghiờn cứu tại hai phường Thượng Thanh và Ngọc Lõm)
Trang 3- 1 -
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 8
3 Ý nghĩa của nghiên cứu 11
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 11
5 Phạm vi nghiên cứu 12
6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 13
7 Câu hỏi nghiên cứu 13
8 Giả thuyết nghiên cứu 13
9 Phương pháp nghiên cứu 14
10 Kết cấu luận văn 16
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU 17
1.1 Các khái niệm công cụ 17
1.1.1 Khái niệm ma túy 17
1.1.2 Khái niệm nghiện ma túy 17
1.1.3 Khái niệm thanh niên 18
1.1.4 Khái niệm thanh niên nghiện ma túy 19
1.1.5 Khái niệm phòng, chống ma túy 19
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 19
1.2.1 Lý thuyết hành vi 19
1.2.2 Lý thuyết hệ thống 21
1.2.3 Lý thuyết động năng tâm lý 23
1.2.4 Lý thuyết nhân văn 25
1.3 Nhân viên công tác xã hội và vai trò 26
Trang 4- 2 -
1.3.1 Khái niệm nhân viên công tác xã hội 26
1.3.2 Vai trò của nhân viên công tác xã hội 27
1.4 Đặc điểm chung của địa bàn nghiên cứu 27
Chương 2 THỰC TRẠNG THANH NIÊN NGHIỆN MA TUÝ VÀ CÔNG TÁC PHÒNG CHỐNG MA TUÝ ĐỐI VỚI THANH NIÊN 33
2.1 Khái lược về vấn đề thanh niên nghiện ma tuý 33
2.1.1 Thực trạng thanh niên quận Long Biên 33
2.1.2 Thực trạng nghiện ma tuý trong thanh niên quận Long Biên 36
2.2 Hoạt động phòng và chống hành vi sử dụng ma tuý đối với thanh niên quận Long Biên 48
2.2.1 Hoạt động tuyên truyền phòng, chống ma tuý 48
2.2.2 Hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm ma tuý 52
2.2.3 Hoạt động cai nghiện 54
2.2.4 Hoạt động quản lý sau cai 59
2.2.5 Hoạt động của Câu lạc bộ B93 61
2.2.6 Hoạt động của đội ngũ nhân viên làm công tác xã hội cơ sở 64
2.3 Những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân trong hoạt động phòng, chống hành vi sử dụng ma túy đối với thanh niên 65
2.3.1 Những hạn chế, tồn tại 66
2.3.2 Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại 68
Chương 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG, CHỐNG HÀNH VI SỬ DỤNG MA TUÝ ĐỐI VỚI THANH NIÊN 72
3.1 Những căn cứ đề xuất giải pháp 72
3.1.1 Căn cứ quan điểm, mục tiêu của Đảng, Nhà nước về công tác phòng, chống tệ nạn ma tuý 72
Trang 5- 3 -
3.1.2 Căn cứ quan điểm, mục tiêu của quận Long Biên về công tác phòng,
chống tệ nạn ma tuý 76
3.2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống hành vi sử dụng ma túy đối với thanh niên quận Long Biên 78
3.2.1 Đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo 78
3.2.2 Lồng ghép vận dụng các kỹ năng công tác xã hội để phòng ngừa nghiện ma tuý trong hoạt động tuyên truyền, giáo dục thanh niên 80
3.2.3 Tăng cường nguồn lực, nâng cao vai trò đội ngũ nhân viên làm công tác xã hội ở cơ sở 83
3.2.4 Kết hợp phương pháp công tác xã hội trong hoạt động cai nghiện và quản lý sau cai 86
3.2.5 Phát triển các mô hình công tác xã hội 88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 90
1 Kết luận 90
2 Khuyến nghị 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 101
Trang 6Tệ nạn nghiện ma túy đã lan rộng ra tất cả các tỉnh, thành phố, các khu vực dân cư, đến mọi thành phần, lứa tuổi, đặc biệt là trong thanh, thiếu niên Nghiện ma túy không chỉ hủy hoại sức khỏe của thanh niên, ảnh hưởng đến giống nòi mà còn là một trong các nguyên nhân lớn gây tình trạng lây nhiễm HIV/AIDS Theo điều tra có 80% người nhiễm HIV ở nước ta hiện nay là người tiêm chích ma túy Nghiện hút, tiêm chích ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm, gây rối an ninh trật tự xã hội, mại dâm Theo thống kê được biết số vụ phạm tội về ma túy hàng năm ngày càng tăng lên, phức tạp và khó lường Nhất là đối tượng thanh, thiếu niên đã kết nhóm lại với nhau thành từng nhóm, băng đảng gây rối trật tự công cộng, đua xe trái phép, cướp giật… gây những hậu quả nghiêm trọng Đồng thời, số người nghiện tham gia mua bán, vận chuyển, tàng trữ, tổ chức, sử dụng ma túy để kiếm tiền hút chích ma túy ngày càng tăng nhanh
Vì vậy ma túy là tác nhân khiến xã hội mất cân bằng, là hiểm hoạ của xã hội, ảnh hưởng an ninh quốc gia
Quận Long Biên được thành lập trên cơ sở chia tách từ huyện Gia Lâm và đi vào hoạt động từ 01/01/2004 Quận nằm ở phía Đông Bắc Thủ
đô Hà Nội, có diện tích 60km2, tiếp giáp với các quận, huyện Gia Lâm, Đông Anh, Ba Đình, Hoàn Kiếm và Hai Bà Trưng, quận có 14 phường với
số dân trên 27 vạn người, trong đó hơn 8 vạn là người đăng ký tạm trú KT3, KT4 Quận là đỉnh tam giác phát triển kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, những năm gần đây quận có tốc độ đô thị hoá nhanh, có nhiều
Trang 7- 5 -
tuyến giao thông huyết mạch và công trình trọng điểm quốc gia như: Quốc
lộ 1A, 1B, 5A, sông Hồng, sông Đuống, sân bay Gia Lâm, ga xe lửa Gia Lâm, bến xe Gia Lâm; có các cầu lớn như: cầu Thanh Trì, cầu Vĩnh Tuy, cầu Chương Dương, cầu Long Biên, cầu Đuống, cầu Phù Đổng; là quận có diện tích lớn nhất trong các quận, có quỹ đất dồi dào lên sự gia tăng cơ học của dân số rất mạnh Những đặc điểm này mang lại cho quận nhiều ưu thế
để phát triển kinh tế - xã hội nhưng cũng làm cho tệ nạn xã hội, trong đó có
tệ nạn ma tuý trong khoảng thời gian gần đây có xu hướng gia tăng ở mức báo động Là quận mới được thành lập và là một địa bàn trọng điểm về tệ nạn ma tuý của Thủ đô Hà Nội, với số đối tượng nghiện ma tuý tính đến ngày 05/12/2012 là 1.140 người (trong đó có mặt tại cộng đồng: 510 người, đang cai nghiện tại các Trung tâm cai nghiện thành phố: 472 người, đang bị giam giữ, cải tạo tại các cơ sở do ngành công an quản lý: 158 người), hoạt động tội phạm ma tuý vẫn gia tăng và phức tạp là một thách thức không nhỏ đối với quận Long Biên
Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhận những công việc đòi hỏi sự hy sinh, gian khổ, sức khỏe và sáng tạo Vị trí của Thanh niên là lực lượng xung kích cách mạng; Trong văn Kiện Đại hội Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ X (nhiệm kỳ 2012 - 2017) đã nêu ra mục tiêu xây dựng
hình mẫu người thanh niên: “Xây dựng lớp thanh niên giàu lòng yêu nước,
yêu chủ nghĩa xã hội, có bản lĩnh chính trị, ý thức chấp hành pháp luật, có đạo đức cách mạng và lối sống đẹp, có ước mơ, hoài bão, khát vọng đưa đất nước vươn lên, có tri thức, sức khoẻ, kỹ năng xã hội, năng lực chuyên
Như vậy, để xây dựng được một lớp thanh niên đáp ứng các tiêu chí trên việc nghiên cứu các giải pháp phòng chống tệ nạn xã hội nói chung và
1
Văn kiện Đại hội đoàn TNCS HCM toàn quốc lần thứ X, trang 23
Trang 8nghiệp, làm giàu chính đáng, có trình độ học vấn khá cao; Tuy nhiên, trong
các lĩnh vực của đời sống, giữa các đối tượng thanh niên có sự phân hoá
ngày càng rõ nét Một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, giảm sút
niềm tin, ít quan tâm tới tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hóa dân tộc Tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội đặc biệt là số lượng nghiện ma túy trong thanh niên những năm gần đây đang gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp Tính đến thời điểm năm 2012, số lượng người nghiện ma túy là thanh niên trên địa bàn quận Long Biên có 674 người, chiếm 59,1% số người nghiện Số người nghiện là thanh niên phát sinh mới hàng năm trung bình khoảng 30 -
35 người và các tội phạm khác liên quan đến ma túy là từ 40 - 50 người
Ma túy đang từng ngày, từng giờ làm tha hóa, băng hoại đạo đức, nhân cách, lối sống, đến thể lực, sức khỏe của một bộ phận thanh niên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nguồn nhân lực trẻ Tệ nạn ma túy trong thanh niên đang là vấn đề nóng bỏng, là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay, của cả nước nói chung và của quận Long Biên, Thành phố Hà Nội nói riêng
Đứng trước thực trạng trên, từ nhiều năm nay Đảng, Nhà nước, Thành phố Hà Nội cũng như quận Long Biên đã có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm đẩy lùi, bài trừ tệ nạn ma túy nói chung và tệ nạn nghiện ma túy trong thanh niên nói riêng Từ năm 2008 đến nay, ở quận Long Biên nhiều
Trang 9- 7 -
băng nhóm buôn lậu ma túy đã bị triệt phá, tòa án nhân dân các cấp đã xét xử hàng trăm vụ, với hàng trăm tên tội phạm ma túy bị bắt và lĩnh án Trong 5 năm (từ năm 2008 – 2012), quận đã tổ chức cai nghiện tập trung tại các Trung tâm cai nghiện của Thành phố Hà Nội cho hơn 600 lượt người nghiện
Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng nhưng tệ nạn ma túy, đặc biệt là tệ nạn nghiện ma túy trong thanh niên không giảm, mà đang phát triển với tốc
độ đáng báo động Tỷ lệ tái nghiện trong thanh niên rất cao, số thanh niên đi cai nghiện thành công chỉ vào khoảng 10 – 20% Trong khi đó hoạt động của đội ngũ nhân viên công tác xã hội cơ sở còn tương đối mờ nhạt, chưa phát huy được hết vai trò, cũng như các hoạt động trợ giúp trực tiếp đối với đối tượng nghiện và người có nguy cơ cao Điều đó cho thấy được sự cần thiết cũng như tầm quan trọng của đội ngũ nhân viên xã hội trong các hoạt động tại
từ nhiều góc độ về tình trạng nghiện ma tuý trong thanh niên của quận
Với những yêu cầu cấp thiết trên, tác giả chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp phòng, chống ma túy đối với thanh niên quận Long Biên - Thành phố Hà Nội (nghiên cứu tại hai phường Thượng Thanh và Ngọc Lâm)” để nghiên cứu, từ đó đưa ra những kiến nghị góp phần nâng cao hiệu
quả trong công tác phòng chống ma túy đối với thanh niên để xây dựng một
Trang 10- 8 -
lớp thanh niên quận Long Biên khỏe về thể chất, mạnh về tinh thần, hoàn thành mọi nhiệm vụ trong tình hình mới
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trong những năm gần đây, khi ma túy trở thành tệ nạn xã hội làm tha hóa, băng hoại đạo đức, lối sống và sức khỏe của xã hội, trong đó có một bộ phận là thanh thiếu niên, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này như sau:
2.1 Nhóm nghiên cứu liên quan đến công tác phòng, chống ma tuý trong thanh niên, học sinh, sinh viên và các nhà trường
- Năm 1995, Trung ương đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đã
chỉ đạo xây dựng: “Tổng luận phân tích về phòng chống lạm dụng ma túy
trong thanh niên và những giải pháp của Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tham gia phòng chống ma túy trong thanh niên” Đây là một đề tài
rộng, trong đó tập trung điều tra, khảo sát tình hình lạm dụng ma tuý của thanh niên cả nước, kết hợp nghiên cứu, phân tích các báo cáo số liệu của các tỉnh Đoàn để xây dựng lên thực trạng sử dụng, lạm dụng ma tuý trong thanh niên Trên cơ sở đó đánh giá công tác phòng, chống ma tuý của các cấp Đoàn thanh niên, những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế và xây dựng các nhóm giải pháp nhằm hạn chế tình hình sử dụng ma tuý trong thanh niên cả nước, trong đó nhấn mạnh vai trò của tổ chức Đoàn Tuy nhiên, đề tài mới đề xuất được những nhóm giải pháp cơ bản trong công tác tuyên truyền phòng ngừa, chưa có nhóm giải pháp phối hợp để khắc phục những hậu quả do thanh niên nghiện ma tuý gây ra như công tác cai nghiện, công tác quản lý sau cai, phòng ngừa tái nghiện bền vững
- Năm 2003, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố của Tiến sỹ
Nguyễn Thành Công “Nghiên cứu các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý cai nghiện ma túy và sau cai”, Đề tài đã chỉ rõ một số thực trạng và
nguyên nhân nghiện ma tuý, phân tích các biện pháp cai nghiện Đồng thời đề tài nghiên cứu và nêu ra những hạn chế, tồn tại của công tác quản lý cai
Trang 11- 9 -
nghiện và quản lý sau cai, những bất cập trong các quy định của văn bản pháp luật về cai nghiện và quản lý sau cai từ đó đề xuất giải pháp khắc phục Tuy nhiên, Đề tài chưa đề cập tới thực trạng nghiện ma tuý của một nhóm đối tượng cụ thể nào, chưa có các giải pháp phòng ngừa mà chỉ tập trung vào nhóm giải pháp giải quyết hậu quả của việc nghiện ma tuý
- Năm 2007, Đề tài cấp Bộ: “Những giải pháp thực hiện việc ngăn
chặn tệ nạn mại dâm, ma túy trong thanh thiếu niên” do Thạc sỹ Đỗ Thị Bích
Điểm làm chủ nhiệm Đề tài đánh giá được cơ bản thực trạng nghiện ma tuý trong thanh thiếu niên Việt Nam và đề xuất các giải pháp phòng ngừa cho thực trạng này Tuy nhiên, đề tài chưa chia tách được thực trạng nghiện ma tuý trong nhóm thiếu niên và nhóm thanh niên, do đó đề tài cũng chỉ đề xuất được các giải pháp phòng ngừa chung cho cả thanh niên và thiếu niên, trong khi đó ở mỗi độ tuổi cần phải có những nhóm giải pháp phòng ngừa phù hợp Bên cạnh đó, đề tài chưa đề xuất được nhóm giải pháp để khắc phục những hậu quả của tình trạng nghiện ma tuý trong thanh thiếu niên
- Năm 2008, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố Hà
Nội với Đề tài khoa học “Tình hình lạm dụng ma túy trong sinh viên các
trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chuyên nghiệp - Một số biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn” Đề tài đã triển khai khảo sát tình trạng lạm dụng ma
tuý trong sinh viên ở một số trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội, kết quả đề tài đã nhận định thực trạng nghiện hút ma tuý trong sinh viên có nhiều diễn biến phức tạp, tình trạng lạm dụng các chất gây nghiện ngày càng gia tăng Đề tài cũng đã đưa ra một số giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn nhưng các giải pháp chủ yếu tập trung vào vai trò của nhà trường và tổ chức Đoàn, chưa đề xuất được nhóm giải pháp có tính chiều sâu như công tác quản lý sinh viên giữa nhà trường, gia đình và nơi cư trú, tạm trú; chương trình sinh viên tham gia các hoạt động công tác xã hội, tình nguyện, công tác hướng nghiệp cho sinh viên
Trang 12- 10 -
- Cùng đối tượng như vậy, năm 2008, Sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội
với Đề tài khoa học: “Nghiên cứu các biện pháp giáo dục phòng chống ma
túy trong các trường học” Đề tài đã chỉ ra được thực trạng của công tác giáo
dục trong các trường trên địa bàn Hà Nội, đặc biệt với các nội dung mang tính giáo dục kỹ năng sống cho học sinh Trong đó nhấn mạnh đến cải cách chương trình học, đưa các nội dung về phòng, chống ma tuý và chương trình học phổ thông Đây là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao nhận thức cho các nhà giáo dục và học sinh, góp phần phòng ngừa tệ nạn ma tuý xảy ra trong các trường học
2.2 Nhóm nghiên cứu liên quan đến hành vi, tội phạm ma tuý
Một số công trình nghiên cứu về tệ nạn ma túy của các tác giả Ngô Minh Hiến – “Nghiên cứu về một số động cơ chủ yếu của người phạm tội mua bán các chất ma túy ở trại giam Z30-Cục V60 Bộ công an”, Tác giả PGS.TS Nguyễn Xuân Yêm - “Công trình nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội ma túy của trẻ vị thành niên”, Tác giả Thạc sĩ Tiêu Thị Minh Hường - “Thực trạng và thái độ đối với ma túy của sinh viên trường Đại học Lao động thương binh và Xã hội” hay đề tài “Tìm hiểu công tác phòng chống ma túy” của tác giả Lê Văn Luyện…
Những đề tài trên nghiên cứu ở góc độ rộng đó là tệ nạn ma túy, nó bao gồm cả tình trạng nghiện ma túy, tội phạm về ma túy và các hành vi trái phép khác về ma túy, ít nhiều đã đề cập và đưa ra các giải pháp phòng, chống tệ nạn ma túy nói chung Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu chỉ đi sâu vào những vấn đề chung nhất về tệ nạn ma túy, rất ít công trình nghiên cứu dành riêng cho công tác phòng, chống nghiện ma túy đối với thanh niên, nhất là đề cập đến thực trạng tệ nạn ma túy và các giải pháp phòng, chống ma tuý ở một địa bàn cụ thể Ở đề tài này tác giả chọn lựa, đi sâu nghiên cứu và đề xuất các giải pháp phòng chống tệ nạn nghiện ma túy đối với thanh niên quận Long Biên, Thành phố Hà Nội
- Là tài liệu tham khảo cho các cán bộ làm công tác xã hội trong nghiên cứu và hoạt động thực tiễn
Trang 13lý thuyết, phương pháp và kỹ năng công tác xã hội đã được học và thực hành
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ thực trạng tình hình nghiện ma túy trong thanh niên quận Long Biên và bước đầu đề xuất một số giải pháp hiệu quả để đóng góp cho công tác phòng chống ma túy trên địa bàn quận Long Biên nói riêng và Thành phố Hà Nội nói chung
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ làm công tác phòng chống tệ nạn xã hội, xây dựng kế hoạch phòng chống tệ nạn ma túy đối với thanh niên quận Long Biên nói riêng, Thành phố Hà Nội nói chung; cho đoàn thanh niên trong công tác tuyên truyền về phòng, chống tệ nạn ma túy trong thanh niên các cấp;
- Là tài liệu tham khảo cho các cán bộ làm công tác xã hội trong nghiên cứu và hoạt động thực tiễn
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá thực trạng nghiện ma túy trong thanh niên quận Long Biên và một số kết quả phòng, chống ma tuý trong thanh niên trên địa bàn Quận, từ đó
Trang 14- 12 -
đề xuất được một số giải pháp hiệu quả phòng chống ma túy đối với thanh niên của quận Long Biên
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiện hút trong thanh niên và những giải pháp trong công tác phòng, chống nghiện hút đối với thanh niên
- Phân tích, đánh giá thực trạng nghiện ma túy trong thanh niên quận Long Biên, đặc biệt tập trung đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác phòng, chống tệ nạn ma túy đối với thanh niên quận Long Biên
- Đề xuất một số giải pháp hiệu quả để đóng góp cho công tác phòng chống nghiện hút ma túy trên địa bàn quận Long Biên nói riêng và Thành phố Hà Nội nói chung
5 Phạm vi nghiên cứu
5.1 Phạm vi về nội dung
+ Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu về thực trạng nghiện hút ma túy trong thanh niên quận Long Biên và các giải pháp phòng, chống hành vi sử dụng
ma tuý của thanh niên quận Long Biên
+ Tiến hành nghiên cứu thực địa tại hai phường là Thượng Thanh và Ngọc Lâm để có thêm căn cứ đề xuất giải pháp
5.2 Phạm vi về thời gian: Từ tháng 01/2013 – 11/2013
5.3 Phạm vi về không gian
Tại quận Long Biên - Thành phố Hà Nội (tập trung tại phường Thượng Thanh và phường Ngọc Lâm)
Trang 15- 13 -
6 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
6.1.Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng và giải pháp phòng, chống ma túy đối với thanh niên quận Long Biên - Thành phố Hà Nội (Nghiên cứu tại hai phường Thượng Thanh
và Ngọc Lâm)
6.2 Khách thể nghiên cứu
- Thanh niên quận Long Biên (gồm cả những thanh niên đã cai nghiện trở về cộng đồng thuộc hai phường Thượng Thanh và Ngọc Lâm)
- Gia đình của thanh niên (bao gồm cả gia đình có thanh niên nghiện
ma túy thuộc hai phường Thượng Thanh và Ngọc Lâm)
- Cán bộ, tình nguyện viên làm công tác phòng chống tệ nạn xã hội tại hai phường Thượng Thanh và Ngọc Lâm
- Chính quyền địa phương, bao gồm: Các phòng, ban ngành, đoàn thể thuộc UBND quận Long Biên và UBND hai phường Thượng Thanh, Ngọc Lâm
7 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Tình hình nghiện ma túy trong thanh niên quận Long Biên làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương như thế nào?
(2) Công tác phòng, chống nghiện hút ma tuý đối với thanh niên quận Long Biên đã được tiến hành và đạt được những kết quả như thế nào?
(3) Để góp phần phòng chống và làm giảm tình trạng nghiện hút trong thanh niên quận Long Biên cần đưa ra những giải pháp hiệu quả nào?
8 Giả thuyết nghiên cứu
(1) Tình hình nghiện ma tuý trong thanh niên quận Long Biên là một vấn
đề bức xúc đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
(2) Quận Long Biên đã có nhiều giải pháp trong công tác phòng, chống nghiện hút ma tuý trong thanh niên, tuy nhiên chưa thực sự hiệu quả
Trang 16- 14 -
(3) Phát huy vai trò của nhân viên xã hội và các hoạt động công tác xã hội là một trong những giải pháp hiệu quả góp phần tích cực trong phòng, chống và làm giảm tình trạng nghiện hút trong thanh niên quận Long Biên
9 Phương pháp nghiên cứu
9.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật lịch sử
và Chủ nghĩa duy vật biện chứng khi xem xét thực trạng nghiện ma túy trong thanh niên và các giải pháp phòng, chống ma túy của quận Long Biên đã thực hiện trong mối quan hệ tổng hòa với các vấn đề khác
9.2 Phương pháp thu thập thông tin
9.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Để triển khai nghiên cứu, một hệ thống tư liệu được sử dụng để tổng hợp và nhìn nhận, đánh giá làm cơ sở và minh chứng cho các luận điểm được trình bày Những tài liệu được sử dụng gồm có tài liệu hàn lâm (những tài liệu khoa học chính thống được sử dụng như giáo trình, từ điển chuyên ngành ), các báo cáo liên quan đến đề tài (Báo cáo của Chi Cục phòng chống tệ nạn xã hội thành phố Hà Nội, Sở Lao động Thương binh và xã hội Hà Nội, Báo cáo của UBND quận Long Biên và các phòng, ban ngành, đoàn thể thuộc UBND quận Long Biên ), một số kết quả nghiên cứu và tài liệu có liên quan khác
9.2.2 Phương pháp thảo luận nhóm
- Để tìm hiểu rõ hơn về quan điểm, thái độ của các thành phần liên quan với công tác phòng, chống nghiện ma túy trong thanh niên quận Long Biên, tiến hành tổng số 13 buổi thảo luận nhóm, cụ thể:
+ Nhóm thanh niên: 05 buổi thảo luận (Buổi 1: 10 người, Buổi 2: 09 người; Buổi 3: 10 người; Buổi 4: 11 người; Buổi 5: 08 người)
+ Nhóm phụ nữ: 04 buổi thảo luận (Buổi 1: 11 người, Buổi 2: 09 người; Buổi 3: 10 người; Buổi 4: 12 người)
Trang 17- 15 -
+ Nhóm người nghiện đang sinh hoạt tại Câu lạc bộ B93: 04 buổi thảo luận (Buổi 1: 09 người, Buổi 2: 07 người; Buổi 3: 08 người; Buổi 4: 08 người)
Tống số người tham gia 13 buổi thảo luận nhóm là 122 người
- Nội dung chính của 13 buổi thảo luận nhóm tập trung vào các vấn
- 04 thanh niên;
- 03 thanh niên nghiện ma túy;
- 03 cán bộ, tình nguyện viên làm công tác phòng chống tệ nạn xã hội;
- 03 Lãnh đạo đại diện chính quyền quận và phường;
- 03 Người nhà của người nghiện
- Cán bộ, tình nguyện viên làm công tác phòng chống tệ nạn xã hội: quan sát thái độ, cách thức giao tiếp giữa cán bộ, tình nguyện viên làm công tác phòng
Trang 18- 16 -
chống tệ nạn xã hội với người nghiện và người nhà của người nghiện (quan sát trong trường hợp lập hồ sơ đưa đối tượng nghiện đi cai tại Trung tâm và trong sinh hoạt Câu lạc bộ B93), cách giải quyết vấn đề trong công việc chuyên môn
- Thanh niên nghiện ma túy (chủ yếu là thanh niên nghiện ma túy đã cai nghiện trở về và đang sinh hoạt trong Câu lạc bộ B93): quan sát đặc điểm trung
về thể trạng ngoại hình, thái độ, cách ứng xử với các thành viên trong nhóm và với mọi người xung quanh
- Người nhà của người nghiện ma túy: quan sát thái độ, cách cư xử, tương tác của người nhà đối với người nghiện và các cơ quan, cá nhân làm công tác phòng, chống ma túy; cách thức và thái độ đánh giá, phản hồi về tính hiệu quả của công tác phòng, chống ma túy với người thân của họ
10 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khuyến nghị kết cấu của luận văn được chia thành ba chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận của nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng thanh niên nghiện ma tuý và công tác phòng, chống ma tuý đối với thanh niên quận Long Biên
Chương 3: Một số đề xuất giải pháp phòng, chống ma tuý đối với
thanh niên quận Long Biên
Trang 19- 17 -
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGHIÊN CỨU
1.1 Các khái niệm công cụ
1.1.1 Khái niệm ma túy
- Theo Công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961 của Liên hợp quốc thì: “Ma túy” nghĩa là bất kỳ chất liệu nào được qui định tại Bảng I, bảng II của Công ước quốc tế 1961, dù là các chất dưới dạng tự nhiên hay dưới dạng tổng hợp [22, tr 9]
- Bộ luật hình sự nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 21/12/1999 đã quy định các tội phạm về ma túy Theo đó
Ma túy bao gồm: Nhựa, lá, hoa, quả tươi và khô sấy thuốc phiện, cây cần sa; Hêrôin, Côcain; Các chất ma túy tổng hợp ở thể lỏng, thể rắn…[17, tr 51]
- Luật phòng, chống ma túy được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 09/12/2000 quy định: “chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành” [24, tr 3]
Như vậy, ma túy là những chất đã được xác định và có tên gọi riêng, tổng hợp lại có thể hiểu:
Ma túy là những chất có nguồn gốc tự nhiên hay tổng hợp khi xâm nhập vào cơ thể con người dưới bất kỳ hình thức nào sẽ làm thay đổi trạng thái ý thức, trí tuệ, tâm trạng của người đó Nếu lạm dụng sẽ bị lệ thuộc, gây tổn thương, nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng
1.1.2 Khái niệm nghiện ma túy
- Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1957, nghiện ma tuý là:
“Trạng thái ngộ độc kinh niên hay từng thời kỳ do sử dụng lặp đi lặp lại một hay nhiều lần chất tự nhiên hay tổng hợp Chất gây nghiện làm người nghiện
Trang 20- 18 -
ham muốn không tự kiềm chế được mà bằng mọi giá phải sử dụng Chất gây nghiện gây xu hướng tăng dần liều lượng, gây ra sự lệ thuộc về tâm lý và thường là cả thể chất, có hại cho chính người nghiện và xã hội”
- Khái niệm theo Y học: “Nghiện là một sự lệ thuộc thuốc gây nghiện
cùng với quá trình tái nghiện sau khi rời bỏ chất gây nghiện”
- Theo Luật phòng, chống ma tuý năm 2000: “Người nghiện ma tuý là
người sử dụng chất ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị lệ thuộc vào các chất này” [24, tr 4]
Như vậy, người nghiện ma tuý là người sử dụng lặp đi lặp lại các chất
ma tuý, thuốc gây nghiện dẫn đến bị lệ thuộc cả về thể chất lẫn tinh thần đối với chất gây nghiện đó
1.1.3 Khái niệm thanh niên
Từ góc độ xã hội học, thanh niên được xem là một nhóm xã hội của những người “mới lớn” PGS.TS Phạm Hồng Tung, khi nghiên cứu về lối sống của thanh niên cho rằng: “tuổi thanh niên là độ tuổi quá độ từ trẻ con sang người lớn trong cuộc đời mỗi người” (Phạm Hồng Tung, 2010)
Từ góc độ tâm lý học, thanh niên là một độ tuổi, ở giữa lứa tuổi trẻ em
và tuổi trưởng thành Ở giai đoạn này, sự phát triển về thể chất đạt đến đỉnh cao, tuy nhiên, các yếu tố tâm lý mới được định hình và ổn định một cách tương đối Thanh niên có sự khác biệt lớn về nhiều mặt (tuổi, nơi sinh sống, nghề nghiệp…), do đó, các đặc điểm tâm lý của thanh niên rất phong phú, đa dạng, tuy nhiên, chúng có một tính chất chung, đó là tính trẻ Tính trẻ được thể hiện ở sự năng động, nhiệt huyết, chấp nhận mạo hiểm, giàu mơ ước và hoài bão lớn, thích cái mới, thích giao lưu, học hỏi và mong muốn có những đóng góp cho xã hội để khẳng định bản thân
Theo Điều 1, Luật Thanh niên năm 2005: “Thanh niên là công dân Việt
Nam từ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi” [25, tr 6]
Trang 21- 19 -
1.1.4 Khái niệm thanh niên nghiện ma túy
“Thanh niên nghiện ma tuý là những người trong độ tuổi từ đủ 16 tuổi
đến 30 tuổi sử dụng chất ma tuý, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và bị
lệ thuộc vào các chất này” [20, tr 12]
1.1.5 Khái niệm phòng, chống ma túy
Phòng, chống ma tuý là phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn
ma tuý và kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý [24, tr 4]
1.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết hành vi
Xã hội học là khoa học nghiên cứu về hành vi xã hội của con người thông qua các tương tác và hoạt động xã hội, thể hiện qua các mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội Lúc sơ khai định hình, lý thuyết hành vi còn được gọi
là lý thuyết về hộp đen “Black box” Lý thuyết này cho rằng động cơ của các
cá nhân quy định hành vi thể hiện trong các tương tác là rất khác nhau trong những điều kiện môi trường thay đổi Do chúng ta không nắm bắt được thế giới nội tâm của con người và sự thay đổi ở chúng nên việc dự đoán hành vi thể hiện của con người gặp rất nhiều khó khăn, điều này đã dẫn đến ý tưởng liên quan đến “hộp đen” [16, tr 52] Sự hoàn thiện tư duy xã hội học của Max Weber sau này đã nhấn mạnh đến sực cần thiết phải tiếp cận thế giới nội tâm của con người vì chính nó là động cơ tác động đến phản ứng hành động trong các tương tác xã hội cụ thể [16, tr 54]
Các nhà xã hội học theo trường phái lý thuyết này cho rằng phần lớn các hành vi của con người thể hiện đều được giải thích theo mô hình kích thích và phản ứng Theo đó, hành vi của chúng ta hoàn toàn máy móc, sinh học và không có sự tham gia của ý thức hay một yếu tố nào khác[16, tr 55]
Ví dụ, một người nghiện ma túy khi thèm thuốc mà không có thì học lên cơn quằn quại, sùi bọt mép và có thể vai xin người thân hoặc thực hiện hành vi giết người trong trạng thái mất kiểm soát Do vậy, thuyết hành vi đi đến nhận
Trang 22- 20 -
định nếu không quan sát được phản ứng thì không thể xác định được hành vi
Lý thuyết hành vi cho rằng trong quá trình sinh tồn, mỗi người đều có những
động cơ riêng nhất định trong từng tình huống cụ thể, tuy vậy nhưng chúng lại không đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện các hành vi của họ Những động cơ này được hình thành mang tính chủ quan, duy cá nhân nên không có tính quy luật Vì vậy chúng ta không thể nghiên cứu những động cơ chủ quan của con người về mặt khoa học Việc dự đoán hành vi của con người không thể thực hiện được khi những phản ứng đã bộc lộ ra bên ngoài mới quan sát được [16, tr 57]
Điều này được sử dụng khi giải thích về hành vi phạm tội của người nghiện ma túy, hành vi bộc phát mua dâm trong những hoàn cảnh thuận lợi,
sự thiếu hiểu biết và lối sống thác loạn dẫn đến nguy cơ bùng phát HIV/AIDS
và những hệ quả xã hội có liên quan
Việc tìm kiếm một mô hình giáo dục hỗ trợ người nghiện ma túy hay trong các trường hợp dễ hình thành hành vi có nguy cơ cao gây xâm hại đến lợi ích lâu dài cho cá nhân và xã hội chính là việc giảm bớt những phản ứng mang tính máy móc, bản năng sinh học Thay vào đó là sự xuất hiện có kiểm soát, sự tham gia của ý trí cá nhân gắn kết với ý thức xã hội để thực hiện hành động có ý nghĩa đối với người khác Do vậy việc tìm kiếm xác lập cơ chế hoạt động của “hộp đen” là cần thiết và cơ chế “kích thích - phản ứng” này bị chi phối chính bởi lợi ích mà chủ thể hành vi nhận thức được trong
tình trạng mất kiểm soát về xã hội Đây chính là tiền đề cho lý thuyết về „sự
lựa chọn hành vi hợp lý‟ sau này do Coleman (nhà tâm lý học người Mỹ) và
G Mead (1931) khẳng định: “Chúng ta có thể giải thích hành vi của con
người bằng hành vi của các nhóm xã hội Hành vi xã hội không thể hiểu được nếu nó xây dựng từ các tác nhân và phản ứng xã hội Nó cần được phân tích như một chỉnh thể linh hoạt” [16, tr 58] Sự lựa chọn hợp lý ở đây
được hiểu là con người chỉ lựa chọn những tác động nào là hợp lý với cơ thể
và loại bỏ những tác động không có lợi
Trang 23- 21 -
Lý thuyết hành vi giải thích theo mô hình “kích thích - phản ứng”, trong đó những phản ứng này xuất phát theo phản xạ tự nhiên không được cá nhân kiểm soát theo các định hướng và giá trị xã hội Những phản ứng này thường bộc phát nhất thời và độc lập với động cơ chủ quan của con người Ví
dụ như ham muốn tình dục thái quá xuất hiện sau khi sử dụng rượu, bia, ma túy, các chất kích thích làm hưng phấn hoặc ức chế cực độ thì con người theo bản năng ham muốn tình dục sẽ dễ tìm đến hoặc dễ rơi vào hành vi nguy cơ cao về HIV như quan hệ tình không an toàn, sử dụng bơn kim tiêm chung, sử dụng quá liều dẫn đến sốc thuốc…
Do vậy, lý thuyết giúp mọi người hiểu việc trang bị khả năng nhận biết
về cơ chế tác động của các điều kiện ngoại cảnh lên cơ thể người, các giải pháp tâm lý, kỹ năng sống đóng vai trò quan trọng đối với những người hoạt động trong lĩnh vực phòng chống tệ nạn ma tuý là điều cần phải được quan tâm nhiều hơn Khi đo được cường độ và cơ chế tác động của các kích thích thì có thể định hướng, kiểm soát tốt hơn những phản ứng, hành vi nguy cơ cao, giảm tác hại cũng như khả năng nghiện ma tuý trên toàn cầu
Nội dung chính: thuyết hệ thống sinh thái nhấn mạnh vào sự tương tác của con người với môi trường sinh thái của mình Sự can thiệp tại bất cứ điểm nào trong hệ thống cũng sẽ ảnh hưởng hoặc tạo ra sự thay đổi trong toàn bộ
hệ thống
Trang 24- 22 -
Vận dụng trong công tác xã hội nhóm: thuyết hệ thống được sử dụng rộng rãi trong công tác xã hội nhóm vì thuyết này giúp Nhân viên xã hội hiểu được nhóm như là một hệ thống của các yếu tố tương tác với nhau Bên cạnh
đó, để hệ thống nhóm này hoạt động hiệu quả, nhóm sẽ có nhiều tương tác với các hệ thống môi trường bên ngoài khác
Parsons, Bales và Shils (1953) đã chỉ ra 4 nhiệm vụ có ảnh hưởng đến công tác xã hội nhóm như sau:
+ Hoà nhập: đảm bảo sự hoà hợp giữa các thành viên trong nhóm
+ Điều chỉnh: đảm bảo các thành viên trong nhóm thay đổi thích ứng với những yêu cầu của môi trường
+ Duy trì mô hình: nhóm phải xác định và duy trì những mục đích và luôn tuân thủ tiến trình cơ bản
+ Tiến trình đạt mục tiêu: đảm bảo nhóm duy trì và hoàn thành nhiệm vụ
Việc tuân thủ bốn nhiệm vụ trên sẽ giúp nhóm có thể duy trì tính ổn định, cân bằng, cũng như giúp nhân viên xã hội hiểu biết các thể chế, sự tương tác của các hệ thống với nhau và với các đối tượng trong nhóm, cách thức tương tác giữa các cá nhân, những nhân tố hỗ trợ cho sự thay đổi [9, tr 47]
Trong đề tài, tác giả đã sử dụng thuyết hệ thống để phân tích, đánh giá tình hình thanh niên nghiện ma tuý, công tác phòng, chống tệ nạn ma tuý đối với thanh niên của quận Long Biên, trong đó phân tích sâu hệ thống các cơ quan làm công tác phòng, chống ma tuý của quận, các hệ thống là nguồn lực cho công tác phòng, chống ma tuý từ đó làm rõ hơn các nguyên nhân dẫn đến tình trạng thanh niên nghiện ma tuý đang diễn ra trên địa bàn, đồng thời đề xuất các giải pháp trên cơ sở phân tích điểm mạnh, điểm yếu của các hệ thống này
Trang 25- 23 -
1.2.3 Lý thuyết động năng tâm lý
Theo Freud, thức là trạng thái tỉnh táo khi con người nhận biết được
và có được phản ứng đối với những kích thích của môi trường Bên cạnh ý thức, ông còn chỉ ra vai trò quan trọng của vô thức Mặc dù trước Freud, đã
có nhiều người nhắc đến từ vô thức nhưng ông là người phân tích tỉ mỉ và chính xác nhất Phân tâm học của S.Freud đã xác định đối tượng của nghiên cứu của mình là “vô thức” nó là “tảng băng chìm” là “miền sâu” để giải thích các hiện tượng tâm lý con người [16, tr 62]
Trước hết Freud đã đưa ra quan điểm về vô thức như sau: Vô thức là một thuật ngữ của phân tâm học chỉ phần vô thức của tâm hồn nơi ẩn chứa những cảm nghĩ bị quên lãng, những ý tưởng bị chôn chặt trong vô thức không thể gợi lại hay nhớ lại do ý muốn của cá nhân chúng có thể ảnh hưởng đến hành vi của cá nhân ấy
Theo ông thì trong vô thức có hai phần là phần tiền thức và phần vô thức Trí tuệ là khái niệm chứa trong, khái niệm rộng lớn hơn về nhân cách bao gồm hành vi tinh thần, hành vi vận động và hành vi nói năng Có sự nối kết giữa ý thức – vô thức của tâm hồn và ba bộ phận trong cấu trúc nhân cách: bản năng, bản ngã và siêu ngã hoạt động trong cả ý thức và vô thức Cái gọi là lương tâm là bộ phận ý thức của siêu ngã Hầu hết các chức năng bản ngã hoạt động trong vùng ý thức Vùng tiền thức là kho chứa ký ức, nó chứa đựng những ý tưởng cảm nghĩ và hình ảnh của những biến cố đã qua và chúng có thể được đưa đến vùng ý thức bởi nỗ lực ý chí của con người Vô thức là chỗ chứa những kinh nghiệm, những cảm xúc, những khao khát mạnh
mẽ bị dồn nén ra khỏi thức Mặc dù con người không nhận biết được những cảm xúc này và không thể nhớ lại cảm xúc theo ý muốn nhưng chúng vẫn hiện diện trong vô thức và ảnh hưởng đến cảm xúc cũng như ứng của con người qua
cơ chế tự vệ Khi một người đang ngủ, ý thức không hoạt động, nhưng vô thức hoạt động, giấc mơ là biểu lộ một chút ít nội dung của vô thức Có người đi đứng hay nói năng trong khi ngủ là họ làm việc đó dưới ảnh hưởng của vô
Trang 26- 24 -
thức Do đó, theo Freud thì mộng là sự thực hiện thầm lén những ước vọng bị dồn nén và là con đường lớn dẫn vào vô thức Phần thú tính bẩm sinh của con người luôn có những khát vọng không thể thực hiện được một cách an toàn trong đời sống thực, vì vậy chúng bị phần lương tâm và cái tôi dồn vào vô thức Mặc dù bị dồn nén những khát vọng đó không hoàn toàn bị biến mất chúng hiện ra dưới hình thức của giấc mộng [16, tr 64]
Như vậy, thuyết động năng tâm lý của Freud đã nhấn mạnh đến yếu tố
vô thức của con người Qua đó có thể hiểu rằng những kinh nghiệm sống trong quá khứ của con người là nhân tố quyết định sâu sắc đến hành vi của
họ sau này
Có thể vận dụng thuyết động năng tâm lý vào trong hoạt động của nhóm thanh niên nghiện để giúp tránh tái nghiện và đưa những thanh niên nghiện trở thành những nhân tố quan trọng trong công tác phòng, chống ma tuý Ở độ tuổi thanh niên đều có những đặc điểm về phát triển thể chất, tâm sinh lý giống nhau Nhưng ở những thanh niên mắc tệ nạn ma tuý thường có nhu cầu không bình thường và được thực hiện bằng những cách thức kì quặc trái ngược với những chuẩn mực xã hội Mọi trẻ em đều có đặc điểm muốn
tự khẳng định mình Riêng đối với thanh niên nghiện ma tuý lại có tâm lý chung là muốn khẳng định mình bằng cách thoát ly khỏi sự ràng buộc của gia đình, nhà trường Những đối tượng này không muốn có người can thiệp vào các hoạt động của mình mà thể hiện trước tiên là không nghe lời, xung đột với người xung quanh, thường có lập truờng sống ích kỉ, hay bắt chước một cách mù quáng Họ muốn chơi trội gây ấn tượng muốn được mọi người chú ý đến nên thể hiện những hành vi sai trái để thoả mãn những nhu cầu của mình Nắm được tâm lý chung này, nhân viên xã hội tiến hành cho các thành viên trong nhóm tái hiện lại những xung đột không được giải quyết từ những năm đầu đời, thông qua các hoạt động nhóm làm tái tạo lại những tình huống đó Có thể người trưởng nhóm được ví như một người uy quyền trong gia đình – là lý tưởng của bản ngã và các thành viên nhóm hình thành
Trang 271.2.4 Lý thuyết nhân văn
Điểm cốt lõi mà quan điểm nhân văn muốn tấp trung nhắc đến, đó là việc đánh giá cao khả năng của con người trong việc làm chủ thế giới Những người theo quan điểm nhân văn luôn tin tưởng vào các giá trị của con người
và việc bản thân họ quyết định cuộc sống của mình Con người hoàn toàn có thể tự quyết định và tự giải quyết được các vấn đề của mình
Quan điểm nhân văn thừa nhận cả hai khía cạnh chủ động và bị động của con người Giữa cá nhân và xã hội có sự phụ thuộc tương hỗ: cá nhân và
xã hội đều phải có trách nhiệm đối với nhau Cá nhân cần phải đóng góp vào
sự phát triển chung của xã hội, đồng thời xã hội cũng cần phải có trách nhiệm cung cấp những hỗ trợ cần thiết để cá nhân có thể phát huy được vai trò và khả năng tiềm tàng của mình [13, tr 102]
Thuyết nhân văn tin rằng tất cả con người (không phân biệt tuổi tác, giới tính, tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc, chủng tộc, trình độ học vấn, địa vị xã hội, tình trạng kinh tế ) đều có giá trị và nhân phẩm vốn có Con người cần được tôn trọng và có một điều kiện nhất định đảm bảo cho cuộc sống của họ Hay nói khác đi đó chính là một an sinh xã hội cho con người
Mục đích mà con người hướng đến trong các mối quan hệ là: được tôn trọng, bình đẳng, công bằng, được thừa nhận và thấy mình có giá trị, có ích, được làm chủ bản thân Lý thuyết nhân văn cho thấy rằng về cơ bản chúng ta
là một con người - loài động vật cấp cao có suy nghĩ, tư duy, nhân phẩm, giá trị riêng và mọi hành động đều có mục đích, có động cơ thúc đẩy Họ được trưởng thành và phát triển trong quá trình xã hội hóa chung của loài người với
Trang 28- 26 -
những hành vi tương ứng theo chuẩn mực xã hội ở mọi thời đại lịch sử, cộng đồng người khác nhau Tuy nhiên, do kỳ vọng của mỗi cá nhân vào các mối quan hệ là khác nhau nên mức độ hài lòng của họ đối với kết quả cũng sẽ khác nhau, thậm chí họ có thể có những hành vi lệch chuẩn với những kỳ vọng của xã hội Vì thế khi nhận định đánh giá, phán xét hay kết tội họ chúng
ta luôn phải nhìn nhận họ, coi họ là một thực thể xã hội, một con người với những quyền và nghĩa vụ cơ bản
Như vậy, lý thuyết nhân văn được áp dụng trong đề tài để nhấn mạnh đến việc đánh giá cao khả năng của con người trong việc làm chủ thế giới, làm chủ bản thân cuộc sống của mình Họ là một con người, họ cũng có nhân phẩm, có giá trị Điều này rất quan trọng trong nhìn nhận đối tượng thanh niên nghiện ma tuý một cách đúng đắn hơn
1.3 Nhân viên công tác xã hội và vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người nghiện ma túy
1.3.1 Khái niệm nhân viên công tác xã hội
Theo Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Mỹ: “Nhân viên công tác xã
hội là người được đào tạo một cách chuyên nghiệp về công tác xã hội, có bằng cấp chuyên môn Đó là những cán bộ, những chuyên gia có khả năng phân tích các vấn đề xã hội, biết tổ chức vận động, giáo dục, biết cách thức hành động nhằm mục đích tối ưu hoá sự thực hiện vai trò chủ thể của con người trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội, góp phần tích cực vào quá trình cải thiện, tăng cường chất lượng sống của cá nhân, nhóm và cộng đồng” [6, tr 23]
Nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp phải là những người có kiến thức sâu về công tác xã hội, biết kết hợp chặt chẽ lý thuyết với thực tiễn, thành thạo sử dụng các phương pháp và kỹ năng công tác xã hội trong việc trợ giúp cong người và xã hội
Trong đề tài này, khái niệm nhân viên công tác xã hội được hiểu là
“Những người có chuyên môn về công tác xã hội, làm việc có biên chế, hợp
Trang 29- 27 -
đồng lao động hoặc là các cộng tác viên, tình nguyện viên tham gia vào các hoạt động phòng, chống tệ nạn xã hội từ cấp quận đến cấp phường, tổ dân phố và cộng đồng dân cư”
1.3.2 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người nghiện
ma túy
Vao trò của Nhân viên công tác xã hội trong đề tài này được hiểu là lực lượng có chuyên môn công tác xã hội tham gia trong công tác phòng, chống nghiện ma tuý trên địa bàn quận Long Biên, họ có những vai trò trong việc tiếp cận đối tượng, trợ giúp tâm lý, giúp đối tượng tiếp cận các dịch vụ, kết nối với các bên liên quan để trợ giúp thanh niên nghiện
1.4 Đặc điểm chung của địa bàn nghiên cứu
Quận Long Biên được thành lập theo Nghị định 132/2003/NĐ-CP ngày
06 tháng 11 năm 2003 và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng 01 năm 2004 trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính của huyện Gia Lâm với
14 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các phường: Gia Thuỵ, Ngọc Lâm, Bồ
Đề, Phúc Đồng, Phúc Lợi, Thượng Thanh, Giang Biên, Ngọc Thuỵ, Việt Hưng, Long Biên, Thạch Bàn, Cự Khối, Đức Giang, Sài Đồng Quận Long Biên được thành lập nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của Thủ đô trong thời
kỳ mới, hình thành các vùng kinh tế động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá [19, tr 11]
Vị trí địa lý
Quận Long Biên nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc của Thủ đô Hà Nội, phía bắc giáp sông Đuống, phía đông giáp huyện Gia Lâm, phía tây giáp huyện Đông Anh, phía nam giáp sông Hồng Vị trí địa lý đặc thù của Quận, nằm giữa hai con sông lớn là sông Hồng và sông Đuống, là tiềm năng quan trọng cho phát triển công nghiệp cảng sông hiện đại, đáp ứng yêu cầu của các cụm công nghiệp kỹ thuật cao trên địa bàn, của quá trình phát triển đô thị hiện đại, đồng thời tạo được sự giao lưu trong hoạt động kinh tế [19, tr 13]
Trang 30- 28 -
Quận Long Biên là nơi tập trung nhiều đầu mối giao thông đối ngoại quan trọng với nhiều đường giao thông lớn như đường sắt, quốc lộ, đường thuỷ nối liền các tỉnh phía Bắc (Lạng Sơn, Bắc Ninh), các tỉnh phía Đông Bắc (Hải Phòng, Quảng Ninh) Đây là điều kiện thuận lợi cho tổ chức không gian
đô thị trên địa bàn quận đồng thời tạo cơ hội liên kết kinh tế giữa quận với các tỉnh và thành phố lân cận, mở rộng thị trường kinh doanh và dịch vụ, phát triển thành địa điểm tích tụ và phân luồng hàng hoá, dịch vụ giữa Hà Nội với các tỉnh phía Bắc, tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội của quận Long Biên là một mắt xích quan trọng trên trục tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, nằm ở trung tâm của một trong 3 vùng kinh tế trọng điểm của đất nước Vị trí địa lý này tạo nên một sức hút mạnh để quận Long Biên phát triển nhanh về kinh tế - xã hội, cùng với nhịp độ phát triển chung của Thủ đô
Diện tích đất đai
Theo số liệu thống kê đến ngày 31/12/2011, quận Long Biên có diện tích 5.99 ha, là quận có diện tích lớn nhất trong số các quận nội thành Hà Nội [19, tr 16] Quỹ đất của Long Biên là một nguồn lực quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Quận Với quỹ đất hiện có, điều kiện địa chất tốt, khả năng phát triển một đô thị hiện đại, đồng bộ, phát triển các khu công nghiệp có công nghệ cao, các khu thương mại và đô thị là hoàn toàn hiện thực
Quận Long Biên đang trong quá trình đô thị hoá với tốc độ cao, nhu cầu sử dụng đất rất lớn, đặc biệt là đất đô thị và đất chuyên dùng Đồng thời với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sử dụng đất cũng sẽ có những biến động liên tục theo hướng giảm dần đất nông nghiệp Với quỹ đất hiện có, đặc biệt là với diện tích đất nông nghiệp và diện tích đất chưa sử dụng khá lớn, trong khoảng thời gian từ nay đến năm 2020, việc chuyển đổi mục đích
sử dụng đất cho quy hoạch tổng thể trên địa bàn Quận còn tương đối thuận lợi
(so với các quận nội thành) Đây là điều kiện thuận lợi, tạo sức hút các nguồn
lực khác cho sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực, đặc biệt là phát triển dịch vụ, các ngành công nghệ cao và văn hoá - xã hội Bên cạnh đó, Long
Trang 31tế của Quận Quá trình này sẽ thu hẹp các hoạt động sản xuất nông nghiệp và thay vào đó là sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp, thương mại
và dịch vụ Xu hướng này đã và đang bộc lộ một cách rõ nét Nhiều sản phẩm của các doanh nghiệp trên địa bàn đã phát triển và có uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế: Hàng may mặc, ti vi, nhựa…; một số dịch vụ mới phát triển khá nhanh như: ngân hàng, tài chính, cho thuê nhà, giải trí, khám chữa bệnh, đào tạo…
Tính đến cuối năm 2012, trên địa bàn quận có trên 200 cơ quan đơn vị của Trung ương, Thành phố đóng trên địa bàn quận, hơn 700 doanh nghiệp tư nhân và hợp tác xã Số hộ làm nông nghiệp hiện nay chỉ còn 17,45%
Sản xuất nông nghiệp còn manh mún, cầm chừng Mặc dù những năm vừa qua tốc độ tăng trưởng ngành này đạt khá nhưng những năm tới đây khi diện tích sản xuất ngày càng bị thu hẹp, sản lượng nông nghiệp chắc chắn sẽ suy giảm, đặt ra yêu cầu cấp bách về giải quyết việc làm cho người nông dân
bị thu hồi đất để chuyển sang phục vụ cho các mục đích công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Quận và Thành phố
Dân số
Với 14 đơn vị hành chính cấp phường, toàn quận có 267.579 người Mật
độ dân số bình quân 4.455 người/km2, cao hơn so với bình quân chung của toàn thành phố Hà Nội và thấp nhất trong số các quận nội thành của Hà Nội
Trang 32- 30 -
Biểu đồ 1.1: Mật độ dân số quận Long Biên so với các quận nội thành
(Nguồn: Số liệu của Cục Thống kê Hà Nội, 2011)
Tính từ năm thành lập quận đến nay, tốc độ tăng dân số trung bình hàng năm khoảng 4,4% So với các quận nội thành khác, Long Biên có tốc độ tăng dân số cao nhất, kể cả tăng tự nhiên và tăng cơ học Tốc độ tăng dân số cơ học cao và khó kiểm soát là một xu hướng tất yếu đối với các quận mới thành lập và đang có tốc độ đô thị hoá nhanh như quận Long Biên Tuy nhiên, biến động dân số cơ học sẽ kéo theo nhiều vấn đề xã hội như khó khăn trong quản
lý trật tự đô thị, sự quá tải của cơ sở hạ tầng kỹ thuật, gia tăng tình trạng thất nghiệp, tệ nạn xã hội…
Về văn hoá, xã hội, y tế, giáo dục
Đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân trên địa bàn toàn quận đã có những bước phát triển mới, phong trào văn hoá văn nghệ được khơi dậy và đầu tư có chất lượng Năm 2012 có 51.805/57.775 hộ đạt gia đình văn hóa
chiếm 89,7% số hộ toàn quận Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hoá” thường xuyên được sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính
quyền, các cơ quan, đơn vị; sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân,
Néi thµnh HN
Long Biªn
Hoµn KiÕm
C©u GiÊy
Hoµng Mai
Thanh Xu©n Hai Bµ Tr-ng
Trang 3317 cơ sở ý tế của nhà nước (có 01 bệnh viện đa khoa, 02 phòng khám đa khoa
và 14 trạm y tế các phường Trong những năm qua sự nghiệp giáo dục và sự nghiệp y tế đã góp phần quan trọng vào sự phát triển trung của toàn quận Bên cạnh sự tập trung phát triển kinh tế, văn hoá thì các vấn đề xã hội trên địa bàn cũng được lãnh đạo quận đặc biệt quan tâm, năm 2012 toàn quận
có 646 hộ nghèo và 258 hộ cận nghèo; các hộ nghèo ngoài được hưởng các chính sách theo quy định của nhà nước, của thành phố thì UBND quận còn có chính sách đặc thù riêng như: trợ cấp, dạy nghề miễn phí, tư vấn, hướng dẫn cách làm ăn, phát triển kinh tế Những chính sách phù hợp, kịp thời của quận
đã góp phần giải quyết tốt những vấn đề an sinh xã hội trên địa bàn
Tóm lại, những đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội mang lại
cho quận Long Biên nhiều ưu thế để phát triển kinh tế - xã hội nhưng cũng làm cho tệ nạn xã hội, trong đó có tệ nạn ma tuý phát triển, phức tạp và số lượng người nghiện ma tuý lớn
- Thuận lợi, quận Long Biên là một quận mới của Thủ đô Hà Nội và là
một trong những quận được Thành phố quy hoạch trong chùm đô thị mở rộng phía bắc sông Hồng, gồm: Khu đô thị Long Biên - Gia Lâm - Yên Viên (phát triển dịch vụ thương mại, giáo dục, trung tâm y tế gắn với các ngành công nghiệp công nghệ cao theo hướng các quốc lộ 5 và quốc lộ 1;
Quận Long Biên với lợi thế vị trí địa lý thuận lợi, hệ thống hạ tầng kỹ thuật từng bước được hoàn chỉnh, tốc độ đô thị hóa ngày càng cao; những thành tựu, kinh nghiệm về phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2005 - 2010, là những thuận lợi cơ bản tạo tiền đề quan trọng để quận Long Biên tiếp tục đẩy nhanh phát triển kinh tế giai đoạn tiếp theo
Trang 34- 32 -
Năm 2013, quận Long Biên kỷ niệm tròn 10 năm tuổi; 10 năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân quận với tinh thần đoàn kết, sáng tạo đã vượt qua không ít khó khăn, thách thức, tạo sự chuyển biến tích cực, toàn diện
+ Điều kiện giao thông thuận tiện là thuận lợi cho quận Long Biên trên đường phát triển, song ở vị trí đó quận Long Biên lại chịu nhiều tác động mặt trái của cơ chế thị trường; là địa bàn có nhiều loại tệ nạn xã hội hoạt động, là địa bàn trung chuyển, tập kết ma tuý
+ Với tốc độ đô thị hoá cao, quận Long Biên đã và đang diễn ra quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh, cơ cấu sử dụng đất cũng sẽ có những biến động liên tục theo hướng giảm dần đất nông nghiệp; người dân bị thu hồi đất để phục vụ các dự án nhà ở, khu công nghiệp như Khu đô thi mới Việt Hưng, Sài Đồng, Thượng Thanh; trung tâm thương mại Savico; Vincom Long Biên Việc thu hồi đất nông nghiệp đã làm cho các hộ gia đình ở đây mất đất sản xuất, thiếu việc làm, thêm vào đó người dân được đền bù một khoản tiền quá lớn mà họ không biết cách quản lý, cộng thêm thời gian nhàn rỗi họ dễ mắc tệ cờ bạc, rượu chè và các tệ nạn xã hội khác, đặc biệt là tệ nạn ma tuý trong chính con em họ
Trang 35- 33 -
Chương 2
THỰC TRẠNG THANH NIÊN NGHIỆN MA TUÝ VÀ CÔNG TÁC PHÒNG,
CHỐNG MA TÚY ĐỐI VỚI THANH NIÊN QUẬN LONG BIÊN
2.1 Khái lược về vấn đề thanh niên nghiện ma tuý tại quận Long Biên
2.1.1 Thực trạng thanh niên quận Long Biên
Quận Long Biên có lực lượng thanh niên khá đông đảo hơn 70.000 người, chiếm 26,2% dân số toàn Quận Đây là thế hệ thanh niên thời kỳ mới, tiếp nối truyền thống hào hùng của Thủ đô và dân tộc, có trách nhiệm với gia đình, xã hội; có ý chí vươn lên trong học tập, lao động, lập thân, lập nghiệp, làm giàu chính đáng, có trình độ học vấn khá cao
Biểu 2.1: Thống kê lực lượng thanh niên quận Long Biên năm 2012
Trang 36- 34 -
Đặc điểm nổi bật của thanh niên quận Long Biên là rất đa dạng về thành phần, phong phú về nghề nghiệp; thanh niên quận Long Biên nói riêng và thanh niên Hà Nội nói chung so với thanh niên cả nước, có trình độ học vấn, nghề nghiệp, trình độ khoa học cao; là lớp người năng động, sáng tạo, nhạy bén thích ứng nhanh với cơ chế mới Với truyền thống Thủ đô ngàn năm văn hiến, Thanh niên Thủ đô thông minh sáng tạo, lao dộng cận cù và thanh lịch, luôn là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng Thủ đô Thanh niên quận Long Biên luôn tin tưởng vào công cuộc đổi mới của đất nước, của Thủ
đô, luôn tích cực, chủ động tham gia các phòng trào tình nguyện như: xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự an toàn giao thông, hiến máu nhân đạo Thanh niên quận Long Biên có nhu cầu cao về học tập, lao động, việc làm và sinh hoạt văn hoá, tinh thần, vui chới, giải trí Có thể khẳng định rằng, hiện nay đang hình thành một lớp thanh niên của Thủ đô ưu tú, vững vàng về chính trị, xuất sắc trong các lĩnh vực chuyên môn, kế thừa bản sắc dân tộc, tiêu biểu cho thế hệ trẻ trong thời kỳ mới
Tuy nhiên, trước những biến động của tình hình chính trị thế giới, âm mưu "Diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch, sự tác động của mặt trái
cơ chế thị trường, thanh niên Quận bên cạnh những mặt ưu điểm, tích cực, những thuận lợi, hiện nay đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức sau đây:
- Khó khăn lớn nhất của thanh niên hiện nay là vấn đề việc làm So với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước, Hà Nội là địa phương có tỷ lệ lao động qua đào tạo cao nhất cả nước, song thực tế số thanh niên chưa qua đào tạo vẫn chiếm tỷ lệ lớn 34,7% Theo số liệu điều tra của Sở Lao động Thương binh và Xã hội Hà Nội, nếu phân tích tỷ lệ thất nghiệp chia theo nhóm tuổi thì
số người trong độ tuổi thanh niên (15 – 34 tuổi) có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất chiếm 48,2% số người thất nghiệp toàn thành phố
- Tình trạng thể lực, tầm vóc, sức bền của thanh niên còn thấp Điều kiện vui chơi giải trí lành mạnh và phát triển thể lực, tinh thần cho thanh niên niên còn nhiều thiếu thốn Thanh niên có nhu cầu cao để phát triển toàn diện
Trang 37- Một bộ phận thanh niên không có hoài bão lớn, thiếu ý chí phấn đấu, nhận thức về chính trị còn mơ hồ, thiếu niềm tin vào con đường đi lên của đất nước; có lối sống thực dụng, buông thả, coi thường đạo lý, kỷ cương, pháp luật Tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ nạn ma tuý trong thanh niên có chiều hướng ngày càng gia tăng và diễn biến hết sức phức tạp; số thanh niên phạm pháp ở mức độ báo động, nhiều loại tội phạm mới đang xuất hiện Ma túy đang từng ngày, từng giờ làm tha hóa, băng hoại đạo đức, nhân cách, lối sống, đến thể lực, sức khỏe của một bộ phận thanh niên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nguồn nhân lực trẻ Tệ nạn ma túy trong thanh niên đang là vấn đề nóng bỏng, là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay, của cả nước nói chung và của quận Long Biên, Thành phố Hà Nội nói riêng
- Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về thanh niên trên địa bàn quận vẫn chưa thực sự hiệu quả, vẫn dừng lại ở khâu tuyên truyền là chính mà thiếu đi các hoạt động trọng tâm bám sát nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của thanh niên, chưa tạo được nhiều sân chơi và môi trường hữu ích cho thanh niên Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong thanh niên chưa được quan tâm thường xuyên; chưa giúp thanh niên nhận thức được hết vai trò, trách nhiệm cũng như quyền của họ trong cộng đồng xã hội Do
đó, khả năng tập hợp thanh niên, định hướng cho thanh niên của chính quyền địa phương là chưa cao
Như vậy, qua phân tích ở trên cho thấy thanh niên quận Long Biên về cơ bản mang những đặc điểm như thanh niên ở các địa bàn khác Bên cạch đó, thanh niên quận Long Biên cũng có những đặc điểm riêng và được xem là thế mạnh nguồn lực trong công tác phòng, chống tình trạng nghiện ma tuý mà các
cơ quan, chính quyền thuộc quận cần xem xét, để khai thác, phán triển họ trong các hoạt động xã hội
Trang 38- 36 -
2.1.2 Thực trạng nghiện ma tuý trong thanh niên
Trong những năm qua, quận Long Biên đã có nhiều nỗ lực cố gắng trong công tác tuyên truyền, giáo dục, đấu tranh phòng, chống tội phạm ma tuý, cai nghiện ma tuý nhằm làm giảm tệ nạn nghiện ma tuý, tiến tới xoá bỏ ma tuý trong đời sống thanh niên nói riêng và đời sống xã hội nói chung Tuy nhiên,
tệ nạn ma tuý trong thanh niên vẫn đang có những diễn biến phức tạp và có những đặc điểm sau:
Người nghiện ma tuý là thanh niên phân bố ở tất cả các phường
Năm 2012, số người nghiện ma tuý toàn quận Long Biên là 1.140 người, trong đó phân bố trên địa bàn các phường như sau:
Biểu 2.2: Số lượng người nghiện trên địa bàn quận Long Biên
TT Tên phường
Tổng
số người nghiện
Địa phương
Trang 39- 37 -
Qua nghiên cứu cho thấy số người nghiện ma tuý đã có mặt ở 100% các phường thuộc quận Long Biên Các phường có số người nghiện cao nhất là Ngọc Lâm (178 người), phường Đức Giang (157 người), phường Thượng Thanh (124 người) Trong mấy năm gần đây, các phường này luôn là những địa bàn có số người nghiện cao nhất và đây cũng là những phường có nhiều tụ điểm phức tạp về ma tuý của quận và thành phố
Đa số người nghiện là thanh thiếu niên và có xu hướng gia tăng
Theo nghiên cứu báo cáo của Phòng Lao động Thương binh và xã hội, năm 2012 số lượng người nghiện ma túy trong độ tuổi thanh thiếu niên có 718 người, chiếm 63% số người nghiện (trong đó người nghiện là thiếu niên 44 người, thanh niên 674 người) Số người nghiện trên 30 tuổi chiếm 37%
Độ tuổi người nghiện trên địa bàn quận Long Biên được thể hiện qua biểu dưới đây:
Biểu đồ 2.3: Độ tuổi người nghiện ma tuý
(Nguồn: Báo cáo của phòng Lao động TB&XH năm 2012)
Trang 40- 38 -
Qua nghiên cứu cho thấy số lượng người nghiện ma tuý trong những năm qua không những chưa giảm mà còn có xu hướng gia tăng Từ những năm 2005 đến 2008 số người nghiện ma tuý ở quận Long Biên dao động trong khoảng từ 800 đến 9.00 người có hồ sơ quan lý, nhưng từ năm 2009 đến nay tăng lên rất nhanh chóng, đặc biệt tăng người nghiện trong độ tuổi thanh niên (xem bảng dưới đây):
Biểu 2.4: Mức độ gia tăng số lượng thanh niên nghiện ma tuý
Năm 2012 1.140 người 102 người 59 người
(Nguồn: Báo cáo của phòng Lao động TB&XH năm 2012)
Như vậy, so sánh từ năm 2008 trở về trước, số người nghiện ma tuý ở tuổi thanh thiếu niên chỉ chiếm 30 – 35%, đến nay tỷ lệ này đã tăng lên gấp đôi Đây là con số đáng báo động đối với công tác phòng, chống tệ nạn ma tuý nói chung và phòng, chống tệ nạn ma tuý trong thanh niên nói riêng của
quận Long Biên
Về giới tính đa số người nghiện là nam giới
Đây cũng là thông số phản ánh thực trạng chung của tệ nạn ma tuý của
cả nước, đối tượng nam giới luôn chiếm tỷ lệ rất cao Qua tổng hợp số liệu người nghiện trên địa bàn quận Long Biên cho thấy phần lớn người nghiện
là nam giới, chiếm 98,7%, nữ giới chiếm 1,3% Trong số 15 người nghiện
là nữ giới thì có 09 người là đối tượng mại dâm ở các tỉnh khác về tạm trú trên địa bàn quận