Trong số các nghiên cứu về đời sống văn hóa, những vấn đề về tín ngưỡng và nghi lễ của người Tày là những chủ đề được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.. Tuy nhiên, đời sống tín ngư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
MA THỊ ĐIỆP
NHỮNG QUAN NIỆM VÀ THỰC HÀNH TRONG
NGHI LỄ GIẢI HẠN CỦA NGƯỜI TÀY
Nghiên cứu trường hợp xã Nghĩa Đô, Huyện Bảo Yên, Tỉnh Lào Cai
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
MA THỊ ĐIỆP
NHỮNG QUAN NIỆM VÀ THỰC HÀNH TRONG
NGHI LỄ GIẢI HẠN CỦA NGƯỜI TÀY
Nghiên cứu trường hợp xã Nghĩa Đô, Huyện Bảo Yên, Tỉnh Lào Cai
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Văn Sửu trong khuôn khổ chương trình đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành Dân tộc học của tôi ở Bộ môn Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội
Hà Nội, tháng 4 năm 2014
Tác giả
Ma Thị Điệp
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả của một quá trình học tập và nghiên cứu của bản thân tôi ở Bộ môn Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Khi hoàn thành Luận văn, tôi muốn được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới những người đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian đầy thách thức nhưng rất quan trọng với cuộc đời và sự nghiệp của tôi Trước tiên, tôi xin được gửi tới PGS.TS Nguyễn Văn Sửu lời cám ơn chân thành và sâu sắc nhất, cám ơn thầy đã hướng dẫn tôi tận tình trong quá trình hình thành
ý tưởng, xây dựng đề cương nghiên cứu, triển khai thu thập tài liệu và viết kết quả nghiên cứu thành bản luận văn này
Tôi cũng muốn được bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong Bộ môn Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội đã dạy tôi những tri thức khoa học và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành Luận văn
Nghiên cứu điền dã dân tộc học cho Luận văn này đã nhận được sự hỗ trợ
về nhiều mặt từ Dự án Nghiên cứu nhân học phát triển tại Việt Nam do Cơ quan phát triển Pháp tài trợ Nhân đây, tôi muốn cảm ơn các thầy cô và đồng nghiệp bao gồm các nhà khoa học Christian Culas, Nguyễn Văn Sửu, Emmanuel Pannier, Lê Thành Nam, Nguyễn Hùng Mạnh, Đinh Thị Hồng Thơm, Trương Văn Cường, những người đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong các chuyến điền dã dân tộc học ở địa bàn nghiên cứu Tôi vui mừng nhận những kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là một phần nhỏ của dự án nghiên cứu này
Gia đình và bạn bè tôi chính là động lực tinh thần quan trọng giúp tôi hoàn thành Luận văn này Tôi luôn ghi nhận và cảm kích với những hỗ trợ và động viên của họ trong suốt quá trình tôi thực hiện công trình nghiên cứu này
Ma Thị Điệp
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
5 NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 4
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÍN NGƯỠNG VÀ NGHI LỄ CỦA NGƯỜI TÀY 5
1.1 Một số vấn đề về các khái niệm cơ bản 5
1.2 Một số nghiên cứu về tín ngưỡng và nghi lễ ở Việt Nam 10
1.3 Các nghiên cứu về tín ngưỡng và nghi lễ của người Tày 14
1.4 An ninh con người 18
1.4.1 Khái niệm 18
1.4.2 Các nghiên cứu về an ninh con người 20
Tiểu kết chương 1 22
Chương 2 ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 24
2.1 Vùng đất và con người Nghĩa Đô 25
2.1.1 Vùng đất Nghĩa Đô 25
2.1.2 Các dân tộc cư trú ở Nghĩa Đô 29
2.2 Các dự án phát triển và sinh kế của người dân ở Nghĩa Đô từ những năm 1990 đến nay 31
2.2.1 Sinh kế của người dân Nghĩa Đô từ những năm 1990 đến nay 31
2.2.2 Các dự án phát triển ở Nghĩa Đô từ những năm 1990 đến nay 34
2.3 Một vài nét chính về truyền thống văn hóa Tày ở Nghĩa Đô 38
2.3.1 Người Tày ở Việt Nam 38
2.3.2 Người Tày ở tỉnh Lào Cai và ở huyện Bảo Yên 43
2.3.3 Người Tày ở xã Nghĩa Đô 44
Trang 6Tiểu kết chương 2 46 Chương 3 NGHI LỄ THEN GIẢI HẠN CỦA NGƯỜI TÀY Ở NGHĨA ĐÔ: NHỮNG QUAN NIỆM VÀ THỰC HÀNH 47
3.1 Những quan niệm của người Tày Nghĩa Đô liên quan tới nghi lễ Then giải hạn 47
3.1.1 Quan niệm về vũ trụ 47 3.1.2 Quan niệm về ma (phi), vía (khoăn), số phận (thổ), tướng mạo
(mình) 47 3.1.3 Nguyên nhân thực hành nghi lễ Then giải hạn 51
3.2 Thực hành trong nghi lễ Then giải hạn của người Tày ở Nghĩa Đô 55
3.2.1 Người thực hành nghi lễ giải hạn: Then 55 3.2.2 Đồ lễ/đồ cúng trong nghi lễ Then giải hạn 60 3.2.3 Tiến trình một nghi lễ Then giải hạn của người Tày ở Nghĩa Đô
(trường hợp gia đình ông Ma Kim Cư) 64 3.2.3.1 Nguyên nhân gia đình ông Ma Kim Cư tiến hành nghi lễ Then giải hạn64 3.2.3.2 Chuẩn bị các lễ vật cho nghi lễ Then giải hạn 65 3.2.3.3 Tiến trình hành lễ 69 Tiểu kết chương 3 83 Chương 4 NGHI LỄ THEN GIẢI HẠN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ
TRONG VĂN HÓA NGƯỜI TÀY Ở NGHĨA ĐÔ 84
4.1 Nghi lễ Then giải hạn của người Tày ở Nghĩa Đô và sự thể hiện những giá trị văn hóa và cuộc sống của người Tày 84 4.2 Nghi lễ Then giải hạn và an ninh sức khỏe, an ninh sinh kế đối với
người Tày 91 4.3 Một số biến đổi trong nghi lễ Then giải hạn của người Tày ở Nghĩa Đô96
Tiểu kết chương 4 101 KẾT LUẬN 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN Association of Southeast Asia Nations
(Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á) NXB
ODA
Nhà xuất bản Official Development Assistance (Hỗ trợ phát triển chính thức) PGS Phó giáo sƣ
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Sự phân biệt giữa tín ngưỡng và tôn giáo 7
Bảng 2.1 Thống kê dân số các tộc người ở xã Nghĩa Đô năm 2010 30
Bảng 2.2 Các loại đất ở xã Nghĩa Đô 32
Bảng 2.3 Cư trú của người Tày theo khu vực 39
Bảng 2.4 Phân bố cư trú của người Tày theo tỉnh và thành phố 40
Bảng 2.5 Thống kê dân số các tộc người ở huyện Bảo Yên 44
Trang 9MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Với sự phát triển nhanh về kinh tế và khoa học công nghệ, trong mấy thập
kỷ vừa qua, cuộc sống của con người được cải thiện và nâng cao ở cả phương diện đời sống vật chất và đời sống tinh thần Thêm vào đó, con người ở các xã hội khác nhau đã có thể lý giải được nhiều hiện tượng tự nhiên và xã hội vốn trước đây được coi là thần bí Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một thực tế được công nhận đó là ở nhiều nơi con người vẫn không từ bỏ mà còn thậm chí còn thực hành nhiều hơn các hành vi tôn giáo và tín ngưỡng
Ở Việt Nam, trong bối cảnh đổi mới với những tiến bộ đáng kể về mức sống, khoa học và công nghệ, những thực hành tôn giáo và tín ngưỡng ở nhiều cộng đồng đô thị, nông thôn đồng bằng và miền núi vùng cao không bị mất đi hay giảm sút, mà ngược lại, lại càng hưng thịnh và nở rộ mạnh mẽ hơn trước Sự phục hồi này được một số nhà nghiên cứu giải thích là do sự trở lại với truyền thống trong quá trình đổi mới kinh tế - xã hội ở Việt Nam sau một thời gian các thực hành tôn giáo, tín ngưỡng bị ngăn cấm trong thời kỳ nền kinh tế tập trung bao cấp
Người Tày là một dân tộc có số lượng dân cư đông nhất trong cộng đồng
53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam Giống với các dân tộc khác ở Việt Nam, người Tày có những nét văn hóa truyền thống khá „riêng biệt‟ ở cả góc độ vật chất và tinh thần Từ những năm 1960 và 1970, người Tày đã được một số nhà khoa học Việt Nam quan tâm nghiên cứu Khảo sát tài liệu nghiên cứu của tôi ở một số thư viện tại Hà Nội cho thấy có hơn 200 đầu sách, bài báo và báo cáo khoa học liên quan đến dân tộc Tày ở Việt Nam Trong số đó có khoảng ¼ số công trình là các tác phẩm văn học, sưu tầm và biên dịch từ các câu chuyện cổ, truyện dân gian, các bài hát, bài lượn của người Tày do các tác giả là người Tày thực hiện Có khoảng hơn 160 tác phẩm là các công trình nghiên cứu khoa học đề cập tới đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người
Trang 10Tày Trong số đó có 16 công trình viết về văn hóa vật chất, 105 công trình viết về văn hóa tinh thần và 23 công trình viết về văn hóa xã hội, số còn lại là các nghiên cứu về lịch sử và một số công trình mang tính tổng hợp chung [10,49]
Trong số các nghiên cứu về đời sống văn hóa, những vấn đề về tín ngưỡng và nghi lễ của người Tày là những chủ đề được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, đời sống tín ngưỡng và nghi lễ của người Tày lại chỉ là một phần trong các công trình nghiên cứu tổng quan về các dân tộc Tày, Nùng hay các công trình nghiên cứu về văn hóa của hai dân tộc Tày, Nùng nói chung Chúng ta thấy một số lượng nhỏ các công trình nghiên cứu chuyên sâu và chuyên biệt về các vấn đề tín ngưỡng và nghi lễ của người Tày Thêm vào đó, trong các công trình nghiên cứu này, Then là vấn đề thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả hơn cả Then được khảo sát trên địa bàn rộng và thường được xem xét dưới góc độ hình thức diễn xướng dân gian Với những người hành nghề Then, một trong những công việc quan trọng và chủ yếu nhất của họ là thực hành nghi lễ giải hạn/cầu an theo yêu cầu của các gia chủ Đây là một trong những nghi lễ tồn tại phổ biến trong đời sống của cộng đồng người Tày truyền thống và hiện đại
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Được sinh ra, được giáo dưỡng và trải nghiệm văn hóa của người Tày ở Thái Nguyên, trong quá trình đào tạo ở Bộ môn Nhân học, tôi mong muốn được khám phá và trả lời xem người Tày hiện nay quan niệm và thực hành nghi lễ Then giải hạn1
như thế nào và cuối cùng mong ước này đã trở thành mục tiêu nghiên cứu của công trình nghiên cứu nhỏ này Để làm rõ mục tiêu
Trang 11nghiên cứu nêu trên, tôi chọn một địa bàn cụ thể, đó là xã Nghĩa Đô ở huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai để tìm hiểu về thực tiễn quan niệm và thực hành nghi
lễ Then giải hạn của người Tày trong những năm vừa qua
3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Một số câu hỏi nghiên cứu quan trọng đặt ra ở đây là xuất phát từ những nhận thức và quan niệm nào mà nghi lễ Then giải hạn được thực hành ở cộng đồng người Tày Tại sao người Tày ở Nghĩa Đô thực hành nghi lễ Then giải hạn? Trong những trường hợp nào thì người dân thực hành nghi lễ này? Ai là người hành lễ? Những ai tham gia vào nghi lễ này? Để thực hành nghi lễ thì phải chuẩn bị những gì? Các bước tiến hành nghi lễ Then giải hạn? Nghi lễ này có biến đổi ra sao trước những biến đổi về kinh tế-xã hội ở cấp độ vi mô
và vĩ mô trong hơn mười năm qua? Những quan niệm và thực hành nghi lễ Then giải hạn như thế thể hiện những nét văn hóa gì của người Tày?
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Như vậy, luận văn này giới hạn ở việc tìm hiểu và lý giải những quan niệm và những thực hành nghi lễ Then giải hạn của người Tày ở một địa bàn nghiên cứu cụ thể trong bối cảnh thời gian sau đổi mới ở Việt Nam
5 NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở các mục tiêu nghiên cứu đã nêu, tôi triển khai nghiên cứu này nhằm thu thập hai loại tài liệu nghiên cứu Loại thứ nhất là kết quả nghiên cứu (sách, báo, luận án, v.v.) đã được các nhà khoa học công bố về người Tày, văn hóa Tày và đời sống tín ngưỡng cũng như đời sống tâm linh của người Tày ở Việt Nam Loại tài liệu thứ hai quan trọng hơn đó là các tài liệu dân tộc học do tôi thu thập được trong quá trình điền dã ở địa bàn nghiên cứu Quá trình điền dã của tôi ở địa bàn nghiên cứu được chia thành nhiều đợt trong các năm 2010, 2011 và 2012, mỗi đợt kéo dài từ một đến hai tuần, được tiến hành trong khuôn khổ nghiên cứu điền dã của Dự án nghiên cứu về Nhân học phát triển tại Việt Nam Tổng cộng, tôi đã có một thời gian sống cùng với người Tày, tham gia vào các hoạt động hàng ngày của nhiều hộ gia
Trang 12đình ở các thôn và đặc biệt là tôi được trực tiếp tham gia, quan sát và trải nghiệm nhiều nghi lễ Then giải hạn diễn ra ở các hộ gia đình Cũng trong thời gian điền dã, tôi triển khai các cuộc phỏng vấn đối với những người tổ chức, thực hành và tham gia các nghi lễ Then giải hạn ở những độ tuổi khác nhau (người già, trung niên, thanh niên), có nghề nghiệp khác nhau (nông dân, cán
bộ xã, thôn, những người hành nghề cúng bái)
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở Đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, Luận văn được cấu trúc thành 4 chương Chương 1 Tổng quan về tín ngưỡng và nghi lễ của người Tày; Chương 2 Địa bàn nghiên cứu; Chương 3 Nghi lễ Then giải hạn của người Tày ở Nghĩa Đô: những quan niệm và thực hành; Chương 4 Nghi lễ Then giải hạn và ý nghĩa của nó trong văn hóa người Tày
ở Nghĩa Đô
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÍN NGƯỠNG VÀ NGHI LỄ CỦA
NGƯỜI TÀY
1.1 Một số vấn đề về các khái niệm cơ bản
Văn hóa tộc người2
là một trong những khái niệm quan trọng của dân tộc học và nhân học, bao quát các yếu tố về tiếng nói, chữ viết, sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, các sắc thái tâm lý và tình cảm, phong tục tập quán của một tộc người Vì thế, những đặc trưng văn hóa tộc người thường là một trong những tiêu chí được sử dụng để phân biệt một tộc người với những tộc người khác, đồng thời là sợi dây cố kết các thành viên trong một tộc người, qua
đó là cơ sở làm nảy sinh và duy trì ý thức tộc người [65, tr 228-229]
Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, với tổng số 54 tộc người, trong đó
có tới 53 tộc người được coi là các tộc người „thiểu số‟ (về mặt nhân khẩu) và chỉ có một tộc người (Kinh) là „đa số‟ (về mặt nhân khẩu) Trong bối cảnh đó, dân tộc Việt Nam và bản sắc văn hóa của Việt Nam được tạo dựng trên nền tảng văn hóa của 54 tộc người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam Điều này tạo nên tính thống nhất của dân tộc Việt Nam và văn hóa Việt Nam Tuy nhiên, tính thống nhất về dân tộc và văn hóa này không chỉ là phép cộng đơn giản giữa những tộc người có bản sắc văn hóa khác nhau hay không hoàn toàn khác nhau cùng cư trú trên một lãnh thổ, mà bên cạnh đó còn là một quá trình lịch sử cố kết chống lại thiên tai, ngoại xâm qua hàng ngàn năm để tạo nên một dân tộc với một lãnh thổ và một nền văn hóa mang bản sắc Việt Nam như hôm nay
Văn hóa tộc người được biểu hiện trên cả hai phương diện, vật chất và tinh thần, vô hình và hữu hình Trong khuôn khổ của công trình nghiên cứu
Trang 14này, tôi nhấn mạnh đến một khía cạnh nhỏ, ở đó có thể hiện ở những mức độ khác nhau các phương diện nêu trên, đó là đời sống tín ngưỡng và nghi lễ của tộc người Tày
Tôn giáo và tín ngưỡng là một hay là hai khái niệm khác nhau có mối quan hệ với nhau? Khái niệm tôn giáo và tín ngưỡng (hay tôn giáo tín ngưỡng) đang là những vấn đề có nhiều tranh luận với những ý kiến khác nhau Có một số nhà khoa học có quan điểm đồng nhất tôn giáo với tín ngưỡng và thường sử dụng khái niệm „tôn giáo tín ngưỡng‟.3
Tuy nhiên, một
số người khác đã phân biệt giữa tôn giáo và tín ngưỡng Trong tác phẩm Tín
ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, tác giả Ngô Đức Thịnh đã đưa ra
những quan niệm khá rõ ràng về tôn giáo và tín ngưỡng Theo tác giả, tôn giáo và tín ngưỡng là một bộ phận của đời sống văn hóa tinh thần của con người mà ở đó con người cảm nhận được sự tồn tại của các vật thể, các lực lượng siêu nhiên, những thứ chi phối, khống chế con người Tôn giáo và tín ngưỡng là chất kết dính, tập hợp con người thành một tộc người (hoặc cộng đồng) nhất định và phân định tộc người này với tộc người khác Tất cả là những niềm tin, thực hành và tình cảm liên quan đến tôn giáo và tín ngưỡng đều được sản sinh và tồn tại trong một môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa
mà con người đang sống
Như vậy, dù cả tôn giáo và tín ngưỡng đều có ý nghĩa phản ánh những niềm tin vào một hay nhiều thế lực siêu nhiên, hoặc hình thức cụ thể của tôn giáo và tín ngưỡng, song giữa hai khái niệm này có sự khác biệt, được thể hiện rõ nhất về mặt hình thức biểu hiện, tổ chức, như tác giả Ngô Đức Thịnh
đã khái quát dưới đây
3
Quan điểm này được thể hiện rõ trong công trình nghiên cứu Về tôn giáo (1994) của các nhà khoa
học ở Viện Tôn giáo.
Trang 15Bảng 1.1 Sự phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng
Chưa có hệ thống giáo lý, chỉ có các
huyền thoại, thần tích, truyền thuyết
Hệ thống giáo lý, kinh điển thể hiện quan điểm vũ trụ và nhân sinh, truyền thụ qua học tập ở các tu viện, thánh đường
Chưa thành hệ thống thần điện, còn
mang tính chất đa thần, tản mạn
Thần điện đã thành hệ thống dưới dạng đa thần hay nhất thần giáo
xã, chưa thành giáo hội
Tổ chức giáo hội, hội đoàn khá chặt chẽ, hình thành hệ thống giáo chức Nơi thờ cúng và nghi lễ còn phần tán
và chưa thành quy ước chặt chẽ
Nơi thờ cúng riêng, nghi lễ thờ cúng chặt chẽ (chùa, nhà thờ, thánh đường) Mang tính chất dân gian, sinh hoạt
dân gian, gắn với đời sống nhân dân
Không mang tính chất dân gian, nếu
có thì chỉ là sự biến dạng theo kiểu dân gian hóa như Phật giáo dân gian (Nguồn: Ngô Đức Thịnh [64; tr 12]
Trang 16Trong nghiên cứu này, tôi thiên về cách hiểu và sự phân biệt của tác giả Ngô Đức Thịnh Như vậy, tôn giáo và tín ngưỡng là khác nhau ở nhiều mặt Tín ngưỡng được hiểu như là một hình thức thể hiện niềm tin vào cái thiêng của con người của một tộc người hay một cộng đồng Cụ thể hơn, tín ngưỡng, như tác giả Mai Thanh Hải định nghĩa, là:
“l ̣òng tin, sự ngưỡng mộ, ngưỡng vọng vào một lực lượng siêu nhiên thần bí; lực lượng siêu nhiên đó có thể mang hình thức biểu tượng
“trời” “phật” “thần thánh” hay một sức mạnh hư ảo, huyền bí, vô hình nào đó tác động đến đời sống tâm linh của người ta, được người ta tin tưởng có thật và tôn thờ” [68, tr 14]
Trong nhiều tín ngưỡng, nghi lễ là một thành tố quan trọng Nghi lễ4
là những ứng xử giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, được lặp đi lặp lại thành thói quen và được thể hiện thành những quy ước cuộc sống hàng ngày, trong mối quan hệ giữa xã hội với thiên nhiên, được xã hội, cộng đồng người thừa nhận
Trong thực tế, không phải mọi nghi lễ đều mang tính tôn giáo và tín ngưỡng (chẳng hạn như chào cờ buổi sáng thứ Hai ở các trường học) Các nghi lễ mang tính tôn giáo và tín ngưỡng thường liên quan đến việc liên hệ với các thế lực siêu nhiên Mặc dù rất đa dạng và phát triển theo nhiều cách khác nhau, nghi lễ dù dưới dạng thô mộc thời nguyên thủy hay phức tạp trong các nền văn hóa hiện đại, đều là một tập hợp các yếu tố cơ bản gồm hành động, nhạc lễ, cầu khấn, hiến tế, nhịn ăn, định hướng và tấy uế…mang tính lặp đi lặp lại từ đời này sang đời khác, con người thực hành chúng và mang truyền thống về hiện tại [26; tr 21]
Gắn với sinh hoạt xã hội, nghi lễ ra đời như một hiện tượng tất yếu không thể thiểu trong hoạt động của con người xã hội Nhìn nhận về nghi lễ, Levi-Strauss (1976) đã nhận xét:
4
Có một số nhà khoa học viết là „lễ nghi‟ để phân biệt với „lễ hội‟.
Trang 17“Lễ nghi không phải là phản ứng lại cuộc đời, đó là phản ứng với cái mà tư duy làm nên cuộc đời Đó không phải là sự đáp ứng trực tiếp đối với thế giới hoặc thậm chí là với kinh nghiệm của thế giới, mà đó là phản ứng đối với con người nghĩ về thế giới” [26; tr 22]
Schultz và Lavenda lại cho rằng:
“Nghi lễ thường có bốn yếu tố chính là hoạt động xã hội lặp đi lặp lại gồm hàng loạt các động tác có tính biểu tượng dưới dạng múa, hát, lời nói, điệu bộ, thao tác trên một số đồ vật nào đó; nghi lễ tách riêng khỏi các hoạt động thường ngày của xã hội; nghi lễ theo đúng một mô hình nhất định do văn hóa đặt ra; hoạt động nghi lễ liên quan chặt chẽ đến một số tư tưởng thường xuất hiện trong huyền thoại Mục đích của thực hiện nghi lễ là để hướng dẫn việc lựa chọn tư tưởng nêu trên và thực thi chúng qua biểu tượng [26; tr 23]
Theo ý kiến của Victor Turner, nghi lễ là hành vi được quy định có tính chất nghi thức dành cho những dịp không liên quan đến các công việc có tính
kỹ thuật hàng ngày mà có quan hệ với những niềm tin vào đấng tối cao hay sức mạnh thần bí Và theo nghĩa hẹp, thuật ngữ này chỉ những hành động mang tính bắt buộc, chính thức diễn ra trong bối cảnh thờ cúng tôn giáo Các nhà nhân học sử dụng thuật ngữ „nghi lễ‟ để bao hàm bất kỳ hành động nào có mức độ chính thức cao và có mục tiêu không vụ lợi [26; tr 23]
Từ điển Nhân học thì khẳng định:
“Nghi lễ là những hành động nghi thức diễn ra trong bối cảnh thờ cúng tôn giáo - ví dụ một đại lễ Thiên chúa giáo hay một buổi hiến tế tổ tiên Thông thường, các nhà nhân học sử dụng „nghi lễ‟ để nói về bất kỳ một hành động nào có nhiều nghi thức và với mục đích bình quân chủ nghĩa Theo nghĩa rộng nhất, nghi lễ liên quan không chỉ đến một loại sự kiện cụ thể đặc biệt nào mà
cả với khía cạnh thể hiện của toàn bộ hoạt động của con người Trong chừng mực nó chuyển tải các thông điệp địa vị văn hóa và xã hội của các cá nhân, bất kỳ hành động nào của con người cũng có khía cạnh nghi lễ” [26; tr 24]
Trang 18Trong trường hợp nghiên cứu này, kết hợp các định nghĩa nêu trên về nghi
lễ, chúng tôi quan niệm về nghi lễ ở góc độ hẹp, đó là những nghi thức được lặp đi lặp lại, mang tính bắt buộc phải tiến hành trong một buổi lễ gắn liền với các hoạt động mang tính tôn giáo và tín ngưỡng của một tộc người hay một cộng đồng người
Ở Việt Nam, sau một giai đoạn lịch sử trầm lắng, các hoạt động tín ngưỡng nói chung và các nghi lễ nói riêng đã bắt đầu hồi sinh kể từ khi Việt Nam tiến hành Đổi mới từ những năm 1980 (thậm một số nghi lễ đã bắt đầu được phục hồi ở nhiều địa phương từ cuối những năm 1970) Thực tế này đã được một số nhà khoa học giải thích là sự trở lại với truyền thống hay sự trỗi dậy của truyền thống trong quá trình đổi mới về kinh tế và xã hội ở Việt Nam, sau khi có một thời gian vài thập kỷ, kinh tế và nhiều hoạt động của đời sống tôn giáo và tín ngưỡng chịu sự kiểm soát và điều chỉnh mạnh mẽ bởi chính quyền nhà nước Tuy nhiên, theo tác giả Oscar Salemink (2010), thì đây không phải đơn giản là một sự trở lại của quá khứ hay truyền thống mà thay vào đó là sự phát triển và nở rộ của các thực hành nghi lễ được thúc đẩy bởi
cả những động năng cũ và mới
1.2 Một số nghiên cứu về tín ngưỡng và nghi lễ ở Việt Nam
Trong những năm 1950 đến 1980, ở miền Bắc Việt Nam (và trong cả nước từ sau 1975), các hình thức tín ngưỡng và nghi lễ truyền thống bị ngăn cấm, vì bị coi là mê tín, không khoa học và lãng phí Trong quãng thời gian này, mê tín dị đoan được định nghĩa là bất cứ một thực hành nào liên quan trực tiếp tới bùa chú và có liên hệ với thế giới thần linh hay các thế lực siêu nhiên Một trong những chính sách có tác động lớn nhất ở tất cả các mặt của đời sống kinh tế - xã hội miền Bắc là chương trình xây dựng „cuộc sống mới
và con người mới‟ diễn ra trong những năm 1960-1980 của thế kỷ XX Đảng
và Nhà nước lúc đó muốn xây dựng con người mới bằng chủ trương xóa bỏ
mê tín dị đoan mà một trong các biểu hiện cụ thể của nó chính là không gian
Trang 19thiêng như đình, chùa, đền, miếu, v.v và những thực hành tín ngưỡng và nghi
lễ truyền thống gắn với các không gian thiêng này Hậu quả của chủ trương này là có một số lượng đáng kể các không gian thiêng bị phá hủy Ở những nơi không bị phá hủy thì các hoạt động gắn với các không gian thiêng cũng bị ngừng, hoặc nằm trong sự kiểm soát của chính quyền nhà nước ở địa phương
Từ năm 1986, công cuộc đổi mới đã tạo ra những biến đổi mạnh mẽ về kinh tế, xã hội, khi nền kinh tế đất nước được chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang một nền kinh tế thị trường nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cũng trong quá trình này, Đảng và Nhà nước thể hiện rõ việc coi trọng và cởi trói cho các hoạt động tín ngưỡng, nghi lễ và lễ hội Theo tác giả Trần Minh Thư (2005), hàng loạt văn bản của Nhà nước ban hành cho thấy rõ một sự điều chỉnh theo thời gian được thể hiện ở nhiều cấp
độ, từ Hiến pháp năm đến các Chỉ thị của Thủ tướng chính phủ liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng, nghi lễ và lễ hội nhìn chung là theo hướng từ cấm đoán đến công nhận
Với tầm quan trọng của nó trong đời sống văn hóa của dân tộc Việt Nam nói chung, của mỗi tộc người cụ thể nói riêng, tài liệu nghiên cứu về tín ngưỡng và nghi lễ phản ánh hai xu hướng chính về các vấn đề này Thứ nhất,
đó là những công trình nghiên cứu mang tính lý luận và trình bày những đặc điểm chung của các tín ngưỡng, các nghi lễ của các tộc người ở Việt Nam
Một trong số các công trình nghiên cứu tiêu biểu theo hướng này là Tín
ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng của Việt Nam (2001) của tác giả Ngô Đức
Thịnh đã có những phác họa về tín ngưỡng của các tộc người ở Việt Nam Trong đó, tác giả trình bày về những tín ngưỡng: Tín ngưỡng thờ tổ tiên; Tín ngưỡng thờ thành hoàng; Đạo mẫu; Tín ngưỡng Đức Thánh Trần;Tín ngưỡng nghề nghiệp Tác giả cũng đưa ra mối quan hệ giữa tín ngưỡng và âm nhạc cổ truyền, cũng như đưa ra những chức năng của tín ngưỡng trong đời sống sinh hoạt cộng đồng Có thể nói đây là một công trình khái quát về tín ngưỡng của các tộc người ở Việt Nam
Trang 20Công trình Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam (2007) của
tác giả Nguyễn Đức Lữ tìm hiểu về tín ngưỡng dân gian trong đời sống tinh thần như lễ hội, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ Mẫu, phồn thực và mê tín dị đoan Tác giả cũng phân tích thực trạng của những tín ngưỡng dân gian cũng như những biểu hiện của chúng trong giai đoạn hiện nay
Xu hướng nghiên cứu thứ hai là những khảo cứu về tín ngưỡng và nghi lễ của các tộc người Trong số đó, có thể kể ra công trình nghiên cứu của tác giả
Lý Hành Sơn trong cuốn Các nghi lễ chủ yếu trong đời người của nhóm Dao
tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn (2001) đã phân tích sắc thái địa phương, tính thống
nhất và đa dạng trong văn hóa Dao, tạo cơ sở khoa học để phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của các nghi lễ trong việc xây dựng nếp sống mới ở vùng người Dao tiền
Đoàn Tuấn Anh trong công trình Nghi lễ nông nghiệp của người Ba Na ở
tỉnh Gia Lai (2012) đã nghiên cứu sâu và có hệ thống về nghi lễ nông nghiệp
của người Ba Na ở tỉnh Gia Lai, trong đó tác giả đã trình bày các yếu tố mới tác động dẫn đến việc biến đổi của nghi lễ nông nghiệp đồng thời khẳng định lại những giá trị bền vững và đề xuất một số giải pháp để bảo tồn
Tác giả Nguyễn Thị Song Hà trong Nghi lễ chu kỳ đời người của người
Mường ở Hòa Bình (2011) trình bày bức tranh có hệ thống và toàn diện về
nghi lễ chu kỳ đời người của người Mường ở Hòa Bình, từ đó làm rõ những đặc điểm chung và sắc thái của nó trong xã hội truyền thống, đồng thời bước đầu so sánh, làm rõ những điểm tương đồng và khác biệt trong nghi lễ chu kỳ đời người của người Mường ở Hòa Bình với người Mường ở các tỉnh khác; làm rõ sự biến đổi của chu kỳ đời người từ truyền thống tới hiện đại, đồng thời chỉ ra những nguyên nhân của sự biến đổi Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tác giả đã đề xuất một số kiến nghị góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị trong nghi lễ chu kỳ đời người của người Mường ở Hòa Bình trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập hiện nay
Trang 21Tác giả Nguyễn Thị Hiền trong “Bệnh âm: chẩn đoán và chữa bệnh trong
lên đồng của người Việt” (2010) quan tâm tới tính trị liệu trong nghi lễ lên
đồng Tác giả khẳng định mối ràng buộc sâu lắng trong tâm thức của người Việt về mối quan hệ giữa người sống và người chết, việc trở thành con nhà thánh trong đạo Mẫu
Tác giả Kristen W Endres trong “Với linh hồn người đã mất: lễ gọi hồn và
tạo dựng tính hiệu nghiệm qua lực thực hành” (2010) đã thông qua nghi lễ gọi
hồn để lý giải làm thế nào mà nghi lễ đạt được những hiệu nghiệm như người
ta mong muốn, đồng thời cũng phân tích ranh giới giữa hành động chủ định
và phi chủ định trong một nghi lễ Theo tác giả, câu hỏi thách thức đặt ra cho các học giả nghiên cứu về nghi lễ đương đại không phải là những nghi lễ đó đạt được tác động gì mà là làm thế nào những nghi lễ đó đạt được những tác động đó Tác giả cho rằng hiện còn chưa có nhiều tranh luận về hiệu nghiệm của nghi lễ Và tác giả lý giải không nhất thiết là chỉ có một chương trình dự kiến cho một buổi lễ bởi những người tham dự có thể có những mục tiêu khác nhau mà họ muốn đạt được Vì thế, nghi lễ thường có những yếu tố bất định, không chắc chắn
Tác giả Silapakit Teekantikun trong Luận án “Nghi lễ lên đồng của người
Việt ở miền Bắc Việt Nam và của người Lào ở Đông Bắc Thái Lan” (2010) đã
có những so sánh thú vị về nghi lễ lên đồng ở hai khu vực thuộc hai quốc gia khác nhau Tác giả khẳng định nghi lễ lên đồng là một trong những nghi lễ quan trọng đối với người Việt ở miền Bắc Việt Nam Tác giả nói thêm, ở Việt Nam, dư luận xã hội cũng như chính quyền, đặc biệt là ngành y tế luôn phản đối việc chữa trị bệnh bằng nghi lễ lên đồng hay các hình thức sử dụng ma thuật khác Nhưng đối với nhiều người, họ không quan tâm là những phương pháp hay hình thức chữa bệnh đó có được chấp nhận hay không, là khoa học hay phản khoa học Cái quan trọng với họ là những hình thức đó có ý nghĩa
và phù hợp với quan niệm của họ, gia đình và cộng đồng của họ như thế nào
Trang 22Họ cũng không quan tâm lắm là chữa khỏi hay không, mà nó còn là một niềm
hy vọng còn lại
Nếu như việc chữa bệnh, cầu an được thực hành trong nghi lễ lên đồng - một nghi lễ không nằm trong hệ thống nghi lễ chu kỳ đời người của người Việt thì ở một số cư dân khác, nghi lễ cầu sức khỏe, trị bệnh lại là một trong những nghi lễ lớn, truyền thống, nằm trong chu kỳ đời người Lễ cúng sức khỏe là một trong những lễ quan trọng trong hệ thống nghi lễ vòng đời người của người Êđê Lễ này thường được tổ chức sau mùa rẫy, từ tháng 11 đến tháng 3 dương lịch năm sau Sau lễ mừng thọ 60 tuổi, cứ ba năm 1 lần, vào dịp những tháng rảnh rỗi sau mùa rẫy là mọi người trong gia đình, dòng họ tổ chức lễ này cho ông bà (còn gọi là lễ Gơng drai) Hay ở người Jrai, lễ cầu sức khỏe cho người tới tuổi trưởng thành, hay còn gọi là cúng yang Mơpú, là một nghi lễ lớn, rất được các nhóm người Jrai chú trọng, cầu cho con cái họ được khỏe mạnh, thành phần tham dự có mặt đông đủ dòng tộc, họ hàng Đây là một sự kiện quan trọng trong cuộc đời người Jrai nên dân làng đến dự đông
đủ và coi như một ngày hội của làng
1.3 Các nghiên cứu về tín ngưỡng và nghi lễ của người Tày
Đời sống tín ngưỡng và nghi lễ của người Tày cũng thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến chủ đề này bao gồm nghiên cứu của tác giả La Công Ý trong
Đến với người Tày và văn hóa Tày (2010), phân tích nhiều khía cạnh của đời
sống người Tày với một sự khái quát cao Với tư liệu thu được từ các chuyến điền dã trong gần 30 năm, kết hợp với các tài liệu khác, tác giả La Công Ý đã
có một công trình viết về người Tày và văn hóa người Tày khá đặc sắc Ngoài những phần về dân cư, ngôn ngữ lịch sử, phong tục tập quán, v.v tác giả xem xét đời sống tín ngưỡng và các nghi lễ của người Tày và khẳng định: Đề cập tới những giai tầng xã hội người Tày không thể không nhắc tới những người làm nghề cúng bái bao gồm 4 nhóm khác nhau là tào, mo, then, pựt Có thể
Trang 23nói, đây là tầng lớp xã hội đặc biệt cho dù xét về mặt nhân khẩu họ chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ nhưng lại có ảnh hưởng hết sức to lớn đối với người dân ở địa phương Cụ thể, trong chương VI của cuốn sách này, ở mục “Tín ngưỡng dân gian” (tr.371-tr.385), tác giả đã nêu khái quát về đời sống tín ngưỡng của người Tày ở Việt Nam, qua đó khẳng định thuyết đa thần, thuyết linh hồn bất
tử, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, đồng thời bàn về các ông Then, bà Then và vai trò chữa bệnh của họ thông qua ma thuật, bùa ngải
Công trình nghiên cứu Tín ngưỡng dân gian Tày, Nùng (2009) của tác giả
Nguyễn Thị Yên, trên cơ sở tập trung khảo tả ở 4 tỉnh (Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên), đã có những phân tích khá chi tiết về đời sống tín ngưỡng dân gian của người Tày, Nùng, thực trạng và biến đổi trong đời sống tín ngưỡng dân gian cũng như các chức năng của đời sống tín ngưỡng dân gian trong văn hóa Tày, Nùng Trong công trình nghiên cứu này, tác giả cũng
mô tả và phân tích về một số nghi lễ tiêu biểu: Quyển đẳm trong đám tang thầy cúng người Tày, Hát thợ trong đám tang của người Tày, Lễ cấp sắc của Pụt Nùng, Lễ cấp sắc của Then Tày, Lễ đầy tháng của Pụt Tày, Lễ mừng thọ của Then Tày, Lễ chữa bệnh của Then Tày Có thể nói đây là một tác phẩm phân tích khá sâu đời sống tín ngưỡng và lễ hội của các tộc người Tày, Nùng Riêng về nghi lễ Then, tác giả xem xét như một trong những nghi lễ tiêu biểu trong đời sống tín ngưỡng của người Tày và tác giả phân tích ở các khía cạnh: nguyên nhân, thời điểm cũng như các hình thức diễn xướng trong nghi lễ và chức năng chữa bệnh của những người hành nghề Then
Trong một công trình nghiên cứu khác có tựa đề Đời sống tín ngưỡng của
người Tày ven biên giới Hạ Lang, Cao Bằng tác giả Nguyễn Thị Yên dành
một chương (chương 2) trình bày chi tiết hơn về các hình thức văn hóa tín ngưỡng của người Tày ở khu vực biên giới Hạ Lang, Cao Bằng Theo tác giả thì có 4 hình thức văn hóa tín ngưỡng tiêu biểu, đó là Then và hình thức văn hóa tín ngưỡng Then; tào và sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tào; siên và sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng siên; thầy phường Về vấn đề Then, tác giả đã giới
Trang 24thiệu chung về Then, dụng cụ hành nghề, lý do hành nghề; các nghi lễ phục
vụ cho cộng đồng làng bản; các nghi lễ theo yêu cầu của các gia chủ; các nghi
lễ đối với bản thân Then Trong các nghi lễ được thực hiện theo yêu cầu của các gia chủ, tác giả khẳng định thực hành các nghi lễ giải hạn/cầu an là một
trong những công việc quan trọng nhất của những người hành nghề Then Tác giả Hà Đình Thành trong cuốn Văn hóa dân gian Tày, Nùng ở Việt
Nam 2010) đã nghiên cứu văn hóa dân gian Tày, Nùng trong bối cảnh văn hóa
dân gian Việt Nam để tìm ra những nét văn hóa tiêu biểu, đặc sắc của hai dân tộc này Tập trung phân tích tổ chức xã hội của người Tày và khẳng định tổ chức xã hội truyền của người Tày ở cấp địa phương chính là thôn bản Thôn bản với người Tày là một cộng đồng “cộng mệnh”, tức là sự gắn bó cộng đồng trên cơ sở cùng tôn thờ những biểu tượng tâm linh và sự che chở của thần bản mệnh cho thôn bản Thôn bản cũng là nơi “cộng cảm” văn hóa, là nơi nương tựa, đùm bọc, giúp đỡ, là nơi thực hành các nghi lễ cúng tế thu hút
sự tham gia của người dân trong bản Tác giả cũng khẳng định người thực hành những nghi lễ mang tính tín ngưỡng chính mo, then, những người có vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng tộc người và họ thường có uy tín cao trong cộng đồng
Liên quan đến tín ngưỡng của người Tày còn có cuốn “Táng mừa pja lệ
đẳm” của tác giả Hoàng Hạc (sưu tầm và biên soạn năm 2004) Trong công
trình này, tác giả Hoàng Hạc đã giới thiệu hình thức hát bụt trong cúng vía và cúng mụ của dân tộc Tày Ngoài ra ta còn có thể kể đến một số công trình đề
cập đến một nghi lễ cụ thể như “Việc tang lễ cổ truyền của người Tày” của Hoàng Tuấn Nam (1990); “Then cấp sắc của người Tày ở huyện Quảng Uyên
tỉnh Cao Bằng” của Nguyễn Thị Yên (2005); “Tục cưới xin của dân tộc Tày”
của Triều Ân, Hoàng Quyết (2010)…
Điểm chung của nhiều các công trình nghiên cứu nêu trên về tín ngưỡng, nghi lễ là khẳng định tầm quan trọng của tín ngưỡng và nghi lễ trong văn hóa của người Tày Về tín ngưỡng và nghi lễ của người Tày, Then được quan tâm
Trang 25nghiên cứu nhiều hơn cả vì tầm quan trọng đặc biệt của nó Cuốn “Mấy vấn
đề về then Việt Bắc” của tác giả Nông Việt Hoàn là một khảo sát về Then trên
địa bàn rộng với tiếp cận Then là hình thức diễn xướng dân gian tổng hợp Trong công trình này, tác giả đã phân chia Then thành các loại: Then cầu yên; Then chữa bệnh; Then bói toán; Then tống tiễn; Then cầu mùa, cầu đảo, diệt trùng; Then chúc tụng (làm nhà, sinh con, cưới hỏi); Then cấp sắc
Tác giả Nguyễn Thị Yên trong công trình Then Tày thì có cách phân chia
khác Đây được coi là một nghiên cứu đã giải quyết được những vấn đề cơ bản liên quan đến then như bản chất tín ngưỡng, sự hình thành biến đổi và đặc điểm diễn xướng, giá trị của then….Căn cứ vào hình thức diễn xướng, tác giả Nguyễn Thị Yên đã phân loại Then thành 4 loại chính: Then bói (bói chữa bệnh, bói tình yêu); Then giải hạn, cầu yên (thường diễn ra vào mùa xuân, cầu
mẹ Bjoóc phù hộ cho trẻ nhỏ, giản hạn nối số cho người già, then chúc phúc, mừng thọ, gọi vía lạc, cầu tự, then chữa bệnh); Then chúc tụng (mừng nhà mới, thăng quan tiến chức, làm ăn phát đạt, loại Then này ít về nghi thức, nặng về ca hát, vui chơi, ứng tác); Lẩu then (Hội Then) tổ chức ở chính nhà của các ông Then để dâng cúng tổ nghề then vào dịp thường kỳ hàng năm và đặc biệt là cấp sắc cho các ông then, và then Tác giả Nguyễn Thị Yên trong công trình này cũng tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của tầng lớp hành
nghề cúng bái (tào, mo, then, pựt) Nghệ thuật diễn xướng Then Tày, Nùng cũng được mô tả khá sinh động và tỉ mỉ trong công trình nghiên cứu Nét
chung và riêng của âm nhạc trong Then Tày, Nùng (2004) của tác giả Nông
Thị Nhình Nữ tác giả này đã đề cập đến phần âm nhạc trong Then của mỗi vùng, thông qua đó thấy được sự phong phú, đa dạng cũng như giá trị nghệ thuật Then của người Tày, Nùng ở Việt Nam
Như vậy, Then nói chung và các loại nghi lễ Then chữa bệnh, giải hạn, cầu an nói riêng của người Tày đã được các nhà nghiên cứu tìm hiểu dưới các góc độ và mức độ khác nhau ở nhiều công trình nghiên cứu Trong đó, hướng tiếp cận nổi bật là nhiều tác giả nhấn mạnh đến vị trí và vai trò của các ông/bà
Trang 26Then, coi Then như một hình thức diễn xướng dân gian, có chức năng chữa bệnh hoặc mang lại sự an bình, v.v
Từ việc tổng hợp, phân tích các công trình nghiên cứu nêu trên, chúng tôi nhận thấy vấn đề nghi lễ Then giải hạn cần được nhấn mạnh thêm các thực thể khác liên quan đến các nghi lễ Then giải hạn và nên được khảo tả sâu ở một địa bàn cụ thể trong bối cảnh xã hội hiện nay Một vấn đề chúng tôi cũng muốn nhấn mạnh là, giống như nghi lễ lên đồng của người Việt, nghi lễ Then giải hạn của người Tày thường được thực hành hơn cả khi con người gặp phải những bất ổn, rủi ro hay hoạn nạn trong cuộc sống Vấn đề này đặt câu hỏi cho một nội dung tiếp theo chúng tôi muốn nhấn mạnh trong nghiên cứu về Then giải hạn từ góc độ an ninh con người và nhu cầu đảm bảo an ninh con người của những người tổ chức và tham gia nghi lễ Then giải hạn này
1.4 An ninh con người
1.4.1 Khái niệm
Trong khi tôi cố gắng chỉ ra rằng đời sống tín ngưỡng và nghi lễ của người Tày vẫn còn là mảnh đất màu mỡ cho các nghiên cứu nhân học thì tôi cũng phải đối diện với những câu hỏi là dù có sự phát triển đáng kể về kinh
tế, xã hội, tri thức khoa học trong những thập kỷ vừa qua, nhưng vì sao những sinh hoạt tín ngưỡng nói chung và các nghi lễ Then giải hạn nói riêng của người Tày và nhất là của người Tày ở địa bàn nghiên cứu vẫn trỗi dậy, chiếm một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần và tâm linh của các cư dân? Những thực hành nghi lễ Then giải hạn như thế xuất phát từ niềm tin gì, có nguyên nhân từ đâu, có phải cuối cùng là nhằm mục đích bảo vệ con người vượt qua hay thoát khỏi những bất an, bất ổn, rủi ro và đạt được sự an toàn ở một mức độ nhất định nào đó hay không?
Khi con người đối diện hay cảm nhận được những nguy hiểm hay sự đe dọa nào đó thì thường nghĩ đến an ninh nhiều hơn Trong tiếng Anh,
„security‟ (an ninh) không chỉ bao hàm trạng thái an ninh như tránh được
Trang 27nguy hiểm, khỏi bị lo sợ mà bao gồm việc bảo vệ an ninh và cơ cấu của an ninh Trong tiếng Việt, „an ninh‟ là trật tự xã hội, tình hình chính trị yên ổn, không lộn xộn, không nguy hiểm Như vậy, điểm chung nhất của các khái niệm về an ninh là không tồn tại một sự đe dọa hay nguy hiểm nào đó dưới cả hai hình thức hữu hình và vô hình An ninh không chỉ phản ánh những hiện thực hữu hình mà còn đề cập đến cả những trạng thái tâm lý vô hình của con người, như cảm giác an toàn, bình an hay cảm giác nguy hiểm, bất an
Khái niệm „an ninh con người‟ xuất hiện vào đầu những năm 90 với đóng góp của Mahbub ul Haq và Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (United Nations Development Programme) Theo đó, nỗ lực phát triển con người trở thành trọng tâm của tư tưởng phát triển và những chính sách phát triển, đó là
sự bảo vệ cho các cá nhân con người, các cộng đồng chứ không chỉ đơn thuần
là sự phát triển kinh tế vĩ mô Báo cáo phát triển con người năm 1994 của
UNDP xác định an ninh con người là “sự an toàn của con người trước những
đe dọa triền miên và sự bảo vệ con người trước những biến động bất thường tổn hại đến cuộc sống” [33; tr 18]
Theo nghĩa hẹp, an ninh con người tập trung vào các mối đe dọa bằng bạo
lực đối với cá nhân Theo nghĩa rộng, các nhà nghiên cứu đều cho rằng Báo
cáo phát triển con người năm 1994 của UNDP đã đề cập một cách khá toàn
diện về khái niệm an ninh con người Theo đó, an ninh con người có hai khía cạnh: an toàn trước những mối đe dọa triền miên như đói khát, bệnh tật, áp bức; con người cần được bảo vệ trước những biến động bất thường và có hại đối với cuộc sống hàng ngày, dù ở trong gia đình, nơi công sở hay ở cộng đồng [33, tr.19]
Ủy ban An ninh con người của Liên Hợp Quốc định nghĩa an ninh con người là phải bảo vệ các giá trị cơ bản quan trọng nhất trong cuộc sống của tất
cả mọi người theo hướng tăng cường khả năng tự do lựa chọn và hưởng thụ của con người, nghĩa là bảo vệ con người khỏi những mối đe dọa và tình huống nguy hiểm và hiện hữu ở khắp mọi nơi [33; tr 19] Nhiều nước trên thế
Trang 28giới ủng hộ cách tiếp cận này của Liên Hợp Quốc, nhất là châu Á, mà đại diện
là Nhật Bản Nhật Bản cho rằng an ninh con người bao quát một cách tổng hợp tất cả các mối đe dọa đối với sự tồn tại, cuộc sống hàng ngày và nhân phẩm của con người [33; tr 20]
Báo cáo phát triển con người năm 1994 của UNDP đã miêu tả an ninh
con người:
“[…] có nghĩa là an toàn từ các mối đe dọa đói nghèo, bệnh tật, tội phạm, sự đàn áp Nó cũng có nghĩa là bảo vệ khỏi sự đổ vỡ có hại và bất ngờ trong mẫu hình của đời sống hàng ngày tại gia đình, công việc, trong cộng đồng hay trong môi trường của chúng ta” [33; tr 25] Báo cáo cũng khẳng định an ninh con người được cấu thành từ 7 yếu tố:
an ninh kinh tế (bảo đảm việc làm và thu nhập); an ninh lương thực (không bị thiếu ăn); an ninh sức khỏe, cả về thể xác lẫn tinh thần (không bị dịch bệnh, v.v.); an ninh môi trường (không bị ô nhiễm không khí, nguồn nước…); an ninh cộng đồng (duy trì bản sắc văn hóa, đặc trưng dân tộc); an ninh chính trị (bảo đảm quyền tự do cơ bản của con người về dân sự, chính trị)
Trong vô số các khía cạnh của sự an ninh con người thì an ninh về sức khoẻ thể xác và tinh thần là những vấn đề quan trọng mà con người luôn mong muốn và tìm cách đạt được các mục tiêu này theo những cách khác nhau Trong luận văn này, chúng tôi dùng khái niệm an ninh con người nhất
là ở khía cạnh an ninh sức khỏe và kinh tế ý nghĩa là một trong những những mục tiêu quan trọng của các nghi lễ Then giải hạn
1.4.2 Các nghiên cứu về an ninh con người
Trên phạm vi quốc tế, vấn đề an ninh con người được nhiều học giả quan tâm ở nhiều khía cạnh khác nhau Ta có thể kể ra ở đây một vài công trình
tiêu biểu: Báo cáo phát triển con người của UNDP năm 1994, An ninh con
người ngày nay của Ủy ban An ninh con người năm 2003
Trang 29Ở Việt Nam, các nhà khoa học cũng nghiên cứu vấn đề này trên rất nhiều phương diện Có thể kể ra ở đây một số công trình như đề tài nghiên cứu
khoa học của Học viện quan hệ quốc tế có tựa đề “Các vấn đề an ninh phi
truyền thống ở Đông Nam Á: tác động đối với ASEAN và Việt Nam” (2004)
do tác giả Nguyễn Phương Bình làm chủ nhiệm đề tài Đề tài đề cập đến những cách tiếp cận khác nhau về an ninh phi truyền thống ở khu vực Đông Nam Á cũng như quan điểm và sự hợp tác của ASEAN và Việt Nam về vấn
đề an ninh phi truyền thống Nội dung nổi bật được thể hiện trong đề tài là vấn đề an ninh con người với ý nghĩa là một biểu hiện của an ninh phi truyền thống Vấn đề an ninh con người được xem xét trong đề tài này dừng lại ở việc thể hiện các quan điểm khác nhau về an ninh con người
Công trình nghiên cứu Chênh lệch về phát triển và an ninh kinh tế ở
ASEAN (2006) do tác giả Nguyễn Xuân Thắng chủ biên đề cập tới tiếp cận về
an ninh trong xu thế toàn cầu hóa, từ an ninh truyền thống sang an ninh phi truyền thống mà trọng tâm là an ninh con người dựa trên nền tảng là an ninh
kinh tế Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ “Các thách thức an ninh phi
truyền thống ở Đông Nam Á và tác động tới Việt Nam” (2007) của Học viện
Quan hệ quốc tế có chuyên đề “An ninh con người” do tác giả Tạ Minh Tuấn thực hiện giới thiệu tổng quan về an ninh con người, từ khái niệm, đặc điểm,
các yếu tố cấu thành của an ninh con người Công trình Quyền con người -
tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội (2009) tác giả Võ Khánh
Vinh chủ biên, có chuyên đề “Quyền con người và an ninh con người”, trong
đó tác giả xem xét vấn đề quyền con người trong mối liên hệ với an ninh con người cũng như những điểm giao thoa và những nội dung khác biệt của hai khái niệm trong cùng một đối tượng tham chiếu là con người Một số tác giả khác cũng đề cập đến an ninh con người ở các bối cảnh và không gian khác nhau, như phân tích các đặc điểm của an ninh con người và xem xét an ninh con người là một mục tiêu của tiến trình hình thành và phát triển của cộng
Trang 30đồng ASEAN trong tương lai, hoặc “Vấn đề an ninh con người trong pháp
luật quốc tế hiện đại” (năm 2012)
Đánh giá chung, chúng tôi nhận thấy dù vấn đề an ninh con người được đề cập khá nhiều nhưng lại thiên về nhấn mạnh đến các khía cạnh an ninh kinh
tế, chính trị, ngoại giao, quốc phòng, luật pháp, v.v ở cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế Trong khi đó, khía cạnh an ninh sức khỏe thể xác và tinh thần, nhất là gắn nó với đời sống tín ngưỡng và nghi lễ thì còn rất ít nghiên cứu Về trường hợp Việt Nam, một trong những nghiên cứu đầu tiên trong lĩnh vực này có lẽ là của tác giả Oscar Salemink Với bài viết “Tìm kiếm an toàn tinh thần trong xã hội Việt Nam đương đại” (2010), tác giả đã nhìn từ lăng kính an ninh con người để đánh giá đúng những động lực và chủ đích đa dạng bằng cách định vị những thực hành lên đồng trực tiếp trong bối cảnh hiện nay, kết nối những lo lắng, bất an và bất định, kết nối khía cạnh tinh thần và thể lý thuộc an ninh con người Trong nghiên cứu này, tác giả đã gắn vấn đề an ninh con người với sự gia tăng của các thực hành nghi lễ ở Việt Nam trong những thập kỷ vừa qua Trên cơ sở đó, chúng tôi muốn tiếp tục khám phá và gắn các quan niệm và thực hành nghi lễ Then giải hạn của người Tày với khía cạnh an ninh sức khỏe và kinh tế của con người
Tiểu kết chương 1
Văn hóa Tày và nhất là đời sống tín ngưỡng và nghi lễ của người Tày đã được các nhà khoa học nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau Trong đó, các nghi lễ Then của người Tày thu hút sự quan tâm nghiên cứu của một số nhà khoa học, trong đó có một số là người Tày nghiên cứu về người Tày Các tác giả đều nhấn mạnh vị trí và ý nghĩa của các nghi lễ Then trong đời sống văn hóa Tày và có hướng tiếp cận thiên về hình thức diễn xướng
Trong nghiên cứu này, chúng tôi một mặt ủng hộ tính hữu ích của việc xem xét các nghi lễ Then của người Tày (cũng như cả một số nghi lễ khác của
Trang 31các tộc người khác, ví dụ như nghi lễ lên đồng, v.v.), nhưng mặt khác cũng muốn nhấn mạnh thêm đến khía cạnh an ninh con người, nhất là an ninh về sức khỏe và kinh tế trong những quan niệm và thực hành của nghi lễ Then giải hạn của người Tày Chúng tôi cũng nhấn mạnh rằng nghi lễ Then giải hạn không phải là một nghi lễ trong chu kỳ đời người của người Tày, nhưng lại đang là một nghi lễ rất phổ biến và có tầm quan trọng đặc biệt trong cuộc sống của cộng đồng người Tày ở địa bàn xã Nghĩa Đô Nghi lễ Then giải hạn không chỉ là sự thể hiện những giá trị văn hóa tộc người của người Tày mà còn là một cách thức mang ứng phó của con người trước những rủi ro, bất an
về sức khỏe và kinh tế
Trang 32Chương 2 ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH LÀO CAI
gioi(Nguồn:Laocai.gov.vn/gioithieuchung/bando/Trang/63404619530151419
0.aspx, ngày 28/11/2008)
Trang 33(Nguồn: tài liệu điền dã của tác giả năm 2010)
2.1 Vùng đất và con người Nghĩa Đô
2.1.1 Vùng đất Nghĩa Đô
Nghĩa Đô là một xã miền núi vùng cao, vùng sâu của huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, là một thung lũng nằm sâu trong lòng miền núi phía Bắc nước ta, ở tọa độ 22020‟ Bắc, 104030‟ kinh độ Đông Phía Đông và Đông Bắc giáp các
xã Bằng Lang, Yên Bình, Yên Thành, Bản Rịa, Nà Trì của tỉnh Hà Giang Phía Bắc, Tây Bắc và Đông Nam giáp các xã Bản Liền, Nặm Khánh, Nặm Đét, Cốc Lầu, Bản Cái của huyện Bắc Hà, Lào Cai Phía Nam và Đông Nam giáp xã Tân Dương, Xuân Hòa của huyện Bảo Yên, Lào Cai
Vùng Nghĩa Đô là tuyến đệm của dân tộc Tày, là ngã tư đường các vùng của miền núi phía Bắc nước ta Từ nơi đây, có 4 ngả đường đi các nơi và cũng chỉ đến đây mới có lối đi các vùng khác Sang phía Đông Bắc có con đường duy nhất vượt qua đèo Khau Ái sang Yên Bình, rồi đến Ngô Khê, từ đây đi
Trang 34đến các tỉnh khu Việt Bắc Đi lên phía Bắc có con đường mòn vượt núi Mạ Quỷnh (núi ngựa lăn) lên xã Nà Trì để đến cao nguyên Hà Giang, rồi từ đây
có đường sang Trung Quốc Phía Tây có con đường vượt núi sang Bản Liền, hoặc Cốc Lầu đến huyện Bắc Hà, Lào Cai Từ trung tâm thung lũng, men theo
bờ tả ngạn của ngòi Nặm Luông có con đường duy nhất xuống Phố Ràng, Lục Yên, Bảo Hà để đi đến vùng trung du và miền Tây Bắc
Theo các tài liệu lịch sử, các tài liệu lưu trữ còn lại của xã Nghĩa Đô thì vùng đất này lập nên từ rất sớm Vào thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, vùng đất Nghĩa Đô có tên là Bản Luông, rồi Mường Luông, ranh giới gồm xã Nghĩa
Đô và Làng Hạ (xã Vĩnh Yên ngày nay) Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XVII, do các tù trưởng tranh giành đất đai, cướp bóc tài sản, đem quân đi triệt phá các vùng, làm cho vùng đất Mường Luông bị cướp phá, hầu hết dân cư ở Mường Luông phải sơ tán lên vùng đất Quang Bình (thuộc Hà Giang ngày nay) Sau
đó Mường Luông lại đổi tên thành Bản Khuông [107; tr 9]
Sang đầu thế kỷ XIX, Bản Khuông lại trở thành một vùng đất đông đúc dân cư, các bản hồi sinh trở lại Sau đó, Bản Khuông không chỉ còn là một bản nữa, mà lại chuyển thành Mường, gọi là Mường Khuông Năm Đinh Mùi
1846, người dân Mường Khuông lên bản Trung Đô Bảo Nhai xin đền về lập ở Mường Sau 3 lần đi đến năm Kỷ Dậu 1849 mới xin được Sau nhiều lần đặt đền không thành, đến ngày 14 tháng 7 năm Canh Tuất 1850, ngôi đền mới được khánh thành, là nơi thờ Vũ Công Uyên, Vũ Công Mật và Vũ Công Kỳ Tên đền được chọn là Đền Nghĩa Đô, cùng với đó đổi tên Mường Khuông thành Mường Nghĩa Đô Tên gọi Nghĩa Đô bắt đầu từ đó Đến tháng 7 - 1887, thực dân Pháp chiếm Lục Yên và thiết lập bộ máy cai trị mới ở khu vực này Trên cơ sở của bộ máy cai trị của chính quyền phong kiến cũ, thực dân Pháp đổi tên Mường Nghĩa Đô thành tổng Nghĩa Đô có địa giới gồm ba xã là: Xã Tân Tiến, xã Nghĩa Đô và xã Vĩnh Yên và thôn Vị Thượng của xã Xuân Hòa ngày nay [107; tr 9]
Trang 35Đến khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời , Ủy ban kháng chiến hành chính được thành lập , chính quyền cách mạng đổi tên tổng Nghĩa Đô thành xã Nghĩa Đô, gồm 7 thôn: Thôn Xắc Xa, Thôn Thượng, Thôn Kem, Thôn Hốc, Thôn Khuôn Hạ, Thôn Xuân Kỳ, Thôn Vị Thượng Đến tháng 3 năm 1954, xã Nghĩa Đô được tách ra làm 3 xã, gồm có: Xã Tân Tiến, xã Nghĩa Đô và xã Vĩnh Yên, đồng thời chuyển thôn Vị Thượng về xã Hòa Bình (thuộc xã Xuân Hòa ngày nay) [107; tr 10] Trước khi thành lập huyện Bảo Yên (năm 1965), xã Nghĩa Đô thuộc huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái Đến năm 1965, khi huyện Bảo Yên được thành lập, xã Nghĩa Đô thuộc huyện Bảo Yên, tỉnh Yên Bái Từ năm 1976 đến năm
1991, khi tỉnh Hoàng Liên Sơn được thành lập trên cơ sở hợp nhất ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái và Nghĩa Lộ, xã Nghĩa Đô trực thuộc huyện Bảo Yên, tỉnh Hoàng Liên Sơn Đến năm 1991, sau khi tái lập tỉnh Lào Cai, Nghĩa Đô lại trở thành đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai như ngày nay [107; tr 10]
Địa hình
Thung lũng Nghĩa Đô như một lòng máng khổng lồ nằm sâu trong lòng miền núi phía Bắc nước ta Địa hình Nghĩa Đô có thể chia thành năm loại địa hình Ở phía Tây, là các đỉnh núi, các dãy núi cao, điển hình là Khau Koum, 1143m, tiếng địa phương gọi là Pú Tham Thẩu Loại địa hình thứ hai là các lũng khe, lũng ngòi, là nơi cư trú lâu đời của đồng bào người Dao, tạo nên nhiều bản, nhiều xóm nhỏ nằm rải rác ở các vùng Đứng giữa cánh đồng mà nhìn lên các rặng núi xung quanh, những con suối, con khe như những máng nước gác lên sườn non, thượng nguồn thì cao, càng đến gần, cánh đồng càng thấp dần mà chân của nó là một bãi bằng ở đáy thung lũng Loại địa hình thứ
ba là các cao nguyên nhỏ, tương đối bằng phẳng, nối liền từ rặng núi này đến rặng núi kia như các cao nguyên Nặm Xoong, Tổng Kim, Nặm Đâu…, là nơi
cư trú của người H‟mông và người Dao Cũng ở dạng địa hình này, nhưng lại nằm giữa cánh đồng, nổi lên thành các quả gò, đồi nhô lên, ngăn cách giữa
Trang 36các khu dân cư, xóm bản riêng biệt, điển hình như khu rừng Pú Phi, khu đồi
Pú Kem, khu rừng Khau Rịa…hệ thống đồi núi này được người ta đặt tên cho
nó rồi tôn vinh các thần núi, thần gò, thần đống để tôn thờ, cầu mong các vị thần ấy phù hộ cho con người sống mạnh khỏe, hạnh phúc, bình an Loại địa hình thứ tư là cánh đồng ở đáy thung lũng, là nơi con người Nghĩa Đô khai phá, tạo lập để làm chỗ ở, nơi sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống con người, vật nuôi, tạo nên thôn, nên mường, nên tổng (nay là xã) Loại địa hình cuối cùng ở đây là các dòng khe, các con suối, con ngòi, hồ ao có nước chảy…tạo thành địa hình có mặt nước để nuôi trồng thủy sản
Đất đai
Đất đai ở Nghĩa Đô được hình thành do quá trình phong hóa đá mẹ đã để lại vùng đất không bằng phẳng Mặt khác nơi đây cũng còn được bồi đắp đất phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Chảy
Khí hậu
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa chung của các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, Nghĩa Đô có nhiều điểm khác với các vùng xung quanh Ở đây, đặc điểm của khí hậu tiểu vùng, tiểu lục địa được thể hiện rất rõ rệt Điều này là do sự phức tạp của địa hình mang lại Một năm có 4 mùa, tuy nhiên ở đây có hai mùa rõ rệt Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, nóng nhất vào tháng 6, tháng 7 Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, nhưng lạnh nhất vào tháng 1 Nhiệt độ trung bình là 29 độ, thấp nhất là 1 độ
Tổng lượng mưa trong năm dao động từ 1.450 đến 2.000mm Mùa mưa
từ tháng 5 đến tháng 10, trong đó mưa nhiều nhất vào tháng 7 và tháng 8 Lượng mưa trung bình 350mm đến 400mm, cao nhất là 600mm Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 2, lượng mưa trung bình khoảng 15mm đến 20mm Độ ẩm không khí toàn vùng khoảng 84 - 86%, có thời điểm độ ẩm cao nhất là 90% vào tháng 2 và tháng 3 Tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 11, tháng 12 chỉ đạt 80% Gió mùa ảnh hưởng yếu, thường đến chậm hơn vùng Bắc Bộ Hướng gió chủ yếu trong mùa hè và mùa đông là gió Tây và gió Đông, tốc độ
Trang 37gió yếu, sức gió mạnh nhất cũng ít gây tác hại đến hoạt động sản xuất của người dân Tuy nhiên hiện tượng lốc cục bộ vẫn thường xuyên xảy ra ảnh hưởng tới đời sống và sản xuất của người dân trong xã
2.1.2 Các dân tộc cư trú ở Nghĩa Đô
Nghĩa Đô là một vùng đất đã có người cư trú từ rất sớm Vào khoảng thế
kỷ XIII, vùng đất này có thổ hào họ Ma người Tày dấy binh nổi dậy liên kết với nghĩa quân các vùng chống quân Mông - Nguyên bảo vệ bờ cõi Đến thế
kỷ XIV, các tộc người ở vùng này chuyển đi nơi khác Sang thế kỷ XV, có ba anh em từ vùng đất Hà Giang đến đây đế lập nghiệp Nơi mà họ đến ở đầu tiên là Bản Đon, Pác Bó, Thâm Mạ ngày nay Sau khi tìm được vùng đất này,
ba người ấy chuyển cả gia đình, tài sản đến đây để cùng nhau khai phá vùng đất mới Trưởng tộc của họ đã quyết định rằng ở nơi này, sau này lấy tên của từng người làm họ cho con cháu mình Ba họ đó chính là họ Hoàng, họ Lương và họ Cổ, với cào cải lần lượt là màu trắng, màu vàng và màu tím5
Những cào cải này chính là dấu hiệu chứng tỏ quyền sở hữu của họ đối với vùng đất Nghĩa Đô Trải qua một quá trình lâu dài khai phá, sinh tồn và sản xuất vật chất, dân số vùng này đã tăng lên nhanh chóng, sinh sống ở hầu hết các khe suối, các thung lũng nhỏ rồi đặt tên là Bản Luông, thờ một vị thần chung trên núi Pú Phi Ba dòng họ Hoàng, Lương, Cổ chính là ba dòng họ người Tày gốc ở Nghĩa Đô, theo thỏi Tày6
6
Người Tày ở Nghĩa Đô có ba thỏi là: Thỏi Tày, Thỏi Keo (Thỏi Kinh) và Thỏi Ngô (Quan Hỏa- Trung Quốc) Thỏi ở đây nghĩa là nguồn gốc phát sinh của dân tộc mình, với nhiều dòng họ khác nhau, trong đó họ Hoàng, họ Ma và họ Cổ là 3 họ chính Bên cạnh đó hiện nay ở Nghĩa Đô còn có thêm họ Nguyễn, họ Lương, họ Hà, họ Lê, họ Nông,
Trang 38Đến đầu thế kỷ XVI, có một bộ phận người Việt từ vùng trung du theo chúa Bầu lên lập bản doanh ở Phúc Khánh (Phố Ràng) ngày nay, một cánh quân lên Nghĩa Đô ngày nay để xây thành Trong thời gian ở đây, người Việt
đã khai khẩn đất đai, sản xuất lương thực để phục vụ nhu cầu cho quân lính tại chỗ Số quân của chúa Bầu một phần lấy vợ là người Tày, một phần kết nghĩa anh em với người Tày ở đây, sinh sống cùng người bản địa và trở thành người Tày Thỏi Kinh (Thỏi Keo)
Dân tộc Dao ở Nghĩa Đô, theo dấu tích xưa, thì họ sinh sống trên những triền núi thấp, xung quanh thung lũng Theo một số người cao tuổi ở đây, hiện nay vẫn còn có nền nhà, các lối lên xuống trên phần đất của người Dao sinh sống Điều đó chứng tỏ rằng, tuy với số lượng cư dân ít ỏi, nhưng người Dao
đã sinh sống ở đây từ rất sớm
Các dân tộc khác di cư đến vùng đất này muộn hơn, trong đó người Kinh đến đây muộn nhất Người Kinh ở Nghĩa Đô đại đa số là các giáo viên đang công tác tại các trường tiểu học, phổ thông cơ sở và phổ thông trung học của
xã, chủ yếu đến từ thị trấn Phố Ràng và một số tỉnh miền Bắc như Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Yên Bái và Tuyên Quang Số ít người Kinh còn lại đang sinh sống
ở đây là những người làm nghề buôn bán, hoặc xây dựng, sau đó cưới vợ/chồng là người Tày và cư trú tại Nghĩa Đô
Trải qua một thời gian dài khai phá vùng đất này để sinh cơ, lập nghiệp, cũng như sự di cư của các tộc người khác, hiện nay Nghĩa Đô là nơi sinh sống của 5 dân tộc: Tày, Dao, Kinh, H‟mông và Nùng
Bảng 2.1: Thống kê dân số các tộc người ở xã Nghĩa Đô năm 2010
Trang 39Như vậy, dân tộc Tày vào năm 2010 gồm có 879 hộ, 4.852 khẩu, chiếm 98% tổng dân số toàn xã, 4 dân tộc còn lại chỉ chiếm 2%
Trên bình diện cả nước, Tày là một dân tộc thiểu số ở Việt Nam, thì ở nơi đây, người Tày lại là dân tộc đa số, là nhóm cư dân tạo nên những các hoạt động kinh tế và bản sắc văn hóa riêng biệt của Nghĩa Đô
2.2 Các dự án phát triển và sinh kế của người dân ở Nghĩa Đô từ những năm 1990 đến nay
2.2.1 Sinh kế của người dân Nghĩa Đô từ những năm 1990 đến nay
Trước những năm 1990, nguồn sinh kế chủ yếu của các hộ gia đình ở Nghĩa Đô là canh tác ruộng nương và khai thác các nguồn lâm sản từ rừng Trong nông nghiệp, trồng lúa nước có một vị trí quan trọng từ rất sớm và được duy trì, phát triển cho đến tận ngày nay Trải qua hàng thế kỷ khai phá
và cải tạo, diện tích đất trồng lúa nước ở xã từ chỗ chỉ có vài chục ha, đến nay
đã tăng lên 220ha, cộng với 230ha trồng hoa màu và 400ha vườn rừng [107;
tr 10] Ở thời điểm này, do những khó khăn trong giao thông đi lại, sản xuất nông nghiệp ở Nghĩa Đô mang nặng tính tự cung tự cấp
Trong thời kỳ Hợp tác xã, Đảng bộ và nhân dân Nghĩa Đô đã thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961- 1965) Sau đó, Đại hội lần thứ II của Đảng
bộ xã Nghĩa Đô (1966-1968) và Đại hội III (1968-1970) đã chú trọng củng cố hợp tác xã, phát triển nông nghiệp toàn diện, đầu tư thâm canh tăng năng suất Đến Đại hội VI (1976-1978), Đảng bộ xã Nghĩa Đô chú trọng đẩy mạnh phát triển nông- lâm nghiệp Đại hội VII (1979-1982), cho phép xã viên sản xuất lương thực trên đất 5%, mở rộng khai hoang phục hóa Đại hội VIII (1986-1988), Chính quyền xã Nghĩa Đô tiến hành khoán việc cho các hộ xã viên Năm 1990, xã Nghĩa Đô tiến hành giao đất ổn định và lâu dài cho các hộ xã viên [107; tr.60] Như vậy, nếu như ở khu vực đồng bằng, chủ trương giao đất
Trang 40cho các hộ gia đình xã viên đã được thực hiện từ năm 1988 thì phải 2 năm sau
đó chính sách khoán đất đến các hộ gia đình mới được triển khai tại Nghĩa Đô
Từ năm 1990 đến nay, tác động của chính sách giao đất cho các hộ gia đình cùng với tác động của hàng loạt các dự án phát triển được đầu tư vào Nghĩa Đô, sinh kế cũng như cuộc sống của người dân nơi đây đã có sự thay đổi rõ rệt Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 5141,34ha, được phân chia cu ̣ thể như sau:
Bảng 2.2: Các loại đất ở xã Nghĩa Đô
và cải thiện chất lượng của người dân Nghĩa Đô Tuy nhiên, sự trao đổi chủ yếu vào những năm 90 của thế kỷ XX là những sản phẩm nông- lâm nghiệp, những mặt hàng quan trọng khác như điện tử, đồ gia dụng thì người dân vẫn phải xuống thị trấn Phố Ràng để mua bán, trao đổi Chỉ đến khi khu trung tâm
xã được xây dựng, đặc biệt là việc xây dựng chợ trung tâm cụm xã vào năm
1998 thì tính hàng hóa, dịch vụ của các sản phẩm ở nơi đây mới được thể hiện