Văn học Việt Nam kể từ sau 1975 đã bước sang một thời kì mới, với sự bừng nở của văn xuôi.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Văn học Việt Nam kể từ sau 1975 đã bước sang một thời kì mới, với
sự bừng nở của văn xuôi Đặc biệt là từ giữa thập kỉ 80, khi ý thức văn hoá mớihình thành, hệ hình giá trị biến đổi thì văn học đã thực sự chuyển sang mộthình thái khác trước đánh dấu một bước phát triển mới trong lịch sử văn họcdân tộc Văn xuôi đóng vai trò chủ đạo trong bước ngoặt của dòng chảy hiệnđại ấy Tuy vậy, cho đến nay tình hình nghiên cứu văn xuôi thời kì này đangcòn hết sức bề bộn Thực trạng ấy, trước hết có nguyên nhân từ chính sự phứctạp của thực tiễn văn học Sự đổi mới diễn ra sôi nổi song cũng rất phức tạp,vận động tiếp diễn còn trải qua hết thế kỉ XX và chưa ngưng nghỉ trong nhữngnăm đầu thế kỉ XXI này Mặt khác, nhận thức về lí thuyết phương pháp nghiêncứu càng ngày càng được đổi mới Sự đa dạng của phương pháp đem lại sinhkhí mới cho nghiên cứu đồng thời cũng đặt ra nhiều thử thách và cần có thờigian thử nghiệm Có thể nói, văn xuôi Việt Nam sau 1975 vẫn đang là một đốitượng cần được tiếp tục nghiên cứu trên nhiều phương diện
1.2 Sáng tạo văn học là sáng tạo ra những giá trị thẩm mĩ Văn học đổi
mới, tất nhiên các giá trị thẩm mĩ không thể không thay đổi Sự đổi mới củavăn học Việt Nam sau 1975 nói chung, văn xuôi nói riêng càng chứng tỏ mạnh
mẽ cho quy luật đó Vì vậy, muốn nắm bắt được đặc trưng của văn xuôi thời kìvăn học này không thể không nghiên cứu hệ thống thẩm mĩ mới của nó
Tiếp cận văn xuôi Việt Nam sau 1975 trên phương diện thẩm mĩ là mộthướng nghiên cứu mới Bản thân sự đang dạng của văn xuôi thời kì này đòi hỏichúng ta phải cởi mở, linh hoạt trong quan điểm nghiên cứu Các khái niệm,phạm trù lí thuyết thẩm mĩ vốn đã được định hình từ lâu trong lịch sử cần phảiđược bổ sung, phong phú thêm để đáp ứng thực tế đó Nghiên cứu sự đa dạng
Trang 2thẩm mĩ của văn xuôi sau 1975, như vậy cũng sẽ tạo ra những cơ hội tìm tòi,vận dụng, qua đó nâng cao sự hiểu biết cũng như tích cực hơn trong thửnghiệm, cập nhật những tri thức lí thuyết mới.
ở phương diện thực tiễn nghiên cứu, mặc dù việc nắm bắt những phẩm chấtthẩm mĩ mới tất yếu đã được tiến hành trong quá trình đánh giá, khái quát vềbản chất đổi mới của văn xuôi Việt Nam sau 1975 Có khi việc phân tíchnhững biểu hiện thẩm mĩ mới của văn xuôi thời kì này đã được chú ý ở nhữngkhía cạnh nhất định Nhưng cho đến nay chưa có công trình nào đi vào nghiêncứu chuyên biệt sự chuyển đổi hệ thống thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau
1975
Hơn nữa, mọi nỗ lực nhằm trả lời câu hỏi Đâu là đặc trưng thẩm mĩ của
văn xuôi Việt Nam sau 1975? không chỉ có ý nghĩa với quá khứ văn học mà
còn giúp ra nhận thức cái bây giờ, đang tiếp diễn của xu hướng thẩm mĩ hiệntại trong văn xuôi, từ đó góp phần tìm lời giải cho những câu hỏi lớn của vănhọc đương đại, của thị hiếu và hoạt động tiếp nhận thẩm mĩ hiện đại
1.3 Văn xuôi Việt Nam sau 1975 có mặt ở hầu hết các chương trình giáo
dục: từ Trung học Cơ sở, Trung học Phổ thông đến Cao đẳng, Đại học chuyênngành Ngữ văn hoặc có liên quan như Việt Nam học Những kết quả nghiêncứu đã có vẫn cần được tiếp tục mở rộng, đào sâu để phục vụ tốt hơn cho cácnhiệm vụ giáo dục nói trên Như vậy, về nhu cầu ứng dụng, nghiên cứu đặctrưng thẩm mĩ của văn xuôi thời kì này là rất lớn, đòi hỏi người học, ngườinghiên cứu và giảng dạy đối tượng văn học này phải có thêm những góc nhìn
về đặc điểm, thành tựu của một thời kì văn học đang còn mang tính thời sự;qua đó, tích cực hoá hoạt động đối chiếu, kiểm nghiệm, điều chỉnh, làm giàuthêm những kinh nghiệm, những tri thức lí luận trên cơ sở một đối tượng ứngdụng mới
Trang 3Từ những lí do trên, có thể khẳng định việc nghiên cứu đề tài Sự đa dạng
thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975 là có tính cấp thiết cả về thực tiễn
và lí luận
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Vấn đề Sự đa dạng thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975 là một đề tài
nghiên cứu mới Văn xuôi Việt Nam sau 1975 đã được nghiên cứu ở nhữngphương diện tổng quan Những nghiên cứu ở cấp độ cụ thể chủ yếu về thipháp tác giả, tác phẩm Có một số chuyên luận, luận văn, bài nghiên cứu trựctiếp bàn đến đặc trưng thẩm mĩ của văn xuôi giai đoạn này nhưng chỉ ở phạm
vi từng vấn đề cục bộ
2.1 Văn xuôi Việt Nam sau 1975 đã được quan tâm nghiên cứu trên những phương diện tổng quát và sự đa dạng, những đổi mới hệ thống giá trị của nó đã bước đầu được đề cập đến.
Đời sống văn học đã trải qua hơn ba mươi năm sau ngày giải phóng thốngnhất đất nước Văn xuôi trở thành một bộ phận chủ lưu trong dòng chảy đổimới kể từ sau 1975 Tính đa dạng của văn xuôi đã được đề cập đến ở nhiềuphương diện
Năm 1995, trong Hội thảo Việt Nam nửa thế kỉ văn học, trong tham luận
Bước tiếp chặng đường nửa thế kỉ văn học cách mạng Việt Nam, Diệp Minh
Tuyền đã mạnh mẽ khẳng định: “Đổi mới văn học đích thực là quá trình đadạng hoá văn học”[293;277] Tuy nhiên, đa dạng hoá ra sao thì tác giả thamluận này chưa nói rõ
Nguyễn Văn Long trong bài Về cách tiếp cận để đánh giá văn học Việt
Nam sau Cách mạng tháng Tám khái quát: “Từ sau tháng 4 – 1975, nhất là từ
giữa thập kỉ 80 trở lại đây, những biến đổi to lớn của đời sống xã hội đã đưađến sự thay đổi các thang chuẩn quan trọng khi nhìn nhận các giá trị của cuộc
Trang 4sống và của cả văn học nghệ thuật.”, “Con người được mô tả trong tất cả tính
đa dạng, đa chiều của nó đã tạo thành nét chính trong sự định hướng về giá trịvăn học của công chúng hôm nay Nói khác đi, tinh thần dân chủ và cảm hứngnhân bản là những đặc điểm nổi bật của văn học thời kì đổi mới.”[294;22].Trong một bài viết khác gần đây hơn, nhà nghiên cứu tiếp tục chỉ ra nhữngđặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ sau 1975: “Văn học vận động theohướng dân chủ hoá”, “Sự thức tỉnh ý thức cá nhân trên cơ sở tinh thần nhânbản là nền tảng tư tưởng và cảm hứng chủ đạo, bao trùm của nền văn học từsau 1975”, “Văn học phát triển phong phú, đa dạng, hướng tới tính hiện đại”.Ông đã đề cập đến sự đa dạng của văn học ở các bình diện “đa dạng về đề tài,phong phú về thể loại, nhiều tìm tòi về thủ pháp nghệ thuật, đa dạng về phongcách và khuynh hướng thẩm mĩ.”[217;16] Từ đó, tác giả đã bàn cụ thể hơn vềđặc điểm của văn xuôi, cho rằng văn xuôi sau 1975 có “khuynh hướng nhậnthức lại”, “Khám phá đời sống muôn vẻ trong cái hằng ngày, trong các quan
hệ thế sự và đời tư” và nhận định về những đổi mới của văn xuôi đã “mở rộngquan niệm về hiện thực đi liền với đổi mới quan niệm nghệ thuật về conngười, đổi mới nghệ thuật trần thuật và ngôn ngữ, giọng điệu”[217;18-19]
Từ sự phân tích lịch sử ý thức văn hoá của văn học cách mạng Việt Namsau 1945, Trần Đình Sử nhận định: “Trong thời kì đổi mới, xây dựng đất nướctrong điều kiện hoà bình, mở rộng giao lưu, kinh tế thị trường các giá trị cộngđồng dân tộc vẫn còn nguyên ý nghĩa Nhưng mặt khác hệ thống giá trị của vănhọc cách mạng thời kì qua không còn đáp ứng đầy đủ nhu cầu văn hoá mở rộng
đa dạng của thời bình.”[348;307] Ông cho rằng “văn học sau 1975, nhất là sau
1987 có một sự bùng nổ về ý thức cá tính nhằm lập lại thế cân bằng giữa ý thức
cá nhân và ý thức cộng đồng Sự tiến bộ của văn học là một quá trình khôngngừng làm giàu mãi lên những phẩm chất mới, không ngừng khơi sâu, mở rộngthêm quan niệm về con người và hiện thực.”[294;35]
Trang 5Nguyễn Thị Bình trong bài Mấy nhận xét về nhân vật của văn xuôi Việt
Nam sau 1975 đưa ra nhận định về sự đa dạng của văn xuôi từ góc độ quan
niệm nghệ thuật: “Từ năm 1986 trở đi, sự đổi mới văn xuôi mới thật sự diễn
ra ở bề sâu với một quan niệm đa dạng, nhiều chiều về đời sống.”[294;219]
Cũng tác giả này trong luận án Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt
Nam sau 1975 đã đề cập đến tính nhiều khuynh hướng của văn xuôi đổi mới
trong so sánh với văn xuôi trước 1975: “Văn xuôi từ sau 1975 dần dần xuấthiện tính nhiều khuynh hướng do những tư tưởng khác nhau về hiện thực.”,
“Một quan niệm đa dạng và nhiều chiều về con người cũng phù hợp với tinhthần tư duy của thời đại khoa học và tạo điều kiện cho văn học nước ta hoànhập với văn học thế giới.”[28;23-86] Đôi chỗ, tác giả luận án có gợi đến sự
đa dạng thẩm mĩ: “một quan niệm của thời đại có khả năng dung nạp nhiềugiá trị thẩm mĩ khác nhau, nhiều yếu tố cách tân, cải biến, kể cả một số yếu tốvốn lạ lẫm với kinh nghiệm truyền thống.”, “các nhà văn đã bước đầu xác lậpđược một hệ thống tiêu chí giá trị phù hợp với con người trong thời đạimới”[28;42-86]
Nguyên Ngọc, trong bài Văn xuôi Việt Nam hiện nay – lôgic quanh co của
các thể loại, những vấn đề đang đặt ra và triển vọng, đã phân tích dòng chảy
của văn xuôi sau 1975 qua những điểm mốc cách tân, vừa tổng kết vừa đặt ravấn đề cho tương lai văn học, ông viết “Văn học đang muốn trở nên đa dạnghơn Đang có những cố gắng tìm cách nói mới để soi rọi được hiện thực xãhội ngày càng trở nên hết sức phức tạp.” [217;180]
Như vậy, mặc dù tính cách tân của văn xuôi trong vận động chung của vănhọc Việt Nam sau 1975 đã được đánh giá tổng quát theo những hướng tiếp cậnkhác nhau, sự đa dạng cũng đã được đề cập đến, song hầu như chưa có trựctiếp bàn đến đặc trưng đa dạng hoá, với những phẩm chất thẩm mĩ cụ thể
Trang 62.2 Hướng nghiên cứu thẩm mĩ, sự chuyển đổi các phạm trù thẩm mĩ, đã
xuất hiện trong những phân tích về vị thế, tính chất của cái bi và cái hài.
Trong bài viết Nhìn lại những bước đi, lắng nghe những tiếng nói, La
Khắc Hoà đã so sánh và chỉ ra sự khác biệt giữa văn học trước và sau 1975:
“Trước 1975, văn học sử thi đặt ra những vấn đề mang tầm vóc lịch sử, liênquan tới vận mệnh và sự sống còn của cả dân tộc Nó bổ đôi thế giới, chia thếgiới thành hai nửa địch và ta đối đầu với nhau như nước với lửa, sống vớichết.”, “Khi tiếng nói sử thi lắng xuống, thì tiếng nói thế sự vang lên.”, “Vănhọc sau 1975 nói thật to cái sai, cái xấu và cả cái ác trong nội bộ chúng ta,giữa chúng ta với nhau.”[217;61-62] Nhà nghiên cứu đã chỉ ra những điểmđổi mới của văn học sau 1975 ở những phạm trù thẩm mĩ cụ thể: “Không nênnghĩ, văn học sau 1975 chỉ nói tới cái phàm tục dơ dáng, méo mó nghịch dị.”,
“Sau 1975, văn học nói rất to về vẻ đẹp phồn thực của cuộc đời trầnthế.”[217;63] Nhà nghiên cứu cho rằng trước 1975, văn học sử thi nói tới cáiđẹp, cái hùng là để khẳng định sự hợp lí tuyệt đối của tồn tại, khác với vănhọc sau 1975, khi tiếng nói thế sự vang lên đãi làm nổi bật sự vô lí, phi lí hiệnđang tồn tại trên đời Từ những sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, tác giả bàiviết đã khái quát hết sức sâu sắc: “Mọi thiết chế xã hội được bày ra, tất thảyđều chật hẹp hơn khát vọng nhân bản miên viễn của nhân loại Cái bi, cái hàicủa cõi nhân sinh có cả ở đấy, mọi sự thanh cao giữa cõi đời trần tục Càng đitìm cái đẹp, cái đẹp càng tuột khỏi tầm tay, và ta thì hoá thành ma quỷ hoàtrộn vào môi trường tồn tại của chính bản thân mình Cho nên, dù viết về cái
méo mó, nghịch dị, tà nguỵ ma quái, hay cái đẹp, cái xinh, thì văn học thế sự
sau 1975 vẫn là tiếng nói thể hiện khát vọng đổi mới xã hội của nhân dân.”,
“Văn học đổi mới không thể cất lên thành tiếng hát Cái vô lí, phi lí, chất vănxuôi và vẻ đẹp của đời sống phồn tạp chỉ có thể hoá thân vào tiếng cười tràotiếu, giễu nhại để văn học thế sự biến thành tiếng nói nghệ thuật.”, “Sau 1975,
Trang 7văn học thế sự chuyển tiếng nói thành tiếng cười trào tiếu, giễu nhại Tiếngcười giễu nhại, trào tiếu mở đường cho văn xuôi phát triển, tạo môi trường đểvăn xuôi nói to hơn thơ.”[217;64-66-69] Như vậy, sự so sánh lịch sử thẩm mĩ
đã đưa đến những nhận định thuyết phục, khá toàn diện về hệ thống thẩm mĩmới của văn học sau 1975 nói chung, văn xuôi nói riêng Từ bài viết này, vấn
đề đa dạng hoá thẩm mĩ đã được xới xáo, gợi mở
Phong Lê, trong bài Văn học Việt Nam trước và sau 1975 – nhìn từ yêu
cầu phản ánh hiện thực trực diện hơn khi đề cập đến những biểu hiện thẩm mĩ
của văn học đổi mới trong sự so sánh lịch sử Tác giả đưa ra định đề “Cái hàibên cái bi và một giai đoạn mới của văn học” để khái quát đặc trưng thẩm mĩnổi bật của văn học sau 1975 nói chung, văn xuôi nói riêng Ông viết: “Thếnhưng dẫu toàn bộ nền văn học mới đã chuyển sang âm điệu nghiêm trang, thìcuộc sống, trong lẽ tồn tại bình thường của nó lúc nào cũng cần có cái hài vàtiếng cười.” Ông cho rằng sự “nghiêm trang” của văn học cách mạng “dầndần trở thành không tự nhiên”, bởi “cái cười, nhu cầu cười” là một nhu cầubình thường của cuộc sống: “Nhu cầu trở lại bình thường ấy dường như đãdiễn ra vào thập niên cuối của thế kỉ XX, tính từ công cuộc đổi mới ” Phong
Lê cũng đã nói đến một “hệ thẩm mĩ mới”, và theo ông cái hài và cái bi chính
là một cặp tạo nên sự cân đối, hài hoà cho hệ thẩm mĩ mới ấy: “Nhưng bêncái hài còn cái bi? Cũng đã quá lâu trong văn học chúng ta vắng thiếu hẳn cái
bi, mà chỉ ưu tiên cho cái mực thước, nghiêm trang, trong khi nó chính là sựtồn tại hai mặt và nhiều mặt của cuộc sống con người; và do vậy, nó cũng cóquyền chính đáng được tồn tại Nếu có cái bi, ta chỉ cho phép nó tồn tại ởdạng bi kịch lạc quan Nhưng bi còn là buồn, là thất vọng, là thất bại Ta sợcon người vì thế mà nhụt chí Nhưng cuộc sống lúc nào cũng vậy, nếu có cảvui và buồn thì cái buồn vẫn cứ tồn tại ”[217;94-95]
Cái bi và cái hài cũng đã được Nguyễn Thị Bình nói đến như một trong
Trang 8những biểu hiện của “xu hướng nhạt dần chất sử thi tăng dần chất tiểu thuyết”của văn xuôi sau 1975: “Nhiều người nhận xét rằng văn xuôi nước ta từ 1945– 1975 né tránh cái bi, kể cả cái bi hùng, bi tráng Điều đó có lí do chính đáng
ở hoàn cảnh lịch sử cụ thể và phần nào cả ở một quan niệm còn hẹp hòi vềvăn học Thực tế, cảm hứng sử thi, nhìn nhận, đánh giá hiện thực theo tiêu chícộng đồng cũng khó có chỗ đứng cho những cái bi.” Theo đó, tác giả này nóiđến “bi kịch của cá nhân bị những lực lượng giả danh cộng đồng đè bẹp”, “bikịch khủng hoảng niềm tin”, “bi kịch của nghệ thuật chân chính không tìmđược tri âm”, “bi kịch hạnh phúc”[28;103] Còn cái hài được Nguyễn ThịBình lưu ý là cái hài đời, không phải chất hài hước
Nói đến sự đổi mới cái nhìn đối với chiến tranh, Trần Đình Sử từng chorằng: “Văn học đã nói nhiều tới tính chính nghĩa, tính anh hùng, tính cáchmạng của cuộc chiến tranh nhưng chưa có gì đáng kể về tính tàn bạo, tính huỷdiệt, bi thảm của nó, những tính chất không chỉ thể hiện ở cái chết nơi chiếntrận, mà còn mở rộng thành cái chết trong tâm hồn… Có thể nói các tác giả đãlộn trái cuộc chiến tranh ra, để ta được nhìn vào cái phía trong bị che khuất,
để lấp một chỗ trống chưa được lấp”[289]
Nhà văn Hồ Phương bàn đến “sự trở về nguyên lí: “Văn học là nhân học””với sự khai thác cái bi trong văn học sau 1975: “Để đi sâu vào số phận conngười, không ít tác giả đã chăm chú viết về các bi kịch cá nhân nằm trong bikịch chung của dân tộc trong cuộc chiến Qua những bi kịch ấy, tính cách và bảnngã của con người đã được bộc lộ rõ”, “càng đi sâu vào con người, văn học tacàng gần tới bản chất của cuộc sống, do đó tính nhân văn cũng caohơn.”[294;134]
Tôn Phương Lan đã gián tiếp nói đến cái bi trong văn xuôi sau 1975 trong
sự so sánh với cái hùng trong văn học chiến tranh như một sự đổi mới về
Trang 9hướng tiếp cận đối với hiện thực: “Cái hào hùng của chiến tranh không còn làđối tượng duy nhất để quan sát và miêu tả Tinh thần của cuộc chiển tranhnhư là cái cốt lõi làm nên tính tư tưởng của nhiều tác phẩm sáng giá và điều
đó không hề hạn chế việc các nhà văn có thể đi sâu vào những mất mát, đauthương của dân tộc, của các số phận người dân.”[293;425]
Có ý kiến lại cho rằng không nên tuyệt đối hoá khi đem cái bi ra để đối lậpvới thẩm mĩ của văn học chiến tranh Chẳng hạn như ý kiến của Nguyễn Tri
Nguyên trong bài Cân bằng và hướng nội – một xu hướng của văn học thời kì
đổi mới: “nhà văn trình bày cái ngày thường và nỗi đau của con người trong
tương quan với chủ nghĩa anh hùng từ cái nhìn của những vấn đề xã hội hiệnthời (tác phẩm của Lê Lựu, Triệu Bôn, Nguyễn Trí Huân, Chu Lai, KhuấtQuang Thuỵ ) ( ) Khuynh hướng tìm sự cân bằng và hướng tới sự hài hoàtrong sự phát triển của văn học, không có nghĩa là, trong chiến tranh người tamôi tả cái hùng, còn trong thời bình thì mô tả cái bi, hoặc cường điệu cái bi.Khuynh hướng này đòi hỏi mô tả cuộc sống con người trong chiến tranh, trungthực và có tính nghệ thuật, trên con đường dẫn tới chủ nghĩa anh hùng cũngnhư phải trải qua những trạng huống bi kịch.”[293;202]
Cái hài trong văn xuôi đổi mới cũng đã được chú ý Tiêu biểu là nhận định
của Lã Nguyên trong tiểu luận Những dấu hiệu của Chủ nghĩa Hậu hiện đại
trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài Nhà nghiên cứu đã đặt ra vấn đề khái quát về bản chất của văn học đổi
mới từ phạm trù “hậu hiện đại”: “muốn khái quát quy luật vận động của văn họcViệt Nam sau 1975, có lẽ phải tìm đến một số phạm trù mĩ học mang ý nghĩatổng thể Một phạm trù mang ý nghĩa tổng thể như thế, tôi nghĩ, giờ đây chỉ cóthể là phạm trù “hậu hiện đại” Từ một cách tiếp cận như thế, Lã Nguyên đãphát biểu quan điểm về những biểu hiện độc đáo của văn xuôi sau 1975: “Cóthể gọi Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn của những câu chuyện về cái “trớ trêu”
Trang 10Từ trong chiều sâu mạch văn, người đọc thấy toát lên một tinh thần cốt lõi: “trớ
trêu” vừa là chuyện cực kì tàn nhẫn, vừa là chuyện nực cười: nực cười trước cái
vô lí, phi lí gợi ra cảm giác về cái vô nghĩa của đời sống Nguyễn Huy Thiệp có
truyện ngắn Đời thế mà vui Tôi nghĩ, những cái nhan đề như “Nực cười”, hoặc
“Đời thế mà vui” hoàn toàn phù hợp với nội dung có dễ đến quá nửa số truyệnngắn của Nguyễn Huy Thiệp ý tôi muốn nói, phạm trù thẩm mĩ trung tâm trong
sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp là cái hài hước, nghịch dị Đây là chỗ khác
nhau cơ bản giữa Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài so với các nhà văn đổimới văn học theo hướng phản sử thi.”[136] Như vậy, từ cái hài và cái phi lí,nhà nghiên cứu đã chỉ ra hai khuynh hướng thẩm mĩ cơ bản của văn xuôi sau
1975 Một lần nữa, nhà nghiên cứu đã lột tả đặc trưng thẩm mĩ của văn xuôi sau
1975 và gợi ra vấn đề sự tương tác thẩm mĩ giữa các phạm trù khác nhau Cùngvới hướng tiếp cận này, Đào Tuấn ảnh đã có những lí giải thuyết phục về cơ sởxuất hiện của yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam khi tiến hành so sánh
tương đồng với văn xuôi Nga Từ đó, tác giả của bài viết Những yếu tố Hậu
hiện đại trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn xuôi Nga nhận định:
“Tính “suồng sã” chính là “đích danh thủ phạm” gây nên sự bất bình, phảnkháng của người đọc cùng thời (kể cả người đọc lí tưởng – nhà lí luận, phêbình), vốn quen với nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa đoan trang khôngbiết cười, đối với các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm ThịHoài.”[10]
Cái hài trong văn xuôi Việt Nam cũng đã được tìm hiểu trong luận văn
Tiếng cười trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 của Nguyễn Thị Thuý
Hằng Tác giả luận văn đã bàn đến cái hài trên cơ sở các vấn đề: tiếng cườitrong truyền thống văn học dân tộc; tiếng cười và cảm hứng phê phán; tiếngcười và nhu cầu đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người, tư tưởng; tiếngcười và nghệ thuật trần thuật Tác giả kết luận rằng tiếng cười “phản ánh
Trang 11khát vọng dân chủ và quy luật phát triển theo hướng dân chủ hoá của vănhọc, xác lập tư thế mới của nhà văn và bạn đọc”, “Bằng tiếng cười, văn xuôinói chung, truyện ngắn nói riêng đã phản ánh một trình độ nhận thức đờisống có chiều sâu, những trăn trở mang tinh thần công dân tích cực trướctình trạng tha hoá của con người.”[115;123] Tuy nhiên, cái hài – tiếng cười
đã không được tiếp cận trong quan điểm đa dạng hoá thẩm mĩ, vì thế nhữngsắc thái và ý vị sâu sắc của cái hài trong tương tác với các phẩm chất thẩm mĩkhác chưa được chú ý làm rõ
Tóm lại, các phạm trù thẩm mĩ cơ bản tạo nên phẩm chất thẩm mĩ mớicủa văn xuôi Việt Nam sau 1975 bước đầu đã được đề cập Có một số côngtrình đã chuyên biệt đi vào nghiên cứu các phạm trù thẩm mĩ song chưa đặttrong cái nhìn về bản chất đa dạng hoá của hệ thống thẩm mĩ mới Các ýkiến chủ yếu xoay quanh hai phạm trù cái bi và cái hài như là sự khác biệtgiữa văn xuôi trước và sau 1975 Có ý kiến đã đẩy đến việc xem xét nhữngyếu tố thẩm mĩ độc đáo từ cái hài và cái phi lí Nhìn chung, hệ thống thẩm
mĩ mới của văn xuôi sau 1975 vẫn chưa được tiếp cận nghiên cứu một cáchchuyên biệt và toàn diện
Chúng tôi sẽ kế thừa các kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài để
tiến tới làm rõ Sự đa dạng hoá thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi của đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án lấy văn xuôi Việt Nam sau 1975 làm đối tượng khảo sát Có thểxem toàn bộ văn học sau 1975 là khách thể nghiên cứu của luận án và cũng có
thể quan niệm văn xuôi sau 1975 là cấp độ khách thể hẹp hơn của đề tài Đối
tượng nghiên cứu của luận án là hệ giá trị thẩm mĩ mới của văn xuôi Việt
Nam sau 1975 với những biểu hiện cụ thể ở các phạm trù cái đẹp, cái cao
Trang 12cả, cái bi, cái cảm thương, cái hài, cái phi lí
thành luận án Tiểu thuyết và truyện ngắn không phải toàn bộ nội hàm của
khái niệm văn xuôi Nhưng rõ ràng, đây là hai thể loại trung tâm làm nên diệnmạo của văn xuôi Việt Nam sau 1975 Ngoài ra còn có kí sự, tuỳ bút nhữngthành tố góp phần tạo nên vận động đổi mới Chúng tôi không loại trừ songchỉ mở rộng khảo sát đến chúng trong những trường hợp cần thiết, ở nhữngphẩm chất thẩm mĩ mà các thể loại này có đóng góp quan trọng
Thực tiễn văn học luôn phong phú, đa dạng hơn hệ thống lí thuyết về vănhọc, nhất là văn học ở những giai đoạn diễn ra chuyển biến mạnh mẽ Nghiêncứu sự đa dạng thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975 tất nhiên cũng gặpphải những khó khăn trên phương diện lí thuyết Bởi lẽ, những phẩm chấtthẩm mĩ mới cần phải được định danh bằng các phạm trù lí thuyết; trong khi,một mặt có những phạm trù lí thuyết phổ biến, với nội hàm vốn đã được định
hình từ lâu trong lịch sử (như cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái hài), trên thực tế
vận dụng, đã bộc lộ những hạn chế so với sự đa dạng, cái mới mẻ của thựctiễn, mặt khác có những phạm trù chưa được sử dụng phổ biến, chưa đượcnghiên cứu thấu đáo nên việc vận dụng vào thực tiễn sẽ gặp nhiều trở ngại
(như cái cảm thương, cái phi lí) Với thực trạng này, để có thể thực hiện được
Trang 13nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi lựa chọn hướng xử lí như sau: 1/Đối vớinhững phạm trù đã phổ biến, chúng tôi sẽ linh hoạt trong việc cập nhật, bổsung sao cho phù hợp với phẩm chất thẩm mĩ của đối tượng nghiên cứu;2/Đối với những phạm trù còn chưa phổ biến, chúng tôi sẽ cố gắng nắm bắttrên cơ sở những nhận định đã có với các trường hợp ứng dụng đã được tiếnhành Như vậy, việc nghiên cứu đề tài cụ thể này cũng là một dịp để thửnghiệm trong khả năng có thể góp phần làm sáng tỏ thêm các khái niệm từ thựctiễn
Chúng tôi quan niệm đặc trưng thẩm mĩ của một đối tượng nào đó đượcbiểu hiện ra ở các phạm trù thẩm mĩ và ở mối tương tác, chuyển hoá giữa cácphạm trù trong hệ thống thẩm mĩ
Để thấy được sự đổi mới thẩm mĩ của văn xuôi sau 1975, không thể khôngđặt nó trong cái nhìn so sánh lịch sử Vì vậy, việc đối chiếu với đặc trưng thẩm
mĩ của văn học trước 1975 sẽ được thực hiện theo mục tiêu cụ thể của từng vấnđề
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục tiêu của đề tài
Phân tích, khái quát về sự đa dạng thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau
1975 theo các phạm trù thẩm mĩ và tương tác, chuyển hoá giữa các phạm trù
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khảo sát các tác phẩm văn xuôi tiêu biểu từ sau 1975 đến 2006; phântích, khái quát các phẩm chất thẩm mĩ nổi bật
- Xác định các khái niệm công cụ: đa dạng thẩm mĩ, cái đẹp, cái cao cả,
cái bi, cái cảm thương, cái hài, cái phi lí
- Trình bày các luận điểm về sự đa dạng hoá thẩm mĩ của văn xuôi ViệtNam sau 1975
Trang 145 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích thẩm mĩ: Để làm rõ sự đa dạng thẩm mĩ của văn
xuôi Việt Nam sau 1975, không thể không phân tích những phẩm chất thẩm
mĩ của nó Phương pháp phân tích thẩm mĩ có thể được vận dụng đối vớinhiều cấp độ của đối tượng và chỉ có thể được tiến hành khi kết hợp với cácphương pháp khác
- Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Thi pháp học hiện đại đã được ứng
dụng nghiên cứu thành công ở Việt Nam Văn học, qua sự cắt nghĩa thi pháp đãbộc lộ được bản chất sáng tạo trong tính quan niệm, giá trị sâu sắc của bản thểvăn chương Những biểu hiện của thi pháp tác phẩm, tác giả, lịch sử văn học làcăn cứ để xác thực những biểu hiện thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Nghiên cứu sự đa dạng cần đồng thời
với một cái nhìn về hệ thống thẩm mĩ mới của văn xuôi Việt Nam sau 1975.Cái nhìn hệ thống cũng sẽ giúp chúng tôi lí giải sự tương tác, chuyển hoá giữacác phẩm chất thẩm mĩ
Ngoài ra chúng tôi sử dụng các phương pháp khác như so sánh, phân loại,thuyết minh,… như những thao tác thường xuyên
6 Những đóng góp mới của luận án
(1) Lần đầu tiên phân tích trực tiếp sự đa dạng thẩm mĩ của văn xuôi ViệtNam sau 1975 Từ đó, chỉ ra những biểu hiện nổi bật của văn xuôi Việt Namsau 1975 ở từng phạm trù thẩm mĩ, qua đó khẳng định về bản chất đổi mới của
nó Qua việc nghiên cứu hệ thống thẩm mĩ của văn xuôi đem đến những cơ sởmới cho việc lí giải sự đổi mới cùng vận động tiếp diễn của văn học Việt Nam
kể từ sau 1975
(2) Bước đầu hệ thống hoá các khái niệm lí thuyết về thẩm mĩ và gópphần làm rõ hơn các khái niệm đó trong quá trình vận dụng vào phân tích một
Trang 15đối tượng cụ thể.
(3) Kết quả nghiên cứu có thể dùng cho việc nghiên cứu, học tập và giảngdạy bộ môn lí luận văn học, văn học Việt Nam hiện đại
7 Giới thiệu bố cục luận án
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận án được cấu trúc thành 4 chương:
- Chương 1 (Từ trang 19 đến trang 46): Sự thay đổi hệ thống giá trị
thẩm mĩ trong văn học Việt Nam sau 1975;
- Chương 2 (Từ trang 47 đến trang 95): Các sắc điệu của cái đẹp và cái
cao cả trong văn xuôi Việt Nam sau 1975;
- Chương 3 (Từ trang 96 đến trang 137): Các hình thái của cái bi và cái
cảm thương trong văn xuôi Việt Nam sau 1975;
- Chương 4 (Từ trang 138 đến trang 185 ): Những biểu hiện của cái hài
và cái phi lí trong văn xuôi Việt Nam sau 1975.
Trang 16Chương 1
SỰ THAY ĐỔI HỆ THỐNG GIÁ TRỊ THẨM MĨTRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU 1975
1.1 Bối cảnh lịch sử – xã hội và nhu cầu thay đổi hệ thống giá trị
1.1.1 Bối cảnh lịch sử – xã hội mới
Đại thắng mùa Xuân năm 1975 đã thành một dấu mốc, để từ đây một thời
kì mới trong lịch sử dân tộc bắt đầu Đất nước hoà bình, đời sống xã hội vậnđộng trong tính “bất thường” của thời hậu chiến, từng bước tiến tới lộ trìnhphát triển toàn diện, “bình thường” của một xã hội hiện đại
Sau khi chiến tranh chấm dứt, Đại hội toàn quốc lần thứ IV của ĐảngCộng sản Việt Nam (1976) đã chỉ ra đường lối: “Có chủ nghĩa xã hội, Tổ quốc
ta mới có kinh tế hiện đại do đó bảo đảm cho đất nước ta vĩnh viễn độc lập tự
do và ngày càng phát triển phồn vinh.”[64, 41] Đại hội cũng đề ra phươnghướng, nhiệm vụ và mục tiêu của kế hoạch nhà nước 5 năm (1976 - 1980): xâydựng một bước cơ sở vật chất - kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, bước đầu hìnhthành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước với bộ phận chủ yếu là cơ cấu công -nông nghiệp, cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân laođộng Trên thực tế, một mặt, do nền kinh tế vốn nghèo nàn, lạc hậu lại bị chiếntranh tàn phá liên miên, cộng thêm chính sách cấm vận của Mĩ; mặt khác, donhững hạn chế trong chủ trương cải tạo, xây dựng kinh tế cho nên nhìn chungthời kì này kinh tế - xã hội đất nước chưa thoát khỏi tình trạng khủng hoảng.Đời sống văn hoá - văn học cũng không nằm ngoài thực tiễn đó
Đến năm 1982, tại Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng Cộng sản ViệtNam, đường lối xây dựng chủ nghĩa đã có sự điều chỉnh để phù hợp hơn vớiđiều kiện mới Trong kế hoạch 5 năm (1981 - 1985), Đảng chủ trương đẩymạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, phát triển thêm một bước và sắp xếp lại cơ cấu
Trang 17kinh tế, nhằm đạt được sự ổn định tình hình kinh tế - xã hội, đáp ứng nhữngnhu cầu cấp bách, thiết yếu nhất của đời sống nhân dân Tuy nhiên, một sựđổi mới thực sự chỉ có thể dựa trên một đường lối phát triển kinh tế – xã hội
có sự thay đổi toàn diện, sâu sắc trong bản chất vận hành của quy luật đờisống Vì thế, tư tưởng xây dựng nền văn hoá mới, con người mới được quántriệt, song về cơ bản vẫn chưa thoát khỏi tình trạng trì trệ, lạc hậu, giáo điều Chỉ đến Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam(1986) với những chủ trương đổi mới toàn diện, đồng bộ từ kinh tế, chính trịđến tư tưởng, xã hội thì văn hoá - văn học mới có một bước chuyển biến hệtrọng, một thời kì đổi mới thực sự Chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoánhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa vận động theo cơ chế thịtrường có sự quản lí của Nhà nước là một quyết sách đúng đắn, có tác độngmạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có việc hình thành một
hệ hình giá trị văn hoá mới phù hợp với quy luật vận động của đời sống, đápứng nhu cầu bức thiết của con người trong thời đại mới Lần đầu tiên chínhsách xã hội được xem xét một cách tổng thể và toàn diện gắn liền với chínhsách kinh tế
Nhìn chung, kể từ 1986, qua các kì Đại hội, đường lối phát triển kinh tế xãhội không ngừng được củng cố, bổ sung để đưa đất nước phát triển xứng tầmvới các quốc gia trên khu vực và trên thế giới Điều đó xuất phát từ nhu cầu từthực tiễn xã hội, những vận động tất yếu của cuộc sống Trên phương diệntổng thể, định hướng phát triển một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc gắn liền với sự phát triển chung của xã hội, trong đó con người phải đượcgiải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo laođộng, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện
cá nhân đã được nhận thức và biểu hiện thành những biến đổi thực tế Điều đó
đã diễn ra đồng thời với con đường kế thừa và phát huy những giá trị truyền
Trang 18thống văn hoá tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinhhoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chânchính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm
mĩ ngày càng cao; và thành tựu đổi mới cũng đã cho thấy đó là hệ quả củaviệc kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và toàn xã hội, sự phát huydân chủ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội
Như vậy, sau 1975, trải qua thế kỉ XX bối cảnh lịch sử – xã hội Việt Namtuy có những thăng trầm nhất định, song sự hình thành và phát triển một đờisống xã hội hiện đại đã ngày một hiện hình rõ nét Tính hiện đại ấy, suy chocùng, được thể hiện ở hệ thống giá trị mới như một thang chuẩn tiến bộ cho
sự sống của con người
1.1.2 Nhu cầu thay đổi hệ thống giá trị trong đời sống
Sự thay đổi toàn diện đời sống xã hội tất yếu dẫn đến sự đổi thay hệ thốnggiá trị của đời sống Trên thực tế bối cảnh lịch sử – xã hội Việt Nam từ sau
1975 cho đến những năm đầu thế kỉ XXI, sự đổi thay ấy là hệ quả của vậnđộng tất yếu trên nhiều phương diện
Từ chiến tranh chuyển sang hoà bình, hệ giá trị của đời sống tất yếu đổi thay Nguyên Ngọc từng phát biểu: “Trong chiến tranh, mọi quan hệ xã
hội và con người dồn lại và thu hẹp vào một quan hệ duy nhất: sống – chết.Người ta phải sống phi thường, phi thường có thể là cao cả, nhưng phi thườngcũng đồng thời là triệt tiêu đi bao nhiêu quan hệ bình thường mà vô cùngphong phú và phức tạp của con người, đẩy tất cả các quan hệ ấy về phía sau.(…) Ngọn lửa chiến tranh thiêu cháy cả những nhỏ nhen, nhiêu khê của cuộcsống thường ngày… Hoà bình thì khác hẳn Hoà bình tức là trở lại đối mặtvới cái bình thường hằng ngày, cái bình thường mà muôn thủa, tất cả nhữngnhiêu khê của cuộc sống bị che lấp trong chiến tranh bây giờ thức dậy, vây
Trang 19quanh con người từng giờ ở khắp mọi nơi.”[217;169-170] Nếu như trongchiến tranh, các giá trị truyền thống thuần tuý kết tinh trong ý chí cộng đồng,sức mạnh tập thể, giai cấp, lí tưởng… trở thành hạt nhân quy định mọi chuẩnmực giá trị của đời sống thì bước sang thời bình, bên cạnh những giá trị đócòn có giá trị sống của cá nhân, cá thể Nếu như trong bối cảnh chiến tranh,con người tìm thấy giá trị của mình trong giá trị xã hội thì trong hoà bình conngười có nhu cầu được cân bằng giữa giá trị xã hội với giá trị tự nhiên, bảnnăng, vô thức Giá trị đời sống trở nên cực kì đa dạng khi nhu cầu về sự sống
cá nhân nổi lên trong tương quan với vận mệnh của cộng đồng Theo đó, hạnhphúc cá nhân, nhu cầu vật chất, quyền được phát triển tự do, được khẳng địnhtài năng, nhân cách cá nhân… trở thành những yếu tố quan trọng trong hệ giátrị của đời sống
Từ kinh tế tập trung, bao cấp chuyển sang kinh tế thị trường, hệ giá trị của đời sống tất yếu đổi thay Kinh tế thị trường, với quy luật vận hành
của nó đã tác động đến toàn bộ đời sống xã hội Tự do cạnh tranh, thương mạihoá các lĩnh vực đời sống xã hội, hiệu quả kinh tế trở thành thước đo năng lựccon người đều có những tác động tích cực và tiêu cực đến ý thức xã hội.Trong tác động tích cực của nó, kinh tế thị trường khiến người ta buộc phải ýthức cao hơn về chất lượng đích thực của cuộc sống, phải quan tâm đếnnhững nhu cầu, thị hiếu khác nhau của con người Kinh tế thị trường cũng tạo
ra tính thực dụng trong quan niệm về giá trị đời sống Tiền bạc len lỏi vàomọi quan hệ xã hội Tâm lí sòng phẳng, lạnh lùng xuất hiện phổ biến trongquan hệ người với người Sự phân hoá xã hội cũng trở nên mạnh mẽ hơntrong sự phát triển của kinh tế thị trường Sự hình thành các đô thị hiện đại,nhu cầu sống thị dân hiện đại, trí thức hiện đại được tích cực hoá trong xuthế tất yếu của thương mại hoá Và khi giá trị kinh tế trở thành tiêu chí thì ansinh xã hội luôn có nguy cơ, sự phát triển bền vững được đặt ra v.v Có thể
Trang 20nói, ở các mặt tích cực và tiêu cực, quy luật kinh tế thị trường đã tác độngmạnh đến sự hình thành hệ hình giá trị của đời sống Mặt tích cực thì đã rõ,nhưng với mặt tiêu cực, xã hội ngày càng cần đến những chuẩn mực đạo đức,đạo lí truyền thống
Từ quan hệ hầu như chỉ khép kín trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đến chủ trương mở cửa, hội nhập toàn diện với thế giới, tất yếu nảy sinh nhu cầu thay đổi hệ giá trị của đời sống Đặc điểm đa dạng hoá
các loại hình giá trị được hình thành nhanh chóng và rõ nét chính ở sự tiếpxúc, hội nhập ngày càng sâu sắc với thế giới của nền văn hoá Việt Nam Sựsụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu không những đãkhông khiến chúng ta lạc hướng mà còn đã tạo ra những chuyển biến quantrọng trong thái độ đối với các giá trị văn hoá, tư tưởng phong phú của thếgiới, đặc biệt là phương Tây hiện đại Đường lối phát triển kinh tế – xã hội,đường lối ngoại giao đúng đắn trong bối cảnh quốc tế ngày càng tăng cườnghội nhập, liên kết đa chiều, đa phương được xác định đã tác động lớn đến sựhình thành hệ hình giá trị mới trong đời sống Sự mở mang đối sánh, sự dunhập ngày càng phong phú các trào lưu tư tưởng triết học, mĩ học đã giúpcho trình độ ý thức xã hội không ngừng được nâng cao Nhận thức về giá trịcủa cuộc sống con người, cả trên phương diện cá nhân lẫn phương diện xãhội, cả quá trình nhận thức lại quá khứ, truyền thống lẫn hiện tại, tương lai
đã ngày càng thoát khỏi ý thức hệ giáo điều, lạc hậu để bồi đắp tiềm lực vănhoá, bản lĩnh văn hoá theo hướng tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Tóm lại, bối cảnh lịch sử - xã hội mới từ sau 1975, nhất là từ 1986 đã tất yếutạo ra sự thay đổi hệ thống giá trị đời sống Một hệ giá trị toàn diện, đa dạng đápứng nhu cầu nhiều mặt của đời sống con người, phù hợp với sự phát triển hiệnđại của xã hội Việt Nam đã và tiếp tục được sinh thành Đây là tiền đề thiết yếutạo ra sự thay đổi hệ thống giá trị thẩm mĩ trong văn học, sự đổi mới văn học
Trang 211.2 Đổi mới Văn học – sự hình thành hệ thống giá trị thẩm mĩ mới
bỉ gắn với sứ mạng cổ vũ chiến đấu xây dựng chủ nghĩa xã hội trong suốt 30năm (1945 – 1975) Đại thắng mùa xuân 1975 đã chấm dứt một giai đoạn lịch
sử đau thương của dân tộc, để từ đây đất nước bước vào một chặng đường mới,khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, từng bước phát triển theo quy luậtcủa đời sống hoà bình Sau 1975, văn học đã làm một cuộc đổi mới trọng đại,cái mốc 1986 đã trở thành một điểm khởi đầu mới chưa từng có cho một dòngchảy sâu rộng cho đến hết thế kỉ XX và tiếp diễn đương đại sang đầu thế kỉXXI Mỗi cuộc đổi mới như thế cũng đồng thời với sự thay đổi của hệ thốnggiá trị thẩm mĩ
Không tác rời dòng chảy chung văn học dân tộc, trong thế kỉ XX, cho đếntrước 1975, văn xuôi đã trải qua 2 cuộc đổi mới Đầu thế kỉ XX, “khi nước ta
đã trở thành một bộ phận của thế giới hiện đại, khi thành thị Việt Nam đang tưsản hoá, thì vấn đề đổi mới văn học, đưa văn học vào quỹ đạo chung của vănhọc thế giới đã trở thành yêu cầu cấp bách”[292;207], văn xuôi đã thoát khỏi sửtruyện Sự đổi mới diễn ra trong sự hình thành một đội ngũ nhà văn mới Tưtưởng văn học phương Tây du nhập vào đã dần thay thế các thể loại có tínhchức năng của văn học trung đại Và mọi điều kiện văn hoá - xã hội đã hội tụ
đủ cho sự ra đời một quan niệm văn học mới Văn học quốc ngữ phát triển gắn
Trang 22với cuộc sống thành thị và công chúng thành thị Văn học không còn nhằm
“trước thư lập ngôn”, thể hiện“tâm”, “chí”, “đạo”, di dưỡng tính tình và giáodục con cháu Quan niệm mới này chỉ có thể có được khi viết văn được quanniệm là một nghề, viết để sinh nhai Trạng thái tâm lí đô thị “đòi hỏi ở văn họcđời sống bình thường, hàng ngày, rất “văn xuôi” Nó không chỉ ảnh hưởng, tácđộng, mà thực sự là bẻ lái cho cả nền văn học.”[292;210] Sự đổi mới trongnửa đầu thế kỉ XX cũng đã cho thấy một quá trình thế tục hoá, đại chúng hoá.Đáng chú ý là cho đến trước những năm 30, ở những điểm khởi sự, trong văn
xuôi đã xuất hiện cái bi trong tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách và cái
hài trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Có thể xem đây là biểu hiện của hainhu cầu tinh thần cơ bản, chứng thực cho quy luật hài hoà trong vận động thẩm
mĩ hiện đại Những điều kiện được hình thành trong giai đoạn giao thời đã tạo
ra một sự bùng phát - đỉnh điểm đổi mới mang tính cách mạng của văn họcViệt Nam trước Cách mạng tháng Tám: Văn học hiện thực phê phán, Văn họclãng mạn với Thơ mới và Tự lực văn đoàn Thời kì Mặt trận Dân chủ (1936 –1939) là một minh chứng điển hình cho sự chín muồi điều kiện đổi mới và vậnđộng tự thân của ý thức văn học Riêng trong lĩnh vực văn xuôi, có thể nói đến
sự đa dạng mà ít nhất theo tiêu chí phương pháp sáng tác người ta đã khái quátthành 2 khuynh hướng hiện thực phê phán và lãng mạn với những tên tuổi lớnnhư Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Thạch Lam,Nguyên Hồng,… Quá trình hiện đại hoá văn học ở đầu thế kỉ XX cũng diễn ra
sự kế thừa các phạm trù thẩm mĩ truyền thống và sự xuất hiện các phạm trùthẩm mĩ mới Sự đa dạng của các phẩm chất thẩm mĩ trong văn xuôi đầu thế kỉ
XX đã đặt nền tảng cho sự phát triển đa dạng hoá thẩm mĩ về sau này
Tính bước ngoặt của sự đổi mới văn học trong giai đoạn 1945 – 1975 đãđược các nhà nghiên cứu khẳng định Nếu như văn học trước 1945 cho thấy sựphong phú, đa dạng bắt nguồn từ sự giao tranh, khai mở của một quá trình sinh
Trang 23thành phức tạp của tính hiện đại thì kể từ sau 1945 sự phong phú, đa dạng củavăn học trong bước đường đổi mới đã diễn ra từ sự kế thừa, phát huy nhữngtiền đề và cả những đỉnh cao phù hợp với quan hệ mới của văn nghệ đối với sựnghiệp cách mạng của toàn dân tộc, trong tính bất thường của văn học thờichiến Sự phong phú, đa dạng của văn học 1945 – 1975 có cơ sở từ sự thay đổilớn trong quan niệm văn học mang tính đặc thù Sự phát hiện ra con ngườiquần chúng đã “bẻ lái” vận động văn học theo khuynh hướng sử thi: “Đókhông chỉ là kỉ nguyên biến con người nô lệ thành con người tự do, làm chủvận mệnh mình, mà còn là thời đại biến con người nhỏ bé, rời rạc, yếu đuốitrong xã hội cũ thành con người của dân tộc, của đoàn thể, của sự nghiệpchung.”, “Cách mạng đã mở ra một chân trời mới bao la cho con người tự vươnlên khẳng định mình Chỉ trong sự nghiệp chung đó, con người mới cảm thấyhạnh phúc, tự do, có tầm quan trọng và có ý nghĩa Người ta vào cách mạngnhư đi trẩy hội Cái chung lấn át cái riêng, đời sống chính trị lấn át đời sốnghằng ngày Hay nói cách khác, đời sống chung được cảm nhận như là đời sốngriêng của mỗi người.”[348;225-226] Văn học nói chung, văn xuôi nói riêng đãtập trung thể hiện những giá trị thẩm mĩ theo quan niệm ấy Vẻ đẹp cao cả, cáianh hùng trở thành đặc trưng thẩm mĩ bao trùm toàn bộ văn học Việt Nam
1945 – 1975
Khách quan mà nói rằng, không phải thiếu đi cái hài, cái bi như trong vănhọc trước 1945 mà văn học cách mạng trở nên nghèo nàn Hoàn toàn có thểnói đến sự đa dạng của văn học sử thi Có nhiều biểu hiện để chúng ta nhậndiện đặc điểm về khuynh hướng sử thi, lãng mạn, lí tưởng anh hùng cáchmạng trong văn xuôi Chẳng hạn, có thể nói đến khuynh hướng phê phán nhưmột cách biểu hiện của cảm hứng ngợi ca trong văn xuôi từ sau 1945: phê
phán cách nhìn sai trái đối với quần chúng như Đôi mắt của Nam Cao; phê
phán những suy nghĩ lệch lạc đối với vai trò của quần chúng đến biểu dương
Trang 24sự tỉnh ngộ như trong một số sáng tác của Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu,Bùi Hiển, Phan Tứ, Nguyễn Kiên, Vũ Thị Thường Thái độ ca ngợi quầnchúng cũng rất phong phú với những hình tượng đám đông sôi động, hào
hứng, đầy sức mạnh của công nhân, nông dân, bộ đội, dân công…: Xung kích (Nguyễn Đình Thi), Vùng mỏ (Võ Huy Tâm), Con trâu (Nguyễn Văn Bổng),
Truyện và kí sự (Trần Đăng), Cửa biển (Nguyên Hồng), Vỡ bờ (Nguyễn Đình
Thi), Bão biển (Chu Văn), Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu),… Hình tượng nhân vật anh hùng rất phong phú trong Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Hòn Đất (Anh Đức), Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi), Rừng xà nu
(Nguyễn Trung Thành)… Sự phong phú của văn xuôi cách mạng còn biểuhiện ở những vận động qua việc phản ánh cuộc sống và con người ở nhữngvùng miền khác nhau: “văn học cách mạng đã làm giầu cho văn học dân tộcbằng vô vàn vẻ đẹp hiện thực của đất nước và con người Việt Nam”[348;384];
ở những biến chuyển qua các chặng sáng tác khác nhau: “Từ quan niệm conngười quần chúng trong văn học thời chống Pháp, với những hình tượng tậpthể còn khá giản đơn, tuy sinh động và mới mẻ ở buổi đầu, đến thời kì chống
Mĩ nhận thức về nhân dân đã đạt tới chiều sâu mới và hình tượng nhân dân làmột thành công đáng kể.”, “văn học thời chống Mĩ đã sáng tạo những hìnhtượng con người mang được dấu ấn, tầm vóc, tư tưởng và ý chí của thời đại
ấy Con người sử thi trong văn học thời kì này với hai phương diện nổi bật làchủ nghĩa anh hùng và vẻ đẹp tâm hồn, là một đóng góp của văn học vào việckhám phá con người, đề cao sức mạnh và vẻ đẹp của con người ViệtNam.”[216;43]
Tuy nhiên, không khó để chúng ta có thể nhận thấy một đặc điểm là: sựphong phú của văn học 1945 – 1975 nói chung, văn xuôi nói riêng chủ yếu lànhững sắc thái khác nhau của cái cao cả, chưa phải là sự đa dạng của cácphạm trù thẩm mĩ - đặc trưng tạo nên bản chất đổi mới trong văn xuôi Việt
Trang 25Nam sau 1975.
Cuộc đổi mới chưa thực sự vượt ngưỡng ở khoảng mươi năm đầu sautháng 4/1975 Chặng đường này thường được định tính là “thập kỉ chuyểnmình”, “trượt theo quán tính cũ”, “khoảng chân không trong văn học”, “thờigian khởi động”, “quán tính của văn học thời chiến”, “một giai đoạn văn họcmang tính giao thời”… “Hậu chiến”, một khái niệm cay nghiệt của lịch sửthường rõ ràng ở điểm bắt đầu và lờ đi cái điểm kết thúc, khó lòng trở thành
một định tính giá trị của đổi mới Những Vùng trời của Hữu Mai, Những tầm
cao của Hồ Phương, Dòng sông phẳng lặng của Tô Nhuận Vĩ,… Miền cháy,
của Nguyễn Minh Châu, Năm 75 họ đã sống như thế của Nguyễn Trí Huân,
Cơn gió lốc của Khuất Quang Thụy,… cho thấy về cơ bản, trong mươi năm
đầu sau 1975, văn xuôi vẫn chưa ra khỏi “cái vòng kim cô” của thẩm mĩ vănhọc 1945 - 1975 Tất nhiên, có những dấu hiệu thẩm mĩ mới đã rõ hơn trong
Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Những khoảng cách còn lại, Đứng trước biển, Cù Lao Tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn), Những người đi từ trong rừng ra
(Nguyễn Minh Châu)… Đến đầu những năm 80 với Bến quê của Nguyễn Minh Châu, Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Thời xa vắng của
Lê Lựu thì ý thức đổi mới đã chủ động rõ rệt Chính những tác phẩm này đãkhiến cái mốc 1986 trở nên tương đối, nếu muốn xem đó là thời điểm thực sự
của cuộc đổi mới trọng đại trong văn xuôi Nguyễn Khải với Cha và con
và , Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người đã nghiêng hẳn sang khuynh
hướng thế sự, tự vấn: “Đọc lại những trang viết của tôi một thời mà tiếc chonhững năm tháng đã sống vất vả, sống nguy hiểm, sống hào hùng rút lại chỉcòn là những bài báo nhạt nhẽo, không có một chi tiết nào là thật, không cómột khung cảnh nào day dứt, gợi nhớ, không có một gương mặt nào cám dỗ,
ám ảnh (…) Nhà văn biết sống với thời cuộc nhưng còn phải biết tách ra khỏithời cuộc để nhận ra cái sẽ còn lấp lánh lâu dài của nhiều tình tiết trong thời
Trang 26cuộc, sống với những người cùng thời nhưng phải lấy con mắt của đời sau để
đo lường giá trị nhiều việc tưởng là tầm thường, là vô nghĩa đối với ngườiđương thời.”[510;634] Có thể xem đây là một cuộc giao thời mới, để sau đó,khi đã hội tụ đủ các điều kiện cần thiết, văn học thực sự bước sang một thời kìđổi mới mạnh mẽ toàn diện
Đại hội VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam, với Nghị quyết 05 vềvăn hoá văn nghệ, đã tạo ra một động lực mạnh mẽ mang ý nghĩa quyết định,khiến dòng chảy lịch sử của văn học Việt Nam từ đây thực sự đổi mới Cácnhà nghiên cứu đã tương đối thống nhất mốc 1986 đến đầu những năm 90 làchặng đường đổi mới đột khởi của văn xuôi, và khái niệm “thời kì đổi mới”với ý nghĩa lịch sử đã xác nhận tính cách mạng của chặng đường này Từkhoảng đầu những năm 90 của thế kỉ XX đến nay văn xuôi tuy không cónhững đột phá cao trào như chặng đường trước; song sau một khoảng thờigian có phần chững lại, văn xuôi tiếp tục vận động theo chiều hướng ngàycàng phồn tạp, đa dạng hơn Có thể ra những tên tuổi tiêu biểu làm nên diệnmạo văn xuôi Việt Nam kể từ thời kì đổi mới: Nguyễn Minh Châu, NguyễnKhải, Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm ThịHoài, Dương Thu Hương, Nguyễn Bản, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn KhắcTrường, Chu Lai, Dương Hướng, Khuất Quang Thuỵ, Nguyễn Xuân Khánh,
Lê Minh Khuê, Dạ Ngân, Trần Thuỳ Mai, Phạm Hoa, Trần Thị Trường, PhạmThị Minh Thư, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Thị ấm, Nguyễn Thị Thu Huệ,Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Y Ban,Nguyễn Khắc Phục, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ HoàngDiệu
Văn học đổi mới trên cơ sở một hệ thống giá trị thẩm mĩ đã khác trước
1.2.2 Sự hình thành hệ thống giá trị thẩm mĩ mới
1.2.2.1 Quan niệm về “giá trị thẩm mĩ”
Trang 27C Mác từng viết trong Bản thảo kinh tế – triết học năm 1844: “Con vật chỉ
xây dựng theo kích thước và nhu cầu của loài của nó, còn con người thì có thểsản xuất theo kích thước của bất cứ loài nào và ở đâu cũng biết vận dụng bảnchất cố hữu của mình vào đối tượng; do đó con người cũng xây dựng theo cácquy luật của cái đẹp.”[228;201] ý nghĩa nhân học của văn học, như vậy, có cơ
sở vững chắc bởi lẽ nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng là lĩnh vực đặc thùcủa việc sáng tạo, thể hiện và thưởng thức cái đẹp Cái đẹp, dù theo quan niệmnào, cũng đều được xem là trung tâm của hệ thống thẩm mĩ, trung tâm của hệthống các giá trị mang tính người Cái đẹp là phạm trù chi phối quy luật, hướngmọi sáng tạo nghệ thuật tới giá trị đích thực của cuộc sống con người, cho cuộcsống con người Tuy nhiên, phạm trù cái đẹp không trùng với khái niệm “giá trịthẩm mĩ” Khái niệm “giá trị thẩm mĩ” chỉ tương đồng với phạm trù cái đẹp ởnghĩa rộng, khái quát Trên thực tế, người ta thường xuyên phải đối mặt vớivấn đề hết sức phức tạp là khác với các phạm trù như cái cao cả, cái bi hay cáihài, cái đẹp luôn tồn tại nhiều tầng bậc, phạm vi ý nghĩa Có nghĩa chỉ cái bềmặt, lại có nghĩa chỉ biểu hiện ở tầng sâu, có nghĩa chỉ cái khách quan lại cónghĩa gắn với tính chủ quan của phán đoán, có nghĩa rộng, nghĩa hẹp…
Frederick Turner cho rằng: "Cái đẹp không chỉ là một khía cạnh được lựachọn của nghệ thuật: nó là một đối tượng, một ý hướng của nghệ thuật", "cáiđẹp không chỉ thuần là một quy ước mà cái đẹp là một khả năng và một nhucầu cơ bản của con người"[127] Lí Trạch Hậu thì cho rằng: "trong phạm vi mĩhọc, cái từ đẹp có nhiều loại hoặc mấy tầng hàm nghĩa Tầng loại hàm nghĩathứ nhất là đối tượng thẩm mĩ, tầng (loại) hàm nghĩa thứ hai là tính chất (tốchất) thẩm mĩ, tầng (loại) hàm nghĩa thứ ba là bản chất và căn nguyên của cáiđẹp Cho nên phải chú ý xem từ "đẹp" này được sử dụng ở tầng (loại)nào."[116;66] Nguyễn Văn Dân đã chú ý đến sự phân biệt 2 cấp độ đối vớiphạm trù cái đẹp: "Hiện nay có nhiều người cho rằng cần phải phân biệt cái
Trang 28đẹp với tính chất là lí tưởng, là nhân tố khái quát, với cái đẹp với tư cách làphạm trù cục bộ, là biến thái của cái đẹp lí tưởng.", "Mặc dù không đồng ývới quan điểm coi cái đẹp lí tưởng là cha đẻ của các phạm trù khác, rằng cácphạm trù khác chỉ là biến thái của nó nhưng chúng tôi cần phải khẳng địnhtính chi phối, tính khởi nguyên, tính quy luật và vai trò quyết định của nótrong hệ thống các phạm trù mĩ học Ngoài cái đẹp lí tưởng này, chúng ta cònphải chấp nhận sự tồn tại của một phạm trù cái đẹp cục bộ, đứng ngang hàngvới các phạm trù khác."[52;24-25]
Trong công trình Mĩ học cơ bản và nâng cao, M.F ốp-xi-an-nhi-cốp đã quan niệm về cái thẩm mĩ trong sự phân biệt nó với cái đẹp và các phạm trù thẩm mĩ khác Cái thẩm mĩ được bàn đến ở một chương riêng (Cái thẩm mĩ)
và cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái hài được bàn đến ở một chương riêng (Các
phạm trù thẩm mĩ) ốp-xi-an-nhi-cốp cho rằng: “Cái thẩm mĩ là một khái
niệm bao quát, phản ánh cái chung vốn có ở các hiện tượng thẩm mĩ Cáichung đó là: cái thẩm mĩ khách quan trong tự nhiên, xã hội, các sản phẩm sảnxuất vật chất và tinh thần, hoạt động thẩm mĩ hay sáng tạo “theo quy luật củacái đẹp”; cái thẩm mĩ chủ quan, hay ý thức thẩm mĩ (tình cảm thẩm mĩ, cảmthụ, nhu cầu, đánh giá, lí tưởng…) Dĩ nhiên văn hoá nghệ thuật cũng thuộckhái niệm cái thẩm mĩ.”[310;100] Như vậy, ý kiến của Mác về cái đẹp như
đã dẫn thực chất là cái đẹp theo nghĩa rộng, tức là cái có “giá trị thẩm mĩ”.ốp-xi-an-nhi-cốp cũng chỉ ra: “thuật ngữ “cái đẹp” có cả nghĩa rộng lẫn nghĩahẹp, tức là vừa với tư cách một phạm trù mĩ học tổng quát nhất, vừa với tưcách cái đẹp theo đúng nghĩa của nó, khác với các khái niệm mĩ học khác,chẳng hạn cái bi và cái hài, những khái niệm có quan hệ với những đặc trưngthể loại của văn học và nghệ thuật.”[310;100-101] Ông khẳng định: “Cácphạm trù “cái đẹp”, “cái cao cả”, “cái bi”, “cái hài” và nhiều khái niệm hẹphơn quả là đã được biểu hiện khái quát trong cái thẩm mĩ, song suốt một thời
Trang 29gian dài, người ta không nhận thức được điều này.”[310;101].
Trần Đình Sử trong bài Nghĩ về đặc trưng thẩm mĩ của văn học cách
mạng 1945 – 1975 đã đưa ra ba bình diện – cấp độ mà ở đó đặc trưng thẩm mĩ
của một hiện tượng nghệ thuật biểu hiện: “1 Đặc trưng của hình tượng cảm
tính mà nghệ sĩ trình bày cho người đọc 2 Đặc trưng cảm nhận khi tác phẩm truyền cho người đọc sức sống, niềm xúc động 3 Đặc trưng của cõi vĩnh hằng mà nghệ thuật vươn tới để con người tìm thấy sự tự khẳng định của chính mình.” [348;284] Như vậy, bình diện thứ ba chính là cấp độ của hệ giá
trị thẩm mĩ – cấp độ của lí tưởng, quan niệm thẩm mĩ Cái mang giá trị thẩm
mĩ là cái đã mặc nhiên bao hàm bộ ba giá trị chân – thiện – mĩ, là cái mang tính “hoàn thiện”, “có giá trị thẩm mĩ cao nhất."[108;41], và không chỉ là một
giá trị [149] mà mặc nhiên là một hệ giá trị tương ứng với một hệ quy chiếu
nhất định có tính nhân loại, tính dân tộc và tính lịch sử
Như vậy, hệ thống giá trị thẩm mĩ là hệ thống các phẩm chất thẩm mĩ cao
nhất cần có cho cuộc sống mà khát vọng người nghệ sĩ hướng tới, nó vừa bộc
lộ cá tính, vừa đại diện cho nhu cầu của thời đại, vừa có tính dân tộc đồngthời mang ý nghĩa nhân loại Cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái cảm thương, cáihài, cái phi lí,… là những dạng phẩm chất thẩm mĩ khác nhau Sự biểu hiệncác dạng phẩm chất thẩm mĩ này trong thực tiễn nghệ thuật không tách rời lítưởng, quan niệm thẩm mĩ Hệ thống thẩm mĩ của mỗi thời kì nghệ thuật chịu
sự chi phối của hệ thống giá trị thẩm mĩ được hình thành trong bối cảnh lịch
sử – xã hội của thời kì đó Hệ thống thẩm mĩ mang tính mở và có thể bao hàm
cả những giá trị tiêu cực Raymond Polin đã liệt kê những giá trị tiêu cực, bao
gồm: cái gớm ghiếc, cái khủng khiếp, cái quá cỡ, cái sáo rỗng, cái khoa
trương, cái rỗng tuếch, cái nhàm chán, cái nhạt nhẽo, cái tầm thường, cái xoàng xĩnh, cái tệ hại, cái rườm rà, cái lộn xộn, cái dị dạng, cái không hình thù, cái kì quái, cái mất cân đối, cái kì dị, cái lố lăng, cái buồn cười, cái thô
Trang 30bỉ, cái màu mè, cái kiểu cách, cái vô duyên[328; 89] Các giá trị tiêu cực chỉ
mang tính thẩm mĩ, nghĩa là tồn tại với tư cách cái có giá trị thẩm mĩ, trongliên hệ chỉnh thể, tương quan với các yếu tố khác, được soi sáng bởi tư tưởngthẩm mĩ bao trùm, có khi trực tiếp lộ diện song phần lớn là hàm ẩn hết sức kínđáo, thâm trầm, ở chiều sâu cấu trúc nghệ thuật
Văn học là một hình thái phản ánh thẩm mĩ Văn học sáng tạo ra các giátrị thẩm mĩ Cho nên đổi mới văn học nghĩa là đổi mới những giá trị thẩm
mĩ Nếu như phản ánh thẩm mĩ là phản ánh trong tình cảm thẩm mĩ thì đổimới văn học trước hết cũng thể hiện ở đổi mới tình cảm thẩm mĩ “Tình cảmthẩm mĩ” là thứ “tình cảm thứ hai”, tình cảm hình thành trên cơ sở thanh lọc,thăng hoa những thể nghiệm đời sống quá khứ, những suy ngẫm, nếm trải vềcuộc đời, nó là tình cảm vừa có những hình tượng sắc nét lại vừa vượt lêntrên những hơn thiệt, mất mát của cá nhân, đáng cho mọi người cùng thểnghiệm, hưởng thụ.”[352;33] Nói cách khác đó chính là sự đổi mới mĩ cảm
“Mĩ cảm (aesthetic) là trạng thái tình cảm và ý thức khi con người tiếp xúctrực tiếp với đối tượng có khả năng tạo nên niềm hân hoan, vui sướng, thíchthú, hoặc thương cảm, đau xót, buồn bã, hoặc mến phục, tôn kính… để từ
đó, con người có một khát khao mãnh liệt bày tỏ những xúc cảm, rung động,
ấn tượng, suy nghĩ và tư tưởng của mình đối với đối tượng đó bằng các hìnhtượng nghệ thuật.”[308; 22-23] Cái tôi, số phận cá nhân con người, phonghoá xã hội thực dân nửa phong kiến… là đối tượng thẩm mĩ chủ yếu của vănhọc trước Cách mạng tháng Tám Những nỗi buồn thảm, đau xót hay tiếngcười phê phán, hài hước… trong văn học giai đoạn này nảy sinh trên cơ sởnhững đối tượng ấy Văn học cách mạng lấy đối tượng là sự nghiệp giảiphóng dân tộc, giải phóng con người khỏi kiếp nô lệ lầm than và xây dựng
xã hội xã hội chủ nghĩa Tình cảm ngợi ca, tính lí tưởng cao cả trở thành néttình cảm chủ đạo của văn học cách mạng Sau 1975, đối tượng của văn học
Trang 31mở rộng theo quy luật bình thường của đời sống hoà bình Văn học phản ánhcái bình thường hằng ngày và tình cảm thẩm mĩ trở nên phong phú, đa dạng,
đủ mọi cung bậc, sắc thái Phản ánh thẩm mĩ là phản ánh hiện thực trong giátrị phổ quát của nhân loại Bức tranh hiện thực ở các giai đoạn khác nhaucủa văn học Việt Nam cũng cho thấy những phương diện giá trị mang tínhnhân loại khác nhau Đời sống luôn hiện ra với những gương mặt mới bởi sựphát hiện của phản ánh thẩm mĩ Vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng,của tinh thần, sức mạnh cộng đồng là giá trị mang ý nghĩa nhân loại mà vănhọc cách mạng của chúng ta đã đạt được, cũng là cái tạo nên sự đổi mới sovới văn học trước đó Đời sống hoà bình thời hậu chiến, bối cảnh văn hoá -
xã hội mới có những đòi hỏi mới Tính nhân loại của tình cảm thẩm mĩ cũngđòi hỏi được bộc lộ ở những phương diện khác so với thời chiến Một loạihình tình cảm thẩm mĩ mới đã nảy sinh trên tính nhiều mặt của nhân sinh Văn học đã ý thức một cách tự giác về bản chất thẩm mĩ của nó, hoạtđộng sáng tác ngày càng được trả về đúng hơn với bản chất sáng tạo tự do củathẩm mĩ Những tranh luận và sự điều chỉnh tư tưởng về cái thẩm mĩ đã diễn
ra từ cuối thập niên 80 của thế kỉ XX, đến nay, ở những năm đầu của mộtthiên niên kỉ mới, vai trò nhận thức của văn học đối với đời sống đã ngàycàng được hiểu thấu đáo, khoa học Giá trị thẩm mĩ, như là khái niệm trungtâm của hoạt động sáng tạo nghệ thuật, đã được quan niệm trong sự khẳngđịnh về thiên chức của nghệ thuật Đúng như nhận định: “Phản ánh thẩm mĩ,mục đích của nó không nằm ở nhận thức, mà ở chỗ sáng tạo ra những giá trịthẩm mĩ, nhận thức của thẩm mĩ là vật phái sinh của giá trị thẩm mĩ, cho nênphản ánh thẩm mĩ xét về bản chất chính là sự sáng tạo thẩm mĩ.”[422;184]
1.2.2.2 Từ cao cả thuần khiết, đơn trị sang đời thường phồn tạp, đa trị
Hệ giá trị thẩm mĩ được thể hiện trong quan niệm nghệ thuật, phản ánh lítưởng thẩm mĩ của thời đại Sau 1975, văn học mà đặc biệt là văn xuôi đến
Trang 32khoảng giữa những năm 80 đã vận động theo một mô hình lí tưởng, quanniệm thẩm mĩ khác trước Điều đó cũng có nghĩa là hệ giá trị thẩm mĩ cũkhông còn phù hợp với nhu cầu của thời đại đã được thay thế bằng một hệ giátrị thẩm mĩ mới Vận động này là đòi hỏi tất yếu của lịch sử.
Hệ giá trị thẩm mĩ của văn học cách mạng 1945 – 1975 mang tính cao cảthuần khiết, đơn trị Đặc trưng này cũng xuất phát từ đòi hỏi tất yếu của lịch
sử Hệ giá trị cao cả thuần khiết, đơn trị phù hợp với nhu cầu của một dân tộcđang trong cuộc đấu tranh sống còn để giữ gìn độc lập, tự do Trong bối cảnhlịch sử – xã hội đặc thù thời chiến, giá trị cộng đồng, tập thể lấn át giá trị cánhân, cá nhân tìm thấy giá trị của mình, khẳng định mình trong lí tưởngchung Giá trị cá nhân đồng nhất vào giá trị lớn lao của Tổ quốc, nhân dân,cách mạng… Nhận định về hệ giá trị trong văn học cách mạng, Trần Đình Sửviết: “Nhìn chung văn học cách mạng đã phát huy cao độ ý thức về hệ thốnggiá trị văn hoá cộng đồng mạnh mẽ, cao thượng, giàu tính chiến đấu, lạc quan,yêu đời… Hệ thống giá trị văn hoá cá nhân (nhiều khi bị nhận lầm là “chủnghĩa cá nhân”!), văn hoá giải trí, hưởng thụ chưa có điều kiện phát triển vàthừa nhận hay ít ra là chưa được đánh giá cao.”[348;306] Cái cao cả thuầnkhiết chi phối, quy tụ và chuyển hoá mọi giá trị thẩm mĩ khác tạo nên tínhđơn trị của hệ hình giá trị sử thi
Đến thời kì đổi mới sau 1975, phù hợp với vận động của lịch sử – xã hội
từ thời chiến chuyển sang thời bình, chịu sự tác động và đòi hỏi của quy luậtkinh tế thị trường, thích ứng với nhu cầu đa dạng hoá của tiếp xúc, giao lưutrong thời mở cửa, một hệ giá trị thẩm mĩ mới đã được hình thành trong vănxuôi Đó là sự chuyển đổi từ hệ giá trị cao cả thuần khiết, đơn trị sang hệ giátrị đời thường phồn tạp, đa trị
Sự chuyển đổi hệ giá trị thẩm mĩ phản ánh quy luật vận động lịch sử của ý
Trang 33thức thẩm mĩ “Văn học nào cũng hướng con người tới một thế giới vĩnh cửu,soi sáng cuộc đời trong viễn cảnh của các giá trị bất diệt, vĩnh hằng"[348;289].Nghĩa là văn học thời nào, ở đâu thì cũng thể hiện những khát vọng giá trị màngười nghệ sĩ hướng tới, từ những vấn đề cụ thể của đời sống thực tại Đờisống thay đổi, tất nhiên khát vọng ấy cũng đổi thay Hệ giá trị của đời sống đãkhông còn như trước, hệ giá trị thẩm mĩ trong ý thức nghệ thuật tất yếu phảibiến đổi Thực tế mối quan hệ giữa văn học và đời sống, văn học và côngchúng trong những năm sau ngày giải phóng, thống nhất đất nước đã cho thấy
sự lệch pha giữa quan niệm giá trị trong ý thức nghệ thuật với nhu cầu thẩm mĩcủa xã hội đang chuyển mình mạnh mẽ Và phải đến khoảng giữa những năm
80 của thế kỉ XX, cái đẹp trong văn xuôi mới có được một sức sống mới, manghơi thở của đời sống tinh thần xã hội trên một chặng đường có tính bước ngoặt.Các cây bút văn xuôi khao khát được cắt nghĩa, lí giải đời sống trong trạngthái phồn tạp vốn có của nó ở đó, mọi điều đều có thể, các giá trị phải đượctrải nghiệm qua nhiều trạng huống khác nhau của đời sống trước khi biến thànhthứ ánh sáng chân thực trong lòng người đọc Các giá trị tiêu cực xuất hiện dàyđặc, ở nhiều sắc thái Bởi vì hệ giá trị trong quan niệm của người nghệ sĩ đã trởnên đa chiều, đa dạng cho nên chúng thể hiện trong cấu trúc kí hiệu đa nghĩa,nhiều khả năng tiếp nhận Quan niệm giá trị thường không tồn tại như nhữngtuyên ngôn trực tiếp, thuần khiết, nên không dễ để trả lời thẳng thừng cho các
câu hỏi “Cái đẹp trong mỗi tác phẩm sau là gì?”: Bức tranh, Cỏ lau, Bến quê,
Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu), Mùa lá rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú (Ma Văn Kháng), Thời xa vắng là gì (Lê Lựu), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc
Trường), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Mặt trời mọc trước lúc rạng đông (Dương Thu Hương), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai),
Bến không chồng (Dương Hướng), Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh), Cơ hội
Trang 34của Chúa (Nguyễn Việt Hà), Người đi vắng, Trí nhớ suy tàn (Nguyễn Bình
Phương), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Hậu thiên đường (Nguyễn Thị Thu Huệ),
Tướng về hưu, Cún, Không có vua (Nguyễn Huy Thiệp), Cõi người rung chuông tận thế, Tự sự 265 ngày (Hồ Anh Thái),… Nghĩa là thông điệp giá trị
trong khao khát của người nghệ sĩ đã không còn giản đơn truyền đi theo đườngthẳng, không còn là những biểu tượng sạch sẽ được đặt lên bục cao, và quákhác so với những bài tuyên truyền trên loa phóng thanh, chỉ bởi vì họ thầmlặng mà ráo riết tôn chỉ theo một nguyên tắc: khám phá đời sống từ mọi góccạnh, chiều kích ở phương diện đời thường của nó Những gì thuộc tồn tại xãhội, những quan hệ ứng xử giữa người với người, giữa con người với xã hội,với tự nhiên vốn đã hết sức phong phú Đời sống tinh thần, ý thức và vô thức, lítrí và bản năng, tâm linh… càng là vô tận Cho nên, cái giá trị được chưng cấtbởi sự phồn tạp của chất liệu đã trở nên biến hoá khôn lường, rất khó để nắmgiữ đến cùng Đó là chưa kể đến quan niệm không ai nói lời cuối cùng, kể cảtác giả lẫn độc giả Khi những cái tiêu cực xuất hiện trong văn bản nghệ thuậtkhông có nghĩa rằng đó là biểu hiện của cái nhìn đen tối, tuyệt vọng đối với đờisống Trên thực tế phê bình, ngộ nhận về bản chất của quan hệ giữa tư tưởngthẩm mĩ với biểu hiện hình tượng đã từng xảy ra không ít Ngay đối với NamCao, người ta đã từng cho rằng ông “tự nhiên chủ nghĩa” khi tả Thị Nở xấu ma
chê quỷ hờn đến thế Người ta cũng đã từng phản ứng tại sao Nỗi buồn chiến
tranh của Bảo Ninh lại nhiều chết chóc hãi hùng, điên loạn đến vậy; tướng
Thuấn (Tướng về hưu) sao lại nói tục, vv… Thế thì con bò của lão Khúng (Phiên chợ Giát, Nguyễn Minh Châu) có đẹp không? Chắc chắn là không thể
“xem” con bò của lão Khúng bằng con mắt của chủ tịch Bời, hay như NghịQuế “xem” giống vật giữ nhà được rồi Sự nhầm lẫn giữa hình tượng và ýnghĩa, giữa ý nghĩa cục bộ và nghĩa chỉnh thể đã được nhiều người cảnh báo Trong văn xuôi đổi mới sau 1975, mọi chi tiết, sự kiện của đời sống phồn
Trang 35tạp đã được đặt vào trong một hệ quy chiếu thẩm mĩ mới, không còn là cáinhìn đơn chiều, đơn diện, vì thế những giá trị nhân sinh đã hiện hình trongtính đa trị cố hữu của nó
Tuy nhiên, đời thường phồn tạp, đa trị không có nghĩa là các giá trị cao cảcủa cuộc sống con người được thay thế bằng cái hỗn tạp, “phi lí tưởng” Cácgiá trị đều có quyền tồn tại và thể hiện những khát vọng khác nhau của sựsống con người Phạm Thị Hoài, một trong những cây bút tiêu biểu của vănxuôi thời kì đổi mới, đã từng gây nhiều tranh cãi khi phản ứng với ý thức rậpkhuôn của chủ nghĩa hiện thực cổ điển và chủ nghĩa hiện thực xã hội chủnghĩa Nhà văn này giễu nhại chủ nghĩa hiện thực cổ điển: “Lúc sắp cặp lồngcơm, anh cố đoán không biết cô kĩ sư chăm đọc sách hôm nay sẽ có món gìtrong cặp lồng, mặc dù đối với cô, chỉ Balzac khác Tolstoi, Tolstoi lại khácGoethe, rặt tác giả cổ điển, cổ điển thế càng tốt, dễ chịu hơn thơ không vần,còn thịt, cá, hay trứng, tuốt tuột đều là đạm, đều là cái cớ, người sao mà dễ
nuôi.” (Hành trình của những con số); và giễu nhại chủ nghĩa hiện thực xã
hội chủ nghĩa: “Cỏi tờn sỏch, cũng như anh chàng Pavel, gợi cảm giác xa lánhnơi tôi, như xa lánh hết thảy những gỡ tỏ ra mạnh mẽ mà khụng cuồng dại Lờituyờn bố của anh ta về cỏi chết; “ để đến khi nhắm mắt xuôi tay, khỏi thấymỡnh sống hoài sống phớ ” đó sổ 1 nột tàn nhẫn phõn cách đời sống và cừibờn kia, đặt 1 câu hỏi vô lí về ý nghĩa cuộc đời.”; “Hai cuốn sách quyết định bộ
mặt tinh thần của cả 1 thế hệ Con đẻ của thế hệ ấy, không thành những Ruồi
Trõu thỡ thành Pavel Kortshagin, đi đứng, nói năng, tư duy, sống và yêu đương
trong bộ đồng phục tinh thần may sẵn, hiệu Voynich hay Ostrovsky (…) “Tôikhước từ thế hệ ấy, không chỉ bằng lễ rửa tội vĩ đại năm 14 tuổi Tôi khước từquan hệ họ hàng với những nhân vật xa lạ kia, khước từ những sản phẩmconfection may hoàng loạt Có những thế hệ may mắn – hoặc bất hạnh hơn, ai
biết? – ra đời trong những đồng phục tinh thần khác.” (Thiên sứ) Đánh giá một
Trang 36cách khách quan, đây là một thái độ phản ứng tất yếu trong dòng vận động củaquan niệm thẩm mĩ thời đổi mới Đúng như nhận định: “Văn học Việt Namđương đại đang đứng trước một khúc ngoặt: đó là nền văn học phát triển trongbối cảnh thời bình, với những mối quan tâm hàng đầu là cuộc sống xã hội, màkhông còn chỉ là, hay chủ yếu là vận mệnh dân tộc.”[430;163] Nhưng cũngphải khách quan mà thấy rằng sự “khước từ”, chối bỏ gay gắt này chỉ đúng đốivới ý thức xơ cứng, giáo điều, rập khuôn trong diễn biến hậu kì của quan niệmtheo nguyên tắc của chủ nghĩa hiện thực cổ điển và sự vận dụng duy ý chí, táchrời tính lịch sử cụ thể của quan niệm sáng tác chủ nghĩa hiện thực xã hội chủnghĩa Đánh đồng giữa cái thoái hoá với những giá trị gốc lại là điều nên tránh.Nếu như quan niệm theo như cách mà Phạm Thị Hoài đã bộc lộ ở trên có nghĩathì nó chỉ góp phần lên tiếng, dọn đường cho sự xuất hiện các giá trị cá nhân,
cá thể, chấp nhận sự tồn tại của những cái nghịch dị, phi lí mà không phải là sự
“mất giá” của những giá trị cao cả Tấn trò đời, Chiến tranh vào hoà bình,
Phaoxtơ mãi là những kiệt tác tầm cỡ thế giới, không thể phủ nhận dù bất cứ lí
do nào Ruồi Trõu hay Pavel Kortshagin có những giá trị tự thân mà vẻ đẹp của
lí tưởng ở họ thời nào cũng cần Những giá trị cộng đồng, những cái vĩ đại, siêuviệt bao giờ cũng cần cho cuộc sống, cũng như những giá trị cá nhân, nhữngcái nhỏ bé, đời thường cần được tôn trọng Đa dạng chân chính phải là thế.Thực tế văn xuôi Việt Nam sau 1975 cũng đã chứng tỏ điều đó
Hệ thống giá trị thẩm mĩ đời thường phồn tạp, đa trị trong văn xuôi Việt Nam sau 1975 là hệ quả của quá trình thoát khỏi ý thức quần thể chính trị, hình thành ý thức văn học đại chúng Văn học Việt Nam 1945 –
1975 vận hành theo ý thức quần thể chính trị ý thức quần thể chính trị trongvăn học chiến tranh cách mạng là một sự lựa chọn mang tính lịch sử và đãđem lại đặc trưng thẩm mĩ mới, chưa từng có trong lịch sử văn học dân tộctrong suốt ba mươi năm Con người quần chúng, vẻ đẹp cao cả của chủ nghĩa
Trang 37anh hùng lãng mạn là sản phẩm của ý thức thẩm mĩ quần thể chính trị Tuynhiên, trong sự xơ cứng, giáo điều hoá của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủnghĩa, ý thức quần thể chính trị đã tự bộc lộ những giới hạn lịch sử của nó.Tình hình văn học Việt Nam khoảng mươi năm đầu sau 1975 chứng thực chomột nhu cầu bức thiết phải giải thể ý thức quần thể chính trị Đại hội VI củaĐảng với đường lối phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, Nghị quyết
05 với tư tưởng “cởi trói” cho văn nghệ đã tạo ra một “cú hích” lớn làm lunglay cái ý thức quần thể chính trị đã lỗi thời Đây cũng là quy luật vận hànhchung của văn hoá, văn nghệ ở những nước xã hội chủ nghĩa trên con đườnghiện đại hoá trong thế kỉ XX như Nga, Trung Quốc và Việt Nam
Nhà lí luận văn học Trung Quốc Tiền Trung Văn phát biểu rằng “khi ýthức quần thể chính trị liên tục bị giải thể, lại hình thành cực nhanh loại ýthức mang đặc trưng quần thể khác, có điều đây là loại ý thức quần thể thẩm
mĩ, cũng chính là ý thức thẩm mĩ văn học đại chúng.”[422;168] Vận độngnày của văn học Trung Quốc hiện đại cũng diễn ra tương tự như ở văn họcViệt Nam với độ song trùng khá sít sao
Từ giữa những năm 80 của thế kỉ XX, cùng với sự xuất hiện và pháttriển của kinh tế thị trường, ở Việt Nam đã hình thành một nền văn hoá đạichúng Văn học với tính đại chúng cũng đã xuất hiện Tính đại chúng củavăn học từ thời đổi mới bộc lộ ở “tính thương phẩm”, “tính tiêu dùng”, “tínhthế tục”, “tính thông tục”, “tính phục chế” và “tính lưu hành rộngrãi”[422;171] Tính đại chúng của văn học đổi mới khác với tính đại chúngcủa văn học chiến tranh cách mạng Văn học chiến tranh cách mạng vươn tớitính đại chúng ở mục tiêu “phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu”, “hướng vềđại chúng, trước hết là công nông binh”[294;49-52] Trong hoàn cảnh chiếntranh, tính đại chúng của ý thức quần thể chính trị như thế đã tỏ rõ sức mạnhtập hợp, đoàn kết nhân dân chung sức vì nhiệm vụ cụ thể trước mắt Nhưng
Trang 38sau 1975, ngay cả khi cơ chế kinh tế thị trường chưa xuất hiện thì văn học đãgặp phải tình trạng ghẻ lạnh của công chúng Đại chúng hoá theo ý thứcquần thể chính trị đã không còn phù hợp với sự vận động tất yếu của đờisống kinh tế, chính trị, văn hoá thời bình Bước vào thời kì đổi mới, tính đạichúng của văn hoá - văn học gắn liền với quy luật của kinh tế thị trường đãtrở thành một trong những điểm thay đổi quan trọng khiến cho văn học, nhất
là văn xuôi “đã thể hiện tính dân chủ rộng rãi của hứng thú thẩm mĩ, nó đãthoả mãn nhu cầu thẩm mĩ của quảng đại dân chúng, thể hiện mức độ tự docực lớn của ý thức thẩm mĩ và độ rộng do những thay đổi lớn lao của ý thứcthẩm mĩ tạo ra.”[422;171] Một hệ quả của tính đại chúng là sự phân hoá củaquan niệm văn học và thị hiếu thẩm mĩ của độc giả từ đơn nhất chuyển sang
đa dạng Sự đa dạng hoá thẩm mĩ của văn xuôi như vậy chịu sự tác động củaphân hoá đại chúng
Sự đa dạng của quan niệm văn học, thị hiếu thẩm mĩ của độc giả trong bốicảnh văn hoá thời kinh tế thị trường đã được kích hoạt tích cực với sự mởrộng giao lưu đa dạng văn hoá, văn học, tư tưởng triết học, mĩ học,… nướcngoài, nhất là phương Tây hiện đại Văn học xuất hiện tính đa khuynh hướng,
đa dạng hoá cái nhìn và thể nghiệm nghệ thuật Bên cạnh những sáng tác “báchọc”, người ta còn chấp nhận sự tồn tại của văn chương thông tục Nhà văn vàđộc giả ngày càng có được hành lang rộng rãi hơn, tự do hơn trong sáng tạo
Trang 39văn hoá - văn học nước ngoài… Tất cả sẽ được diễn ra trong một thế cụcngày càng đa dạng cả về đường lối và thực tiễn Đó vừa là thành tựu đồngthời cũng là phương hướng phát triển của văn học đương đại: “Nền văn họctiên tiến hôm nay, trước hết phải là nền văn học vì con người, khẳng định vàthể hiện mọi nhu cầu sống, phát triển toàn diện, phong phú của conngười.”[348;309].
1.3 Sự thay đổi cục diện các giá trị thẩm mĩ trong văn xuôi
Thay đổi hệ hình giá trị thẩm mĩ cũng tức là sự thay đổi cục diện các giátrị thẩm mĩ trong hệ thống Khi hệ hình giá trị đã chuyển đổi từ cao cả thuầnkhiết, đơn trị sang đời thường phồn tạp, đa trị, thì cục diện thẩm mĩ mới cũng
đã xuất hiện Đó là cục diện đa dạng với sự mở rộng chưa từng có những khảnăng tương tác, chuyển hoá giữa các phạm trù thẩm mĩ
Có thể từ rất nhiều góc độ để xem xét sự đa dạng của một đối tượng vănhọc nào đó Người ta có thể hiểu sự đa dạng ở cấp độ khuynh hướng, trào lưuvăn học Theo đó, sự đa dạng của một giai đoạn văn học nào đó thể hiện ở sựxuất hiện đồng thời nhiều khuynh hướng, trào lưu khác nhau Văn xuôi ViệtNam đầu thế kỉ XX đã có được sự đa dạng này Văn xuôi Việt Nam sau 1975tuy chưa có được sự đa dạng về trào lưu, nhưng cũng đã có những dấu hiệucủa tính đa khuynh hướng, chẳng hạn như khuynh hướng hậu hiện đại,khuynh hướng kì ảo,… Có thể hiểu sự đa dạng ở phương diên phong cách.Theo đó, sự xuất hiện các phong cách, cá tính sáng tác khác nhau trong mộtthời điểm, giai đoạn văn học được xem là biểu hiện của tính đa dạng Nhìnchung, tính da dạng phong cách thì văn học thời nào cũng có, bởi vì nó là đòihỏi sống còn cho sự tồn tại của bất cứ nghệ sĩ chân chính nào Tất nhiên, càng
ở những môi trường văn hoá đa dạng, với đường lối đúng đắn, dân chủ thìđiều kiện cho sự phát triển đa phong cách cũng tăng lên Văn xuôi Việt Nam
Trang 40sau 1975 cũng có được những thuận lợi như thế Người ta lại có thể đứng ởcấp độ tác giả để xem xét tính đa dạng Đứng ở cấp độ này, những tìm tòi, đổimới không lặp lại mình ở những tác phẩm khác nhau của một nhà văn đượcxem như biểu hiện của đa dạng Một thời gian, trong giới lí luận phê bình vănhọc ở ta đã tranh luận về khái niệm phong cách, nhất là đối với những tác giả
đã định hình phong cách với những tác phẩm đỉnh cao từ trước Cách mạngtháng Tám (1945) bước vào cuộc “đổi đời” trong giai đoạn chiến tranh cáchmạng Có những nhà văn đã “lột xác” hoàn toàn sau 1945 và người ta nói đếnchuyện “sự thay đổi phong cách” Nhưng cũng có những nhà văn vẫn khẳngđịnh dấu ấn của mình bằng một cá tính sáng tạo khá nhất quán dù trước haysau 1945 Người ta lại cho đó là những biểu hiện của bản lĩnh sáng tạo, rằng
sự thay đổi nằm ở phương diện khác, vv và vv…
Nhưng văn học là một hình thái phản ánh thẩm mĩ “Nhà văn tiến hànhsáng tạo thẩm mĩ, không chỉ ở chỗ biểu đạt cảm thụ cá nhân, truyền đạt thểnghiệm bản thân, sáng tạo hình thức nghệ thuật độc đáo, đồng thời còn sáng tạomột giá trị thẩm mĩ Đó là sự đánh giá thẩm mĩ chứa đựng mĩ cảm ngôn từ, sựthích thú, mang tính cảm thụ mãnh liệt, có sắc thái nhận thức tư
tưởng.”[422;165] Sáng tạo văn học nghĩa là sáng tạo ra những giá trị thẩm
mĩ Vì vậy, sự đa dạng của văn học cần phải được xem xét trên phương diện sự
đa dạng của các giá trị thẩm mĩ như là sản phẩm đặc thù của sáng tạo nghệ thuật Các giá trị thẩm mĩ đã được mĩ học từ xa xưa hệ thống hoá bằng những phạm trù như cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái hài,… Chúng tôi tiếp cận sự đa dạng thẩm mĩ của văn xuôi Việt Nam sau 1975 là tiếp cận sự đa dạng của các phạm trù thẩm mĩ, đi tìm sự đa dạng trong sự chuyển đổi các phạm trù thẩm
mĩ Sự đa dạng thẩm mĩ, như vậy, sẽ được hiểu ở các cấp độ sau:
(1) ở cấp độ vĩ mô, sự đa dạng hoá thẩm mĩ biểu hiện sự phong phú củacác phạm trù thẩm mĩ Theo đó, sự da dạng hoá thẩm mĩ của văn xuôi Việt