1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thơ Việt Nam hiện đại viết về biển đảo (Khảo sát qua một số tác giả tiêu biểu)

113 3K 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 804,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một quốc gia nằm trong số 10 nước trên thế giới có chỉ số cao nhất về chiều dài bờ biển, biển đảo Việt Nam không chỉ gắn liền với những kỳ quan thiên nhiên mà còn là những dấu mốc gắn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

BÙI THỊ THU HUẾ

THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VIẾT VỀ BIỂN ĐẢO (KHẢO SÁT QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU)

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lý luận văn học

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

BÙI THỊ THU HUẾ

THƠ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VIẾT VỀ BIỂN ĐẢO

(KHẢO SÁT QUA MỘT SỐ TÁC GIẢ TIÊU BIỂU)

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận văn học

Mã số: 60.22.01.20

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Trần Khánh Thành

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đến Ban Giám hiệu

trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để các học viên chúng tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình

Cùng với các học viên lớp Cao học Lý luận Văn học, chân thành cảm

ơn quý thầy cô đã tận tình giảng dạy, mở rộng và chuyển tải kiến thức chuyên môn sâu sắc và cập nhật thông tin hiện đại cho chúng tôi

Đặc biệt, chúng tôi chân thành cảm ơn PGS.TS Trần Khánh Thành, thầy đã không quản ngại thời gian và công sức, hướng dẫn tận tình giúp tác giả hoàn thành tốt luận văn

Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè thân thuộc đã luôn là chỗ dựa tinh thần vững chắc, giúp tác giả thực hiện tốt luận văn này

Dù đã có nhiều cố gắng song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự chia sẻ, những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn!

Tác giả

Bùi Thị Thu Huế

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề 5

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 8

5 Cấu trúc luận văn 8

CHƯƠNG 1: BIỂN ĐẢO VÀ THƠ VIẾT VỀ ĐỀ TÀI BIỂN ĐẢO 9

1.1 Biển đảo Việt Nam 9

1.2 Thơ viết về đề tài biển đảo 12

1.2.1 Thơ viết về biển đảo từ năm 1945 đến năm 1975 13

1.2.2 Thơ viết về biển đảo từ sau năm 1975 đến nay 21

CHƯƠNG 2: NHỮNG CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG THƠ VIẾT VỀ BIỂN ĐẢO 38

2.1 Cảm hứng nghệ thuật 38

2.2 Biển đảo - Tiếng thơ khẳng định chủ quyền lãnh thổ 41

2.3 Biển đảo - Tiếng thơ ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên, đất nước, con người Việt Nam 46

2.4 Biển đảo - Tiếng thơ thể hiện tình yêu đôi lứa 57

CHƯƠNG 3: HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG VÀ BIỂU TƯỢNG NGHỆ THUẬT TIÊU BIỂU 65

3.1 Hệ thống hình tượng tiêu biểu 65

3.1.1 Hình tượng nghệ thuật 65

Trang 5

3.1.2 Hình tượng biển đảo gắn liền với Tổ quốc 67

3.1.3 Hình tượng người lính 74

3.1.4 Hình tượng những con người lao động 81

3.2 Những biểu tượng nghệ thuật 84

3.2.1 Biểu tượng nghệ thuật 84

3.2.2 Biểu tượng thuyền và biển 87

3.2.3 Biểu tượng cánh buồm 91

3.2.4 Biểu tượng cánh chim hải âu 97

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất nước Việt Nam có bờ biển trải dài theo hình chữ S với trên 3000

km bờ biển suốt từ biên giới Trung Quốc cho tới vịnh Thái Lan Là một quốc gia nằm trong số 10 nước trên thế giới có chỉ số cao nhất về chiều dài bờ biển, biển đảo Việt Nam không chỉ gắn liền với những kỳ quan thiên nhiên mà còn

là những dấu mốc gắn liền với những giá trị lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, chiếm giữ vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng của đất nước Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, biển là chiến lược của toàn cầu Mỗi một dân tộc muốn lớn mạnh phải từ biển Do đó, biển đảo có một vai trò vô cùng to lớn

Cảm hứng về biển đảo trong thơ ca từ xưa đến nay luôn dạt dào, xuyên thấm không gian, thời gian Tình yêu đối với biển đảo bao giờ cũng chân thành và thiêng liêng nhất Ở đó, khái niệm về đất nước, quê hương đã trở thành những xúc cảm bi tráng, thiết tha và trong sáng nhất Vì vậy, thơ viết về biển đảo rất phong phú và đa dạng Sự phong phú đa dạng ấy được đánh dấu bằng số lượng các tác phẩm thơ viết về biển đảo ngày một nhiều thêm và trong số đó có không ít những tác phẩm đạt giải trong các cuộc thi thơ

Tháng 5/2011, tình hình Biển Đông trở nên nóng bỏng bởi sự kiện tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp tàu Viking II và Bình Minh II của PVN Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bị đe dọa mất chủ quyền Tổ quốc đang đứng trước những hiểm họa đến từ biển thì những vần thơ viết về biển đảo càng có ý nghĩa hơn bao giờ hết Nó thôi thúc lay động tâm trí và hành động của mỗi người nhất là thế hệ trẻ Việt Nam, làm dấy lên tình yêu,

sự gắn bó với biển đảo quê hương Từ đó, mỗi người thấy cần có trách nhiệm hơn trong việc giữ gìn đất đai Tổ quốc Bởi biển đảo là một phần lãnh thổ, là máu thịt của đất nước thân thương

Ý thức về biển đảo của cha ông ta đã hình thành từ rất sớm Trên hình hoa văn trống đồng ở Đền Hùng, đã có những con thuyền vượt sóng ra khơi

Trang 7

Trong truyền thuyết về cội nguồn dân tộc có chi tiết 50 người con của Âu Cơ

- Lạc Long Quân đã theo cha xuống biển Như vậy, chúng ta đã có một văn hóa biển từ rất lâu đời Đến nay, nó vẫn được phát huy và là sợi dây gắn kết mọi con dân nước Việt Riêng thơ viết về biển đảo đạt thành tựu lớn cả về số

lượng và chất lượng (có đến hơn 1000 bài thơ viết về đề tài này) Mỗi nhà thơ

khai thác biển đảo ở một góc cạnh, chiều kích riêng Đặc biệt sự xuất hiện của các trường ca đã giúp các nhà thơ nhìn biển đảo sâu rộng hơn Có thể nói, chưa bao giờ thơ Việt Nam viết về biển đảo lại phong phú như bây giờ Nhất

là trong bối cảnh hiện nay, viết về biển đảo là cách thể hiện tình yêu đất nước, thể hiện thái độ chính trị

Khảo sát các công trình nghiên cứu, chúng tôi thấy chưa có một luận

văn, luận án nào nghiên cứu “Thơ Việt Nam hiện đại viết về biển đảo” Thảng

hoặc trong các luận văn, luận án nghiên cứu về Hữu Thỉnh, Trần Đăng Khoa, các tác giả có nhắc đến đề tài biển đảo hay hình tượng người lính ở một mục nhỏ mà chưa có những nghiên cứu sâu rộng, bao quát vấn đề

Chọn đề tài: “Thơ Việt Nam hiện đại viết về biển đảo”, chúng tôi muốn

bước đầu nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện những đặc điểm riêng của mảng thơ biển đảo cùng những đóng góp của các tác giả đối với đời sống văn học đương đại Đồng thời khẳng định tình yêu biển đảo - yêu quê hương, đất nước là một mạch nguồn không bao giờ vơi cạn trong văn học Nó hình thành một dòng chảy mãnh liệt thẩm thấu trong tâm hồn những người dân Việt Nam từ xa xưa, được nối tiếp cho đến ngày nay và mai sau

Nghiên cứu đề tài “Thơ Việt Nam hiện đại viết về biển đảo” giúp cho

người viết có cái nhìn khái quát về một trong những cảm hứng chủ đạo của thơ Việt Nam hiện đại là cảm hứng về quê hương, đất nước Qua việc khảo sát các tác giả tiêu biểu viết về biển đảo, người viết muốn chỉ ra những điểm chung cũng như những nét riêng trong cách nhìn, cách nghĩ cũng như cách khai thác đề tài của mỗi nhà thơ

Trang 8

2 Lịch sử vấn đề

Đề tài nghiên cứu “Thơ Việt Nam hiện đại viết về biển đảo” là một đề

tài mới, mang tính thời sự nóng bỏng Theo khảo sát của chúng tôi đến nay, từ luận văn tốt nghiệp, luận văn Thạc sĩ cho đến luận án Tiến sĩ chưa có ai

nghiên cứu vấn đề “Thơ viết về biển đảo”

Trên các báo Biên phòng, Sài Gòn giải phóng, Thanh niên … và các

trang báo mạng thấy rải rác xuất hiện một số bài viết bàn về đề tài biển đảo

trong thơ Việt Nam Nổi lên là các bài viết: Biển đảo và Tổ quốc trong thơ của tác giả Phạm Thị Phương Thảo, Biển - đảo và thơ của tác giả Tạ Văn Sỹ,

Biển đảo là nguồn cảm hứng vô tận cho thi ca và âm nhạc của tác giả

Nguyễn Viết Chính, và Biển đảo - nguồn cảm hứng nghệ thuật vô bờ của

tác giả Nguyễn Hữu Quý… Các bài viết đó đều khẳng định biển đảo là

“nguồn cảm hứng vô tận cho thi ca và âm nhạc”, là “nguồn cảm hứng nghệ thuật vô bờ”

Trong bài Biển đảo và Tổ quốc trong thơ, tác giả Phạm Thị Phương

Thảo thấy rõ vị trí địa lí của lãnh thổ Việt Nam - một đất nước có “bờ biển trải dài theo hình chữ S” nên biển đảo là nơi “gắn liền với những kỳ quan của thiên nhiên của thế giới bởi những vẻ đẹp và những kiến tạo độc đáo” Nó không chỉ là “những vị trí và dấu mốc quan trọng trước lịch sử”, mà còn là

“nguồn cảm hứng bất tận của thi ca” Để mỗi khi đọc những bài thơ viết về biển đảo mỗi người Việt Nam chúng ta thấy được thôi thúc, lay động tâm thức và hành động Tác giả bài viết còn khẳng định: “Lãnh thổ Việt Nam chúng ta bây giờ không chỉ được trải dài từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau,

mà còn bao gồm cả vùng trời, vùng biển và hải đảo được trải rộng từ Tây Trường Sơn tới Đông Trường Sa Do đó với mỗi người dân yêu nước và có lòng tự cường dân tộc cần thấy rõ ranh giới và lãnh thổ của đất nước ta luôn gắn liền với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” [80]

Trang 9

Tác giả Nguyễn Viết Chính trong bài viết của mình Biển đảo là nguồn

cảm hứng vô tận cho thi ca và âm nhạc nhấn mạnh: “Đất nước Việt Nam

thân thương của chúng ta có đến 3670 cây số bờ biển, với hơn 1 triệu km2

diện tích nước trên biển Đông và trên 4000 đảo chìm, đảo nổi lớn, nhỏ Biển

đã mang lại cho ta những tiềm năng vô tận và đồng thời là nguồn cảm hứng cho các sáng tạo của văn học nghệ thuật, trong đó có thơ ca và âm nhạc”

[7] Tác giả dẫn ra lời lý giải của nhà văn Nguyễn Trí Huân về câu hỏi tại sao

thơ ca và âm nhạc lại có nhiều tác phẩm viết về biển như vậy: “Việt Nam là một dân tộc hướng ra biển Biển “nóng” lên thế nào, đất liền cũng sẽ “nóng” lên như vậy Trên biển không chỉ có sóng, có gió mà còn có cả con người - những con người hết sức đẹp đẽ Trong nhiều năm qua, đã có hàng trăm nhà văn, nhà thơ đến với Trường Sa, Hoàng Sa Nhưng không chỉ có Trường Sa, Hoàng Sa, mà những hòn đảo khác nữa trong vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc mãi sẽ là đề tài lớn với thi ca, bởi đó là máu thịt, là hương hỏa từ ngàn đời của ông cha ta bao thế hệ” [7]

Còn trong bài Biển đảo - nguồn cảm hứng nghệ thuật vô bờ, tác giả

Nguyễn Hữu Quý cũng khẳng định: “ Biển đảo, một phần lãnh thổ vô cùng thiêng liêng của Tổ quốc mang những dấu ấn lịch sử dựng nước và giữ nước sâu đậm của dân tộc ta, gắn với hình ảnh của những người lính, người dân đối mặt với sóng gió luôn là nguồn cảm hứng dạt dào vừa quen thuộc vừa mới mẻ của những văn nghệ sĩ” [66]

Tiếp thu những bài viết trên, luận văn nghiên cứu tìm hiểu “Thơ Việt

Nam hiện đại viết về biển đảo” để có một cái nhìn toàn diện về mảng đề tài

này trong văn học Việt Nam hiện đại Đây là sự nối tiếp một trong hai mạch nguồn lớn nhất của nền văn học nước ta Trên cơ sở đó, chúng tôi mong góp một tiếng nói nhỏ bé của mình để khẳng định đầy đủ và sâu sắc hơn những đóng góp của thơ hiện đại Việt Nam trong dòng chảy của thi ca dân tộc, nhất

là trước những vấn đề thời sự hôm nay

Trang 10

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu “Thơ Việt Nam hiện đại viết về biển đảo” nhằm phát hiện

những nét chung cũng như những tìm tòi riêng của các nhà thơ khi viết về biển đảo Đặc biệt thấy được tiếng thơ khẳng định chủ quyền lãnh thổ đất nước trong thơ Việt Nam hiện đại là một dòng chảy từ xưa đến nay nó vẫn xuyên thấm, vẫn được khúc xạ qua tâm hồn nhiều thế hệ Trong luận văn, chúng tôi tập trung khảo sát một số gương mặt tiêu biểu của thơ Việt Nam hiện đại viết về biển đảo để thấy được các nhà thơ đó đã làm nên một diện mạo đa phong cách nhưng lại có sự thống nhất trong việc khẳng định chủ quyền, lãnh thổ Từ đó, khẳng định vị trí, phong cách thơ của các cây bút tiêu

biểu cũng như những đóng góp của họ đối với nền thơ ca hiện đại Việt Nam

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn đi sâu nghiên cứu một số gương mặt tiêu biểu của thơ Việt Nam hiện đại viết về biển đảo Trong đó, người viết tập trung làm rõ những đặc điểm của thơ viết về biển đảo cũng như những đóng góp của các nhà thơ

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Trong phạm vi luận văn, chúng tôi chọn khảo sát một số trường ca, tập thơ và một số bài thơ tiêu biểu viết về biển đảo như:

Các trường ca, tập thơ:

- Trường ca Tổ quốc nhìn từ biển - Nguyễn Việt Chiến

- Trường ca Hạ thủy những giấc mơ - Nguyễn Hữu Quý

- Trường ca Người sau chân sóng - Lê Thị Mây

- Trường ca Trường ca Biển (chương 5) - Hữu Thỉnh

- Trường ca Tổ quốc - đường chân trời - Nguyễn Trọng Văn

- Trường ca Điệp khúc vô danh - Anh Ngọc

- Tập thơ Ta viết bài thơ gọi biển về - Huy Cận, gồm 45 bài

- Tập thơ Đi ngang qua bão - Trần Đăng Khoa, trong đó có 10 bài viết

về biển đảo

Trang 11

Các bài thơ của: Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Hoàng Trung

Thông, Giang Nam, Nguyễn Khoa Điềm, Xuân Quỳnh, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Phan Thị Thanh Nhàn, Hữu Thỉnh, Bùi Công Minh, Nguyễn Ngọc Phú, Nguyễn Thanh Mừng, Thanh Yến, Hải Bằng, Đỗ Trọng Khơi, Hồ Tịnh Tâm, Nguyễn Đình Di,

4 Phương pháp nghiên cứu

Để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu, chúng tôi sử dụng một số phương pháp chính sau đây:

4.1 Phương pháp hệ thống

4.2 Phương pháp so sánh

4.3 Phương pháp thống kê

4.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo,

cấu trúc Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Biển đảo và thơ viết về đề tài biển đảo

Chương 2: Những cảm hứng chủ đạo trong thơ viết về biển đảo Chương 3: Hệ thống hình tượng và biểu tượng nghệ thuật tiêu biểu

Trang 12

CHƯƠNG 1: BIỂN ĐẢO VÀ THƠ VIẾT VỀ ĐỀ TÀI BIỂN ĐẢO

1.1 Biển đảo Việt Nam

Lâu nay, khi nói đến lãnh thổ Việt Nam nhiều người thường chỉ nghĩ đến diện tích đất liền hay phần lục địa chạy dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, bắc giáp Trung Quốc, tây giáp Lào và Campuchia Tuy nhiên, theo định nghĩa hiện đại, lãnh thổ không chỉ gồm có vùng núi, vùng trung du, vùng đồng bằng và sông ngòi mà còn bao gồm tất cả vùng trời, vùng biển và hải đảo Như vậy, đất nước Việt Nam của chúng ta không chỉ chạy dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau mà còn trải rộng từ Tây Trường Sơn tới Đông Trường Sa

Đất nước Việt Nam thân yêu là một quốc gia nằm trong số 10 nước trên thế giới có chỉ số cao nhất về chiều dài bờ biển Bờ biển nước ta dài 3670 km,

từ Quảng Ninh đến Kiên Giang Như vậy cứ l00 km2

thì có l km bờ biển

(trung bình của thế giới là 600 km 2 đất liền/1km bờ biển), mở ra 3 hướng

Đông, Nam và Tây Biển có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế

và thềm lục địa với diện tích trên 1 triệu km (gấp 3 diện tích đất liền: l triệu

km 2 /330.000km 2 ) Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì có 28 tỉnh, thành

phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển

Biển từ lâu đã có ý nghĩa to lớn để chúng ta phát triển và mở rộng giao lưu quốc tế Tài nguyên sinh vật và khoáng sản phong phú, đa dạng, quý hiếm của biển có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp phát triển đất nước Nếu biết khai thác và khai thác đúng nguồn tài nguyên tiềm tàng của biển, nền kinh tế nước ta sẽ ngày càng giàu mạnh Việc sử dụng, khai thác biển là truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam Ngay từ buổi hoang sơ, qua

những truyền thuyết của thời đại Hùng Vương (Lạc Long Quân - Âu Cơ, Mai

An Tiêm, Tiên Dung - Chử Đồng Tử…) đã cho thấy nhân dân ta từ lâu đã biết

khai thác, sử dụng lợi thế của biển và đảo Trong quá trình tồn tại và phát triển của lịch sử mấy ngàn năm, dân tộc Việt Nam luôn có ý thức bảo vệ biên

Trang 13

giới lãnh thổ trên đất liền và ngoài biển, thể hiện chủ quyền trên biển và các hải đảo của đất nước mình

Vùng biển và ven biển Việt Nam lại nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông, Trung Quốc và Nhật Bản với các nước trong khu vực Có thể nói, đó là cánh cửa rộng mở để cho ta vươn ra đại dương bao la, nhằm chủ động hội nhập kinh tế với thế giới có hiệu quả

Vùng biển nước ta không những có vị trí quan trọng về kinh tế mà còn

có vị trí đặc biệt quan trọng về quân sự đối với các nước trong khu vực và trong chiến lược của các nước lớn Nó là biên giới phía Đông, là đường tiếp cận, bàn đạp tiến công, uy hiếp, phong tỏa và phá hoại nhiều mặt của các thế lực xâm lược Lịch sử cho thấy rằng trong 14 cuộc chiến tranh xâm lược của

kẻ thù đối với nước ta, thì có 10 cuộc bắt đầu từ hướng biển, kẻ thù đã sử dụng đường biển để tấn công xâm lược nước ta Những chiến công hiển hách trên chiến trường sông biển đã minh chứng: Ba lần đại thắng quân thù trên

sông Bạch Đằng (năm 938, 981 và 1288); chiến thắng trên phòng tuyến sông Như Nguyệt (năm 1077); chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút (năm 1785) và

những chiến công vang dội của quân và dân ta trên chiến trường sông biển trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là những minh chứng ghi đậm dấu ấn không bao giờ phai mờ trong lịch sử dân tộc Trong cuộc chiến tranh “phá hoại và bóp nghẹt” của không quân và hải quân

Mỹ (1964 - 1968 và 1972), “Đoàn tàu không số” của “Đường Hồ Chí Minh

trên biển” đã kiên cường, dũng cảm, sáng tạo mở tuyến, vận chuyển chi viện cho miền Nam, giải phóng các đảo và quần đảo Trường Sa, góp phần giành thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước

Biển nước ta còn gắn với những giá trị thiêng liêng về tâm linh và lịch

sử Truyền thuyết về Lạc Long Quân - Âu Cơ và những chiến công lịch sử Bạch Đằng, Vân Đồn xưa, Cồn Cỏ, đường huyền thoại Hồ Chí Minh trong

Trang 14

kháng chiến chống Mỹ… đã cấu thành những thành tố thuộc về dân tộc nâng

đỡ sức mạnh tinh thần cho muôn thế hệ

Vùng biển nước ta có trên 4000 hòn đảo lớn nhỏ Trong đó, vùng biển Đông Bắc có trên 3000 đảo, Bắc Trung Bộ có trên 40 đảo Còn lại ở vùng biển Nam Trung Bộ, vùng biển Tây Nam có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Căn cứ vào vị trí chiến lược cùng các điều kiện địa lý kinh tế, dân

cư, thường người ta chia các đảo, quần đảo thành các nhóm: hệ thống đảo tiền tiêu, các đảo lớn, các đảo ven bờ và hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa

Hệ thống đảo tiền tiêu có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trên các đảo có thể lập những căn cứ kiểm soát vùng biển, vùng trời nước ta, kiểm tra hoạt động của tàu, thuyền, bảo đảm an ninh quốc phòng, xây dựng kinh tế, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước

ta Đó là các đảo, quần đảo như: Hoàng Sa, Trường Sa, Chàng Tây, Thổ Chu, Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Cô Tô, Bạch Long Vĩ Các đảo lớn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội như: Cô

Tô, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc Các đảo ven bờ có điều kiện phát triển nghề cá, du lịch và cũng là căn cứ để bảo vệ trật tự, an ninh trên vùng biển và bờ biển nước ta Đó là các đảo thuộc huyện

đảo Cát Bà, huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), huyện đảo Phú Quý (Bình

Thuận), huyện đảo Côn Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu), huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang) Việt Nam có hai quần đảo xa bờ

là Hoàng Sa và Trường Sa cùng các đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển Đảo và quần đảo nước

ta có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; có vai trò lớn lao trong công cuộc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc ta

Với những tiềm năng rất lớn từ phía biển, biển Đông cùng các đảo hiện nay vẫn còn diễn ra các tranh chấp phức tạp và quyết liệt về chủ quyền giữa

Trang 15

các quốc gia, nơi tiềm ẩn những bất trắc khó lường, đang là thách thức đe dọa đến chủ quyền lãnh thổ, an ninh của nước ta trên biển và từ hướng biển

Biển đảo vì thế trở thành một vấn đề nóng bỏng, thu hút sự quan tâm của nhiều lĩnh vực Trong đó thơ ca cũng lấy biển đảo là nguồn cảm hứng cho các sáng tạo

1.2 Thơ viết về đề tài biển đảo

Nhận rõ vị trí tầm quan trọng của biển đảo nên các nhà thơ đã dành không ít những tác phẩm viết về biển đảo Có thể nói, biển đảo đã trở thành một đề tài lớn thu hút sự quan tâm của văn học Bởi từ xưa đến nay, phần lãnh thổ thiêng liêng này đã gắn liền với số phận dân tộc Từng hải lý, từng tấc đảo, Hoàng Sa, Trường Sa… là máu, mồ hôi của ông cha để lại Tổ Quốc thân yêu đã và đang hướng ra biển lớn Văn học nói chung và thơ ca nói riêng không thể thờ ơ hay đứng ngoài những vấn đề lớn của dân tộc Hành trình lịch

sử và hành trình của thơ ca chân chính không tách rời nhau bởi hạt nhân của

mà hàng nghìn năm nay cha ông ta đã cất công gìn giữ

Thật có lý khi nhà văn Nguyễn Trí Huân cho rằng: “Việt Nam là một dân tộc hướng ra biển Biển “nóng” lên thế nào, đất liền cũng sẽ “nóng” lên như vậy Trên biển không chỉ có sóng, có gió mà còn có cả con người - những con người hết sức đẹp đẽ Trong nhiều năm qua, đã có hàng trăm nhà văn, nhà thơ đến với Trường Sa, Hoàng Sa Nhưng không chỉ có Trường Sa, Hoàng

Sa, mà những hòn đảo khác nữa trong vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc sẽ mãi là đề tài lớn với thi ca, bởi đó là máu thịt, là hương hỏa từ ngàn đời của ông cha ta bao thế hệ” [7]

Trang 16

Số lượng các bài thơ viết về biển đảo ngày một nhiều hơn Mỗi một giai đoạn văn học lại ghi dấu những bài thơ hay viết về đề tài này Biển đảo

là máu thịt của đất nước nên các nhà thơ viết về biển đảo cũng chính là viết

về Tổ quốc thân yêu Tình hình biển đảo hiện nay đang nóng bỏng từng giờ càng thôi thúc nhiều nhà thơ hướng trái tim của mình ra biển để sáng tác Với họ, viết về biển đảo chính là một cách để thể hiện tình yêu cháy bỏng đối với đất nước

1.2.1 Thơ viết về biển đảo từ năm 1945 đến năm 1975

Văn học giai đoạn 1945 - 1975 là nền văn học của chế độ mới, vận động và phát triển dười sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, có sự thống nhất về khuynh hướng tư tưởng Văn học giai đoạn này hướng đến việc phản ánh hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc với các vấn đề lớn của thời đại Tuy vậy, khảo sát đội ngũ các nhà thơ chúng ta thấy có không ít những tác giả viết

về biển đảo Thậm chí ngay trong một số tập thơ viết về đề tài chiến tranh thì vẫn có những bài thơ viết với cảm hứng biển đảo Từ các nhà thơ của thế hệ thơ Mới như: Xuân Diệu, Huy Cận đến những nhà thơ thời chống Mĩ như: Xuân Quỳnh, Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Tế Hanh, Giang Nam, Tô Nhuần, Phan Ngọc Thường Đoan, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Phan Thị Thanh Nhàn, Vũ Quần Phương, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Trung Thông, … đã để lại một khối lượng sáng tác đồ sộ gồm các trường ca, các tập thơ và bài thơ viết về biển đảo với cái nhìn từ nhiều chiều kích khác nhau

Xuân Diệu - “nhà thơ của niềm khát khao giao cảm với đời” [53, 53], luôn khao khát yêu và được yêu Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh từng nói rằng: “Tình yêu là tình cảm say mê nhất trong thơ Xuân Diệu” [53, 54] Xuân Diệu đến với tình yêu có lẽ để xoa dịu nỗi cô đơn cố hữu và nỗi niềm thảng thốt âu lo trước thời gian của mình Thi sĩ tìm đến với biển như một tất yếu để thể hiện tình yêu Bản thân Xuân Diệu lại được sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Quy Nhơn đầy sóng và gió nên biển với ông như một phần hồn

không thể thiếu Một minh chứng cho điều đó là bài thơ Biển

Trang 17

Biển được viết sau Cách mạng tháng Tám (1962), trên bãi biển Sầm

Sơn Nhưng như chính nhà thơ tâm sự, nguồn thi hứng của ông lại được gợi lên từ biển Quy Nhơn cát vàng nước biếc dạt dào, tiếng thầm thì của phi lao như lời tâm sự của những tình nhân Thi phẩm được coi là một trong những bài thơ tình đặc sắc nhất của Xuân Diệu Đối với Xuân Diệu, biển là cái cớ để thể hiện tình yêu lứa đôi muôn thuở Dưới con mắt của “ông Hoàng” thơ tình thì biển trở thành nơi vỗ nhịp cho tình yêu Mà nói như nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh thì “Biển trong thơ Xuân Diệu đúng là một tình nhân đắm say, một trái tim vĩ đại không bao giờ mệt mỏi” [53, 61]

Bài thơ thể hiện một tình yêu thật mạnh mẽ, dữ dội và nồng nàn Đó là một tình yêu nam tính luôn khao khát được tận hưởng mọi hương vị nồng nàn của tình yêu:

“Anh xin làm sóng biếc Hôn mãi cát vàng em Hôn thật khẽ, thật êm Hôn êm đềm mãi mãi

Đã hôn rồi, hôn lại Cho đến mãi muôn đời Đến tan cả đất trời Anh mới thôi dào dạt ”

(Biển - Xuân Diệu)

Có lẽ đến nay trong thi ca Việt Nam, kể cả những nhà thơ cách tân mới nhất, chưa ai dám bạo dạn tả cái hôn đắm đuối đến mức: “hôn mãi”, “hôn thật khẽ, thật êm”, “hôn êm đềm, mãi mãi”, “hôn rồi hôn lại”, “tan cả đất trời”… Ngỡ như cả vũ trụ nghẹt thở bởi những cái hôn nồng cháy đến thế! Thấp thoáng trong câu thơ những ám ảnh dục tính rất đời thường nhưng không hề vẩn đục bởi những dục vọng thấp hèn Con sóng tình không chỉ dừng lại ở đó

mà rất bạo liệt ào ạt “nghiến nát bờ em” Chúng ta lại gặp một Xuân Diệu -

“kẻ uống tình yêu dập cả môi” thuở nào! Con người đã tìm thấy trong tình

Trang 18

yêu sự sống vĩnh cửu, vượt ra khỏi giới hạn trăm năm của đời người để quyện chặt với đời bằng nụ hôn “ngàn năm không thỏa” Bằng tình yêu ấy, thi nhân

đã hòa con sóng biếc tâm hồn góp thành bể biếc cuộc đời - màu tình yêu muôn thuở

Biển là bài thơ tình yêu nhưng vượt ra khỏi phạm vi của tâm tình lứa

đôi bởi bài thơ còn nóng hổi những cảm xúc bồi hồi của đứa con miền Nam trong những ngày phải xa cách quê hương khi đất nước cắt chia làm hai nửa

Biển cũng là tình yêu vọng về mảnh đất Bình Định thân thương, nơi đã nuôi

dưỡng hồn thơ Xuân Diệu Vì vậy biển Quy Nhơn ở đây lung linh trong bao thi ảnh bể biếc, cát vàng, thoai thoải bãi bờ… Tình yêu lứa đôi đã quyện hòa cùng tình yêu quê hương:

“Anh không xứng là biển xanh Nhưng cũng xin làm bể biếc

Để hát mãi bên gành Một tình chung không hết”

(Biển - Xuân Diệu)

Nếu Xuân Diệu - nhà thơ của tình yêu tìm đến biển để giãi bày những cảm xúc yêu thương nồng cháy, mãnh liệt thì Huy Cận - nhà thơ của không gian lại tìm đến với biển như một lẽ đương nhiên Ông từng thú nhận “Lòng

ta mê biển tự sơ sinh”, nên suốt hơn nửa thế kỷ đời và thơ, nhà thơ đã luôn vui buồn cùng biển Ông viết nhiều về biển với cảm thức không gian vũ trụ

Tập Ta viết bài thơ gọi biển về của nhà thơ gồm 45 bài lấy cảm hứng về biển

đảo Có lẽ, chỉ đến với không gian bao la ấy nhà thơ mới khám phá hết được những chiều kích của vũ trụ và thể hiện nỗi lòng của một tâm hồn gắn bó với non sông, đất nước

Với Huy Cận, biển không chỉ có sóng, nước, mây trời, nắng gió, trăng sao, những ngọn đèn biển … mà còn là những bến bờ, xóm thôn, đảo vịnh, thuyền bè và những con người kiên cường, thủy chung

Biển thật hồn nhiên với biển Sơ khai, với Dưa An Tiêm:

Trang 19

“Trời xanh ran lá biếc Biển chóa ngập buồm vàng Gió thổi miền bất diệt Mây tạnh đất hồng hoang”

(Sơ khai - Huy Cận)

“Đất buổi hồng hoang cát bụi bay Cát chưa yên định, đất chưa dày Đất vừa mới nhú từ lòng biển Cát chửa làm quen những bóng cây”

(Dưa An Tiêm - Huy Cận)

Biển gần gũi, thân thương với Đoàn thuyền đánh cá, Những người

kéo lưới:

“Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi Câu hát căng buồm cùng gió khơi”

(Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận)

“Những người kéo lưới mỗi ban mai Góc độ chênh chênh đối mặt trời Kéo mặt trời lên cùng mẻ cá Sóng là vảy bạc nắng xa phơi”

(Những người kéo lưới - Huy Cận)

Biển thật giàu và đẹp :

“Ôi biển đẹp, biển giàu Lưng ta dựa vào biển Tay khoan vào biển sâu

Ôi biển mát lại cho ta nồng ấm”

(Biển giàu, biển đẹp - Huy Cận)

Trang 20

Trong thơ Huy Cận, tình yêu quê hương, đất nước và tên gọi tổ quốc

trở nên linh thiêng bởi biển đã chắt chiu nên Muối:

“Muối ơi!

Từ lòng biển muối về đọng lại Nắng với gió muối về kết trải Muối trắng tinh như nắng chóa đúc ra Như nụ cười nghìn năm của biển

Muối nồng thơm, mặn chát Muối tình yêu thứ nhất

Mà biển lớn cho ta”

(Muối - Huy Cận)

Ở đó có Thềm lục địa:

“Biển động đêm qua, sáng biển êm

Ta nằm lục địa, sóng lên thềm Đời ta có biển viền nghìn thuở Xanh chói bình minh, xanh biếc đêm”

(Thềm lục địa - Huy Cận)

Và biển thân thương có Những cánh buồm:

“Cột buồm ơi với cánh buồm ơi Nửa như yên định nửa xa rời Hồn ta lấy gió hai chiều ấy Trụ một buồm đi chếch biển khơi”

(Những cánh buồm - Huy Cận)

Sâu nặng hơn cả là đằng sau những biến cố thăng trầm của chiến tranh hoặc phong ba bão tố nhà thơ luôn gửi gắm niềm hi vọng vào biển

khơi với Những thành phố bên bờ biển cả, Trả lại Thái Bình Dương cái

tên hiền hậu… để biển mãi mãi là Biển giàu, biển đẹp và vang ca Tiếng hát trên cảng:

Trang 21

“Thái Bình Dương Đời đời muối mặn Thái bình của muối Thái bình của cơm Thái bình của những sợi rong thơm

Và của những lòng người bè bạn

Nước biển chảy qua kẽ tay Đọng làn muối trắng - Năm tháng trôi qua kẽ tay Đọng lại hòa bình

Kết tủa văn minh”

(Trả lại Thái Bình Dương - cái tên hiền hậu – Huy Cận)

Viết về đề tài biển đảo ở thời kỳ này không thể không kể đến tên tuổi Xuân Quỳnh - nữ sĩ của tình yêu và hạnh phúc đời thường Với 10 tập thơ để lại, Xuân Quỳnh có không ít những bài thơ lấy hình ảnh con thuyền xuôi ngược, biển cả bao la và những con sóng cuộn trào làm nguồn cảm hứng Những hình tượng ấy trở đi trở lại như một phương thức trữ tình độc đáo để bộc lộ cảm xúc, tình cảm của nhà thơ Bởi Xuân Quỳnh vốn là người có một tâm hồn nhạy cảm và khát vọng luôn dâng trào mãnh liệt với tình yêu hạnh phúc của một con tim cuồng nhiệt đam mê để sống và để yêu Chị từng nổi

tiếng với những bài thơ tình được đông đảo độc giả yêu thích như: Sóng,

Thuyền và biển, Thơ tình cuối mùa thu

Nếu Xuân Diệu được tuổi trẻ xưng tụng là “Ông Hoàng” của thơ tình thì Xuân Quỳnh được coi là nữ sĩ của thơ tình yêu và khát vọng Những vần thơ tình nóng bỏng mà dịu dàng, mãnh liệt mà hồn hậu của Xuân Quỳnh vẫn luôn là những sợi dây tình cảm giăng mắc chốn trần gian và ở mãi nơi “vườn

trần” (Xuân Diệu) Có thể nói trong bước đi của mình, khi đến Xuân Quỳnh,

thơ tình đã có tiếng nói mới: Trực tiếp bày tỏ khát vọng tình yêu của một trái tim phụ nữ mãnh liệt mà chân thành, tự nhiên mà hồn hậu đến lạ kỳ!

Trang 22

Thuyền và Biển và Sóng là những bài thơ tình được xem là hay nhất

của Xuân Quỳnh nói riêng và thơ tình Việt Nam đương đại nói chung Ở đây, chúng ta có thể cảm nhận được vẻ đẹp của một tâm hồn phụ nữ luôn chân thành, đằm thắm, hồn hậu và trĩu nặng yêu thương; dám bày tỏ những khát vọng mãnh liệt của mình trong tình yêu và diễn tả được trọn vẹn tình yêu ấy Hơn một lần, thi sĩ đã từng mượn hình tượng sóng để giãi bày cảm xúc

Chúng ta đã biết Biển của Xuân Diệu mạnh mẽ, dữ dội và nồng nàn, bộc lộ một tình yêu rất nam tính còn Sóng của Xuân Quỳnh lại đậm tính chất nữ

tính, nhẹ nhàng, chân thành mà vẫn nồng nàn, thiết tha Chị mượn sóng biển

để bộc lộ tình yêu của người con gái bởi thấy giữa sóng và em có những điểm tương đồng:

“Dữ dội và dịu êm

Ồn ào và lặng lẽ Sóng không hiểu nổi mình Sóng tìm ra tận bể

(…) Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước

Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nghĩ đến anh

Cả trong mơ còn thức”

(Sóng - Xuân Quỳnh)

Bên cạnh Sóng, Xuân Quỳnh còn rất nổi tiếng với bài Thuyền và biển

được phổ thành nhạc Bài thơ là nỗi nhớ thương của thuyền và biển - một ẩn

dụ cho đôi lứa Nói về nỗi nhớ nhung của đôi lứa xa nhau tưởng như là một

đề tài đã khá cũ nhưng ở đây nhà thơ vẫn tìm thấy cách nói rất riêng khó có thể trộn lẫn Phải thấu hiểu nỗi lòng xa nhau của đôi lứa yêu nhau thì Xuân Quỳnh mới có thể có cảm nhận sâu sắc như thế về sự “bạc đầu thương nhớ” của biển và nỗi “đau rạn vỡ” của thuyền:

Trang 23

“Những ngày không gặp nhau Biển bạc đầu thương nhớ Những ngày không gặp nhau Lòng thuyền đau - rạn vỡ Nếu từ giã thuyền rồi Biển chỉ còn sóng gió"

Nếu phải cách xa anh

Em chỉ còn bão tố”

(Sóng - Xuân Quỳnh)

Về hai bài thơ này, nhà nghiên cứu Lưu Khánh Thơ từng nhận xét:

“Sóng và Thuyền và biển là hai bài thơ tình vào loại hay nhất của Xuân

Quỳnh nói riêng và của thơ hiện đại Việt Nam nói chung Nó có mặt trong hầu hết gia tài của những đôi lứa yêu nhau” [47, 228] Không phủ nhận một điều đã có rất nhiều nhà thơ cổ điển, hiện đại viết về hình ảnh thuyền, biển,

sóng và cũng có rất nhiều bài thơ thành công khi khai thác về nó (Biển - Xuân

Diệu), nhưng có lẽ chỉ đến Xuân Quỳnh, những hình ảnh đó mới trở nên bất

tử với thời gian Nhà thơ đã phát hiện ra trong đó tất cả cung bậc của tình yêu:

sự cuốn hút và bí ẩn, nỗi thấu hiểu và sự cảm thông, sự ràng buộc và tự nguyện, gặp gỡ và chia xa, khát vọng to lớn và sự bất tận, những hạnh phúc

và đau khổ đến tột cùng

Giai đoạn 1945 - 1975 còn ghi dấu nhiều bài thơ của các nhà thơ khác

viết về biển đảo như: Gửi từ đảo nhỏ, Tôi đi Bào Ngư của Hữu Thỉnh, Bến

cá - Thanh Thảo, Huyện đảo quê hương - Giang Nam, Nói với con chim biển - Tô Nhuần, Ở biển - Phan Ngọc Thường Đoan, Biển đêm, Biển lặng, Biển một ngày, Em lại ra với biển - Nguyễn Thị Hồng Ngát, Núi, Biển, Em

và Anh - Phan Thị Thanh Nhàn, Trước biển - Vũ Quần Phương, Tháng tư, Trường Sa - Nguyễn Khoa Điềm, Những cánh buồm - Hoàng Trung Thông, Quê hương - Tế Hanh,…

Trang 24

Như vậy, nhìn lại những sáng tác thơ về biển đảo trong văn học từ

1945 đến 1975 chủ yếu gắn liền với cảm hứng tình yêu Phải chăng vì biển mênh mông với những đợt sóng khi ồn ào, lúc lặng lẽ là không gian thích hợp để giãi bày những cảm xúc nhớ nhung, da diết của đôi lứa khi xa cách Ngoài cảm hứng về tình yêu, các nhà thơ chủ yếu ca ngợi sự giàu đẹp của biển Những vấn đề thời sự về biển hầu như chưa được các tác giả đề cập đến trong thơ

1.2.2 Thơ viết về biển đảo từ sau năm 1975 đến nay

Đại thắng mùa xuân 1975 đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống

Mĩ cứu nước, đặt một dấu mốc vĩ đại và mở ra một thời kì mới trong lịch sử dân tộc - Đất nước thống nhất, non sông thu về một mối Đồng thời điều kiện lịch sử ấy cũng đưa tới một chặng đường mới của nền văn học Việt Nam Nền văn học Việt Nam vốn đồng hành và gắn bó với vận mệnh của dân tộc đi qua những bước thăng trầm và đã tạo ra những biến đổi sâu sắc toàn diện, làm nên diện mạo của một giai đoạn mới

Nền văn học thời kỳ này nhất là từ sau đổi mới dành nhiều sự chú ý đến

đề tài biển đảo Bởi biển đảo Việt Nam trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa những năm gần đây có nhiều biến động, là điểm nóng trong nước, khu vực và quốc tế Mặc dù lịch sử cùng các tài liệu khoa học và pháp lý được công bố hiện nay đều thể hiện quá trình khai phá, chiếm hữu và thực thi chủ quyền liên tục của Việt Nam suốt chiều dài lịch sử Tuy nhiên thời gian gần đây, Trung Quốc đã có nhiều hành động xâm hại đến chủ quyền biển đảo Việt Nam: bắt ngư dân Việt làm ăn, tấn công các tàu Việt trên vùng biển của chính Việt Nam, ngang ngược xây dựng thành phố Tam Sa trên quần đảo Hoàng Sa Những hành động đó của Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; xâm phạm chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển của Việt Nam; vi phạm thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc ký tháng 10/2011; trái với tinh thần

Trang 25

Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và Tuyên bố cấp cao kỷ

niệm 10 năm (DOC), làm cho tình hình Biển Đông thêm phức tạp

Sự kiện Hoàng Sa - Trường Sa trong bảy năm qua đã trở thành vấn đề thời sự nóng trên thế giới, trong khu vực và hơn cả là ở trong nước nhất là từ năm 2011 Trên các thông tin đại chúng từ báo in đến báo mạng, từ các vấn đề chính trị xã hội cho đến văn học - nghệ thuật đều đề cập đến vấn đề biển đảo Trong dòng thời sự này, thơ ca là thể loại ngắn, nhanh nhạy nhất của văn học,

đã có mặt kịp thời để “phản ánh” hiện thực ấy Ở đó có chuyến đi thực tế dành cho nhà văn nhà thơ hướng ra biển đảo, có cuộc thi hay phong trào sáng tác thơ về biển đảo và cái không thể thiếu là: có các trang thơ về biển đảo

Đóng góp cho thơ Việt Nam viết về biển đảo ở thời kỳ này là các sáng tác của thế hệ các nhà thơ trưởng thành từ sau năm 1975 như: Hữu Thỉnh, Anh Ngọc, Phan Thị Thanh Nhàn, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Hữu Quý, Lê Thị Mây, Nguyễn Trọng Văn, Trịnh Công Lộc, Nguyễn Ngọc Phú, …

Trong số các nhà thơ trên có thể tìm thấy ở Hữu Thỉnh tình yêu quê hương Tổ quốc, yêu biển đảo thật sâu sắc Đó là nguồn cảm hứng vĩ đại đã

nuôi dưỡng hồn thơ ông Với các bài thơ Gửi từ đảo nhỏ, Tôi đi Bào Ngư,

Thơ viết ở biển và Chương 5 Trường ca Đường tới thành phố, đặc biệt là Trường ca Biển hình tượng biển đảo gắn với người lính xuất hiện dày đặc

Sau Đường tới thành phố, Hữu Thỉnh viết ngay Trường ca Biển, xong lần

thứ nhất từ năm 1981 và hơn mười năm sau, anh mới sửa chữa lại, rồi xuất bản năm 1994

Với cảm nhận của Hữu Thỉnh, Tổ quốc chưa thể hoàn toàn được độc lập nếu như vùng biển đảo chưa hoàn toàn thuộc về chúng ta Cách nhìn của Hữu Thỉnh về biển đảo có phần riết nóng và khốc liệt hơn các nhà thơ khác có

lẽ vì ông là một trong số những nhà thơ Việt Nam đã vượt sóng nước trùng khơi để ra Trường Sa, ăn ngủ cùng những người lính hải quân ngay sau khi đất nước vừa giải phóng Sự khốc liệt nơi rẻo đất mịt mùng trời nước ấy đã

Trang 26

hiện lên trong thơ ông với đầy đủ dáng vẻ của một con tàu luôn luôn phải đối mặt với sóng dữ, vừa là sóng của biển khơi nhưng cũng là bão tố từ những dã tâm luôn chực chờ thôn tính - “Đảo có lính, cát non thành Tổ quốc” Vì thế, hình ảnh đảo Trường Sa thân yêu của Tổ quốc được nhà thơ khắc họa sừng sững giữa biển cả mênh mông đang chống chọi với bão tố Những người lính nơi biển đảo xa kia đang từng ngày từng giờ vượt qua bao khó khăn, gian khổ

để gìn giữ từng tấc đất, từng hòn đảo thân thương Trong hoàn cảnh mới của đất nước thì trách nhiệm của những người lính đảo càng nặng nề hơn bao giờ hết Nếu trong chiến tranh giữ gìn bảo vệ biển đảo chính là đấu tranh để bảo

vệ đất nước thì thời bình không gian biển chính là không gian tượng trưng ước lệ Đó không chỉ là bối cảnh nơi người lính đang sống, chiến đấu bảo vệ chủ quyền của đất nước mà đó còn là những đòi hỏi của lịch sử dân tộc vẻ

vang trước đây với nhiệm vụ của đất nước trong thời đại mới Đối thoại biển

chính là cuộc đối thoại giữa lịch sử với dân tộc, đất nước, con người về con đường đi lên của dân tộc trong hiện tại và tương lai Con người ta không thể sống mãi với kinh nghiệm cũ với hào quang quá khứ và với một dân tộc cũng

vậy Người lính nơi biển khơi đã tự rút ra những triết lý thật sâu sắc khi Đối

thoại với biển:

“Người lính nói:

- Bao vốn liếng cả đời góp nhặt Bước xuống tàu bỗng thành kẻ tay không Biển nói:

- Những chiếc huân chương còn soi sáng trên bờ Sống với nước hãy bắt đầu từ nước

(…) Những vết thương của tôi nhiều hơn cả tuổi đời”

(Trường ca Biển - Hữu Thỉnh)

Biển với Hữu Thỉnh còn gắn liền với không gian đời tư, không gian cho tình yêu lứa đôi Cái tôi của tác giả từ đó được bộc lộ Nhà thơ tìm ra biển bao

Trang 27

la - không gian vốn gợi biết bao xúc cảm của con người từ ngàn xưa Đứng trước biển bao điều khó thổ lộ được giãi bày, biển và tình yêu trở nên đồng điệu Biển là không gian đầy lãng mạn và cũng là nhân chứng cho tình yêu của những người lính biển:

“Anh phải nói vòng vo anh yêu biển Anh yêu trời để thú nhận yêu em”

(Tạm biệt Sầm Sơn - Hữu Thỉnh)

Hữu Thỉnh viết rất nhiều thơ tình và không ít bài lấy biển đảo làm không gian thể hiện tình yêu Bởi biển bao la, vĩnh cửu là nơi chứng kiến bao

kỷ niệm vui buồn, bao nhớ nhung, lưu luyến:

“Không giữ nổi một mình Nhớ em, chia cho sóng Nhấp phải chút tương tư Thế là chiều biển động”

(Tám câu - Hữu Thỉnh)

Nhiều khi biển trở nên đơn côi bởi cái tôi tình yêu của nhà thơ cũng cảm thấy đơn lẻ, xa vắng người thương Không gian rộng lớn của biển được nhà thơ dồn nén vào cảm xúc cô đơn nhưng lại mở ra chiều sâu tâm trạng vô cùng vô tận của con người:

“Biển vẫn cậy mình dài rộng thế Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn”

(Thơ viết ở biển - Trần Đăng Khoa)

Nếu Hữu Thỉnh đi Trường Sa với tư cách của một “khách thơ” thì Trần Đăng Khoa chính là “chủ nhà” nơi quần đảo ấy Nhập ngũ vào mùa xuân

1975, sau khóa huấn luyện dài ngày, Trần Đăng Khoa trở thành lính Hải quân,

đã từng có mặt ở 25 hòn đảo lớn nhỏ trong cuộc đời lính biển của mình Vừa trực tiếp cầm súng chiến đấu bảo vệ đảo vừa cầm bút nói hộ cho tâm trạng của hàng ngàn người lính trên biển Đông, Trần Đăng Khoa hơn ai hết hiểu sâu sắc cuộc sống nơi đảo xa Anh có hàng loạt những bài thơ viết về biển đảo

như: Đồng đội tôi trên đảo thuyền chài, Ghi ở đảo chìm, Cây bão táp đảo

Trang 28

Nam Yết, Lính đảo chìm, Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn, Thư tình người lính biển, Có lẽ chính những năm tháng sống gắn bó cùng đồng đội trên quần

đảo Trường Sa đã giúp Trần Đăng Khoa viết được những trang rất chân thực

và sâu sắc về đời sống người lính Nếu không phải là người lính đã từng gắn

bó, sống chết với biển đảo thì dù tài năng đến đâu cũng khó có thể có những trang thơ về biển đảo sâu sắc đến thế

Trong những sáng tác viết về biển đảo của Trần Đăng Khoa, hình tượng người lính biển là một hình tượng trung tâm Ở nơi đảo xa ấy, những người lính biển luôn phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, ngay cả một giọt nước ngọt cũng thiếu Những ai một lần đợi mưa trên đảo mới thấu hiểu hết

nỗi lòng người lính ngày đêm đợi nước từ trời Bài thơ Đợi mưa trên đảo

Sinh Tồn của Trần Đăng Khoa như một khao khát thường trực của người lính

nơi Trường Sa Nhưng dù khó khăn đến đâu nữa, các anh vẫn “sinh tồn” trên đảo, trên chính mảnh đất mà Tổ quốc đã đặt tên cho nó:

“Ôi đảo Sinh Tồn, hòn đảo thân yêu Dẫu chẳng có mưa, chúng tôi vẫn sinh tồn trên mặt đảo Đảo vẫn sinh tồn trên đại dương đầy gió bão

Chúng tôi như hòn đá ngàn năm trong trái tim người”

(Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn - Trần Đăng Khoa)

Ở một bài khác, thật xúc động khi nhà thơ dựng lên hình ảnh những người lính ngày đêm bám biển canh giữ sự bình yên nơi biển cả trong điều kiện vô cùng khó khăn thiếu thốn:

“Lều bạt chung chiêng giữa nước, giữa trời Đến một cái gai cũng không sống được Sớm mở mắt nắng lùa ngun ngút

Đêm trong lều như trời trong mây”

(Đồng đội tôi trên đảo thuyền chài - Trần Đăng Khoa)

Người lính nơi đảo xa kiên cường bám trụ biển đảo giữa một không gian mênh mông ngút ngàn là nước, là trời: “Dưới nước sóng mây Trên đầu sóng nước”:

Trang 29

“Đảo tự giấu mình dưới ba mét nước Măng khô hết rồi Chỉ thăm thẳm biển xanh”

(Ghi ở đảo chìm - Trần Đăng Khoa)

Họ luôn mang trong trái tim mình khát vọng giữ gìn đất đai Tổ quốc Chính điều đó tạo nên sức mạnh giúp những người lính vượt qua mọi khó khăn:

“Chiều nay tôi đứng trước cây Lòng nghĩ về người chiến sỹ Dáng cây sao mà dẻo dai Vóc người sao mà bền bỉ Tôi ngước nhìn lên ngọn cây Lại thấy chòi quan sát đảo Bóng chàng lính trẻ hiên ngang

In lên màu mây mang bão…”

(Cây bão táp đảo Nam Yết - Trần Đăng Khoa)

Và sự hi sinh của người lính thật cao cả:

“Chúng tôi rất đông Mười tám đôi mươi Sâu sắc và vô tư như bầu trời

Tỉnh táo và đắm say như bầu trời Màu áo lính hát niềm tâm sự lính Biển nóng nảy nhưng chúng tôi trầm tĩnh Những con sóng ngầm đến đây phải bục dậy bất ngờ”

(Lính đảo chìm - Trần Đăng Khoa)

Viết về biển đảo hôm nay, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đã dành những trang thơ tâm huyết đầy xúc động Ông đã từng tâm sự: “Đất nước của chúng

ta liên miên trận mạc suốt bao đời, những nỗi đau thương chiến tranh còn ghi dấu nơi rừng sâu, biển thẳm Và qua bao thế kỷ, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc chúng ta đã dâng hiến tuổi thanh xuân của mình, đã vĩnh viễn nằm dưới cỏ để gìn giữ non sông này, để mang lại tự do và hạnh phúc cho thế

hệ mai sau… Chỉ cần một buổi sáng nghe lãnh đạo hải quân thuyết trình về

Trang 30

những hiểm họa đang rình rập đất nước, tôi đã thấy mình như lên cơn sốt, muốn viết ngay một khúc tráng ca về những người con của Tổ quốc đã hy

sinh ở Hoàng Sa và Trường Sa” [18] Và nhà thơ đã hoàn thành bài thơ Tổ

quốc nhìn từ biển trong một ngày Sở dĩ Nguyễn Việt Chiến viết bài thơ chỉ

trong có một ngày là bởi theo tác giả thì: “Đối với người cầm bút hôm nay, vượt lên trên tất cả vấn đề thời sự nhạy cảm ấy là tình yêu tổ quốc Tình yêu

đó được nuôi dưỡng trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam qua nhiều thăng trầm, và hình như lại đang được khơi dậy trong những năm tháng này Chính

tình yêu đó đã thôi thúc tôi viết bài thơ Tổ quốc nhìn từ biển ngay trong ngày

đầu dự trại sáng tác văn học Hạ Long” [18]

Bài thơ đã chọn điểm nhìn “từ biển” để đưa ra những giả định:

“Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển”;

“Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển”;

“Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo”;

“Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích”;

“Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm họa”;

“Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả”;

“Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát”

Ở mỗi chiều kích khác nhau, nhà thơ lại gợi mở cho người đọc nhiều suy ngẫm về vấn đề chủ quyền của đất nước, về vai trò quan trọng của biển đảo đối với một quốc gia và trách nhiệm của một người công dân trong việc giữ gìn đất đai của Tổ quốc

Hình tượng Tổ quốc trong bài thơ được tác giả liên tưởng như ngôi nhà có mẹ Âu Cơ, cha Lạc Long Quân và Âu Cơ chia con lên rừng, xuống biển mà làm nên hình hài đất nước Ông đã kết nối thời gian, không gian và các sự kiện thành một thể thống nhất Bắt đầu bằng cuộc chia tay có một không hai của ngàn năm trước để thương để nhớ “mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa”, nhà thơ triển khai ý tưởng nghệ thuật thành những khúc đoạn, buộc người đọc phải suy tư, trăn trở Bởi “Chúng ta là con dân đất

Trang 31

Việt, ông cha ta từ ngàn năm trước đã lên rừng, đã xuống biển để khai phá, dựng xây non nước này Và biển đảo ấy là một phần gia tài nghèo khó mà ông cha ta tự ngàn xưa đã không tiếc máu xương, công sức để giữ gìn, để truyền đời lại cho cháu con hôm nay”[18] Chúng ta đang sở hữu một vùng biển đảo vô cùng rộng lớn với hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ khác nhau Nhưng “Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả” thì làm sao mẹ Âu Cơ có thể yên lòng và chúng ta những con dân nước Việt làm sao khỏi “trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể” Chúng ta làm sao có thể không đau khi “Sóng lớp lớp

đè lên thềm lục địa”, phần máu thịt của Hoàng Sa, Trường Sa thì đang “bão giông”, không thương những “Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù”, “Cồn Cỏ

gối đầu lên sóng dữ”, “Hòn Mê bão tố phía âm u”… Tổ quốc nhìn từ biển

đã đạt giải nhì trong cuộc thi thơ Đây biển Việt Nam Đúng là một bài thơ

để đời về đề tài biển đảo

Sau thành công của bài thơ Tổ quốc nhìn từ biển, Nguyễn Việt Chiến

bắt tay vào viết trường ca cùng tên với cái nhìn ở các chiều kích sâu rộng, bao quát hơn về đời sống của con người và biển cả Qua trường ca này, ông đã dựng lại cái không khí tráng ca của một thời trận mạc mà dân tộc Việt Nam

đã trải qua hai cuộc chiến tranh dựng nước và giữ nước đồng thời dựng lại một phần không khí sử thi, tinh thần quật khởi của cha ông trong suốt hai ngàn năm giữ nước Tên gọi của tập trường ca này đã gợi lên tâm thế của những người Việt Nam yêu nước hôm nay đang đối mặt với muôn vàn gian

lao, khó khăn để trụ vững nơi đầu sóng ngọn gió bảo vệ Tổ quốc thiêng liêng

Tập trường ca viết về đề tài biển đảo Tổ quốc, chiến tranh cách mạng và

người lính với hơn 1000 câu thơ gồm 10 chương: Tổ quốc ở Trường Sa, Đất

mẹ, Ký ức biển, Tổ quốc nhìn từ biển, Cỏ và thuốc súng, Thưa mẹ! con sẽ

về, Từ sông Hồng, Đến Thăng Long, Mẹ - Tổ quốc, Ta là con của Việt Nam Là tập trường ca mang tính sử thi đậm chất tráng ca với các thể loại thơ

từ tự do đến tám chữ, từ lục bát đến năm chữ… với nhiều thể nghiệm thơ, Nguyễn Việt Chiến được đánh giá là người luôn có những nỗ lực tìm tòi

Trang 32

những cách tân trong thơ Cái mới của trường ca Tổ quốc nhìn từ biển thể

hiện ở chính cách nhìn mới thông qua những hình tượng sâu sắc, những suy tưởng khái quát về lịch sử của tác giả và nỗi đau biển đảo đó đã làm thao thức, trằn trọc tâm hồn những người Việt Nam yêu nước hôm nay Toàn bộ trường ca mang một tinh thần mới, một tâm thế mới … nên đã nhận được sự cộng hưởng tri âm của hàng triệu người đọc trong và ngoài nước

Bên cạnh Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Hữu Quý cũng là một gương mặt thơ tiêu biểu Nhà văn vốn có không ít tác phẩm viết về đề tài quê hương đất nước - một đề tài khá quan trọng trong thơ ông Nguyễn Hữu Quý đã từng hấp dẫn người yêu thơ với những tác phẩm thơ và trường ca thể hiện tình yêu

Tổ quốc nồng nàn như: Bông huệ trắng, Khát vọng Trường Sơn, Sinh ở

cuối dòng sông, Vạn lý Trường Sơn và gần đây nhất là Hạ thủy những giấc

mơ Có thể nói, những tác phẩm thơ của anh viết về Đất nước vừa mang chất

sử thi vừa đậm tính trữ tình Nguyễn Hữu Quý soi vào quá khứ và hiện tại của Đất nước để nhận ra những vẻ đẹp vững bền của dân tộc mình, càng lấp lánh bao nhiêu thì càng bình dị thân thuộc bấy nhiêu

Hạ thủy những giấc mơ là một trường ca hay viết về đề tài biển đảo

Điều thú vị là Nguyễn Hữu Quý đã thể hiện cách nhìn mới mẻ Ông viết về biển đảo từ cảm thức văn hóa làng Biển hiện lên trong cảm thức làng và làng hiện lên trong bao dung sâu xưa và rộng dài của biển Viết về biển, nhưng Nguyễn Hữu Quý lại chọn điểm tựa và cách đi từ làng, chứ không bắt đầu từ biển Đây là một sự nhọc nhằn trong tư duy tạo tứ, lập sàn, dựng rường cột cho một trường ca của nhà thơ Có lẽ Nguyễn Hữu Quý là người đầu tiên chọn cách tiếp cận này Bởi tổ tiên ta đều sinh ra từ làng và mọi làng quê Việt thì đều quay mặt hướng ra biển Đông Do vậy, dù lớn hay bé, ngày hay đêm, biển lặng yên hay bão tố đều dội đến, dội về và dội vào tận trong thẳm sâu làng Biển Đông vừa là một cái “làng - nước” khổng lồ nơi trùng khơi ngàn năm sóng vỗ, vừa là một cái hàn thử biểu đối với làng Việt Biển động, làng cũng sẽ không yên Chớp mãi tận trùng khơi cũng sẽ làm ao

Trang 33

làng nổi sóng, cánh đồng mùa vụ của làng cũng khê ướt bởi gió Đông Và giữ biển tức là giữ làng

Tập trường ca Hạ thủy những giấc mơ gồm 9 khúc, với 1247 dòng,

tướng ứng với khoảng hơn 1000 câu thơ, được viết theo thể tự do, dễ đọc và

dễ cảm nhận Điều thú vị là biển đảo hiện lên qua thơ Nguyễn Hữu Quý không hề xa lạ, cũng không phải là một cái gì đó quá trừu tượng Trái lại, người đọc thấy biển sao mà thật gần gũi, thân thương như bao làng quê chúng

ta Nơi ấy có tiếng “ru hời”, có “cơm nong cà vại”, “chiếc kiềng ba chân”, “ăn củi ăn rạ” Biển hiện lên rõ nét và bao quát hơn nhờ vào độ nén đến mức căng cứng xúc cảm nghệ thuật mà nhà thơ đã truyền cho người đọc

Có thể nói, biển và đảo trong tập trường ca của Nguyễn Hữu Quý được hình dung từ làng và qua làng với những điều đơn sơ, giản dị nhất Điều mà nhà thơ muốn nói qua trường ca này là sau những cuộc binh đao, đất nước thanh bình, chúng ta lại mơ giấc mơ trở về nguồn cội như những chiến hạm, những con tàu sau mỗi lần vượt trùng khơi qua nơi sóng giữ, cập bến bình yên:

“Hạ thủy giấc mơ xanh Chia tay những nàng tiên cá Con tàu bay về miền rơm rạ Đậu xuống ao làng

Bóng mẹ áo xanh, bóng em áo trắng Biển của tôi

Xanh - trắng mơ màng …”

(Hạ thủy những giấc mơ - Nguyễn Hữu Quý)

Lê Thị Mây - người con của vùng biển đã để lại một trường ca giá trị

về biển đảo Bà đã suốt 40 năm liền đi trong giấc mơ dài về biển bởi: “Biển cho tôi cảm xúc! Một cảm xúc dạt dào như những con sóng đánh vào tâm hồn của những người cầm bút…” [37]

Trang 34

Sinh ra và lớn lên ở biển, nghẹn ngào chứng kiến bao nỗi thăng trầm nơi vùng biển quê mình đổi thay, nhà thơ lại quyết định chôn sâu vào đáy lòng mình những xúc cảm, để ấp ủ, để tự mình mang nặng đẻ đau một đứa con tinh thần Đứa con ấy được ra đời sau 40 năm thai nghén và đắp bồi nên

hình hài, da thịt Đó là trường ca Người sau chân sóng từng đạt giải nhất

cuộc thi thơ Đây biển Việt Nam

Nhà thơ từng tâm sự rằng: “Trong 1000 giấc mơ của tôi, có đến 80% liên quan đến biển” [37] Cho nên khi nhắc đến biển, bao ký ức lại sống dậy Nhà thơ nhớ về những ngày thơ ấu khi nghịch ngợm và vui đùa bên dòng sông Nhật Lệ êm đềm, nhớ những ngày đạn bom, khói lửa, đã để lại dấu ấn không chỉ trong tâm trí mà còn trên cả thịt da

Biển trong ký ức của Lê Thị Mây còn là hình ảnh người cha dân chài của mình Đó là người cha trong những tháng ngày êm đẹp bên làng đánh cá nhỏ, bên những kỉ niệm tuổi thơ của một đứa bé làng chài với những trò chơi đặc biệt và đời sống vất vả của những người dân chài: “Một năm trai biển sống ở đất liền chỉ vài đêm Một năm các ngư ông lùa sóng cả những khi biển động Người vào bờ trước những cơn bão chỉ vài ba sải nước Bão đi xa Người cũng đang ở ngoài biển thẳm Ngực ngư ông chứa chất hồn vía bóng dáng các thần linh Vì giữ sự yêu bờ giữ biển ngư ông ban cầu hạnh phúc cho đàn bà con gái Thuyền về cửa sông no gió, cá đầy khoang … ” [55, 77]

Trường ca Người sau chân sóng nổi bật lên một đời sống biển đậm đặc

chất liệu, với cả môi trường biển, tính cách biển và tâm lý biển Đến bây giờ khi được hỏi đã khép lại tác phẩm đó chưa, Lê Thị Mây vẫn lắc đầu: “Chưa, với tôi nó vẫn chưa thể khép lại, đứa con ấy vẫn cần một thứ như một giọt nước cuối cùng Và giọt nước ấy là thế nào hiện nay tôi vẫn chưa thể xác định, chỉ biết rằng nó vẫn đang còn sống trong tôi như chính đứa con của tôi khi được chào đời vẫn sống giữa cuộc sống hiện tại…” [37]

Tổ quốc - đường chân trời của Nguyễn Trọng Văn cũng là một trường

ca đặc sắc viết về biển đảo Mặc dù tác giả cuốn trường ca này chỉ viết đúng

Trang 35

trong 15 buổi tối nhưng như ông nói nó chính là kết quả của 17 năm cầm súng

cộng với hơn 50 tuổi đời, với rất nhiều cố gắng học tập, tìm tòi, nghĩ suy, chiêm nghiệm và tích lũy của ông Chuyến công tác 10 ngày đến với Trường

Sa là thời gian để Nguyễn Trọng Văn “chốt” lại những gì mình thu lượm được đủ để cho ra đời một tập sách có dung lượng lớn với 1500 dòng thơ -

cộng lực của cả cuộc đời cầm bút của tác giả Tổ quốc - đường chân trời thực

ra có 9 chương nhưng tác giả gọi nó là “khúc” Nguyễn Trọng Văn tâm sự rằng: “Trong tâm tưởng của tôi, tôi liên tưởng đến “Chín khúc ruột mềm” trong cơ thể con người Trường Sa nói riêng, biển đảo nói chung chính là máu thịt của đất mẹ Việt Nam Và máu thịt ấy không thể tách rời khỏi cơ thể Tổ quốc Một khúc đau cả chín khúc cùng đau Ở đây tôi thầm mong muốn: Hễ ai

đã là con dân nước Việt đều cùng có trách nhiệm với từng phần dù nhỏ nhất,

dù xa xôi nhất của Tổ quốc” [69]

Bài thơ được kết cấu như một thiên ký sự, bắt đầu bằng cảm xúc bồi hồi của những người trong đoàn công tác sắp nhìn thấy Trường Sa Cảm xúc này hoàn toàn không giống với cảm xúc khi sắp tới thăm quan một danh lam thắng cảnh của đất nước lần đầu đặt chân đến mà nó xúc động thiêng liêng như một cuộc về nguồn, về với núm ruột thân thương của mình Bởi thế, tác giả nghĩ ngay đến cuộc xuống biển của 49 người con, theo cha mấy ngàn năm về trước, lại như người yêu lần đầu ra nơi hò hẹn, như buổi “giấu mình chờ hiệu lệnh/Pháo hiệu vút lên trời/đã dậy tiếng xung phong”, như đứa con về với quê hương, một quê hương chưa bao giờ đặt chân đến mà đã nhớ, đã thương, vì quê hương ấy đang ở đầu ngọn sóng và

từ lâu đã ở trong trái tim mình:

“Trường Sa đây rồi!

Tay đặt lên tim Nghe tha thiết như lời thề thứ chín Nghe bịn rịn

Nghe lòng mình lên tiếng

Trang 36

Đường chân trời một vệt sáng Trường Sa”

(Tổ quốc đường chân trời - Nguyễn Trọng Văn)

1500 dòng thơ cũng là 1500 dòng cảm xúc, dòng tâm huyết cũng là những dòng tình cảm thắm thiết, dòng nghĩ suy đau đáu về Trường Sa, về Tổ quốc, về xã hội trên dòng chảy của sự kiện thăm Trường Sa của tác giả cùng đoàn công tác từ Hà Nội

Khép lại trường ca Tổ quốc - đường chân trời, Nguyễn Trọng Văn gửi

gắm thông điệp thật có ý nghĩa đối với mỗi người đọc chúng ta:

“Hãy biết yêu từng chiếc lá Hãy biết thương từng con sóng vỗ Hãy biết

Chắt chiu đến từng hơi thở Đến từng cơn mưa cho cát bỏng ẩm mềm Xin đừng hoang phí niềm tin”

(Tổ quốc - đường chân trời - Nguyễn Trọng Văn)

Viết về sự hi sinh của những người lính đảo, tác giả Trịnh Công Lộc

có bài thơ Mộ gió - từng đoạt giải nhì về đề tài biển đảo năm 2012 Đọc bài

thơ này, nhà thơ Hữu Thỉnh nhận xét: “Bài thơ ẩn chứa sự đau đớn, cảm phục và tôn vinh một cách toàn bích hình ảnh hi sinh dũng cảm của người chiến sỹ nơi đầu sóng ngọn gió Đó là cảm xúc mạnh, dâng lên cao trào Cấu trúc chặt, không rườm rà, tứ thơ được đẩy lên đến vô tận Tác phẩm của Trịnh Công Lộc thực sự có tầm, hướng về giá trị lớn Đó là sức mạnh của toàn dân tộc ” [79]

Chính tác giả Trịnh Công Lộc chia sẻ: “Người nghệ sỹ không phải lúc

nào cũng thăng hoa được Với tôi, Mộ gió như là trời cho vậy Tôi đã nung nấu Mộ gió từ rất lâu rồi, khi cảm xúc đến thì chỉ viết trong vòng 5 phút lúc

2h sáng Ai cứ bám vào cội rễ, cội nguồn dân tộc thì trước, sau đều sẽ thành công Thơ phải từ cuộc sống đi lên và lan tỏa, chứ không phải cứ “thù tạc”

Trang 37

hay “triết tự” Muốn đổi mới thi ca cũng phải bắt đầu từ dân tộc Tôi quan niệm thơ phải mang tới giá trị lớn, thơ phải lan tỏa đến với mọi người” [79]

Mộ gió như một nén tâm nhang thành kính mà tác giả Trịnh Công Lộc

đã thay cả dân tộc kính dâng các chiến sĩ đã hi sinh nơi đảo xa:

“ Mộ gió đấy giăng từng hàng, từng lớp vẫn hùng binh giữa biển - đảo xa khơi

là mộ gió, gió thổi hoài, thổi mãi thổi bùng lên những ngọn sóng ngang trời! ”

(Mộ gió - Trịnh Công Lộc)

Biển đảo hôm nay đang có nhiều biến động nên thu hút nhiều nhà thơ

Họ dành những trang thơ tâm huyết nhất để soi vào đó tình yêu quê hương đất nước, để thể hiện những day dứt trước những vấn đề thời đại Xưa cha ông ta

đã Từ biển mà đi xây dựng non nước này thì nay mỗi người chúng ta phải

làm gì đó để gìn giữ đất nước với trên 3000 km bờ biển:

“Ông cha mình đã từ biển mà đi rành rọt sáng soi từng hải lý Những luồng lạch nông sâu Thuộc lòng như chữ nghĩa Bao người đi giữ đảo không về Biển lặng giấu những nỗi niềm xa thẳm

Ru lời ru vô tận lòng sâu Mỗi đảo nhỏ đã hóa thành ngọn nến Thắp linh thiêng rừng rực sao trời

(…) Đây Hoàng Sa, đây Trường Sa cuối chót đôi bờ vai bát ngát biển trời

gánh bao nỗi gian truân đất nước như Trường Sơn, xương máu chiến tranh như lịch sử thăng trầm mỗi bước

Trang 38

đây Hoàng Sa, kia Trường Sa cuối chót lại lên vai bát ngát mà đi!”

(Từ biển mà đi - Trịnh Công Lộc)

Nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú - người con vùng biển đã góp một bài thơ

hay về biển Tổ quốc ba nghìn cây số biển Như chính tác giả tâm sự rằng:

“Từ nhỏ, ám ảnh trong tôi là những hàng mộ chí dài thăm thẳm của con dân vùng biển Tôi lớn lên trong hơi gió biển Bữa cơm là đậm đà vị muối biển Đêm ngủ không được nghe tiếng sóng biển là tôi thấy thiếu điều gì đó Được viết về biển, nói về biển, tôi thấy mình như con cá được bơi trong nước” [16] Nhà thơ tự hào về đất nước Việt Nam:

“Tổ quốc tôi ba nghìn cây số biển

Chữ S hình một chiếc mỏ neo Neo lịch sử giữa thăng trầm biến động

Giữa khơi xa vẫn thả nhịp: “chèo ”

(Tổ quốc ba nghìn cây số biển - Nguyễn Ngọc Phú)

Tác giả đã khắc họa đời sống biển với tất cả nỗi vất vả của người dân

(Tổ quốc ba nghìn cây số biển - Nguyễn Ngọc Phú)

Dường như biển luôn hiện diện trong tâm thức mỗi người dân Việt Nam Và trong nơi sâu thẳm ấy, mỗi người luôn tồn tại một ý thức phải giữ gìn, bảo vệ biển trước mọi mối đe dọa, xâm lược:

“Tổ quốc tôi ba nghìn cây số biển

Có tiếng Sơn Ca hót với Thuyền Chài Người giữ đảo biển viền quanh cổ áo Dưới lớp sóng bạc đầu đảo có chìm đâu”

(Tổ quốc ba nghìn cây số biển - Nguyễn Ngọc Phú)

Trang 39

Như vậy, từ sau năm 1975 nhất là những năm gần đây, vấn đề biển đảo

có nhiều biến động liên quan trực tiếp đến chủ quyền quốc gia dân tộc nên các nhà thơ đã trực tiếp phản ánh điều đó trong thơ Có tiếng thơ thể hiện niềm tự hào về chủ quyền biển đảo từ quá khứ đến hiện tại, tự hào về vẻ đẹp nên thơ của bao bãi biển, hòn đảo thân yêu, lại có những tiếng thơ thể hiện những buốt nhức vì những tai họa đang rình rập… Thơ viết về biển đảo đã góp một tiếng nói thời sự mạnh mẽ cổ vũ, khích lệ lòng yêu nước của tất cả mọi người dân đất Việt

Tiểu kết:

Đất nước Việt Nam có đường bờ biển chạy dài với ba mặt giáp biển Vì thế biển đảo bao đời nay đã in dấu ấn sâu đậm trong lịch sử và tâm hồn người Việt Biển đã đem lại cho chúng ta nhiều giá trị lớn lao về chính trị quân sự kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho nước ta giao lưu quốc tế Điều đó lý giải rằng biển đảo trở thành một đề tài thu hút sự quan tâm lớn của văn học nhất là trong bối cảnh hiện nay

Thực tế trong ca dao xưa ít viết về biển đảo có lẽ vì dân ta xưa chưa chiếm lĩnh biển và đời sống chủ yếu gắn bó với đồng ruộng Thậm chí trong thơ ca lãng mạn 1930-1945 hầu như ít có hình tượng biển phải chăng vì biển quá rộng lớn nhất lại hùng vĩ, dữ dội nên không với “tạng” tâm hồn của các nhà thơ ấy Sau Cách mạng tháng Tám, nhất là sau Hòa bình lập lại 1954, đất nước tự do, không gian đời, không gian hồn mở rộng biển xuất hiện nhiều trong thơ và kết tinh thành những ẩn dụ rất đa dạng, rất phong phú Chỉ tính trong giai đoạn thơ Việt Nam đương đại cũng có tới hàng chục trường ca, hàng nghìn bài thơ của nhiều thế hệ nhà thơ Đây là giai đoạn nở rộ của những trường ca, những bài thơ về biển đảo Với các thi sĩ, biển là ẩn dụ lớn trong tình yêu, là khát vọng, là đích vươn tới để chiếm lĩnh, bảo vệ và biển là

Tổ quốc Nhưng có lẽ quan trọng hơn biển không chỉ là Tổ quốc mà còn là lí tưởng, là chính cuộc đời, tâm hồn của mỗi người Hàng nghìn năm qua, cả

Trang 40

dân tộc ta đã và đang vươn ra phía biển Đúng như lời thơ của Thanh Thảo đã

viết trong trường ca Những người đi tới biển:

“Nơi trộn lẫn mặt trời muối mặn đời ta

Tổ quốc kiên trì nhoài ra phía biển

Ôm những quần đảo trong vòng tay thương mến Mắt dõi nhìn hút cánh hải âu bay”

(Những người đi tới biển - Thanh Thảo)

Ngày đăng: 06/07/2015, 16:29

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Arixtot - Nghệ thuật thi ca, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thi ca
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
2. Hà Thị Anh, Đặc điểm nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm nghệ thuật thơ Hữu Thỉnh
3. Vân Anh (tổng hợp), Những bài thơ hay nhất về Trường Sa, http:// Soha.vn, ngày 15-3-2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài thơ hay nhất về Trường Sa
4. Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội
5. Nguyễn Phan Cảnh, Ngôn ngữ thơ, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp
6. Nguyễn Chín (biên dịch), Tiềm năng biển cả, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiềm năng biển cả
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
7. Nguyễn Viết Chính, Biển đảo - nguồn cảm hứng vô tận cho thi ca và âm nhạc, http://www.baoquangtri.vn, ngày 16 - 2 - 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biển đảo - nguồn cảm hứng vô tận cho thi ca và âm nhạc
Tác giả: Nguyễn Viết Chính
Nhà XB: baoquangtri.vn
Năm: 2013
8. Nguyễn Việt Chiến, Trường ca Tổ quốc nhìn từ biển, Nhà xuất bản Lao động, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường ca Tổ quốc nhìn từ biển
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
9. Đài tiếng nói Việt Nam, Thơ bốn phương cùng bình, Nhà xuất bản Văn học, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ bốn phương cùng bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
10. Hữu Đạt, Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
11. Hà Minh Đức (chủ biên), Lý luận văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
12. Hà Minh Đức, Văn học Việt Nam hiện đại, Nhà xuất bản Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại
Nhà XB: Nhà xuất bản Hà Nội
13. Hà Minh Đức, Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
14. Phạm Đức (tuyển chọn), Tuyển thơ Trần Đăng Khoa, Nhà xuất bản Thanh niên, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển thơ Trần Đăng Khoa
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh niên
15. Nguyễn Đăng Điệp, Hữu Thỉnh và quá trình tự đổi mới thơ, tạp chí Văn học số 9 - 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hữu Thỉnh và quá trình tự đổi mới thơ
16. Phong Điệp, Nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú: Biển dạy cho con người biết Sống, http://phongdiep.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú: Biển dạy cho con người biết Sống
Tác giả: Phong Điệp
17. G.N.Pospelov (chủ biên), Dẫn luận nghiên cứu văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận nghiên cứu văn học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
18. Lưu Hà, Nguyễn Việt Chiến chiêm nghiệm Tổ quốc nhìn từ biển http: //giaitri.vnexpress.net, ngày 3 - 6 - 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Việt Chiến chiêm nghiệm Tổ quốc nhìn từ biển
19. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản Giáo dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
98. Văn học biển đảo, http://vanhocbiendao.blogspot.com, ngày 7 - 3 - 2013 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w