Việc tìm hiểu nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân sẽ giúp bạn đọc phần nào thấy rõ hơn những thông điệp, tư tưởng của nhà văn về cuộc sống cũng như tài năng nghệ thuật truyệ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGÔ THỊ THU TRANG
NHÂN VẬT VÀ CỐT TRUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN KIM LÂN
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số : 60 22 01 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn: PGS.TS Đoàn Đức Phương
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGÔ THỊ THU TRANG
NHÂN VẬT VÀ CỐT TRUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN KIM LÂN
Chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số : 60 22 01 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn: PGS.TS Đoàn Đức Phương
Hà Nội – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn tốt nghiệp Nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân là
công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đoàn Đức Phương
Các số liệu và tài liệu tôi sử dụng trong khóa luận là trung thực và có xuất
xứ rõ ràng
Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Ngô Thị Thu Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin dành lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Đoàn Đức Phương, người thầy đã trực tiếp, nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời trân trọng cảm ơn tới tất cả các thày giáo, cô giáo trong trường, các thày giáo, cô giáo trong khoa Văn học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã cho tôi vốn kiến thức và tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt khóa học tại trường, giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã luôn sẵn sàng giúp đỡ, chia sẻ với tôi những điều kiện, kiến thức học tập để tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân yêu trong gia đình đã ủng hộ, động viên để tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 12 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Ngô Thị Thu Trang
Trang 5MỤC LỤC:
Mở đầu: ……… ….……… ……… …… 1
1 Lý do chọn đề tài……….………1
2 Lịch sử vấn đề ……… ……….… 3
3 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu…… ………… ……… 12
4 Phương pháp nghiên cứu……… ……… 13
5 Cấu trúc luận văn …… ……… ……… ….14
Chương 1: Hành trình sáng tác và quan niệm nghệ thuật của Kim Lân 14
1 Hành trình sáng tác của Kim Lân……….…14
1.1 Sáng tác của Kim Lân trước Cách mạng tháng Tám 1945 …… 15
1.2 Sáng tác của Kim Lân sau Cách mạng tháng Tám 1945 … ……19
2 Quan niệm nghệ thuật của Kim Lân ……… ……… 21
2.1 Quan niệm của Kim Lân về con người … ……… …22
2.2 Quan niệm của Kim Lân về cái đẹp ……….……33
2.3 Quan niệm của Kim Lân về việc viết văn ……… ……… 44
Chương 2: Nhân vật trong truyện ngắn Kim Lân ………… ….……….….… 48
1 Nhân vật trong tác phẩm văn học ……… …… ……….48
2 Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Kim Lân …….………… ………50
2.1 Nhân vật mang thân phận bé mọn, thua thiệt ……… …50
2.2 Nhân vật nặng lòng với quê hương bản xứ ……….………….…60
2.3 Nhân vật có sức sống tiềm tàng ……….…….………….…67
3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn của Kim Lân …….…73
3.1 Tạo dựng chân dung nhân vật ……….…………73
3.2 Đặt nhân vật vào những tình huống thử thách, …… ………… 79
3.3 Khắc họa đời sống nội tâm nhân vật ……….……… 81
3.4 Xây dựng nhân vật mang tính chất tự truyện …….……….87
Chương 3: Cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân … ……… …… 93
Trang 61 Cốt truyện trong tác phẩm văn học … ………….……… 93
2 Các kiểu cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân …… ….………… 95
2.1 Cốt truyện tuyến tính ……… …… ……… 95
2.2 Cốt truyện gấp khúc ……….……… 99
2.3 Cốt truyện khung ……….……… …… .103
2.4 Cốt truyện tâm lý ……….……… 106
3 Nghệ thuật tổ chức cốt truyện trong truyện ngắn của Kim Lân … 111
3.1 Trình bày … … ……… ……… 111
3.2 Vận động ……….……….…… … …… 116
3.3 Kết thúc……….… …… ………… 124
Kết luận: ……….……… …… ……… 127 Thư mục tham khảo
Trang 7rất sớm, khi ông cho đăng Đứa con người vợ lẽ trên báo Trung Bắc chủ nhật
năm 1942 Hơn tám mươi năm cuộc đời và gần sáu mươi năm đau đáu với nghiệp văn nhưng gia tài ông để lại không nhiều, chỉ khoảng ngoài ba mươi tác phẩm, mà chủ yếu lại chỉ là truyện ngắn Vỏn vẹn chừng ấy “đứa con tinh thần” nhưng “đứa” nào cũng có một chỗ đứng, thậm chí vị trí trang trọng, trong lòng độc giả
Nhớ đến Kim Lân là nhớ đến phong vị làng quê Bắc Bộ Cái hồn quê xứ
sở ấy đã thấm đẫm trên từng trang văn của ông Đó là hơi thở của vẻ đẹp văn hóa tao nhã, nên thơ vùng văn vật, là sức sống bền bỉ, dẻo dai của những con người đồng ruộng vượt lên từ lam lũ cuộc đời, cũng là những ánh lửa của niềm tin yêu, lạc quan mà nhà văn gửi gắm Không những vậy, nhớ đến Kim Lân, bạn đọc cũng không thể quên cái lối kể chuyện nhẹ nhàng, dí dỏm, cứ như đang chuyện trò gần gũi, thân thiết, đặc biệt là cái cách ông xây dựng thế giới nhân vật và tổ chức cốt truyện trong tác phẩm Mọi nỗi niềm muốn tâm sự với cuộc đời, bao mơ ước muốn sẻ chia, gây dựng, và cả tài năng độc đáo đều bộc lộ qua thế giới nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn của nhà văn Nó cũng bình dị
và sâu sắc như chính con người ông vậy Chính bởi thế, truyện ngắn Kim Lân không những tạo nên một bản sắc rất riêng cho người sáng tạo ra nó mà còn góp phần không nhỏ vào việc hoàn thiện và hiện đại hóa một thể loại văn học vẫn còn mới mẻ của văn đàn dân tộc từ những buổi đầu của thế kỷ XX
Trang 82
Kim Lân cũng là một trong số không nhiều nhà văn luôn có tác phẩm được lựa chọn giảng dạy trong chương trình Ngữ Văn phổ thông qua các thời
kỳ Trước năm 1995, ông có hai tác phẩm được đưa vào chương trình dạy học là
Làng (lớp 9 Phổ thông Cơ sở) và Vợ nhặt (lớp 12 Phổ thông Trung học) Sau
năm 1995, trong chương trình chỉnh lý sách giáo khoa, hai tác phẩm kể trên vẫn được giữ nguyên vị trí tại chương trình giảng dạy ở các khối lớp Đặc biệt, tác
phẩm Vợ nhặt có mặt trong cả ba bộ sách: Văn học 12 chưa phân ban và Ngữ
Văn 12 thí điểm ban Khoa học Xã hội và Nhân văn, Ngữ Văn 12 thí điểm ban
Khoa học Tự nhiên Hiện nay, khi chương trình Ngữ Văn phổ thông đã có sự
thống nhất thì Làng và Vợ nhặt vẫn là các tác phẩm được giảng dạy như trước
Vợ nhặt vẫn có mặt trong hai bộ sách Chương trình chuẩn và Chương trình nâng cao Cùng với đó, cái tên Kim Lân và Vợ nhặt cũng xuất hiện khá thường
xuyên trong các đề thi tốt nghệp Trung học Phổ thông và đề thi tuyển sinh Đại học nhiều năm gần đây Có thể thấy, Kim Lân là một nhà văn luôn có một vị trí quan trọng trong đời sống văn học dân tộc
Trong thế giới tác phẩm của Kim Lân, nhân vật và cốt truyện luôn là yếu
tố tạo dấu ấn đặc biệt với bạn đọc Đây cũng là hai phương diện không thể tách rời nhau trong một truyện ngắn nói chung Nhân vật chính là phương tiện để nhà văn khái quát hiện thực đời sống một cách hình tượng, cũng là nơi để họ thể hiện nhận thức của mình về muôn mặt cuộc đời Và cốt truyện lại là phương diện để nhân vật ấy bộc lộ những tính cách thông qua một hệ thống các sự kiện được tạo dựng Khi viết truyện, Kim Lân luôn có ý thức tạo dựng nhân vật một cách kỹ lưỡng và xây dựng cốt truyện hợp lý, sao cho vấn đề truyền tải đến bạn đọc được hiệu quả nhất
Việc tìm hiểu nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân sẽ giúp bạn đọc phần nào thấy rõ hơn những thông điệp, tư tưởng của nhà văn về cuộc sống cũng như tài năng nghệ thuật truyện ngắn bậc thầy của ông
Trang 9Năm 1942, Kim Lân trình làng văn tác phẩm đầu tay Đứa con người vợ
lẽ trên tờ báo Trung Bắc chủ nhật Rồi sau đó là hàng loạt truyện ngắn khác như Đứa con người cô đầu, Người kép già, Đôi chim thành… Rất nhanh, tên tuổi
ông đã để lại một dấu ấn đặc biệt trong lòng độc giả Và có lẽ, người nghiên cứu sớm nhất về truyện ngắn Kim Lân chính là nhà văn Nguyên Hồng Trong cuốn
Những nhân vật ấy đã sống với tôi, ông đã hồi tưởng lại: “Từ giữa những năm
1943 - 1944 ấy, tôi được đọc mấy truyện của Kim Lân… Thoạt tiên tôi chẳng những không để ý mà còn thấy cái tên Kim Lân chương chướng thế nào ấy, hình như định chọi, định đả chữ nhau với một số tên như Mộng Ngọc, Mộng Dương, hay Hoài Trạch, Hoài Tâm… lúc bấy giờ vậy Nhưng rồi chỉ bập vào mấy truyện của anh mà tôi thấy không phải loại ướt át một cách bợm bãi, trái lại có một cái
gì đó chân chất của đời sống con người nghèo hèn, khổ đau, giọng văn nhiều rung cảm thắm thiết, đặc biệt là lại gần gũi với mình…” [18, tr 82] Như vậy,
tác phẩm của ông đã có một ấn tượng sâu sắc về nội dung tư tưởng và giọng điệu với bạn đọc
Sau hàng loạt truyện ngắn của Kim Lân ra đời, cùng với thời gian, các nhà nghiên cứu đã có cái nhìn dày dặn và cụ thể hơn về tác phẩm cũng như tài năng nghệ thuật của ông Sáng tác của Kim Lân đã được giới phê bình quan tâm trên rất nhiều bình diện
Trang 104
Nổi bật hơn cả và cũng sớm hơn cả là hướng nghiên cứu tập trung vào nội dung sáng tác của Kim Lân Đây cũng là điều tất yếu, bởi vấn đề nhà văn phản ánh cũng chính là chìa khóa để mở cánh cửa những điều trăn trở, quan tâm của
họ trước cuộc đời Điều làm nên ấn tượng “gần gũi” với Nguyên Hồng từ tác
phẩm của Kim Lân cũng không là gì xa lạ ngoài thế giới mà nhà văn phản ánh:
đời sống của những con người “nghèo hèn, khổ đau”
Sau này, nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân trong một bài viết đăng trên Tạp
chí Văn học số 6 với nhan đề: Văn xuôi Kim Lân đã nói cụ thể hơn về nội dung
truyện ngắn của tác giả này: “Đọc văn xuôi Kim Lân, ta bắt gặp cái thế giới của
những người thường dân nghèo khổ vốn là hạng “hạ lưu” ở xã hội cũ: Những người nông dân miền xuôi mất nhà mất đất xiêu dạt lên miền ngược, táp vào một xóm chợ bến sông, một góc phố núi hay ven một đồn điền, một xóm trai, tiếp tục vật lộn với miếng sống sơ đẳng hằng ngày Đã có lúc nhà văn gọi những nhân vật thân thuộc ấy của ngòi bút mình là “những đầu thừa đuôi thẹo ở khắp
xó xỉnh cuộc sống” Cách gọi giống như là sự tự mệnh danh đầy đau xót của chính các nhân vật ấy” [1]
Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn trong một bài viết: Kim Lân – nhà văn
của những kiếp người đầu thừa đuôi thẹo cũng khẳng định: “Hình như những mẫu người đầu thừa đuôi thẹo ấy đã gửi một đại diện của họ vào văn học và Kim Lân đã làm việc này một cách tự nguyện” [67]
Năm 1983, trong bài viết Khải luận cho cuốn Tổng tập văn học Việt Nam, tập 30A, Nguyễn Đăng Mạnh có viết: “Văn Kim Lân tỏ ra độc đáo, hấp dẫn hơn
khi ông viết về những cái gọi là “thú đồng quê” hay “phong lưu đồng ruộng”
Ông cũng cho rằng, “Sở dĩ có sự hấp dẫn, không phải vì ở đấy những tập quán
ngộ nghĩnh, kỳ lạ, những thú chơi phiền phức, cầu kỳ được trình bày cặn kẽ, mà chính là nhờ nhà văn đã thể hiện lên được những con người ở làng quê Việt Nam độc đáo kia, tuy nghèo khổ thiếu thốn mà vẫn yêu đời” [32, tr 64]
Trang 115
Như vậy, cái nhìn về nội dung truyện ngắn Kim Lân của Nguyễn Đăng
Mạnh đã có sự mở rộng tới một phạm trù nữa, đó là cái thú “phong lưu đồng
ruộng” như chính từ dùng của nhà văn Từ đó, tác giả cũng đưa ra cái nhìn tổng
quát về toàn bộ nội dung truyện ngắn Kim Lân trước Cách mạng tháng Tám
1945: “Đó là những trang số phận của các đầu thừa, đuôi thẹo, được đưa từ các
xó xỉnh tối khuất lên mặt trang giấy trắng chứa nhân thế, nhân tình hoặc những trang tuy nghiêng về phía phong tục, trình bày cặn kẽ những thú chơi lành mạnh…, nhưng vẫn biểu hiện một phần vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám, những người sống vất vả, nghèo khổ nhưng vẫn yêu đời, trong sáng, thông minh, tài hoa” [32, tr 369] Với nhận xét này,
Nguyễn Đăng Mạnh đã phác họa thế giới nhân vật trong truyện ngắn Kim Lân là thế giới của những con người gắn với không gian đồng ruộng làng quê Bắc Bộ,
có số phận, có tính cách đặc thù Tuy nhiên, vấn đề nghệ thuật tạo dựng nên thế giới nhân vật ấy lại chưa được tác giả đề cập kỹ lưỡng trong bài viết
Cùng thống nhất với các quan điểm trên, nhà nghiên cứu Hoài Việt đưa ra
nhận xét về hai đề tài chính trong truyện ngắn của Kim Lân: “Chính cái vốn
sống phong phú của ông đã dẫn ông tới với hai đề tài chủ yếu trong nghiệp văn của ông: số phận những người thấp cổ bé họng trong xã hội cũ và phong tục tập quán, những thú vui, trò chơi nơi thôn dã” [59] Ngoài ý kiến về hai đề tài
chủ yếu trong truyện ngắn của Kim Lân, ông còn chỉ ra nguồn gốc thành công của nhà văn là ở cái tâm và cái tài Cái tâm của ông là lòng thương xót con người hay con vật, là sự chân thật, thẳng thắn, ghét sự khuất tất, ám muội Cái
tài là “con mắt nhìn, cái óc nghĩ, cây bút viết ra”
Trong cuốn Từ điển văn học, phần giới thiệu về Kim Lân cũng được Trần Hữu Tá đánh giá: “Thế giới nghệ thuật của ông chỉ tập trung ở khung cảnh làng
quê cùng với cuộc sống, thân phận người nông dân (…) Những con người của quê hương ông, thân thiết ruột thịt với ông, từ cuộc sống đói nghèo lam lũ trực tiếp bước vào tác phẩm, tự nó toát lên ý nghĩa hiện thực, mặc dù nhà văn chưa
Trang 126
thật tự giác về điều đó” [47, tr 369] Cũng tại cuốn sách này, tác giả cũng khái
quát về truyện ngắn sau Cách mạng của nhà văn: “Kim Lân vẫn tiếp tục viết về
làng quê Việt Nam Ông thường viết về những cảnh tội nghiệp, cuộc sống khốn khó đến cùng cực của người nông dân dưới chế độ cũ và sự đổi đời của họ nhờ Cách mạng”
Như vậy, mặc nhiên, các nhà nghiên cứu đều đồng nhất một quan điểm
về thế giới nhân vật cũng như đề tài trong truyện ngắn Kim Lân là thế giới của nông thôn, thế giới của người nông dân thuần hậu, chất phác Có lẽ, cái không khí náo nhiệt chốn Hà thành, nơi một thời gian dài nhà văn gắn bó cho tới cuối đời, đã không hề lan chiếm góc nhỏ nào trong tâm thế sáng tạo nghệ thuật của ông Tác phẩm của ông, con người ông vẫn quyết làm một đốm lửa khác biệt giữa cuộc đời để lưu giữ cái hồn quê – hồn Việt cho bạn đọc Ngay chính Kim
Lân là người cũng đã từng khẳng định điều đó: “Đó là những câu chuyện về bản
thân tôi, tâm tư và số phận của tôi cũng như những người gần gũi trong làng xóm của tôi”[63]
Bất cứ bạn đọc nào khi tiếp cận tác phẩm của Kim Lân cũng đều cảm nhận được một không khí gần gũi, bình dị mà tinh tế, tài hoa của một cây bút truyện ngắn bậc thầy, ẩn sau đó là dáng dấp của một con người lịch lãm, hào hoa
xứ Kinh Bắc Mỗi trang văn của ông đều là thành quả của một cái nhìn kỹ lưỡng, tỉ mỉ, say sưa về cuộc sống và con người vùng Bắc Bộ và một lối diễn đạt
đặc thù của “đứa con đẻ của đồng ruộng” (Nguyên Hồng) Nhận xét về phương diện này, Lại Nguyên Ân đã có những đánh giá xác đáng: “Chất giọng thường
xuyên trong truyện ngắn của Kim Lân là chất giọng thật sự văn xuôi Nó không thích hướng vào chất trữ tình, không thích rống lên thống thiết Nó thích phô bày cái nôm na thật thà, đáng yêu nhưng cũng đáng tức cười của những sự thật xung quanh chứ không thích phủ lên các sự thật ấy một sự cảm động đến rưng rưng Chính là do thích phô bày nôm na thật thà của những con người và sự vật xung quanh nên văn xuôi của con người này đã chú trọng khai thác các khả
Trang 137
năng miêu tả của các ngôn ngữ (…) Nhà văn rất chú ý miêu tả lời ăn tiếng nói của họ và đã biến thứ ngôn ngữ sống của những cư dân sống thực đó thành một đối tượng nghệ thuật rất đáng lắng nghe, nếu ta biết nghiệm ra cái vẻ đẹp đích thực của lời ăn tiếng nói ấy” [1]
Năm 1997, trong bài Sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật đặc sắc của truyện
ngắn Kim Lân, tác giả Bảo Nguyên cũng đã chỉ ra thành công của nhà văn ở các
phương diện: sử dụng ngữ âm và từ vựng: “Kim Lân đã dùng hàng loạt từ láy:
xác xơ, heo hút, ngăn ngắt, úp súp, sù sì, dật dờ, thê thiết (…) Từ láy đã góp phần tích cực tạo ra âm điệu trầm, nhịp ngôn ngữ chậm, có tác dụng nhấn mạnh những đặc tính cần miêu tả (…) Ông lựa chọn những từ ngữ còn mang hơi thở của cuộc sống hàng ngày, để diễn đạt chúng đúng cái cuộc sống miền quê với những con người quê giản dị và đáng yêu (…) Trong việc sử dụng từ ngữ, Kim Lân đặc biệt chú ý những thành ngữ, những từ đệm vốn là những từ ngữ cửa miệng của người dân: “giời đất cha mẹ ơi”, “cụ bảo thì là dân ta”, “dầu bây giờ đắt gớm”(…) Những từ ngữ này đặt đúng hoàn cảnh đã tạo ra tác dụng vừa khắc hoạ tính cách nhân vật vừa gợi nên nét đời thường rất phù hợp với cuộc sống miền quê”[42]
Bên cạnh đó, khi nhận xét về giọng văn của Kim Lân, ngoài việc thống nhất với đánh giá của Lại Nguyên Ân, Bảo Nguyên rất tinh tế khi bổ sung thêm:
“Giọng văn chủ đạo của ông thường trầm sáng như giọng ca dao, cổ tích Nhịp
văn của ông chậm gọn… Đó là một thứ giọng đệm phù hợp với quang cảnh nông thôn, với văn minh nông nghiệp (…) Yêu thương, ca ngợi là nét giọng chủ đạo trong các truyện ngắn Kim Lân Song ở mỗi truyện, ở mỗi hoàn cảnh, ở mỗi nhân vật, trong từng điều kiện, Kim Lân sử dụng các giọng khác nhau để miêu
tả Giọng phẫn uất lẫn mỉa mai trong Đứa con người vợ lẽ giọng cảm thương
và mỉa mai trong Con chó xấu xí giọng cảm thông lẫn kính phục trong Thượng tướng Trần Quang Khải - Trạng Vật (…) Trong các truyện tâm lí xã hội của
Kim Lân ta thường bắt gặp một giọng kể, giọng tả đồng tình, cảm thương” Từ
Trang 148
những ý kiến đánh giá trên, tác giả đã đưa ra kết luận khái quát: “Ngữ âm từ
vựng, giọng điệu được bàn tay nhà nghệ sĩ tài ba Kim Lân đã sắp đặt tạo ra một thứ ngôn từ mang đậm chất “văn xuôi ” Đó là một đoá hoa tạo nên sức hút ban đầu cho các độc giả Đó là phong cách giản dị mà độc đáo của Kim Lân” [42]
Ngoài ra, vấn đề nghệ thuật truyện ngắn Kim Lân cũng được các nhà nghiên cứu chú tâm ở các phương diện Lại Nguyên Ân đã từng có những tổng
kết rất xác đáng về các kiểu truyện ngắn của nhà văn: “Bằng vào hai tập Vợ
nhặt và Nên vợ nên chồng, có thể kể được khoảng ba kiểu truyện chính Kiểu
phổ biến hơn cả có thể gọi là những truyện ngắn tính cách Nhiệm vụ nghệ thuật
mà nhà văn vẽ ra ở đó là vẽ ra một con người (…) Hơi khác chút ít với kiểu
truyện tính cách này, Vợ nhặt là truyện ngắn không chú tâm hẳn vào nhân vật
nào (…) Diễn biến của truyện không nhằm khám phá một nét tính cách nào của một trong số các nhân vật Cái được chủ yếu ở đây là miêu tả một tình huống Đây có thể gọi là ước lệ là truyện ngắn tình huống (…) Có một kiểu truyện nữa
mà Kim Lân viết rất ít Tôi muốn nói truyện ngắn Con chó xấu xí từng được đặt làm cái tên chung cho tập truyện Vợ nhặt hồi in lần đầu thành sách Đây là
truyện có hơi hướng ngụ ý” [1] Trong bài viết này, ông cũng bày tỏ điều ông
tâm đắc ở Kim Lân chính là cách nhà văn dụng công xây dựng các chi tiết: “Ông
là một nhà văn kỹ lưỡng, tinh tế trong việc lựa chọn chi tiết, kỳ khu và tài hoa trong việc lựa chọn ngôn từ, hình ảnh” Nhận định này cũng đã được chính nhà
văn thừa nhận Năm 1994 trong bài Nghĩ về nghề văn, Kim Lân bộc bạch: “Khi
sáng tác truyện ngắn, đối với tôi chi tiết vô cùng quan trọng Trong truyện ngắn của tôi đầy ắp chi tiết Tôi nói bằng chi tiết Truyện của tôi viết ra không ai kể
lại được (…) Truyện Làng, Vợ nhặt, Bố con ông gác máy bay trên núi Côi-kê, Ông lão hàng xóm nếu kể cốt truyện ra thì tẻ nhạt không có gì đáng chú ý cả
Chi tiết lấn át cốt truyện, chi tiết thể hiện một cách tinh tế nhất và rõ ràng nhất tính cách nhân vật cũng như hoàn cảnh sống của nhân vật”
Trang 159
Với những gì đã thể hiện trên trang văn của mình, Kim Lân đã sớm được đánh giá cao trên văn đàn dân tộc Khẳng định về tài năng viết truyện ngắn của
Kim Lân, Hà Minh Đức viết trong Nhà văn nói về tác phẩm: “Kim Lân là một
trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại Kim Lân đã tạo được cách viết độc đáo… Phải nói rằng Kim Lân viết không nhiều nhưng những sáng tác của ông đã gây ấn tượng với bạn đọc” [8, tr 31] Cả đời
văn Kim Lân chỉ chuyên tâm viết truyện ngắn Truyện của ông thường tập trung miêu tả sinh hoạt làng quê và hình tượng người nông dân Nhưng thế giới nghệ
thuật của ông không vì vậy mà bị giảm sức sống và sự hấp dẫn Trên báo Văn
nghệ, số 34, Trần Ninh Hồ có viết: “Tuy tầm vóc, vị trí mỗi nhà văn một khác nhưng Kim Lân cũng là một nhà văn thường đến với ta trong những khoảng chợt nhớ của đời người, khó mà diễn đạt thành lời… Mỗi lần mở những trang viết ít ỏi ấy, ta lại cảm thấy không một bước ngoặt, một chặng đường nào của con người Việt Nam trong gần nửa thế kỷ qua mà Kim Lân không đả động tới dẫu chỉ bằng sự chạm trổ hết sức khiêm tốn: truyện ngắn” [17]
Phong Lê trong bài Kim Lân và những phận người bé mọn còn cho rằng, ông chính là chứng nhân cho một giai đoạn rực rỡ của văn học dân tộc: “Ông là
người cùng thế hệ và là người cùng hoạt động với Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài…Những tên tuổi trên, đã cùng ông gắn với sự khởi đầu cho nghiệp viết vào thời kỳ cuối của văn học hiện thực 1945;và sau này có quan hệ gắn bó với nhau trong từng khu vực công việc hoặc phạm vi nghề nghiệp, vì một nền văn nghệ mới Tất cả đều là chứng nhân, là đại diện cho cả một hành trình lớn của văn học Việt Nam hiện đại (thế kỷ XX), đi qua mốc lịch sử 1945; và ông là thuộc trong số rất ít người đi trọn cuộc hành trình đó để vượt sang thế kỷ XXI- ở tuổi ngót 90” [27]
Trong cái nhìn của những người viết văn sau này, Kim Lân thực sự là một
“bậc đàn anh”, là người đáng để họ ngưỡng mộ, học hỏi Trong Nghề văn cũng
lắm công phu (tái bản năm 2003), Nguyễn Khải đã từng tâm sự: “Về văn xuôi là
Trang 1610
nghề của tôi, trước sau tôi thần phục có ba người là ông Nguyễn Tuân, Nam Cao và Kim Lân Sau này viết lách được cái gì thường cũng lấy văn của ba ông
làm chuẩn” Thậm chí, khi đọc Làng, Vợ nhặt, ông còn cho rằng: “Đó là thần
viết, thần mượn tay người để viết nên những trang sách bất hủ” [19, tr 21]
Có thể thấy rằng, Kim Lân là một trong số các nhà văn có chỗ đứng trang trọng trong con mắt của độc giả Tác phẩm của ông, dù không nhiều, luôn được bạn đọc và giới nghiên cứu quan tâm Càng ngày, các bài viết về Kim Lân càng
đa dạng, phong phú Những năm gần đây, sáng tác của Kim Lân cũng được lựa chọn nghiên cứu trong nhà trường qua nhiều công trình luận văn công phu, tỉ mỉ Đơn cử một số công trình tiêu biểu như:
Nguyễn Quốc Thanh khi nghiên cứu Cảm hứng chủ đạo và nghệ thuật
trần thuật trong truyện ngắn Kim Lân, (Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh) đã
rút ra được nhiều ý kiến xác đáng: “Đọc truyện Kim Lân, người đọc luôn cảm
nhận được ở tác phẩm của ông thường toát lên cảm hứng ca ngợi những giá trị tốt đẹp của cuộc sống, cảm hứng yêu thương trân trọng con người và cuộc sống của con người Nguồn mạch cảm hứng ấy xuất phát từ cái tâm của con người nhân ái, cái tâm của người cầm bút Cái tâm ấy bình dị, chất phác mà sâu sắc như con người ông” [53, tr 98] Tác giả nghiên cứu cũng cho rằng, nghệ thuật
trần thuật trong truyện ngắn Kim Lân có những nét rất đặc thù:“vận dụng các
kiểu trần thuật trong phương thức trần thuật khách quan (với kiểu trần thuật
lạnh lùng) và phương thức trần thuật chủ quan (với kiểu người trần thuật xưng
tôi đóng vai trò dẫn truyện và kiểu người trần thuật xưng tôi vừa là người dẫn truyện vừa là một nhân vật)
Nguyễn Thị Nha Trang cũng đã đưa ra những nhận định rất sâu sắc trong
công trình Phong cách văn xuôi nghệ thuật Kim Lân (Đại học Sư phạm Thành
phố Hồ Chí Minh) Ở đây, người viết đã khái quát được những nội dung và
phương thức tự sự chủ đạo trong văn xuôi nghệ thuật Kim Lân: “Thế giới và
cuộc sống con người trong văn xuôi nghệ thuật Kim Lân về căn bản là thế giới
Trang 1711
được nhìn từ quê hương, hay mang hình bóng quê hương đồng bằng Bắc Bộ vốn dung dị và kín đáo, thân thuộc của nhà văn” và “Phương thức tự sự trong văn xuôi nghệ thuật của Kim Lân chủ yếu là tự sự mang tính tự truyện, đặc biệt là sự kết hợp hình thức trần thuật chủ quan với hình thức trần thuật khách quan, lấy trung tâm chú ý của sáng tạo nghệ thuật là xây dựng nhân vật, sự hòa phối kỹ thuật trong việc xây dựng tình huống và cốt truyện; ngôn ngữ và giọng điệu thuần hậu, chân tình” [58, tr 96]
Khổng Thị Minh Hạnh khi nghiên cứu Cái nhìn thời gian, không gian
nghệ thuật trong truyện ngắn Kim Lân, (Đại học Sư phạm Thái Nguyên) cho
rằng: “Từ tiếng gọi tha thiết của miền quê hương Kinh Bắc cộng với vốn sống và
cái tài, cái tâm của một nhà văn hết lòng say mê sự sống, Kim Lân đã đem đến một cái nhìn nghệ thuật giàu lòng nhân hậu trước cuộc sống và con người làng quê” [12, tr.102] Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Kim Lân, theo tác
giả, chủ yếu là những kiểu “không gian bối cảnh, không gian sự kiện, không
gian tâm lý” Tương tự, thời gian nghệ thuật bao gồm kiểu “thời gian sự kiện, thời gian sinh hoạt và thời gian tâm lý.”
Trên đây là một số trong rất nhiều công trình nghiên cứu về con người và văn chương Kim Lân Có thể thấy, dù tiếp cận và nghiên cứu ở những góc độ khác nhau, các nhà nghiên cứu đều thống nhất một số quan điểm như sau:
- Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn Ông là một trong những cây bút truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại với lối viết độc đáo, ấn tượng
- Thế giới nghệ thuật của nhà văn tập trung ở khung cảnh cuộc sống, con người làng quê
- Kim Lân là nhà văn có tấm lòng nhân hậu, có lối viết giản dị mà kỹ lưỡng
Vấn đề nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân đã được các nhà nghiên cứu đề cập tới trong các công trình kể trên Tuy nhiên, nó chỉ xuất hiện riêng lẻ như là một vài nhận định trong tổng thể các bài viết
Trang 1812
Trên tinh thần tiếp thu và vận dụng những thành quả nghiên cứu của lớp người đi trước, luận văn của chúng tôi xin tiếp tục nghiên cứu một cách toàn
diện hơn về Nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân, với mong muốn
góp thêm chút tiếng nói nhỏ thể hiện tấm lòng yêu quý và trân trọng những sáng tạo nghệ thuật của nhà văn
3 Đối tƣợng, mục đích, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đặc điểm nhân vật và cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân Từ đó tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật và cách thức tổ chức cốt truyện của nhà văn
Mục đích của luận văn khi nghiên cứu Nhân vật và cốt truyện trong
truyện ngắn Kim Lân, chúng tôi mong muốn sẽ góp thêm vài ý kiến trong việc
tìm hiểu tác phẩm cũng như phong cách nghệ thuật của nhà văn từ hai phương diện nhân vật và cốt truyện Qua đó, góp thêm phần khẳng định vị trí của ông trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, khắc sâu thêm tấm lòng yêu quý của bạn đọc với nhà văn
Trong chương trình dạy học Ngữ Văn hiện hành, Kim Lân cũng là tác giả
có tác phẩm được đưa vào giảng dạy ở hai cấp học: Trung học Cơ sở và Trung học Phổ thông Vì vậy, khi thực hiện công trình này, chúng tôi cũng mong muốn đóng góp thêm một vài ý kiến vào công việc học tập và giảng dạy truyện ngắn Kim Lân ở nhà trường
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: các truyện ngắn của Kim Lân đã được
xuất bản:
Làng, truyện ngắn, Tạp chí Văn nghệ, 1948, NXB Văn nghệ, Hà Nội, 1955
Nên vợ nên chồng, tập truyện ngắn, NXBVăn nghệ, Hà Nội, 1955
Ông lão hàng xóm (cùng Nguyên Hồng, Nguyễn Văn Bổng), NXB Văn nghệ,
Hà Nội, 1957
Trang 1913
Anh chàng hiệp sĩ gỗ, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1958
Vợ nhặt, tập truyện ngắn, NXB Văn học, Hà nội, 1984
Ông Cản Ngũ, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1984
Tuyển tập Kim Lân, NXB Văn học, Hà Nội, 1996
Kim Lân - Tác phẩm chọn lọc, NXB Hội nhà văn, 2004
Kim Lân tuyển tập, NXB Văn học, 2012
Tuy nhiên, để phục vụ cho vấn đề nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chỉ tìm hiểu qua một số truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích các tác phẩm của Kim Lân trên hai phương diện chủ yếu: nhân vật và cốt truyện, từ đó tổng kết, đánh giá về các kiểu nhân vật, kiểu cốt truyện và nghệ thuật viết truyện ngắn của nhà văn
- Phương pháp loại hình: xem xét sáng tác của nhà văn từ góc độ loại hình thể loại, loại hình văn bản nghệ thuật
- Phương pháp so sánh: đối chiếu các vấn đề nghiên cứu về truyện ngắn Kim Lân với truyện ngắn của một số tác giả khác để đi tìm những sự tương đồng
và khác biệt
- Phương pháp thống kê, phân loại: thu thập và phân loại các dấu hiệu nghệ thuật nổi bật trong sáng tác của Kim Lân xoay quanh vấn đề nghiên cứu
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Hành trình sáng tác và quan niệm nghệ thuật của Kim Lân
- Chương 2: Nhân vật trong truyện ngắn Kim Lân
- Chương 3: Cốt truyện trong truyện ngắn Kim Lân
Trang 2014
Chương 1 HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC VÀ QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT
CỦA KIM LÂN
2.1 Hành trình sáng tác của Kim Lân
Nhà văn Kim Lân tên thật là Nguyễn Văn Tài, sinh ngày 01 tháng 08 năm
1920 tại một miền quê giàu truyền thống văn hóa, làng Phù Lưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Xứ Kinh Bắc quê hương ông vốn là đất nghìn năm văn hiến, nơi từng phát tích vương triều, nơi có bề dày lịch sử, có truyền thống văn hóa lâu đời với những hội hè, đình đám… cũng là nơi có những làn điệu dân ca quan họ ngọt ngào, sâu lắng đắm mê lòng người Cậu bé Tài đã được nuôi dưỡng tài năng trong một không gian sinh thành đậm chất văn hóa nghệ thuật như thế Và chính cái bút danh của ông cũng phần nào là hệ quả tất
yếu từ không gian đó Kim Lân chính là sự lựa chọn rút ngắn từ tên một nhân vật
trong vở tuồng nổi tiếng mà ông đam mê từ những buổi hội làng thuở bé: Đổng
Kim Lân trong vở tuồng Sơn Hậu
Là con của một người vợ lẽ trong một gia đình bình dân, hồi nhỏ, cậu bé Tài chỉ được học hết bậc Tiểu học Rồi cụ thân sinh mất, cậu phải đi phụ việc cho các lớp thợ đàn anh để giúp gia đình kiếm sống bằng rất nhiều nghề khác nhau Những tháng ngày lang bạt này cũng chính là một nguồn tư liệu dồi dào
về muôn mặt cuộc sống, thôi thúc một anh Tài với lòng ham viết, thích viết cầm bút để khẳng định một điều gì đó với cuộc đời, với xung quanh
Kim Lân đến với Cách mạng khá sớm Năm 1944, ông đã được giác ngộ
và tham gia Hội Văn hóa cứu quốc Cách mạng tháng Tám thành công, ông tiếp tục cống hiến tích cực cho đất nước Môi trường sống mới này cũng giúp ông có cái nhìn dày dặn và sâu sắc hơn về con người trong cuộc sống
Và bản sắc văn hóa quê hương, trải nghiệm cuộc đời cùng với niềm yêu thích văn chương đã hun đúc nên một con người, một nhà văn Kim Lân khá kín
Trang 21thể loại “tập cho người viết nhiều nết quý” nhưng cũng là một hình thức khó
khăn với những đòi hỏi riêng biệt Kim Lân để lại khoảng trên 30 tác phẩm Tuy không đồ sộ, nhưng truyện ngắn của ông luôn có một dấu ấn đặc biệt trong đời
sống văn học dân tộc Nǎm 2001, Kim Lân được trao tặng Giải thưởng Nhà
nước về văn học nghệ thuật
2.1.1 Sáng tác của Kim Lân trước Cách mạng tháng Tám 1945
Truyện ngắn đầu tay của Kim Lân có tên là Đứa con người vợ lẽ Viết
xong, ông gửi cho báo Trung Bắc chủ nhật và được đăng trên số 120 ra ngày
26-7-1942 Câu chuyện phản ánh tình trạng đa thê và thân phận tủi nhục của những đứa con người vợ lẽ, một hiện tượng khá phổ biến trong xã hội thời ấy Tác phẩm ngay lập tức đã có một tiếng vang nhất định bởi tính chân thực và khái quát của nó Cũng không khó để bạn đọc nhận ra câu chuyện có ít nhiều dáng dấp từ cuộc đời thực của nhà văn Bởi vậy, nó cũng là một dấu mốc quan trọng trong nghiệp văn của ông, gắn ông với một lối viết đặc trưng mà sau này ông theo đuổi: lấy chính chuyện của mình, quanh mình làm đề tài cho tác phẩm Thành quả là hàng loạt truyện ngắn mang khuynh hướng xã hội ra đời sau đó
như: Đứa con người cô đầu, Cô Vịa, Cơm con, …
Một năm sau, cũng tờ báo Trung Bắc chủ nhật đã khơi một nguồn cảm
hứng mới cho nhà văn: đặt ông viết một truyện ngắn cho số đặc biệt về chủ đề thú chơi đồng ruộng Liên hệ với những hội hè nơi làng chợ Giầu trù phú ấy,
Kim Lân đã viết Đôi chim thành, câu chuyện về thú chơi thả chim bồ câu của
quê hương đầy tao nhã Đọc tác phẩm, bạn đọc không chỉ hiểu về một nét văn hóa đặc thù của làng quê mà còn cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn đầy chất nghệ
Trang 2216
sĩ của những con người làm nên thú chơi ấy Câu chuyện đã nhanh chóng lọt vào
“mắt xanh” của nhà văn, nhà báo Vũ Bằng Ông khuyến khích Kim Lân: “hãy
viết về thú chơi và phong tục nông thôn thì một mình ông một chiếu” và mời ông
cộng tác với Tiểu thuyết thứ bảy Thành quả là hàng loạt tác phẩm đã ra đời, đóng đinh nhà văn Kim Lân trên “chiếu” phong tục tập quán làng quê Bắc Bộ:
Đuổi tà, Con Mã Mái, Người kép già, Thượng tướng Trần Quang Khải – Trạng Vật, …
Dù không có những lời tuyên chiến mạnh mẽ như những nhà văn cùng thời, song đọc tác phẩm của Kim Lân giai đoạn này, chúng ta vẫn có thể thấy chất hiện thực hiện lên rất rõ nét và sâu sắc Ông không có những trang văn phê
phán, những thái độ lên án, đả kích gay gắt như những Giông tố của Vũ Trọng Phụng, Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Chí Phèo của Nam Cao…, cũng không có những tiếng cười trào phúng kiểu Số đỏ (Vũ Trọng Phụng) Nhà văn gần như
không đi sâu khai thác mâu thuẫn xã hội đặc thù của thời đại, mâu thuẫn giữa người nông dân với tầng lớp thực dân, địa chủ phong kiến như các bạn văn thời
ấy Trang văn của ông nhẹ nhàng, bình lặng mà vẫn đầy ắp những vấn đề nhức nhối, đầy ắp những trái ngang do xã hội đương thời đẩy xô tới số phận những con người nghèo khổ
Ngay từ tác phẩm đầu tay Đứa con người vợ lẽ, người đọc đã cảm nhận
được cái không khí cuộc sống đầy bức bối thuở đương thời Cái lề thói phong kiến, cái hủ tục đa thê đã đẻ ra cái phận người bị hắt hủi: phận người làm lẽ Vợ
lẽ, tất yếu sẽ sinh ra những “đứa con lẽ”, nếu có thể gọi như vậy Bi kịch của con người đôi khi lại bắt nguồn từ chính cái xuất thân ấy Tư, nhân vật trong câu
chuyện đã có một tuổi thơ thua thiệt của phận “con vợ ba”, một chuỗi ngày dài
mẹ con lâm vào cảnh thất nghiệp khi thày và mẹ cả mất, nhà không làm ruộng
nữa, cũng đồng nghĩa với người “vợ ba” lấy về “không phải đôi bên bác mẹ gả
bán, không phải nhà hiếm hoi, cũng không phải tình yêu”, chỉ đơn thuần là
“cáng đáng việc đồng” kia trở nên vô dụng Mẹ con phận lẽ thua thiệt ấy giờ lại
Trang 2317
sống trong cảnh “anh em họ mạc thờ ơ lạnh nhạt, họ coi hình như không có mẹ
con Tư trong nhà nữa” Và nỗi mệt mỏi trong anh không chỉ là từ cơn đói mạng
lại, nó còn là từ những tủi hận của phận “con vợ lẽ, không phải vì hương khói,
chỉ là thằng thừa” mà anh đau đớn cảm nhận được
Không dừng ở đó, trang văn Kim Lân còn đề cập tới những mảnh đời vốn
dĩ rất nhạy cảm trong bối cảnh xã hội phong kiến dù đã ảnh hưởng nhiều của
thói thực dân Đó là những kiếp cô đầu (Đứa con người cô đầu), những kiếp kép hát (Người kép già), những người phụ nữ “chửa hoang” (Nỗi này ai có biết,
Thượng Trần Quang Khải – Trạng Vật), hay cả những “tay anh chị” (Trả lại đòn) … Viết về họ, nhà văn không đi khai thác sâu vào cuộc sống lam lũ mà họ
phải đối mặt Điều ông đau đáu chính là sự xô đẩy của thói tật xã hội lên những
phận người ấy Một Thạ (Đứa con người cô đầu) trở nên tiều tụy không hẳn vì
mẹ không gửi tiền về mà còn vì sự ghẻ lạnh của chính những người sống xung
quanh Một Lan (Nỗi này ai có biết) thùy mị, đẹp nết, đẹp người phải bỏ nhà ra
tỉnh theo người bạn làm cô đầu chỉ vì mấy trò thách đố chim chuột của đám trai
làng rỗi việc Rồi một ông kép Trạch từng nổi danh (Người kép già) với bao háo
hức, mê say, bao kỳ vọng khôi phục lại truyền thống đất tuồng, phải rơi vào cảnh dở khóc dở cười: không có người tập hát, chỉ vì những lời hứa hươu vượn của lũ thanh niên “nhãi ranh” trong làng… Cuộc sống đầy những hờn tủi, chua xót chốn làng quê Bắc Bộ xưa kia đã hiện lên khá chi tiết qua những câu chuyện, những lát cắt cuộc đời tưởng chừng đơn giản, vụn vặt như thế Những tập tục cổ hủ, những nếp nghĩ cục bộ, cay nghiệt của một bộ phận người nông dân xưa cũng đủ sức dồn đẩy con người ta ghê gớm lắm, chẳng kém gì những chính sách, những mưu mô xảo quyệt… của bộ máy xã hội thực dân phong kiến
Nó ngấm ngầm ăn sâu, gặm nhấm, bào mòn cái đời sống tinh thần của con người Nó cũng khiến con người ta bị tha hóa, biến chất, bị dồn đẩy vào chốn cùng đường không giữ nổi cả nhân phẩm Chất hiện thực toát ra từ trang văn Kim Lân cũng nhẹ nhàng như chính con người ông vậy
Trang 2418
Bên cạnh đó, Kim Lân cũng viết khá nhiều tác phẩm ngợi ca những thú chơi văn hóa cổ truyền đầy tự hào của vùng quê Kinh Bắc văn vật của ông Đọc những chùm truyện ngắn này, người đọc như được đắm mình vào một nhịp sống náo nức, sôi động của một miền nông thôn trù phú Đó là nhịp sống của một vùng miền triền miên hội hè đình đám những ngày xuân năm mới, là không khí ngọt ngào của những câu hát quan họ giao duyên, là không gian tưng bừng nhộn nhịp của những trò chơi dân gian ngày hội Ngay cả những nghi thức cúng tế dân gian cũng được ông đề cập trên trang viết với một sự hiểu biết cặn kẽ và
một niềm yêu thích tự hào Đuổi tà là một câu chuyện như thế Nhà văn đã giúp
cho bạn đọc hiểu được một tập tục rất quen thuộc trong đời sống làng xã Việt xưa: trừ tà ma đầu năm và đón lộc xuân năm mới Dưới ngòi bút của ông, chuyện cúng tế trừ tà không còn là chuyện dị đoan mê tín, nó là chuyện của ước
mơ, của hi vọng, của niềm tin thiêng liêng cho một năm mới thịnh đạt, bình an
mà người dân nông thôn quê ông đã gửi gắm
Cũng với một tâm thế ấy, những thú chơi trong ngày hội trên quê hương ông đã nghiễm nhiên đi vào trang sách như một nét đẹp văn hóa cổ truyền lâu
đời cần gìn giữ: thú thả chim trong Đôi chim thành, thú đấu vật trong Thượng
tướng Trần Quang Khải – Trạng Vật, thú chọi gà trong Con Mã Mái… Đời
sống của người nông dân xưa như đã bớt nghèo, bớt khổ bởi những thú chơi tao nhã ấy
Viết về đề tài này, nhà văn như đã bộc lộ trọn vẹn con mắt tinh tường và
sự am hiểu sâu sắc về chúng, cũng bộc lộ một niềm yêu, niềm tự hào sâu sắc và một ý thức gìn giữ truyền thống văn hóa quê hương Những tâm huyết này giúp Kim Lân tạo được một dấu ấn rất riêng không trộn lẫn trên văn đàn: nhà văn của
những thú phong lưu đồng ruộng
Cho dù viết ở mảng đề tài nào, bạn đọc vẫn thấy từ truyện ngắn Kim Lân toát lên hình ảnh những con người nông dân dù nghèo khổ nhưng thuần hậu, chất phác, lạc quan, yêu cuộc sống Nhà văn không đi sâu khai thác hoặc xây
Trang 2519
dựng nhân vật của mình bị dồn đẩy đến cùng đường không lối thoát, cũng không
đề cập nhiều tới những mâu thuẫn xã hội đặc thù của thời đại Người nông dân trong tác phẩm của ông giai đoạn này cứ bình lặng, dung dị như chính cái không gian đời sống làng xã Việt bao đời nay vậy
2.1.2 Sáng tác của Kim Lân sau Cách mạng tháng Tám 1945
Sau Cách mạng tháng Tám, Kim Lân tiếp tục làm báo, viết văn Ông tích
cực hoạt động trong hội Văn hóa cứu quốc và vẫn chuyên về truyện ngắn, vẫn
chuyên về làng quê Việt Nam - mảng hiện thực mà từ lâu ông đã hiểu biết sâu sắc Thời đại, cuộc sống, tư tưởng mới đã khiến những tác phẩm của nhà văn mang những hơi thở mới, hơi thở của thời đại làm chủ, dựng xây và đổi đời nhờ
Cách mạng Tác phẩm của ông đến với bạn đọc cũng dày dặn hơn với Nên vợ
nên chồng (tập truyện ngắn, 1955), Con chó xấu xí (tập truyện ngắn, 1962)
Ngoài ra còn một số truyện ngắn viết cho thiếu nhi như Anh chàng hiệp sĩ gỗ
(1958), Ông Cản Ngũ (1984)…
Kim Lân vẫn viết về làng quê, về những cảnh đời nghèo khổ, nhưng bằng cái nhìn của con người đã chứng kiến tất cả sức mạnh của người nông dân trong cuộc Cách mạng vĩ đại tháng Tám 1945 Vì vậy, các nhân vật của ông thường có những bước chuyển mình đáng kể, từ tư tưởng đến lối sống, đến việc làm… Đặc biệt, nhà văn thường đi sâu vào khám phá và thể hiện những thay đổi tình cảm của họ trong những bối cảnh lịch sử mới của dân tộc Nổi bật hơn cả ở giai đoạn
này là hai truyện ngắn nhà văn viết năm 1948: Làng và Vợ nhặt Tác phẩm đã
thực sự mở ra cho rất nhiều thế hệ bạn đọc một cái nhìn khác về hình ảnh người
nông dân trong cuộc sống Ở Làng, đó là sự đổi mới nhận thức và tình cảm của
người nông dân về thời cuộc đất nước, về quê hương xứ sở và về cả chính bản thân họ Thông qua câu chuyện nhân vật ông Hai tự hào rồi đau đớn, rồi lại tự hào, hãnh diện về làng Chợ Giầu của mình trong kháng chiến, nhà văn đã dựng lên được chân dung người nông dân trong thời đại mới bình đẳng, tự tin, trách
nhiệm trong từng việc làm, từng nếp nghĩ Đến Vợ nhặt, câu chuyện lại gợi ra
Trang 26Nên vợ nên chồng, tác phẩm được viết năm 1954, ngay sau Cải cách
ruộng đất đã phản ánh rất đậm không khí của đất nước, không khí của sự đổi đời cho những thân phận người bị hắt hủi Nhà văn đã có những cái nhìn rất tinh tế
và thể hiện cái thời cuộc một đi không trở lại đó của đất nước một cách đa dạng
Có thể đó là cái nhìn mang đậm màu sắc chính trị của thời điểm hiện tại, cũng
có thể chỉ cần sau đó vài năm, Kim Lân đã nhìn cuộc cải cách đó khác đi (Ông
lão hàng xóm), nhưng những gì viết trong tác phẩm thực sự là nguồn tư liệu quý
báu với bạn đọc về không khí làng xã thời ấy
Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, Kim Lân có viết một số truyện dài hơi hơn Và cũng vẫn những vấn đề nóng hổi của thời cuộc lại được đưa vào trang sách, nhưng thường là những vấn đề dưới góc nhìn của một người nông dân, một người dân bình thường của cuộc sống thời chiến Điều được ông quan tâm hơn cả chính là đời sống của họ ở hậu phương Họ cũng như những chiến sĩ nhưng là trên mặt trận xây dựng đất nước và điểm tựa cho tiền tuyến Cuộc sống của họ cũng sôi nổi không kém nơi chiến trường Cái tài tình của nhà văn là ở chỗ ông đã đi sâu khám phá cuộc sống, công việc của những con người rất bình
dị mà lớn lao, lặng thầm mà không kém phần ý nghĩa Đó là những ông Cả Luốn
với phong trào ra nhập Hợp tác xã (Ông Cả Luốn gốc me), là ông Tư Mủng với
cái việc tưởng nhỏ nhoi lại hóa ra vô cùng quan trọng: đánh kẻng báo tin cho
dân làng mỗi khi có máy bay càn qua (Bố con ông gác máy bay trên núi
Côi-kê), rồi bà mẹ bộ đội tận tình vá áo cho các anh (Bà mẹ Cẩn)…
Trang 2721
Cũng trong thời gian này, nhà văn có một số sáng tác dành cho đối tượng
khá đặc biệt: thiếu nhi (Ông Cản Ngũ, Anh chàng hiệp sĩ gỗ) Dù hướng tới
những độc giả nhỏ tuổi nhưng không khó để nhận ra rằng, tác phẩm của Kim Lân vẫn đau đáu một nỗi niềm hướng tới việc hoàn thiện nhân cách con người
và khơi gợi, vun đắp ý thức các em hướng vào không khí của thời cuộc, của đất nước
Bút pháp nghệ thuật truyện ngắn Kim Lân giai đoạn này cũng có những đổi thay đáng kể Đặc biệt là việc tạo dựng những bước ngoặt cho cuộc đời, số phận các nhân vật và cách thức tổ chức cốt truyện có những gấp khúc, đan xen
đa dạng… nhằm phù hợp với vấn đề biểu hiện trong tác phẩm
Trong cả hai giai đoạn sáng tác, Kim Lân viết chuyên về truyện ngắn và viết không nhiều Tuy nhiên, ở chặng đường nào, ông cũng có tác phẩm hay dành cho bạn đọc Nhắc đến văn xuôi Việt Nam thế kỷ XX, đặc biệt là nhắc đến truyện ngắn, không thể không nhắc đến Kim Lân bởi những đóng góp của ông
Dường như ở mỗi trang văn ấy, “ta lại cảm thấy không có một bước ngoặt, một
chặng đường nào của con người Việt Nam trong gần nửa thế kỷ qua mà Kim Lân không đả động tới, dẫu chỉ bằng sự chạm trổ hết sức khiêm tốn là truyện ngắn” [17] Ông chính là minh chứng tiêu biểu cho quan điểm quý hồ tinh bất quý hồ đa từ thuở cha ông ngày trước
2.2 Quan niệm nghệ thuật của Kim Lân
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, quan niệm nghệ thuật được cho là:
“nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật,
đảm bảo cho nó có khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó ” [10,
tr.222] Như thế, quan niệm nghệ thuật của nhà văn cũng chính là cách nhìn, cách hiểu của nhà văn đó về cuộc đời, về con người mà họ đã thể hiện một cách nghệ thuật trong tác phẩm Đây được xem như điểm xuất phát để tìm hiểu nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm, một tác giả văn học
Trang 282.2.1 Quan niệm của Kim Lân về con người
Con người là trung tâm của văn học, là đối tượng chủ yếu mà các nhà văn, nhà thơ khao khát hướng đến Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm
cơ bản nhằm thể hiện khả năng khám phá, sáng tạo trong lĩnh vực miêu tả, thể hiện con người của người nghệ sĩ nói riêng và thời đại văn học nói chung Trần
Đình Sử cho rằng: "Quan niệm nghệ thuật về con người là một cách cắt nghĩa, lí
giải tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm của nhà văn về con người được thể hiện trong tác phẩm của mình” [51, tr 42] Như vậy, quan
niệm nghệ thuật về con người chính là những nguyên tắc cảm thấy, hiểu biết và miêu tả con người trong văn học, hay cũng chính là sự khám phá về con người bằng nghệ thuật Nó chịu ảnh hưởng lớn của lịch sử, xã hội, văn hóa và mang dấu ấn sáng tạo của cá tính người nghệ sĩ
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình đông con nhiều cháu với tất cả nỗi
éo le, thăng trầm của cuộc đời, lại ngụ tại một ngôi làng hội tụ gần như đầy đủ các bình diện khác nhau của một xã hội thu nhỏ, đất nửa thành thị, nửa nông thôn, chàng trai – nghệ sĩ Kim Lân ấy đã sớm có điều kiện để cảm nhận, khám phá, rồi thể hiện trên trang sách tất cả những day dứt của bản thân về con người trong cuộc sống Trên hành trình khám phá ấy, nhà văn đã tập trung tạo dựng được một thế giới nhân vật khá phong phú Nếu coi nhân vật là hình thức cơ bản
để miêu tả con người trong văn học thì qua các tác phẩm của ông, bạn đọc dễ dàng nhận ra cái tâm nguyện của nhà văn trong việc khám phá con người
Trong một buổi phỏng vấn nhà văn, nhà báo Hồng Thanh Quang có trao đổi với ông về con đường nên theo và có lợi cho sự phát triển của thiên chức văn
học, Kim Lân đã không ngần ngại mà trả lời rằng: “Nếu mà gọi là chọn con
Trang 29và đặc biệt là quan hệ với chính con người
Thế giới nhân vật của Kim Lân là thế giới của những người nông dân thuần phác Viết về họ, nhà văn cũng để họ đắm mình trong một không gian sống đậm chất nhà nông như chính con người họ vậy Đó là cái không gian hài hòa của những bờ tre mái rạ, những rặng cau, bụi chuối, cánh đồng… Kim Lân không viết nhiều về thiên nhiên, không đi sâu và có những trang văn để đời về việc miêu tả cảnh, nhưng không vì thế mà tác phẩm của ông đơn điệu, nhàm chán Đan cài trong từng câu chuyện kể, nhà văn đã có những nét phác họa khá tinh tế về cảnh sắc đậm chất làng quê Bức tranh cảnh vật làng quê trong truyện của ông luôn được đan cài cùng với những hành động hay tâm trạng, nỗi niềm
của các nhân vật Ví như trong Thượng tướng Trần Quang Khải - Trạng Vật,
nhà văn đã khéo léo tạo dựng những khung nền cho sự xuất hiện hay nỗi niềm tâm sự của các nhân vật bằng những cảnh thiên nhiên thơ mộng mà hữu tình Đó
là không gian cho sự xuất hiện của Đức Thái Tông Trần Cảnh trong khu rừng
Cổ Pháp: “Trời mới lập thu, khí tiết mát mẻ dễ chịu, không còn cái oi bức chết
trâu của mùa hạ Tầng cao xanh ngất, thoáng điểm những sợi mây trắng như bông, lững thững trôi từ phương này sang phương khác Nắng vàng rực rỡ trùm lên rừng cây, nhóng nhánh sáng ngời như giát ngọc Từng ngọn gió lướt qua, cả rừng cây lao xao lên những tiếng vui tai Bản đàn tự nhiên ấy mỗi lần rung lên lại trút xuống những chiếc lá chớm già, phấp phới bay như đàn bướm vàng nô rỡn Cảnh vật vui tươi, hớn hở tựa hồ chào đón đấng chí tôn” [24, tr 77] Để
chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ đầy thơ mộng của hai nhân vật, nhà văn đã tạo dựng một bức tranh thu dường như không hề phảng phất nét buồn muôn thuở Cái tâm
Trang 3024
thế của chàng trai – Đức Thái Tông Trần Cảnh – “thấy một nỗi gì như mỉa mai
day dứt” khi đi săn đúng nơi quê hương của người yêu dấu như sẽ dần bị cái
khung cảnh thu rực rỡ, hớn hở kia lấn lướt, bao choán, để rồi khi gặp một con bạch trĩ, chàng đã thực sự bị cuốn vào một cuộc kiếm tìm mới, tình yêu với cô thôn nữ đầy thơ mộng… Nhưng cũng chính trong truyện ngắn này, nhà văn lại tạo dựng những khung cảnh thiên nhiên khác, chuyển chở đầy nỗi niềm cho
nhân vật: “Mặt trăng hạ tuần đã nhô khỏi rừng cây phía trước Ánh sáng chênh
chếch xiên qua phên nứa đan mắt cáo giãi từng ô sáng vuông nhỏ trên nền nhà Tần lẩm bẩm: “Hai mươi giấc tốt Hai mốt nửa đêm”… Rừng cây mờ sương trắng ngủ kĩ dưới ánh trăng xanh dịu, mơ hồ Gió rì rào trong lá, và côn trùng rên rỉ dưới cỏ đưa lên họa thành một bản đàn ảo não như than vãn chuyện đời dâu bể Từng lúc, tiếng cú vang lên giữa cái u tịch canh khuya như điềm gở Vẻ huyền bí ngàn đời càng thêm sâu nặng” [24, tr 78] Một cảnh thiên nhiên vừa
làm nền cho không gian sống của nhân vật, vừa chất chứa bao tâm trạng, nỗi niềm Cái tĩnh lặng của đêm, cái mỏi mòn của cây cỏ hay cũng chính là lẻ loi của người đàn bà trắc trở chuyện tình duyên…
Thế giới nhân vật của truyện ngắn Kim Lân không chỉ sống hòa mình cùng thiên nhiên tạo vật mà còn tự bộc lộ mình là những người yêu cái khung
cảnh thiên nhiên ấy Một nhà văn của những thú “phong lưu đồng ruộng” hẳn
không thể bỏ qua một thú chơi tao nhã của người dân quê xưa: chơi cây cảnh
Trong truyện Con Mã Mái, Kim Lân đã miêu tả vườn cây cảnh của ông Cả
Chuẩn một cách tỉ mỉ, tường tận Mặc dù không gian rất nhỏ hẹp nhưng vì yêu thiên nhiên, yêu cây cảnh mà ông Cả Chuẩn đã cố bày biện nó cho ra vẻ một cái
vườn cảnh: “Giàn thiên lý, chính giữa, thấp lè tè, cành lá xum xuê che chiếc bể
cạn thả cá vàng và bốn chậu lan đặt trên đôn sứ cũ kỹ, sứt mẻ: hai chậu Bạch ngọc và hai chậu Nhất điểm Trong bể, kê một hòn non bộ sần sùi, gân guốc; cỏ tóc tiên mọc um tùm giữ một vẻ hoang vu bí mật đối với bọn người sành bé nhỏ, đặt theo điển tích Nào chùa, nào tháp, cầu, quán, chênh vênh hiểm trở, nào
Trang 3125
ngư, tiều, canh , độc; nào cầm, kì, thi, tửu; nào Bá Nha ngộ Tử Kì, nào Sào Phủ tẩy nhĩ… Tất cả ngụ một vẻ an nhàn thư thái, gác đường danh lợi ra ngoài như thời Nghiêu Thuấn Che tất cả hòn non bộ là một cái tán si Gốc si xù xì, thân uốn éo theo một kiểu nhất định” [24, tr 49] Và Cả Chuẩn đã say mê, hào hứng
kể cho mọi người nghe về thú chơi, niềm đam mê thiên nhiên, cây cảnh của
mình: “những người sành này tôi gửi mua tận chợ Đồng Xuân ngoài Hà Nội,
toàn là sứ Tàu cả; lại còn cây si này nữa Ông thử để ý ngắm kỹ mà xem: kiểu long cuốn thủy đấy!… Này nhé, cái gốc là cái đầu vục xuống uống nước này Hai vấu này là hai con mắt này Cái thân uốn éo như hình con rồng cuộn khúc này Cái tán ở trên xòe là cái đuôi này Còn cây nhỏ dưới gốc là cây tử này Chơi cây phải có mẫu, có tử mới không sái, ông ạ!” [24, tr 49] Người nông
dân xưa dưới trang văn của Kim Lân không chỉ có lam lũ, nhọc nhằn, ở họ còn ánh lên bao vẻ đẹp tinh thần cao quý khác nữa
Không chỉ có tình cảm với thiên nhiên cây cỏ, con người trong sáng tác của Kim Lân còn có tình cảm đặc biệt với những con thú, vật nuôi trong nhà Miêu tả tình cảm của con người với con vật không phải là điều gì đó mới mẻ, song miêu tả tình yêu thương với những con vật nuôi dân dã, gần gũi xung quanh đời sống ngày thường, lại với một tần suất như Kim Lân thì quả không nhiều cho lắm Nhà văn có thể dựng những câu chuyện chỉ từ những lát cắt đời
sống đơn giản như tình yêu thương với những con gà (Con Mã Mái), con chim
bồ câu (Đôi chim thành), con chó (Con chó xấu xí) Cái tình của những con
người – nhân vật – với chúng quả là hiếm gặp, ngay cả ngoài cuộc đời chứ
không nói đến trên trang sách Đọc những dòng cuối của câu chuyện Đôi chim
thành, trải nghiệm cảm xúc của nhân vật Trưởng Thuận mới thấy ông yêu quý
đàn chim của mình cỡ nào Vì nể bạn, ông đã thả đàn chim trong tiết trời không
lấy gì làm đẹp cho lắm Rồi mưa giông, rồi đàn chim trôi mất, rồi ông ốm “lử đử
sốt đã năm hôm nay” Đâu phải chỉ vì đày nắng suốt ngày như cái nhìn của bà
Trưởng, ấy là vì “ông tiếc đàn chim lắm, nhất là đôi chim thành”, là vì chúng là
Trang 3226
bạn, cũng là niềm kiêu hãnh, là gan ruột của ông Và khi đàn chim trở về, ông như giải tỏa hết muộn phiền, hết cả bệnh tật, cuộc sống của ông như lại thấy hồ hởi, sung sướng đến nhường nào:
“Cu Tạm mừng rỡ, cuống quýt, gọi:
- Thầy ơi, đôi chim thành đã về!
Ông Trưởng đang rên hừ hừ, vùng trở dậy, run lẩy bẩy chạy ra sân, miệng hỏi:
- Đâu! Thật không?
Ông dụi mắt nhìn lên nóc nhà Quả đôi chim quý báu của ông thật Chúng nó đang há hốc mỏ ra thở, lông cánh phờ phạc, nom gầy tọp đi Hai mắt sáng lên vì sung sướng, cặp môi héo của ông nở một nụ cười rất tươi”[24, tr.34]
Viết về tình yêu với những con vật nuôi quanh mình, Kim Lân cũng không bỏ qua mối thân tình của con người với một loài vật rất đỗi thân thuộc,
con chó Thật là cảm động khi bạn đọc chia sẻ tấm lòng nhân vật xưng “tôi”
trong truyện Con chó xấu xí Sau khi nghe vợ của mình kể về chuyện con chó
xấu xí đã lê lết về nhà để gặp chủ trước khi chết, anh ta vừa thương xót vừa xấu
hổ vì cảm thấy ăn năn với những sự việc, những hành động mà mình đã đối xử
với con chó: “Tôi tối sầm mặt lại, vừa thương xót con chó vừa cảm thấy xấu hổ
Quả thật tôi chỉ là một thằng tồi Một thằng ích kỷ Tôi chỉ nghĩ đến mình và vợ con mình Đến như con chó mình nuôi mình đối xử với nó có được như cái tình nghĩa của nó đối với mình đâu” [24, tr 222] Lời của “tôi” rất thành thật, cảm
động Một sự hối lỗi muộn màng, một niềm day dứt sẽ còn đeo bám nhân vật mỗi khi nhìn thấy một con chó nào khác ngang qua… Và có lẽ, cũng do bởi nhà văn đã viết rất hay, rất sâu sắc về cái tình của con người với con chó nuôi như
vậy mà sau này, khi sắm vai lão Hạc trong bộ phim Làng Vũ Đại ngày ấy, ông
đã thể hiện được cái tình cảm của nhân vật với cậu Vàng thật xúc động, chân
thành như những gì nhà văn Nam Cao miêu tả và đạo diễn Phạm Văn Khoa mong muốn
Trang 3327
Là một con người đôn hậu, lại rất yêu quê hương mình, Kim Lân luôn nhìn thấy và thể hiện cái bản tính tốt đẹp, hướng thiện của người nông dân thuần phác, để rồi tái tạo lại trong tác phẩm nghệ thuật Đọc truyện ngắn Kim Lân, bạn đọc gần như thấy vắng bóng các nhân vật với lối sống xảo quyệt, lọc lõi hay bạc
ác, gian ngoan, kiểu như Bá Kiến trong Chí Phèo của Nam Cao, hay Nghị Quế trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố… Trải suốt các sáng tác của nhà văn kể cả trước
và sau Cách mạng tháng Tám là các nhóm nhân vật dù được khai thác ở phương diện nào cũng đều toát lên một vẻ đẹp phong phú về đời sống tâm hồn và cao quý về nhân cách, đặc biệt là lối sống đậm tình người Đó là cái tình với quê hương bản quán, với bà con xóm giềng, và cả cái tình với ngay những người trong những hoàn cảnh họ là đối thủ của mình nữa
Người nông dân sống trong khuôn viên làng xã bao đời luôn trọng cái tình
làng nghĩa xóm Họ rất trọng cái tinh thần “bán anh em xa, mua láng giềng gần”
mà cha ông đã đúc kết Cũng là điều tất yếu khi một nhà văn gắn bó với làng quê như Kim Lân đã đưa vào trang sách của mình rất nhiều và rất sâu sắc những câu chuyện cảm động về cái nghĩa tình gần gụi ấy Đầy ắp trong truyện ngắn của
ông là những tình cảm đẹp đẽ của những con người sống tối lửa tắt đèn có nhau
Ngay từ những tác phẩm viết trước Cách mạng tháng Tám, nhà văn đã cho bạn đọc thấy được điều này Đó là tấm lòng không tiếc bạn của ông Trưởng Thuận trước lời đề nghị thả chim vào buổi xấu trời của những người cũng sành chơi
như ông (Đôi chim thành); là những nghi thức phức tạp mà ông tự Năm đã
chuẩn bị thật cẩn thận, kĩ lưỡng cho buổi lễ trừ tà đầu năm mới để cầu cho cả
dân làng được an lành, thịnh đạt (Đuổi tà) Sau này, tình làng nghĩa xóm ấy lại
là những tiếng cười hềnh hệch của anh cu Tràng mỗi chiều đi làm về mặc sức cho lũ trẻ xóm ngụ cư “đứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo,
đứa lôi chân không cho đi”, khiến cả cái xóm ngụ cư tồi tàn ấy “mỗi chiều lại
xôn xao lên được một lúc” (Vợ nhặt); là lời nhắn vội vàng của ông lão hàng xóm
“anh liệu mà giữ gìn đấy! Có thế nào bên tôi còn cái hầm bảo đảm được anh
Trang 3428
ạ!” với một người đang bị “xét lại” như Đoàn (Ông lão hàng xóm) Xúc động
hơn nữa khi nhà văn miêu tả cái không khí ấm áp tình người mà ông Tư Mủng
(Bố con ông gác máy bay trên núi Côi-kê) xúc động đến độ phải vội vã chạy
trốn khi từ bệnh viện về phố: “Những người quanh đấy nghe nói ông Tư Mủng
về đổ xô cả lại tíu tít thăm hỏi Bà hàng bánh đưa bánh Bà hàng kẹo đưa kẹo
Bà cụ hàng nước già lọng khọng cũng rót một cốc nước chè tươi đầy và gói
“Hoa Lư” vẫn nguyên chưa bóc đem vào mời ông Tư Bác hàng phở làm xong bát phở không len chân vào được, gắt gỏng, quát tháo ầm ĩ cả lên Ông Tư Mủng đỏ văng cả mặt, cuống quýt chối đây đẩy không dám nhận Ông cảm động quá, nước mắt chỉ muốn trào ra Ông vừa ngượng ngập, vừa vụng về, ấp úng nói chẳng nên lời Bốn năm năm giời nay, bây giờ ông mới được gặp bà con trong phố Được nhìn mặt từng người và thấy rõ sự săn sóc ân cần của từng người qua những khuôn mặt ân cần ấy … Ngoài đường lại thấy ba bốn tốp người nữa đang vào; cả ông già, bà già, cả ông chủ hàng cơm, mấy cô hàng xén, hàng vải nữa…” [26, tr.127] Xúc động biết bao, thân tình biết bao cái
không khí ấm áp ấy Và “chiều nay, ông sẽ lại đánh kẻng, gác máy bay cho đồng
bào họp chợ Và ngày mai, thằng con ông sẽ cất tiếng học đầu tiên trên quả núi ấy” [26, tr.130] Cuộc sống của những con người dân quê bình dị lại tiếp tục,
bom đạn kẻ thù, gian khổ cuộc đời rồi lại vượt qua bởi những tình người cao đẹp
ấy
Cái nghĩa tình cao đẹp của con người với nhau trong cuộc sống cũng được nhà văn khai thác ở một hoàn cảnh ngặt nghèo hơn: trên sới vật, nơi chuyện hơn thua, được mất trở nên quan trọng hơn hết thảy Trong ba truyện ngắn viết về
thú chơi đánh vật (Thượng tướng Trần Quang Khải – Trạng Vật, Cầu đánh
vật, Ông Cản Ngũ), nhà văn luôn tạo dựng những tình huống truyện rất hấp dẫn,
lôi cuốn bạn đọc Liên tiếp các cuộc đấu vật, liên tiếp các đô vật so tài Mỗi tác phẩm nhà văn đều khéo léo cuốn độc giả vào một cuộc đấu vật sinh tử đến phút cuối cùng Nhưng cũng ngay chính những phút cuối cùng ấy lại chẳng có một
Trang 3529
chuyện sinh, chuyện tử nào diễn ra cả Trận đấu đầy kịch tính, tưởng như mười
mươi người sống kẻ chết giữa Trạng Sặt và Trạng Kế (Thượng tướng Trần
Quang Khải – Trạng Vật) lại có một tình huống ngoài dự định: một mảnh áo
vàng cũ rơi ra… Hay như cuộc đấu giữa Đô Tàn và “Voi Cái” trong Cầu đánh
vật còn không hề diễn ra chỉ bởi cái việc “dọn sới vật cho rộng rãi” của Đô Tàn,
khi ông nhổ một cây nhãn và dẹp gọn con bò buộc dưới gốc cây vào một chỗ
Ông Cản Ngũ lại thể hiện rõ hơn điều này “Trong keo vật với cụ Cả Lẫm, ông
Cản Ngũ đã bị năm đầu ngón tay cứng như cái vuốt sắt của cụ Cả Lẫm quặp chặt lấy xương quai xanh… toàn thân ông Cản Ngũ đã run lên bần bật… Ông Cản Ngũ hoàn toàn lệ thuộc vào sự điều khiển theo ý muốn của cụ Cả Lẫm…”
[24, tr 231] Cản Ngũ sắp thua Nhưng cũng đúng vào thời điểm ấy, thế trận lại lật nhào… Bất kì ai vào cuộc đọ tài đều mong mình chiến thắng Nhưng rồi hầu khắp các cuộc đọ tài mà Kim Lân xây dựng trong truyện ngắn của mình lại vắng bóng cái không khí ăn mừng chiến công ấy Nhà văn đã để cho các nhân vật –
đô vật của mình làm điều quan trọng nhất: là một con người trước khi là một võ
sĩ, con người với lối sống vị tha, yêu thương, che chở Sau cuộc đấu trì hoãn, Trạng Sặt mời Trạng Kế về nhà mình và tôn làm thày dạy; ông Cản Ngũ vừa
đấu với Tí Trâu lại vừa “yêu quý thằng bé đến lạ lùng”, rồi Quắm Đen từng
ngầm nuôi ý phục thù lại xin đi theo “kẻ thù” bằng được Đặc biệt hơn cả là cái cách ứng xử của các đô vật trên sới Kẻ thắng trận, ông Cản Ngũ, không hề ngạo mạn, kiêu căng mà vẫn sáng suốt nhìn nhận sự việc để thấy mình thật vinh hạnh
mà trải lòng những điều không ai nghĩ tới: “Tôi không bao giờ dám nghĩ mình
có thể thoát … Về đây tôi càng nghĩ càng lấy làm lạ… Đúng là cụ tha cho tôi keo vật ấy” Còn cụ Cả Lẫm thì lại nghĩ “Khi phải đánh những miếng hiểm độc
đã là hạ sách rồi… huống chi ông Cản Ngũ tiếng là đô vật, nhưng ông lại là một ông tướng nghĩa quân của quan Tán, có nên vì một keo vật mà làm hại một người bấy lâu vì dân vì nước không?” [24, tr 236] Với suy nghĩ như thế, rõ
ràng cụ Cả Lẫm đã vì tình cảm của con người với cộng đồng, đất nước mà chịu
Trang 3630
thua không nỡ hại ông Cản Ngũ Như thế, cũng đồng nghĩa sới vật giữ trọn vẹn được các người tài còn có thể giúp đời, giúp nước Cách kết thúc truyện của nhà văn thường chan chứa tình người như thế
Vẻ đẹp của tình người được Kim Lân khai thác sâu hơn cả trong những câu chuyện về những mối quan hệ của những thành viên trong gia đình Đó chính là cái đạo lý làm cha, làm mẹ, làm vợ, làm con cái… Trong tất cả các mối
quan hệ đó, ông muốn con người lúc nào cũng phải sống“cho ra người” Đó là
tình cảm của ông Cả Nhiêu trong Cơm con Vợ chết sớm, thân gà trống nuôi
con, “tần tảo buôn rau bán hành, buôn đấu bán thúng, thôi thì xoay xỏa đủ
vành.” Ông không bao giờ dám nghĩ đến việc bước thêm bước nữa, bởi lẽ ông
sợ “biết rằng về nhà mình người ta có thương con mình không? Hay lại tan cửa
nát nhà!” Có thể nói, đó là một người cha suốt cả đời chỉ yêu thương lo lắng và
hy sinh cho con cái Nhân vật gợi cho ta nhớ đến tình thương con của lão Gorio trong tác phẩm cùng tên của O.Banzac Đó cũng là tình cảm của ông Tư Mủng
với con mình trong Bố con ông gác máy bay trên núi Côi-kê Với ông, đứa con
như là một báu vật, là một nguồn sáng đối với ông “từ cái khuôn mặt trẻ thơ
sáng rực lên một niềm tin, một nguồn an ủi làm dịu đi những đau khổ, tủi nhục cay đắng hàng ngày” [26, tr 68] Và thật sự cảm động khi ta đọc truyện ngắn
Người chú dượng, Kim Lân đã phác họa được cái tình người qua tấm lòng của
ông Mộc gù thương vợ, thương con Ông Mộc gù đã âm thầm chịu đựng những
đau đớn vất vả, oan ức mà người vợ phải lòng trai đã gây ra Vậy mà “Anh đỏ
Mộc nát ruột nát gan, không hiểu sao lúc ấy anh lại càng thấy thương yêu vợ mình Anh nghĩ: chẳng qua là vợ anh nó dại, nó cả nghe người Với lại vợ chồng
ăn ở với nhau bằng ấy năm giời, đem nhau từ quê lên đây làm ăn, không lẽ mỗi lúc bỏ nhau? (…) Thôi thì, vợ mình trước sau vẫn là vợ mình, bới xấu ra làm gì cho thêm tan nát Ngày ấy không có đứa con thì tôi cũng muốn chết quách cho rồi anh ạ Thương nó mình phải sống mà nuôi nó” [26, tr 186] Vì những đứa
con, những bậc làm cha, làm mẹ ấy có thể vượt lên trên tất cả, có thể làm được
Trang 3731
những điều tưởng chừng như họ không thể làm nổi Bà mẹ Cẩn trong truyện
ngắn cùng tên cũng đã thương con bằng tình thương như thế: “Bà mẹ Cẩn chỉ
cắn răng lại, không kêu ca nửa lời Bà nhẫn nhục chịu đựng tất cả Bà chỉ biết
có đứa con, chỉ thấy có đứa con, chỉ nghĩ đến đứa con Bà dồn hết tâm lực cho đứa con Bao nhiêu oan trái, đắng cay, cực nhọc trên đời không gì sánh nổi tấm lòng bà mẹ yêu thương đứa con của mình Càng đau khổ, càng thương yêu dữ dội” [25, tr 510]
Từng trải nghiệm qua hoàn cảnh bi đát nhất trong lịch sử của đất nước, nạn đói Ất Dậu 1945, Kim Lân đã có một cái nhìn rất khác biệt về số phận và nhân cách con người Vấn đề cái đói đã từng được rất nhiều nhà văn cùng thời
đề cập đến, nhưng quan niệm giống như ông lại không nhiều Ông cho rằng:
“Khi đói, con người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con
đường sống Dù ở trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết, vẫn khát khao hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng ở tương lai” [22, tr 89] Tác phẩm thể hiện rõ nhất quan niệm trên của nhà
văn chính là Vợ nhặt Ở Vợ nhặt, câu chuyện tình người lại được nhà văn khám
phá và ngợi ca trên rất nhiều cung bậc khác nhau Có tình mẫu tử thiêng liêng của người mẹ nghèo, có tình thương yêu, đùm bọc chở che nhau của bao con người trong cơn tao đoạn, có nghĩa vợ chồng đầy trân trọng, cảm thông… Chừng ấy điều thiêng liêng, cao quý được bật lên từ khung cảnh tối tăm của nạn
đói đã tràn đến tự lúc nào với những bóng người đi lại dật dờ, xanh xám như
những bóng ma, người chết như ngả rạ Và một tiếng “Chậc Kệ!” giản đơn đã
đưa hai con người khốn khổ đến với nhau Tràng “lấy vợ ” khi còn chẳng biết có nuôi nổi thân mình không Người đàn bà lấy chồng, đã chấp nhận phận theo không, nhặt được, mà cũng chẳng kì vọng gì nhiều vào sự đổi thay số phận khi
chứng kiến gia cảnh nhà chồng Cái ngực lép nhô hẳn lên của thị đã phải “nén
một tiếng thở dài” Người mẹ nghèo với nỗi lo đau thắt: “biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không”… Nhưng rồi vượt lên hết
Trang 3832
thảy, gia đình họ đã có một luồng sinh khí thật mới, thật tươi sáng, như chính cái ánh sáng của buổi sớm mùa hè sáng lóa đã xói vào mắt Tràng Một nhịp sống mới lại đang cựa mình hồi sinh… Hạnh phúc mới đã trả lại cho người vợ nhặt vẻ
“hiền hậu đúng mực” Bàn tay từng đẩy chiếc xe bò duyên phận, bàn tay quệt
đũa ngang miệng hôm qua, nay đã sắp đặt, sửa sang nhà cửa gọn gàng sạch sẽ
Hạnh phúc mới của những đứa con đã khiến cái mặt bủng beo, u ám thường ngày của bà cụ Tứ rạng rỡ hẳn lên Đặc biệt hơn cả là anh cu Tràng với bao cảm xúc mới mẻ Hắn nhận ra những đổi thay quanh nhà, hắn thấy “hắn thương yêu,
gắn bó với căn nhà của hắn lạ lùng Hắn đã có một gia đình Hắn sẽ cùng vợ sinh con đẻ cái ở đây Cái nhà như cái tổ ấm che mưa, che nắng Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người Hắn thấy hắn phải có bổn phận phải lo cho vợ con sau này” [24, tr 158]
Những suy nghĩ mà có lẽ là lần đầu tiên xuất hiện trong óc hắn Dù bữa cơm đón nàng dâu mới chỉ là niêu cháo lõng bõng, lùm rau chuối thái rối và một nồi cháo cám đắng chát, nhưng cũng không ngăn được họ nghĩ về tương lai, nghĩ về lá cờ
đỏ sao vàng bay phấp phới…
Khi chọn cho mình “chiếu” văn nông thôn, Kim Lân đã triệt để khai thác
và khám phá mọi ngõ ngách của đời sống làng xã Việt Nam Đối tượng con người được đề cập trong tác phẩm của ông, vì thế, cũng chủ yếu là người dân lao động thôn quê bình dị, chất phác Những mâu thuẫn ngàn đời của làng xã, những bon chen của thời cuộc dường như xa lánh trang văn của ông Những con người – nhân vật của tác phẩm đều được nhà văn đặt vào chính cái môi trường sống thân thuộc nhất của họ: làng xã, để mà ngợi ca, khám phá Vẻ đẹp người nông dân trong tác phẩm của Kim Lân, vì thế, luôn gắn liền với vẻ đẹp của những phong tục văn hóa đồng quê Bắc Bộ đặc thù Họ yêu cái không gian sống gắn bó lâu đời của mình, họ yêu cái công việc đồng áng bao đời ông cha để lại, họ yêu
và cũng chính họ tự tạo nên cho mình những thú chơi tao nhã lúc nông nhàn, họ sống với nhau bằng cái nghĩa tình thân thiết… Ông phát hiện và ngợi ca những
Trang 3933
vẻ đẹp nơi họ với một tình cảm hết sức tốt đẹp, với cả sự trải nghiệm của chính bản thân, một người nông dân, một đứa con của làng thực thụ
Trần Đình Sử trong Dẫn luận Thi pháp học đã cho rằng: “Nghệ sĩ đích
thực là người suy nghĩ về con người, nêu ra những tư tưởng mới để hiểu về con người, do đó, càng khám phá quan niệm nghệ thuật về con người thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạo của họ, càng đánh giá đúng thành tựu của họ” [51, tr
49] Sức sống của những tác phẩm của Kim Lân sở dĩ có được như hôm nay
cũng là bởi ông đã có những suy nghĩ tích cực về con người như thế
2.2.2 Quan niệm của Kim Lân về cái đẹp
Với người nghệ sĩ nói chung, nhà văn nói riêng, việc sáng tạo nghệ thuật cũng là việc sáng tạo cái đẹp Với họ, cái đẹp phải là phạm trù liên quan và hướng tới đời sống của con người Một tác phẩm nghệ thuật đẹp phải là tác
phẩm “thể hiện những giá trị nhân bản, xã hội, do đó khẳng định giá trị của con
người trong thế giới, chứng tỏ sự mở rộng giới hạn tự do của xã hội và con người, thúc đẩy sự phát triển hài hòa của nhân cách, làm nảy sinh và bộc lộ ngày càng đầy đủ những sức mạnh và năng lực của con người” [10, tr 34,35]
Cho nên, người nghệ sĩ được coi là mang trong mình cái sứ mệnh đi kiếm tìm
cái đẹp Thạch Lam, trong tác phẩm Theo giòng của mình, đã rất sâu sắc khi nói
về hành trình gian truân mà cao cả ấy: “Công việc của nhà văn là phát hiện ra
cái đẹp ở chỗ không ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật, để cho người đọc một bài học trông nhìn và thưởng thức” Với sứ mệnh thiêng liêng
này, mỗi nhà văn lại có một hướng đi riêng độc đáo để rồi khám phá ra biết bao
vẻ đẹp phong phú của cuộc đời Nếu Nguyễn Tuân mải mê đi kiếm tìm những
vẻ đẹp tài tử, siêu phàm thì Thạch Lam lại say sưa với những cái đẹp man mác buồn và hơi cổ điển, những cái đẹp của đời thường, của những tâm hồn bình dị, mộc mạc mà tinh tế Nếu Nhất Linh, Khái Hưng đi ngợi ca cái đẹp ở những con người tân thời mới, trẻ trung, yêu đời, mạnh bạo đòi quyền sống, quyền yêu, thì Nam Cao lại day dứt và từ đó đi sâu khám phá những vẻ đẹp ẩn tiềm từ “những
Trang 40làng quê Sinh ra và lớn lên ở một vùng “đất hun tú khí, đời tạo văn nhân” như
cái làng Chợ Giầu, phủ Đông Ngàn, huyện Từ Sơn thì hành trình trở về với quê hương bản quán để kiếm tìm và ngợi ca cái đẹp như ông cũng là điều dễ hiểu
Nó cũng giống như một việc “trả nợ” của một bậc trai đinh với làng vậy Cái món nợ sinh thành, nợ dưỡng dục của mẹ cha, của bờ tre, gốc rạ, của biết bao gương mặt thân thuộc quanh mình mà Kim Lân không phải là một hiện tượng cá biệt Quanh ông còn có rất nhiều những trai làng cũng từng trở về với làng Giầu
để kiếm tìm cảm hứng sáng tạo nghệ thuật Nhà văn Nguyễn Địch Dũng năm
1965 có cho ra mắt cuốn Trai làng Quyền mà bất cứ ai đọc cũng đều có cảm
nhận “Hình như Nguyễn Địch Dũng muốn nói về người con trai nào đó “có
thật” ở làng Chợ Giầu - quê hương ông từ ngày xưa thì phải” Rồi nhạc sĩ Hồ
Bắc với bài hát Làng tôi đã làm ấm lòng bao thế hệ, nghệ sĩ – nhà quay phim Nguyễn Đăng Bẩy với Đến hẹn lại lên năm 1974 Đặc biệt, nhà thơ – dịch giả
Thúy Toàn, con người tuổi thơ phải xa làng rất sớm, khi về già, ông lại hướng
về mảnh đất ông cha, muốn xây dựng một địa chỉ văn hóa, muốn đóng góp công trình nho nhỏ cho làng quê cổ kính và trù phú của mình Ông đã có một bài viết
khá xúc động và đầy tự hào về quê hương: “Lại nói về cái làng của tôi” …
Trong cuộc nói chuyện với nhà thơ Bế Kiến Quốc, Kim Lân đã cho rằng:
“Đất có lề, quê có thói Văn hóa được tích tụ hàng nghìn năm, hàng trăm năm
Nó tồn tại và phát triển trong mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi làng xã… và từng làng đóng góp thành cộng đồng, thành dân tộc, thành quốc gia…” [22, tr
92] Như thế, văn hóa, với ông, cũng chính là những phong tục, tập quán đẹp đẽ