Một loạt tiểu thuyết triển khai trên nhiều đề tài đã tái hiện bức tranh đời sống xã hội Việt Nam thời hiện đại trong toàn bộ tính phức tạp của nó như: Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn K
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ XUÂN THOẢ
NHÂN VẬT VÀ NGƯỜI KỂ CHUYỆN
TRONG TIỂU THUYẾT LÊ LỰU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : Lý luận Văn học
HÀ NỘI 2014
Trang 2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VŨ XUÂN THOẢ
NHÂN VẬT VÀ NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT LÊ LỰU
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành Lý luận Văn học
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành, ngoài sự nỗ lực cố gắng của riêng bản thân tôi, còn nhờ sự tận tình giúp đỡ của các thầy cô, gia đình và bạn bè Với tấm lòng thành kính và biết ơn sâu sắc, em xin gửi tới PGS.TS Đoàn Đức Phương, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành đề tài luận văn
Xin cảm ơn các thầy, cô giáo thuộc tổ bộ môn Lý luận Văn học, khoa Văn học và các cán bộ phòng đào tạo SĐH của Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội đã trang bị kiến thức cũng như tạo mọi điều kiện cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin cám ơn Sở GD&ĐT Hải Dương, Ban Giám hiệu cùng các cán bộ, giáo viên Trường trung học phổ thông Đường An nơi tôi công tác đã ưu ái tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn cũng như khoá học này Xin cảm ơn và tỏ lòng tri ân sâu sắc đến tất cả mọi người trong gia đình, các anh chị, các bạn lớp cao học văn K56 những người đã luôn giúp đỡ, chia
sẻ mọi khó khăn và luôn động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2014
Tác giả luận văn
Vũ Xuân Thỏa
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài………
2 Lịch sử vấn đề………
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu………
4 Phương pháp nghiên cứu ………
5 Cấu trúc luận văn………
NỘI DUNG Chương 1: TIỂU THUYẾT LÊ LỰU TRONG DÒNG CHẢY TIỂU THUYẾT ĐƯƠNG ĐẠI 1.1 Bức tranh chung của văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới 1.1.1 Cơ sở của công cuộc đổi mới văn học ………
1.1.2 Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới ………
1.2 Quá trình sáng tác và vị trí của tiểu thuyết Lê Lựu trong văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới 1.2.1 Quan điểm nghệ thuật………
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác của Lê Lựu………
1.2.3 Vị trí của tiểu thuyết Lê Lựu trong văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới………
Chương 2: NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT LÊ LỰU 2.1 Nhân vật văn học và nhân vật tiểu thuyết ………
2.2 Cảm hứng bi kịch và các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Lê Lựu
2.2.1 Cảm hứng bi kịch trong văn học Việt Nam trước và sau thời kỳ Đổi mới ………
2.2.2 Nhân vật rơi vào bi kịch do hoàn cảnh ………
2.2.3 Bi kịch cá nhân trong mỗi nhân vật………
2.2.4 Nhân vật rơi vào bi kịch do nhận thức, quan niệm duy ý chí ………
1
4
8
9
11
12
13
20
21
23
26
28
29
34
43
50
Trang 52.2.5 Nhân vật với bi kịch của lối sống thực dụng, ích kỷ, biến chất
2.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật ………
2.3.1 Nghệ thuật tạo tình huống………
2.3.2 Nghệ thuật biểu hiện nội tâm………
2.3.3 Nghệ thuật tổ chức xung đột………
Chương 3: NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT LÊ LỰU 3.1 Khái lược về người kể chuyện trong loại hình tự sự 3.1.1 Khái niệm người kể chuyện………
3.1.2 Các hình thức xuất hiện của chủ thể kể chuyện………
3.2 Ngôi kể và điểm nhìn 3.2.1 Ngôi kể………
3.2.2 Điểm nhìn ………
3.3 Phương thức kể chuyện 3.3.1 Trần thuật khách quan hóa trong tiểu thuyết Lê Lựu………
3.3.1.1 Trần thuật hòa mình với nhân vật………
3.3.1.2 Trần thuật “ủy thác” cho nhân vật………
3.3.1.3 Người trần thuật có giọng nói riêng………
3.3.2 Trần thuật theo hướng chủ quan hóa trong tiểu thuyết Lê Lựu…
3.4.Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Lê Lựu 3.4.1 Giọng điệu trần thuật………
3.4.2 Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Lê Lựu 3.4.2.1 Giọng điệu hài hước, hóm hỉnh, giễu nhại………
3.4.2.2 Giọng điệu trữ tình xót xa, thương cảm………
3.4.2.3 Giọng suy tư chiêm nghiệm………
3.4.2.4 Giọng phê phán, lên án, tố cáo ………
KẾT LUẬN………
TÀI LIỆU THAM KHẢO………
59
66
67
73
76
83
85
88
89
94
95
105
113
118
125
129
135
140
145
149
156
Trang 6và họ đã phát hiện ra nhiều vấn đề có ý nghĩa Từ thể tài lịch sử dân tộc vốn được coi là thể tài chủ đạo, văn học đã chuyển sự quan tâm chủ yếu sang thể tài thế sự Nhiều tác phẩm văn học ngày càng đi tới một quan niệm toàn vẹn, sâu sắc về con người mà hạt nhân cơ bản là tư tưởng nhân văn, nhân bản Con người trong văn học hôm nay được nhìn ở nhiều vị thế, trong tính đa chiều của các mối quan hệ: con người xã hội, con người với cuộc sống, con người trong các mối quan hệ với gia đình, dòng họ, với phong tục tập quán và với chính mình Con người cũng được văn học khám phá ở nhiều tầng bậc: ý thức
và vô thức, tư tưởng, tình cảm và đời sống tự nhiên, con người với bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng tầm thường, con người cụ thể, cá biệt và con người trong tính nhân loại, phổ quát Đây là những vấn đề cần được nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đã “cởi trói” những quan niệm nghệ thuật không còn phù hợp với thời đại để tài năng nghệ sĩ được tự do tung cánh Sự đổi mới ấy đã đem đến cho văn nghệ một luồng sinh khí mới Cuối những năm tám mươi, đầu những năm chín mươi là một đợt sóng rất cao
Trang 72
và mới của tiểu thuyết Đã không ít cây bút mới xuất hiện với những cảm hứng và quan niệm nghệ thuật mới ra đời Một loạt tiểu thuyết triển khai trên nhiều đề tài đã tái hiện bức tranh đời sống xã hội Việt Nam thời hiện đại trong
toàn bộ tính phức tạp của nó như: Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Ông cố vấn của Hữu Mai, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Bến không chồng của Dương Hướng, Thân phận của tình yêu của Bảo Ninh, Thời xa vắng, Đại tá
không biết đùa của Lê Lựu Các nhà văn đã lựa chọn thể loại tiểu thuyết làm
phương tiện phản ánh hiện thực cuộc sống và bày tỏ quan điểm nghệ thuật của mình Thể loại này chiếm vị trí hết sức quan trọng trong các loại hình văn xuôi nghệ thuật, là hành trang chủ yếu của các cây bút văn xuôi, là dấu hiệu trưởng thành của một nền văn học Tiểu thuyết được coi là “máy cái” của văn học, nhiều cuốn tiểu thuyết được coi là những pho "bách khoa toàn thư" về đời sống xã hội Giá trị nhận thức, những kinh nghiệm sống quý báu mà tiểu thuyết mang đến cho con người là không thể đo đếm hết Bức tranh hiện thực toàn cảnh mà tiểu thuyết mang lại cũng bộn bề, phức tạp, đa dạng, đa chiều và
đa tầng như chính bản thân sự tồn tại của đời sống con người Từ những
"khuôn vàng thước ngọc" của đạo đức, phong tục đến những lĩnh vực bao la, rộng mở của khoa học, nghệ thuật; từ những cuộc giao tranh đẫm máu của lịch sử đến những hình ảnh rực rỡ lấp lánh sắc mầu của thiên nhiên; từ những vinh quang chói lọi của các bậc đế vương đến những chặng đường hưng thịnh hay suy vong của một thời đại đến cái kết cục bi thảm của một thân phận tăm tối, thấp hèn tất cả đều hiện lên trong những trang tiểu thuyết với dáng vẻ chân thực và sinh động
Dòng chảy của tiểu thuyết thời kì Đổi mới có những chuyển biến phong phú, đa dạng, làm nóng lại không khí có phần lặng lẽ của tiểu thuyết giai đoạn trước Đọc tiểu thuyết hôm nay, độc giả dễ có cảm giác nó đã áp sát đời sống,
Trang 83
xông thẳng vào các “mắt bão” của cuộc đời và nói được nhiều vấn đề bức thiết của cuộc sống thông qua những số phận có tính bi kịch Con đường đổi mới này dẫu còn nhiều thử thách, dẫu chưa thật hoàn thiện nhưng chúng ta thấy cũng đã phần nào định hình Trên con đường ấy, có thể nói, Lê Lựu là một trong những tác giả đặt những bước chân đầu tiên để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc, nhiều tác phẩm của ông đã tập trung phản ánh số phận,
bi kịch của con người trước thực tại Độc giả đã biết đến Lê Lựu với những
truyện ngắn làm rung động lòng người như: Trong làng nhỏ, Người cầm
súng, Chuyện kể từ đêm trước, Người về đồng cói, Quê hương người lính…Nhưng phải đến Thời xa vắng thì Lê Lựu mới thật sự trở thành một
hiện tượng, tác phẩm đã gây được tiếng vang, thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu văn học về việc đổi mới tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết
Người ta thấy khắp nơi diễn đàn về Thời xa vắng Anh chàng nhà quê Giang
Minh Sài của nhà văn đi vào tận các ngõ ngách của cuộc sống, hắn vượt cả biên giới, ra khỏi địa phận nước Việt Có thể nói Lê Lựu đã thành công vang dội Sau thành công ấy, ông vẫn miệt mài lao động và những đứa con tinh
thần của ông lại lần lượt ra đời như: Đại tá không biết đùa (1989), Chuyện
làng Cuội (1991), Sóng ở đáy sông (1995), Hai nhà (2000) Trong từng tác
phẩm, ông đã thể hiện sự đổi mới của mình ở nhiều góc độ trên con đường tìm tòi, sáng tạo hướng đi mới cho tiểu thuyết Chính sự đổi mới ấy đã góp phần đem đến cho văn học những hình tượng mới lạ về người lính trong chiến tranh, người lính trong đời thường và những hiện tượng nóng bỏng đang được quan tâm trong xã hội Thành quả của quá trình lao động không mệt mỏi đã được đền đáp xứng đáng, Lê Lựu đã khẳng định mình ở nhiều thể loại như: tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, tạp văn… Tên tuổi và tác phẩm của ông được khẳng định trong một loạt giải thưởng như: giải Nhì Hội thi truyện ngắn báo
Văn Nghệ 1967-1968 (không có giải nhất) với truyện ngắn Người cầm súng,
Trang 94
giải A cuộc thi viết về thương binh của Hội nhà văn, Bộ thương binh với
truyện Người về đồng cói Đặc biệt với giải thưởng của Hội nhà văn dành cho
Thời xa vắng, có thể nói Lê Lựu đã trở thành cây bút của văn chương đương
đại được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Vậy cái gì đã tạo nên sự thành công cho Lê Lựu? Có rất nhiều yếu tố, trong đó theo chúng tôi không thể không kể đến nghệ thuật xây dựng tác phẩm của tác giả mà cụ thể là về nhân vật và người kể chuyện Tuy nhiên, ở góc độ thi pháp thì chưa có công trình nghiên cứu một cách đầy đủ hệ thống tác phẩm của ông mà chỉ khai thác ở vài khía cạnh như nghệ thuật trần thuật, thế giới nghệ thuật, đổi mới nghệ thuật, thế giới nhân vật trong các bài viết hoặc ở một số luận văn
Nhìn chung, sáng tác của Lê Lựu không phải tất cả đều là đỉnh cao, là kiệt tác nhưng nó có sức hấp dẫn riêng làm cho người đọc đã chạm vào rồi thì khó mà dứt ra được hay nói như Trần Đăng Khoa “Lê Lựu biết cuốn hút người đời bằng một thứ văn không nhạt Ngay cả những truyện xoàng xoàng, người đọc vẫn thu lượm được một cái gì đấy, có khi là một chi tiết, một đoạn
tả cảnh hoặc một nét phác họa tính cách nhân vật” Lê Lựu có một vị trí khá quan trọng trong văn học thời kì Đổi mới, tác phẩm của ông xứng đáng được nghiên cứu riêng biệt trong một công trình Vì vậy, trong luận văn này chúng tôi vận dụng một số kiến thức lý luận văn học về văn học thời kì Đổi mới mà bản thân lĩnh hội được trong quá trình học tập và nghiên cứu với mong muốn
chỉ ra được một số nét nổi bật về nhân vật và người kể chuyện qua một số tác
phẩm của Lê Lựu Hy vọng rằng với luận văn này, chúng tôi có thể đóng góp một phần nhỏ trong công trình nghiên cứu chung về Lê Lựu để thấy được đóng góp của nhà văn đối với nền văn học dân tộc một cách sâu sắc, toàn diện trong quá trình đổi mới tiểu thuyết từ góc độ thi pháp đồng thời góp phần khảng định vị trí của nhà văn trong văn học Việt Nam đương đại
2 Lịch sử vấn đề
Trang 105
Theo tìm hiểu của chúng tôi, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến Lê Lựu và sự nghiệp sáng tác của ông Qua những tác phẩm của Lê Lựu, độc giả không chỉ hình dung được bộ mặt xã hội Việt Nam lúc bấy giờ
mà còn cảm nhận một cách sâu sắc những biến chuyển tinh tế nhất của đời sống tư tưởng con người thời đại Vì vậy, tác phẩm của nhà văn không rơi vào khoảng không im lặng mà có thể nhận thấy, cùng với các cây bút văn xuôi lúc bấy giờ như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh Lê Lựu đã làm cho đời sống văn học nước ta thêm phần sôi động
Lịch sử văn học cho thấy, những nhà văn nào được giới nghiên cứu, phê bình quan tâm thì càng được bạn đọc chú ý Và dù khen hay chê cũng đều khiến tác phẩm thêm nổi tiếng, người đọc tìm đến nó nhiều hơn Lê Lựu là
một trường hợp như vậy Nhà phê bình Ngô Thảo trong một bài viết Về
truyện ngắn Lê Lựu đã nhận định: “Lê Lựu là một người đang tìm tòi Truyện
nào của anh cũng tìm được những nét tính cách mới, những hướng khai thác
vấn đề mới” Bàn về truyện ngắn Người cầm súng, nhà nghiên cứu Bích Thu
đã khẳng định: “Có thể nói Người cầm súng như là cái mốc đánh dấu một
chặng đi mới của Lê Lựu trên con đường vào nghề, nó đã khơi mở được
nguồn mạch sáng tác của anh” Mãi đến 1986, cuốn tiểu thuyết Thời xa vắng
“trình làng” mới thực sự gây xôn xao trong dư luận và được đánh giá là “một cọc tiêu tiền trạm” của công cuộc đổi mới văn học Tác phẩm này nhanh chóng thu hút được sự chú ý của nhiều cây bút phê bình như Nguyễn Văn Lưu, Nguyễn Hòa, Phong Lê, Vương Trí Nhàn, Bích Thu… Có thể nói rằng
Lê Lựu đã dám nhìn thẳng vào sự thật khắc nghiệt, những góc khuất của hiện thực cuộc sống để “nhận thức lại thực tại”
Nối tiếp nguồn cảm hứng của Thời xa vắng thời gian sau đó, Lê Lựu cho ra mắt bạn đọc hàng loạt tác phẩm: Đại tá không biết đùa (1989),
Chuyện làng Cuội (1993), Sóng ở đáy sông (1994), Hai nhà (2003)…và thật
Trang 11cuốn tiểu thuyết khi lên phim mới nổi đình nổi đám và kéo theo đó là tai bay
vạ gió” Song ở bất cứ tác phẩm nào dù lớn hay nhỏ, Lê Lựu cũng có một vấn
đề gì đó để gửi gắm Và giá trị của những cuốn tiểu thuyết ấy là không thể phủ nhận Nhận xét về tiểu thuyết Lê Lựu, tác giả Lê Hồng Lâm đã phát biểu:
“Sở dĩ tác phẩm của Lê Lựu gây được dư luận và có chỗ đứng riêng trên văn
đàn như Thời xa vắng, Sóng ở đáy sông, Hai nhà…là bởi ông luôn viết hết
mình như ông sống, yêu ghét rạch ròi và đặc biệt là đi đến tận cùng tính cách nhân vật Ở một phương diện nào đó, trong những hoàn cảnh điển hình nhà văn đã tạo ra những nhân vật điển hình”
Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Lưu trong bài viết “Nhu cầu nhận thức lại
qua Thời xa vắng” in trên Tạp chí văn học số 5 – 1987 cho rằng: “Tiểu thuyết
Thời xa vắng của Lê Lựu phản ánh sinh động và chân thực quá trình chuyển
biến trong nhìn nhận, đánh giá thực tại” Nghĩa là yêu cầu nhà văn một sự khám phá sâu hơn vào những vùng hiện thực mà trước đây chưa được chú ý
đúng mức Người đọc thấy Lê Lựu trong Thời xa vắng khác hẳn Lê Lựu
trong các tác phẩm trước đó “Ở đây, tác giả đã có sự chuyển hướng rõ rệt trong phong cách nghệ thuật Do cách nhìn hiện thực mới, sâu sắc và nhuần nhị hơn, đã đem lại những cảm hứng mới, giọng điệu mới cho tác giả” Ông cũng khẳng định tài năng của Lê Lựu: “Phải là người nông dân nghèo khổ mới viết được những câu văn ứa lệ như vậy, đó là những trang văn hay của văn xuôi Việt Nam”
Nhà thơ Trần Đăng Khoa - người đồng hương và cũng là người vô cùng quý mến Lê Lựu đã có những nhận xét xác đáng về cuốn tiểu thuyết này: “Lê
Trang 127
Lựu đã dựng lên một loạt bức tranh nông thôn đặc sắc Có nhiều trang đạt chuẩn Nam Cao Có thể nói tắt từ Nam Cao qua một chút Kim Lân đến Nguyễn Khắc Trường và Lê Lựu, chúng ta mới lại có nhà văn nông thôn thứ
thiệt” Nhắc đến Lê Lựu, người ta hay nói đến Thời xa vắng, tác phẩm đưa
ông trở thành “sỹ quan” trong làng văn Không phải đơn giản cuốn tiểu thuyết này lại nhận được nhiều lời khen chê, bởi lẽ tác phẩm đã khơi gợi sứ mệnh thiêng liêng mà mọi nền văn học chân chính xưa nay muốn đảm nhiệm Theo
nghĩa này, Vương Trí Nhàn đã khẳng định: “Thời xa vắng nên được xem là
cuốn sách biết làm đúng nhiệm vụ của một tác phẩm văn học cần làm”
Bích Thu trong bài viết: Những nỗ lực sáng tạo của tiểu thuyết Việt Nam
từ sau Đổi mới, in trong cuốn Những vấn đề lý luận và lịch sử văn học (Viện
Văn học 1999) đã nhận xét: “Đọc tiểu thuyết Lê Lựu, người đọc nhớ câu chuyện, nhớ nhân vật của một thời đã qua mà ai cũng thấy thấp thoáng chút ít mình trong đó”
Ngoài ra, đã có hàng loạt bài nghiên cứu về tác phẩm của Lê Lựu như:
Tiểu thuyết đầu tiên của một cây bút viết truyện ngắn của Phong Vũ; Thời xa
vắng - Một tâm sự nóng bỏng của Lê Thành Nghị; Chuyện phiếm với anh Sài
của Hồng Vân; Nghĩ về một Thời xa vắng của Thiếu Mai; Đọc Thời xa vắng
của Lê Lựu của Hoàng Ngọc Hiến, Suy tư từ một Thời xa vắng của Nguyễn
Hoà; Một đóng góp vào việc nhận diện con người hôm nay của Vương Trí Nhàn; Khuynh hướng triết lý trong tiểu thuyết - Những tìm tòi và thể nghiệm của Nguyễn Ngọc Thiện; Một giờ với nhà văn Lê Lựu của Nguyễn Hữu Sơn;
Hình tượng người nông dân và nhà văn đô thị của Nguyễn Thu Hằng; Lê Lựu
- Thời xa vắng của Đinh Quang Tốn; và tất cả những bài viết này được
chính Lê Lựu tập hợp lại trong cuốn Tạp văn của mình
Bên cạnh những tài liệu, sách, báo và tạp chí, một số luận văn cũng đề
cập đến những vấn đề xoay quanh tiểu thuyết Lê Lựu như: Tiểu thuyết viết về
Trang 138
nông thôn trong văn xuôi Việt Nam thời kì đổi mới (1999), luận văn thạc sĩ
Nguyễn Thị Hương Lan, ĐHSPHà Nội Tiểu thuyết Lê Lựu thời kì đổi mới (2002), luận văn thạc sĩ Trần Thị Kim Soa, ĐHSP Hà Nội Những cách tân
nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay (2005), luận văn Thạc
sĩ Nguyễn Thị Minh Thủy, ĐH Vinh Phong cách tiểu thuyết Lê Lựu (2007), luận văn Thạc sĩ Ngô Thị Diệu Thúy, ĐH Vinh Tiểu thuyết Lê Lựu thời kì đổi
mới (2007) luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Hiền – ĐHSP TP Hồ Chí Minh Tiểu thuyết viết về nông thôn thời kì đổi mới (2009), luận văn thạc sĩ Phùng Thị
Hồng Thắm – ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội Không gian và thời gian
nghệ thuật trong tiểu thuyết Lê Lựu thời kỳ đổi mới (2010) luận văn thạc sĩ
Đào Thị Cúc – ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội…Những luận văn trên có điểm chung là đều đề cập đến quan niệm nghệ thuật về con người, hoặc khai thác sức hấp dẫn về nghệ thuật của tiểu thuyết Lê Lựu, những đặc điểm của phong cách tiểu thuyết Lê Lựu với nhiều phát hiện mới mẻ, thú vị, trong đó
nhiều người đặc biệt quan tâm đến tiểu thuyết Thời xa vắng
Các luận văn được điểm qua trên đây mới chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu một phương diện, một góc độ nào đó, chưa có một công trình khoa học chuyên biệt nào khảo sát kĩ lưỡng về nhân vật và người kể chuyện trong
thuyết Lê Lựu Chính vì vậy, lựa chọn đề tài: “Nhân vật và người kể chuyện
trong thuyết Lê Lựu”, chúng tôi mong muốn đề xuất một cách nhìn khái quát,
toàn diện hơn để từ đó không chỉ làm rõ những kiểu nhân vật và người kể chuyện trong tiểu thuyết của Lê Lựu mà đồng thời còn chỉ ra những đóng góp cũng như vị thế của một cây bút “tiền trạm” trong công cuộc đổi mới văn học Việt Nam hiện đại
3 Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 149
Nhằm cung cấp một khía cạnh nghiên cứu mới về tiểu thuyết Lê Lựu từ góc nhìn về nhân vật và người kể chuyện Đề xuất hướng nghiên cứu đa chiều mới về nhân vật và người kể chuyện trong tiểu thuyết Lê Lựu dựa trên bối cảnh lịch sử, các kiểu nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật; ngôi kể, điểm nhìn, phương thức trần thuật, ngôn ngữ trần thuật
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu về Lê Lựu và sự nghiệp sáng tác của ông đã có rất nhiều ý kiến bàn luận nhưng chưa đi sâu tìm hiểu nghệ thuật lựa chọn và kiến tạo về nhân vật và người kể chuyện Trong luận văn này, từ việc lấy những đặc điểm tiểu thuyết đương đại làm cơ sở, từ đó chúng tôi hướng đến tìm hiểu những đặc điểm tiểu thuyết của Lê Lựu Dựa vào thể loại, và tác phẩm chúng tôi cố gắng chỉ ra những đặc điểm, những ưu thế riêng biệt, những chuyển biến về quan niệm con người, về người kể chuyện, những trăn trở tìm tòi cũng như cách thức biểu hiện chúng…để góp phần làm sáng tỏ những đóng góp và sáng tạo mới của Lê Lựu trong lĩnh vực tiểu thuyết
3.3 Phạm vi nghiên cứu
Sự nghiệp sáng tác của Lê Lựu diễn ra trong gần nửa thế kỉ với số lượng tác phẩm khá phong phú: 9 tập truyện, 2 tập kí và 8 cuốn tiểu thuyết, tạp văn Trong phạm vi luận văn, do hạn chế về mặt thời gian chúng tôi không
thể tiến hành khảo sát về nhân vật và người kể chuyện ở trong tất cả tác phẩm
của Lê Lựu mà chủ yếu khảo sát qua một số tác phẩm của ông trong thời kì Đổi mới (từ 1986)
- Thời xa vắng (1986), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội
- Chuyện làng Cuội (1991) Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội
- Sóng ở đáy sông (1995), Nxb Hải Phòng
- Hai nhà (2000), Nxb Thanh Niên, Hà Nội
Trang 1510
Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ đặt những sáng tác trên trong toàn bộ hệ thống tiểu thuyết Lê Lựu để thấy được những đặc điểm chung nhất về phương diện nhân vật và người kể chuyện
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp lịch sử – xã hội
Văn học là bức tranh phản chiếu sinh động về đời sống hiện thực Văn học nói chung và tiểu thuyết của Lê Lựu nói riêng đều mang hơi thở của thời đại Chính vì vậy, không xem xét đến yếu tố hiện thực, đặc biệt là nhiệm vụ
do đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đề ra thì không thể nào thấy được sự tất yếu phải thay đổi, phải chuyển hướng của văn học nghệ thuật trong giai đoạn này Sử dụng phương pháp lịch sử - xã hội sẽ giúp cho việc lý giải những cơ
sở thực tiễn và nguyên nhân sự chuyển hướng của nghệ thuật trong tác phẩm của Lê Lựu
4.2 Phương pháp so sánh
Văn học chịu sự chi phối trực tiếp và hết sức mạnh mẽ của hoàn cảnh xã hội Sự chuyển biến, đổi mới của văn học gắn với quá trình vận động đổi mới đang diễn ra trên toàn xã hội Việc sử dụng phương pháp so sánh (lịch đại, đồng đại) giúp chúng tôi có điều kiện so sánh sự chuyển hướng nghệ thuật về phương diện nhân vật và người kể chuyện của Lê Lựu trong thời kỳ Đổi mới cũng như những điểm nổi trội đặc sắc của tiểu thuyết Lê Lựu so với tiểu thuyết của các tác giả cùng thời
4.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Muốn làm rõ những đặc điểm tiêu biểu về nhân vật và người kể chuyện trong tiểu thuyết Lê Lựu thì không thể không phân tích các khía cạnh của tác phẩm để rút ra ý nghĩa thẩm mĩ của nó Sử dụng phương pháp này sẽ giúp chúng tôi đi sâu khám phá mọi cung bậc tình cảm, diễn biến tâm lý của nhân vật cũng như nghệ thuật kể chuyện của nhà văn trên từng trang viết
Trang 1611
4.4 Phương pháp hệ thống
Số lượng tác phẩm của Lê Lựu rất nhiều, nên chúng tôi sử dụng phương pháp hệ thống Hơn nữa, khi sử dụng phương pháp này, chúng tôi muốn khái quát các hình thức chủ thể nhân vật và người kể chuyện thành một mô hình, trong đó có sự thống nhất hữu cơ giữa các yếu tố Từ đó, giúp người đọc nhận thức về phương diện nhân vật và người kể chuyện một cách đầy đủ, toàn diện Vận dụng phương pháp này, giúp ta xác định được các kiểu nhân vật, ngôi kể điểm nhìn, phương thức trần thuật, giọng điệu trần thuật qua một số tác phẩm:
Thời xa vắng, Chuyện làng cuội, Sóng ở đáy sông, Hai nhà trong sáng tác
của Lê Lựu giúp ta có được cái nhìn mang tính bao quát về tiểu thuyết Lê Lựu thời kì Đổi mới và trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam đương đại
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài hai phần mở đầu và kết luận, luận văn có ba chương:
- Chương 1: Tiểu thuyết Lê Lựu trong dòng chảy tiểu thuyết đương đại
- Chương 2: Nhân vật trong tiểu thuyết Lê Lựu
- Chương 3: Người kể chuyện trong tiểu thuyết Lê Lựu
Trang 1712
Chương 1 TIỂU THUYẾT LÊ LỰU TRONG DÒNG CHẢY TIỂU THUYẾT ĐƯƠNG ĐẠI
1.1 Bức tranh chung của văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới
1.1.1 Cơ sở của công cuộc đổi mới văn học
Sau chiến thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên đất nước độc lập, thống nhất Thắng lợi to lớn nhưng thách thức cũng hết sức nặng nề, sức người, sức của phải dồn vào việc khôi phục cuộc sống sau chiến tranh Cả đất nước đứng trước một yêu cầu sống
còn: phải nhận thức nhiều vấn đề và tự nhận đường Trước thực tế ấy, Đảng
đã khởi xướng đổi mới một cách toàn diện trong Đại hội lần thứ VI (1986)
Về văn học nghệ thuật, nghị quyết 05 của Bộ chính trị nhấn mạnh: “…Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng trong hoàn cảnh cách mạng khoa học kỹ thuật đang diễn ra với quy mô và tốc độ chưa từng có trên thế giới và việc
Trang 1813
giao lưu giữa các nước và các nền văn hoá ngày càng mở rộng…văn nghệ nước ta cũng phải đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm”
"Phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học nghệ thuật phát triển lên một bước
mới" [19 tr 35] Như vậy, đổi mới trở thành một quy luật tất yếu Từ việc đổi
mới kinh tế sẽ kéo theo việc đổi mới cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực Đổi mới toàn diện trước hết là đổi mới tư duy, trong đó văn học nghệ thuật là một hoạt động tư duy sắc bén Vì vậy, văn học đã được đặt lên hàng đầu ở công
cuộc đổi mới này
Từ yêu cầu thực tiễn, Đảng xác định sứ mệnh của văn học nghệ thuật giờ đây không phải là cổ vũ, động viên, ca ngợi mà xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống con người với "Tư tưởng tôn trọng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật Bởi vì sự thật luôn luôn là linh
hồn của nghệ thuật chân chính" [123, tr.88] được thể hiện đậm nét trên nhiều
trang viết Đảng yêu cầu tác phẩm văn học phải: "Phản ánh các nhân tố mới trong xã hội, cổ vũ cái tốt, cái đẹp trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, với thiên nhiên, phê phán cái sai, lên án cái xấu, cái ác, hướng tới chân, thiện, mỹ " [170, tr.112] Với chủ trương mới ấy, văn học nghệ thuật đã được trả lại bản chất vốn có trong việc khám phá và thể
hiện cuộc sống Để có sự đổi mới thực sự, Đảng khuyến khích giới văn nghệ
sỹ hãy tìm tòi sáng tạo và có những thể nghiệm mạnh bạo, rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật, trong việc phát triển các loại hình nghệ thuật, các hình thức biểu hiện Bởi vì tìm tòi, sáng tạo của người nghệ sỹ là một trong những yếu
tố quan trọng quyết định sự đổi mới diện mạo văn học Hơn nữa, tự do sáng tác là điều kiện sống còn để tạo nên giá trị đích thực trong văn hoá, nghệ thuật Như vậy, các Nghị quyết và chỉ thị trong Đại hội lần thứ VI (1986) đã chứng tỏ sự quan tâm rất lớn của Đảng dành cho đời sống tinh thần của con người, mà cụ thể ở đây là văn học nghệ thuật
Trang 1914
1.1.2 Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới
Văn học Việt Nam trong suốt 30 năm chiến tranh đã đáp ứng yêu cầu
"phản ánh chân thực và hùng hồn cuộc sống mới, con người mới" hay "phản ánh hiện thực trong xu thế phát triển cách mạng của nó" Khi nước nhà độc
lập thống nhất, thực tiễn cuộc sống mới đòi hỏi văn học nghệ thuật phải thay đổi Giờ đây văn học nghệ thuật không còn được hiểu đơn giản là công cụ chính trị hay vũ khí của công tác tư tưởng, hoặc phương tiện tuyên truyền,
giáo dục quần chúng mà là "một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng,
văn hoá" Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị là dành riêng cho văn nghệ trong
giai đoạn mới, đã mở ra một hướng đi mới mà nhà văn là người hiểu rõ các đặc trưng của văn chương và sứ mệnh của mình đối với cuộc sống Những sáng tác của họ không nhằm minh hoạ các khẩu hiệu hay cổ vũ cho các phong trào, giúp thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước mà
"tập trung miêu tả số phận con người, mang đến cho con người cái đẹp, tình yêu cuộc sống, làm phong phú thêm kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân, đồng thời phải nghiên cứu những vấn đề của xã hội đang diễn Từ đó rút ra bài học, những tư tưởng mang tính khái quát, không chỉ quan trọng về triết học, đạo đức, nhân sinh mà còn có thể mang ý nghĩa chính trị lớn lao" [150, tr.18] Nhận thức về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực lúc bấy giờ, nhiều nhà nghiên cứu đã có những đánh giá sâu sắc "yêu cầu văn học trong điều kiện lịch sử mới phải góp phần vào sự hoàn thiện bức tranh hiện thực còn trong dạng phác thảo của một thời đã qua, sao cho chân thực hơn, được soi tỏ dưới nhiều góc cạnh hơn [96, tr.106] Giờ đây, với yêu cầu mới khiến cho nhiệm vụ của văn học thay đổi, nó không chỉ phản ánh thế giới khách quan
mà còn thể hiện thế giới chủ quan Nhận định về văn xuôi trong khoảng mười
năm, Hoàng Ngọc Hiến trong bài Chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo
cho rằng: "Trong sáng tác văn học, cái nhìn mâu thuẫn trong hiện thực đời
Trang 2015
sống hết sức quan trọng Những biến đổi sâu sắc trong văn xuôi của ta khoảng mười lăm năm nay bắt nguồn từ sự thay đổi trong cách nhìn những mâu thuẫn
trong đời sống xã hội" [66, tr.239]
Lê Ngọc Trà trong một loạt bài nghiên cứu của mình đã tập trung đề cấp đến vấn đề bản chất văn học: "Tác phẩm văn học là tiếng nói của những ấn tượng, những suy nghĩ vừa như xác định vừa như chưa xác định, vừa như trọn vẹn lại vừa như chưa trọn vẹn, vừa như có ý giới hạn lại vừa như miên man,
vô bờ bến Đó là những cảm giác mang tính hình tượng Văn học chính là nỗi buồn về cái đẹp, về lý tưởng, là nỗi đau giằng xé về số phận con người, là
sự cắn rứt lương tri không yên, là cuộc đấu tranh nội
tâm " [95, tr160]
Trong bài viết Văn học trên con đường đổi mới, Nguyễn Văn Hạnh đã
khẳng định: "Tư tưởng quan trọng bậc nhất mà Đại hội Đảng lần thứ VI đã trang bị cho nhận thức xã hội trong thời kỳ đổi mới, cũng là tư tưởng đã tạo nên bước ngoặt thật sự trong tư duy nghệ thuật mấy năm qua, chính là tư tưởng tôn trọng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật Bởi sự thật luôn luôn là linh hồn của nghệ thuật chân chính, nghệ thuật tiến bộ" [59, tr 65]
Có thể nói, những đánh giá trên được nhìn nhận khá chính xác và chúng tôi tâm đắc với ý kiến: "Những nhà văn nhạy cảm với cuộc sống, thiết tha với công cuộc đổi mới do Đảng đề ra đã nhìn thấy phải bắt đầu quá trình đổi mới văn học đúng ngay từ chỗ phải bắt đầu nói sự thật Mà người đọc từng trải, thông minh chân tình của chúng ta cũng hiểu như vậy Họ chú ý đến tác phẩm mới, hoan nghênh nhà văn trước hết ở sự trung thực, ở lời nói thật Cái nhìn mới mẻ, trước hết bắt nguồn từ thái độ trung thực và tinh thần trách nhiệm đối với cuộc sống, từ niềm tin vào chính nghĩa và sức mạnh của cách mạng, do đó
mà có đủ ý thức và dũng cảm để nói lên sự thật, dù đó là một sự thật không đơn giản, thậm chí phũ phàng” [153, tr 89]
Trang 2116
Nhận định về tiểu thuyết trong thời đại mới, Cao Tiến Lê đã khái quát:
"Tiểu thuyết của ta mấy năm gần đây đã khởi sắc, nhất là những năm 1988
-1990, có đổi mới, tự do hơn, nêu được nhiều vấn đề, văn học đã đi vào cuộc sống đời thường một cách tự nhiên Mỗi một con người đều bình đẳng trước cái nhìn của nhà văn Tất cả mọi người trước nhà văn đều là nhân vật, nhà văn coi trọng ở chỗ số phận của họ đóng góp được gì cho văn học."[98]
Như vậy, với công cuộc đổi mới trên toàn xã hội, văn xuôi đang chuyển
mình một cách mạnh mẽ Giờ đây nó "không xuôi chiều kiểu êm chèo, mát
mái nữa" mà mạnh dạn "phanh phui các mặt trái của xã hội, các uẩn khúc hoặc tráo trở của lòng người” Đến với những tác phẩm giai đoạn này, người
đọc tìm thấy mọi cung bậc của tình cảm: từ buồn bã, cô đơn cho đến căm phẫn, xót xa Văn học đã làm một cuộc "cách mạng" thực sự Nó giàu chất thực hơn, miêu tả cuộc sống trần trụi và mạnh dạn phơi bày sự băng hoại đạo đức nếu thấy cần thiết Giờ đây, yêu cầu tái hiện lịch sử phải đi sâu vào số phận mỗi cá nhân, phải đặt lại mọi vấn đề, suy nghĩ lại mọi niềm tin và có thể vượt qua mọi cấm đoán kiêng kỵ Điều này được Phan Cư Đệ nhận định trong
công trình Văn học Việt Nam thế kỷ XX - những vấn đề lịch sử và lý luận
(2005): "Các nhà văn đã đi sâu vào tâm lý bên trong, để cho nhân vật soi
bóng vào nhau hoặc tự khám phá mình, như là một sự lắng lại, suy ngẫm về cuộc đời đã qua Nhân vật nhìn bản thân mình, tự đối diện với mình như một
sự tự phán xét về nhân cách nhằm hướng tới một nhân cách hoàn thiện" [44,
tr 152] Cho nên tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ này, đã ghi nhận những diễn biến tinh vi nhất về cuộc sống mới đa dạng, phức tạp Văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng nhận thức trở lại chính bản thân nó Nhận thức về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực Nhận thức mối quan hệ giữa văn học với chính trị Yêu cầu mới đòi hỏi văn học phải trả lời được những câu hỏi như:
Trang 2217
Mối quan hệ giữa văn học và cuộc sống Nghệ sĩ anh là ai? Bản chất của văn học là gì?
Văn học nghệ thuật trong thời đại mới trở về với thiên chức vốn có của
mình là "món ăn tinh thần" đặc sắc nhất mà không một ngành nghệ thuật nào
có thể thay thế được Văn học mang sứ mệnh to lớn như vậy nên người nghệ
sỹ cũng xác định nhiệm vụ của mình trong nghệ thuật là phải sáng tạo, phải thể nghiệm mình Điều này từng được Nam Cao khẳng định qua lời nhân vật Hộ: "Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết
tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có" Điều
này một lần nữa được Thạch Lam khẳng định trong tác phẩm của mình: " là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực làm cho lòng người trong sạch và phong phú"
Sau chiến tranh, khi tư duy nghệ thuật thay đổi, văn học không chỉ nhìn lại quá khứ bằng việc miêu tả hiện thực đời sống chiến tranh hay trở lại những vấn đề lịch sử dưới một cái nhìn mới mà quan trọng hơn là đi sâu vào số phận mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi làng quê Cuộc sống được phản ánh vào tác phẩm không chỉ là phần anh hùng, cao cả mà còn thấm thía nỗi buồn của con người thời hậu chiến Đấy là cuộc sống đời thường vừa nhân hậu ấm áp, vừa bận rộn nhưng cũng không kém phần sôi động, quyết liệt Đặc biệt “con người” trở thành một đối tượng thực sự trong văn học- một thế giới đầy bí ẩn đồng cũng là đối tượng khám phá không cùng của văn học Con người với
đầy đủ các “phẩm chất” và “thuộc tính”, “bản năng” và “ý thức”, “thấp hèn”
và “cao thượng”, “phần con” và “phần người”… Từ con người tập thể sang
con người đời thường với tất cả tính chất mâu thuẫn phức tạp, con người anh hùng và con người bi kịch.…Một quan niệm mới về con người được hình
thành, đó là con người cá nhân, con người chịu trách nhiệm trước mọi quyết
Trang 2318
định của chính bản thân mình Con người ấy không còn "nguyên phiến sử thi"
- chữ dùng của Trần Đình Sử, mà hiện lên với nhiều mâu thuẫn Những mặt trái của đời sống được phơi bày cụ thể Sự tha hoá về nhân cách, những số phận bi kịch, những tâm trạng lo âu, khắc khoải đựơc đặc tả Giọng điệu mỉa mai, phê phán tự vấn thay thế giọng điệu ngợi ca, vỗ về, ngọt ngào, êm ái Con người được hình dung nhiều mặt không chỉ có ý chí, tư tưởng, tình cảm
mà còn được khắc hoạ ở các phương diện bản năng, vô thức, tâm linh, nghịch
lý Ánh sáng lý tưởng với những hào quang giờ đây nhạt dần Những người chiến sĩ, những anh hùng không còn vị trí trung tâm mà được thay thế bởi những con người đời thường, có khi là tầm thường nữa Do đó, khuynh hướng
sử thi và cảm hứng lãng mạn phải nhường chỗ cho cảm hứng thế sự đời tư với những trăn trở tìm tòi Nhiệt tình ca ngợi, khẳng định được thay thế bằng sự phê phán Điều này thể hiện hầu như trong các tác phẩm có giá trị lúc bấy giờ:
Bến không chồng của Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của
Nguyễn Khắc Trường, Thời xa vắng của Lê Lựu…
Có thể nhận thấy trên các trang tiểu thuyết của văn học giai đoạn này,
những mặt trái, những hiện tượng tiêu cực trong đời sống mà trước đây bị lờ
đi, bị gác lại thì nay đã được các ngòi bút văn xuôi với thế mạnh riêng, lật xới
lại hầu hết mọi vấn đề Những nhân vật xấu trước đây chỉ được miêu tả như những thiếu sót, những khuyết điểm có thể sửa chữa được, còn về cơ bản vẫn
là người tốt thì nay hoàn toàn khác Những kẻ xấu là những kẻ mang bộ mặt đạo đức giả Chúng lợi dụng danh nghĩa Đảng - cách mạng để trục lợi, để thoả mãn ham muốn quyền lực cá nhân Chúng trù dập người khác nhằm nâng cao
uy tín của bản thân, của gia đình và dòng họ mình Phong Lê quả là sắc sảo
khi cho rằng :"Tiểu thuyết thời kỳ này không ngần ngại "vục vào cái sự thật
tối tăm, oan khổ" nhưng đem lại hiệu qủa "thanh lọc, tẩy rửa" [97, tr.130]
Trang 2419
Tìm hiểu những trang tiểu thuyết hôm nay, người đọc bắt gặp những số phận riêng với những bi kịch rất đời thường của con người trong xã hội mới Thực ra, đây không phải là điều mới mẻ gì, không phải là lần đầu tiên xuất hiện, bởi xu thế này đã có trên những trang văn xuôi giai đoạn 1930 - 1945 Tuy nhiên, với thời gian của cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm buộc văn học phải quan tâm đến cái chung còn những vấn đề cá nhân đời thường, số phận riêng mỗi con người phải tạm gác sang một bên Giờ đây, khi chiến tranh kết thúc, cảm hứng đời tư thế sự với những trăn trở, tìm tòi được thể hiện đậm nét
trên những trang tiểu thuyết như Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Sao đổi ngôi của Chu Văn, Chim én bay của Nguyễn Trí Huân Và
không chỉ có tiểu thuyết mà trong những truyện ngắn, cảm hứng thế sự cũng
được khai thác mạnh mẽ Cỏ lau, Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, Bi
kịch nhỏ của Lê Minh Khuê, các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị
Hoài đều là những khám phá mới mẻ về cuộc đời con người
Dưới ngòi bút chính luận Nguyễn Khải, con người hiện lên sắc sảo với cách ứng xử thấu đáo và những suy nghĩ sâu sắc Trong thế giới nghệ thuật
Ma Văn Kháng, con người được soi chiếu cả ở phần thể chất lẫn tâm hồn nên vừa nồng nàn trong niềm khát khao được giao cảm lại vừa bận rộn với những tính toán trong cuộc mưu sinh Ngòi bút nhà văn dường như luồn thật sâu vào mọi ngõ ngách trong tâm hồn con người để lần tìm những rung động dù rất nhỏ Cuộc sống thường nhật cũng như đời sống tâm hồn được miêu tả chân thực hơn Ở đấy không chỉ có hạnh phúc, chiến thắng mà còn có đau đớn, tủi nhục, bất hạnh Cuộc sống con người hiện lên trên trang viết hôm nay thật phong phú đa dạng Các nhà văn đã tiếp cận con người từ nhiều chiều và thể hiện những cảm nhận về con người bằng nhiều cách khác nhau Chiến tranh
đã kết thúc nhưng những dư âm của cuộc chiến vẫn còn Giờ đây, chiến tranh
Trang 25giận Giang Minh Sài trong Thời xa vắng, Tâm trong Hai nhà, Núi trong
Sóng ở đáy sông và ngay cả sự tha hoá trong con người của Lưu Minh Hiếu
trong Chuyện làng Cuội Mỗi người đọc tuỳ thuộc vào những tiêu chuẩn
thẩm mỹ riêng mà có cách tiếp nhận tác phẩm ở những chiều kích khác nhau Tác phẩm Lê Lựu ra đời lúc bấy giờ thực sự đã góp phần làm cho đời sống văn học Việt Nam thêm sôi động Điều này đã được nhận định: “Ông Lê Lựu
từ khi được bạn đọc chú ý, hễ cứ viết ra cuốn nào là gây dư luận cuốn đó Có cuốn nổi tiếng bởi bản thân nội dung đặc sắc, nó đi vào mạch ngầm trong tâm
tư tình cảm nhân vật như Thời xa vắng, có cuốn nổi tiếng bởi tai tiếng như
Chuyện làng Cuội, lại có cuốn mãi vài năm sau khi lên phim mới nổi đình
nổi đám kéo theo đó là tai bay vạ gió như Sóng ở đáy sông.” [104, tr 708]
Như vậy, đổi mới tư duy nghệ thuật văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng giai đoạn này đã thực sự mở rộng đường biên trong việc phản ánh vì
nó được viết dưới ánh sáng của tư tưởng nhân văn Văn học đã thực sự được cởi trói, cho nên chủ đề, đề tài được mở rộng, không bị gò ép, không bị giới hạn Văn học đã tìm về với "con người đời thường", "con người cá nhân" nhưng vẫn "mới", vẫn không dẫm chân lên lối cũ "mà đầy sáng tạo" trong sự
vận động không ngừng của cuộc sống mới Văn học được trả lại “thiên chức”
của mình trong việc phản ánh đời sống và điều ấy tạo nên giọng điệu đa thanh trong mỗi tác phẩm, trong từng tác giả
Trang 2621
1.2 Quá trình sáng tác và vị trí của tiểu thuyết Lê Lựu trong văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới
1.2.1 Quan điểm nghệ thuật
Tác phẩm chính là nơi nhà văn thể hiện quan điểm sáng tác của mình, Lê Lựu cũng không phải là một ngoại lệ Trên những trang viết, ông đã khéo léo thể hiện quan điểm nghệ thuật ấy Không phải thông qua bất cứ nhân vật nào
trong tác phẩm mà nó được gói gọn trong lời phát biểu của chính tác giả: “Tôi
là người ít học, ít đọc vì lười nghĩ ngợi Toàn bộ những trang viết của tôi chỉ theo đuổi một nguyên tắc là sự thật Tôi không thể viết được nếu không bám
vào sự thật Tôi chỉ là người kể chuyện, có gì viết nấy”[104, tr.501] Trong một lần “Hỏi chuyện tác giả, tìm hiểu tác phẩm”, ông tiếp tục khẳng định với
bạn đọc: “Tôi nghĩ, văn chương phải đối thoại được với cuộc sống, viết thật lòng không nói dối - nhờ cái thật mà đối thoại được với cuộc đời và người đang sống”[104, tr 547]
Như vậy, chúng ta nên hiểu "sự thật" đó như thế nào? Cái thật trong văn
học, theo quan niệm của Lê Lựu, nó bắt nguồn từ cái thật trong cuộc sống mà cuộc sống thời bấy giờ có nhiều sự đổi thay to lớn Người đọc thích nhìn thẳng vào sự thật, nói thật và làm thật Qua văn chương, người đọc muốn hiểu thời đại lúc bấy giờ ra sao, muốn nhận thức đúng thực chất các mối quan hệ
xã hội của con người trong một xã hội đầy biến động Ông ý thức rằng, văn
học không thể tách rời hiện thực mà phải bám sát hiện thực Vậy là đã rõ, “sự
thật” chính là nguyên tắc của Lê Lựu trong việc xây dựng tác phẩm, “Tôi không thể viết được nếu không bám vào sự thật” Đấy là lời thổ lộ chân thành
nhất của người cầm bút Và điều này không phải là lời nói suông mà trên hầu hết những trang viết, sự thật hiện lên như nó vốn có Không một chút màu mè! Không một chút tô vẽ! Trên hành trình kiếm tìm sự thật ấy, nhà văn đã mạnh dạn phơi bày tất cả những gì đang diễn ra, những gì trước nay bị che
Trang 27về đề tài gì đi chăng nữa thì hình ảnh làng quê với những nhân vật "người nhà quê" vẫn hiển hiện trên từng trang viết Theo nhà nghiên cứu Đinh Quang Tốn: “Đề tài hậu phương nông thôn miền Bắc trong chiến tranh chống Mỹ có nhiều người viết, nhưng Lê Lựu là người viết thành công hơn cả”[104, tr.663] Hơn thế nữa, Lê Lựu đi nhiều, biết nhiều, vốn sống của ông căng tràn Bản thân là một người lính nên ông rất dễ hoà đồng với họ Ông hiểu tâm tư tình cảm của họ một cách tự nhiên Họ chính là ông mà ông cũng chính là họ Ông đã viết những gì mình biết, mình hiểu một cách sâu sắc và tất cả những
điều ấy đều xuất phát từ quan niệm nghệ thuật "tôn trọng sự thật" Do vậy,
khi nghiên cứu tác phẩm, chúng ta không thể không đề cập đến quan điểm nghệ thuật của nhà văn
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác của Lê Lựu
Lê Lựu sinh ngày 12/12/1942 trong một gia đình nghèo tại thôn Mẫn Hoà, xã Tân Châu, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên Làng quê mà ông sinh
ra và lớn lên là một vùng quê nghèo đói, một vùng chiêm trũng ngập lụt Ông lớn lên giữa lúc miền Bắc được hoàn toàn giải phóng Người nông dân bước vào công cuộc xây dựng xã hội mới, người cày có ruộng Ông rời ghế nhà trường bước vào quân đội từ đầu những năm sáu mươi Chính sự thay đổi mạnh mẽ của đất nước cộng với lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ đã thôi thúc nhà văn cầm bút ghi lại tất cả những chuyển biến đó Lúc đầu, ông làm báo ở quân khu III Tiếp đến là phóng viên báo, công tác tại mặt trận đường dây 559 Trường Sơn thời kỳ chiến tranh Sau chiến tranh, ông về làm tại toà soạn của
Trang 2823
tạp chí Văn nghệ quân đội một thời gian dài Ở đấy, ông không chỉ làm công
việc của một biên tập viên mà còn sáng tác
Từ những trang viết đầu tiên, ông luôn thể hiện sự cần mẫn, nghiêm túc
Để có vị trí trên văn đàn, Lê Lưụ đã trải qua một quá trình khổ luyện Nhà văn không chấp nhận sự nhạt nhẽo tầm thường Ở bất cứ tác phẩm nào dù lớn hay nhỏ, ông cũng muốn gửi gắm vào một cái gì đó Ông viết một cách vất vả, chật vật không phải vì thiếu cảm xúc, thiếu tài năng mà quan trọng hơn với ông là phải viết "như thế nào?" Chính vì vậy, ông viết chậm, mỗi ngày chỉ vỏn vẹn vài trang, có khi chỉ mấy mươi dòng Ngay từ khi còn là một chàng lính trẻ trong hàng ngũ chiến đấu, trước khi trở thành nhà tiểu thuyết, ông đã
là một cây bút truyện ngắn Là một nhà văn – chiến sĩ, trực tiếp đứng trong hàng ngũ của những anh lính bộ đội Cụ Hồ, nếm trải bao nhiêu đắng cay của cuộc chiến tranh, những thử thách, thăng trầm trong cuộc sống cho nên sáng tác của Lê Lựu thường in đậm dấu ấn chiến tranh và chất chứa bao suy tư, trăn trở về tình người, tình đời Lê Lựu sử dụng khá nhiều vốn liếng thực tế trong những năm làm người lính lăn lộn ở Trường Sơn cũng như vốn hiểu biết
về sinh hoạt và phong cảnh làng quê yêu dấu Nhiều tình huống trong truyện dường như là kỷ niệm của bản thân người viết Do vậy, tác phẩm của ông để lại trong lòng người đọc ấn tượng sâu sắc có lẽ không phải do nghệ thuật xây dựng tiểu thuyết như Nguyễn Minh Châu hay các nhà văn đương thời khác
mà vì nội dung thấm đẫm tính nhân văn cao đẹp, hiện thực cuộc sống gai góc, tươi mới ngồn ngộn chảy trên trang viết Quá trình sáng tác của Lê Lựu có thể tạm thời chia làm hai thời kỳ: thời kỳ trước Đổi mới và thời kỳ sau Đổi mới Thời kỳ trước Đổi mới, ngay từ năm 1964 khi còn làm báo ở Quân khu,
ông trình làng truyện ngắn: Tết làng Mụa, sau đó là hàng loạt truyện ngắn:
Trong làng nhỏ, Người cầm súng, Phía mặt trời, Truyện kể từ đêm trước Đến Người về từ đồng cói – tác phẩm đạt giải nhất trong cuộc thi sáng
Trang 2924
tác do Bộ Lao động Thương binh Xã hội, Tổng cục Chính trị, Hội Nhà văn tổ chức thì Lê Lựu đã là “một cây bút viết văn kì cựu”, một nhà tiểu thuyết có
tài Năm 1972, Lê Lựu đi Trường Sơn và bắt đầu viết Mở rừng (1975), tiểu
thuyết tiêu biểu cho đề tài chiến tranh và người lính cách mạng
Thời kỳ Đổi mới, Lê Lựu bắt đầu ấp ủ và viết những điều tâm huyết nhất, đau đớn nhất, với mong muốn “lấp đầy chỗ khiếm khuyết” mà trong chiến tranh vì mục tiêu giải phóng dân tộc nên văn học chỉ viết về cái hạnh phúc mà không nói đến bi kịch, đau khổ Tác phẩm đánh dấu sự chuyển đổi tư
duy ấy là Thời xa vắng (1986), tiếp đó là những tác phẩm có giá trị như Đại
tá không biết đùa (1989), Chuyện làng Cuội (1991), Sóng ở đáy sông
(1995), Hai nhà (2003) , nhiều tác phẩm trong số đó đã được chuyển thể
thành phim Sự thành công ấy được đánh dấu qua việc nhà văn nhận giải Nhì
cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ 1967-1968 với truyện ngắn Người cầm
súng; giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam 1998 với tiểu thuyết Thời xa vắng
Chừng ấy chưa phải là đủ đối với một nhà văn bản lĩnh và tài năng, song nó khảng định kết quả sự sàng lọc của thời gian cũng như của độc giả Những sáng tác thời kỳ Đổi mới đã thể hiện sâu sắc sự trăn trở, tìm tòi, nỗ lực của ông Những vấn đề của hiện thực cuộc sống và con người được Lê Lựu khám phá và tái hiện bằng ngòi bút sắc bén với cái nhìn thẳng vào sự thật đầy trách nhiệm
Có thể nói, trên bốn mươi năm cầm bút với trên 15 tập sách, Lê Lựu đã
có tác phẩm đạt đến đỉnh cao như Thời xa vắng Từ truyện ngắn, ông lấn sân
sang tiểu thuyết và cả hai thể loại đều thành công, thế nhưng thành công hơn
cả vẫn là tiểu thuyết Lê Lựu đã cho ra mắt bạn đọc hàng loạt tác phẩm thật sự
đã gây được nhiều tiếng vang trong dư luận đồng thời để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm trí độc giả
1.2.3 Vị trí của tiểu thuyết Lê Lựu trong văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới
Trang 3025
Sáng tạo nghệ thuật là một quá trình khổ luyện đòi hỏi ở người cầm bút
không chỉ niềm đam mê, tâm huyết mà còn cả tài năng, bản lĩnh thật sự Có thể nói, cuộc đời cầm bút của Lê Lựu là một cuộc vật lộn căng thẳng với bản thân mình, để vươn lên không ngừng cho ngang tầm với cuộc sống và thời đại Sự nghiệp sáng tác của ông không nhiều nhưng là một đóng góp lớn cho
nền văn học, đặc biệt là thể loại tiểu thuyết Ông tự nhận mình là “loại nhôm
nhoam” nhưng “không viết không chịu được” Chính sự day dứt ấy đã đưa nhà
văn lên một vị trí xứng đáng trong văn đàn bằng hàng loạt tác phẩm có giá trị
Lê Lựu được xem là cây bút “tiền trạm” của văn học thời kỳ Đổi mới trong đó
Thời xa vắng là tác phẩm có ý nghĩa khởi xướng Đóng góp của Lê Lựu cho
văn học thời kỳ Đổi mới là không nhỏ về cả số lượng lẫn chất lượng, đặc biệt
là tinh thần dám nhìn thẳng vào sự thật, tinh thần nhận thức lại hiện thực cuộc sống Tiểu thuyết của Lê Lựu là một minh chứng tiêu biểu cho thành tựu của đường lối đổi mới văn nghệ của Đảng, nhất là sau Đại hội VI (1986) Bằng sự gặp gỡ giữa thời đại mới và cảm quan nhạy bén của người nghệ sỹ, với những tìm kiếm chân lý một cách kiên trì, những suy ngẫm, trăn trở đầy trách nhiệm của một nhà văn tài năng và tâm huyết, Lê Lựu đã cho ra đời những tác phẩm thành công góp phần làm giàu cho nền văn học thời kỳ Đổi mới ở thể loại tiểu thuyết Tác phẩm của ông khi mới ra đời, đã hứng chịu không ít những khen
chê (Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội…) nhưng qua thời gian, những tác
phẩm ấy đã khảng định được giá trị đích thực
So với các nhà văn khác như Tô Hoài, Nguyên Hồng, Nguyễn Minh Châu….thì sự nghiệp sáng tác của Lê Lựu chưa lớn Thế nhưng khi ghi nhận những cây viết có sự đóng góp cho nền văn xuôi đương đại nước nhà, chúng
ta không thể bỏ qua Lê Lựu Ông chính là một trong những cây bút có đóng góp quan trọng đối với văn học thời kỳ Đổi mới Tiểu thuyết của nhà văn đã thể hiện được một phong cách riêng, một tiếng nói riêng Đó là tiếng nói mới
Trang 3126
về tinh thần nhận thức lại, lay tỉnh ý thức về sự thật, tinh thần sám hối Khuynh hướng nhận thức lại hiện thực cùng cảm hứng đời tư thế sự với
những lấm lem bi kịch trong Thời xa vắng và các tác phẩm tiếp theo của ông
đã góp phần đổi mới tư duy tiểu thuyết lúc bấy giờ Với các tác phẩm: Thời
xa vắng, Chuyện làng Cuội, Sóng ở đáy sông , Hai nhà …không những cho
bạn đọc biết đến một nhà tiểu thuyết Lê Lưụ mà đã khẳng định phong cách nghệ thuật, in dấu đậm nét tên tuổi nhà văn trong quá trình vận động và đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Trang 3227
Chương 2 NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT LÊ LỰU 2.1 Nhân vật văn học và nhân vật tiểu thuyết
Nhân vật văn học là một hình tượng mang tính ước lệ, đó không phải là
sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết, biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách… Nghiên cứu về nhân vật, thực chất là tìm hiểu xem tác giả nhìn nhận con người như thế nào và chuyển tải hình tượng đó trong tác phẩm của mình ra sao? Đặc trưng của văn học là phản ánh thế giới khách quan, thế giới hiện thực bằng hình tượng nghệ thuật Do đó, trong tác phẩm văn học, nhân vật luôn đóng một vai trò quan trọng, trở thành phương tiện chuyên chở thông điệp của nhà văn, của tác phẩm đến người đọc
Vậy nhân vật là gì? “Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời sống trong một thời kỳ lịch sử nhất định ”[58, tr 126]
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì nhân vật (character) là: “con người cụ thể
được miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng, cũng có thể không có tên riêng… không thể đồng nhất với con người có thật trong cuộc sống Nhân vật văn học còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn về con người Vì thế nhân vật luôn gắn chặt với chủ đề của tác phẩm” ”[58 tr.236]
Thực ra khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng, đó không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc họa sâu đậm hay chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà còn
có thể là những sự vật, loài vật khác ít nhiều mang bóng dáng, tính cách của
Trang 3328
con người, được dùng như những phương thức khác nhau để biểu hiện con người Đó có thể là nhân vật Dế Mèn, võ sĩ Bọ Ngựa, con mèo lười trong truyện thiếu nhi của Tô Hoài; là vầng trăng, bông hoa trong thơ Bác…Cũng
có khi không phải là những con người, sự vật cụ thể, mà chỉ là một hiện tượng
về con người hoặc có liên quan đến con người, được thể hiện nổi bật trong tác
phẩm; chẳng hạn: nhân dân là nhân vật chính trong Chiến tranh và hòa bình,
hay thời gian là nhân vật chính trong sáng tác của Sêkhốp
Với thể loại tiểu thuyết nhân vật là hạt nhân của sự sáng tạo, là trọng điểm để nhà văn lí giải tất cả các vấn đề của đời sống xã hội Nhân vật tiểu thuyết có thể là sự hoá thân, là hình bóng của chính tác giả như trong tiểu thuyết lãng mạn, cũng có thể được xây dựng từ những khuôn mẫu của đời sống kết hợp với những năng lực tổng hợp và sáng tạo của nhà văn như trong tiểu thuyết hiện thực Nhân vật có thể là nạn nhân của bối cảnh xã hội, cũng
có thể được coi là chủ nhân của lịch sử đủ khả năng làm chủ vận mệnh của mình Tiểu thuyết là thể loại lớn đủ sức “nghiên cứu ngay chính sự tồn tại của con người” (Kunđêra) Và như vậy, nhà tiểu thuyết luôn nhìn nhận và đánh giá hiện thực thông qua tâm điểm nhân vật và mọi nỗ lực sáng tạo đều nhằm hướng tới mục đích là xây dựng được những nhân vật có cá tính độc đáo và đặc sắc Do khuôn khổ rộng lớn của tác phẩm với sự bao la vô tận của không
- thời gian, nhân vật tiểu thuyết được khai thác một cách toàn diện, tỷ mỉ theo từng bước thăng trầm của số phận Các nhà tiểu thuyết không gò ép nhân vật của mình vào những khuôn khổ chật hẹp với một tiết tấu hành động nhanh mà luôn giữ nhịp độ bình thường như chính bản thân nhịp điệu của cuộc sống hàng ngày Nhờ đó mà, hơn hẳn các thể loại khác, nhân vật trong tiểu thuyết sống một quãng đời tương đối dài với sự mô tả hết sức cụ thể, tỷ mỷ đến từng
chi tiết trong những đoạn đường đời, những bước đi của số phận (Những
người khốn khổ - V Huy gô, Chiến tranh và hòa bình, Anna karênina –
Trang 34sự phức tạp, đa chiều nó phản ánh một hiện thực xã hội, mang một suy nghĩ triết lý sâu sắc về con người Tìm hiểu các tác phẩm tiểu thuyết của Lê Lựu
như Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội, Sóng ở đáy sông, Hai nhà…chúng tôi
nhận thấy thế giới nhân vật trong sáng tác của ông có những nét tính cách, hành động, tâm lý, số phận …hiện lên sinh động, chân thực Mỗi nhân vật là một mảnh đời riêng góp vào bức tranh chung phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử Tìm hiểu thế giới nhân vật trong một số tiểu thuyết Lê Lựu còn cho phép chúng ta thấy rõ hơn sự khác biệt trong các giai đoạn sáng tác của Lê Lựu Các tiểu thuyết mà chúng tôi lựa chọn làm đối tượng nghiên cứu thuộc giai đoạn sau trong sáng tác của nhà văn, mang hơi thở của thời hậu chiến Trong đó, thế giới nhân vật được tập trung khai thác là những người trí thức có tài, có tâm nhưng có cuộc sống bế tắc, đầy bi kịch, là những con người bị hoàn cảnh xô đẩy trở nên tha hóa, những nhân vật nhận thức cứng nhắc, máy móc không phù hợp với hiện thực cuộc sống đang diễn ra….Mỗi kiểu nhân vật ấy cho ta một cái nhìn sâu sắc về
sự tác động, thay đổi của lịch sử xã hội đối với con người
Tìm hiểu về thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Lê Lựu chúng tôi tiếp cận
từ hai vấn đề đó là các kiểu nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật Qua việc phân chia các kiểu nhân vật, chúng tôi muốn làm rõ bức tranh hiện thực đời sống mà nhà văn muốn chuyển tải đến người đọc Còn nghệ thuật xây
Trang 3530
dựng nhân vật cho phép chúng ta đánh giá sự đổi mới, sáng tạo và vị trí của nhà văn trong dòng văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới
2.2 Cảm hứng bi kịch và các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Lê Lựu
Có nhiều tiêu chí để phân chia các kiểu nhân vật như nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật chức năng, nhân vật tư tưởng, nhân vật chính diện, phản diện…Ở đây chúng tôi phân chia nhân vật dựa trên tính chất, đặc điểm của các kiểu nhân vật thường được Lê Lựu quan tâm và tập trung phản ánh trong tác phẩm của mình Thông qua việc khảo sát một số tác phẩm tiểu thuyết của Lê Lựu, chúng tôi thấy xuất hiện bốn loại nhân vật thường phải gánh chịu các bi kịch trong cuộc sống Đó là kiểu nhân vật rơi vào bi kịch: bi
kịch do hoàn cảnh; nhân vật với bi kịch cá nhân; nhân vật rơi vào bi kịch do
nhận thức, quan niệm duy ý chí; nhân vật rơi vào bi kịch của lối sống thực dụng, ích kỷ, biến chất tha hóa
2.2.1 Cảm hứng bi kịch trong văn học Việt Nam trước và sau thời kỳ Đổi mới
Nền văn học Việt Nam ra đời và phát triển trong dòng chảy của thời gian Nó không chỉ là tấm gương phản chiếu cuộc sống muôn màu muôn vẻ
mà còn giúp cho người đọc trong mọi thời đại hiểu được những đặc điểm riêng của mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn Cảm hứng bi kịch từng xuất hiện trong những tác phẩm văn học dân gian rồi tiếp đến các tác phẩm của nền văn học viết Vì vậy, nói đến bi kịch của con người được phản ánh trong văn học
"trước thời kỳ Đổi mới" là nói đến một chặng đường dài mà tác phẩm đầu tiên
gắn liền với bi kịch chính là Truyền thuyết An Dương Vương Mỵ Châu -
Trọng Thủy, đó là bi kịch mang tính thời đại - lịch sử Văn học Việt Nam bắt
đầu chú ý đến bi kịch cá nhân có lẽ là qua tác phẩm Trương Chi - Mỵ Nương
và tác phẩm Quan Âm Thị Kính… Bi kịch trong hai tác phẩm này chính là
mối xung đột giữa khát vọng chính đáng riêng tư của con người và khả năng không thể thực hiện được những khát vọng đó trong cuộc sống
Trang 3631
Cảm hứng bi kịch được tiếp nối trong nền văn học viết Nó trở thành trào lưu với hàng loạt tác phẩm đề cập đến số phận cá nhân, đặc biệt là hình ảnh người phụ nữ phải chịu mọi đau đớn trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ như
thi hào Nguyễn Du từng nói:"Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh
cũng là lời chung” Giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX, xuất
hiện dồn dập những tiếng kêu bi thương đầy xót xa, đau đớn trong hàng loạt
tác phẩm thơ của Hồ Xuân Hương, Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn,
Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Truyện Kiều của Nguyễn
Du Có thể nói, bi kịch chính là cảm hứng chủ đạo của nền văn học giai đoạn này vì xã hội lúc bấy giờ có nhiều biến động dữ dội Giai cấp phong kiến ra sức vơ vét bòn rút của cải, tranh giành quyền lực, gây ra những cuộc nội chiến liên miên khiến cho cuộc sống của người dân lao đao mà người chịu nhiều đau khổ nhất không ai khác chính là chị em phụ nữ
Từ cuối thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX, vẫn tiếp tục tồn tại trong văn học cảm hứng bi kịch Chúng ta bắt gặp trên từng trang viết nỗi cô đơn,
sự day dứt, đau khổ của con người cá nhân mà tác phẩm đầu tiên thể hiện cảm
hứng bi kịch giai đoạn này chính là Truyện thầy Lazarô Phiền của Nguyễn Trọng Quản Đặc biệt, tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách đã khắc hoạ
đậm nét cảm hứng này Có thể nói hai tiểu thuyết trên là những trang viết thấm
đẫm nước mắt bởi nhân vật chính đã ý thức sâu sắc về nỗi đau khổ của mình Nhân vật thật sự bị giằng xé, đau đớn trong đời sống nội tâm Cái chết của nhân vật để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc Tiếp nối nguồn cảm hứng ấy, Nam Cao - một nhà văn hiện thực đã khái quát bi kịch qua hàng
loạt những hình tượng sống động Với tác phẩm Chí Phèo, chúng ta thấy tấn
bi kịch về sự tha hoá, bi kịch không được quyền làm người của anh Chí Ta
còn bắt gặp bi kịch "sống mòn", bi kịch "sống không ra sống" của Hộ trong
Đời thừa, Thứ trong Sống mòn Đó là bi kịch của những xung đột không thể
Trang 3732
giải quyết được giữa con người và hoàn cảnh, giữa cá nhân và xã hội
Văn học giai đoạn từ 1945 đến trước thời kỳ Đổi mới với nhiệm vụ động viên cổ vũ nên được viết hoàn toàn bởi chất sử thi và cảm hứng lãng mạn Cảm hứng bi kịch hầu như không xuất hiện, không được khơi nguồn Nó hoàn toàn bị chặn đứng dù thực tế cuộc sống khắc nghiệt lúc bấy giờ không thiếu gì cái bi Trong giai đoạn lịch sử ấy, điều cần thiết là niềm vui, niềm tin, niềm
hy vọng vào một ngày mai tươi sáng Với cảm hứng ngợi ca, nhà văn thường xây dựng những mẫu người, những hình tượng ước lệ về một vẻ đẹp toàn diện Chúng ta bắt gặp một loạt nhân vật như vậy trong hầu hết các tác phẩm:
Chị Sứ (Hòn Đất - Anh Đức), anh Núp (Đất nước đứng lên - Nguyên Ngọc), chị Út Tịch (Người mẹ cầm súng- Nguyễn Thi), Tnú (Rừng xà nu - Nguyễn Trung Thành), chị Trần Thị Lý (Người con gái Việt Nam - Tố Hữu)
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước với phương châm: "Nhìn thẳng
vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật" của Đại hội Đảng lần VI
(1986) đã thực sự khơi nguồn cho dòng chảy về "cảm hứng bi kịch" đang bị
chặn lại trong chiến tranh Với cảm hứng bi kịch, các nhà văn đã dò thật sâu vào bên trong đời sống tâm hồn và tình cảm của con người Phản ánh sự thật
mà không hề né tránh dù đó là sự thật khốc liệt nhất Viết về chiến tranh, chúng ta không chỉ thấy những hào quang lấp lánh nữa mà còn thấy cả những tổn thất, mất mát, đau thương Con người có thể mất đi một phần hoặc mất tất cả: gia đình, bạn bè, người thân, mất cuộc sống bình thường; mất quyền "làm người", mất đi một phần thân thể hay cả chính phần người trong con người mình khiến cho con người rơi vào chuỗi đau đớn đến tuyệt vọng đầy bi kịch
Điều này được thể hiện trong một loạt tác phẩm như: Truyền thuyết về quán
tiên (Xuân Thiều), Bến không chồng (Dương Hướng), Cỏ lau (Nguyễn Minh
Châu), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân)…Viết về chiến tranh ở giai đoạn này,
không chỉ có bi kịch của sự mất mát mà các nhà văn thời kỳ Đổi mới còn
Trang 3833
khắc hoạ tấn bi kịch lạc lõng của người lính sau cuộc chiến Có lẽ sống quen
trong hoàn cảnh "bất bình thường" nên giờ đây, khi quay về với cuộc sống
bình thường, những người lính cảm thấy lạc lõng Tướng về hưu (Nguyễn Huy Thiệp), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh),
Góc tăm tối cuối cùng (Khuất Quang Thụy) là những tác phẩm thể hiện đậm
nét tấn bi kịch lạc lõng ấy
Viết về mối quan hệ giữa con người với hoàn cảnh, văn học thời kỳ Đổi mới với tinh thần dân chủ đã mạnh dạn đề cập đến những thân phận, những
cuộc đời mà hoàn cảnh và môi trường sống không thuận lợi tạo nên bi kịch
Ngoại tình (Nguyễn Mạnh Tuấn), Đi về nơi hoang dã (Nhật Tuấn), Bước qua lời nguyền (Tạ Duy Anh), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn
Khắc Trường) là những tác phẩm tiêu biểu phản ánh những tấn bi kịch như vậy Không chỉ dừng lại mối quan hệ giữa con người với hoàn cảnh, văn học thời kỳ Đổi mới còn khám phá bi kịch trong mối quan hệ giữa con người với con người ở những cung bậc khác nhau Đó có thể là bi kịch vỡ mộng trong
tác phẩm: Kịch câm của Phan Thị Vàng Anh, Con chó và vụ li hôn của Dạ
Ngân Cũng có thể là bi kịch bị xâm hại trong chùm truyện ngắn mang đậm
chất huyền thoại Những ngọn gió Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp, truyện ngắn Hậu thiên đường của Nguyễn Thị Thu Huệ hay bi kịch đánh mất mình trong tác phẩm: Bất hạnh của tài hoa (Đặng Thư Cưu), Bi kịch nhỏ (Lê
Minh Khuê)
Như vậy, với cảm hứng bi kịch, hiện thực trong các tác phẩm văn xuôi thời kỳ Đổi mới hiện ra không phải là hiện thực một chiều của sự ca ngợi hoặc phê phán mà đấy là hiện thực bộn bề, ngổn ngang phức tạp không thể giải quyết Con người luôn là đối tượng trung tâm của mọi ngành khoa học và nghệ thuật Lấy con người làm đối tượng khám phá vô tận, văn học thời kỳ Đổi
mới đã đặt con người trong "tổng hoà các mối quan hệ xã hội" thay thế cho
Trang 3934
con người "nguyên phiến", con người "sử thi " Giờ đây, con người được nhận
thức và khám phá "như một thế giới riêng phong phú, phức tạp với số phận riêng và trong mối quan hệ cũng hết sức phong phú, phức tạp của nó với toàn
bộ xã hội, trở thành mối quan tâm hàng đầu của những sáng tác" [17]
Tiểu thuyết với khả năng riêng đã phản ánh "con người" một cách sâu
sắc và nhiều chiều Khám phá về con người trở thành vấn đề cốt tử của các nhà tiểu thuyết trong đó có Lê Lựu Có thể nhận thấy qua những trang viết của các nhà tiểu thuyết lúc bấy giờ, con người được nhận thức khá đầy đủ Bakhtin - nhà lý luận văn học Xô Viết - giúp chúng ta có được nhận thức sâu sắc về con người: "Một trong những đề tài cơ bản có tính nội tại của tiểu thuyết chính là đề tài nhân vật không tương hợp với số phận và vị thế của nó Con người hoặc cao lớn hơn thân phận mình, hoặc bé nhỏ hơn nhân tính của mình Con người không thể hoá thân đến cùng vào cái thân xác xã hội - lịch sử hiện hữu" [8, tr.287] Khi nghiên cứu thi pháp tiểu thuyết Đôtxtôiepxki, Bakhtin cũng chỉ ra rằng:"Con người không bao giờ trùng hợp với bản thân mình Theo tư tưởng nghệ thuật của Đôtxtôiepxki, sự sống đích thực của cái bản ngã diễn ra dường như chính cái điểm con người không trùng hợp với bản thân con người ấy; Ở cái điểm con người vượt ra ngoài giới hạn của toàn bộ cái hiện hữu của nó như một vật thể sinh tồn mà ta có thể rình xem"[8,
tr.261] Bakhtin cũng nhấn mạnh "Nếu cái cuống nhau nối liền nhân vật với
người sáng tạo nó không được cắt đứt đi thì trước chúng ta không phải là một tác phẩm mà là một tư liệu cá nhân"[8, tr 246]
Như vậy, quan niệm nghệ thuật về con người của Bakhtin là quan niệm
có tính chất cách mạng to lớn Lấy quan điểm sâu sắc ấy để soi chiếu vào tác
phẩm của Lê Lựu như: Thời xa vắng, Chuyện làng Cuội, Sóng ở đáy sông,
Hai nhà…chúng ta thấy rất rõ cảm hứng bi kịch, cảm hứng phê phán đã dần
thay thế cho cảm hứng sử thi, lãng mạn, cảm hứng ngợi ca Với cảm hứng ngợi
Trang 4035
ca cổ vũ, các nhà văn giai đoạn trước thời kỳ Đổi mới đã sáng tạo ra những hình ảnh về con người mang những phẩm chất đẹp đẽ, mang khát vọng lý tưởng của giai cấp, thời đại, dân tộc Thế nhưng, khi cảm hứng ngợi ca nhạt dần, cảm hứng bi kịch, phê phán thay thế thì ánh hào quang của quá khứ oai hùng không còn lấp lánh nữa mà con người hiện lên gần với đời thường hơn
và chất chứa mọi " hỷ - nộ - ái - ố" của cuộc đời Do vậy, nếu cảm hứng sử thi lãng mạn của nền tiểu thuyết Việt Nam trước thời kỳ Đổi mới mang đến cho chúng ta những nhân vật chói loà ánh hào quang thì với luồng gió mới, nhân vật giờ đây đã hiện lên "như nó vốn có" Đấy là những "con người đơn nhất, riêng biệt không giống ai" [114] Đều đặn trên những trang viết của mình, Lê Lựu đã nhìn nhận lại hiện thực Hơn thế nữa, để có một "nhà tiểu thuyết Lê Lựu" giữa trăm ngàn cái tên tuổi khác chính là nhờ sự nhạy bén của nhà văn
trong việc cảm nhận và mạnh dạn trả lại cho văn học "thiên chức" v ố n có Bi
kịch ư? Đấy là điều không thể nào xuất hiện trong văn học giai đoạn trước
đó Đấy dường như là một điều tối kỵ cho người cầm bút lúc bấy giờ Phải viết làm sao, viết như thế nào để cổ vũ, động viên quần chúng Đấy là nhiệm
vụ "bất khả kháng" Giờ đây, tiếng bom đã ngừng hẳn Mọi người bắt đầu phải hoà nhịp vào cuộc sống mới và đó quả là điều không giản đơn đối với những người mặc áo lính một thời trong nhịp sống hối hả Điều này được Nguyễn Khải nhận định "Chiến tranh ồn ào, náo động mà lại có cái yên tĩnh giản dị của nó Hoà bình mà lại chứa chất những sóng ngầm, những gió xoáy bên trong" [82, tr 56] Có những sóng ngầm gió xoáy từ ký ức chiến tranh hiện về không dễ nguôi quên, có những sóng ngầm lại xuất phát từ quan niệm sống của một thời không dễ thay đổi Gió xoáy sóng ngầm bởi không dễ dàng thích nghi với cuộc sống mới Và cũng có thể là sóng ngầm bởi cuộc sống mới đã hoàn toàn làm thay đổi con người, làm con người biến chất, tha hoá Tất cả những điều ấy đã tạo nên cảm hứng bi kịch trong những sáng tác của Lê Lựu