1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Bảo Ninh ( Luận văn ThS. Văn học )

113 15,4K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhằm mục đích tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Bảo Ninh ở các phương diện người kể chuyện, điểm nhìn, nhân vật, cốt truy

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TẠ THỊ HÀ

NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN BẢO NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TẠ THỊ HÀ

NGHỆ THUẬT TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN BẢO NINH

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam

Mã số: 60220121

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Tôn Thảo Miên

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của tôi dưới sự

hướng dẫn của PGS.TS Tôn Thảo Miên

Tôi cũng cam đoan đề tài này không trùng với bất cứ đề tài luận văn

nào đã được công bố ở Việt Nam

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung đề tài

Người cam đoan

Tạ Thị Hà

Trang 4

Lêi c¶m ¬n

Để có thể hoàn thành luận văn này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết

ơn sâu sắc tới PGS.TS Tôn Thảo Miên, người đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Văn học, phòng Sau đại học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, giúp đỡ, động viên, tạo mọi điều kiện để tôi có thể nghiên cứu, học tập và hoàn thành luận văn này

Dù đã hết sức cố gắng, nhưng vì khả năng và thời gian có hạn nên luận văn của chúng tôi không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến chân thành của các thầy giáo, cô giáo và bạn bè đồng nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 11 năm 2014

Người viết

Tạ Thị Hà

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 7

1 Lý do chọn đề tài 7

2 Lịch sử vấn đề 8

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 13

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 13

5 Phương pháp nghiên cứu 14

6 Cấu trúc luận văn 15

NỘI DUNG 16

CHƯƠNG 1: NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN BẢO NINH 16

1.1 Người kể chuyện 16

1.1.1 Khái niệm người kể chuyện 16

1.1.2 Người kể chuyện trong truyện ngắn Bảo Ninh 19

1.1.2.1 Người kể chuyện ngôi thứ nhất 19

1.1.2.2 Người kể chuyện ngôi thứ ba 25

1.1.2.3 Sự đa tầng bậc người kể chuyện 28

1.2 Điểm nhìn tự sự trong truyện ngắn Bảo Ninh 31

1.2.1 Khái niệm điểm nhìn 31

1.2.2 Điểm nhìn tự sự trong truyện ngắn Bảo Ninh 33

CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT VÀ CỐT TRUYỆN TỰ SỰ TRONG TRUYỆN NGẮN BẢO NINH 38

2.1 Nhân vật trong truyện ngắn Bảo Ninh 38

2.1.1 Khái niệm nhân vật 38

2.1.2 Nhân vật trong truyện ngắn Bảo Ninh 40

2.1.2.1 Nhân vật cô đơn, lạc thời và lạc loài 40

2.1.2.2 Nhân vật cứu rỗi 49

Trang 6

2.1.2.3 Nhân vật tự nhận thức 53

2.1.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Bảo Ninh 56

2.1.3.1 Sự đối lập trong hoàn cảnh xuất thân 56

2.1.3.2 Miêu tả ngoại hình 58

2.1.3.3 Khắc họa nhân vật qua ngôn ngữ 61

2.2 Cốt truyện trong truyện ngắn Bảo Ninh 64

2.2.1 Khái niệm cốt truyện 64

2.2.2 Cốt truyện trong truyện ngắn Bảo Ninh 66

2.2.2.1 Cốt truyện hiện thực 66

2.2.2.2.Cốt truyện tâm lý 77

CHƯƠNG 3: KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN BẢO NINH 82

3.1 Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Bảo Ninh 82

3.1.1 Khái niệm không gian nghệ thuật 82

3.1.2 Không gian nghệ thuật trong truyện ngắn Bảo Ninh 83

3.1.2.1 Không gian hiện thực 83

3.1.2.2 Không gian tâm lý 94

3.2 Thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Bảo Ninh 98

3.2.1 Khái niệm thời gian nghệ thuật 98

3.2.2 Thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Bảo Ninh 100

3.2.2.1.Thời gian sự kiện lịch sử gắn với những sự kiện đời tư 100

3.2.2.2 Thời gian tâm lý 103

KẾT LUẬN 108

TÀI LIỆU THAM KHẢO 110

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Bảo Ninh là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam

từ sau Đổi mới Ngay khi xuất bản tiểu thuyết đầu tay Nỗi buồn chiến tranh

Bảo Ninh đã trở thành một hiện tượng văn học được chú ý trên văn đàn, thu hút nhiều độc giả với những ý kiến đánh giá, phê bình rất khác nhau Nhìn chung những đánh giá về tiểu thuyết của Bảo Ninh có hai luồng ý kiến khen ngợi, đánh giá cao và phê phán Có thể nói so với tiểu thuyết thì mảng truyện ngắn của Bảo Ninh được các nhà nghiên cứu, phê bình chú ý ít hơn Nhưng không vì thế mà truyện ngắn của ông mất đi sự quan tâm và đánh giá cao của người đọc

Bảo Ninh là một trong những cây bút có dấu ấn nhất định trên văn đàn hiện nay Ở mảng truyện ngắn, Bảo Ninh được đánh giá là cây bút viết truyện ngắn đặc sắc Trên văn đàn hiện đại, Bảo Ninh đã tạo dựng cho mình một lối viết riêng, một phong cách riêng khó trộn lẫn Những truyện ngắn của Bảo Ninh có những đặc trưng riêng rất đáng để khảo sát và tìm hiểu Bảo Ninh là người được sống và cảm nhận những giá trị cuộc sống ở cả hai giai đoạn kháng chiến chống Mĩ và hiện thực cuộc sống sau chiến tranh, nhất là từ thời

kì Đổi mới Ông là một trong những nhà văn hiện nay viết hay và xuất sắc về

đề tài chiến tranh và hậu chiến Bảo Ninh đã từng là một người lính, có thể nói những kí ức về chiến tranh, về chiến trường, về tình yêu và cuộc sống của người lính đã ngấm sâu và trở thành một phần trong tâm trí nhà văn Trong sáng tác của Bảo Ninh, số phận của những con người bước ra từ cuộc chiến tranh cùng những bi kịch của con người trong cuộc sống thời hậu chiến đã hiện lên một cách chân thực và đầy tính nhân văn

Truyện ngắn của Bảo Ninh luôn nhận được sự quan tâm của đông đảo bạn đọc và giới nghiên cứu, phê bình Đã có những bài viết, công trình nghiên

Trang 8

cứu tổng hợp, phân tích và phát hiện đáng kể cả về phương diện nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn Bảo Ninh, tuy nhiên nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Bảo Ninh vẫn chưa được tìm hiểu một cách thấu đáo Với mong muốn góp thêm tiếng nói vào sự khẳng định thành công của truyện ngắn Bảo Ninh, trên cơ sở kế thừa thành tựu của người đi trước, đề tài mà luận văn đã

chọn Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Bảo Ninh sẽ là cơ hội để chúng tôi

tiến hành tìm hiểu các yếu tố nghệ thuật cũng như những nét độc đáo về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Bảo Ninh trên tinh thần khoa học và toàn vẹn nhất có thể Cũng thông qua đề tài này luận văn hướng đến một cách hiểu, cách lý giải về cái hay, những nét đặc sắc và hấp dẫn của truyện ngắn Bảo Ninh, từ đó ghi nhận sự đóng góp của Bảo Ninh cho mảng truyện ngắn nói riêng và cho nền văn học Việt Nam nói chung

2 Lịch sử vấn đề

Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương, quê ở xã Bảo Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình nhưng sinh ra tại Nghệ An Bảo Ninh được sinh ra trong một gia đình trí thức lớn, ông là con trai của giáo sư Hoàng Tuệ, nguyên Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học Việt Nam Sinh ra và lớn lên trong thời buổi chiến tranh, cũng như bao bạn bè cùng trang lứa, Bảo Ninh cũng tham gia cuộc kháng chiến chống Mĩ, chiến đấu trong chiến trường B3 Tây Nguyên từ 1969 đến 1975 Đây cũng là giai đoạn mà cuộc kháng chiến chống

Mĩ của nhân dân ta diễn ra ác liệt và mạnh mẽ nhất Sau chiến tranh ông giải ngũ, trở lại học đại học và sau đó làm việc ở Viện Khoa học Việt Nam Từ

1984 đến 1986, Bảo Ninh học khóa 2 Trường viết văn Nguyễn Du và làm việc cho báo Văn nghệ trẻ Bảo Ninh là một trong những nhà văn có đóng góp đáng kể vào công cuộc đổi mới của nền văn xuôi hiện đại Việt Nam Ông đến với văn chương khá muộn so với các nhà văn khác cùng thế hệ Tác phẩm đầu

tay của ông là tiểu thuyết Thân phận của tình yêu, về sau lấy lại tên cũ là Nỗi

Trang 9

buồn chiến tranh Ngay khi xuất bản, cuốn tiểu thuyết đã mau chóng trở thành

một hiện tượng văn học và nhận được nhiều ý kiến phê bình khác nhau Có ý kiến ca ngợi hết lời nhưng cũng có những ý kiến phê phán thẳng thừng Tiểu thuyết này đã được Hội Nhà văn Việt Nam trao Giải thưởng văn học hằng

năm (1991) Đến nay, tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh đã khẳng định được vị

trí của mình và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, được bạn đọc nhiều nơi đón nhận Bên cạnh những thành công về tiểu thuyết thì Bảo Ninh cũng

đã đạt được nhiều thành công về truyện ngắn Những truyện ngắn đầu tiên của Bảo Ninh được đăng trên Văn nghệ Quân đội Có thể kể đến các tác phẩm đã

xuất bản của Bảo Ninh: Nỗi buồn chiến tranh, NXB Hội nhà văn, 1991; Trại bảy chú lùn, NXB Văn học, 1987; Khắc dấu mạn thuyền, NXB Văn học, 1996; Lan man trong lúc kẹt xe, NXB Hội nhà văn, 2005; Chuyện xưa kết đi, được chưa?, NXB Văn học, 2009; Bảo Ninh tác phẩm chọn lọc, NXB Phụ nữ, 2011; Bảo Ninh - những truyện ngắn, NXB Trẻ, 2013

Nghiên cứu về sáng tác của Bảo Ninh đã và đang thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, phê bình cũng như của nhiều người đọc Lâu nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về tiểu thuyết và truyện ngắn của ông Nhưng các nhà nghiên cứu, phê bình chủ yếu hướng vào tiểu thuyết đầu

tay của ông là Nỗi buồn chiến tranh Bảo Ninh được biết đến nhiều nhất với cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh - Tác phẩm đã tạo nên tên tuổi Bảo Ninh Sức ảnh hưởng của Nỗi buồn chiến tranh trong đời sống văn học Việt

Nam thời kì Đổi mới là không thể phủ nhận

Nhà văn Nguyên Ngọc đã từng nhận xét về Nỗi buồn chiến tranh: "Về

mặt nghệ thuật, đó là thành tựu cao nhất của văn học đổi mới"[30,177] Bài

viết Kĩ thuật dòng ý thức qua Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh của Nguyễn

Đăng Điệp đã nêu lên những cách tân cũng như những đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm, đặc biệt chú ý đến kĩ thuật dựng truyện theo kết cấu dòng ý thức;

Trang 10

Đào Duy Hiệp với bài viết Thời gian trong Thân phận của tình yêu đã tìm

hiểu một số vấn đề về nghệ thuật thời gian: thời gian niên biểu, sự sai trật niên

biểu, lối quay ngược, lối đón trước ; Nỗi buồn chiến tranh viết về chiến tranh thời hậu chiến từ chủ nghĩa anh hùng đến nhu cầu đổi mới bút pháp của

Phạm Xuân Thạch đã đi vào nghiên cứu những mạch ngầm văn bản, thế giới nhân vật, tìm hiểu cái nhìn mới và cách viết mới về chiến tranh trong thời hậu

chiến, tác giả này cũng có những bài viết khác như: Về tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh; Tiểu thuyết Việt Nam đương đại - suy nghĩ từ những tác phẩm về chủ đề lịch sử

Ngoài ra còn có rất nhiều bài viết khác về tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh, có thể kể đến: Trần Quốc Hội với "Trình tự" trong thời gian nghệ thuật của Ăn mày dĩ vãng và Nỗi buồn chiến tranh - tiếp cận từ lý thuyết thời gian của Genette; Trần Thanh Hà: Từ phân tâm học tìm hiểu tính hiện đại thể hiện qua tiểu thuyết "Thân phận của tình yêu" của Bảo Ninh; Hoàng Ngọc Hiến: Những nghịch lý của chiến tranh; Đỗ Văn Khang: Nghĩ gì khi đọc tiểu thuyết Thân phận của tình yêu?; Phạm Xuân Nguyên: Nghĩ gì khi đọc"Nghĩ gì khi đọc tiểu thuyết Thân phận của tình yêu?"; Đỗ Đức Hiểu: Những nhịp mạnh của tiểu thuyết Thân phận của tình yêu

Không chỉ khẳng định mình ở thể loại tiểu thuyết, Bảo Ninh còn khẳng định mình qua nhiều truyện ngắn Ở mảng truyện ngắn, Bảo Ninh đã thể hiện được những tìm tòi, khám phá mới về nghệ thuật kể chuyện Truyện ngắn của Bảo Ninh cũng đã thu hút được sự quan tâm của giới phê bình, nghiên cứu cũng

như bạn đọc Trong bài viết Bảo Ninh – Thời tiết của kí ức, Trung Trung Đỉnh

đã đưa ra những nhận xét về truyện ngắn Bảo Ninh: “Đọc những truyện ngắn đầu tiên của Bảo Ninh, người ta nhận ngay ra một người lính có tâm hồn khá lãng mạn và phóng túng Một người lính từng trải dễ xúc động bởi những gợi cảm ngẫu hứng do tác động mạnh của đời sống thời chiến khốc liệt.”[9]; Trần

Trang 11

Sáng với bài viết Âm hưởng chiến tranh trong truyện ngắn Bảo Ninh đưa ra

nhận định về đặc điểm trong sáng tác của Bảo Ninh: “Chiến tranh – cảm hứng chủ đạo xuyên suốt hành trình sáng tạo của Bảo Ninh”; “số lượng những tác phẩm chỉ thuần viết về chiến tranh không nhiều, nhưng số lượng những tác phẩm có yếu tố liên quan đến chiến tranh hoặc hậu chiến thì lại chiếm số

lượng áp đảo”[49]; Đoàn Ánh Dương trong bài viết Bảo Ninh - nhìn từ thân phận truyện ngắn nhận xét: “Chủ âm trong sáng tác của Bảo Ninh là các hồi

tưởng về quá vãng Chấn thương chiến tranh đã làm cho Bảo Ninh phải viết

về nó như trả một món nợ Đúng hơn là chấn thương đã cầm cố Bảo Ninh trong tư cách một nhà văn buộc phải vắt kiệt mình trong tất cả hồi ức về quá khứ; thậm chí, tần suất lặp lại của việc truy tầm quá khứ đậm tới độ có thể coi suy tưởng là nét phong cách của Bảo Ninh Nó cho thấy tầm quan trọng của

ký ức, của chấn thương chiến tranh trong việc kiến tạo nên thế giới nghệ thuật của ông: chiến tranh như là thân phận, số phận”[5] Với cái nhìn sắc sảo Đoàn Ánh Dương cũng đã đề cập đến nhiều bình diện của truyện ngắn Bảo Ninh như chất liệu, cách đặt tên, cách kết thúc truyện ngắn… Thụy Khuê với bài

viết Tình thế của những người viết trẻ hôm nay đưa ra nhận định: “Bảo Ninh có lối viết trữ tình bi đát rất độc đáo về chiến tranh, nhưng nỗi buồn cũng như văn

phong của Bảo Ninh ít ai bắt chước được”[25] Nhà nghiên cứu Đặng Anh Đào đưa ra ý kiến: “Cá nhân tôi thích truyện ngắn của Bảo Ninh hơn tiểu thuyết của anh Trước hết vì anh có một giọng văn “trắng”, thoạt nghe tưởng như vô cảm, dường như anh đã thừa hưởng được điều đó từ người cha – nhà ngôn ngữ Hoàng Tuệ, một người có giọng văn tưng tửng, thâm thuý và rất có duyên Bàng bạc trong tiểu thuyết và truyện của Bảo Ninh là nỗi buồn mang ý nghĩa sâu sắc về khoảng cách thế hệ, về vấn đề cha và con… Điều đó chứng tỏ anh vẫn thấy được vẻ đẹp thời đã qua và lưu luyến với nó”[20] Với nhà văn Phong Điệp thì: “Bảo Ninh là người đặc biệt Dáng vẻ xù xì, bất cần, và tính cách ngại

Trang 12

giao tiếp, không hoạt ngôn của anh dễ khiến người khác cảm thấy khó gần Từng có thời gian công tác cùng với anh, nhưng thú thực phải mãi đến lúc anh rời báo, tôi mới thực sự hiểu được Bảo Ninh Bảo Ninh là người lịch lãm, tinh tế, cẩn trọng và sắc sảo Bên cạnh cuốn tiểu thuyết quá nổi tiếng, thì những truyện ngắn, những bài báo ký bút danh khác của Bảo Ninh cũng rất đáng đọc Anh chưa bao giờ viết ra một bài, một chữ nhảm nhí nào Từng câu, từng chữ, đều được anh cân nhắc kỹ càng”[20]

Bên cạnh những bài phê bình, đánh giá thì cũng đã có nhiều khóa luận, luận văn, công trình nghiên cứu về truyện ngắn Bảo Ninh như: Khóa luận

Nhân vật trong văn xuôi Bảo Ninh của Lê Thị Lan Anh, Đại học Vinh (2007)

đã đi sâu tìm hiểu thế giới nhân vật và nghệ thuật thể hiện nhân vật trong văn

xuôi Bảo Ninh Luận văn Đề tài chiến tranh chống Mĩ trong truyện ngắn Bảo Ninh của Lưu Thị Thanh Trà, Đại học Vinh (2006) đã đi sâu vào khai thác

mối quan hệ giữa chiến tranh và nhân cách con người, chiến tranh và tình yêu,

hai điểm nhìn chiến tranh Luận văn Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn của Bảo Ninh của Nguyễn Thị Hóa, Đại học Vinh (2010) tìm hiểu truyện ngắn Bảo Ninh nhìn từ một số đặc điểm nội dung và nghệ thuật Luận văn Văn xuôi

tự sự của Bảo Ninh trong bối cảnh văn xuôi Việt Nam thời kì Đổi mới của Bùi Thị Hợi, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (2011) Luận văn Truyện ngắn Bảo Ninh từ góc nhìn thể loại của Nguyễn Phương Nam, Đại học Khoa

học Xã hội và Nhân văn (2013)

Trên đây là những nhận xét, đánh giá, những công trình nghiên cứu ít nhiều có liên quan tới nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Bảo Ninh Đánh giá

về sáng tác của Bảo Ninh nói chung và truyện ngắn của ông nói riêng có nhiều quan điểm, ý kiến, với nhiều cách tiếp cận khác nhau Mỗi bài viết, công trình nghiên cứu là một cách nhìn, một tiếng nói, một suy nghĩ, một cảm nhận riêng của người viết về các khía cạnh xoay quanh vấn đề con người và

Trang 13

tác phẩm của nhà văn Trong những bài viết đó, ít nhiều các vấn đề người kể chuyện, điểm nhìn, nhân vật, cốt truyện, không gian, thời gian trong truyện ngắn Bảo Ninh đã được đề cập và lý giải Đây là những yếu tố góp phần quan trọng làm nên cái riêng, độc đáo trong nghệ thuật tự sự truyện ngắn của Bảo Ninh Ở những mức độ khác nhau những đánh giá, nghiên cứu của người đi trước là những gợi mở và nguồn tham khảo quý giá cho chúng tôi đi sâu tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Bảo Ninh, qua đó thấy được những nét đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật truyện ngắn của Bảo Ninh

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu đề tài này chúng tôi nhằm mục đích tìm hiểu nghệ thuật tự

sự trong truyện ngắn Bảo Ninh ở các phương diện người kể chuyện, điểm nhìn, nhân vật, cốt truyện, không gian, thời gian qua đó làm sáng rõ hơn phong cách tự sự của Bảo Ninh cũng như nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Bảo Ninh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu một số phương diện của nghệ thuật tự sự: người kể chuyện, điểm nhìn, nhân vật, cốt truyện, không gian, thời gian Khảo sát, phân tích những biểu hiện cụ thể của người kể truyện, điểm nhìn, nhân vật, cốt truyện, không gian, thời gian trong truyện ngắn Bảo Ninh, từ đó khẳng định những sáng tạo và đóng góp của tác giả

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Bảo Ninh, thể hiện qua các phương diện người kể chuyện, điểm nhìn, nhân vật, cốt truyện, thời gian, không gian

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài là toàn bộ truyện ngắn của Bảo Ninh,

tập trung chủ yếu ở các tập truyện Trại bảy chú lùn, NXB Văn học, 1987;

Trang 14

Khắc dấu mạn thuyền, NXB Văn học, 1996; Lan man trong lúc kẹt xe, NXB Hội Nhà văn, 2005; Chuyện xưa kết đi, được chưa?, NXB Văn học, 2009; Bảo Ninh Tác phẩm chọn lọc, NXB Phụ nữ, 2011; Bảo Ninh – những truyện ngắn, Nhà xuất bản Trẻ, 2013 Để có cái nhìn tổng thể, trọn vẹn về nghệ thuật

tự sự trong truyện ngắn Bảo Ninh, chúng tôi có liên hệ, so sánh đối chiếu với

tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của ông, cũng như những sáng tác của một

số nhà văn khác

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi vận dụng các phương pháp chủ yếu sau:

5.1 Phương pháp phân tích - tổng hợp:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp giúp cho việc nghiên cứu, phân tích, cắt nghĩa, lý giải các vấn đề, các chi tiết nghệ thuật từ đó chúng tôi đi đến những kết luận mang tính tổng hợp nhất, khái quát nhất về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Bảo Ninh

5.2 Phương pháp thống kê - phân loại

- Phương pháp thống kê, phân loại giúp cho việc phân loại, tìm hiểu các dạng nhân vật, người kể chuyện, điểm nhìn, không gian, thời gian, cốt truyện khi nghiên cứu nghệ thuật tự sự truyện ngắn Bảo Ninh

5.3 Phương pháp đối chiếu - so sánh

- Phương pháp đối chiếu - so sánh giúp cho việc so sánh trong tập

truyện ngắn, so sánh với những vấn đề liên quan ở tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh và những tác phẩm của các nhà văn khác nhằm làm nổi bật những đặc

trưng riêng trong nghệ thuật tự sự truyện ngắn của Bảo Ninh, những giá trị và đóng góp của Bảo Ninh đối với văn học Việt Nam hiện đại

5.4 Phương pháp hệ thống

Chúng tôi sử dụng phương pháp hệ thống trong quá trình nghiên cứu để

Trang 15

từ đó có một cái nhìn hệ thống về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Bảo Ninh Đồng thời để tạo sự lôgic, chặt chẽ, khoa học trong quá trình nghiên cứu

Ngoài ra, để có cái nhìn toàn diện, khách quan khi đánh giá vấn đề, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi còn sử dụng phối hợp các phương pháp khác như: phương pháp khảo sát, phương pháp lịch sử… nhằm làm rõ những yếu tố nghệ thuật trong nghệ thuật tự sự truyện ngắn của Bảo Ninh Song song với việc vận dụng các phương pháp trên, người viết còn vận dụng những kiến thức đã học được về các khoa học liên ngành

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của luận văn được triển khai qua ba chương:

Chương 1: Người kể chuyện và điểm nhìn tự sự trong truyện ngắn Bảo Ninh

Chương 2: Nhân vật và cốt truyện tự sự trong truyện ngắn Bảo Ninh Chương 3: Không gian và thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn Bảo Ninh

Trang 16

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NGƯỜI KỂ CHUYỆN VÀ ĐIỂM NHÌN TỰ SỰ

TRONG TRUYỆN NGẮN BẢO NINH 1.1 Người kể chuyện

1.1.1 Khái niệm người kể chuyện

Khi nhắc đến nghệ thuật tự sự người ta thường nhắc đến nhiều khái niệm trong đó có khái niệm Người kể chuyện Người kể chuyện là một trong những khái niệm trung tâm của tự sự học Về khái niệm Người kể chuyện hiện vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau chưa thống nhất, có người gọi đó là Người kể chuyện, có người lại gọi đó là Người trần thuật Trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi xét hai khái niệm này trên cơ sở đồng nghĩa

Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì Người kể chuyện là "Hình tượng

ước lệ về người trần thuật trong tác phẩm văn học, chỉ xuất hiện khi nào câu chuyện được kể bởi một nhân vật cụ thể trong tác phẩm Đó có thể là hình

tượng của chính tác giả (ví dụ: "tôi" trong Đôi mắt), dĩ nhiên không nên đồng

nhất hoàn toàn với tác giả ngoài đời; có thể là một nhân vật đặc biệt do tác giả

sáng tạo ra (ví dụ: người điên trong Nhật kí người điên của Lỗ Tấn); có thể là

một người biết một câu chuyện nào đó, một tác phẩm có thể có một hoặc nhiều người kể chuyện Hình tượng người kể chuyện đem lại cho tác phẩm một cái nhìn và một sự đánh giá bổ sung về mặt tâm lý, nghề nghiệp hay lập trường xã hội cho cái nhìn tác giả, làm cho sự trình bày, tái tạo con người và đời sống trong tác phẩm thêm phong phú và nhiều phối cảnh"[15,221]

Trong giáo trình Lý luận văn học thì: "Người kể chuyện (Người trần

thuật) là yếu tố thuộc thế giới miêu tả Đó là một người do nhà văn tạo ra để thay thế mình thực hiện hành vi trần thuật Người kể chuyện trong văn bản

ẩn mình trong dòng chữ Người kể chuyện ấy có thể được kể bằng ngôi thứ ba, ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai Và chỉ có thể kể được khi nào họ cảm thấy như

Trang 17

người trong cuộc, người chứng kiến hay người biết trước sự việc xảy ra bằng tất cả giác quan, sự hiểu biết của mình Do đó về căn bản, mọi người kể chuyện đều theo ngôi thứ nhất Cái được gọi là kể theo ngôi thứ ba thực chất

là hình thức kể khi người kể chưa được ý thức hoặc đã được ý thức nhưng cố

ý giấu mình"[31,102]

Đào Duy Hiệp trong Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại định nghĩa

người kể chuyện/người trần thuật: "Là một trong những phạm trù cơ bản của trần thuật học, nó đối lập dứt khoát với "tác giả thực" Đó là một hình tượng được tác giả thực hư cấu nên, nó có thể ở ngôi kể thứ nhất hoặc ngôi kể thứ ba ("cá nhân"/"phi cá nhân") Nó có nhiệm vụ mang lời kể trần thuật (narration)

và chỉ im lặng khi nhân vật lên tiếng Đương nhiên, khi đã có người kể chuyện thì phải có người nghe câu chuyện (narrataire) hoặc tạo thành cặp

người trần thuật/độc giả trừu tượng (ẩn tàng - implicite hoặc hiển thị -

explicite) Các cấp độ trần thuật (niveaux narratifs) còn liên quan đến mối quan hệ giữa người kể chuyện và nhân vật Cụ thể, nó đề cập đến vấn đề tìm hiểu xem người kể chuyện là hay không là nhân vật của câu chuyện mà anh ta

kể lại Theo quan điểm của Genette, và sau đó là các nhà nghiên cứu khác như Stanzel về "những tình huống trần thuật" thì ngôi "tôi" chỉ được tính là người

kể chuyện ở ngôi thứ nhất và đồng thời là nhân vật khi anh ta kể về những

"trải nghiệm cá nhân", và là người hiện diện trong hành động; còn lại là người

kể chuyện ở ngôi thứ ba, ngay cả khi vào truyện, "tôi" giới thiệu khung cảnh, các nhân vật có mặt ở đó (kiểu "sau bữa ăn" thường thấy ở các sáng tác của Maupassant)[17,225]

Người kể chuyện là khái niệm trung tâm của tự sự học và của thi pháp học hiện đại Có thể thấy không một truyện kể nào có thể tồn tại nếu thiếu người kể chuyện: "Với bất kỳ truyện kể nào, người kể chuyện đồng thời đảm nhiệm hai vai trò: vai trò giới thiệu và dẫn dắt câu chuyện (chức năng trần

Trang 18

thuật) và vai trò điều khiển (chức năng kiểm soát)"[27] Tz.Todorov đã khẳng định: "Người kể chuyện là yếu tố tích cực trong việc kiến tạo thế giới tưởng tượng không thể có trần thuật thiếu người kể chuyện Người kể chuyện

không nói như các nhân vật tham thoại khác mà kể chuyện Như vậy, kết hợp đồng thời trong mình cả nhân vật và người kể, nhân vật mà nhân danh nó

cuốn sách được kể có một vị thế hoàn toàn đặc biệt"[53,116-117]

Người kể chuyện là một trong những hình thức thể hiện quan điểm của tác giả trong tác phẩm: "Trong tác phẩm tự sự, vấn đề người kể chuyện có ý nghĩa hết sức quan trọng Nhờ hình thức tường thuật, tác giả có thể trực tiếp phát biểu những cảm nghĩ, nhận xét của mình về nhân vật, về sự kiện được

mô tả và về cuộc đời chung"[59,154] Người kể chuyện trong tác phẩm văn học, đôi khi lại chính là hiện thân của tác giả, nhưng không hoàn toàn đồng nhất Qua người kể chuyện ta có thể thấy được tư tưởng, quan điểm của tác giả nhưng không thể đồng nhất người kể chuyện với chính bản thân tác giả

Người kể chuyện và tác giả là hai thuật ngữ được phân biệt bởi những yếu tố riêng biệt nhưng lại quy định lẫn nhau: "Vùng giao thoa của hai phạm trù này tương đối lớn, vì vậy, trong thực tế đã xảy ra không ít nhầm lẫn Nhiều nhà nghiên cứu đồng nhất người kể chuyện với tác giả Ở thế giới truyện kể, người kể chuyện xuất hiện trong cùng bậc giao tiếp với người nghe chuyện Anh ta thực chất là những "sinh thể" trên giấy, tồn tại trong thế giới hư cấu và tưởng tượng Người kể chuyện là nhân vật do tác giả sáng tạo ra có nhiệm vụ

tổ chức kết cấu tác phẩm và môi giới, dẫn dắt người đọc tiếp cận văn bản Trong khi đó, tác giả là chủ thể sáng tạo Anh ta ở bên ngoài tác phẩm Như vậy, việc đồng nhất hoặc tách biệt hoàn toàn hai yếu tố thuộc hai bậc giao tiếp khác nhau sẽ không thỏa đáng, hạn chế khả năng hiểu sâu các vấn đề đặt ra trong quá trình giải mã tác phẩm"[27] Lê Ngọc Trà viết: "Người kể chuyện là thuật ngữ chỉ nhân vật đóng vai trò chủ thể của lời kể chuyện, là người đứng

Trang 19

ra kể trong tác phẩm văn học"; "Người kể chuyện và tác giả không phải là một Không nên đồng nhất người kể chuyện với tác giả, ngay cả khi tác giả xưng "tôi" đứng ra trần thuật câu chuyện và hoàn toàn đứng ngoài sự vận động của các sự kiện, các tình tiết"[59,153]

Trong tác phẩm tự sự, thông qua người kể chuyện nhà văn trình bày, thể hiện một cách sáng tạo thế giới hiện thực Nhà văn cũng thể hiện ý đồ sáng tác thông qua việc lựa chọn dạng thức xuất hiện của người kể chuyện Có nhiều cách để phân loại người kể chuyện Người ta thường căn cứ vào vị trí của người kể chuyện trong tác phẩm để phân loại thành người kể chuyện ngôi thứ nhất, người kể chuyện ngôi thứ ba, và có những trường hợp người kể chuyện vừa ở ngôi thứ nhất vừa ở ngôi thứ ba Mặc dù có những quan điểm khác nhau về người kể chuyện song không thể phủ nhận vai trò quan trọng của người kể chuyện đối với mỗi tác phẩm Với việc nắm được vai trò của người kể chuyện sẽ giúp cho việc phân tích nghệ thuật tự sự của tác phẩm một cách sâu sắc, trọn vẹn hơn

1.1.2 Người kể chuyện trong truyện ngắn Bảo Ninh

1.1.2.1 Người kể chuyện ngôi thứ nhất

Truyện kể bao giờ cũng được kể từ một ngôi kể nhất định và bởi một người kể chuyện nào đó Ngôi kể thứ nhất được Bảo Ninh sử dụng nhiều hơn

cả trong các truyện ngắn của mình Dạng thức người kể chuyện xưng tôi xuất hiện trong các truyện ngắn của Bảo Ninh với nhiều kiểu dạng khác nhau Với cách kể chuyện ngôi thứ nhất, người kể chuyện có thể chủ động dẫn dắt câu chuyện của mình, đó có thể là câu chuyện về chính bản thân người kể chuyện,

có thể là câu chuyện về người khác, người kể chuyện cũng có thể tham gia kể cùng với nhân vật, hoặc đóng vai trò dẫn dắt để nhân vật tự kể, trao cho nhân vật chức năng tự sự từ ngôi thứ nhất Tự sự từ ngôi thứ nhất xưng tôi là "một phương thức biểu đạt độc đáo mập mờ quy về cả tác giả, cả về người kể

Trang 20

chuyện và cả về nhân vật"[48,37] Người kể chuyện ngôi thứ nhất đôi khi có

sự tương đồng với tác giả nhưng không đồng nhất Người kể chuyện ngôi thứ nhất thường xuất hiện dưới hai dạng thức: thứ nhất là người kể chuyện ngôi

tôi hoàn toàn trùng khít với nhân vật chính của câu chuyện, hai là người kể

chuyện chỉ là người chứng kiến, người đồng hành kể lại câu chuyện của nhân vật chính Với việc sử dụng người kể chuyện ngôi thứ nhất, nhà văn thường tạo được sự tin cậy nơi người đọc đối với câu chuyện mà mình đang kể Điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ nhất hầu hết là điểm nhìn hướng nội, mang tính chủ quan, cá nhân Thông qua lời người kể chuyện, độc giả có thể

dễ dàng đi sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật, tạo cảm giác như sống cùng nhân vật, trải nghiệm những trạng thái tinh thần, những cung bậc cảm xúc cùng với nhân vật Khoảng cách giữa người kể chuyện và nhân vật do đó cũng được thu hẹp

Với những tác phẩm người kể chuyện thuần túy ở ngôi thứ nhất, đó là cái tôi kể về chính câu chuyện của mình, ở đó người kể chuyện và nhân vật là một, người kể chuyện hiện diện như một nhân vật trong truyện và tham gia vào các sự kiện, biến cố của câu chuyện, đó là câu chuyện do chính nhân vật

đã từng trải qua, chứng kiến và quan sát Người kể chuyện ngôi thứ nhất có khả năng khai phá chiều sâu tâm hồn, thâm nhập vào những vùng bí mật ẩn sâu trong tiềm thức con người Người kể chuyện ngôi thứ nhất xưng tôi trong

Khắc dấu mạn thuyền kể về kỉ niệm mà mình đã từng trải qua với một cô gái,

cuộc gặp gỡ định mệnh, ngắn ngủi nhưng đầy kịch tính và dấu ấn thì còn mãi,

khắc sâu trong tâm trí người kể chuyện Hà Nội lúc không giờ là câu chuyện của nhân vật tôi kể về ngôi nhà số 4, nơi sinh sống của năm hộ gia đình hơn

ba chục năm về trước, về đêm cuối năm năm Giáp Thìn dưới sân ngôi nhà với

lũ trẻ mười ba, mười bốn tuổi trong đó có tôi quây quần xung quanh bếp lửa

với nồi bánh chưng cùng với ông họa sĩ Năm Tín quê ở tận Cà Mau đi họp

Trang 21

đồng hương ở câu lạc bộ Thống Nhất trở về rẽ vào, cùng với chị Giang, với anh Trung và anh Vinh Pét xồm ẩu đả nhau vì chị Giang Đó là câu chuyện đưa tiễn tân binh ngày mùng 5 tết, là câu chuyện nhân vật tôi nhập ngũ, rồi trở

về sau chiến tranh, về thăm chị Giang sau ba mươi tư năm trời xa biệt Chị Giang cho xem bức ảnh họa sĩ Năm Tín vẽ cảnh tượng ở sân ngôi nhà số 4 đêm nào Bức tranh chính là kỉ vật còn sót lại, lưu giữ và gợi nhớ lại câu chuyện, gợi nhớ lại một thời xa xưa đã lùi vào quá vãng Tôi vừa là người kể chuyện đồng thời cũng là một nhân vật tham gia vào các sự kiện, biến cố của câu chuyện, nhân vật tôi hiện lên chi tiết với những hành động, tâm tư tình cảm, với những trạng thái tâm lý khác nhau

Trong những truyện ngắn mà người kể chuyện xưng tôi tự kể về mình của Bảo Ninh, câu chuyện thường được kể theo sự vận động nội tâm của người kể chuyện, nhân vật chính trong tác phẩm, qua đó những cảm xúc, trạng thái tâm lý vui buồn, giận hờn, yêu thương, đau khổ, dằn vặt của nhân vật được giãi bày, bộc lộ Theo dòng tâm trạng của nhân vật mà câu chuyện dần dần được hiện lên Qua những câu chuyện của người kể chuyện xưng tôi

mà những cảnh người, cảnh đời hiện ra một cách đậm nhạt khác nhau, vừa hư

vừa thực Qua câu chuyện của nhân vật tôi trong Thách đấu người đọc có thể

nhận thấy được trạng thái tâm lý, cảm xúc của những chàng trai, cô gái đang bước vào tuổi mới lớn với những cái tôi muốn thể hiện, muốn khẳng định bản thân mình Nhân vật của Bảo Ninh thường được miêu tả, xuất hiện ở lứa tuổi mười bảy, mười tám, lứa tuổi đẹp nhất của đời người Chỉ bởi một sự thách đấu, bởi những chí hướng khác nhau, những điều không thể lý giải được mà

số phận mỗi người mỗi khác, rẽ theo những hướng khác nhau: "Tất nhiên không phải là tôi hoàn toàn không hiểu Vào những năm tháng anh hùng ấy chúng ta ai cũng chí lớn như ai, nhưng rồi ra mỗi người lại bước đi trên những ngả đường tuyệt đối khác xa nhau Cái đó người ta vẫn gọi là số phận, là định

Trang 22

mệnh Đời tôi chẳng hạn, chỉ chút nữa thôi đã hướng khác rồi Có thể là tôi đã vào bộ đội, đã lâm trận, trực tiếp chiến đấu ở hàng đầu Đáng lẽ tôi đã là một người nào đó, vậy mà tôi lại là tôi như bây giờ đây Sự đời là thế, không có gì

là khó hiểu, dù vậy, thú thực tôi vẫn không hoàn toàn hiểu nổi vì sao lại thế?"[40,373-374] Cũng qua câu chuyện người kể chuyện xưng tôi chúng ta

có thể thấy được phần nào hoàn cảnh của người nông dân ở một vùng nông thôn nghèo khó làng Mơ trên đồi Giàng, của con cái nhà cán bộ trong thời kì

sơ tán Tất cả được hiện lên một cách chân thực qua những dòng cảm nhận

và hồi tưởng của người kể chuyện xưng tôi Với cái tôi kí ức, người kể chuyện có thể khơi dậy những vùng kí ức đã bị lãng quên Không chỉ cho người đọc thấy những gì mà mình kể, người kể chuyện còn cho thấy chính bản thân mình Người kể chuyện đồng thời cũng là nhân vật trung tâm của câu chuyện đang được kể lại và kí ức, dòng tâm trạng của nhân vật chính là sợi dây kết nối câu chuyện, làm cho những sự kiện, tình tiết trở nên gắn kết

Hình thức người kể chuyện ngôi thứ nhất hiện diện như một nhân vật trong truyện, trực tiếp tham gia và hiện hữu như một phần trong thế giới câu chuyện đang được kể lại, tạo được sự tin cậy nơi người đọc về những sự việc

và con người được kể đến trong câu chuyện Người kể chuyện đóng vai trò quan trọng trong việc bộc lộ tính cách nhân vật Với việc kể chuyện từ ngôi thứ nhất, nhà văn giúp người đọc đi sâu vào thế giới nội tâm nhân vật, khai thác thế giới tâm lý của nhân vật một cách tự nhiên và chân thực nhất Đây cũng chính là một cách để nhà văn khám phá chính bản thân mình Người kể

chuyện xưng tôi trong Lá thư từ Quí Sửu bên cạnh việc kể lại những gì mình

đã trải qua còn bộc lộ nỗi lòng, tâm sự của bản thân: "Từ bấy tới nay, thời gian đã mất đi nhiều năm, nhưng nỗi đau Quí Sửu vẫn mãi còn như là một hạt sạn trong kí ức tôi Những ngày Tết, ban đêm, tôi vẫn thường ngược luồng thời gian trở về với cao điểm đồi 400, nhìn thấy lại mặt sông Đác Bờ Là lấp

Trang 23

lánh ánh phản quang những buổi mai hồng, và dù là trong mơ mà lòng lại nhói đau khi gặp lại anh em đồng đội đã khuất"[40,156]; "Thỉnh thoảng, trong vùng khuất nẻo nhất của những giấc chiêm bao, tôi cũng thoáng thấy Duy Tôi vẫn luôn nhớ đến anh ta Năm tháng đã khiến cho những kỉ niệm của tôi về con người ấy phần nào biến hình đi, không còn lại sự khủng khiếp và lòng căm thù, chỉ còn lại nỗi buồn thương"[40,156-157] Người đọc như trải nghiệm cùng nhân vật, sống với những cảm xúc, tâm trạng của nhân vật Với

người kể chuyện xưng tôi nhà văn đã đi sâu vào những ngóc ngách tâm hồn,

khám phá và thể hiện những trạng thái tình cảm của nhân vật

Là một phương diện của nghệ thuật tự sự, hình tượng người kể chuyện đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần tạo nên phong cách tự sự đặc sắc của nhà văn Người kể chuyện ngôi thứ nhất vừa là người chứng kiến, vừa là người trong cuộc tham gia vào các diễn biến của câu chuyện, do đó mà người

kể chuyện có điều kiện tự do để bộc lộ tính cách, quan điểm cá nhân, chủ quan của mình Hình thức người kể chuyện ngôi thứ nhất với cái tôi tự thuật, người kể chuyện là người khơi gợi và cũng là người tham gia vào các sự kiện, biến cố của câu chuyện Người kể chuyện cũng chính là nhân vật trung tâm của câu chuyện Tự sự ngôi thứ nhất xưng tôi, nhân vật tôi thường là nhân vật chính nên tất cả mọi diễn biến của câu chuyện đều được bắt đầu từ cái nhìn của nhân vật tôi Người kể chuyện vừa mang tính khách quan khi trần thuật các sự kiện vừa mang tính chủ quan khi thể hiện thế giới nội tâm của mình, bộc lộ những suy nghĩ, tình cảm của bản thân

Trong nhiều truyện ngắn của Bảo Ninh người kể chuyện xưng tôi không kể về mình mà kể chuyện người khác Trong nhiều trường hợp người

kể chuyện xưng tôi chỉ là người dẫn dắt câu chuyện để nhân vật tôi tự kể

chuyện Ở đây người kể chuyện chỉ nghe lại câu chuyện của nhân vật tôi và

kể lại Nhà văn để nhân vật tự kể về mình và về những người khác Người kể

Trang 24

chuyện xưng tôi đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện quan điểm của tác giả cũng như tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm Khi người kể chuyện trao quyền kể chuyện cho nhân vật của mình, người kể chuyện khi đó cũng được

luân phiên dưới dạng thức nhân vật tôi kể về những gì mình đã trải qua hoặc

đã chứng kiến Các câu chuyện đó sẽ diễn ra theo một định hướng và xoay quanh ý đồ của người kể chuyện Với việc kể lại câu chuyện của người khác, người kể chuyện xưng tôi cũng bộc lộ bản thân mình qua những suy nghĩ, những cảm xúc về những trải nghiệm, những câu chuyện của nhân vật Chẳng

hạn như truyện Tiếng vĩ cầm của quân xâm lăng, người kể chuyện xưng tôi

nhưng lại kể lại chuyện của ông già Me xừ Người kể chuyện ở đây chỉ đóng vai trò dẫn dắt câu chuyện để nó diễn ra một cách liền mạch, đồng thời người

kể chuyện cũng nêu ra những cảm nhận của riêng mình, còn lại toàn bộ nội dung chính của câu chuyện thì lại do Me xừ kể lại qua những hồi ức, những kỉ niệm của chính nhân vật: " Sự xuất thần vô cớ, sự bộc bạch bỗng dưng của ông già không làm tôi ngạc nhiên Tôi cứ bình thản nghe Nghe thì gì mà không được Về cái khoản nghe người đời tâm sự thì tôi như là có năng khiếu bẩm sinh ( ) Đến đầu phố Dã Tượng, tôi và Me xừ dừng lại ở một quán cà phê vỉa hè Chúng tôi ngồi, im lặng, thìa khuấy lanh canh Bên Hỏa Lò, công trường xây dựng khách sạn vẫn đang ầm ì làm lụng ( ) Buông tiếng thở dài, ông già nói tiếp, chậm dãi ( ) Xừ Bôn nhỏm người khỏi ghế, đưa tay chỉ sâu vào khúc đường Thợ Nhuộm mà tôi với ông đã đi dọc qua vừa nãy ( ) Me xừ khịt khịt mũi ra chiều tự phụ ( ) Cốc cà phê đã cạn, và ngồi mãi đã phát nhàm nhưng ông già vẫn chưa thấy nhàm câu chuyện ( ) Ông già chật vật nới nút cà vạt Nói nhiều quá phát mệt, cái sọ hói khô khốc của ông loáng mồ hôi."[40,234-237]

Với hình thức người kể chuyện ngôi thứ nhất, câu chuyện mà người kể chuyện đang kể dù kể về bản thân mình hay kể về người khác thì cũng chứa

Trang 25

đựng trong đó những suy tư, chiêm nghiệm về cuộc đời và số phận con người trong dòng chảy lịch sử Người kể chuyện không chỉ thể hiện những cái bề nổi, hiện hữu mà còn khám phá, đi sâu vào thế giới nội tâm nhân vật Với việc trần thuật từ ngôi thứ nhất, Bảo Ninh đã tạo cho người đọc cảm giác chân thật với độ tin cậy cao, tạo sức sống nội tại cho nhân vật, nhân vật không ngần ngại bộc lộ những ước mơ thầm kín, những nỗi niềm riêng tư, những ước mơ, khát vọng qua đó người đọc có thể khám phá ra chiều sâu ẩn chứa bên trong mỗi con người

1.1.2.2 Người kể chuyện ngôi thứ ba

Tìm hiểu truyện ngắn của Bảo Ninh, bên cạnh những truyện ngắn được

kể theo ngôi thứ nhất còn một nhóm những truyện được kể theo ngôi thứ ba Với người kể chuyện ngôi thứ ba, người kể chuyện không bị phụ thuộc vào thế giới của các nhân vật trong truyện Người kể chuyện chỉ đóng vai trò quan sát nhân vật, dẫn dắt câu chuyện, đứng sau hành động để quan sát và kể lại, không trực tiếp tham gia vào các biến cố, sự kiện, tình tiết truyện Với người

kể chuyện ngôi thứ ba, điểm nhìn của người kể chuyện hầu hết là từ bên ngoài, mang tính khách quan

Với người kể chuyện ngôi thứ ba, người kể chuyện có thể kể về nhiều chuyện, nhiều người một cách khách quan và tự do nhất Với ngôi kể này người kể chuyện có thể quan sát và phản ánh các vấn đề của cuộc sống một cách đa diện, nhiều chiều, thể hiện số phận nhân vật một cách chân thực Người kể chuyện đứng độc lập, khách quan kể và miêu tả mọi việc trong tác

phẩm Truyện ngắn Bi kịch con khỉ được kể dưới dạng người kể chuyện ngôi

thứ ba Giọng kể của người kể chuyện mang tính khách quan Ban đầu cuộc sống của chú khỉ trong vườn bách thú cũng không đến nỗi nào: "Thiên hạ vui thích ném quà cho nó, khoái chí xem nó phô diễn những trò con khỉ của nó Khỉ ta dẫu dư thừa thức ăn, trở nên trơn lông đỏ da hơn bao giờ hết, nhưng

Trang 26

không vì thế mà chây ì, vẫn nhiệt tâm phục vụ, vẫn tận tâm múa may nhảy nhót Nhưng hạnh phúc ngắn ngủi, ngày vui chóng tàn, thiên hạ dần dần chán ngấy con khỉ"[40,525] Sau đó cuộc sống của con khỉ dần dần trở thành địa ngục: "Loài khỉ có bao nhiêu trò nhố nhăng thì nó đã diễn cho người ta xem tất cả rồi Bây giờ đến lượt con người dở trò với nó Thoạt đầu chỉ là do

hờ hững mà người ta quên cho nó ăn, nhưng về sau thì là một sự bỏ đói cố tình để hành hạ và chơi khăm nó"; "Bây giờ chỉ có vỏ chuối, lõi ngô với giấy kẹo, lá bánh, những lời chửi rủa và nước bọt xả vào qua song sắt Không ai thực sự là người chủ xướng trò mới mẻ này, bởi vì đây chính cống là một cuộc hành lạc tập thể Mọi người đều cực kỳ háo hức chờ xem con vật bị bạc đãi một cách bất ngờ như vậy sẽ rũ xuống ra sao "[40,525-526] Mặc dù bị hành hạ nhưng con khỉ không tuyệt vọng, nó vẫn sống Cho đến một ngày cô

bé ăn mày ở cửa ga xuất hiện, một "con điên" như cách nói của mọi người:

"Chính nó đã phá đám việc của mọi người Nó quét dọn khoảnh đất quanh chuồng Nó kiếm cây gậy dài buộc chổi tre để quét cả bên trong chuồng Nó chia cho con khỉ một nửa những thứ nó xin được Thì ra con nhãi này không chỉ là ngây độn mà là một con điên thực thụ, người ta bảo nhau thế "[40,528] Nhưng kết cục của câu chuyện thật bi thảm Cô bé đã tự tử sau khi bị con người, chính những đồng loại của mình hành hạ, làm nhục như đối với con khỉ Con khỉ cũng bắt chước cô bé và tự tử theo, dù trước đó tất cả sự hành hạ của bọn người kia không làm nó tuyệt vọng Ở đây người kể chuyện hoàn toàn đứng ngoài câu chuyện, không tham gia vào các sự kiện, biến cố của câu chuyện Người kể chuyện chỉ kể lại câu chuyện như nó diễn ra một cách hoàn toàn khách quan Với người kể chuyện ngôi thứ ba người đọc hoàn toàn không bị ép buộc vào một lối nghĩ chủ quan nào cả, người đọc có thể thấy được nội dung của câu chuyện mà nhà văn muốn truyền tải một cách khách quan, không hề gượng ép Con khỉ và cô bé không chết bởi sự đói khổ mà

Trang 27

chết bởi chính sự tàn nhẫn, vô cảm của con người, bởi không còn niềm tin vào tình cảm và lòng nhân của con người khi mà họ đối xử với đồng loại của mình như một con vật

Với cách trần thuật từ ngôi thứ ba, người kể chuyện là người biết hết mọi chuyện và giữ vai trò duy nhất trong miêu tả, kể chuyện cũng như dẫn chuyện Người kể chuyện không tham gia vào biến cố sự kiện của câu chuyện,

không bị hạn chế bởi không gian, thời gian nào Truyện ngắn Vô cùng xưa cũ

được trần thuật từ ngôi thứ ba Người kể chuyện hầu như nắm giữ mọi diễn biến của câu chuyện, nắm được suy nghĩ và nội tâm nhân vật Người kể chuyện có thể dễ dàng di chuyển điểm nhìn từ bên ngoài vào bên trong nhân vật để miêu tả những giấc mơ thầm kín của Tâm về Loan và những hồi ức,

những suy nghĩ về cha mẹ và những kỉ niệm tuổi học trò Truyện ngắn Quay lưng với người kể chuyện ngôi thứ ba người đọc không chỉ nắm được diễn

biến của câu chuyện mà còn thấy được những suy nghĩ, cảm nhận của nhân vật mặc dù người kể chuyện không tham gia vào bất cứ sự kiện nào của câu chuyện Câu chuyện về cuộc đời Vinh và cuộc sống của những người trong khu nhà Z1, Z2, về tình yêu của Vinh và Hạnh, về sự "quay lưng" oái oăm của

số phận, của hai khu nhà Z1, Z2 cứ thế hiển hiện lên trong tâm trí người đọc Những suy nghĩ của Vinh cũng được thể hiện rõ nét: "Dần dần anh đã hiểu ra

là mình không tài nào mà có thể quên được Hạnh Không bao giờ tự dứt được

ra khỏi ám ảnh những ngày hạnh phúc ấy"[40,453]

Gọi con là câu chuyện đầy xúc cảm về tình thương của người mẹ đối

với con Câu chuyện được kể với người kể chuyện ngôi thứ ba Qua những hồi ức của Tân và những lá thư mà mẹ Tân để lại có thể thấy được tình thương của người mẹ đối với những đứa con to lớn đến nhường nào Nỗi niềm của người mẹ chẳng ai hiểu, có lẽ chỉ có tấm lòng những người mẹ thương con mới thấu hiểu được Tân chỉ có thể hiểu được mẹ mình, biết được

Trang 28

nỗi niềm của mẹ, về sự buồn rầu suốt bao năm tháng của mẹ khi đọc được những dòng thư mà mẹ gửi cho Nghĩa, đứa con trai mà bà luôn mong ngóng nhưng không bao giờ còn có thể gặp lại Bao đau thương, nhớ nhung bà mẹ giấu kín trong lòng, không muốn ai phải bận tâm với nỗi lòng của mình: "Có những người con sáng giá như anh chị em Tân, mẹ là một bà mẹ hạnh phúc hơn bao bà mẹ khác Nào ngờ mẹ không hề biết thế là hạnh phúc Gương mặt

mẹ suốt bao năm trời đến tận khi nhắm mắt xuôi tay luôn lẳng lặng một vẻ chờ đợi âm thầm, rụt rè và vô vọng May thay, cũng giống như những bức thư mãi mãi ở yên dưới đáy rương bên đầu giường mẹ, nỗi đau lòng của mẹ không bao giờ thốt nên lời, người ta không biết tới Nông nỗi thương tâm bất động của một người già có cái đáng quí là không làm ai phải để ý, bởi để ý tới thì không khỏi đau thắt trong lòng và không sao mà có thể bình tâm để yên ổn sống một cách dễ chịu cho nổi"[40,492-493]

Truyện ngắn của Bảo Ninh đa phần được trần thuật từ ngôi thứ nhất, tuy nhiên người kể chuyện ngôi thứ ba vẫn được nhà văn chú ý khai thác sử dụng khi thể hiện những vấn đề thế sự, nhân sinh Với người kể chuyện ngôi thứ ba, câu chuyện sẽ trở nên chân thực và khách quan hơn Bởi nó không phải được kể bởi một con người cụ thể nào cả, nhà văn có thể dễ dàng di chuyển điểm nhìn từ nhân vật này sang nhân vật khác tạo nên sự đa diện, đa chiều cho tác phẩm

1.1.2.3 Sự đa tầng bậc người kể chuyện

Đa phần các truyện ngắn của Bảo Ninh được trần thuật từ ngôi thứ nhất Mỗi truyện kể được kể ở một ngôi nhất định, nhưng cũng có lúc tác giả đan xen giữa các ngôi kể Có thể thấy Bảo Ninh vận dụng xen kẽ các ngôi kể một cách khá nhuần nhuyễn và linh hoạt tạo sự đa dạng, phong phú trong nghệ thuật tự sự Sự đan xen các ngôi kể đồng thời với việc luân phiên, đan xen điểm nhìn tạo cho tác phẩm có nhiều tầng ý nghĩa, làm cho tự sự không diễn

Trang 29

ra theo một quan điểm duy nhất mà được thể hiện dưới nhiều góc độ, dưới quan điểm của nhiều nhân vật Điều đó làm tăng khả năng khái quát hiện thực của truyện ngắn Người kể chuyện luân phiên nhau, điểm nhìn tự sự do đó

cũng thay đổi theo Trong Tiếng vĩ cầm của quân xâm lăng, câu chuyện ban

đầu được kể ở ngôi thứ nhất với người kể chuyện xưng tôi, kể lại câu chuyện

mà mình được nghe từ ông già chủ sạp báo Nhân vật tôi là người dẫn dắt câu

chuyện, xây dựng bối cảnh gặp gỡ giữa tôi và nhân vật, sau đó tôi đã trao quyền kể chuyện cho ông già tự kể lại câu chuyện của mình Câu chuyện được ông già kể lại dưới dạng thức tự kể về những gì mà mình đã trải nghiệm,

đã chứng kiến Đó là câu chuyện về cuộc đời ông, về những người hàng xóm người Pháp, về tình yêu với cô gái Pháp bị mù chưa kịp nhen nhóm thì đã bị dập tắt vì cuộc xâm lăng của người Pháp Đan xen vào đó là những cảm nhận, những suy nghĩ của người kể chuyện xưng tôi và người kể chuyện Me xừ

Trong Gọi con, thông qua hình thức những bức thư của người mẹ Câu

chuyện được chuyển từ người kể chuyện ngôi thứ ba sang ngôi thứ nhất Những bức thư chính là những nỗi niềm của người mẹ, là câu chuyện của người mẹ kể ra Những cảm xúc, nỗi lòng của người mẹ thương con vì thế trở nên chân thực hơn bao giờ hết, khiến người đọc không khỏi xót xa và đồng

cảm: ""Người ta bảo là ở rừng thì dù nhọc mệt thế nào cũng chớ có ngủ trưa,

vì bị ngã nước đấy con ạ Hại sức lắm, mà mẹ thì ở xa chẳng lo được cho con Mẹ lại thường hay nghĩ đến cái tính liều của con Con ơi, có báo động

dù chưa tiếng tàu bay vẫn phải tăng xê xuống ngay Tránh voi chẳng xấu mặt nào Thương mẹ thương cha con phải tự thương xót lấy mình con nhé ""[40,488]; "Trước kia, đối với mẹ, sinh con trai hay con gái đều quý Nhưng bây giờ nhìn cảnh bom đạn mù trời, mẹ nghĩ giá hồi đó con sinh ra được mang phận con gái thì hơn Thời loạn thân gái cũng chẳng sướng gì, nhưng dù sao nếu phận gái thì chắc không đến nỗi bây giờ con biệt vô âm tín

Trang 30

Mẹ biết chắc con còn sống, nhưng giờ đây con ở phương nào vậy con? Sao con lại có thể im lặng lâu như thế hở con? Không một bức thư, không một tin tức nhắn nhe nào cho mẹ, sao thế hở con, Nghĩa ơi?"[40,492] Chỉ có tình

thương của người mẹ dứt ruột đẻ con ra thì mới có những tiếng gọi con như đứt từng khúc ruột, đau đớn, xót xa đến vậy

Trong truyện ngắn của Bảo Ninh, nhà văn thường trao quyền kể chuyện cho nhân vật để họ tự kể lại câu chuyện Truyện ngắn của Bảo Ninh không nhiều nhân vật nhưng đó là những nhân vật gây được ấn tượng mạnh đối với người đọc Khi trao quyền kể chuyện cho nhân vật, nhà văn đều có dụng ý nghệ thuật, để nhân vật tự thể hiện nỗi niềm, tự bộc lộ mình Đôi khi nhà văn đan xen lời kể chuyện của người kể chuyện và nhân vật Người kể chuyện do

đó có điều kiện thâm nhập sâu vào thế giới tâm hồn của nhân vật Và đôi khi người kể chuyện cũng đối thoại với độc giả tạo nên sự đa thanh, nhiều tầng

bậc cho câu chuyện Trong truyện Thời tiết của kí ức, người kể chuyện ở ngôi

thứ ba nhưng quyền kể chuyện lần lượt được trao cho các nhân vật Định, Phúc, Hoàng Và chỉ đến cuối truyện người kể chuyện xưng tôi mới xuất

hiện thông qua đoạn trữ tình ngoại đề Còn trước đó người kể chuyện xưng tôi

hoàn toàn ẩn mình đi, không can hệ gì đến các sự kiện, diễn biến của câu chuyện: "Tôi muốn nói, lẽ đời là vậy đấy Bởi vì là một nỗi đau nên quá khứ còn sống mãi Và bởi nỗi đau quá khứ còn sống mãi nên về sau ta mới có được một quãng đời êm lặng, một nếp sống bình yên, một tư duy thư thả, một tấm lòng khoan thứ và một cảm giác có hậu với cuộc đời cùng số phận"[40,114] Sự đa tầng bậc của người kể chuyện với những điểm nhìn khác nhau làm cho câu chuyện trở nên sinh động, đa chiều, tạo nên tính đa thanh cho các truyện ngắn của Bảo Ninh

Trang 31

1.2 Điểm nhìn tự sự trong truyện ngắn Bảo Ninh

1.2.1 Khái niệm điểm nhìn

Điểm nhìn trần thuật là một khái niệm văn học được nghiên cứu rất nhiều trên thế giới cũng như ở Việt Nam dưới nhiều góc độ khác nhau Trong văn học, điểm nhìn trần thuật được hiểu là: "Vị trí từ đó người trần thuật nhìn

ra và miêu tả sự vật trong tác phẩm"[15,113]

Đào Duy Hiệp trong Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại định nghĩa:

"Tiêu cự hóa (focalisation): tiêu cự hóa thực chất là điểm nhìn trần thuật, được Genette đưa ra từ 1972 trong Figure III, có nguồn gốc từ tiếng Latinh: focus nghĩa là: tiêu điểm (foyer - Pháp) "Tiêu cự hóa cho phép xác định được,

từ bên trong của một cảnh hoặc của một truyện kể, như thế nào và qua ai mà các sự kiện hoặc miêu tả được nhìn" Genette phân biệt ra ba loại tiêu cự hóa:

tiêu cự hóa zéro (cái nhìn biết tuốt); tiêu cự hóa bên trong (focalisation interne) - tức là nhìn "với" nhân vật; tiêu cự hóa bên ngoài (focalisation

externe) - các biến cố được thuật lại trung tính, khách quan Thông báo bị giới hạn ở bên ngoài: độc giả không hề biết được thế giới bên trong cũng như những suy nghĩ của nhân vật"[17,231-232] Điểm nhìn trần thuật được coi như một tiêu chí để nhận diện người kể chuyện: "Nó cho phép làm rõ từ đâu

và như thế nào, mà trong một tác phẩm văn học, các sự kiện, các nhân vật, các đối tượng lại được nhìn thấy (nhận ra) "Truyện kể được tạo nên từ nơi bắt đầu điểm nhìn""[17,106]

Vai trò của điểm nhìn trong tác phẩm tự sự là vô cùng quan trọng, mỗi truyện kể đều xuất phát từ một điểm nhìn nhất định và bởi một người kể chuyện nào đó Điểm nhìn trần thuật có mối quan hệ chặt chẽ với người kể chuyện, như một tiêu chí để nhận diện người kể chuyện Khái niệm điểm nhìn chỉ được nghiên cứu một cách toàn diện và sâu sát khi nó được gắn với ngôi

kể của người kể chuyện Điểm nhìn và người kể chuyện là hai khái niệm

Trang 32

không thể tách rời Điểm nhìn phản ánh mối quan hệ giữa người kể chuyện và đối tượng được người kể chuyện kể lại

Người ta có thể phân chia điểm nhìn thành điểm nhìn không gian và thời gian, điểm nhìn tâm lý, điểm nhìn bên trong hay bên ngoài Về cơ bản, người ta chia điểm nhìn trần thuật thành ba kiểu: điểm nhìn toàn tri, điểm nhìn bên ngoài và điểm nhìn bên trong

Điểm nhìn toàn tri là kiểu điểm nhìn trong đó người kể chuyện miêu tả, tái hiện đời sống chủ yếu từ ngôi thứ ba, người kể chuyện biết tuốt Điểm nhìn của người kể chuyện có mặt ở khắp mọi nơi, nắm bắt được hầu như diễn biến của câu chuyện cũng như số phận các nhân vật Đây là kiểu điểm nhìn cổ điển nhất, thường xuất hiện trong văn học truyền thống Người kể chuyện vừa nắm được các sự kiện khách quan đồng thời cũng thấu hiểu những bí mật thầm kín nhất của tất cả các nhân vật, nắm bắt toàn bộ câu chuyện từ diễn biến sự kiện đến nội tâm nhân vật Bên cạnh việc miêu tả sự việc, người kể chuyện còn có thể bình luận về những sự việc đó, nêu suy nghĩ, cảm nhận về những sự việc đã diễn ra

Điểm nhìn bên trong là nhân vật tự nói về suy nghĩ của mình, là sự quan sát nhân vật từ cảm nhận nội tâm của mình, trần thuật qua cái nhìn của một tâm trạng cụ thể, từ đó giúp tái hiện một cách sâu sắc đời sống nội tâm của nhân vật Điểm nhìn bên trong được biểu hiện bằng hình thức tự quan sát,

tự thú nhận của nhân vật tôi hoặc bằng hình thức người kể chuyện dựa vào cảm giác, tâm hồn nhân vật để biểu hiện cảm nhận của mình

Điểm nhìn bên ngoài là điểm nhìn khách quan nhất, người kể chuyện đứng từ ngoài để quan sát câu chuyện Nó hướng đến đối tượng là những biểu hiện, những hành động bên ngoài của nhân vật, tâm lý nhân vật không được phân tích mà để người đọc tự cảm nhận, người kể chuyện để cho người đọc tự

do bình luận về các hành động của nhân vật

Trang 33

Sự phân biệt trên đây hoàn toàn mang tính tương đối vì hầu như không

có tác phẩm nào chỉ sử dụng một điểm nhìn Trong thực tế sáng tác, đặc biệt

là các sáng tác hậu hiện đại, thay vì sử dụng một điểm nhìn cố định từ đầu đến cuối tác phẩm, các nhà văn sử dụng nhiều điểm nhìn, di chuyển linh hoạt các điểm nhìn để tạo nên tính đa thanh, phức điệu cho tác phẩm

1.2.2 Điểm nhìn tự sự trong truyện ngắn Bảo Ninh

Trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại, bên cạnh những tác phẩm xây dựng điểm nhìn quen thuộc là những hình thức xây dựng điểm nhìn mới Một trong những hiện tượng nổi bật là sự di chuyển, đan xen các điểm nhìn tự sự Việc di chuyển điểm nhìn tự sự giúp cho nhà văn có thể khám phá và chiêm nghiệm cuộc sống từ nhiều góc độ khác nhau Vì thế dịch chuyển điểm nhìn

là một thủ pháp được nhiều nhà văn hiện đại sử dụng Trong nhiều truyện ngắn của Bảo Ninh, bên cạnh việc di chuyển điểm nhìn từ người kể chuyện sang nhân vật thì điểm nhìn còn được di chuyển hết sức linh hoạt từ nhân vật này sang nhân vật khác, đôi khi có sự nhòe mờ giữa điểm nhìn của người kể chuyện và điểm nhìn nhân vật Sự dịch chuyển điểm nhìn giúp cho việc nhìn nhận và đánh giá ý nghĩa của tác phẩm trở nên đa chiều, phong phú hơn Nhà văn có thể đưa ra các quan điểm, chính kiến khác nhau bằng việc di chuyển điểm nhìn vào những nhân vật khác nhau để mỗi nhân vật có thể tự nói lên quan điểm, thái độ của mình và để cho các nhân vật cùng có quyền phát ngôn, cùng đối thoại Nhà văn để cho các điểm nhìn đan xen vào nhau, nhân vật do

đó được soi chiếu từ nhiều góc độ, toàn diện hơn về chân dung, tính cách, số phận để từ đó khái quát lên những vấn đề có tính triết lý

Trong các sáng tác của Bảo Ninh, điểm nhìn bên trong và bên ngoài thường không tách rời mà có sự di chuyển, phối hợp, luân phiên Trong quá trình kể chuyện điểm nhìn cũng được di chuyển từ người kể chuyện sang nhân vật, từ nhân vật này sang nhân vật khác, làm tăng khả năng bao quát và

Trang 34

đánh giá của tác phẩm Trong Tiếng vĩ cầm của quân xâm lăng, điểm nhìn

được di chuyển từ người kể chuyện xưng tôi sang cho nhân vật ông già Me xừ, tiếp đó theo dòng hồi ức và tâm trạng của ông già mà điểm nhìn cũng được di chuyển, đan xen giữa quá khứ và hiện tại Xen vào những lời kể của Me xừ về quá khứ, về những người Pháp, về tuổi trẻ của ông, về tình yêu mong manh của ông và cô gái Pháp là những lời trần thuật của người kể chuyện, vừa dẫn chuyện, vừa quan sát xung quanh, vừa nêu lên những cảm nhận của mình

về Me xừ và những gì ông đang kể Điểm nhìn giữa nhân vật và người kể chuyện do vậy cứ luân phiên, đan xen vào nhau, đồng thời cũng di chuyển ở nhiều vị trí từ trong ra ngoài và ngược lại theo cái nhìn của nhân vật và người

kể chuyện Sự dịch chuyển điểm nhìn giúp người đọc có thể nắm bắt được những sự việc diễn ra bên ngoài vừa thấu hiểu được những diễn biến bên trong nhân vật

Truyện ngắn Bảo Ninh sử dụng linh hoạt và phối hợp các điểm nhìn trần thuật một cách rất đặc sắc Hầu hết các truyện ngắn của Bảo Ninh có sự

di chuyển điểm nhìn đều xuất phát từ ngôi kể thứ nhất Tìm hiểu truyện ngắn Bảo Ninh có thể thấy nhà văn sử dụng khá nhiều điểm nhìn từ bên trong nhân vật, dưới dạng hồi tưởng quay về quá khứ, các sự kiện trong quá khứ được trình bày, kể lại ở thời hiện tại làm cho câu chuyện như đang xảy ra trước mắt

độc giả Rửa tay gác kiếm là truyện ngắn được kể dưới dạng người kể chuyện

ngôi thứ nhất hồi tưởng về quá khứ, điểm nhìn do vậy cũng xuất phát từ điểm nhìn của người kể chuyện, nhân vật xưng tôi Điểm nhìn của người kể chuyện

và nhân vật khi này đã có sự nhòe mờ, người kể chuyện cũng chính là nhân vật tôi Điểm nhìn trần thuật theo dòng tâm trạng nhân vật từ thời điểm hiện tại di chuyển về quá khứ Câu chuyện mở đầu với những dòng tự sự của nhân vật tôi về gia đình, bạn bè, về anh em, đồng đội: "Khi đón tôi từ mặt trận trở

về, cha mẹ còn chưa hưu trí vậy mà bây giờ cha mẹ đã ngoài bảy mươi Anh

Trang 35

em ruột thịt mỗi người mỗi phương và thấm thoắt luống tuổi cả rồi Con trai tôi tết này đã bằng tuổi tôi ngày nhập ngũ Vợ tôi, vốn được tiếng là trẻ lâu nhưng bởi nắng mưa sóng gió sinh kế đoạn trường nay cũng không còn được trẻ như mấy năm trước nữa Tôi lặn lội kiếm sống, trải nhiều nghề, rốt cuộc thành nhà văn, song văn chương gì tôi, viết lách đã chẳng bao nhiêu lại chẳng

ra thế nào, chỉ tổ ngày một thêm lạc lõng và ngày một thêm bơ phờ Thời gian

và cuộc sống nhận chìm tôi."[40,260-261]; "Anh em đồng đội kiến giả nhất phận, hàng năm trời không lần sum họp, không khỏi quên dần mất nhau."[40,261] Tiếp đó theo dòng tâm trạng nhân vật, điểm nhìn di chuyển

về quá khứ, về với toàn cảnh Tân Sơn Nhất của một ngày cuối tháng tư xa thẳm thuở xưa, về những ngày sống trong trại an dưỡng, về những người đồng đội, những người bạn học Và rồi cuối cùng điểm nhìn vẫn quy chiếu, hướng vào bên trong nhân vật tôi, với những suy tư, chiêm nghiệm về quá khứ, hiện tại và tương lai Có thể thấy hiện tượng di chuyển điểm nhìn trong truyện ngắn Bảo Ninh cuối cùng đều hướng vào bên trong nhân vật để nhà văn có thể khám phá và thể hiện số phận nhân vật Câu chuyện vì thế giàu cảm xúc hơn và thế giới nội tâm nhân vật được khai thác một cách sâu sắc

Điểm nhìn trần thuật trong các truyện ngắn của Bảo Ninh được di chuyển rất linh hoạt Nhà văn biết cách điều tiết và dịch chuyển điểm nhìn ở các vị trí khác nhau Mỗi vị trí đều có những thành công nhất định nhưng nổi bật nhất là điểm nhìn bên trong, đây là kiểu điểm nhìn xuất hiện nhiều trong truyện ngắn của Bảo Ninh Lợi thế của việc sử dụng điểm nhìn này là rất thuận lợi cho việc khắc họa thế giới nội tâm nhân vật Với phương thức xây dựng điểm nhìn như vậy, Bảo Ninh đã đóng góp tích cực cho nền văn học Việt Nam hiện đại một phong cách viết mới, lối viết hiện thực nhưng vẫn mang đậm các yếu tố trữ tình Thế giới hiện thực vẫn hiện lên qua từng trang truyện nhưng đồng thời thế giới tâm hồn nhân vật cũng được khai thác một

Trang 36

cách đầy chiều sâu

Sự di chuyển và đan xen các điểm nhìn giúp cho nhà văn có nhiều cách tiếp cận và thể hiện tư tưởng nghệ thuật của mình Nhà văn có thể đi từ câu chuyện này sang câu chuyện khác, từ thế giới tâm hồn của nhân vật này sang nhân vật khác với những trạng thái cảm xúc khác nhau mà không bị giới hạn bởi không gian, thời gian nào Sự di chuyển điểm nhìn giúp nhà văn có cái nhìn đa diện, nhiều chiều về con người và sự việc, giúp cho việc thể hiện sự phức tạp của cuộc sống muôn mầu Tất cả được soi chiếu dưới những góc nhìn khác nhau Thế giới tâm hồn của nhân vật vừa được bộc lộ bởi chính nhân vật, vừa được soi chiếu bởi các nhân vật khác Câu chuyện do đó mà trở nên phong phú và khách quan hơn

Một đặc điểm nổi bật trong truyện ngắn của Bảo Ninh đó là sự di chuyển, đan xen điểm nhìn giữa các chiều không gian, thời gian quá khứ, hiện tại Xen kẽ câu chuyện hiện tại là những câu chuyện thời quá khứ Với lối trần thuật theo dòng ý thức, nhân vật có thể di động điểm nhìn hết sức linh hoạt, không tuân theo một trật tự nào cả mà chỉ tuân theo trật tự của dòng tâm lý Trong cùng một nhân vật bằng việc di chuyển điểm nhìn cho nhân vật tự kể, trong những thời gian và không gian khác nhau giúp cho việc thể hiện tính cách và số phận nhân vật được biểu hiện hiệu quả, đồng thời mở rộng khả năng bao quát, đánh giá của tự sự, làm tăng hiệu quả biểu đạt của tác phẩm, lời văn trần thuật trở nên khách quan, có sức hấp dẫn người đọc Điều đó cũng góp phần làm cho tư tưởng, chủ đề tác phẩm trở nên sinh động, gợi lên nhiều liên tưởng ở người đọc

*Tiểu kết: Việc tìm hiểu người kể chuyện và điểm nhìn tự sự trong

truyện ngắn Bảo Ninh góp phần không nhỏ vào việc khẳng định sự độc đáo, hấp dẫn trong nghệ thuật tự sự của nhà văn Bên cạnh một số truyện được trần thuật từ ngôi thứ ba thì đa phần các truyện ngắn của Bảo Ninh được trần thuật

Trang 37

từ ngôi thứ nhất Với người kể chuyện ngôi thứ nhất, nhà văn có thể tái hiện quá trình tâm lý, các trạng thái tinh thần phong phú của con người, tạo cho người đọc cảm giác chân thực, độ tin cậy cao và thái độ đồng cảm cùng với những lời giãi bày tâm sự của nhân vật với sự chân thành và đáng nhớ Cùng với đó nhà văn Bảo Ninh cũng rất linh hoạt trong việc kể chuyện khi tạo nên

sự đa tầng bậc của người kể chuyện trong quá trình kể chuyện Các câu chuyện do đó trở nên phong phú và đa dạng hơn

Trong các truyện ngắn của mình, Bảo Ninh không sử dụng điểm nhìn trần thuật một cách cứng nhắc mà luôn có sự di chuyển một cách linh hoạt, đầy biến hóa Nhà văn luôn có ý thức di chuyển điểm nhìn trần thuật giữa các nhân vật để tạo nên một cái nhìn đa chiều về hiện thực và con người Điểm nhìn trần thuật được di chuyển liên tục từ nhân vật này sang nhân vật khác, khi là điểm nhìn bên trong, khi là điểm nhìn bên ngoài và ngược lại, điểm nhìn di chuyển giữa các chiều không gian và thời gian Với cách tổ chức điểm nhìn như vậy, Bảo Ninh đã thể hiện được tài năng trong việc kể chuyện, dẫn chuyện của mình, và đặc biệt là khả năng thâm nhập sâu vào đời sống nội tâm nhân vật để phản ánh được những góc khuất trong tâm hồn nhân vật

Trang 38

CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT VÀ CỐT TRUYỆN TỰ SỰ

TRONG TRUYỆN NGẮN BẢO NINH 2.1 Nhân vật trong truyện ngắn Bảo Ninh

2.1.1 Khái niệm nhân vật

Nhân vật là một trong những vấn đề quan trọng của văn học Văn học không thể thiếu nhân vật, đó là phương tiện để nhà văn thể hiện tư tưởng cũng như ý đồ nghệ thuật của mình Nhân vật là một hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ Nhân vật giữ vai trò quan trọng trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng của tác phẩm, đồng thời thông qua nhân vật nhà văn thể hiện quan điểm của mình về con người và cuộc sống Nhà văn Tô Hoài cho rằng: "Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác"[22,62]

Lại Nguyên Ân định nghĩa nhân vật là: "Hình tượng nghệ thuật về con người, một trong những dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có khi còn là các con vật, các loài cây, các sinh thể hoang đường được gán cho những đặc điểm giống với con người"[2,249] Nhân vật văn học có thể có tên hoặc không có

tên, được miêu tả một cách chi tiết hoặc thoáng qua Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì nhân vật văn học là: "Con người cụ thể được miêu tả trong tác

phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm, Cám, chị Dậu, anh Pha), cũng có thể không có tên riêng ( ) Khái niệm nhân vật có khi được sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào cả, mà chỉ một hiện tượng nào đó trong tác phẩm"[15,235] Nhân vật văn học: "Là phương thức nghệ thuật nhằm khai thác những nét thuộc đặc tính con người, nhân vật có ý nghĩa trước hết ở các loại văn học tự sự và kịch, ở sân khấu, điện ảnh, điêu khắc, hội họa, đồ họa Các thành tố tạo nên nhân vật gồm: hạt nhân tinh thần của cá nhân, tư tưởng, các lợi ích đời sống, thế giới cảm xúc, ý chí, các hình

Trang 39

thức ý thức và hành động"[2,249-250] Nhân vật là "phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng"[10,126] Thông qua nhân vật nhà văn thể hiện những quan điểm, nhận thức của mình về hiện thực xã hội và con người Nhân vật văn học cũng chính là cầu nối giữa văn học và cuộc sống Hà Minh Đức cho rằng: "Nhà văn sáng tạo nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một cá nhân nào đó, về một loại người nào đó, về một vấn đề nào đó của hiện thực"[11,126]

Nhân vật là một trong những yếu tố hàng đầu của truyện ngắn, là sự thể hiện quan niệm của nhà văn về con người Truyện ngắn ngoài khả năng tái hiện đời sống xã hội còn có khả năng đi sâu khám phá những vấn đề về số phận con người Mỗi nhân vật thể hiện một quan niệm cá nhân của nhà văn

"Nhân vật văn học còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lý tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người Vì thế, nhân vật luôn gắn chặt với chủ đề của tác phẩm"[15,236] Nhân vật đóng vai trò quan trọng trong tác phẩm, là phát ngôn cho tư tưởng của nhà văn

Nhân vật thể hiện quan điểm, tư tưởng của nhà văn về cuộc đời Tìm hiểu nhân vật là tìm hiểu những vấn đề và quan điểm mà nhà văn muốn truyền tải thông qua nhân vật Nhân vật là tấm gương phản ánh cuộc sống, tuy nhiên không thể đồng nhất nhân vật với con người thực ngoài đời "Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với con người có thật trong đời sống"; "Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là

khái quát tính cách của con người"[15,235] Trong 150 thuật ngữ văn học, Lại

Nguyên Ân cũng cho rằng: "Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật, nó mang tính ước lệ, không thể bị đồng nhất với con người có thật, ngay cả khi tác giả xây dựng nhân vật với những nét rất gần với nguyên mẫu có thật Nhân vật văn học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người; nó có thể được xây dựng chỉ dựa trên cơ sở quan niệm ấy Ý nghĩa của

Trang 40

nhân vật văn học chỉ có được trong hệ thống một tác phẩm cụ thể Vai trò và đặc trưng của nhân vật văn học bộc lộ rõ nhất trong phạm vi vấn đề "nhân vật

và tác giả""[2,250] Tùy mục đích biểu hiện mà nhà văn có thể miêu tả nhân vật một cách chi tiết hoặc sơ lược Đó không phải là sự mô phỏng một cách cứng nhắc con người ngoài đời thực mà đó là những nhân vật đã được nghệ thuật hóa để phù hợp với ý đồ tư tưởng, nghệ thuật của nhà văn

2.1.2 Nhân vật trong truyện ngắn Bảo Ninh

2.1.2.1 Nhân vật cô đơn, lạc thời và lạc loài

Khảo sát truyện ngắn của Bảo Ninh, chúng tôi thấy có một kiểu dạng nhân vật đáng chú ý đó là kiểu nhân vật cô đơn, lạc thời và lạc loài Đó là những người lính trở về sau chiến tranh, trở nên cô đơn, lạc lõng trong cuộc sống hiện tại Họ không thể hòa nhập với cuộc sống hiện tại và tìm cách lánh

xa khỏi cuộc sống ấy Hay có những người lính trở về, vẫn hòa nhập, vẫn sống trong cộng đồng nhưng họ lạc lõng giữa cuộc đời Những người lính tuy

đã bước ra khỏi cuộc chiến tranh nhưng những vết thương trong tâm hồn họ vẫn còn đó không thể nào mất đi được Họ giữ trong mình những hồi ức, những kỉ niệm về chiến trường, về đồng đội, về bạn bè, về một thời đã qua nhưng không bao giờ là lãng quên Cuộc sống hiện tại đầy những lạc lõng bủa vây lấy họ Mỗi người đều cô đơn trong nỗi niềm riêng

Nói đến kiểu nhân vật cô đơn trong truyện ngắn Bảo Ninh trước hết phải nói đến nhân vật người lính bước ra khỏi chiến tranh và đối mặt với cuộc sống thời hậu chiến Những tưởng sau bao nhiêu gian khổ, hy sinh, người lính được trở về với cuộc sống hòa bình với bao niềm vui thì họ lại bị mất thăng bằng trước cuộc sống mới Sau những giờ phút hân hoan, hạnh phúc của buổi đầu độc lập là những giây phút người lính nhận ra sự hụt hẫng, lạc lõng giữa cuộc sống mới đầy khắc nghiệt Có những người lính trở về nhưng bơ vơ giữa

cuộc đời khi không còn một người thân nào cả như Mộc (Trại bảy chú lùn),

Ngày đăng: 06/07/2015, 16:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thái Phan Vàng Anh: Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn đương đại, Tạp chí sông Hương, số 237/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn đương đại
2. Lại Nguyên Ân: 150 thuật ngữ văn học, NXB ĐHQG Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
3. Nguyễn Minh Châu: Trang giấy trước đèn, NXB Khoa học Xã hội, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang giấy trước đèn
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
4. Nguyễn Minh Châu: Tuyển tập truyện ngắn, NXB Văn học, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn
Nhà XB: NXB Văn học
5. Đoàn Ánh Dương: Bảo Ninh - nhìn từ thân phận truyện ngắn, http://giaitri.vnexpress.net/tin-tuc/sach/lang-van/bao-ninh-nhin-tu-than-phan-cua-truyen-ngan-1971939.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo Ninh - nhìn từ thân phận truyện ngắn
6. Đặng Anh Đào: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại, NXB Giáo dục, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
7. Phan Cự Đệ: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, NXB Giáo dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
8. Phan Cự Đệ (chủ biên): Văn học Việt Nam thế kỷ XX – những vấn đề lịch sử và lý luận, NXB Giáo dục, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX – những vấn đề lịch sử và lý luận
Nhà XB: NXB Giáo dục
11. Hà Minh Đức (chủ biên): Mấy vấn đề lý luận về văn nghệ trong sự nghiệp đổi mới, NXB Sự thật, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý luận về văn nghệ trong sự nghiệp đổi mới
Nhà XB: NXB Sự thật
12. Hà Minh Đức: Những thành tựu của văn học Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 7/2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thành tựu của văn học Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
13. Ngô Văn Đức: Ngâm khúc quá trình hình thành phát triển và thi pháp thể loại, NXB Thanh niên, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngâm khúc quá trình hình thành phát triển và thi pháp thể loại
Nhà XB: NXB Thanh niên
14. G.N. Pôxpêlôp (chủ biên), (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Lê Ngọc Trà dịch và giới thiệu): Dẫn luận nghiên cứu văn học, NXB Giáo dục, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận nghiên cứu văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
16. Võ Thị Hảo: Người sót lại của rừng cười, NXB Phụ nữ, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người sót lại của rừng cười
Nhà XB: NXB Phụ nữ
17. Đào Duy Hiệp: Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại, NXB Giáo dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học từ lý thuyết hiện đại
Nhà XB: NXB Giáo dục
18. Đỗ Đức Hiểu: Đổi mới phê bình văn học, NXB Khoa học – Xã hội, NXB Mũi Cà Mau, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phê bình văn học
Nhà XB: NXB Khoa học – Xã hội
19. Đỗ Đức Hiểu: Thi pháp học hiện đại, NXB Hội nhà văn, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp học hiện đại
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
21. Nguyễn Thái Hòa: Những vấn đề thi pháp của truyện, NXB Giáo Dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Nhà XB: NXB Giáo Dục
22. Tô Hoài: Nghệ thuật và phương pháp viết văn, NXB Văn học, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật và phương pháp viết văn
Nhà XB: NXB Văn học
23. Trần Quang Huy: Nước mắt đỏ, NXB Lao động, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nước mắt đỏ
Nhà XB: NXB Lao động
24. Lê Minh Khuê (tập truyện ngắn): Nhiệt đới gió mùa, NXB Hội nhà văn, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhiệt đới gió mùa
Nhà XB: NXB Hội nhà văn

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w