1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Không gian nông thôn qua một số tác phẩm điện ảnh chuyển thể ( Mùa len trâu, Thương nhớ đồng quê và Cánh đống bất tận)

109 1,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy được bao bọc trong không khí, khung cảnh làng quê cụ thể nhưng dường như bất cứ người con nào được sinh ra từ nông thôn hay thậm chí chưa một lần đặt chân xuống bùn đất cũng vẫn như

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Mã số: 60 22 01 20

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lý Hoài Thu

Hà Nội - 2014

Trang 3

Mặc dù tôi đã cố gắng nhưng luận văn vẫn còn nhiệt thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 19/12/2014

Học viên Hoàng Thị Dung

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

1.Lý do chọn đề tài 5

2 Lịch sử vấn đề 8

3 Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu 16

4 Phương pháp nghiên cứu 17

5 Cấu trúc luận văn 17

Chương 1 KHÁI LƯỢC CHUNG VỀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT 19 1.1 Một số vấn đề lí thuyết về không gian 19

1.2 Không gian nông thôn từ tác phẩm văn học sang điện ảnh qua ba tác phẩm 23

Tiểu kết 31

Chương 2 CÁC KIỂU KHÔNG GIAN NÔNG THÔN QUA BA TÁC PHẨM 32

2.1 Không gian thiên nhiên 32

2.2 Không gian xã hội 44

2.3 Không gian tâm tưởng 57

Tiểu kết 68

Chương 3: PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN HỆ THỐNG KÝ HIỆU KHÔNG GIAN NÔNG THÔN QUA BA TÁC PHẨM 69

3.1 Khái quát chung về ký hiệu không gian nông thôn 69

3.2 Đối lập và tương đồng trong hệ thống quan hệ không gian nông thôn 72

3.2.1 Mô hình không gian tương đồng 72

3.2.2 Mô hình không gian đối lập 86

Tiểu kết 99

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 103

Trang 5

[1995] Thương nhớ đồng quê

Đạo diễn: Đặng Nhật Minh

Diễn viên: Tạ Ngọc Bảo, Lê Vân, Thúy Hường

Kịch bản: Dựa theo truyện ngắn “Thương nhớ đồng quê” và “Những

bài học nông thôn” của Nguyễn Huy Thiệp

Hãng sản xuất: Hãng phim truyện Việt Nam

Thể loại: Tâm lí

Xếp loại: PG

Giải thưởng:

Liên hoan phim Việt Nam 1996: Đạo diễn xuất sắc nhất

Liên hoan phim Nantes (Pháp): Giải khán giả

Liên hoan phim Châu Á – Thái Bình Dương tại New Zealand 1996: Giải Kodak

Độ dài: 120 phút

Trang 6

[2004] Mùa len trâu

Đạo diễn: Nguyễn Võ Nghiêm Minh

Sản xuất: Jean Bréhat

Tác giả: Nguyễn Võ Nghiêm Minh

Diễn viên: Lê Thế Lữ

Nguyễn Thị Kiều Trinh

Nguyễn Hữu Thành

Kra Zan Sram

Giải thưởng:

Giải đặc biệt ở LHP Locarno, Thụy Sĩ

Giải đạo diễn xuất sắc nhất ở LHP Chicago, Mỹ

Giải cao nhất, Grand prix của LHP Amiens, Pháp

Giải đặc biệt của LHP Amazonas, Brasil

Trang 7

[2010] Cánh đồng bất tận

The Floating Lives

Đạo diễn: Nguyễn Phan Quang Bình

Diễn viên: Dustin Nguyễn, Đỗ Thị Hải Yến, Võ Thanh Hòa, Ninh Dương Lan Ngọc

Kịch bản: Ngụy Ngữ

Sản xuất: Ngô Thị Bích Huyền, Ngô Thị Bích Hạnh

Giải thưởng: Cánh diều vàng 2010 cho nhạc sĩ phim truyện nhựa Cánh diều vàng 2010 cho diễn viễn nữ chính phim truyện nhựa Cánh diều vàng 2010 cho diễn viên nam phụ phim truyện nhựa Cánh diều bạc 2010 phim truyện nhựa

Giải báo chí bình chọn cánh diều vàng 2010

Trang 8

MỞ ĐẦU

1.Lý do chọn đề tài

Vấn đề không gian trong tác phẩm văn học ngày càng thu hút sự chú ý giới nghiên cứu nói riêng và những người quan tâm tới văn học nói chung Không gian giờ đây không chỉ gói gọn trong chức năng làm “phông nền” cho nhân vật hành động Thi pháp học hiện đại coi không gian là “hệ quả của những quan niệm coi tác phẩm như một không gian được khu biệt theo một cách nào đó, phản ánh trong cái hữu hạn của mình một đối tượng là thế giới bên ngoài tác phẩm” [18,376] Không gian, xuất phát là một công cụ “phục vụ sáng tác” nay trở thành một “đối tượng nhận thức” Không gian từ trong bản thân nó đã có đời sống riêng, tồn tại độc lập, khách quan đối với cốt truyện,

nhân vật

Truyện ngắn Thương nhớ đồng quê cùng với Những bài học nông

thôn hay Chăn trâu cắt cỏ đều là những tác phẩm nằm trong chùm truyện

ngắn viết về nông thôn của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp Cánh đồng bất tận

của Nguyễn Ngọc Tư lại là một Nam Bộ hết sức phóng khoáng và sống động Tác phẩm là một khoảnh nhỏ trong tập truyện cùng tên của Nguyễn Ngọc Tư mang nhiều nét đặc trưng về không gian nông thôn vùng đất cực Nam Tổ

quốc Còn Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam là một Nam Bộ được thể hiện hết sức sống động Mùa len trâu mang trong mình nhiều nét đặc trưng về không gian nông thôn miền Tây Nam Bộ Tuy ba tác phẩm không cùng tác

giả, không cùng viết về một vùng đất nhưng lại cùng giống như lọn gió nhỏ xuyên thấm, lay động đến phần tình cảm sâu kín của mỗi người về sông nước,

về đàn trâu, về những thân phận rong ruổi trên miền sông nước vùng đồng

Trang 9

bằng Nam Bộ; về cánh đồng, lũy tre làng hay chiếc giếng khơi mát trong vùng đồng bằng Bắc Bộ – thế giới đó không khác là bao một thế giới thiên thai, quá vãng mà nơi đó cái bản ngã tinh khôi của con người còn được lưu giữ

Viết về nông thôn, Nguyễn Huy Thiệp có không ít truyện ngắn nhưng

không phải tác phẩm nào cũng như Thương nhớ đồng quê được Đặng Nhật

Minh chú ý “thoạt tiên tôi thấy ở truyện ngắn này một không gian điện ảnh đầy gợi cảm (…) Dưới con mắt tôi đó là truyện ngắn giàu chất điện ảnh nhất của Nguyễn Huy Thiệp” [47] Đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình cùng nhà quay phim Lý Thái Dũng đã bỏ nhiều tâm huyết và công sức đi thực tế nhiều

lần để có được những hình ảnh tuyệt vời của thiên nhiên miền Tây cho Cánh

đồng bất tận Bối cảnh trong phim được thể hiện trong những điều kiện tuyệt

đối tự nhiên, vì thế không chỉ sinh động mà còn rất giản dị và gần gũi Còn

như Mùa len trâu với vẻ đẹp của một “nông thôn Việt Nam đích thực” đã

khiến không ít khán giả dường như rơi vào thế bị động bởi không thể từ chối một ấn tượng mạnh và bị cuốn hút bởi sự phóng khoáng tuyệt vời của phong cảnh thiên nhiên nơi đất Mũi Chính đạo diễn – biên kịch Nguyễn Võ Nghiêm Minh đã thốt lên khi thực hiện bộ phim: “Tôi đã say với trời nước Cà Mau”

“Trong Hương rừng Cà Mau, tôi đã thấy một vẻ đẹp rất đặc biệt của một

không gian bị nước bao phủ Tôi rất thích hình ảnh và những triết lý về nước

Đó là biểu tượng của sự chết Bởi mùa nước nổi không có đất để chôn nên người ta dì, xác người ở dưới nước, trâu bò chết mục ra Nhưng nó cũng là biểu tượng của sự sống vì người nông dân phải nhờ có nước để sống Mặt khác, tôi cảm nhận được nước còn là biểu tượng của thời gian trôi qua và thời gian mang tính chất lịch sử đang trên đà bị mất đi” Một không gian thuần Việt khiến đạo diễn nhận xét: “Bố trí tự nhiên thì mạnh mẽ vô cùng ( ) Tôi

Trang 10

đã cố tránh né những phong cảnh có vẻ bưu thiếp, những góc quay hiện đại, những cảnh quay mang tính thị hiếu”

Từ truyện lên phim không phải nhanh chóng trong tích tắc nhưng một nhà văn và một nhà làm phim lại có mối tương liên trong cách nhìn về không gian nông thôn, đau đáu những nỗi niềm riêng tây cùng nhau Tuy nhiên, vẫn

có những điểm khu biệt ở những nghệ sĩ, do cách diễn đạt khác nhau, cũng như giới hạn về loại hình tác phẩm nghệ thuật mà họ sử dụng là không giống nhau Đúng như M Duras – người được mê ̣nh danh là “người đàn bà lai” với

“lối viết lai ta ̣o” giữa văn chương và điê ̣n ảnh đã nói: “Trước sách, là hư vô Trước phim là sách Nói vậy không có nghĩa là hạnh phúc – phim và hạnh phúc – sách là như nhau Tôi nghĩ tôi đã có lơ là những cuốn sách, vì tính hằng hà bao la của chúng Tôi coi điện ảnh như một hỗ trợ của việc viết, nghĩa là thay vì viết trên giấy trắng, người ta viết trên hình ảnh”

Tuy cùng nằm trên dải đất Việt Nam nhưng nông thôn đồng bằng Bắc

Bộ và đồng bằng Nam Bộ với cơ địa và vỉa tầng văn hóa không giống nhau tạo nên nhiều đặc trưng ấn tượng cho mỗi vùng ở cả hai loại hình tác phẩm

truyện ngắn cũng như điện ảnh Mùa len trâu, Thương nhớ đồng quê và

Cánh đồng bât tận đã gợi tả những nét cơ bản nhất nhưng cũng đặc sắc nhất

của mỗi vùng miền và dù có khác biệt do khoảng cách địa lý nhưng người thưởng thức vẫn tìm được sự đồng điệu trong xúc cảm, tâm hồn Đó chính là điểm gặp gỡ lớn nhất do mẫu số chung là không gian nông thôn đem lại

Tuy được bao bọc trong không khí, khung cảnh làng quê cụ thể nhưng dường như bất cứ người con nào được sinh ra từ nông thôn hay thậm chí chưa một lần đặt chân xuống bùn đất cũng vẫn như thấu hiểu được tiếng nói thì

thầm từ tâm linh, thoát khởi bởi những lưu luyến đối với quê hương từ Mùa

len trâu, Thương nhớ đồng quê hay Cánh đồng bất tận Trong các truyện

Trang 11

ngắn, cả nhà văn Sơn Nam, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp và nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đều cất công đặt vào những trang viết của mình từng hơi thở của đất, của người nơi thôn dã Mỗi chi tiết, nhỏ thôi nhưng thấm đượm từng mảnh hồn quê – cái mà thế giới hiện đại ngoài kia đã bị khói bụi thổi bay Khi lên màn ảnh thì cái không khí, khung cảnh làng quê ấy hiển hiện, bằng thị giác, trực tiếp vẽ lên những gì đã được các nhà văn phác họa Cùng có điểm chung

là tính tổng hợp cao và với thế mạnh của mỗi loại hình, hồn cốt của không gian làng quê không hề thay đổi, mà ngược lại, văn học và điện ảnh cùng thu vào mình các thành tựu của các nghệ thuật khác, thâm nhập, ảnh hưởng lẫn nhau, cùng thẩm thấu, bổ sung làm cho nhau thêm phong phú, đọng lại nhiều hơn những dư ba sâu lắng trong tâm hồn người tiếp nhận Thế giới sâu thẳm bên trong không gian nông thôn với những rung động tế vi, thức tỉnh ta giá trị làm người và những suy nghĩ về con người, cuộc sống

2 Lịch sử vấn đề

Thương nhớ đồng quê – tác phẩm văn học cũng là bộ phim cùng tên

Thương nhớ đồng quê có đề cập tới biểu tượng cánh đồng mà tác giả Đỗ

Phương Thảo cho rằng đó là sự gặp gỡ trong nhận thức giữa Nguyễn Huy Thiệp và Đặng Nhật Minh Không hề phủ nhận đây là hình ảnh gây ấn tượng

đậm nét trong lòng độc giả cũng như khán giả của truyện và phim Thương

nhớ đồng quê Cánh đồng trở thành cái nôi lưu giữ những hoài niệm đã thôi

xa của con người “Thương nhớ đồng quê là một hoài niệm, một nỗi đau

đớn, niềm thương nhớ xót xa về một thế giới đã mất và con người tìm lại như thể tìm lại cái bản nguyên của chính mình” [43], Đỗ Phương Thảo nhận xét Cánh đồng có lúc phân hóa, được triển khai thành một hệ thống các yếu tố cùng cấp độ nhưng có hướng nghĩa khác nhau: “đồng quê”, “làng quê”; “cánh

Trang 12

đồng”, “cánh đồng màu”, “cánh đồng lòng”, “cánh đồng người”, “cánh đồng hoang”, và cuối cùng trở thành một tượng trưng trong kết thúc bi thảm:

“Đám ma em gái trên đồng” Cánh đồng cũng là hình tượng được chi tiết hóa, chứa hàng loạt các yếu tố thuộc cấp độ nhỏ hơn như: lúa, mùi lúa, đất, bùn non, bờ ruộng, ếch, côn trùng, tiếng sáo diều, giá thóc, giá nông phẩm, Đó

là thế giới nông thôn giản dị, thuận theo tự nhiên mà mỗi sự vật đều có đời

sống tự nó và riêng mình nó

Đỗ Phương Thảo cho rằng: Khi chuyển hóa ngôn ngữ từ tác phẩm văn học thành tác phẩm điện ảnh thì biểu tượng Đồng quê về cơ bản vẫn sử dụng những biến thể chính của tác phẩm văn học mà chất liệu thông qua đó chính

là hình ảnh Tác giả bài viết còn chỉ thêm tính “lưỡng tính” của biểu tượng cánh đồng – “phần đêm và phần ngày” (theo cách nói của J.Chevalier) Cánh đồng là không gian sống tự nhiên, chốn bình yên nương náu Trong truyện, điều này đã được khẳng định ngay trong lời giới thiệu của Nhâm như hàm ý

xác nhận về nhân thân, gốc gác: “Tôi là Nhâm Tôi sinh ra ở làng quê, lớn lên

ở làng quê” Từ cánh đồng hiện hữu đã được trừu tượng hóa thành “cánh đồng lòng”, “cánh đồng người”, là nơi của “những lời rên rỉ côn trùng”, của

“tiếng sáo mục đồng nhỏ nhoi, phiêu bồng”,

Trong phim, hàm ý trên được thể hiện rõ nét trong cảnh Nhâm đi bắt

ếch trong đêm mưa, cảnh em Minh đọc bài thơ “Cánh đồng quê tôi” và cũng

được thể hiện qua lời nhân vật Quyên: “Những ngày sống nơi đất khách quê người, chị không biết mình là ai, mình ở đâu tới nhưng bây giờ chị hiểu rằng,

dù đi đâu, ở đâu, chị cũng là một phần của mảnh đất này” hay ở cuối bộ phim, cảnh Nhâm trên đường xuất ngũ với lá thư phất phơ trong làn gió của thung lũng xanh: “Tôi tên là Nhâm Tôi thương nhớ làng quê của tôi Và tôi sẽ trở về ”

Trang 13

Cũng theo Đỗ Phương Thảo thì cánh đồng còn là không gian trú ngụ của bóng tối với những khuất lấp đáng buồn, của đời sống nghèo nàn Nhân vật tôi đã không nguôi trăn trở về: “nỗi nhọc nhằn đầy mặt đất – sự vô nghĩa trắng trợn đầy mặt đất – những số phận hắt hiu đầy mặt đất” và cả “cánh đồng

hoang của mê muội và cái ác nhởn nhơ”, có những “bờ ngang bờ dọc lầm

lạc”, chứng kiến những lần “phá sản”, “những vết sẹo” cứ đeo bám mãi lên thân phận người nông dân Nguyễn Huy Thiệp nhìn đồng quê dưới cả hai thái cực ánh sáng và bóng tối, kết thúc truyện ngắn là một sự “vô nghĩa” của “tôi” cùng bao ngổn ngang những hoài nhớ Hoài niệm ấy khoác lên không chỉ nhân vật tôi mà còn cả chị Ngữ, đại diện cho những con người luôn hướng tới một chân trời khác và viễn vọng – nơi có vòng cung Đông Sơn xa mờ

Khi lên phim tất cả những mặt phải, mặt trái của nông thôn làng quê Việt Nam giai đoạn vần mình thay đổi đều được chuyển tải khá trung thành như những gì đã có ở truyện ngắn Thân phận con người nhỏ bé, liêu xiêu, lặng lẽ và chấp nhận Đàn ông bỏ ra thành phố phiêu bạt, phụ nữ thì ở nhà sống vật vờ như cái bóng, chỉ biết đợi chờ và chờ đợi Đỗ Phương Thảo nhận định, kết thúc phim có phần bi kịch hơn nguyên tác khi mà khép lại cảnh phim cuối cùng đã không có cánh cửa nào được mở ra cho cuộc sống nhọc nhằn của các nhân vật Nhâm đi nghĩa vụ khi mà em gái vừa mất, mẹ vô cùng đau lòng, chị dâu vẫn mang nỗi hờn giận khôn nguôi Nhâm đinh ninh trong

dạ rằng sẽ trở về, nhưng liệu sau đó rồi sẽ ra sao? Nông thôn muôn đời với

“bao tháng ngày trôi đi, bao kiếp người trôi đi, sự khéo léo của ngôn từ nào kể lại được ” liệu có khác?

Tóm lại, Đỗ Phương Thảo trong bài viết của mình đã tập trung vào hình tượng cánh đồng, coi đó nhân tố chung, “là sự gặp gỡ trong nhận thức” giữa nhà văn Nguyễn Huy Thiệp và nhà viết kịch – đạo diễn Đặng Nhật

Trang 14

Minh Điều này đúng nhưng chưa đủ, bởi theo lời chính đạo diễn phim thì cái

giúp Thương nhớ đồng quê từ truyện lên phim không chỉ đơn thuần là hình

tượng cánh đồng như trên đã dẫn mà đó chính là “không gian điện ảnh gợi cảm”, mà ở đây, theo chúng tôi, là không gian làng quê được nhà văn thổi vào luồng sinh khí rất sống động Chúng tôi tán đồng với ý kiến của Như Hải Quỳnh: “Ngôn ngữ trong văn chương của Nguyễn Huy Thiệp gần với điện ảnh bởi sự cô đọng, có hình ảnh rõ ràng, khi đọc chúng ta nhìn thấy rõ những hình ảnh như chính bộ phim đang xem” [40]

Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư ra mắt độc giả lần đầu tiên

trên báo Văn nghệ (số ra ngày 23/8/2005) Từ khi xuất hiện, truyện ngắn này

đã thu hút nhiều sự chú ý của dư luận Cuộc sống Nam Bộ thực tại bước vào trang sách như chính nó vốn có, đậm màu sắc địa phương, vùng miền Bộ phim của đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình và nhà quay phim Lý Thái

Dũng ban đầu lấy tên là Sông nước sau khi phát hành đổi thành Cánh đồng

bất tận Khán giả có thể cảm nhận từ những khung hình cuộc sống đồng bằng

sông Cửu Long, vùng nước nổi – từ những nơi rất đẹp, lãng mạn của Cần Thơ đến vùng hoang vắng của Cà Mau, cho đến miền Tây sát biên giới Campuchia Chuyện phim xảy ra ở miền Tây Nam Bộ, nơi có ông Võ chân chất thôn quê với đàn vịt chạy đồng, kết hôn cùng cô gái xinh đẹp có “nụ cười tỏa sáng cả khúc sông” và “làn da trắng như bông bưởi” Tuy nhiên vợ ông chỉ là “quá giang một khúc đời rồi đi” Hận vợ phụ tình, ông Võ đốt nhà, đưa theo hai đứa con bắt đầu cuộc sống du mục Cuộc hành trình của các nhân vật nói lên nhiều điều Họ chối bỏ đồng ruộng như chối bỏ quá khứ cần phải gột rửa, để rồi hết ngày này qua ngày khác tìm kiếm miếng cơm manh áo mưu sinh trên những dòng sông, những cánh đồng bất tận Đến khi, ngay cả với đàn vịt, cánh đồng cũng hắt hủi, con người tiếp tục trên cánh đồng lưu lạc; đến khi thực sự đến độ tha hóa thì lương tâm ẩn sâu trong họ chợt bừng tỉnh

Trang 15

Họ muốn trở về cánh đồng của ngày xưa; nhưng đó chỉ là bi kịch của sự

không thành Đoàn Ánh Dương, tác giả bài viết Cánh đồng bất tận, nhìn từ

mô hình tự sự và ngôn ngữ trần thuật bằng cách nhìn lại lịch sử hình thành

vùng đất Nam Bộ màu mỡ của phù sa và lịch sử để thấy rằng, từ bao đời nay, người dân nơi đây phải chọn kiếp sống trôi dạt theo sông nước Nguyễn Ngọc

Tư chọn cho mình chủ đề cánh đồng, tác giả bài viết cho rằng “chị đã chọn vào cái vỉa sâu nhất của trầm tích và văn hóa vùng này, và lập tức chất người

xa xưa cái tiềm thức ngủ quên ấy được đánh thức và chảy ra theo ngòi bút, đưa cánh đồng “luận đề” thành cánh đồng đời, chất thời sự thành chất vĩnh cửu bởi tính người sâu xa của nó” [7] Còn Bùi Việt Thắng nhận định: Nguyễn Ngọc Tư đã xây dựng nên biểu tượng cánh đồng như một biểu tượng

thường thấy trong văn chương, như Cánh đồng mẹ (T S Aitmatop), Cánh

đồng không có chân trời (Đỗ Chu), Cánh đồng lưu lạc (Hoàng Đình Quan), Cánh đồng hoang (Kịch bản phim – Nguyễn Quang Sáng)… “Cánh đồng bất

tận” là những “cánh đồng không tên” hay “cánh đồng chia cắt” mà ở đó

“Những cây lúa chết non trên cánh đồng, thân đã khô cong như tàn nhang

chưa rụng, nắm vào bàn tay nát vụn” “Cánh đồng” trong Cánh đồng bất tận

đâu chỉ là hình ảnh cụ thể của thiên nhiên, của không gian sinh tồn, của vài

mảnh đời bấp bênh, trôi nổi mà còn có ý nghĩa biểu tượng Trong bài viết Từ

truyện ngắn đến phim, Thu Thủy trên tạp chí Điện ảnh Việt Nam cho rằng

Cánh đồng bất tận có lẽ là truyện ngắn giàu chất điện ảnh nhất của Nguyễn

Ngọc Tư Cái hồn Nam Bộ trong những trang viết của nhà văn này hiện lên trong những cánh đồng mênh mông, trong mùi bùn đất, của những mùa nắng hạn, của những con kinh rạch váng phèn, trong cái hoang vắng và sâu thẳm của vùng đồng bằng chiêm trũng Cũng trong bài viết ấy, tác giả trích lời nhà văn – nhà biên kịch Nguyễn Quang Lập: “Hiếm thấy một tác phẩm văn học nào mà câu văn lại đậm tình sông nước, cuồn cuộn phù sa được miêu tả tinh

Trang 16

tế, trần trụi và con người, thiên nhiên Nam Bộ lại hiện lên đẹp một cách đau đớn đến thế” [41] Những cánh đồng cha con ông Võ đi qua bao trùm một nỗi hận: nỗi hận bị vợ bỏ Từ khi ấy, cuộc sống của ba cha con lênh đênh trên một chiếc thuyền nay đây mai đó, thỉnh thoảng dạt vào những cánh đồng cạnh dòng sông làm chòi ở tạm: Cánh đồng bất tận một màu vàng mênh mang như sóng Cuộc sống nghèo nàn, tăm tối trên những con thuyền với cuộc hành trình trên cánh đồng bất tận cứ thế trôi đi với những nỗi cô đơn, bức xúc cùng cực về thân phận con người Đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình đã sáng tạo

một Cánh đồng bất tận tuyệt vời vừa gần gũi vừa huyền ảo, nên thơ Những

sóng lúa vàng nghiêng ngả trải dài của đồng lúa mà Nương lẻ loi đi giữa, đồng lúa mênh mang lác đác những cây vọp xanh, ngọn khói lam chiều bay lên từ những đụn rạ trên bầu trời ảm đạm, trăng non và lác đác những ngôi

sao sớm Nhìn chung, với Cánh đồng bất tận, dường như biểu tượng cánh

đồng đã ăn sâu vào tiềm thức không ít những khán giả, độc giả quan tâm tới tác phẩm này, trên cả hai lĩnh vực văn chương hay điện ảnh Họ ưu ái cho

hình ảnh tuyệt vời này, dù với Cánh đồng bất tận trên phim, cánh đồng

không được thể hiện thỏa mãn như mong đợi Tuy nhiên, đây vẫn là nơi gặp

gỡ của nhiều người quan tâm khi đi vào tìm hiểu truyện ngắn cũng như bộ phim cùng tên này

Mùa len trâu là tác phẩm được thực hiện bởi đoàn làm phim của ba

quốc gia Chú ý tới Mùa len trâu, dường như những người tìm hiểu, nghiên

cứu đánh giá về bộ phim này chủ yếu hướng sự quan tâm tới “nước” Trên

giả Mai Anh Tuấn đã chỉ ra mối quan hệ giữa nước và không gian Nước là không gian sinh tồn Trước hết, nước là nước lũ Đối mặt với nước lũ tràn trề, tất cả nằm trong nước trắng xóa Thế giới sông nước ấy như một tất yếu, đưa đẩy nhân vật Kìm đến với cuộc len trâu đầu tiên trong đời Sự không khoan

Trang 17

dung của nước, của giông bão, luyện cho Kìm qua những mùa đi len trâu từ một thanh niên trong sáng, thuần khiết thành một tên du đãng, không khác là

bao anh chàng Rastignac trong Lão Goriot của Balzac Ban đầu, anh ta “trong

trắng như bông hoa bách hợp” bước vào xã hội Paris e dè rồi lăn lộn trong đấu trường Paris ấy

Lần thứ hai, Kìm phải đối mặt với nỗi cô đơn khi mất đi người cha Cuộc sinh tồn của Kìm từ đây sẽ phải đối mặt với sự mênh mông như chính

sự mênh mông của thế giới nước Cuộc sinh tồn của cha Kìm cũng bắt đầu từ nước và kết thúc, mãi mãi cũng từ nước, cùng với phát hiện sự thật về việc ra đời của mình Tất cả cộng dồn tạo nên những đổ vỡ trong tâm hồn, đông tụ thành vết thương sâu kín nhất trong lòng chàng trai trẻ

Mai Anh Tuấn còn chỉ ra với nước, đó còn là nước mưa, xuất hiện bốn lần trong phim Mưa cho cảm giác cuộc sống con người nơi đây quá trôi nổi, phù du Không gian sinh tồn còn thể hiện qua những địa danh được nhắc đến trong hành trình len trâu Hình ảnh len trâu tương ứng với sự mở rộng không gian sống, gợi đến sự trở về cội nguồn Trong không gian sinh tồn đó, như bất

kỳ quy luật sống nào đều xen lẫn cái chết Nước còn mở ra không gian sinh tồn cho những người len trâu Thế giới của những người đàn ông là thế giới của sự đổ vỡ, là thế giới không được làm chủ bất cứ điều gì

Nước – không gian rũ mục của cái chết, cây cỏ hiện hữu cùng sinh tồn Những cảnh quay bên trong lòng nước rất ấn tượng cùng những bí ẩn được dìm kín Phim kết thúc với hình ảnh đục ngầu tan rửa bên trong nước “Nước lại phủ lên một thế giới rũ mục” Nước – tái hợp và chia lìa với sự tiếp nối không gian, sự tiếp nối những cuộc đời Điều đó bắt đầu từ lần len trâu đầu tiên của Kìm Không gian hai thế hệ len trâu, Kìm – cha Kìm, xuất phát – trải nghiệm – kết thúc đều khép kín trong quá trình trưởng thành của họ trong thế

Trang 18

giới nước Tiếp đó là những cuộc đời dựa vào những ràng buộc, liên hệ tình cảm, như cha Kìm – Kìm và con trai của Đẹt - Ban Song hành cùng tái hợp, tính chất chia lìa được triển khai trong vòng sống của đất và người Đó là sự chia lìa bởi cái chết, chia lìa tình cảm cha con, sự rũ mục của một phần cuộc sống như ngôi nhà, cây cỏ và ngay cả Kìm rồi cũng chia lìa tuổi thơ của mình, một sự chia lìa vĩnh viễn không thể níu lại Qua tất cả, tác giả bài viết tổng kết: Là “không gian sinh tồn, không gian rũ mục, sự tái hợp và chia lìa, nước

là một sáng tạo mới mẻ ở Mùa len trâu”

Theo chúng tôi, nếu vùng đất Nam Bộ hồn hậu, khoan dung chỉ là không gian xuất hiện rợn ngợp trong nước, ngập ngụa trong nước hẳn sẽ đem đến một cảm giác choáng ngợp và sợ hãi Ở truyện ngắn của nhà văn Sơn Nam cũng như trong tác phẩm điện ảnh chuyển thể, cảm thức ấy không hề xuất hiện ở người tiếp nhận Đó là do sự kết hợp giữa những thành phần không gian khác nhau ở vùng đất này; không chỉ chìm đắm trong làn nước mênh mông mà còn có cả cao xanh ôm ấp, có rừng tràm che bóng, có màu xanh mơn mởn của ruộng lúa Nguyễn Võ Nghiêm Minh đã từng chia sẻ:

“Trong Hương rừng Cà Mau, tôi đã thấy một vẻ đẹp rất đặc biệt của không

gian bị nước bao phủ” Đó là không gian bị nước bao phủ chứ không phải một không gian chỉ có nước Chúng tôi không nghiên cứu tác phẩm thuần túy trên câu chữ, nhưng thực tế, những khuôn hình trên phim đã chứng tỏ điều đó

Mùa len trâu không chỉ diễn tả mùa nước nổi mà một phần không nhỏ trong

tác phẩm đã dành cho không gian đất và người mùa nước rút Chúng tôi

không hề phủ nhận hình tượng nước trong Mùa len trâu cùng như hình tượng cánh đồng trong Thương nhớ đồng quê và Cánh đồng bất tận đóng một vai

trò hết sức quan trọng trong tác phẩm Nhưng nếu cổ súy cho rằng hình tượng nước hay cánh đồng đã khắc họa đầy đủ không gian nông thôn, theo chúng tôi, đó là chưa phải là tất cả

Trang 19

Trong cả ba truyện ngắn này, các nhà văn không dùng một chủ đích chỉ đặc tả về bối cảnh nhưng mặt khác lại tạo được cái hồn cốt cũng như cái khung tương đối sắc nét và giàu tính tạo hình Đến phim, với lợi thế về mặt hình ảnh, không gian nông thôn với những khu biệt về vùng miền được thể hiện rõ ràng, chân thực và hiện hữu, dễ nắm bắt hơn đối với khán giả

3 Đối tƣợng, phạm vi, mục đích nghiên cứu

Khi thực hiện đề tài này chúng tôi đi vào tìm hiểu không gian nông

thôn ở cả truyện ngắn Mùa len trâu của nhà văn Sơn Nam cũng như bộ phim cùng tên của đạo diễn Nghiễm Võ Nghiêm Minh; Thương nhớ đồng quê của

nhà văn Nguyễn Huy Thiệp và tác phẩm điện ảnh của nhà biên kịch – đạo

diễn Đặng Nhật Minh; truyện ngắn Cánh đồng bất tận nằm trong tập truyện

cùng tên được viết bởi nhà văn Nguyễn Ngọc Tư với bộ phim chuyển thể do

đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình thực hiện Trong những tác phẩm khác nhau, cách kể chuyện là không giống nhau, hơn nữa lại vô cùng phong phú nên chúng tôi đi vào một khía cạnh nhỏ để có thể thực hiện đề tài một cách tốt nhất Đồng thời, qua đây cũng thấy được mối quan hệ khăng khít giữa văn học và điện ảnh, sự tương liên cũng như tác động lẫn nhau giữa chúng Sóng đôi bên nhau, cả văn học và điện ảnh đều giúp tác phẩm nâng cao khả năng khuếch tán và đến với đông đảo các đối tượng tiếp nhận

Trong đề tài này, chúng tôi chú ý tìm hiểu về không gian nông thôn

trong Mùa len trâu, Thương nhớ đồng quê và Cánh đồng bất tận trên

phương diện đặc trưng của tác phẩm văn học và điện ảnh Theo đó, phạm vi nghiên cứu của chúng tôi xoay quanh về vấn đề không gian nông thôn ở hai loại hình tác phẩm nghệ thuật này

Về phạm vi tư liệu, chúng tôi chủ yếu dựa vào các bài viết về truyện và

phim Mùa len trâu, Thương nhớ đồng quê, Cánh đồng bất tận cũng như

Trang 20

những bài viết về mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh trên các báo, tạp chí, internet và các tài liệu liên quan tới một số loại hình nghệ thuật khác

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và mục tài liệu tham khảo, phần nội dung luận văn của chúng tôi gồm 3 chương lớn

Ở chương đầu tiên, chúng tôi muốn điểm qua để khái lược chung về không gian và không gian nông thôn trong các tác phẩm truyện và phim trong

hệ quy chiếu của đề tài Với nội dung như vậy, chúng tôi muốn có một con đường nhỏ dẫn vào không gian nông thôn – vấn đề mà chúng tôi đang quan tâm, một cách tiện lợi nhất; qua đây bước đầu thấy được giữa một tác phẩm văn học và một tác phẩm điện ảnh chuyển thể vừa có điểm chung nhưng đồng thời cũng có không ít những dị biệt nhất định tạo nên sức cuốn hút cho mỗi loại hình

Xét một cách cặn kẽ, không gian nông thôn thể hiện ở rất nhiều khía cạnh Với đề tài này, chúng tôi không thể mở rộng diện tìm hiểu được tất cả

Trang 21

những khía cạnh ấy Vì vậy, trong phạm vi nhất định, chúng tôi đi vào hai điểm lớn qua các chương:

Chương 2, các kiểu không gian nông thôn qua ba tác phẩm Chúng tôi

đi vào tìm hiểu các kiểu không gian nông thôn ở cả truyện ngắn cũng như tác phẩm chuyển thể Nằm trong một trục thống nhất khi đi vào từng kiểu không gian nông thôn (không gian thiên nhiên, không gian xã hội, không gian tâm tưởng), chúng tôi nhấn mạnh đến đặc tính cơ bản của ranh giới không gian là không thể xuyên thấm Đặc biệt, chúng tôi chú ý tới ranh giới không gian nông thôn với sự phức điệu của nó trong mối quan hệ với không gian khác Trong cả nguyên tác và chuyển thể, các tác phẩm đồng thời có sự gắn kết các nhân vật vào không gian nông thôn, để tăng cường khả năng không thể xuyên của không gian bên trong với không gian ngoại giới

Chương 3, phương thức biểu hiện hệ thống ký hiệu không gian nông thôn qua ba tác phẩm Trong đó, hệ thống các quan hệ không gian nông thôn thay đổi triệt để Cao, xa, rộng đối lập với thấp, gần, hẹp Thậm chí, trong nội

bộ một phần của hệ thống như cao, xa, rộng/ thấp, gần, hẹp cũng có sự xung đột, tương phản “Cấu trúc không gian của văn bản đã trở thành mô hình cấu trúc không gian thế giới, còn hệ ngữ đoạn nội tại của các yếu tố bên trong văn bản chính là ngôn ngữ của sự mô hình hóa không gian” [18,377] đúng như Iu Lotman đã nhận định

Ở mỗi chương, chúng tôi có lồng trong đó những ý kiến, lý giải cá nhân

để bài viết thêm phong phú cũng như góp phần làm rõ thêm những lí do tạo nên hệ quả ở mỗi trường hợp mà trong tác phẩm không đề cập đến

Trang 22

Chương 1 KHÁI LƯỢC CHUNG VỀ KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT

1.1 Một số vấn đề lí thuyết về không gian

Theo Trang Tử không gian là vô bờ bến, vô cùng tận: “Có thực mà không chứa đựng gì gọi là vũ, có dài mà không đầu không cuối thì gọi là trụ”

(Canh Tang Sở) Cũng từ xa xưa con người đã thể hiện khái niệm về cấu trúc

không gian dưới dạng mô hình “Tam tài” – Thiên, Địa, Nhân và mô phỏng cấu trúc không gian vũ trụ bởi “Ngũ hành” – Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ Không gian, một cách đơn giản nhất đó chính là môi trường mà chúng ta đang sống, là hình thức tồn tại của vật chất với những thuộc tính như cùng tồn tại

và tách biệt, có chiều kích và kết cấu

Trong tương quan với thời gian (tứ thời), tư tưởng Kinh Dịch quan niệm không gian (tứ phương) là sự phân hóa qua vận động của Thái cực Dịch

lý không nhị nguyên hóa không gian và thời gian mà hình thành một ngụ ý khá rõ về quan niệm “Không – Thời gian” một kiểu tương đối luận về không gian và thời gian

Theo tư tưởng chủ biệt của phương Tây, không gian được quan niệm như cái hộp, là một khoảng, cũng có thể có nhiều khoảng nhỏ hơn, không bao giờ hết, và khoảng lớn cũng cùng thuộc tính (homogene), cũng là môi trường trung tính (Newton, Kant, nói chung là trước Einstein) Tư tưởng chủ biệt phương Tây cũng tách biệt hoàn toàn không gian và thời gian theo nhị nguyên luận

Từ điển Tiếng Việt đã lí giải về không gian như sau: “Không gian là

hình thức tồn tại cơ bản của vật chất ( ), bao trùm mọi vật xung quanh con người” [45,633]

Từ điển văn học bộ mới, đề cập các kiểu không gian khác nhau:

Trang 23

“Không gian có thể mang tính địa điểm, tính phân giới, dùng để mô hình hóa các phạm trù thời gian như bước đường đời, con đường cách mạng

Không gian có thể mang tính cản trở, để mô hình hóa các kiểu tính cách con người

Không gian có thể là không có tính cản trở, như trong cổ tích làm cho ước mơ, công lí được thực hiện dễ dàng

Các phạm trù cao – thấp, xa – gần, rộng – hẹp, cong – thẳng, bên này – bên kia, vững chắc – bấp bênh, ngay – lệch, đều được dùng để biểu hiện các phạm vi giá trị phẩm chất của đời sống xã hội” [44,1695]

Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học do nhóm tác giả Lê Bá Hán –

Trần Đình - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), định nghĩa: “Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó […] Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian, nên mang tính chủ quan Do vậy không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối…”

[9,162] Giáo sư Trần Đình Sử trong Thi pháp truyện Kiều cũng đưa ra ý kiến:

“Không gian nghệ thuật thể hiện quan niệm về trật tự thế giới và lựa chọn của con người” [33,89] “ Không gian nghệ thuật là mô hình nghệ thuật về cái thế giới mà con người đang sống, đang cảm thấy vị trí, số phận mình ở trong đó Không gian nghệ thuật gắn liền với quan niệm về con người và góp phần biểu hiện cho quan niệm ấy” và “ Không gian nghệ thuật có thể xem là một không quyển của tinh thần bao bọc cảm thức của con người, là hiện tượng tâm linh nội cảm, chứ không phải hiện tượng địa lí và vật lí” Trong lòng các biểu tượng văn hóa thế giới thì không gian “luôn mang lại kết quả là những trật tự mới không lường trước được Không gian giống như một khoảng rộng vô biên, không biết đâu là trung tâm, bành trướng theo mọi chiều, tượng trưng

Trang 24

cho cái vô tận mà trong đó vũ trụ của chúng ta xoay vần (…) Không gian bao gồm toàn bộ vũ trụ trong đó chứa đựng mọi tiềm năng và mọi cái đã hiện thực hóa” [6,486] Nói theo định nghĩa của Manfred Jahn thì “không gian văn học

là môi trường định vị vật thể và nhân vật, là môi trường trong đó nhân vật sống và vận động” [15,81] Không gian nghệ thuật là hình thức mà hình tượng nghệ thuật muốn tồn tại phải có được Qua đó, nó còn cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm, các ngôn ngữ mang tính tượng trưng mà đặc biệt hơn, nó cho thấy những quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả, Không gian trong tác phẩm nghệ thuật có thể thống nhất nhưng không đồng nhất với không gian khách thể Không gian vật chất chỉ có thể trở thành không gian nghệ thuật thông qua lăng kính cảm nhận và thể hiện của thi sĩ, văn nhân về thế giới, về cuộc đời Như vậy, không gian có một vị trí quan trọng nhất định

và tất yếu trong các tác phẩm nghệ thuật

Người ta cũng đã khẳng định văn học với không gian các chiều (trên/dưới, sau/trước, phải/trái của nó) chứ không phải kiểu siêu hình học Euclid, đã tạo cho văn học những biểu cảm rất lớn, là hình tượng không gian

có tính chủ quan và tượng trưng Đồng thời, Iu.M.Lotman trong Cấu trúc văn

bản nghệ thuật cho rằng: “cấu trúc không gian của văn bản đã trở thành mô

hình cấu trúc không gian thế giới, còn hệ ngữ đoạn nội tại của các yếu tố bên trong văn bản chính là ngôn ngữ của sự mô hình hóa không gian”, nó là “sự tổng hợp của các đối tượng cùng loại mà giữa chúng có các quan hệ giống như các quan hệ không gian thông thường”, thậm chí có thể “mô hình hóa không gian đối với các khái niệm mà tự nó về bản chất không có tính không

gian” [18,378] Lê Lưu Oanh trong Văn học và các loại hình nghệ thuật cũng

đã phát biểu: “Không gian trong văn học còn thể hiện rõ quan niệm của con người về thế giới” [26,199]

Trang 25

Trong việc thể hiện không gian, văn học mắc phải điểm yếu so với hội họa, điêu khắc hay đặc biệt ở đây là điện ảnh, như Letxing đã từng chỉ ra: Những gì mà con mắt nắm bắt được tức khắc thì nhà thơ phải trình bày cho chúng ta thật chậm rãi, theo từng bộ phận và thường kết quả là, khi cảm thụ

bộ phận sau thì chúng ta đã quên mất bộ phận trước Ở đây sự đối chiếu các vật thể trong không gian đã vấp phải tính liên tục của lời nói trong thời gian Nhưng văn học chắc chắn sẽ bị đào thải nếu nó không có khả năng tái hiện không gian trong tính vận động và không gian mang tính quan niệm của con người Đó cũng chính là thế mạnh của văn học trong việc thể hiện không gian

mà các nghệ thuật tạo hình không có được

“Màn ảnh là một bề mặt hai chiều và cái mà chúng ta nhìn thấy ở đó chẳng can dự gì với những điều kiện không – thời gian của tồn tại vật chất riêng của chúng ta (…) Điều ngạc nhiên và điều nghịch lý là do chỗ chính phim, với hai chiều kích, lại truyền đạt cho chúng ta kinh nghiệm tự nhiên nhất về không gian” [12,301] Có thể nói màn ảnh điện ảnh đã phá vỡ cái khung khép kín của hình thái sân khấu, thay vào đó là một không gian mở Khi nói đến yếu tố không gian trong điện ảnh, nhà lý luận người Pháp Henri Benac chỉ ra bằng hai yếu tố sau đây: Là hình ảnh phẳng, được giới hạn trong một khung cảnh, tuy nhiên nó vẫn cho ta ảo giác về chiều sâu; là một trường, tức là phần không gian tưởng tượng nằm trong khung cảnh, ngoài ra còn có ngoại trường được góp nên bởi yêu cầu phải nhìn vượt ra khỏi khung cảnh Trường và ngoại trường tạo ra khung cảnh không gian điện ảnh Do đặc trưng của từng loại hình nghệ thuật văn học và điện ảnh cũng có những cách thức riêng tạo không gian trong tác phẩm của mình Không gian trên phim có đặc trưng là không thể tách rời yếu tố thời gian Nhìn vào hình ảnh trực quan sinh động trên màn ảnh, không cần thuyết minh dẫn truyện, khán giả có thể xác

Trang 26

định ngay không gian ấy thuộc về khoảng thời gian nào trong ngày Về ý nghĩa, không gian điện ảnh cũng có một dạng hiện thực mỹ học giống như trong hội họa Văn học tạo ra không gian từ câu chữ và người đọc phải suy ngẫm về nó, tìm ra nó từ lớp nghĩa đằng sau câu chữ đang hiển hiện Tác phẩm điện ảnh, nhờ chuyển động của máy quay sẽ giúp ta cảm thấy được chính không gian chứ không phải phối cảnh điện ảnh như trong bức ảnh, nó tái dựng không gian bằng cách lắp ghép liên tiếp những cảnh quay lại với nhau Điện ảnh chứng tỏ thế mạnh của mình trong việc chiếm lĩnh không gian bởi những hình ảnh sống động, liên tục di chuyển trên khuôn hình Đúng như Đạo diễn - biên kịch Nguyễn Quốc Hưng trong bài “Văn học và điện ảnh –

Hiệu ứng cộng sinh” trên báo Người lao động đã nói: “Phim ảnh và văn học

là hai thực thể khác nhau, có hai đời sống khác nhau Chúng ta phải chấp nhận phim ảnh và văn học là hai dòng chảy riêng Có những thứ văn nói được nhưng phim thì không và ngược lại Tuy nhiên, hai loại hình nghệ thuật này cũng có những liên đới, tác phẩm văn học nổi tiếng sẽ tạo sức hút cho điện ảnh và phim nổi tiếng cũng sẽ tạo sức sống cho tác phẩm văn học Nếu bộ phim thất bại thì tác phẩm văn học vẫn được yêu thích và ngược lại Có những tác phẩm văn học không đến được với công chúng trước đó nhưng có khi phim lại làm cho tác phẩm được công chúng biết đến nhiều hơn” [49]

1.2 Không gian nông thôn từ tác phẩm văn học sang điện ảnh qua ba tác phẩm

Văn học và điện ảnh được coi là người bạn đồng hành nhưng đó là hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau: một bên là chữ nghĩa, ngôn từ và một bên là hình ảnh và âm thanh Bàn về văn chương , Bielinski từng nói: “Thơ văn thể hiê ̣n trong lời nói tự do của con người, mà lời nói vừa là âm thanh, vừa là bức

các nghệ thuật khác , nó như đồng thời sử dụng không tách rời phương thức

Trang 27

của tất cả các loại hình nghệ th uâ ̣t riêng biê ̣t Thơ văn chính là toàn bô ̣ nghê ̣

thuâ ̣t” Bruno Toussaint - tác giả cuốn sách Ngôn ngữ điê ̣n ảnh và truyền hình

cocktail đặc biệt của các hình thức nghê ̣ thuật khác nhau : hội họa, văn học, sân khấu, âm nhạc… được pha trộn hết sức khéo léo để cùng thể hiện một đề tài, kể một câu chuyện” Chính sự khác nhau đó đã tạo nên sự hấp dẫn riêng biệt của mỗi loại hình nghệ thuật, như đạo diễn Đặng Nhật Minh đã chia sẻ:

“Cái khoái cảm có được khi ta đọc một tác phẩm văn học hay khác cái khoái cảm sau khi ta xem xong một bộ phim hay” [49]

Cùng nhìn một đối tượng, chuyển từ văn chương sang điện ảnh là một kiểu chuyển “cách đọc” bằng tư duy và thứ ngôn ngữ khác biệt giữa các loại hình Lịch sử điện ảnh Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung đã ghi nhận những “cuộc tình” giữa văn học và điện ảnh Nhưng có lẽ, trước hết điện ảnh muốn thành công phải dựa trên cái nền vững chắc của tác phẩm văn chương

Từ đó, những bộ phim có sức sống vượt thời gian đã ra đời, như một lần nữa tôn vinh tác phẩm văn chương Nhìn lại, từ trước tới nay, ít nhiều truyện ngắn, truyện vừa và tiểu thuyết đều được chuyển thể thành phim nhưng tại sao riêng thơ thì không? Trong thơ, có cả không gian thiên nhiên, không gian

xã hội và không gian tâm tưởng nhưng so với văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng thì bối cảnh ngoại giới và nội quan trong thơ thể hiện rất hạn chế, do nhiều lí do khác nhau Không gian trong văn xuôi trực quan, sinh động, sâu sắc hơn nhiều Nó tạo nên những đường viền rõ nét mà nhiều nhà làm phim có thể từ đó thiết lập nên bộ phim của mình, bắt đầu từ những bối cảnh đã được khắc họa từ tác phẩm văn xuôi Tiểu thuyết hay truyện ngắn là truyê ̣n kể Làm phim cũng là kể chuyê ̣n Nói cách khác, điện ảnh chính là

“văn chương hiện hình” Iu Lotman đã nhấn mạnh rằng: “Việc chú ý đến vấn

đề không gian nghệ thuật là hệ quả của những quan niệm coi tác phẩm như

Trang 28

một không gian hình ảnh được khu biệt, phản ánh trong cái hữu hạn của mình một thế giới vô hạn là không gian bên ngoài tác phẩm” [18; 376] Nhận định này có thể nói đã bao quát hết tầm quan trọng của không gian nghệ thuật, một trong những thành tố kiến tạo nên tác phẩm văn học hoàn chỉnh Mỗi một tác phẩm văn học đều tồn tại một không gian đặc thù, được khu biệt hóa, trong đó bao hàm cả những giá trị vốn bản thân chúng không chứa đựng như các khái niệm thuộc về tôn giáo và đạo đức

Thương nhớ đồng quê - truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Huy Thiệp

được coi là bộ phim về nông thôn gây tiếng vang và dư luận nhiều nhất trong những năm giữa thập kỉ 90 của thế kỷ trước; đồng thời, đây cũng là bộ phim đạt kỉ lục của điện ảnh Việt Nam về số lượng các liên hoan phim quốc tế mời tham dự Đạo diễn Philip Noyce trong chuyến đến Việt Nam cuối tháng 5, năm 2011 khuyên rằng: “Chọn tác phẩm văn học có tiếng là một lợi thế của người làm phim, vì bộ phim đã có sẵn một lượng khán giả nhất định” [14]

Thương nhớ đồng quê được viết năm 1992 thì năm 1995 được đạo diễn

Đặng Nhật Minh chuyển thể thành bộ phim cùng tên, gặt hái nhiều giải thưởng có giá trị trong nước và quốc tế Truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp

thành phim không ít nhưng riêng Thương nhớ đồng quê lại là trường hợp đặc

biệt: “Thoạt tiên tôi thấy ở truyện ngắn này một không gian điện ảnh đầy gợi cảm ( ) Dưới con mắt tôi đó là truyện ngắn giàu chất điện ảnh nhất của

Nguyễn Huy Thiệp” [46]; Thương nhớ đồng quê lấy cảm hứng từ truyện

ngắn của Nguyễn Huy Thiệp Đọc truyện này, tôi thích không gian điện ảnh của câu chuyện” [48] Ở tác phẩm này, hình ảnh nông thôn Bắc Bộ hiện lên với đồng lúa, lũy tre, với dòng sông, bến bãi Mở đầu và kết thúc phim là hình ảnh đặc tả nhân vật Ngữ với nét lam lũ nhưng cũng rất mực mặn mà Cánh đồng lúa xuất hiện nhiều lần bằng cảnh toàn dưới con mắt của Nhâm – chàng thanh niên trẻ tuổi, nhiều mơ mộng và khát khao

Trang 29

Còn Cánh đồng bất tận, ngay từ khi xuất hiện năm 2005 đã có không ít

những lời khen tiếng chê, nhưng đồng thời cũng gặt hái không ít giải thưởng Năm 2006, tác phẩm đạt giải của Hội Nhà văn Việt Nam, năm 2008 được trao giải thưởng văn học Đông Nam Á Tuy nhà sản xuất đã mua bản quyền thực hiện từ năm 2006, nhưng đến tận năm 2010, truyện ngắn mới được đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình chuyển thể thành bộ phim cùng tên Bước lên màn ảnh, bộ phim lại càng dành được sự chú ý của người quan tâm, hâm mộ cũng như các nhà phê bình

Mở đầu truyện ngắn, nhà văn miêu tả: ""Con kinh nhỏ nằm vắt qua một cánh đồng rộng Và khi chúng tôi quyết định dừng lại, mùa hạn hung hãn dường như cũng gom hết nắng đổ xuống nơi này Những cây lúa chết non trên đồng, thân đã khô cong như tàn nhang chưa rụng, nắm vào bàn tay là nát vụn Cha tôi tháo cái khung tre chắn dưới sàn ghe, bầy vịt lúc nhúc chen ra, cuống quýt, nháo nhào quẫy ngụp xuống mặt nước váng phèn Một lớp phèn mới, vàng sẫm quánh lại trên bộ lông của những con vịt đói, nhớp nháp bám lên vai Điền khi nó trầm mình bơi đi cặm cọc, giăng lưới rào bầy vịt lại Tôi bưng cái cà ràng lên bờ, nhóm củi" - Một không khí rất Nam Bộ mà người đọc có

thể cảm nhận được qua câu chữ Đó chính là cái mà Bakhtine gọi là Thời

không gian (Chronotope) trong tiểu thuyết Thời không gian trong tiểu thuyết

của Flaubert là tỉnh lỵ; thời không gian trong tiểu thuyết Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh là Hà Nội, Yên Tử, thời Trần mạt Thời không gian

trong Cánh đồng bất tận là vùng lục tỉnh ngày nay

Không gian sau khi chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh có nhiều nét gợi hình, gợi cảm hơn Phim có nhiều cảnh quay đẹp, lãng mạn được thực hiện công phu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long với những tham số không gian cùng nét quay dài và cảnh toàn với cánh đồng mênh mông, dập dờn theo

Trang 30

sóng gió; mùa gặt với cảnh đốt đồng; rừng tràm xao xác chim; đàn vịt chạy

đồng và đìa sen bát ngát mùa hạ, Xem phim, khán giả của Cánh đồng bất

tận dường như bị cuốn hút mạnh mẽ bởi sự phóng khoáng tuyệt vời của

phong cảnh thiên nhiên vùng Tây Nam Bộ Những câu chuyện đã vượt qua cả thời gian và không gian của một đồng bằng, nói lên tiếng nói tình yêu, sự mất mát và cuối cùng là khao khát hạnh phúc của con người, dù trong hoàn cảnh nào vẫn cố gắng vươn tới hạnh phúc

Không gian - ngoài việc được nhìn qua ống kính máy quay còn được nhìn qua lăng kính nhân vật, qua cái “tôi” trong tác phẩm – cái “tôi” ấy được giữ nguyên từ truyện ngắn cho tới khi chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh

Kể chuyện ngôi xưng tôi là cách để tác giả đi sâu vào thế giới nội tâm nhân vật, đồng thời tạo cảm giác tin cậy ở người thưởng thức tác phẩm Đạo diễn

Đặng Nhật Minh khi thực hiện Thương nhớ đồng quê đã phát biểu: “Tôi

thích cách kể tự sự, dùng ngôi một đỡ dông dài, đi thẳng vào vấn đề hơn Có những sự kiện diễn ra khách quan thì khó thấy rõ, nhưng qua lời kể nhân vật thấy sự việc rõ ràng hơn Nhất là độc thoại nội tâm khiến cho cá tính nhân vật cũng như diễn biến câu chuyện hiện lên rõ nét, có hồn hơn” [48] Như vậy,

cách kể ngôi “tôi” đều được tác giả của truyện và phim Thương nhớ đồng

quê khai thác Tương tự, trong tác phẩm điện ảnh, Cánh đồng bất tận sau

đoạn mở đầu là những chửi rủa, đánh ghen, xuất hiện tiếng kể đều đều của nhân vật: “Đã từ lâu, ba cha con tôi sống trên một chiếc thuyền nhỏ cùng đàn vịt sống lang thang trên những cánh đồng, những cánh đồng không tên, nhưng với tôi và Điền chẳng nơi nào là vô danh Chúng tôi đặt tên cho những cánh đồng bằng những kỉ niệm mà chúng tôi có”

Mùa len trâu không chỉ chinh phục người xem bằng những thước phim

tuyệt vời về một vùng đất hoang dã Nhà văn Sơn Nam sau khi xem phim đã

Trang 31

nhận xét: “Từng khung hình trong Mùa len trâu đẹp tuyệt vời và rất thực”

Ông cho rằng, Nam Bộ thấm nhuần trong từng cảnh “ngập nước”: đoàn len với hàng trăm con trâu ngập trong mùa nước nổi, mưa dầm trong buổi chiều hòa trong tiếng đàn bầu buồn bơ bải hay như cơn lũ bất chợt tràn về trong đêm cuốn trôi nhà cửa, người chết không có chỗ chôn trong mùa nước nổi

Mưa, nước, nhịp điệu đã vượt ra khỏi sự mô tả thông thường của một câu chuyện kể “Điện ảnh không còn dừng lại ở giải trí mà đem đến một thông điệp văn hóa sâu sắc” – Olivier Duboice – Giám đốc hãng Novak Prod

đã nhận xét về bộ phim như vậy Cái lạ về cảnh sắc, tập quán đã nhường sức chinh phục cho cái đẹp khám phá cuộc sinh tồn của con người trước thiên nhiên và đồng loại Mùa nước nổi, đất Bảy Núi, đàn trâu lội…chỉ như là những hình hài để cuộc sống “bảy chìm ba nổi” của “những người đàn ông không làm chủ được gì” có thể làm rung động sâu sắc những tâm hồn hoài nhớ thôn quê Việt Nam

Mở đầu phim Mùa len trâu là với tiếng kể đều đều của nhân vật chính:

“Cả đời tối sống ở đây Cà Mau hai mùa mưa nắng Mùa mưa, nước phủ trùm lên tất cả Cỏ và nhà Người và trâu ” “Tôi” có lẽ là biện pháp hiệu quả cho nhà làm phim thể hiện tiếng nói nghệ thuật qua tác phẩm của mình Cho nhân vật “nói” bằng ngôn ngữ cảm xúc, suy tưởng mặt khác, đẩy ngôn ngữ đối thoại sang ngôn ngữ của nhân vật lọc qua lăng kính tâm lý của nhân vật chính, đưa nó vào trường cảm nhận của nhân vật chính Người kể chuyện xưng “tôi” là một nhân vật trong truyện, chứng kiến các sự kiện đứng ra kể, đồng thời tác động đến giọng điệu tác phẩm Đúng như nhận định “kể chuyện ngôi thứ nhất ( ), dễ “mê hoặc” người đọc, người ta nghĩ ra mọi chuyện được

kể tự đáy lòng, chân thành và đáng ghi nhớ hơn”.[34,384]

Trang 32

Đặc biệt, ở Mùa len trâu, Thương nhớ đồng quê hay Cánh đồng bất

tận chính ngay tiêu đề tác phẩm cũng tiềm ẩn như một “mã” thể hiện không

Cánh đồng bất tận không chỉ dừng lại với ý nghĩa là một cái tên, mà ẩn sau

đó là ý nghĩa sâu sắc mà Nguyễn Ngọc Tư muốn truyền tải đến người đọc

“Cánh đồng bất tận” là một hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng gợi lên không gian hun hút, mênh mang Hai từ “bất tận” ở ngay tiêu đề tác phẩm chứa chất bao ý nghĩa “Bất tận” như sự mất phương hướng, không có tương lai, bất định và nỗi buồn man mắc vương vấn “những cánh đồng vắng bóng người, và lúa rày mọc hoang…” Cuộc sống của Nương và Điền là những cuộc hành trình vô định từ cánh đồng này qua cánh đồng khác: “Cánh đồng không có tên Nhưng với tôi và Điền chẳng có nơi nào là vô danh, chúng tôi nhắc, chúng tôi gọi tên bằng những kỷ niệm mà chúng tôi có trên mỗi cánh đồng” "Cánh đồng bất tận" là một hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng và gợi hình to lớn

Mùa len trâu và Một cuộc biển dâu trong tập truyện Hương rừng Cà

Mau của nhà văn Sơn Nam đều có mã số nghệ thuật ngôn từ chung - đó là

“nước” Nguyễn Võ Nghiêm Minh là người đã chuyển hóa mã số nghệ thuật ngôn từ ấy thành mã số nghệ thuật thị giác trong tác phẩm chuyển thể Vị đạo diễn tài ba này chia sẻ: “mùa nước nổi là một cảnh trí rất hùng vĩ trong sự tưởng tượng của tôi, tôi thấy vẻ đẹp rất đặc biệt của một không gian bị nước bao phủ mặc dù tôi chưa bao giờ đặt chân tới vùng Cà Mau, An Giang Nghe cái tên “len trâu” thôi là người ta đã nghĩ đến mùa nổi, với chỉ nước và nước

Nước trong Mùa len trâu là biểu tượng của sự chết (mùa nước nổi không có

đất để chôn nên người ta dìm xác người ở dưới nước, trâu bò chết ở dưới nước mục rã ra trong nước, cây cỏ bị nước làm cho mục nát) nhưng từ trong môi trường chết nảy sinh sự sống (sinh vật lấy mầm sống từ nước, cá sinh sôi, lúa nảy mầm )

Trang 33

Nước trong Mùa len trâu là biểu tượng của thời gian trôi qua, thời gian

mang tính chất lịch sử đang trên đà bị mất đi, lối sống của những người chăn trâu mất đi, bởi con trâu thay thế bằng máy cày Đó là những ý tưởng đã theo đuổi tôi” “Nước là một nhân vật luôn hiện hữu trong suốt cả bộ phim Nước trong nhiều nền văn hoá khác nhau, ngay cả trong văn hoá Việt Nam, là biểu tượng của sự trong sạch, của sự sống [ ] Tôi thấy rằng, trong một tác phẩm nghệ thuật, nếu chúng ta gọi phim là một tác phẩm nghệ thuật, thì các biểu tượng, ẩn dụ phải vượt ra ngoài những ý nghĩa thông thường mà chúng ta vẫn từng quen thuộc Trong phim, nước là biểu tượng hỗn hợp cả sự chết lẫn sự sống Đó là hai yếu tố rất là đối kháng nhau, nhưng không thể phân chia ra

được" Nước như một nhân vật xuyên suốt Mùa len trâu Các yếu tố văn hóa:

nước - trâu - người của vùng đất mũi Cà Mau đã quyện hòa và hợp nhất thành

một tam giác nghệ thuật vững vàng, khiến Mùa len trâu đạt đến một giá trị

điện ảnh thật lộng lẫy Bản chất Nam Bộ cứ từ từ hiện ra như thế

Không gian làng quê ở hai miền đất nước qua các tác phẩm ít nhiều có những “điểm trắng” (thuật ngữ của Mỹ học tiếp nhận) nhưng không hề thách

đố khán – độc giả, bởi đến với ba tác phẩm, họ ít nhiều đã có một “tầm đón đợi” nhất định Không hẳn là bức tranh toàn cảnh, nhưng rõ ràng cả ba tác phẩm đều là khúc cắt đậm đặc về cuộc sống con người, về cảnh sắc, phong tục điển hình của hai vùng nông thôn Bắc Bộ và Nam Bộ Từng nhân vật, từng chi tiết, từng số phận chìm nổi đều được chăm sóc, gia công Tên gọi tác phẩm như một ẩn dụ về không gian, không chỉ mở ra không gian một cách tinh tế mà còn khéo léo khơi gợi xúc cảm một cách nhẹ nhàng Đó là không gian sống hoang dã, lưu giữ những hoài niệm, những gì đã qua đi của con người Đồng quê với những tín hiệu thuộc về nó tạo nên sự dồi dào về ý nghĩa

và cách thức thể hiện Gọi tên tác phẩm dường như cũng đang gọi ra cả khoảng không thênh thang, đầy thương nhớ, ai cũng có thể cảm nhận và thấu

Trang 34

đạt Nó là “điểm tụ”, là một “liên kết tính” giữa tác phẩm văn học và tác phẩm điện ảnh, tuy được thể hiện bằng những cách thức không giống nhau

Trong Thi nhân Việt Nam, ở phần viết về Nguyễn Bính có câu: “Ở mỗi

chúng ta đều có một người nhà quê” [36,343] Sự hoài nhớ thôn dã trong mỗi người chỉ cần có dịp là trỗi dậy mạnh mẽ Không gian nông thôn chỉ nhắc tới tên thôi đã nghe như một tiếng gọi thoát khởi từ sâu thẳm tâm hồn mỗi người Thế giới ấy không chỉ nhắc lại như một sự hồi cố mà hơn hết nó khảm chạm trong đáy lòng mỗi người về bản nguyên thuần khiết nhất của mình Trong truyện ngắn, bằng cách khơi gợi đậm chất hình ảnh, nhà văn bóc tách nhẹ nhàng; còn bằng thế mạnh hình ảnh của điện ảnh, nhà làm phim khai thác rõ nét hơn, lồng vào từng khung hình những điểm đặc sắc, điển hình nhưng cũng rất đỗi thân thương của không nông thôn Việt Nam

Tiểu kết

Có thể tóm lại rằng, không gian trong quan niệm phương Tây luôn là thứ không gian hữu hạn, không gian hình khối, hạn chế trong một bề mặt cụ thể (hạn diện) Với người phương Đông thì không gian là hữu hạn, đồng thời cũng là vô hạn, là bầu thái hư bao la, rộng lớn, hoàn toàn không biết đâu là biên giới Không gian chất chứa mọi thứ, đồng thời cũng luôn gắn liền với thực tại và quá khứ Không gian từ đời sống hiện thực đi vào văn học, từ văn học vào điện ảnh tự nhiên như vốn có Những nghệ sĩ bằng tài năng của mình sáng tạo nên những tác phẩm, bằng các loại hình nghệ thuật khác nhau, phản ánh thế giới không chỉ chân thực mà còn giàu màu sắc biểu cảm

Trang 35

Chương 2 CÁC KIỂU KHÔNG GIAN NÔNG THÔN QUA BA TÁC PHẨM 2.1 Không gian thiên nhiên

Trong bất kỳ thời đại nào, con người cũng không thể sống tách rời không gian thiên nhiên Con người tồn tại trong mối quan hệ khăng khít với

nó Thiên nhiên từ đó đi vào nghệ thuật như một lẽ tự nhiên

Mùa len trâu là ký ức một vùng đất hiện ra trong ký ức một cuộc đời

Mở đầu truyện ngắn, Sơn Nam – một nhà văn gắn bó khăng khít với Nam Bộ

đã vén mở một không gian không thể quen thuộc hơn với người dân vùng đất này: “Nước tràn bờ sông Hậu chảy qua Nước trên trời tuôn xuống Gió biển triền miên thổi lộng về Từ sáng đến chiều, mặt trời biến dạng sau lớp mưa: ánh nắng pha loãng đều đều không làm chói mắt kẻ ưu tư đang ngồi hút thuốc

mà ngắm mấy lượn sóng chạy dài tiếp lưng trời” Không gian nông thôn bắt đầu xuất hiện với nước, với mưa, với gió, với ánh nắng, với lượn sóng và với lưng trời – một thế giới hài hòa, gắn bó hữu cơ từ cảnh vật tới con người chứ

không phải là không gian trống không theo quan niệm của Trang Tử (Hữu

thực nhĩ vô hồ xứ giả, vũ dã)

Mùa len trâu trong tác phẩm điện ảnh bắt đầu với lời kể của nhân vật

Kìm: “Cả đời tôi đang sống ở đây Cà Mau hai mùa mưa nắng ” Nó như tấm bình phong được thu gọn để mở ra không gian nông thôn miền đất Mũi Qua những khuôn hình đẹp phơi mở cái hoang dã tự nhiên của miền Nam Bộ, tác phẩm gợi nên không gian tương thông, tương sinh, tương giao, tương hợp Câu thơ của Lý Bạch trong hoàn cảnh này có lẽ rất phù hợp:

Sơn tùy bình dã tận Giang nhập đại hoang lưu

(Dịch nghĩa: Núi uốn theo đồng bằng rồi biến mất/ Sông chảy hòa vào đại dương) Bầu trời và mặt nước thể hiện trong sự ngăn cách bởi đường ranh giới màu lục thẫm của rừng tràm Nhưng do vị trí quá xa nên dải xanh mờ ấy

Trang 36

mang tính chất giống như “một vệt xanh” vậy Đường chân trời ở một vị trí hoàn toàn khác so với cách thể hiện của Đặng Nhật Minh Góc tạo khuôn hình (angle of framing) trong phim là đường phẳng ngang, trên cùng một mặt phẳng (góc thẳng ngang) chứ không dùng góc cao hay góc thấp Ở tác phẩm này, hầu như tất cả các khuôn hình xuất hiện hình ảnh bầu trời đều là đường chân trời trung bình hoặc ngang bằng đầu

Trong phim, nước chủ yếu được thể hiện qua những toàn cảnh rộng (extreme long shot) tràn ngập màn ảnh với trường nhìn hình nón của ống kính camera, trong khi thực tế thì phạm vi nhìn thấy phía dưới mắt rộng hơn phía trên

Trang 37

Góc độ nhìn theo chiều nằm ngang và theo chiều thẳng đứng không đồng đều Với cách đặt máy quay như Nguyễn Võ Nghiêm Minh thì tâm của trường nhìn sẽ nằm ở giữa, luôn hướng ánh mắt khán giả về phía giao điểm của bầu trời và mặt nước, không bị chuyển hướng đột ngột Tác dụng của nó

là kéo cả hai thành phần không gian về phía xa, càng quan sát càng thấy không gian đi về phía trước, rộng, dài và xa hút Nước trong tương quan không thể tách rời với bầu trời, luôn sóng đôi cùng nhau trong nhiều cảnh quay Tuy nhiên, nhiều khuôn hình mà bầu trời và mặt nước sóng đôi tràn đầy màn ảnh không hề gây nhàm chán suốt cả bộ phim Mỗi cảnh quay, tuy vẫn là những khuôn hình tương tự nhau nhưng sắc độ màu, cách dàn cảnh mỗi lúc một khác Hay như, ánh sáng chiếu lên một vùng không gian luôn luôn dị biệt tạp nên trong mắt người tiếp nhận những hình ảnh và cảm xúc không giống nhau

Ngay phần đầu truyện ngắn, nhà văn Sơn Nam có miêu tả: “Núi Ba Thê bên này, núi Cấm trước mặt, hòn Sóc, hòn Đất bên kia” Điểm nhìn nhân vật xuất phát từ một người “ưu tư đang ngồi hút thuốc ngắm mấy lượn sóng chạy dài tiếp lưng trời” Không biết “mấy lượn sóng” kia là nước hay là núi, hay là

Trang 38

rừng tràm Chỉ biết một không gian nối tiếp cứ thế được mở ra Nơi mà nhân vật đang đưa ánh mắt ngưỡng vọng bốn phía lại là nơi nhân vật đang bị đóng khung Không gian nông thôn nơi đây bị bao phủ bởi “bên này”, “bên kia”, bởi núi cao hùng vĩ lại thêm nước xóa mênh mông So với không gian làng

quê ở Thương nhớ đồng quê hay Cánh đồng bất tận thì ở Mùa len trâu

không gian ấy rộng lớn hơn nhiều Máy quay rất ít di động cũng như ranh giới cảnh quay (distance of framing) khá ổn định trong những cảnh toàn thể hiện sông nước, bầu trời, nhà làm phim để mặc nhân vật di chuyển trong cái khung hình cố định của máy quay Kìm trên chiếc ghe cùng đứa con trai của Đẹt và Ban trên mặt sông bất giác dấy lên trong lòng người sự lênh đênh, trôi dạt

Thiên nhiên Nam Bộ trong Cánh đồng bất tận có những nét rất riêng

so với thiên nhiên các vùng miền khác Hình ảnh thiên nhiên hiện lên khiến người ta sợ hãi: “ nắng nung người, gió cháy da, đất phèn chua loét, đàn vịt còi cọc, và cả những người đàn bà làm đĩ ” Sự khắc nghiệt của nó được lột

tả cụ thể, chân thực và đồng thời như dự báo một cuộc sống không yên ổn, nhiều trắc trở Mở đầu truyện ngắn, Nguyễn Ngọc Tư - nhà văn gắn bó khăng khít với Nam Bộ từ lâu, vén mở một không gian không thể quen thuộc hơn với người dân vùng này: “Con kinh nhỏ nằm vắt qua một cánh đồng rộng Và khi chúng tôi quyết định dừng lại, mùa hạn hung hãn dường như cũng gom hết nắng đổ xuống nơi nầy” Không gian nông thôn với dòng sông, cánh đồng, với vụ mùa, với nắng, với sự khắc nghiệt nhưng hiển nhiên ở vùng đất cực Nam Tổ quốc

Bằng con mắt nhìn ngắm, phát hiện và lắp ghép của mình, nhà làm phim đã hiển hiện những cảnh quay không gian toàn cảnh hoành tráng Không gian ấy là phép cộng của mặt đất và bầu trời Như Đào Duy Hiệp đã nhận xét: Hai thực thể ở rất xa nhau trên trời, dưới đất đặt cạnh nhau đã tạo sinh một thực tại mới: Vũ trụ cô đơn, trơ trọi, sự không xuất hiện của con đường hay

Trang 39

cánh cửa như trong Thương nhớ đồng quê là một cách ẩn đi cánh cửa ngăn

cách không gian bạt ngàn sông nước này với thế giới bên ngoài Đường chân trời thường ở vị trí rất cao (trong số ít những cảnh thì ngược lại, ở vị trí rất thấp) trong sự tích hợp cùng với mặt đất, mặt nước bao la, chân trời xa thẳm, đục mờ, cảm giác có tuy có khoáng đạt, tự tại; nhưng những khuôn hình tương tự lặp lại với tần số không nhỏ nhân lên sự bất lực của con người quá

bé nhỏ, lênh đênh mà không gian lại rộng lớn khôn cùng Không có nhiều

những đường tầm mắt tốt như Thương nhớ đồng quê; đạo diễn hai bộ phim

Mùa len trâu và Cánh đồng bất tận tận dụng nhiều cảnh quay vào thời điểm

hửng đông hay hoàng hôn, trên bầu trời xuất hiện những vệt sáng tông màu

nóng Trong Cánh đồng bất tận, một chút ánh sáng còn sót lại kết hợp cùng

rừng tràm tối sẫm kéo theo sắc lạnh của dòng sông; kế sau là một hoàng hôn sáng rỡ hơn: Hai cha con – một lớn một nhỏ, hai bóng đen in thẫm trên màn hình chèo ghe xuôi theo dòng sông được chiếu bởi ánh sáng mạnh mẽ còn sót cuối ngày, lại thêm sự hậu thuẫn phía xa xa của hàng cây lặng lẽ

Hay như cảnh Kìm dắt trâu đi len lần đầu tiên Những cảnh quay vào thời điểm hửng sáng hay hoàng hôn như vậy, trên bầu trời có những vệt tông màu nóng hắt sáng sau rừng tràm, giữ vị trí ánh sáng ven (side lighting)

Trang 40

Quang phổ màu hẹp tạo cho gam-ma màu nóng và gam-ma màu lạnh bổ sung cho nhau Những khuôn hình có sự lóe sáng của rạng đông với tính chất ấy như một bức ảnh nghệ thuật được thâu nhận bởi thị giác của người xem

Nếu hình ảnh cánh đồng trong Thương nhớ đồng quê xuất hiện từ

“một vệt xanh” có tầm xa, là đường nằm giữa cánh đồng và bầu trời, làm cho cảnh như được đẩy ra phía trước, ẩn hiện bởi làn hơi nước và không khí, tăng thêm cảm giác xa rộng của không gian, thì ở đây, Nam Bộ với miền đồng bằng thẳng cánh cò bay đến vô cùng tận, hiếm khi hoặc hồ như không có ngọn núi nào, nhìn mãi cũng chỉ thấy mặt đất, mặt nước nối tiếp chân trời Nguyễn Ngọc Tư đặc tả thế giới kia: “Chúng tôi chẳng có chỗ nào để đi nữa,

từ bờ bên kia của sông Bìm Bịp là vùng đệm cho những cánh rừng tràm lớn” Khoảng không như bị kéo dài ra, vốn dĩ đã mênh mông vời vợi nay càng thêm

xa hút tầm mắt, cách khoảng không rộng lớn này còn có một chướng ngại khác khi đến khoảng không rộng lớn phía tiếp theo Trên màn ảnh, hiển hiện những minh họa không thể chân thật hơn, từ khoảng cách cho tới màu sắc, sắc

độ tạo cho khán giả như đang đứng trước hiện thực Bằng các biện pháp của

Ngày đăng: 06/07/2015, 16:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. M. Bakhtin. Lý luận và thi pháp tiểu thuyết. Nxb Hội Nhà Văn, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Nhà XB: Nxb Hội Nhà Văn
2. Nguyễn Phan Quang Bình (đạo diễn), phim Cánh đồng bất tận, Công ty BHD và Hãng phim Việt, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cánh đồng bất tận
3. David Bordwell và Kristin Thompson, Nghệ thuật điện ảnh, Nxb Giáo Dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật điện ảnh
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
4. Timothy Corrigan, Hướng dẫn viết phê bình phim, Tài liệu dịch của Dự Án Điện Ảnh, Trường Đại học KHXH&NV (ĐHQG Hà Nội), 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn viết phê bình phim
7. Đoàn Ánh Dương, Cánh đồng bất tận nhìn từ mô hình tự sự và ngôn ngữ trần thuật, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 2, 2/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cánh đồng bất tận nhìn từ mô hình tự sự và ngôn ngữ trần thuật
8. Trịnh Bá Đĩnh, Chủ nghĩa cấu trúc và văn học, Trung tâm nghiên cứu Quốc học và Nxb. Văn học, H. 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa cấu trúc và văn học
Nhà XB: Nxb. Văn học
9. Hà Minh Đức (chủ biên), Lí luận văn học, Nxb Giáo Dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2007
10. Gurevich, Các phạm trù văn hóa trung cổ (Hoàng Ngọc Hiến dịch), NXb Đà Nẵng, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phạm trù văn hóa trung cổ
11. Lê Bá Hãn - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo Dục, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
12. Kate Hamburger, Logic học về các thể loại văn học, Người dịch: Vũ Hoàng Địch, Trần Ngọc Vương, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logic học về các thể loại văn học
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
13. Đào Duy Hiệp, Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại, Nxb Giáo Dục, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học từ lí thuyết hiện đại
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
14. Đinh Hương, Kịch bản chuyển thể từ tác phẩm văn học lại nở rộ, Điện ảnh Việt Nam, số 68, 5/8/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kịch bản chuyển thể từ tác phẩm văn học lại nở rộ
15. Manfred Jahn, Trần thuật học – nhập môn lí thuyết trần thuật, Nguyền Thị Như Trang dịch, Phạm Gia Lâm hiệu đính, Trường ĐH KHXH &NV, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần thuật học – nhập môn lí thuyết trần thuật
Tác giả: Manfred Jahn
Nhà XB: Trường ĐH KHXH & NV, Hà Nội
16. M.X.Kagan, Mỹ học và ảnh nghệ thuật, Nguyễn Huy Hoàng dịch, Nxb Văn Hóa, H.1980 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học và ảnh nghệ thuật
Nhà XB: Nxb Văn Hóa
17. Chu Lai, Thương nhớ đồng quê, Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 1, 1/ 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương nhớ đồng quê
18. Iu.M.Lotman, Cấu trúc văn bản nghệ thuật, Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thu Thủy dịch, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc văn bản nghệ thuật
Nhà XB: Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội
19. Hoàng Mai, Văn Nguyễn Ngọc Tư đắt sô, Điện ảnh Việt Nam, số 53-54, 5/1/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn Nguyễn Ngọc Tư đắt sô
20. Đặng Nhật Minh (đạo diễn), phim Thương nhớ đồng quê, Hãng Phim Truyện Việt Nam, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương nhớ đồng quê
Tác giả: Đặng Nhật Minh
Nhà XB: Hãng Phim Truyện Việt Nam
Năm: 2005
21. M. Meletinsky, Thi pháp của huyền thoại, (Trần Nho Thìn, Song Mộc dịch). Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp của huyền thoại
Tác giả: M. Meletinsky
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
22. Nguyễn Võ Nghiêm Minh, Mùa len trâu, Hãng phim Giải Phóng (Việt Nam), 3B Productions (Pháp) và Novak Prod (Bỉ), 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùa len trâu
Tác giả: Nguyễn Võ Nghiêm Minh
Nhà XB: Hãng phim Giải Phóng (Việt Nam)
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w