Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã tiến hành triển khai, xây dựng nhiều công trình thuỷ điện lớn và nhỏ trên hầu khắp lưu vực các sông ở nhiều vùng trong cả nước nhằm góp phần đảm bảo nhu cầu năng lượng phục vụ sản xuất và đời sống
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -PHẠM MINH HẠNH
SINH KẾ CỦA CÁC HỘ DÂN TÁI ĐỊNH CƯ
Ở VÙNG BÁN NGẬP HUYỆN THUẬN CHÂU,
TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Mã số: 60.31.10
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN PHÚC THỌ
HÀ NỘI - 2009
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và cha hề đợc sử dụng để bảo
vệ một học vị nào.
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã đợc chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Phạm Minh Hạnh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp tôi đã nhận đợc sự giúp đỡ của TS Nguyễn Phúc Thọ, các thầy cô giáo trong Bộ môn Kinh tế, các thầy cô giáo trong khoa Kinh
tế và Phát triển Nông thôn, Viện Sau đại học, học viên cao học lớp K16B2, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, gia đình nội ngoại, bạn bè và đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình và quý báu đó
Hà nội, ngày 05 tháng 12 năm 2009
Tác giả luận văn
Phạm minh hạnh
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan 1
Lời cảm ơn 2
Mục lục 3
Danh mục các chữ viết tắt 5
Danh mục bảng 6
2.3 Đặc điểm dự án tái định cư của công trình thuỷ điện Sơn La 25 2.4 Tiêu chí sử dụng đất bán ngập sản xuất nông nghiệp vùng hồ Sơn La
32 2.5 Những kết luận rút ra sau khi nghiên cứu tổng quan 38
Trang 54.1 Khái quát tình hình sinh kế của hộ dân tái định cư ở Thuận Châu
614.1.1 Khái quát đặc điểm vùng bán ngập tái định cư ở huyện Thuận Châu
61
4.1.3 Tác động của chương trình TĐC đến thu nhập 764.2 Những kết quả và những hạn chế cần nhằm đảm bảo sinh kế bền
4.3 Quy hoạch bố trí sử dụng đất bán ngập công trình thuỷ điện Sơn
4.4 Đề suất một số giải pháp đảm bảo sinh kế bền vững cho các hộ
dân tái định cư vùng bán ngập thuỷ điện Sơn La 89
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng Phát triển châu Á
CTTĐ Công trình thuỷ điện
TTCN Tiểu thủ công nghiệp
MNDBT Mực nước dâng bình thường
TĐSL Thuỷ điện Sơn La
TNMT Tài nguyên môi trường
UBND Uỷ ban nhân dân
WB Ngân hàng Thế giới
Trang 72.3 Tổng hợp diện tích đất bán ngập hồ Sơn La tại địa bàn các huyện
2.4 Diện tích đất bán ngập có khả năng sử dụng trồng trọt phân theo
địa bàn các xã có tái định cư ven hồ Sơn La 363.1 Tổng hợp diện tích các loại đất huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La 433.2 Diện tích, cơ cấu sử dụng đất huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La 434.1 Tổng hợp một số chỉ tiêu của 3 xã trên địa bàn huyện Thuận Châu
4.3 Tổng hợp diện tích đất bán ngập hồ Sơn La tại địa bàn tỉnh Sơn
4.4 Diệntích đất bán ngập có khả năng sử dụng trồng trọt trên địa bàn
4.5 Diện tích đất sản xuất nông nghiệp của các hộ điều tra 674.6 So sánh diện tích đất nông nghiệp trước và sau tái định cư 684.7 So sánh chất lượng đất trước và sau tái định cư 684.8 Đánh giá hiện trạng sử dụng công trình thuỷ lợi tại nơi ở cũ 704.9 Đánh giá hiện trạng sử dụng công trình thuỷ lợi tại nơi TĐC 704.10 Diện tích đất lâm nghiệp của các hộ điều tra 714.11 Tổng đàn, giá trị tổng đàn gia súc, gia cầm của các hộ điều tra 724.12 Quy mô chăn nuôi gia súc của các hộ điều tra 724.13 Quy mô chăn nuôi gia cầm của các hộ điều tra 73
Trang 84.14 Điều kiện nhà ở trước và sau tái định cư 744.15 Khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội trước và sau tái định cư 754.16 Mức thu nhập của các hộ điều tra trước và sau khi TĐC 77
4.18 Bố trí diên tích gieo trồng vùng bán ngập hồ Sơn La 864.19 Dự kiến DT - NS - SL cây trồng chính vùng bán ngập 864.20 Dự kiến giá trị sản xuất trên đất bán ngập 864.21 Dự kiến quỹ đất sản xuất tại các khu điểm tái định cư ven hồ Sơn La
87
DANH MỤC HÌNH
4.2 So sánh thu nhập bình quân hộ và thu nhập bình quân khẩu 88
Trang 91 ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã tiến hành triển khai, xây dựng nhiềucông trình thuỷ điện lớn và nhỏ trên hầu khắp lưu vực các sông ở nhiều vùngtrong cả nước nhằm góp phần đảm bảo nhu cầu năng lượng phục vụ sản xuất
và đời sống
Các dự án thủy điện thường được triển khai xây dựng tại miền núi, nơimật độ dân cư thấp, phần lớn là dân tộc ít người, tuy nhiên không tránh khỏinhững cộng đồng dân cư sinh sống trong phạm vi lòng hồ thuỷ điện Do đórất cần có những chính sách và biện pháp trong công tác di dân, tái định cưnhằm ổn định đời sống, giảm thiểu tác động tiêu cực đến các nguồn tàinguyên, môi trường, “bảo đảm cho người dân có cuộc sống nơi ở mới tốt hơnhoặc bằng nơi ở cũ” như chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước
Tuy nhiên, việc triển khai xây dựng các công trình thuỷ điện đã và đanglàm nảy sinh một số vấn đề bất cập về môi trường, văn hoá và đặc biệt là đờisống của người dân sinh sống ở những vùng lòng hồ thuỷ điện Công tác đền
bù và tái định cư bắt buộc tuy cũng được Chính phủ quan tâm đầu tư nhưngvẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập cần giải quyết, trong đó vấn đề đảm bảochính sách, vấn đề sinh kế cho những người dân phải tái định cư đến nơi ởmới thật sự chưa được quan tâm đúng mức và đến nay chưa được thực hiệnmột cách hoàn chỉnh và bền vững
Kinh nghiệm trên thế giới và bản thân của Việt Nam đã cho thấy côngtác tái định cư là quá trình rất phức tạp, mất nhiều thời gian, đòi hỏi phải tiếnhành các nghiên cứu rất tỉ mỉ về người dân tái định cư, về dân tộc, văn hoá,bản sắc, đặc tính dân tộc và tập quán của họ trong sinh hoạt cũng như trongsản xuất, đặc biệt đối với các chương trình tái định cư có quy mô lớn
Trang 10Việc đảm bảo sinh kế đóng vai trò rất quan trọng nhằm giảm thiểu nguy
cơ rủi ro cho người dân phải tái định cư bắt buộc, giảm thiểu tối đa những tácđộng không mong muốn đối với người dân phải tái định cư thông qua việc tạolập một sinh kế bền vững, ổn định phát triển sản xuất, đảm bảo phát triển kinh
tế, xã hội và bảo vệ môi trường bền vững
Thực hiện Nghị quyết số 13/2002/QH11 của Quốc hội về chủ trương đầu
tư xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La, ngày 15/1/2004 Thủ tướng Chính phủ
ra quyết định số 92QĐ-TTg về việc phê duyệt đầu tư thủy điện Sơn La vớimức nước dâng là 215m Theo đó, tổng mức đầu tư thủy điện Sơn La là36.433 tỉ đồng, trong đó gần 12.000 tỉ đồng phục vụ giải phóng mặt bằng và
di dân tái định cư Theo kết quả rà soát bổ sung quy hoạch di dân tái định cưcông trình thủy điện Sơn La tháng 3/2006 của Viện Quy hoạch và thiết kếnông nghiệp thì hồ chứa ảnh hưởng đến 8 huyện thị xã thuộc 3 tỉnh Sơn La,Điện Biên, Lai Châu và phải di chuyển 259 bản với 17.828 hộ Trong đónhiều nhất là Sơn La có 162 bản với 11.408 hộ Theo thiết kế, hồ chứa Sơn La
sẽ gây ngập lụt trên 23.000 ha đất tự nhiên, trong đó có 7.700 đất đang sảnxuất nông nghiệp với 1.700 ha ruộng lúa màu, 4.900 ha đất nương rẫy và gần
500 ha đất cây lâu năm Mức độ thiệt hại về đất sản xuất là rất lớn vì các hộdân ở đây thu nhập chính là từ canh tác nông nghiệp tự cấp tự túc, thu nhậpbình quân khoảng 1,5-2 triệu đồng/hộ/năm Người dân phải di chuyển chiếmkhoảng 90% là đồng bào dân tộc ít người, trình độ dân trí thấp, đời sống kinh
tế, điều kiện văn hóa xã hội còn nhiều khó khăn [20]
Một thực tế sau khi cắm mốc ngập vùng hồ, xu thế của rất nhiều ngườidân muốn ở lại, không muốn di chuyển đi xa nơi “chôn rau cắt rốn”, một phầnmuốn sử dụng lại diện tích đất không bị ngập để phát triển sản xuất, vì vậyphương án đảm bảo sinh kế cho người dân tái định cư tại chỗ ven hồ cũngđược các địa phương quan tâm, rà soát lại khả năng đất đai, cũng như các
Trang 11phương thức sản xuất phù hợp với điều kiện mới để tiếp nhận lại số hộ này.
Cơ sở để tổ chức sản xuất nông nghiệp trong vùng hồ là do các hồ chứathủy điện được vận hành theo quy luật điều tiết hàng năm, theo đó mực nước
hồ được điều chỉnh từ cao trình mực nước chết đến cao trình mực nước dângbình thường theo các tháng trong năm Quá trình tích nước trong mùa mưa và
xả nước trong mùa khô phục vụ phát điện và chống lũ tạo ra khoảng đấtkhông bị ngập trong thời gian nhất định trong năm có thể sử dụng để trồngtrọt Thực tế cũng cho thấy, các hộ dân ven các hồ chứa nước thủy điện HòaBình, Trị An, Ialy đã sử dụng trên 4.000 ha đất bán ngập để trồng trọt rất cóhiệu quả, tạo thêm thu nhập, giảm áp lực quỹ đất sản xuất tái định cư, đảmbảo cuộc sống hàng ngày của người dân, góp phần ổn định xã hội, phát triểnkinh tế cho người dân tái định cư Với ý nghĩa như trên, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Sinh kế của các hộ dân tái định cư ở vùng bán ngập
huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La”
1.2 Mục tiêu của đề tài nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng, sinh kế của các hộ di dân tái định cư từ vùng bánngập của công trình thuỷ điện Sơn La Trên cơ sở đánh giá phân tích, đề xuấtmột số giải pháp tạo sinh kế nhằm ổn định sản xuất và đời sống của các hộdân di chuyển đến nơi ở mới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về sinh kế cho người dân nói chung
và sinh kế của các hộ thuộc diện di dân vùng bán ngập tái định cư nói riêng
- Đánh giá tình hình di dời, tái định cư và sinh kế của các hộ dân tạicông trình thủy điện Sơn La
- Đề xuất giải pháp phù hợp đảm bảo sinh kế cho các hộ dân thuộc diệntái định cư
Trang 121.3 Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động sinh kế của các hộ gia đình tái định cư ở vùng bán ngậpcủa công trình thuỷ điện Sơn La
1.4 Địa điểm nghiên cứu
Huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
1.5 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La với diện tích tựnhiên là 153.590,00 ha
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 12 năm 2004 đến 8/2009
1.6 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 8/2008 đến 8/2009
Trang 132 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận về sinh kế và tái định cư
2.1.1 Sinh kế của người dân
- Khái niệm sinh kế:
Theo Bùi Đình Toái (2004) [15] Khái niệm về sinh kế của hộ hay mộtcộng đồng là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kếthợp với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để khôngnhững kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn Hay nói cách khác,sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhaicủa hộ gia đình hay cộng đồng đó
- Đặc điểm và nhân tố ảnh hưởng đến sinh kế:
Để duy trì sinh kế, mỗi hộ gia đình thường có các kế sách sinh nhai khácnhau Kế sách sinh nhai của hộ hay chiến lược sinh kế của hộ là quá trình raquyết định về các vấn đề cấp hộ Bao gồm những vấn đề như thành phần của
hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phívật chất của hộ Chiến lược sinh kế của hộ phải dựa vào năm loại nguồn lực(tài sản) cơ bản sau:
Hình 2.1: Các nguồn lực tạo thành sinh kế
Nguồn nhân lực
Nguồn lực tự nhiên
Nguồn lực tài chính Nguồn lực
vật chất
Nguồn lực xã hội
SINH KẾ
Trang 14- Nguồn nhân lực: bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và
sức khoẻ con người Các yếu tố đó giúp cho con người có thể theo đuổi nhữngchiến lược tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhaicủa họ Ở mức độ gia đình nguồn nhân lực được xem là số lượng và chấtlượng nhân lực có sẵn
- Nguồn lực xã hội: là những nguồn lực định tính dựa trên những gì mà
con người đặt ra để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ Chúng bao gồm
uy tín của hộ, các mối quan hệ xã hội của hộ
- Nguồn lực tự nhiên: là cơ sở các tài nguyên thiên nhiên của hộ hay của
cộng đồng, được trông cậy vào để sử dụng cho mục đích sinh kế như đất đai,nguồn nước, cây trồng, vật nuôi, mùa màng Trong thực tế, sinh kế củangười dân thường bị tác động rất lớn bởi những biến động của nguồn lực tựnhiên Trong các chương trình di dân tái định cư, việc di chuyển dân đã làmthay đổi nguồn lực tự nhiên của người dân và qua đó đã làm thay đổi sinh kếcủa họ
- Nguồn lực vật chất: bao gồm tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế như
nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin
- Nguồn lực tài chính: là những gì liên quan đến tài chính mà con người
có được như: nguồn thu nhập tiền mặt, tiền tiết kiệm, tín dụng và các nguồnkhác như lương, bổng, nguồn hỗ trợ, viện trợ từ bên ngoài cho hộ gia đình vàcho cộng đồng
Mỗi hộ dân là một bộ phận cấu thành nên cộng đồng họ đang sống, cáctài sản và nguồn lực của họ cũng là một phần tài sản và nguồn lực của cộngđồng đó, vì vậy chiến lược sinh kế của mỗi hộ đều có sự tương đồng và phùhợp với nhau cũng như phù hợp với chiến lược sinh kế của cộng đồng
Chiến lược sinh kế cộng đồng cũng dựa trên năm loại nguồn lực trênnhưng mang ý nghĩa rộng hơn cho cả cộng đồng, đó là số lượng và chất lượng
Trang 15nguồn nhân lực của cộng đồng; Thể chế chính trị, phong tục, tập quán, uy tíncủa cả cộng đồng; Điều kiện tự nhiên của địa bàn cộng đồng sinh sống; Các
cơ sở hạ tầng xã hội hỗ trợ cho sinh kế như giao thông, hệ thống cấp nước, hệthống ngăn, tiêu nước, cung cấp năng lượng, thông tin
- Xu hướng sinh kế của người dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
Đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số chủ yếu sản xuất nôngnghiệp, làm rẫy và khai thác lâm sản phụ Trình độ sản xuất còn rất thô sơ,thuần túy theo phương thức tự sản tự tiêu từ lâu đời, quảng canh, sống phụthuộc vào thiên nhiên là chính Bên cạnh đó trình độ học vấn và khả năng tiếpthu các yếu tố kỹ thuật, văn hoá rất hạn chế Nhiều tập quán, hủ tục lạc hậuvẫn còn tồn tại và duy trì trong đời sống dân cư và các buôn làng Việc thayđổi điều kiện, môi trường sống của người dân là một vấn đề lớn đối với cuộcsống của mỗi con người và các cộng đồng đó vì khả năng thích nghi của đồngbào rất hạn chế Điều kiện sống của người dân còn cực kỳ khó khăn như đồngbào dân tộc Thái, Khơ Mú, Xá v.v…
Cộng đồng dân cư làng bản đồng bào các dân tộc sống trong địa bànkhó khăn của vùng Tây Bắc, đời sống kinh tế rất khó khăn, mặt bằng dân tríthấp, còn tồn tại duy trì nhiều phong tục tập quán sản xuất sinh hoạt lạc hậu,
cơ sở hạ tầng thiếu thốn Về cơ cấu nông nghiệp, hơn 95% số hộ tái định cưthuộc khu vực nông thôn, sản xuất nông nghiệp là nguồn sống chính, cácngành nghề khác ngoài nông nghiệp chưa phát triển Để phục hồi sinh kế sautái định cư, giải pháp cơ bản nhất là ổn định đời sống trước mắt và phát triểnkinh tế nông nghiệp nông thôn bền vững
Cộng đồng dân cư chủ yếu là các dân tộc bản địa, có tập quán sinh sống
ở các vùng thấp, gần sông suối, gần các thung lũng hay phiêng bãi rộng, tậpquán sản xuất là trồng lúa nước, ngô, đậu đỗ và chăn nuôi gia súc, gia cầm.Trình độ canh tác lúa nước của họ cũng đã có những bước phát triển gần bằng
Trang 16trình độ thâm canh của người Kinh (tuy nhiên năng suất vẫn thấp do điều kiệnđất đai, khí hậu và nguồn nước còn khó khăn) Họ tận dụng những nơi đấtthấp, bằng, có nguồn nước là các khe suối nhỏ hay mó nước tự nhiên để xâydưng các phai đập nhỏ và ruộng bậc thang để sản xuất 1 hoặc 2 vụ Cũng cónơi chỉ tận dụng nước trời để sản xuất lúa vụ mùa trong mùa mưa Canh tácnương rẫy vẫn là loại hình phổ biến nhất Canh tác trên nương rẫy chủ yếu làtrồng lúa nương, ngô, sắn và một vài loại cây có củ khác trên đất dốc Năngsuất cây trồng còn thấp
Như vậy trồng trọt trong đó sản xuất lương thực là hoạt động chínhtrong hoạt động sản xuất mà canh tác cây lúa và ngô là 2 cây trồng chủ lực,trong đó ngô là nông sản hàng hóa chiến lược
2.1.2 Di dân tái định cư trong các công trình thủy điện
2.1.2.1 Di dân
Dân số biến động do cơ bản là do tăng tự nhiên và tăng cơ học Tăngtrưởng tự nhiên của dân số gắn liền với quá trình sinh học sinh ra, tồn tại vàmất đi của con người theo thời gian Quá trình này thông qua hiện tượng sinh
và chết Di biến động dân cư còn do tác động cơ học của quá trình di dân.Trong mọi quốc gia, những luồng di cư tạo nên sự phân bố lại dân cư, đồngthời làm tăng giảm mật độ dân cư giữa các vùng miền địa lý Di dân về bảnchất không phải là hiện tượng sinh học như sinh, chết Di dân có thể diễn ranhiều lần, lặp đi lặp lại trong cuộc đời của một cá nhân, trong khi sinh đẻ và
Trang 17Theo nghĩa rộng, di dân là sự chuyển dịch bất kỳ của con người trongmột không gian, thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thờihay vĩnh viễn Với khái niệm này, di dân đồng nhất với sự di động dân cư.Theo nghĩa hẹp, di dân là sự di chuyển dân dân cư từ một đơn vị lãnh thổ nàyđến một đơn vị lãnh thổ khác nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong mộtkhoảng thời gian nhất định [1] Tóm lại, khái niệm di dân có thể được tóm tắttheo các điểm chung như sau:
- Người di dân di chuyển ra khỏi một địa dư nào đó đến nơi khác sinh sống
- Người di chuyển bao giờ cũng có những mục đích, họ đến một nơi nào
đó và định cư tại đó trong một thời gian để thực hiện mục đích đó
- Di dân gắn liền với sự thay đổi công việc, nơi làm việc, công việc nghềnghiệp, sở thích, lối sống,
Có nhiều cách phân loại di dân theo các góc độ khác nhau [1], như:
- Theo khoảng cách di chuyển, gồm có: di dân nông thôn - thành thị, didân nông thôn - nông thôn,
- Theo độ dài thời gian cư trú, gồm có: di chuyển ổn định, di chuyển tạmthời, di dân mùa vụ,
- Theo đặc trưng di dân:
+ Di dân có tổ chức: là hình thái di chuyển dân cư được thực hiện theo
kế hoạch và theo chương trình mục tiêu nhất định do nhà nước, chính quyềncác cấp vạch ra và tổ chức, thực hiện với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể
Trang 18xã hội Về nguyên tắc, người dân di chuyển có tổ chức được nhà nước vàchính quyền địa phương nơi nhập cư giúp đỡ Di dân có tổ chức có thể giảmbớt khó khăn cho những người nhập cư, tăng nguồn lực lao động địa phương,
có thể tránh được việc khai thác tài nguyên thiên nhiên bừa bãi gây ảnh hưởngxấu tới môi trường
+ Di dân tự phát (tự do): là hình thái di dân mang tính cá nhân do bảnthân người di chuyển hoặc bộ phận gia đình quyết định, không có và khôngphụ thuộc vào kế hoạch và sự hỗ trợ của nhà nước và câc cấp chính quyền Didân tự phát phản ánh tính năng động và vai trò độc lập của cá nhân và hộ giađình trong việc giải quyết đời sống, tìm công ăn việc làm
2.1.2.2 Tái định cư
Tái định cư là việc phải di chuyển đến một nơi khác để sinh sống, đây làthuật ngữ chung liên quan tới bị thu hồi đất, mất đất, mất chỗ ở, mất tài sản,mất nguồn thu nhập hay mất những phương tiện kiếm sống khác
Theo khái niệm của Ngân hàng Phát triển châu Á năm 1995 [8], tái định
cư được phân loại dựa trên thiệt hại của người tái định cư:
- Thiệt hại về tài sản sản xuất, bao gồm đất đai, thu nhập và đời sống
- Thiệt hại về nhà ở, có thể là toàn bộ cộng đồng và các hệ thống, dịch vụkèm theo
- Thiệt hại về các tài sản khác
- Thiệt hại về các nguồn tài nguyên của cộng đồng như môi trường sinhsống, văn hóa, và hàng hóa
2.1.2.3 Tái định cư tự nguyện và không tự nguyện
Tái định cư được hiểu là con người tạo dựng cuộc sống ở nơi cư trú mớisau khi rời khỏi nơi cư trú cũ của họ Thực tế có nhiều lý do mà người dânphải tái định cư và có thể chia ra thành hai loại: Tái định cư bắt buộc (donhững điều kiện khách quan như chiến tranh, thiên tai, xây dựng công trình,
Trang 19thu hồi đất, ) và Tái định cư tự nguyện (do nhu cầu người dân muốn cải thiệncuộc sống).
Thực tế tại Việt Nam có nhiều hình thức tái định cư và được tổng hợpthành hai hình thức tái định cư phổ biến như sau [7]:
(1) Tái định cư tập trung theo quy hoạch, kế hoạch chung, có tổ chức(còn gọi là tái định cư bắt buộc):
- Di dân từ các tỉnh miền Bắc và miền Trung vào Tây Nguyên xây dựngcác vùng kinh tế mới Hình thức này chủ yếu diễn ra trước năm 1990
- Xây dựng làng thanh niên lập nghiệp và các khu giãn dân
- Xây dựng các công trình phục vụ lợi ích quốc gia (các công trình thủyđiện tại Tây Nguyên, Sơn La, )
Tái định cư bắt buộc là việc tái định cư do người dân bị trưng dụng đất
để xây dựng dự án vì lợi ích chung của cộng đồng Việc tái định cư bắt buộcliên quan tới tất cả lứa tuổi và giới, những mong muốn của một số người bịảnh hưởng có thể không được đáp ứng Rất nhiều người có thể gặp rủi ro vàthiếu động lực, sáng tạo để di chuyển và tái lập nơi ở mới và thực hiện nhữngđịnh hướng mới Phụ nữ và những hộ gia đình do họ đứng đầu thường chịunhiều thiệt thòi vì đền bù lại thường chỉ giành cho nam giới, những hộ do phụ
nữ đứng đầu lại thường trong tình trạng kinh tế mong manh, hơn nữa phụ nữthường bị hạn chế trong tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ Không có sự giúp đỡmạnh mẽ, thì những người bị tái định cư bắt buộc sẽ trở nên nghèo khó Nếuviệc tái định cư bắt buộc là không thể tránh khỏi thì nó cần được hoạch định
và thực thi một cách chu đáo để kinh tế có thể được tăng trưởng và giảm đượcnghèo đói, đặc biệt đối với những người dễ bị tổn thương [7]
(2) Di dân tự do (tái định cư tự nguyện): di cư tự phát vào Tây Nguyên
từ các tỉnh miền Bắc và miền Trung, trong đó có cả nhân dân các dân tộc ởmiền núi phía Bắc như Tày, Nùng, Dao, Sán Chỉ, H’Mông Di dân tự phát
Trang 20diễn ra mạnh ở một số thời điểm và thường gây áp lực lớn về đất đai Nhữngngười tái định cư tự nguyện được tự quyết định lựa chọn Họ thường là namgiới ở lứa tuổi trẻ hoặc trung niên vì vậy họ khá năng động, sáng tạo và chấpnhận rủi ro Chính phủ sẽ tổ chức các chương trình tái định cư được quyhoạch trước, các chương trình này không chỉ quy hoạch nơi ở mới mà cònquy hoạch điều kiện sống tại nơi ở mới, cung cấp các dịch vụ xã hội và thậmchí phục vụ cả nhu cầu văn hóa và tôn giáo [7]
2.1.2.4 Di dân tái định cư trong các công trình thuỷ điện
Di dân tái định cư trong các công trình thuỷ điện thường là di dân bắtbuộc để giải phóng mặt bằng, thi công công trình thuỷ điện Các công trìnhthuỷ điện đều mang tính quan trọng quyết định đối với sự phát triển của địaphương, khu vực và quốc gia Tuy nhiên, chúng cũng làm nảy sinh mâu thuẫngiữa mục đích phát triển quốc gia lâu dài với quyền lợi của các cộng đồng và
cá nhân - những người chịu bất lợi trước tiên Các dự án này đều có thể tácđộng bất lợi tới những người đang sử dụng các nguồn tài nguyên như đất đai,nguồn nước, hay các loại tài nguyên thiên nhiên khác và các phương tiện kinh
tế, xã hội, văn hoá và tôn giáo liên quan
Điều quan trọng là phải cân nhắc lợi ích đạt được với cái giá phải trả chocác ảnh hưởng này bằng cách xem xét các phương án triển khai hoặc khôngphải di dân, hoặc chỉ gây gián đoạn nhỏ về kinh tế, xã hội và tìm ra cách đểhoà hợp những quyền lợi và mâu thuẫn nói trên Trường hợp không tránhkhỏi tái định cư, phải tiến hành các biện pháp cụ thể nhằm đạt được các nộidung như sau:
- Bảo vệ quyền lợi và cuộc sống của những người bị di chuyển do dự án;
- Giảm và đền bù những thiệt hại về tiềm năng kinh tế của người bị ảnhhưởng, của nền kinh tế khu vực và địa phương;
- Hỗ trợ phát triển tiềm năng kinh tế, xã hội và văn hoá cho các cộngđồng và người bị ảnh hưởng
Trang 212.1.2.5 Đặc điểm sinh kế của di dân tái định cư vùng bán ngập trong các
công trình thuỷ điện
Các công trình thuỷ điện chủ yếu được đầu tư xây dựng ở bên các consông có địa hình đồi núi cao Mục đích xây dựng nhằm lợi dụng địa thế tựnhiên để hình thành các hồ chứa nhân tạo Một nhà máy thuỷ điện khôngchiếm nhiều diện tích nhưng hồ chứa nước để đảm bảo vận hành nhà máychiếm diện tích rất lớn, từ vài km2 đến hàng trăm km2 (diện tích hồ thuỷ điệnHoà Bình là 208 km2, Sơn La là 224 km2) Điều đó cũng có nghĩa là có diệntích đất tương ứng bị mất đi, hơn nữa, đó chủ yếu là diện tích canh tác đã ổngđịnh lâu đời (do điều kiện đất ở đây gần nguồn nước, trong thung lũng vàđược canh tác lâu đời chủ yếu là đất tốt)
Số lượng người dân phải tái định cư và bị ảnh hưởng một phần từ các dự
án thuỷ điện thông thường cũng rất lớn (xem bảng 2.1)
Bảng 2.1: Ảnh hưởng của công trình thuỷ điện Sơn La
Nguồn: Viện Quy hoạch thiết kế Nông nghiệp [20].
Đại đa số người dân ở đây rất nghèo, trình độ nhận thức thấp và không đủ
ăn hàng năm Các dự án tái định cư này sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của cáchuyện cũng như của toàn tỉnh và có khả năng sẽ làm cho chính quyền địaphương gặp khó khăn hơn trong việc đạt được các mục tiêu phát triển đã đề ra.Hiện nay ở nước ta các hồ chứa thủy điện đã vận hành ổn định từ hangchục năm nay như hồ Thác Bà, hồ Hòa Bình, hồ Trị An, hồ Ialy người dân cưtrú ven hồ đã sử dụng đất bán ngập để trồng trọt rất có hiệu quả, đã tạo thêmthu nhập góp phần ổn định cuộc sống của người dân TĐC Ngay cả các côngtrình thủy điện hiện đang xây dựng sắp hoàn thành ở Tây Nguyên như
Trang 22Plêikrông, Sông Ba Hạ, An Khê - Ka Nak…cũng được các Ban quản lý Dự ánthủy điện và chính quyền địa phương khuyến cáo các hộ TĐC tận dụng trên
3000 ha đất bán ngập để tổ chức sản xuất
Cơ sở để tổ chức sản xuất nông nghiệp trong vùng hồ là các hồ chứathủy điện được vận hành theo quy luật điều tiết mực nước hồ từ cao trình mựcnước chết đến cao trình mực nước dâng bình thường theo các tháng trongnăm Quá trình tích nước trong mùa mưa xã nước trong mùa khô phục vụ phátđiện và chống hạn tạo ra một phần diện tích đất không bị ngập trong thời giannhất định trong năm có thể sử dụng để trồng trọt
Nghiên cứu khả năng khai thác sử dụng đất bán ngập và quy hoạch bố trícây trồng hợp lý tại vùng hồ thủy điện Sơn La (theo quyết định số 706/QĐ-BNN-TT ngày 14/3/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn) làmột trong giải pháp để giảm áp lực nhu cầu đất sản xuất nói chung và đặc biệt
là các xã có các khu điểm TĐC di vén ven hồ nói riêng
Qua khảo sát các khu vực sản xuất nông nghiệp trên đất bán ngập tại một
số hồ thủy điện ở nước ta cho thấy muốn sử dụng phải có các điều kiện sau:(1) Địa hình khu vực đất bán ngập phải có độ dốc đảm bảo cho canh tácnông nghiệp, diện tích phân bố phải tương đối tập trung, không manh mún.Khu đất phải được bồi lắng phù sa hàng năm
(2) Khu vực đất bán ngập phải gần khu dân cư hay ít nhất phải thuận lợigiao thông đi lại trong quá trình sản xuất của người dân
(3) Thời gian hở đất phải trùng với thời vụ gieo trồng ở địa phương vàđảm bảo chu kỳ sinh trưởng của các cây trồng hàng năm
(4) Người nông dân phải có trình độ canh tác nhất định, có lao động đểkịp thời vụ gieo trồng và thu hoạch kịp thời gian đất hở
(5) Có thông tin kịp thời về mực nước hồ các tháng trong năm, đặc biệt
là các tháng đầu và cuối vụ sản xuất để người dân có kế hoạch cho sản xuất
2.2 Cơ sở thực tiễn về tái định cư
Trang 232.2.1 Kinh nghiệm tái định cư trên thế giới
- Kinh nghiệm của Trung Quốc [6]
Trung Quốc đã được coi là một trong những nước có chính sách TĐC tốt
và phù hợp với đa số các yêu cầu của các tổ chức cho vay vốn, đặc biệt trongcác nỗ lực nhằm khôi phục cuộc sống và nguồn thu nhập cho các hộ bị ảnhhưởng
Mục tiêu bao trùm của chính sách tái định cư của Trung Quốc là hạn chếđến mức tối đa việc thu hồi đất cũng như số lượng người bị ảnh hưởng của dự
án Song nếu việc tái định cư là không thể tránh khỏi thì cần có sự chuẩn bịcác kế hoạch cẩn thận để đảm bảo cho những người bị ảnh hưởng được đền
bù và hỗ trợ đầy đủ, có tính đến các lợi ích của Nhà nước, tập thể và cá nhân,
và dần dần làm cho những người bị ảnh hưởng khôi phục lại hoặc cải thiệnthêm mức sống ban đầu của họ
Theo đánh giá của một số chuyên gia tái định cư, sở dĩ Trung Quốc cónhững thành công nhất định trong công tác tái định cư là do họ đã xây dựngcác chính sách và thủ tục rất chi tiết, ràng buộc đối với các hoạt động tái định
cư trong các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt trong hoạt động tái định cư của cáccông trình thuỷ điện, hồ chứa Mục tiêu của các chính sách này là cung cấpcác cơ hội phát triển cho tái định cư, với phương thức tiếp cận cơ bản là tạocác nguồn lực sản xuất cho những người tái định cư Các kế hoạch tái định cưchi tiết cùng các thoả thuận phục hồi kinh tế cho từng làng, từng hộ gia đình
bị ảnh hưởng được chuẩn bị trước khi thông qua dự án Để đảm bảo sau khitái định cư, việc hỗ trợ cho những người bị di chuyển vẫn được tiếp tục, cácquy định quốc gia quy định rằng cần phải lập ra một quỹ phát triển hồ chứa vàduy trì nó trong 10 năm, sử dụng một phần thu nhập của dự án Bên cạnh việc
có chính sách tốt thì nhân tố quan trọng thứ hai khiến hoạt động tái định cư ởTrung Quốc thành công là năng lực thể chế mạnh của các chính quyền địa
Trang 24phương Chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc thựchiện chương trình tái định cư.
Quyền sở hữu tập thể là một nhân tố quan trọng khác làm cho việc thựchiện tái định cư ở Trung Quốc có nhiều thuận lợi, đặc biệt ở nông thôn Tiềnđền bù đất đai bị mất không trả cho từng hộ gia đình và được cộng đồng sửdụng để tìm kiếm, phát triển đất mới hoặc mua của các cộng đồng sở tại haydùng để phát triển cơ sở hạ tầng Chính quyền thôn, xã sẽ chịu trách nhiệmphân chia lại đất cho các hộ bị ảnh hưởng
- Kinh nghiệm của Thái Lan [6]
Ở Thái Lan, Hiến pháp năm 1982 đã quy định khi trưng dụng đất chocác mục đích xây dựng cơ sở hạ tầng, quốc phòng, phát triển nguồn tàinguyên cho đất nước, phát triển đô thị, cải tạo đất đai và các mục đích côngcộng khác phải thực hiện đền bù theo giá thị trường cho những người hợppháp về tất cả những thiệt hại do việc trưng dụng gây ra Trên cơ sở này, cácngành có các quy định chi tiết cho việc thực hiện trưng dụng đất của ngànhmình theo những nguyên tắc đã quy định trong Hiến pháp
Năm 1987, Thái Lan ban hành Luật về Trưng dụng bất động sản mangtên B.E 2530 áp dụng cho việc trưng dụng đất cho các mục đích xây dựngtiện ích công cộng, quốc phòng, phát triển nguồn tài nguyên hoặc các lợi íchkhác cho đất nước, phát triển đô thị, nông ngiệp, công nghiệp, cải tạo đất đai
và các mục đích công cộng khác Luật này cũng quy định các nguyên tắctrưng dụng đất, các nguyên tắc tính giá trị đền bù các loại tài sản bị thiệt hại,trình tự lập và phê duyệt dự án và đền bù, tái định cư, trình tự đàm phán, nhậntiền đền bù, trình tự khiếu nại và giải quyết khiếu nại, trình tự đưa ra toà án.Luật B.E 2530 cũng chỉ quy định các nguyên tắc chung, không quy định
cụ thể, vì vậy, từng ngành có các quy định riêng cho ngành mình về các trình
tự và nguyên tắc cụ thể để xác định giá trị đền bù và thực hiện tái định cư cho
Trang 25người bị thu hồi đất Trong việc thực hiện thì ngành điện lực thực hiện tốtnhất Cơ quan điện lực Thái Lan là nơi có nhiều dự án tái định cư lớn nhấtnước đã có chính sách riêng về đền bù và tái định cư với mục tiêu "đảm bảocho những người bị ảnh hưởng một mức sống tốt hơn" thông qua việc cungcấp cơ sở hạ tầng nhiều hơn và tốt hơn, đảm bảo cho người bị ảnh hưởng cóthu nhập cao hơn và được tham gia nhiều hơn vào quá trình phát triển Chínhsách đền bù và tái định cư của cơ quan Điện lực Thái Lan đã vượt trên các đòihỏi về mặt pháp lý của luật pháp Thái vì được xây dựng với mục tiêu nângcao mức sống của những người bị ảnh hưởng và trên thực tế đã tỏ ra có hiệuquả trong nhiều dự án đập lớn của Thái Lan.
2.2.2 Chủ trương của Đảng và các chính sách của Nhà nước liên quan
đến tái định cư ở Việt Nam
Hiện tại Việt nam chưa có các quy định cụ thể và thống nhất về di dân tái định cư nói chung và triển khai thực hiện công tác này Các kế hoạch didân tái định cư thường được xây dựng tùy theo điều kiện cụ thể của dự án vàkhả năng của nhà đầu tư Tuy nhiên, chủ trương, chính sách của Đảng cũngkhẳng định tất cả các phương án tái định cư đều phải đảm bảo“bảo đảm chongười dân có cuộc sống nơi ở mới tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ”
-Trước năm 1993, Nhà nước có thể thu hồi đất mà không đền bù gì hoặcchỉ đền bù cho chính quyền địa phương hoặc tổ chức tập thể đã được cấp đất
Cơ sở pháp lý cho chính sách tái định cư dần dần được hình thành với sự rađời của Hiến pháp năm 1992 và Luật Đất đai năm 1993, kèm theo đó làhướng dẫn thực hiện trong Nghị định 22/1998/NĐ-CP, cùng với những cảithiện trong Luật Đất đai năm 2003 Cho đến nay, luật đã quy định là phải đền
bù những thiệt hại về đất và các tài sản kèm theo đất Các biện pháp hỗ trợ ổnđịnh mức sống của những đối tượng bị ảnh hưởng đã được đưa ra với nguyêntắc chung là nơi tái định cư phải có điều kiện sống ít nhất là ngang bằng hoặc
Trang 26tốt hơn
Dưới đây là tóm tắt một số văn bản pháp luật về tài nguyên thiên nhiên,đất đai và các chính sách liên quan đến đền bù, TĐC từ năm 1993
- Luật Đất đai 1993
- Nghị định 90/NĐ-CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ về quy định đền
bù những thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất
- Nghị định 87/NĐ-CP ngày 17/8/1998 của Chính phủ về giá đất
- Nghị định 17/NĐ-CP ngày 21/3/1998 điều chỉnh Phần 2, Điều 4 củaNghị định 87/CP về quy định khung giá các loại đất
- Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24/4/1998 về đền bù thiệt hại khi Nhànước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốcgia, lợi ích công cộng, bao gồm cả đất thu hồi cho các dự án phát triển Đây là
cơ sở pháp lý để xây dựng chính sách (cả tạm thời và chính thức) cho việc triểnkhai công tác tái định cư ở các công trình thuỷ điện, thuỷ lợi trên cả nước
- Luật Đất đai 2003
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP của Chính phủ về thực hiện Luật Đất đai
- Nghị định 188/2004/NĐ-CP về phương pháp xác định giá đất và khunggiá các loại đất
- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26/11/2004 của Bộ Tài chínhhướng dẫn thực hiện Nghị định 188/2004/NĐ-CP, hướng dẫn phương phápxác định giá đất và tổ chức thực hiện
- Nghị định 197/2004/NĐ-CP về đền bù, hỗ trợ và tái định cư khi Nhànước thu hồi đất
- Quyết định 459/QĐ-TTg ngày 12/5/2004 của Thủ tướng Chính phủ quiđịnh về bồi thường di dân, tái định cư dự án thuỷ điện Sơn La
Trang 272.2.3 Thực trạng tái định cư, sử dụng đất bán ngập tại các hồ chứa công
trình thủy điện ở Việt Nam [22]
Các hồ chứa thủy điện được điều tiết năm theo quy luật tích nước vàocuối mùa mưa và xả nước vào đầu mùa khô Quy luật này tạo thành đới bánngập vùng lòng hồ chứa từ cốt mực nước dâng bình thường (MNDBT) vàmực nước chết (MNC) Lợi dụng chế độ vận hành theo chu kỳ được tính toán
cụ thể cho từng thời điểm tại các tháng trong năm, nhiều nơi nhân dân sốngven hồ đã tận dụng đất bán ngập để sản xuất Tuy nhiên do đặc điểm địa hìnhvùng lòng hồ và điều kiện kinh tế xã hội của cộng đồng dân cư cư trú ven hồnên chỉ có một vài hồ chứa thủy điện có diện tích đất bán ngập được sử dụngcho mục đích sản xuất nông nghiệp, trong đó chủ yếu là các công trình thủyđiện đã vận hành hồ chứa ổn định như thủy điện Hòa Bình, thủy điện Trị An,thủy điện Ialy
a Vùng hồ thủy điện Hòa Bình
Công trình thủy điện Hòa Bình được khởi công xây dựng năm 1979trên sông Đà hoàn thành năm 1994, vị trí đập và nhà máy tại thị xã Hòa Bình.Nhà máy có công suất 1.920 MW Ngoài mục tiêu cung cấp điện năng côngtrình thủy điện Hòa Bình còn có nhiệm vụ cắt lũ vùng hạ du vào mùa mưa lũ
và phải cung cấp nước tưới cho vụ lúa Đông Xuân vùng đồng bằng trung duBắc bộ Để thực hiện các nhiệm vụ trên, hồ Hòa Bình được điều tiết theomùa, có nghĩa là cuối mùa mưa bắt đầu trữ nước và đầu mùa khô bắt đầu xảnước đến cuối mùa khô để sẵn sàng đón lũ của năm sau Vì vậy, hàng nămnhất thiết phải tích nước vào hồ đến MNDBT (120m) từ đầu tháng 9 và giữ
ở MNDBT đến tháng 12, công việc này sẽ được thực hiện cùng với nhiệm
vụ cung cấp điện năng và đảm bảo dung tích phòng lũ vào mùa mưa Chu kỳnày được lặp lại hàng năm theo một lịch trình cụ thể với chế độ điều tiết rấtkhoa học
Trang 28Theo số liệu của Ban công tác Sông Đà đến thời điểm năm 1998 số dânđược di chuyển ra khỏi vùng lòng hồ là 9.305 hộ, 54.230 khẩu là đồng bàocác dân tộc Mường, Thái, HMông… của 51 xã, 9 huyện thuộc tỉnh Hòa Bình
và Sơn La Số liệu thống kê của tỉnh Sơn La cho thấy tổng số có 5.200 hộphải di chuyển ra khỏi vùng ngập thì chỉ có 1.068 hộ di chuyển đến TĐC tạiđịa bàn các xã xa vùng hồ, trong đó tỉnh Hòa Bình có 4.105 hộ TĐC thì cóđến 3/4 số hộ dân di vén tại chỗ Theo định hướng phát triển sản xuất của các
xã lúc bấy giờ thì các khu, điểm TĐC ven hồ sẽ sản xuất nông lâm nghiệp kếthợp khai thác nguồn lợi thủy sản và dịch vụ vận tải trên hồ Đất đai cho sảnxuất được cân đối sử dụng đất cũ không bị ngập và điều hòa lại quỹ đất chungcủa các HTX nông nghiệp không bị ngập trong nội bộ của xã (để bù lại hơn5.000 ha đất nông nghiệp bị ngập trong lòng hồ) Tuy nhiên, do không thểđiều hoà được đất sản xuất do nhiều lý do, nên đa số các hộ dân di vén TĐCtại chổ bị thiếu đất canh tác buộc phải phá rừng phòng hộ ven hồ để phátnương làm rẫy Vấn đề cấp đủ đất sản xuất cho các hộ TĐC là vấn đề nan giảicủa chính quyền địa phương tại các xã có TĐC và vì vậy việc sử dụng đất bánngập để sản xuất là nhu cầu của các hộ dân di vén ven hồ tại những khu vực
có quỹ đất bán ngập từ những năm 90 của thế kỷ trước
Do chế độ vận hành mực nước hồ Hòa Bình dao động từ 80m (MNC)đến 120m (MNDBT), do vậy trên vùng đất ngập nước sẽ tạo ra một vùng đấtbán ngập có diện tích khoảng 8.000 ha quanh hồ, những khu vực địa hìnhbằng phẳng được tích tụ phù sa có khả năng trồng trọt đều được tận dụng sảnxuất Tuỳ theo cao trình khu đất và thời gian hở đất các tháng trong năm, thời
vụ phù hợp với cây trồng hàng năm có thể sử dụng gieo trồng 2 vụ hoặc 1 vụ.oàn vùng hồ có khoảng 15/41 xã có các hộ dân TĐC ven hồ sử dụng đất bánngập để sản xuất với diện tích khoảng 1.200 ha, trong đó tập trung hơn 1.000
ha tại 5 xã vùng ven suối Tấc (vùng ven hồ thuộc chi lưu của sông Đà) thuộc
Trang 29huyện Phù Yên tỉnh Sơn La gồm các xã Tường Phù, Tường Thượng, Tường
Hạ, Tường Tiến, Tường Phong Nhiều hộ TĐC có nguồn thu nhập chính là từsản xuất trồng trọt trên ruộng bán ngập
b Vùng hồ công trình thủy điện Trị An
Công trình thủy điện được xây dựng trên sông Đồng Nai cách thành phố
Hồ Chí Minh 65 Km về phía Đông Bắc được khởi công xây dựng năm 1984
và hoàn thành năm 1989 với 4 tổ máy, công suất 400 MW, với 2 nhiệm vụ làcung cấp sản lượng điện 1,7 tỷ KWh/năm Ngoài ra công trình còn phục vụcông tác thủy nông cho Tp Hồ Chí Minh (phục vụ đẩy mặn, tưới tiêu, cắt lũ)
Địa hình vùng lòng hồ Trị An tương đối thoải nên diện tích đất bán ngậpkhá lớn, toàn vùng có khoảng 2.100 ha có thể sản xuất trồng trọt cây hàng năm
Do nhu cầu đất đai của nhân dân ven hồ không phải là vấn đề bức bách nênthời gian đầu chỉ có một số hộ nông dân tận dụng một phần để trồng 1 vụ ngô,rau màu, có nhiều năm bỏ không sản xuất, diện tích gieo trồng hàng nămkhoảng từ 300 – 400 ha Việc sử dụng đất bán ngập để trồng trọt đa số là các
hộ dân sống ven hai bên bờ hồ phía Tây Nam cầu La Ngà thuộc địa phận huyệnĐịnh Quán tỉnh Đồng Nai và tập trung tại các xã La Ngà, Phú Ngọc
Thời gian gần đây việc sử dụng đất bán ngập đã thành phong trào,người dân thi nhau lấn chiếm sâu vào vùng lòng hồ, đắp đê bao lập trang trạichăn nuôi, đào ao nuôi cá đã làm ảnh hưởng đến khả năng tích nước của hồchứa làm hạn chế công suất phát điện của nhà máy và gây ô nhiểm nguồnnước của hồ chứa
c Vùng hồ công trình thủy điện Ialy
Được xây dựng trên sông Sê San thuộc địa phận xã Ialy của huyện ChưPảh, tỉnh Gia Lai Công trình được khởi công năm 1993 và hoàn thành năm
2002 với công suất 720MW Hồ chứa có chiều dài trên 40 km kéo dài đến thị
xã Kon Tum, chiều rộng bình quân của hồ 1.000m, nơi rộng nhất 4.000m, nơi
Trang 30sâu nhất 60m Số dân bị ảnh hưởng ngập 4.600 hộ trong đó ngập nhà phải dichuyển TĐC 1.600 hộ và ngập đất sản xuất không bị ngập nhà 3.000 hộ thuộc
12 xã phường thuộc 3 huyện thị của hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum
Đất sản xuất bị thiệt hại do ngập 2.680 ha Về TĐC, chủ yếu bố tríTĐC di vén tại chỗ, vì vậy nhu cầu đất canh tác cho dân TĐC tạo áp lực rấtlớn cho chính quyền địa phương và đòi hỏi phải sử dụng đất bán ngập để sảnxuất, đặc biệt đối với các hộ TĐC ven hồ của các xã Kroong, Ngọc Bay, VinhQuang của thị xã Kon Tum
Vùng bán ngập hồ thủy điện Ialy hiện đang sử dụng khoảng 1.608 ha
để canh tác từ cao trình 512 – 515m, trong đó các xã phường của thị xã KonTum sử dụng 1.425 ha, các xã còn lại thuộc huyện Chưpảh tỉnh Gia Lai sửdụng 183 ha Do địa hình khu vực đất bán ngập từ cao trình 490m đến 515 mrất thuận lợi cho trồng trọt, vì đây là khu vực canh tác trước khi hình thànhlòng hồ Diện tích hở đất có thời gian kéo dài 7-9 tháng chiếm gần một nửadiện tích bán ngập thuận lợi gieo trồng 2 vụ trong năm
Để tạo điều kiện cho người dân sản xuất có hiệu quả, chủ đầu tư tổchức san ủi, xây dựng hoàn chỉnh đồng ruộng, đầu tư 6 trạm bơm điện và hệthống kênh tưới bằng bê tông trước khi bàn giao cho các hộ dân Theo số liệucủa Ban QLDA thủy điện 4 – đơn vị quản lý xây dựng nhà máy tổng vốn đầu
tư cho khu bán ngập là 32 tỷ đồng (thời điểm năm 2002)
Việc canh tác trên diện tích này cũng không thường xuyên, năm làmnăm bỏ do không chủ động thời vụ, giống cây trồng Các cơ quan chức năngcủa địa phương chưa có những chỉ đạo hoặc hướng dẫn cho người dân sảnxuất mà chủ yếu do người dân tự làm và tận dụng là chính để trồng ngô và rauđậu cho nhu cầu của gia đình Tại một số nơi được trồng cỏ hoặc khai thác cỏ
tự nhiên trong thời gian không ngập cho chăn nuôi trâu bò
Trang 312.2.4 Yếu tố tác động đến sử dụng đất bán ngập tại hồ chứa các công trình
thủy điện [22]
2.2.4.1 Lịch điều tiết mực nước hồ các tháng có thể điều chỉnh phụ thuộc vào
thời tiết cụ thể của từng năm
Mục tiêu và nhiệm vụ chính của các công trình thủy điện là sản xuất điệnnăng, cắt lũ và chống hạn, đẩy mặn cho vùng hạ lưu, vì vậy công tác điều tiếtmực nước hồ không phải là một lập trình chính xác lặp đi lặp lại đúng thờiđiểm hàng năm mà còn căn cứ vào diễn biến thời tiết cụ thể của từng năm đểđiều chỉnh lịch tích và xả nước phù hợp Vì vậy có năm nước rút chậm và tíchnước sớm hơn so với lịch trình định trước để phục vụ cắt lũ hoặc chống hạn,những năm như vậy sẽ không thể sản xuất được do không kịp với thời vụ gieotrồng hoặc có làm cũng khá bấp bênh đôi khi thất thu gây thiệt hại cho ngườinông dân
2.2.4.2 Chưa có quy định rõ ràng về mặt pháp lý về sử dụng đất bán ngập
Do chưa có quy định cụ thể về vấn đề sử dụng đất bán ngập tại các hồchứa thủy điện để sản xuất nên đôi khi có những quan điểm khác nhau củangười dân và chủ dự án dẫn đến những thiệt hại mà người dân hoặc nhà máythủy điện phải gánh chịu
- Về phía chủ dự án (Nhà máy thủy điện) căn cứ theo luật đất đai vàNghị định 22/CP (được thay thế bằng 197/CP) thì sau khi bồi thường thiệt hạithu hồi đất để xây dựng công trình thủy điện thì đất đai vùng lòng hồ do chủ dự
án trực tiếp quản lý để thực hiện các nhiệm vụ của dự án đã được Chính phủquy định Các mục đích sử dụng khác quỹ đất vùng lòng hồ nếu làm ảnh hưởngđến nhiệm vụ được phê duyệt của dự án là vi phạm pháp luật Tuy nhiên do áplực đất sản xuất cho dân TĐC, một số dự án thủy điện ở nước ta chủ dự án vẫnđồng ý để người dân sử dụng đất bán ngập canh tác nhưng không thừa nhậnviệc cấp quyền sử dụng đất cho người dân Vì vậy, đôi khi gây thiệt hại cho
Trang 32người dân do phải tích và xả nước hồ không theo lịch nhằm đảm bảo dunglượng nước cho hoạt động của nhà máy, hoặc điều tiết để bảo dưỡng các tổmáy phát điện không theo định kỳ (thuờng không thông báo cho người dân)
- Về phía nguời dân TĐC do bị thu hồi đất, họ đòi phải bồi thường theophương thức “đất đổi đất” hoặc bồi thường với giá trị thay thế, họ không thừanhận việc phân phối, đền bù và chia đất sản xuất cho họ trong vùng lòng hồ,
vì không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định Theo
họ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản dùng để trao đổi chuyểnnhượng hay thế chấp vay tiền ngân hang khi cần thiết Quan điểm tận dụngtrên dẫn đến người dân sử dụng tùy tiện, đào đắp ao, xây tường bao chiếm,nuôi trồng thủy sản thậm chí lập trang trại nuôi lợn…gây ảnh hưởng làm thuhẹp diện tích mặt hồ làm giảm dung tích hồ theo thiết kế, gây thiệt hại chochủ dự án chưa nói đến việc gây ô nhiệm nặng môi trường nước hồ khi cácchất thải của các trang trại chăn nuôi được xã trực tiếp vào hồ
Những thiệt hại của người dân do bị ngập khi chưa thu hoạch hoặckhông sản xuất ảnh hưởng đến sản xuất điện năng của nhà máy không đượcmột cơ quan nào xem xét để bồi thường hoặc hổ trợ một phần mất mát
2.2.4.3 Chính quyền và các ngành chức năng của địa phương chưa quan tâm
đúng mức đến sản xuất trên đất bán ngập của người dân
Thực tế ở các địa phương có sử dụng đất bán ngập để canh tác, chính
quyền địa phương cấp huyện, tỉnh hầu như không quan tâm nhiều đến vấn đề
sản xuất trên đất bán ngập và xem việc này là chỉ làm thêm của dân, tự lo và
tự chịu rủi ro Theo điều tra tại huyện Phù Yên của tỉnh Sơn La thuộc vùng hồHòa Bình diện tích đất bán ngập được sử dụng hàng năm gần 1.000 ha (các xãTường Hạ và Tường Thượng sử dụng trên 600 ha chiếm khoảng 50% diệntích đất nông nghiệp của hai xã nói trên và giá trị sản xuất trên đất bán ngậpchiếm tỷ trọng 60-70% giá trị sản xuất trong ngành trồng trọt của cả xã, gần
Trang 33800 hộ gia đình có sản xuất trên đất bán ngập và là nguồn thu nhập chính củahọ) Nhưng các cơ quan chức năng của địa phương không quản lý diện tíchđất bán ngập, hồ sơ địa chính của xã cũng không có bản đồ hay sơ đồ đất bánngập, không có các hướng dẫn cho nông dân về thời vụ, lịch gieo cấy, cơ cấugiống, phòng trừ sâu bệnh trong các văn bản chỉ đạo sản xuất hàng vụ, hàngnăm như trên đất không ngập Thậm chí người dân không thể vay vốn để đầu
tư sản xuất trên đất bán ngập do tính rủi ro cao Sự không quan tâm giúp đỡ
và chỉ đạo sản xuất của các phòng ban chức năng của huyện đã ảnh hưởng rấtlớn đến kết quả sản xuất trên vùng bán ngập về quy mô diện tích cũng nhưnăng suất sản lượng, giá trị sản xuất của người dân
2.3 Đặc điểm dự án tái định cư của công trình thuỷ điện Sơn La
2.3.1 Đặc điểm vùng di dân tái định cư (nơi đi)
Tính đến nay các tỉnh bị ảnh hưởng của công trình thuỷ điện Sơn La đã
tổ chức thống kê bồi thường cho trên 10.679 hộ, đã phê duyệt phương án đền
bù cho 6.046 hộ, như vậy công tác đền bù thiệt hại đạt 16.725 hộ, chiếm 80%
số hộ có tài sản cần bồi thường trong đó:
+ Tỉnh Sơn La đã thống kê đền bù cho 8.579 hộ, phê duyệt phương ánđền bù tài sản cho 4.466 hộ
+ Tỉnh Điện Biên năm 2006 đã thống kê đền bù cho 854 hộ, phê duyệtphương án đền bù tài sản cho 404 hộ
+ Tỉnh Lai Châu năm 2006 đã tiến hành thống kê đền bù cho 1.246 hộ,duyệt phương án đền bù cho 1.143 hộ
Số lượng người bị ảnh hưởng trực tiếp của nhà máy thủy điện Sơn Latính theo dân tộc trong năm 1998 với mức nước dâng bình thường 215 m chủyếu là dân tộc Thái chiếm 88,12%, các dân tộc khác chiếm tỷ lệ không đáng
kể (dân tộc La Ha chiếm 5,36% dân tộc Kinh chiếm 2,38%, dân tộc Xá chiếm3,42% và dân tộc Kháng chiếm 0,7% tổng số hộ bị ngập) (Xem bảng 2.2)
Trang 34Bảng 2.2: Số lượng các hộ dân bị ảnh hưởng trực tiếp của Nhà máy thủy
điện Sơn La
(hộ)
Cơ cấu (%)
Dân số(người)
Cơ cấu (%)
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và PTNT (2003)[4]
Đồng bào các dân tộc sống quần tụ thành bản theo dòng tộc, nhiều nơicác dân tộc khác nhau sống xen ghép, nhưng mỗi dân tộc có tập quán và bảnsắc riêng Đây là đặc điểm hết sức quan trọng cần chú ý trong quá trình tổchức sắp xếp TĐC
a) Người Thái:
Người Thái chiếm khoảng 55% dân số tỉnh Sơn La và 36% dân số tỉnhLai Châu, gồm hai nhóm địa phương là Thái Đen và Thái Trắng Trong vùnglòng hồ, người Thái Đen ở các huyện Mường La, Thuận Châu tỉnh Sơn La
và Tuần Giáo, Sìn Hồ tỉnh Lai Châu Nhóm Thái Trắng ở các huyện QuỳnhNhai của Sơn La và Mường Tè, Mường Lay, Sìn Hồ, Tủa Chùa, Tuần Giáocủa Lai Châu
Điểm cư trú của người Thái thường là những dải đất ven sông, ven suối,trên những quả đồi thấp hoặc ở chân núi, người Thái có tập quán làm nhà gầnnhau
Trang 35So với các dân tộc thiểu số
khác thì người Thái là dân
tộc có truyền thống định
canh định cư nhất, cơ sở
hạ tầng như đường giao
thông, công trình công
cộng cũng như nhà ở của
người Thái thường khá tốt
so với các dân tộc khác Ở vùng tái định cư của đồng bào Thái
Đây là đặc điểm cần lưu ý khi tiến hành chương trình tái định cư đối vớiđồng bào
Hoạt động sản xuất chính của người Thái là canh tác ruộng lúa nước Kỹthuật canh tác của họ khá phát triển, trong đó nổi bật là việc tạo ra hệ thốngthủy lợi tương đối hoàn chỉnh để đưa nước vào ruộng tưới cho lúa Sử dụngcày bừa và phân bón để canh tác lúa nước cũng là một tiến bộ trong canh tácnông nghiệp của người Thái Ngoài ruộng nước, đồng bào còn làm nương vớicây trồng chính là ngô và sắn để chăn nuôi và một phần làm lương thực Một
số nơi còn trồng bông và chàm để dệt vải, nhuộm vải Hái lượm và săn bắnvẫn còn chiếm vị trí nhất định trong đời sống kinh tế của đồng bào
Chăn nuôi gia đình tương đối phát triển, gồm có gia súc, gia cầm như trâu,
bò, lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng Đồng bào vẫn duy trì tập quán làm chuồng dướigầm sàn nhà Người Thái cũng biết tận dụng các điều kiện để đào, đắp ao nuôithả cá, điều này cần được phát huy trong việc xây dựng kế hoạch tái định cưnhư mở rộng nghề nuôi cá thành nuôi cá bè khi có công trình thủy điện
Nghề thủ công của người Thái có đan lát, dệt vải, làm gối, chăn đệm,những hoạt động này không những bổ trợ cho nền kinh tế tự cung tự cấp màcòn dần trở thành sản phẩm hàng hoá trong những năm gần đây
Trang 36Người Thái từ lâu đời đã biết sử dụng thuyền làm phương tiện vậnchuyển trên sông suối với nhiều mục đích khác nhau như đi lại, vận chuyểnhàng hóa, chở khách Như vậy khi xây dựng công trình thủy điện cần tạo điềukiện để người Thái có thể thích nghi và khai thác thế mạnh của một vùng hồlớn Phát huy các thể mạnh về thủy sản, giao thông thủy kết hợp với lâmnghiệp sẽ cho phép tái định cư một số lượng không nhỏ các hộ gia đình theohình thức di vén.
b) Người La Ha:i La Ha:
Số lượng người La Ha hiện nay rất ít, chỉkhoảng vài nghìn người tập trung chủ yếu tạitỉnh Sơn La Do ảnh hưởng của công trình thủyđiện, tổng số có 23 bản của người La Ha phải
di chuyển thuộc các xã Ít Ong, Mường Trai,Nậm Dôn huyện Mường La và Mường Sạihuyện Thuận Châu
Dân tộc La Ha sống chan hòa với các dân tộc khác trong nhiều bản Ởnhiều xã họ sống xen kẽ cả với dân tộc Thái, Khơ Mú, Kháng, Kinh, Do vậytrong chương trình tái định cư có thể bố trí dân tộc La Ha sống xen ghép vớicác dân tộc khác
Tổ tiên của người La Ha là một trong những nhóm đầu tiên khai pháruộng nước trong các thung lũng lòng chảo Tây Bắc, tuy nhiên đến nay thì
họ sống chủ yếu bằng nghề nương rẫy Ngoài trồng trọt, người La Ha cònchăn nuôi, đan lát, hái lượm, săn bắn, đánh cá và đặc biệt là nghề dệt vải kháphát triển
Bản của người La Ha được dựng ở những nơi thuận tiện cho việc đi lại
để làm nương, song thường ở sườn núi thấp gần suối, mỗi bản thường cótrung bình 20 nóc nhà
c) Người Khơ Mú:
Trang 37Là dân tộc nói ngôn ngữ Môn - Khơ Me, tại Sơn La họ chiếm khoảng1,4% dân số và sống xen kẽ tại 50 xã trong số 183 xã của tỉnh, tại Lai Châu
họ chiếm tỷ lệ cao hơn, khoảng 2,7% và sống tại 40 xã trong số 141 xã củatỉnh Trong vùng ảnh hưởng của lòng hồ, có 7 bản người Khơ Mú (tập trunghoàn toàn ở Lai Châu) thuộc các xã Mường Mô huyện Mường Tè, xã NậmHằng, Pa Ha huyện Mường Lay, xã Căn Co huyện Sìn Hồ và xã Mường Bánghuyện Tủa Chùa
Trên địa bàn vùng dự án, người Khơ Mú hầu như sống xen kẽ với cácdân tộc khác, trong số các xã có người Khơ Mú cư trú, thường họ chỉ chiếmdưới 20% dân số
Người Khơ Mú cư trú ở vùng rẻo giữa, chuyên sống bằng trồng trọt trênnương rẫy Cây trồng chính là lúa nếp, ngoài ra còn có ngô sắn, khoai sọ, bầu,
bí Canh tác sản xuất chủ yếu bằng dao, rìu sắt, gậy chọc lỗ và cuốc Năngsuất cây trồng rất thấp, vì vậy hái lượm và săn bắt còn giữ vị trí quan trọngtrong đời sống của họ Chăn nuôi kém phát triển, hầu như là thả rông
Trước đây do du canh du cư nên bản của người Khơ Mú không cố định,tuy nhiên gần đây bản đã định cư và đông đúc hơn, mỗi bản có từ 30-40 nhà,nhà của họ thường quay ra phía sông suối hoặc khe núi
d) Người Kháng:
Người Kháng cũng là dân tộc nói ngôn ngữ Môn - Khơ Me có số lượngkhoảng 4 nghìn người cư trú tại khoảng 20 xã của hai tỉnh Sơn La và LaiChâu Có 3 bản của người Kháng của xã Nậm Dôn, huyện Mường La tỉnhSơn La bị ảnh hưởng phải tái định cư
Phương thức canh tác của người Kháng có thể chia thành 3 nhóm: Nhóm
du canh du cư sống hoàn toàn bằng nương rẫy ; Nhóm du canh bán định cư, làmnương chuyên canh bỏ hóa một vài vụ, kết hợp làm một ít ruộng nước vào mùamưa; Nhóm định canh định cư sống bằng ruộng nước kết hợp với nương rẫy.Bản của người Kháng được dựng trên những sườn đồi thấp, ven sông suối Nhàthường nhìn ra phía có nguồn nước hay thung lũng giữa hai sườn núi
Trang 38Năng suất nương rẫy còn thấp và bấp bênh, phần lương thực đó chỉ đủcho 6-9 tháng Do vậy, hái lượm và săn bắt còn chiếm vị trí quan trọng Chănnuôi kém phát triển, sản phẩm chỉ đủ dùng vào cúng lễ, ma chay, cưới xin Ởcác bản ven sông, nghề làm thuyền và đánh cá rất phát triển Đan lát là mộtnghề phụ khá phổ biến.
2.3.2 Đặc điểm vùng nhận dân tái định cư (nơi đến)
a) Quy hoạch bố trí khu tái định cư:
Theo quyết định phê duyệt, trên địa bàn 3 tỉnh có 22 vùng, 111 khu, 260điểm tái định cư với khả năng tiếp nhận 18.897 hộ, được bố trí như sau:
- Tỉnh Sơn La có 10 vùng (thuộc 10 huyện), 83 khu (thuộc 83 xã), 218điểm tái định cư, bố trí 100% số hộ tái định cư của tỉnh, gồm 12.479 hộ,62.394 khẩu
- Tỉnh Lai Châu có 4 vùng, 7 khu với 24 điểm tái định cư, có khả năng
bố trí khoảng 4.043 hộ, gồm 2.578 hộ tái định cư của tỉnh Lai Châu (100%)
và có thể bố trí khoảng 1.500 hộ tái định cư của tỉnh Điện Biên
- Tỉnh Điện Biên: dự báo đến năm 2010 số dân phải di chuyển của tỉnhĐiện Biên là 3.840 hộ, trong đó bố trí trên địa bàn tỉnh là 2.739 hộ, gồm 2.087
hộ tái định cư đô thị và 652 hộ tái định cư nông thôn (đã di chuyển 200 hộđến khu tái định cư mẫu Nậm Chim, Si Pa Phìn); bố trí tái định cư tại tỉnh LaiChâu 1.101 hộ
b) Phương thức tái định cư:
Phương thức tái định cư áp dụng là phương thức tái định cư tập trung vớiphương châm chủ yếu là bố trí xen ghép giữa các xã các bản trong huyện,trong tỉnh theo hình thức di dân tại chỗ với các khu vực có đất để sản xuấtnông nghiệp Xây dựng các điểm tái định cư đều dựa trên cơ sở sắp xếp lạisản xuất, gắn với cơ sở chế biến và thị trường tiêu thụ nông lâm sản
c) Cơ sở lựa chọn các khu tái định cư:
Nhà nước chủ động đầu tư cao và đồng bộ vào các vùng có tiềm năng về
Trang 39đất, nước và khí hậu, xây dựng các vùng kinh tế tập trung quy mô lớn với
cơ cấu kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hóa Đồng thời với quá trình
bố trí lại sản xuất là sắp xếp lại dân cư để tạo thêm việc làm tiếp nhận dânTĐC Dự án Thủy điện Sơn La
Các vùng được lựa chọn để xây dựng khu TĐC là các vùng có điều kiệnnhư sau:
- Vùng đất rộng, người thưa, có tiềm năng phát triển kinh tế gắn với anninh, quốc phòng
- Vùng có lợi thế về tự nhiên và kinh tế để phát triển
- Vùng được quy hoạch phát triển nhanh gắn với quá trình đô thị hóa
2.3.3 So sánh đặc điểm vùng di dân TĐC và vùng nhận dân TĐC
Các điểm tái định cư được bố trí hầu hết ở những vùng lân cận với vùng
bị ảnh hưởng phải di chuyển dân Do đó có những sự tương đồng nhất định vềdân tộc, văn hoá, lối sống giữa người dân tái định cư và người dân vùng tiếpnhận dân tái định cư
Tuy nhiên do bị bắt buộc phải di chuyển nên không thể tránh khỏi việcphá vỡ kết cấu của cộng đồng, không những của cộng đồng người dân tái định
cư mà còn của cộng đồng vùng nhận dân tái định cư
Cả 3 tỉnh đều có mật độ dân số rất thấp (đều dưới 100 người/km2) nhưng
do địa hình đồi núi gẫy khúc cho nên diện tích để bố trí canh tác không nhiều
Vì vậy, điều kiện canh tác, sản xuất của các hộ sau khi tái định cư bị giảmxuống tương đối rõ rệt Người dân từ chỗ tạo sinh kế dựa trên các con sông vàdiện tích canh tác tương đối bằng phẳng phải di chuyển đến chỗ ở mới có địahình cao hơn, diện tích canh tác dốc hơn và xa các con sông
Vùng nhận dân tái định cư do được quy hoạch để tiếp nhận người dânđến sinh sống vì vậy cơ sở hạ tầng ở những vùng này được đầu tư khá đồng
bộ và đầy đủ so với nơi ở cũ
2.4 Tiêu chí sử dụng đất bán ngập sản xuất nông nghiệp vùng hồ Sơn La
Trang 402.4.1 Quy trình điều tiết mực nước hồ chứa Sơn La
Hồ chứa Sơn La có dung tích điếu tiết phát điện là 6504.106 m3 được tính
từ MNDBT (215m) đến MNC (175m) Hàng năm nhất thiết phải tích nước vào
hồ từ đầu tháng 9 và giữ ở MNDBT đến tháng 12 được thực hiện cùng vớinhiệm vụ cung cấp điện năng và đảm bảo dung tích phòng lũ vào mùa mưa.Theo nhiệm vụ chống lũ thì công trình thì thủy điện Sơn La cùng với công trìnhthủy điện Hòa Bình sẽ điều tiết mực nước sông Hồng khu vực Hà Nội khôngvượt qua 11,5m trong mùa mưa lũ Đối với nhiệm vụ chống hạn cho vùng đồngbằng trung du Bắc bộ phải đảm bảo nước tưới cho 644.000 ha lúa đông xuântrong đó có khoảng 400.000 ha phải tưới bằng các trạm bơm điện
Nếu trong mùa lũ thừa nước cho việc phát công xuất đảm bảo và việctích nước đầy hồ thì công xuất nhà máy thuỷ điện có thể tăng lên đến côngsuất tối đa để tăng sản lượng điện và hạn chế đến mức thấp nhất lượng xả quađập tràn Lúc này hồ Sơn La có nhiệm vụ chống lũ cho hạ lưu Khi mực nước
hồ trong khoảng các cao trình từ 194,08 m – 215m việc điều phối lưu lượng
xả xuống hạ du do Ban chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung ương quyết định
Nếu trong mùa khô những năm nước lớn sẽ khai thác phần lớn dungtích điều tiết năm của hồ chứa còn giữ lại 1.215 triệu km3 (tới cao trìnhkhoảng 185,2m) để đạt được sản lượng điện cao và dự trữ cho những năm lũtiểu mãn đến muộn
Thời gian tích nước hồ chứa từ tháng 9 đến tháng 11 trong năm, cònthời gian nước kiệt là từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau
2.4.2 Khả năng khai thác quỹ đất bán ngập để sản xuất
2.4.2.1 Cao trình ngập và thời gian hở đất bán ngập
Trên cơ sở chế độ điều tiết mực nước hồ theo mùa và theo từng thángtrong năm, căn cứ đường biểu đồ cho thấy tương quan giữa mực nước hồ vàcao trình ngập tại các tháng trong năm như sau:
- Từ tháng 9 đến tháng 12 mực nước hồ ở MNDBT là 215m
- Từ tháng 1 nước bắt đầu rút, đến tháng 3 mực nước đạt đến cốt 190 –