ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG NGUYỄN THỊ MAI VÂN TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC NGƯỜI QUÂN TỬ VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN Đ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ MAI VÂN
TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC NGƯỜI QUÂN TỬ VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO
THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
Đà Nẵng, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THỊ MAI VÂN
TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC NGƯỜI QUÂN TỬ VỚI VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO
THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số : 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI &NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS.Trần Hồng Lưu
Đà Nẵng - Năm 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Trần Hồng Lưu
Các số liệu và kết quả nghiên cứu của luận văn là hoàn toàn trung thực, chưa từng được sử dụng trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều được chú thích hoặc trích dẫn
rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Mai Vân
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục của đề tài 3
6 Tổng quan tình hình nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 TƯ TƯỞNG CỦA NHO GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC NGƯỜI QUÂN TỬ 7
1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NÊN ĐẠO ĐỨC NGƯỜI QUÂN TỬ 7
1.2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI QUÂN TỬ 14
1.2.1 Khái niệm về quân tử và đạo quân tử 14
1.2.2 Đạo đức người quân tử 16
Tiểu kết chương 1 28
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY 30
2.1 KHÁI NIỆM THANH NIÊN VÀ NHỮNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC MỚI CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY 30
2.1.1 Khái niệm thanh niên 30
2.1.2 Những chuẩn mực đạo đức mới của thanh niên Việt Nam hiện nay 32
2.2 THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY 38
2.2.1 Về ý thức đạo đức 38
2.2.2 Về hành vi đạo đức 44
2.2.3.Về quan hệ đạo đức 49
Trang 52.3 VAI TRÕ CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC THANH NIÊN TRONG
QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 52
2.4 NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY 56
2.4.1.Tác động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và các thể chế có liên quan chưa hoàn thiện 56
2.4.2 Tác động tiêu cực từ gia đình, nhà trường và xã hội 58
2.4.3 Một bộ phận thanh niên thiếu ý thức rèn luyện đạo đức 60
Tiểu kết chương 2 62
CHƯƠNG 3 VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM VỀ ĐẠO ĐỨC NGƯỜI QUÂN TỬ ĐỂ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY 63
3.1 KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ TÍCH CỰC VỀ ĐẠO ĐỨC NGƯỜI QUÂN TỬ 63
3.2 GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC GẮN VỚI GIÁO DỤC PHÁP LUẬT 69
3.3 GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC QUA NÊU GƯƠNG 71
3.4 TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CỦA GIA ĐÌNH VÀ NHÀ TRƯỜNG 74
3.5 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 76
3.5.1 Đối với Đảng, nhà nước 76
3.5.2 Đối với bộ giáo dục và đào tạo 80
3.5.3 Đối với gia đình 81
3.5.4 Đối với thanh niên 82
Tiểu kết chương 3 84
KẾT LUẬN 85 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để phát triển bền vững, ngoài yếu tố kinh tế, chúng ta không được quên yếu tố văn hóa Trong đó xây dựng một nền đạo đức mới luôn được coi là nền tảng quan trọng cho sự phát triển đó Xuyên suốt lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, dù trong thời gian nào, hoàn cảnh nào thì vấn đề đạo đức luôn là vấn đề cốt lõi, trọng tâm, là cơ sở để xây dựng và phát triển con người Việc
kế thừa và tiếp thu chọn lọc những tinh hoa trong nền văn minh nhân loại, làm giàu thêm cho đời sống văn hóa và đạo đức dân tộc là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
Trung Hoa là một trong những cái nôi của văn minh nhân loại Nơi đã sản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hưởng đến nền văn minh Châu Á cũng như toàn thế giới, kể cả Việt Nam Một trong số đó phải kể đến trường phái triết học Nho gia Trong suốt hơn hai ngàn năm lịch sử tồn tại và phát triển, Nho giáo đã để lại nhiều giá trị tốt đẹp cả về phương diện chính trị
- xã hội lẫn xây dựng đạo đức con người Hồ Chí Minh từng chỉ rõ, ưu điểm của Nho giáo là góp phần tu dưỡng đạo đức cá nhân Đã biết bao thế hệ với bao con người đã học tập và vận dụng giá trị tốt đẹp trong học thuyết của Nho giáo như “chính danh”, “nhân”, “lễ”, “nghĩa”, “trí”, “tín” vào việc tu dưỡng bản thân cũng như xây dựng những phương châm sống cho mình Đặc biệt, hình mẫu người “quân tử”, mẫu người lý tưởng mà Nho giáo xây dựng nên đã từng là chuẩn mực cho con người trong xã hội cũ phấn đấu noi theo trong bước đường sự nghiệp công danh, cũng như “tu thân” hoàn thiện bản thân mình “Chính tâm- tu thân- tề gia- trị quốc- bình thiên hạ” vẫn là những phẩm chất tốt đẹp cho hình mẫu về con người lý tưởng Những phẩm chất cao quý
đó của người quân tử, nếu được gạn lọc, kế thừa vẫn còn không ít giá trị để
Trang 7người đời sau học hỏi, phát huy
Trong quá trình đất nước ta mở cửa hội nhập giao lưu quốc tế, bên cạnh những mặt tích cực vẫn xuất hiện nhiều yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến lối sống và đạo đức của con người Việt Nam hiện nay như hám danh, hám lợi, chạy theo đồng tiền, du nhập lối sống, văn hóa lai căng mà đánh mất đi những giá trị tốt đẹp của đạo đức truyền thống Điều đáng lo là chính tầng lớp thanh niên, những người chủ tương lai của đất nước lại là những người chịu ảnh hưởng nhiều nhất của các yếu tố tiêu cực đó Vấn đề đạo đức của thanh niên hiện nay đang ở tình trạng báo động và có nhiều điều bất ổn Để đáp ứng tốt yêu cầu phát triển đất nước trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa và góp phần hạn chế tình trạng suy thoái đạo đức, điều chỉnh các hành vi lệch chuẩn của thanh niên, việc nghiên cứu về đạo đức Nho giáo, qua đó kế thừa những yếu tố tích cực vào việc giáo dục đạo đức của thanh niên là điều cần
thiết Đó là lý do tôi chọn “Tư tưởng Nho giáo về đạo đức người quân tử với việc giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên
cứu của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng Nho giáo về đạo
đức người quân tử và thực trạng đạo đức thanh niên nước ta, luận văn kế thừa những giá trị tích cực về đạo đức của người quân tử và đề xuất các giải pháp nhằm phát huy những giá trị tích cực đó vào việc giáo dục đạo đức cho thanh
niên Việt Nam hiện nay
Để thực hiện mục đích này, luận văn đề ra những nhiệm vụ sau đây:
- Phân tích những nội dung cơ bản về đạo đức người quân tử trong Nho giáo và rút ra những giá trị tích cực của nó
- Tìm hiểu tình hình đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay, chỉ ra vai trò của việc giáo dục đạo đức trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 8đất nước
- Vận dụng những ưu điểm của Nho giáo về đạo đức người quân tử vào việc giáo dục đạo đức cho thanh niên và đề ra một số giải pháp giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những giá trị tích cực trong tư tưởng
Nho giáo về đạo đức người quân tử và tình hình đạo đức thanh niên Việt Nam hiện nay, hướng tới các giải pháp nhằm giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay
Phạm vi nghiên cứu là một số nội dung về đạo đức người quân tử trong
tư tưởng Nho giáo ở Trung Quốc; tình hình đạo đức thanh niên Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; thực tiễn công tác giáo dục đạo đức ở gia đình, nhà trường, xã hội cho thanh niên Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng - chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta về vấn đề đạo đức Ngoài ra, còn có các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa và các nghị quyết về thanh niên
Phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên
cứu như logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn dịch, đối chiếu,
so sánh
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương 9 tiết
Trang 96 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Xung quanh vấn đề Nho giáo nói chung và đạo đức Nho giáo nói riêng
đã có nhiều tác giả trong nước và nước ngoài nghiên cứu theo những phương diện khác nhau, nhưng có thể phân định thành một số nhóm vấn đề sau đây:
- Nhóm thứ nhất, đi sâu luận giải nguồn gốc, nội dung của Nho giáo và
những yêu cầu đạo đức của Nho giáo, để từ đó thấy được sự ảnh hưởng của Nho giáo đối với sự phát triển của xã hội Trong đó có: Nho giáo của Trần Trọng Kim, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội, (2001); Nho giáo xưa
và nay của Quang Đạm, Viện Khoa học Xã hội Nhân văn, Hà Nội, (1994); Đạo Nho và văn hóa phương Đông của Hà Thúc Minh, Nhà xuất bản Giáo dục, (2001); Mối quan hệ giữa Nhân và Lễ trong học thuyết Khổng Tử của Nguyễn Thị Thanh Hải, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa học Huế, (2004); Tư tưởng Nhân, Lễ, Chính danh trong tác phẩm Luận ngữ của Khổng Tử và vận dụng giáo dục đạo đức cho sinh viên Việt Nam hiện nay của Nguyễn Thị
Thanh Bình, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa học Huế, (2005)… Các tác giả
đã trình bày, phân tích những tư tưởng cơ bản của Nho giáo trong quá trình hình thành và phát triển của nó Khi đánh giá về Nho giáo, bên cạnh phê phán đạo đức Nho giáo là khắt khe, trói buộc con người đặc biệt đối với phụ nữ, các tác giả đều đề cao những nhân tố tích cực của Nho giáo, cho rằng đạo đức Nho giáo có vai trò to lớn trong việc giáo dục đạo đức con người và ổn định trật tự xã hội Về “quân tử” đã có một số bài viết trên các tạp chí, các báo đã
đề cập đến như Quân tử qua tứ thư của Trần Hồng Thúy, tạp chí Triết học số
3 tháng 9 năm 1992 Bài viết đã nêu lên được những phẩm chất đạo đức mà quân tử phải tu dưỡng, trong quan hệ ứng xử quân tử cần phải giúp người, nêu
gương, vấn đề nhận lỗi và sửa lỗi…Tư tưởng của Nguyễn Công Trứ về kẻ sĩ
của Lê Thị Lan, tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 11 năm 2013 nêu lên được vị trí của kẻ sĩ trong xã hội phong kiến Trung Hoa, còn trong xã hội Việt
Trang 10Nam thì đó là người có tài, có đức Kẻ sĩ cần phải có những phẩm chất và bổn phận đó là người tài, là nguyên khí của quốc gia Chức phận của kẻ đại trượng phu trong vũ trụ là trên thì vì đức lớn, dưới thì vì lợi ích của người dân, phải theo đạo vua tôi, dùng tài kinh luân của mình để gánh vác trọng trách trị quốc
an dân
- Nhóm thứ hai: Vấn đề đạo đức của thanh niên được đề cập trong Xây dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Trịnh Duy Huy, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, (2009); Ý thức đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay của Lê Thị Tuyết Ba, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, (2010), Đề tài Đạo đức của sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay ở Việt Nam – thực trạng và giải pháp
của Vũ Thanh Hương (Luận văn thạc sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2004) , Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học cấp nhà nước
thực trạng và xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Phạm Hồng Tung Mã số:KX.03.16/06-
10, Hà Nội, (2010), Đề tài khoa học cấp bộ Sự lựa chọn các giá trị đạo đức và nhân văn trong định hướng lối sống của sinh viên, của Huỳnh Văn Sơn (2009),…Các tác giả đã phân tích các yếu tố trong mối quan hệ đạo đức, thực
trạng đạo đức của thanh niên và nêu ra một số cách giải quyết Cuộc Điều tra quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam lần thứ 2 (SAVY 2) vừa được Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa Gia đình thực hiện với hơn 10.000 mẫu khảo sát ở 63 tỉnh thành, tiến hành từ năm 2008, và công bố vào tháng 6/2010, đã cung cấp những số liệu về gia đình, điều kiện sống, giáo dục, việc làm, sức khỏe, giải trí, thói quen, hành vi, hoài bão… của vị thành niên và
thanh niên Việt Nam ngày nay
Với tinh thần cầu thị, tiếp bước các công trình nghiên cứu trước về Nho giáo, luận văn tiếp tục đi sâu vào nghiên cứu những phạm trù cơ bản của Nho
Trang 11giáo về đạo đức người quân tử để tìm ra những giá trị tích cực của nó góp phần vào việc hoàn thiện đạo đức con người, đặc biệt trong việc giáo dục đạo đức cho thanh niên nước ta hiện nay
Trang 12CHƯƠNG 1
TƯ TƯỞNG CỦA NHO GIÁO VỀ ĐẠO ĐỨC
NGƯỜI QUÂN TỬ
1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH NÊN ĐẠO ĐỨC NGƯỜI QUÂN TỬ
Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh xuất hiện sớm nhất trên thế giới với hơn 4000 năm phát triển liên tục Và có thể nói văn minh Trung Hoa là một trong những cái nôi của nền văn minh nhân loại Bên cạnh những phát minh, phát triển về khoa học, văn minh Trung Hoa còn là nơi sản sinh ra nhiều học thuyết triết học lớn có ảnh hưởng đến nền văn minh Châu Á cũng như nền văn minh trên toàn thế giới Trong số các học thuyết triết học lớn đó, phải kể đến trường phái triết học Nho gia
Nho gia, Nho giáo là những thuật ngữ bắt nguồn từ chữ “Nho” Theo Hán tự “Nho”là chữ “Nhân” (người) đứng cạnh chữ “Nhu” (cần, chờ đợi) Nho gia còn gọi là nhà nho, người đã học thấu sách thánh hiền được thiên hạ cần để dạy bảo người đời ăn ở cho hợp luân thường đạo lý Trước thời Xuân thu, nhà nho được gọi là “Sỹ” chuyên học văn chương và lục nghệ góp phần trị vì đất nước Đến đời mình, Khổng Tử đã hệ thống hóa những tư tưởng và tri thức trước đây trở thành học thuyết, gọi là Nho gia hay Nho học Người ta cũng gắn học thuyết này với tên tuổi người đã sáng lập nên nó, gọi là Khổng học Khổng Tử tên là Khâu, tự là Trọng Ni, người làng Xương Bình, huyện Khúc Phụ, nay thuộc Phủ Duyện Châu, Tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc Ông sinh vào năm 551 TCN Đó là lúc xã hội Trung Hoa cổ đại loạn lạc triền miên, các vua chúa chỉ lo hưởng thụ và chém giết lẫn nhau để xưng hùng, xưng bá Đạo lý nhân luân xáo trộn, vinh nhục không rõ ràng, thiện ác khó phân biệt Học thuyết của Khổng Tử lập thành hệ thống lấy nhân, nghĩa, lễ, trí
mà dạy người Lấy đạo cương thường mà hạn chế nhân dục để giữ trật tự ở
Trang 13trong xã hội cho bền vững Trong thập niên 70 của thế kỷ 20, một học giả người Mỹ đã xếp Khổng Tử ở ngôi vị thứ 5, chỉ sau chúa Zê - xu, Thích - ca - mầu – ni trong 100 nhân vật có ảnh hưởng trong lịch sử Khổng Tử là người sáng lập ra học thuyết Nho giáo ở Trung Quốc Hơn 2000 năm qua, tư tưởng Nho giáo ảnh hưởng đến với Trung Quốc không chỉ là chính trị, văn hóa mà còn trong sinh hoạt, ứng xử của con người
Khổng Tử sống trong thời Xuân thu Thời kỳ này, thể chế thống nhất của quốc gia bị phá vỡ, sản sinh ra nhiều chư hầu lớn nhỏ Học thuyết của Khổng
Tử mới xuất hiện không trở thành tư tưởng chủ yếu ngay lập tức mà mãi đến thế kỷ thứ 2 TCN thì tư tưởng đó mới có được vị trí độc tôn Trung Quốc lúc
đó đã trở thành một nhà nước theo chế độ tập quyền trung ương lớn mạnh và thống nhất Trải qua nhiều nỗ lực của giai cấp thống trị và các đại sĩ phu thời Hán, Khổng Tử và tư tưởng Nho gia của ông mới trở thành tư tưởng chính thống cho nhà nước phong kiến Trung Hoa Thời Xuân thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh
Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân thu và Kinh Nhạc Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh Sau khi Khổng Tử mất
(479 TCN), học trò của ông tập hợp các lời dạy của thầy để soạn ra cuốn Luận ngữ Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung dung Đến thời chiến quốc,
một người có công bảo vệ và phát triển Nho giáo là Mạnh Tử Mạnh Tử (372
- 289 TCN) Tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư người gốc nước Trâu thuộc miền
nam, tỉnh Sơn Đông ngày nay Mạnh Tử đã tập hợp và ghi lại những cuộc
biện luận của mình thành tập gọi là “bảy thiên” Mạnh Tử Mạnh Tử cùng với Luận ngữ, Đại học và Trung dung tập hợp thành bộ Tứ thư và cùng với Ngũ
kinh ( gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Dịch) đã trở
Trang 14thành tài liệu chính thức của kinh điển Nho giáo Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần) Khổng giáo hay là “tư tưởng Khổng - Mạnh” từ đây mới hình thành nên hai khái niệm Nho giáo và Nho gia Nho gia mang tính học thuât, nội dung của nó còn được gọi là Nho học Còn Nho giáo mang tính chất tôn giáo Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo
lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành
Đến đời Hán, Hán Vũ Đế đưa Nho giáo lên làm quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư tưởng Và từ đây, Nho giáo trở thành
hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt 2000 năm Nho giáo thời kỳ này còn được gọi là Hán Nho Nhân vật nổi trội đó là Đổng Trọng Thư (179-104 TCN), người được coi là tập đại thành của Nho giáo Ông đã bổ sung vào học thuyết Khổng - Mạnh phần nói về trời đất, quỷ thần, âm dương, ngũ hành mà Khổng Tử, Mạnh Tử cố né tránh hoặc nói sơ qua Đồng thời hệ thống hóa học thuyết này một cách tương đối hoàn chỉnh, vừa làm cho quân quyền và thần quyền quyện chặt vào nhau, mang tính thần học duy tâm với các luận đề “trời người hợp nhất”, “trời người cảm ứng”,
“trời không biến đổi đạo cũng không biến đổi” nhằm đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, thiên tử là con trời, dùng “lễ trị” để che đậy “pháp trị” Đến đời nhà Tống, các vua rất sùng bái Nho học, Nho giáo thời kỳ này được gọi là Tống Nho, với các tên tuổi Thiệu Ung, Chu Đôn Di, Trương Tái với học thuyết lý học Rồi hai anh em họ Trình là Trình Hạo và Trình Di Nho học thời Nguyên không được thịnh hành như thời Tống nhưng vẫn có nhiều danh nho như Triệu Phục, Hứa Hành và Hứa Khiêm Nho giáo đời nhà Nguyên tuy so với đời trước thì không bằng, nhưng cũng rất thịnh đạt Những học giả như Triệu Phục, Hứa Hành và Hứa Khiêm đều là người có đức hạnh, rất xứng đáng là danh nho một thời Tuy nhiên, Nho học trong thời Nguyên
Trang 15chỉ bó hẹp trong phạm vi Trình Chu mà thôi, bởi ai cũng cho rằng Nho học đến đó là cùng cực rồi Bởi vậy, Nho học thời Nguyên chỉ nhằm giữ lấy cái danh tiết cho trong sạch chứ không ai phát triển thêm được điều gì cao minh hơn nữa Đến thời nhà Minh, sau khi Chu Nguyên Chương lấy được đất Kim Lăng, đón mời các nho sĩ, mở nhà quốc tử học và làm miếu thờ Khổng Tử thì nền Nho học có nhiều bước phát triển Xét ra, Nho học đời Minh không ra ngoài phạm vi Tống học dù có phái Diêu Giang chuyên về mặt tâm học hay phái Hà Đông tôn sùng cái học của Trình Chu “Cái học ấy từng chia ra chi
nọ, phái kia nhưng kết cục vẫn theo cái tôn chỉ thiên địa vạn vật nhất thể, và
về đường thiết thực vẫn cố giữ cái khí tiết của học giả” [26; 669] Triều đại nhà Thanh gắn với sự tiếp xúc văn hóa phương Tây đã đặt ra những vấn đề không thể giải quyết được dưới ánh sáng của đạo Nho Đến cuối triều đại nhà Thanh một số nhân vật tiêu biểu đã hấp thụ được nhiều tư tưởng mới ở Tây
Âu về “tự do”, “bình đẳng”, “dân chủ” Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu cũng muốn xây dựng và phát triển Trung Quốc theo hướng công nghiệp và chú trọng phát triển khoa học kỹ thuật, nhưng cuối cùng họ đi đến “cải lương”
và “duy tâm” dưới ngọn cờ của Hoàng đế triều Thanh Mãi cho đến 1911 cách mạng Tân Hợi đã giành thắng lợi, Trung Quốc mới bắt đầu từ vũng bùn phong kiến dần dần khởi sắc lên Đến đây lịch sử Nho giáo gắn liền với các triều đại phong kiến Trung Quốc cơ bản đã kết thúc, song những ảnh hưởng của nó vẫn tồn tại cho đến ngày nay với những dư âm của nó
Nho học về thực chất là một học thuyết về chính trị đạo đức mà biểu hiện tập trung ở đường lối “đức trị” “Đức trị” có nghĩa là đường lối trị nước bằng đạo đức Khổng Tử quan niệm: “Làm chính trị (trị dân) mà dùng đức (để cảm hóa dân) thì như sao bắc đẩu ở một nơi mà các ngôi sao khác hướng về
cả (tức là thiên hạ nghe theo”[30;37] Với Khổng Tử đạo đức là gốc của con người, nói đến con người trước hết là nói đến đạo đức: “Làm người có nết
Trang 16hiếu để thì ít ai dám xúc phạm bề trên Không thích xúc phạm bề trên mà thích làm loạn thì chưa từng có Người quân tử chăm chú vào việc gốc, gốc
mà vững thì đạo đức sinh ra.”[30;26]
Khổng Tử coi “nhân” là đức căn bản nhất của con người cả về xử thế lẫn
tu thân và bao gồm cả các đức khác Thật vậy nhân vừa là tu thân vừa là ái
nhân lại vừa là xử kỷ vừa là tiếp vật “Nhân” còn là “trung” (yêu người, hết
lòng với người) và “thứ” (làm cho người những cái mình muốn và đừng làm cho người những cái mình không muốn) Nhưng đối với Khổng Tử, điều quan trọng nhất trong tư tưởng về nhân là biểu hiện về mặt chính trị của nó Có lẽ với Khổng Tử thái độ đối với dân là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá đức nhân của người cầm quyền: “Sai khiến dân thì phải thận trọng như trong một cuộc tế lớn, cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người” [30;196] Trong nước không ai oán mình, trong nhà một đại phu không ai oán mình Ông từng nói “Tài trí đủ để trị dân (có người hiểu là đủ để biết mọi lẽ) mà không biết dùng đức nhân để giữ dân, thì sẽ mất dân” [30;266]
Sau “nhân” Khổng tử quan tâm nhiều đến “lễ” bởi lễ cần thiết để duy trì trật tự xã hội và có trật tự xã hội thì vua mới được tôn, nước mới được trị Mặt khác, lễ có nội dung luân lý của nó, trong mối quan hệ chặt chẽ không tách rời
với nhân Khổng Tử xem điều lễ là hình thức của nhân, là chính đạo mà mọi
người nên thi hành, còn nếu con người chạy theo dục vọng của mình mà trái ngược với chính đạo tức là trái ngược với điều nhân Vì vậy, người cầm quyền phải giữ lễ: “Vua khiến bề tôi phải giữ lễ, bề tôi thờ vua phải trung (hết lòng)” [30;65] Đáng chú ý là trong quan niệm của Khổng Tử lễ chỉ quan trọng khi gắn bó với điều nhân, là biểu hiện của nhân Nếu tách rời nhân thì lễ chỉ là vô nghĩa “Người không có đức nhân thì lễ mà làm gì?” [30;56] Thật vậy không có lòng nhân thì lễ mà làm gì? Nhà cầm quyền không có đức nhân thì lễ chỉ càng làm thủ cựu, càng làm nghiệt ngã và tàn khốc Khổng Tử đề
Trang 17xướng “lễ trị” nhằm ổn định xã hội, thực hiện đúng lễ vừa là biểu hiện của nhân đồng thời cũng thể hiện con người làm đúng bổn phận, thân phận của mình, tức Chính danh Trong công việc chính trị theo Khổng Tử “chính danh” phải đặt lên trước nhất, bởi:
“Nếu danh không chính thì lời nói không thuận, lời nói không thuận thì
sự việc chẳng thành, sự việc không thành thì lễ nhạc chế độ không kiến lập được, lễ nhạc chế độ không kiến lập được thì hình phạt không trúng, hình phạt không trúng thì dân không biết đặt tay chân vào đâu (không biết làm thế nào cho phải” [30;213]
Để thực thi đường lối đức trị đương nhiên cần phải có mẫu người cầm quyền thích hợp, đó là mẫu người quân tử Mẫu người quân tử với những tiêu chuẩn về tài đức xứng đáng nhất nắm quyền trị dân Đức của người quân tử là lấy nghĩa làm gốc thọ lễ mà làm, nói năng khiêm tốn, nhờ thành tín mà nên việc Tư cách người quân tử là lo không đạt đạo chứ không lo nghèo, hòa hợp nhưng không a dua, thư thái mà không kiêu căng Tài năng kiến thức của người quân tử là phải hiểu rộng, biết nhiều làm được nhiều việc và nhất là phải có tài trí đủ để trị dân Người quân tử còn phải là thận trọng về lời nói, mau mắn về việc làm, thờ vua phải trung nhưng là trung một cách sáng suốt Đường lối đức trị của Khổng Tử lấy đạo nhân làm gốc, lấy hiếu-đễ, lễ- nhạc làm cơ sở cho sự giáo hóa, lấy việc thực hiện chính sách “thân dân” làm cơ
sở, lấy tư cách phẩm chất mẫu mực của người cầm quyền làm gương để thực hiện đường lối đức trị, lễ trị, nhân trị nhằm tạo lập một xã hội phong kiến điển chế có trật tự, tôn ti
Với Mạnh Tử thì ông lại đề cao đường lối nhân chính, “nhân chính thiện chi giã” (cái bản tính của người ta vốn thiện), từ đó ông đề cao sức mạnh của nhân nghĩa: “đối với người nhân dẫu kẻ địch có đông cũng chẳng làm gì được mình.”.[70;17] Không ai địch nổi người nhân đức là ý niệm chính trị mà
Trang 18Mạnh Tử suốt đời tin tưởng theo đuổi Quả thật là Mạnh Tử rất nhất quán trong quan niệm lấy nhân đức làm nguyên tắc chỉ đạo chính trị của mình Trước sau như một ông luôn luôn chỉ nói đến nhân nghĩa, chỉ đề cao nhân nghĩa Quan điểm của ông thật rõ ràng: “Người ưa điều thiện thì dư sức cai trị thiên hạ nếu nhà cầm quyền ưa điều thiện, ắt người trong bốn biển sẽ khinh thường đường xa muôn dặm mà đến với mình, để mách bảo điều thiện với mình” [70;17] Người nhân là người vô địch trong thiên hạ, bởi vì “điều nhân thắng điều bất nhân, cũng như nước thắng lửa”.[70;20]
Mạnh Tử rất coi trọng sức dân Nếu Khổng Tử hết sức coi trọng “dân tín”, coi đó là điều quan trọng nhất không thể bỏ được trong phép trị nước, thì Mạnh Tử nhận thức một cách sâu sắc rằng: “Kiệt và Trụ mất thiên hạ tức mất ngôi thiên tử ấy vì mất dân chúng hễ được dân chúng tự nhiên sẽ được thiên hạ hễ được lòng dân tự nhiên sẽ được dân chúng” [70;19] Ông nói: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” nghĩa là trong nước nhân dân là quan trọng nhất, thứ đến mới là quốc gia (xã tắc) vua là thứ bậc xem nhẹ nhất Với các nhà cầm quyền, theo Mạnh Tử chỉ có một phương pháp nên theo: “Dân muốn việc chi, nhà cầm quyền nên cung cấp cho họ Dân ghét việc chi nhà cầm quyền đừng thi thố cho họ”[70;19] Phân chia ruộng đất hợp lý và khuyến khích làm giàu cho dân Nếu Khổng Tử coi trọng việc dưỡng dân hơn cả việc bảo vệ xã tắc thì Mạnh Tử quan tâm nhiều hơn đến các biện pháp kinh tế cụ thể nhằm tạo ra cho dân số một sản nghiệp no đủ “Thánh nhân cai trị thiên
hạ, phải làm cho dân có đậu thóc nhiều như nước lửa, khi đậu thóc nhiều như nước lửa thì dân chẳng còn ai bất nghĩa nữa” [13;246]
Mạnh tử còn chủ trương giảm nhẹ hình phạt và tăng cường giáo hóa dân Ông nói: Vua cần phải thi hành phép cai trị nhân - đức đối với dân: “Giảm hình phạt, bớt thuế - liễm, khiến dân siêng lo việc cày sâu cuốc bẫm, làm vườn làm tược”[70;170] Theo Mạnh Tử cần phải nhẹ hình phạt bởi nếu “dân
Trang 19khờ khạo mà phạm luật nước, đó không phải là tội của họ, mà chính là tội của nhà cầm quyền chẳng biết giữ gìn, giáo hoá họ” [70;179] Mạnh Tử cũng xem trọng giáo hoá như Khổng Tử, nhưng cái mới ở ông là rất quan tâm đến việc quảng bá giáo dục, thông qua việc xây dựng hệ thống trường học rộng khắp Ông chủ trương hình thành một mạng lưới trường học đa dạng từ làng xã đến kinh đô, từ trường hương học đến trường quốc học Như vậy, so với Khổng
Tử chủ trương giáo hoá của Mạnh Tử có tính quảng bá và phổ cập hơn Ngoài việc chú ý đề cao giáo dục đạo đức nhân luân như Khổng Tử, Mạnh Tử còn thấy được trách nhiệm của người trị dân là phải dạy dân cấy gặt, chăn nuôi, trồng dâu nuôi tằm, dệt vải nhằm tạo ra nhiều của cải vật chất hơn Ông chỉ rõ: “Vua Thuấn đã cho ông hậu tắc việc dạy dân cấy gặt và gieo trồng năm giống lúa chín, nhân dân nhờ đó mà sống” [70;169] Có thể thấy rõ quan điểm giáo dục và giáo hóa dân của Mạnh Tử thể hiện một bước tiến mới so với Khổng Tử trước đó và là một nội dung quan trọng hợp thành đường lối chính trị nhân nghĩa mà Mạnh Tử đã suốt đời cổ vũ Như vậy, đường lối đức trị của Nho giáo từ Khổng Tử tới Mạnh Tử lấy nhân nghĩa làm gốc, khuyến khích người đời từ thường dân đến bậc vua chúa đều phải tu thân rèn đức theo mẫu người quân tử
1.2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI QUÂN
TỬ
1.2.1 Khái niệm về quân tử và đạo quân tử
Khái niệm “quân tử” không xa lạ với người Trung Hoa, nó có từ thời nhà Chu (khoảng 1100 TCN) Quân tử (tiếng Trung: 君子) nguyên nghĩa là kẻ cai trị, nhằm chỉ những người nắm quyền hành trong xã hội Quân tử hay là kẻ sĩ thường được coi là người hành động ngay thẳng, công khai theo lẽ phải và không khuất tuất vụ lợi cá nhân Đến thời Xuân Thu thì nó được dùng để chỉ các đại phu - đại trượng phu Đối lập với quân tử là tiểu nhân, khái niệm chỉ
Trang 20nhân dân lao động Khổng Tử đã dùng hai khái niệm quen thuộc này để xây dựng mẫu người lý tưởng của mình
“Đạo quân tử” cũng có nghĩa là lý tưởng cao nhất của quân tử, đã được trình bày trong sách Đại học rằng: “đạo của Đại học là ở chỗ làm sáng tỏ đức sáng, ở chỗ làm mới dần và ở chỗ đúng vào nơi chí thiện”( đại học chi đạo tại
minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện” [16;77] Như vậy, đạo quân
tử là con đường, cách thức mài dũa, rèn luyện cái đức sáng của người quân tử, truyền bá nó ra cho nhân dân noi theo, khiến cho bản thân và ai nấy đều ngày một mới hơn, tốt đẹp hơn và đạt đến chỗ đứng vững ở nơi chí thiện
Thế nào là đứng vững ở nơi chí thiện? Khổng Tử cho rằng:“Vi nhân quân chỉ ư nhân, vi nhân thần chỉ ư kính, vi nhân tử chỉ ư hiếu, vi nhân phụ chỉ ư từ, dữ quốc nhân giao chỉ ư tín”[16;91] có nghĩa là: làm vua đứng ở điều nhân, làm tôi đứng ở điều kính, làm con đứng ở điều hiếu, làm cha đứng ở điều từ, giao tiếp với người trong nước đứng ở đức tín
Con đường tổng quát để thực hiện đạo quân tử là:
“cổ chi dục minh minh đức ư thiên hạ giả, tiên trị kỳ quốc Dục trị kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia Dục tề kỳ gia giả, tiên tu kỳ thân Dục tu kỳ thân giả, tiên chính kỳ tâm Dục chính kỳ tâm giả, tiên thành kỳ ý Dục thành kỳ ý giả, tiên trí kỳ tri Trí tri tại cách vật”[69;8]
Có nghĩa là: người xưa muốn làm sáng tỏ đức sáng trong thiên hạ thì trước phải trị quốc, muốn trị quốc thì trước phải tề gia, muốn tề gia thì trước phải tu thân, muốn tu thân thì trước phải chính tâm, muốn chính tâm thì trước phỉ thành ý, muốn thành ý thì trước phải trí tri, trí tri là ở cách vật
Nói xuôi quá trình trên là: cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, minh minh đức Có nghĩa là: muốn cho sự hiểu biết của ta thấu đáo thì phải nghiên cứu sự vật (trí tri tại cách vật) Khi đã nghiên cứu sự vật, cái trí được thấu đáo, cái ý mình mới thành thật Cái ý mình đã thành thật,
Trang 21lòng dạ mình mới ngay thẳng Lòng dạ mình đã ngay thẳng mới tu tập lấy mình được Đã tu tập lấy mình được thì mới sắp đặt nhà cửa cho tỉnh tề Nhà cửa đã sắp đặt cho tỉnh tề thì nước mới trị được, thiên hạ mới bình an Sách đại học đã chỉ ra rằng cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm là các điều kiện và tề gia, trị quốc, minh minh đức là các mục đích ngày càng cao hơn của tu thân
Tu thân là điều kiện tất yếu mà quân tử nhất thiết phải thực hiện để làm tỏa đức sáng trong khắp gia đình và đất nước Như vậy, cái con đường tổng quát
để thực hiện đạo của người quân tử bắt đầu từ tu thân và cái đích đến là để giúp ích cho đất nước, cho xã hội
1.2.2 Đạo đức người quân tử
Nho giáo đã xây dựng nên hình mẫu người quân tử lý tưởng với rất nhiều giá trị tốt đẹp Các phẩm chất đạo đức, trí tuệ cùng với cách ứng xử của quân tử là biểu hiện tập trung, tinh lọc của các quan điểm triết lí, chính trị đạo đức và xã hội của Khổng giáo Quân tử, không chỉ thuần túy chỉ địa vị xã hội
mà chủ yếu chỉ phẩm chất đạo đức mà người đó đã đạt được Ông dạy rằng:
“người ta gọi một con ngựa nào đó là ngựa ký (loại ngựa tốt đã được thuần hóa), đâu phải vì sức mà vì đức của nó”[69;231] “ngay như ở đời vua Cảnh Công nước Tề có một ngàn cổ xe Tứ mã nhưng đến ngày chết chẳng thấy dân khen, Bá Di, Thúc Tề đói gục trên núi Thú Dương mà đến nay vẫn còn ngời
ca ngợi.” [69;265] Nghĩa là theo ông chức tước, giàu sang chưa chắc đứng được ở hàng quân tử, giày rơm áo vải chưa chắc hẳn đứng ở hạng tiểu nhân
Vì vậy, để hiểu đầy đủ tư tưởng của các nhà kinh điển về đạo đức của người quân tử nên lưu ý mấy điểm sau đây: (1) sự khác nhau giữa quân tử - tiểu nhân; (2) những phẩm chất đạo đức mà quân tử phải tu dưỡng; (3) những phẩm chất đạo đức mà các quân tử có quyền lực tu dưỡng và thể hiện
Thứ nhất: sự khác nhau giữa quân tử và tiểu nhân
Theo thống kê của Dương Bá Tuấn, trong cuốn sách Luận Ngữ có 109
Trang 22lần nói đến chữ nhân, mà nói đến quân tử thì có 107 lần; có người gọi là
“quân tử quốc” [19;43] Từ đó có thể thấy quân tử có địa vị như thế nào trong
tư tưởng của Khổng Tử Cụ thể mà nói giữa quân tử và tiểu nhân có sự khác biệt như sau:
(1) Với tiểu nhân chỉ nghĩ đến lợi, quân tử tinh tường việc nghĩa Nói
vậy có nghĩa là: tiểu nhân thấy lợi là làm, mục tiêu cuối cùng của mọi lời nói, việc làm đều là mưu cầu tư lợi cho mình còn quân tử hành vi chủ yếu là hợp với nhân đạo Đấy có thể nói là sự phân chia ranh giới cơ bản giữa quân tử và tiểu nhân
(2) Quân tử cậy ở mình mà thành công, tiểu nhân cậy ở người nên ít khi
thành công: người quân tử do có tự giác với nhân tính nội tại của mình, bởi
thế mà có thể khai thác thế giới nhân cách nội tại của mình, có thể từ trong cuộc sống thường ngày, qua sự tu dưỡng đạo đức của mình đạt đến sự quán thông ta với ngoại vật, mình với người, một khung cảnh hòa đồng trời với người từ đó mà thành ra một người có đủ đức tính kiên định Kẻ tiểu nhân chỉ nghĩ đến lợi lộc, bởi thế mà không biết phản tỉnh với đức tính của mình cho nên khó có được một thế giới tinh thần tốt đẹp
(3) Quân tử thì hòa mà bất đồng, tiểu nhân thì đồng mà bất hòa: trong
đối đãi xử sự với người, người quân tử với tấm lòng nhân ái, thể hiện rõ rệt đức tính nội tại của mình, theo yêu cầu ứng xử thích hợp với sự vật, dám kiên trì quan điểm đúng đắn của mình, đề ra ý kiến bất đồng, xúc tiến sự phát triển hài hòa của sự vật Liên quan với điều đó, trong quan hệ xử lý giữa người với người, quân tử chú trọng đến sự hợp lý, nhấn mạnh đến đoàn kết, hiệp tác của chỉnh thể mà không kéo bè kéo cánh tư lợi Tiểu nhân chỉ biết nhắm mắt mà làm bừa theo ý cấp trên, mà không thể từ thực tế xuất phát, đề ra ý kiến bất đồng mà chính xác Họ không chú trọng đến đoàn kết, hiệp tác của chỉnh thể,
họ chỉ thích kéo bè kéo cánh vì tư lợi mà thôi
Trang 23(4) Quân tử thì nói đến khuôn phép, tiểu nhân thì tự ý làm bừa: quân tử
bởi có tự giác và nhân ái nên có sự tuân thủ, lời nói và việc làm đều có quy củ nhất định Như vậy quân tử lúc nào cũng nghĩ đến tiết tháo, họ không bởi một lúc yếu mềm mà tư lợi làm bừa, trái lại tiểu nhân lúc mà họ khốn cùng thì họ
tự ý làm bừa
(5) Quân tử thì thanh thản thư thái, tiểu nhân thì kiêu ngạo mà lo âu :
biểu hiện ra ở thái độ sống, quân tử do có nhân đức, có hiểu biết dẫu nghèo
mà vui với đạo, bởi thế trong lúc nguy khốn cũng vẫn bình thản, thư thái, có ở địa vị cao cũng không kiêu ngạo, khinh rẻ người khác Tiểu nhân thì chăm chăm ở sự cầu lợi, bởi thế không được yên ổn, phải luôn luôn lo nghĩ Một khi ngồi ở địa vị cao, lại lo được lo mất, chỉ thích tận hưởng xa hoa, với người thì ngạo mạn, khinh rẻ người khác
(6) Người quân tử làm thì dễ mà nói ra thì khó, kẻ tiểu nhân nói giỏi mà
làm chẳng được việc gì: người quân tử làm công việc của mình thường rất dễ
dàng, song để họ vừa ý thật thì khó, bởi người quân tử biết sử dụng người, thường là căn cứ vào tài năng của người ta mà phân phối công việc, bởi thế
mà những người dưới quyền đều làm xong công việc một cách vui vẻ còn đối với kẻ tiểu nhân thì chỉ muốn làm cho xong công việc là được ví như lấy phương thức không chính đáng để làm vừa lòng người ta thì hắn cũng tỏ ra vui vẻ, khi hắn sử dụng người làm việc thì lại hay đòi hỏi thế này thế nọ cho hoàn thiện Bởi thế mà kẻ tiểu nhân làm thì khó mà lại tỏ ra vui mừng là làm xong việc rồi
(7) Người quân tử mừng vì người khác thành đạt, kẻ tiểu nhân đố kỵ với
người khác: người quân tử lấy đạo để tự lập, lấy Trung thứ để đối đãi với
người khác, cái mình làm được thì cũng muốn giúp người khác làm được, cái mình không muốn làm cho mình thì cũng không muốn làm cho người khác Bởi thế mà người quân tử luôn vui vẻ giúp đỡ vào việc thành đạt của người
Trang 24khác Kẻ tiểu nhân muốn đạt tư lợi của mình lên hàng đầu nên không quan tâm nhiệt tình giúp đỡ người khác Trái lại, để giành được tư lợi của mình họ thường là bất kể thủ đoạn, không chỉ là tranh chỗ của người khác mà còn có thể làm điều ác với người ta nữa Như vậy giữa quân tử và tiểu nhân có một đường ranh giới Đối với người quân tử tự giác làm điều nhân, Khổng Tử đã
đề ra một số yêu cầu khác nữa Ví dụ như: người quân tử ăn không cần no,
chăm chỉ trong công việc, cẩn thận ở lời nói nghiêm chỉnh giữ đạo cùa mình
Người quân tử đối với mình trước hết phải làm những việc khó, sau mới được hưởng thành quả Người khổ trước thiên hạ, vui sau thiên hạ là người có nhân Khác với những người bất nhân, người quân tử, nhân đức là người luôn vui vẻ sống trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù đó là vinh hoa hay đói nghèo, túng thiếu Như Khổng Tử quan niệm, đó là người sáng nghe đạo, tối có chết cũng cam lòng, không một chút oán thán Họ không bị phú quý, danh lợi, giàu sang làm lung lạc
Thứ hai: những phẩm chất đạo đức mà quân tử phải tu dưỡng
Là hệ tư tưởng của giai cấp phong kiến, mục đích của Nho giáo là nhằm bảo vệ chế độ phong kiến tập quyền cho nên Nho giáo cũng quan tâm đặc biệt đến đạo đức người cầm quyền Trong suy nghĩ của Khổng Tử, người nào giữ được nhân tính trời phú, không ngừng tu dưỡng để trở thành người có khả năng thực hiện sứ mệnh thi hành ý trời, không để những người “đã đánh mất” nhân tính trời phú làm loạn (những người này Khổng Tử gọi là hạng tiểu nhân), nói cách khác ngăn chặng sự vi phạm ý trời của họ thì người đó là bậc quân tử Có thể nói rằng người quân tử được Khổng Tử nói đến là cách gọi chung cho những người làm điều “nhân”, ở đó còn có thể chia thành tầng thứ cao thấp nữa Trên một ý nghĩa nhất định kẻ sĩ mà Khổng Tử nói đến cũng tương tự như khái niệm quân tử Sĩ là một tiêu chí về đẳng cấp thân phận; ở thời đại Xuân Thu của Khổng Tử đã thấy nói đến Sĩ, Nông, Công, Thương,
Trang 25tức là xem sĩ là đứng đầu trong bốn hạng người Theo Khổng Tử, thân phận của kẻ sĩ ở mức độ nhất định cũng liên quan tới tu dưỡng đạo đức Vì thế kẻ sĩ
có thể được xem là phần tử trí thức có chí lớn hành đạo Như kẻ sĩ hay người quân tử là những người có đức hạnh cao quý, có nhân cách ngời sáng Vậy theo quan điểm của Nho giáo, đạo đức người quân tử bao gồm những phẩm chất và yêu cầu gì? Theo Khổng Tử thì người quân tử cũng là một người như dân thường nên cũng phải có đủ những đức làm người: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín Ngoài ra người quân tử còn phải có những yêu cầu như: Đề cao và coi trọng nghĩa, xem thường lợi Phải có tam úy tức 3 điều sợ: sợ mệnh trời, sợ đại nhân, sợ lời nói của thánh hiền Phải biết mệnh trời Phải có tam đức: Nhân, trí, dũng Phải hòa nhi bất đồng (hòa hợp với mọi người nhưng không theo đuôi họ)
Nho giáo luôn khẳng định, đã là người quân tử thì đức nhân phải là yếu
tố hàng đầu Nhân theo nghĩa hẹp là một phẩm chất đạo đức cơ bản, là chuẩn mực đạo đức để con người tự tu dưỡng và hoàn thiện nhân cách của mình Theo nghĩa rộng, thì những đức cần có khác của con người như nghĩa - lễ - trí
- tín - hiếu - trung đều là biểu hiện cụ thể của đức nhân Nhân là đạo làm
người, là cách cư xử của mình với người, là yêu người, bác ái Theo Khổng
Tử nhân không chỉ là riêng một đức tính nào mà chỉ chung mọi đức tính Người có nhân đồng nghĩa với người hoàn thiện nhất, nên nhân là nghĩa của đạo làm người
“Kẻ có nhân là người tình cảm chân thật, hết lòng vì nghĩa, cho nên có nhân thì bao giờ cũng hiếu để, lễ nghĩa, trung thực Kẻ bất nhân thì đầy những trí thuật, rất khôn khéo, linh lợi mà tình cảm đơn bạc không thành thực, chỉ vì lợi
mà không có lễ nghĩa, dối trá, gian ác, phản loạn, lừa trên gạt dưới” [13; 64]
Bên cạnh đức nhân thì “nghĩa” cũng có vị trí quan trọng Nho giáo
không đưa ra một định nghĩa kinh điển nào về nghĩa Tùy từng hoàn cảnh, đối
Trang 26tượng mà việc giảng giải về nghĩa khác nhau Tựu trung lại, phạm trù nghĩa
bao gồm những cái cao thượng, chính trực, tốt đẹp và phù hợp với nhân và lễ
Làm điều nghĩa là để thi hành đạo nhân và giữ gìn lễ tiết Khổng Tử cho rằng: người quân tử lấy nghĩa làm đầu, kẻ tiểu nhân lấy “lợi” làm đầu (Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân dụ ư lợi)[30;238]; người quân tử phải trọng nghĩa (cứ hợp nghĩa thì làm); lấy nghĩa làm gốc (Quân tử nghĩa dĩ vi chất) [30;238] “Lễ” cũng là một phẩm chất của người quân tử mà Nho giáo từ Khổng tử đến Mạnh Tử rồi Đổng Trọng Thư đều đề cập tới Lễ theo quan điểm của Nho giáo vừa bao gồm việc thờ cúng, lễ bái, vừa là những quy định có tính chất pháp luật, đồng thời, Khổng Tử cũng bổ sung thêm nội dung thứ ba của lễ (nội dung luân lý) nhằm chỉ sự kỷ luật về tinh thần Người có lễ là người biết
tự chủ, nghiêm khắc với bản thân Khổng Tử chủ trương người quân tử phải
theo lễ mà làm, phải khắc kỷ, phục lễ
Người quân tử còn phải là người có “trí” và “dũng” Trí là trí tuệ, tài
năng, kiến thức, là khả năng suy nghĩ, xét đoán mọi việc một cách sáng suốt Quan niệm về trí của người quân tử do Khổng Tử nêu ra đó là sự hiểu biết của
họ về đạo thánh hiền, ở việc làm theo giáo huấn bề trên Một trong những điểm quan trọng của trí là nắm được mệnh trời Dũng là sự can đảm, dũng cảm, nghĩa liệt để có thể chiến thắng bản thân, chiến thắng hoàn cảnh và sẵn sàng giúp đỡ người khác Nhân - trí - dũng luôn song hành với nhau, hơn nữa, nhân còn bao hàm cả trí và dũng Khổng Tử đã từng nói: “Đức của người quân tử có ba mà ta chưa làm được Người nhân không lo buồn, người trí không nghi ngờ, người dũng không sợ hãi”[30;232] Như vậy, người quy tụ các đức tính trên là người có đức nhân: tình cảm chân thật, ngay thẳng, hết lòng vì nghĩa, nghiêm trang, tề chỉnh, rộng lượng, khoan dung và siêng năng cần mẫn Người có đức nhân chỉ hành động vì nhân nghĩa, đối lập với kẻ bất nhân chỉ hành động vì lợi Hình ảnh người quân tử trong Tam quốc diễn
Trang 27nghĩa rất đa dạng Tùy vào hoàn cảnh của mỗi nhân vật mà họ thể hiện mình
là người quân tử theo mỗi cách riêng Dưới ngòi bút của La Quán Trung hình ảnh của người quân tử chính là Quan Công, một hình tượng đẹp nhất của người quân tử trong Tam quốc diễn nghĩa Điều đó giải thích lý do tại sao người Trung Hoa thờ Quan Công rất phổ biến Quan Vân Trường từ khi còn trẻ, kết thân với Lưu Bị và Trương Phi tại vườn đào và ba người anh hùng đó gắn bó với nhau như anh em ruột thịt, thề sống chết có nhau Họ tôn thờ Lưu
Bị như người anh cả mà mọi hành động đều hướng về người anh cả đó Tào Tháo nhiều lần đã dùng mọi thủ đoạn để lôi kéo Quan Vân Trường nhưng đều thất bại Từ việc mua chuộc bằng vàng bạc, bổng lộc, khéo bài mưu để Quan Công mang ơn ông ta mà ở lại nhưng cũng vẫn thất bại Quan Vân Trường một lòng hướng về Lưu Bị và không quản gian khổ đã hộ tống Lưu phu nhân
về với Lưu Bị an toàn, qua các ải đều chém tướng giặc Khí chất người anh hùng đó được giữ trọn vẹn cho tới lúc bị giết (khiến cho Thượng Đế cảm động mà hiển thánh) Có thể nói hình ảnh Quan Công là nhân vật tiêu biểu nhất của người quân tử mà người Trung Hoa khao khát đạt tới
Cốt lõi của con đường trở thành người quân tử là “tu thân” Nho giáo chủ trương từ thiên tử đến thứ dân phải lấy tự sửa mình làm gốc (Tự thiên tử
dĩ chí ư thứ dân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản)[31;166] Tu thân nghĩa là luôn nghiêm khắc với bản thân, sửa chữa những thiếu sót, không bảo thủ để nhận
rõ những hạn chế của mình, từ đó ngày càng hoàn thiện
Người quân tử muốn có đức sáng, đức lớn phải hết sức nổ lực tu dưỡng bản thân Đích hướng tới của sự tu dưỡng, rèn luyện là để trở thành người có nhân, có trí Có nhân, có trí thì người quân tử mới có đủ khả năng thi hành đạo nghĩa Nói cách khác nhân và trí là tiền đề để người quân tử dũng cảm hành động hợp vói đạo nhân nghĩa, không bị nhầm lẫn trong hành động Khổng Tử khuyên các học trò phải tu thân dưỡng tính, ông kêu gọi các bậc
Trang 28vua chúa cần “phải tu thân”, sửa đức theo gương những bậc vua thánh thời xưa như Nghiêu, Thuấn Bản thân Khổng Tử cũng là tấm gương về người có đức Tư tưởng này của ông đã được Mạnh Tử và các nhà nho sau này kế tục
và phát triển Mạnh Tử chủ trương tồn tâm dưỡng tính Tuy nhiên tư tưởng này của ông không giống phương pháp tu hành khổ hạnh, tiết dục của Phật giáo hay Blamôn giáo mà không làm cho tâm bị phân tán, đề cao thiên tính bằng cách chí thành-thành tâm Thành tâm dưỡng tính là để nuôi dưỡng tứ đoan, phát huy được bốn đức tính lớn vốn sẵn có trong con người: nhân, nghĩa, lễ, trí
Sau khi tu thân rồi, người quân tử có bổn phận “hành đạo”, đem cái đạo, cái đức, cái chí của mình ra giúp đời, vừa vinh thân hiển gia, vừa an bình thiên hạ Nội dung của công việc này được cụ thể hóa thành công thức “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Tức là phải hoàn thành những công việc nhỏ - gia đình, cho đến lớn - trị quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống nhất thiên hạ) Kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử phải thực
hiện theo hai phương châm: Đó là nhân trị và chính danh Về “nhân trị”:
Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người, là yêu người, coi người
như bản thân mình “Chính danh” có nghĩa là mỗi sự vật phải được gọi đúng tên nó, mỗi người phải làm cho đúng chức phận của mình Sách Luận ngữ có
câu: Danh không chính thì lời không thuận, lời không thuận tất việc không thành Những quan điểm trên của Nho giáo có rất nhiều điểm tích cực, hợp lý
Nó đã đặt ra cho con người quân tử phải có đạo đức cao cả, có trí tuệ xuất chúng Dù những nguyên tắc ấy có lúc không được thực hiện trong thực tế nhưng nó vẫn là một điểm tựa, là lý tưởng cho mỗi người thấu hiểu và noi theo Nho giáo đã tạo ra cho kẻ sĩ một tinh thần trách nhiệm cao cả đối với xã hội: đó là ý thức đem tài năng, trí tuệ của mình ra giúp người, giúp đời, làm những việc tốt phục vụ cho xã hội
Trang 29Người quân tử quả là những con người tài đức vẹn toàn Và những phẩm chất tốt đẹp bên trong đó sẽ bộc lộ ra ngoài qua tướng mạo, hành vi, ngôn ngữ Nho giáo cho rằng: người quân tử: Nhìn thì phải để ý nhìn sao cho sáng; Nghe thì phải lắng tai nghe cho rõ ràng; Sắc mặt phải giữ cho ôn hòa; Tướng mạo thì phải giữ cho khiêm cung; Nói năng phải giữ bề trung thực; Làm việc phải trọng sự kính cẩn; Có điều nghi hoặc thì phải hỏi han; Khi giận thì nghĩ đến sự hoạn nạn có thể xảy ra; Thấy lợi thì phải nghĩ tới điều nghĩa” Theo Khổng Tử, chín điều này phải có sự hài hòa với nhau mà ông gọi là “trung dung” Đức Trọng Ni nói rằng:
“Bậc quân tử tức là hạng người có đạo đức, thì giữ được đức trung dung Còn kẻ tiểu nhân tức là hạng người kém đạo đức thì trái với đức trung dung Bậc quân tử giữ được đức trung dung là: bấc kì giờ phút nào người cũng giữ gìn được cái tâm ở mức giữa (trung), không chênh bên này, không lệch bên kia, vì người biết tồn tâm dưỡng tánh, tỉnh sát đạo lí không bị hoàn cảnh cám
dỗ, còn kẻ tiểu nhân thì trái với đức trung dung: cái tâm nó chênh lệch, cái tánh nó tách khỏi đạo, lòng tư dục nó xua đuổi theo cảnh ngoài, cho nên nó chẳng còn biết kiêng dè, sợ sệt chi cả” [69;45]
Từ tư cách, thái độ, đạo đức, tài năng đến tướng mạo, hành vi, ngôn ngữ đều thể hiện người quân tử là mẫu người toàn thiện, toàn mĩ, xứng đáng với vai trò trị dân theo đường lối đức trị của Khổng Tử Tuy nhiên, để đạt đến mẫu người này quả không giản đơn Ngay cả những học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử cũng mới chỉ đạt một số tiêu chuẩn nào đó của người quân tử mà thôi Mặc dầu vậy, những quan niệm đó có nhiều điểm đáng lưu tâm, nó thể hiện mục đích giáo dục của Nho giáo là phổ cập những đức tính và phẩm chất của người quân tử cho tất cả mọi người, hướng con người đến cái thiện, đến
sự hoàn thiện về phẩm giá và nhân cách Hơn thế nữa, Nho giáo còn đề xuất phương pháp giáo dục cơ bản nhất là sự nổ lực rèn luyện, phấn đấu tự sửa
Trang 30mình của mỗi người Đó cũng là điểm sâu sắc nhất trong học thuyết Nho gia
nó có sức sống lâu bền và ảnh hưởng rất lớn đến lớp lớp thế hệ ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam
Thứ ba, các phẩm chất đạo đức mà các quân tử có quyền lực cần tu dưỡng và thể hiện
Khổng Tử dành một sự quan tâm nổi bật và thường xuyên đối với các quân tử có quyền lực trong tay Điều này là tất nhiên xuất phát từ chỗ Khổng giáo tự đặt cho mình trách nhiệm đào tạo ra những nhà cai trị và những nhà cai trị có đức hạnh Bên cạnh việc tu thân thì quân tử có quyền lực còn phải biết “nêu gương” Khổng Tử cho rằng nhà cầm quyền muốn giữ được địa vị của mình thì phải biết làm cho dân tín Muốn để cho dân tin thì nhà cầm quyền phải là tấm gương về đạo đức, bản thân không giữ được đạo lý thì nói chẳng ai nghe Nhà cầm quyền muốn trở thành tấm gương để dân noi theo thì phải hết lòng lo việc dân việc nước, hết lòng vì dân thì khi sống dân sẽ theo
mà khi chết dân sẽ thương xót Phải lấy đức, lấy lễ dẫn dắt nhân dân Ngoài các quan hệ xã hội thông thường và các phẩm chất đạo đức mà các quân tử cần có thì các nhà cai trị còn có thêm các quan hệ với cấp trên (mà cao nhất là vua) và với dân chúng Bên cạnh đó họ còn đảm nhiệm việc dùng người và tiễn cử người vào các cương vị của bộ máy nhà nước
Đối với cấp trên quân tử phải trung và kính Tuy nhiên trung và kính đều
phải hợp với đạo lý Thế nào là hợp với đạo lý? Thì ta đã gặp sự giải thích của Khổng Tử ở một đoạn trên: “rất sợ ý chí của dân” Có nghĩa là: ý chí và lợi ích của nhân dân, đó là cái quy định lòng trung và kính của quân tử chấp chính trong thái độ ứng xử với cấp trên, kể cả vua, của mình.Trong trường hợp cấp trên, hoặc nhà vua, có những tư tưởng và việc làm trái với đạo lý thì
quân tử chẳng thà chịu mai mọt với cỏ cây, chứ nhất thiết không chiều theo,
cũng không tiếp tay cho các tư tưởng và việc làm ấy Mạnh Tử nói:
Trang 31“Thiên hạ có Đạo thì ra làm quan, thi hành Đạo cho đến lúc lìa bỏ thân xác mới thôi Gặp lúc thiên hạ vô Đạo, nên ẩn dật, đem thân mai mọt với Đạo
Ta chưa từng nghe quân tử hy sinh Đạo để cung phung sở dục của một người nào vậy” (Thiên hạ hữu Đạo, di Đạo tuần thân Thiên hạ vô Đạo, dĩ thân tuẩn Đạo Vị văn dĩ Đạo tuẫn hồ nhân giả giã”) [71;250]
Đối với dân và cấp dưới, quân tử phải khiêm cung, thường đem ân huệ
để nuôi dưỡng, và sử dụng sức người, sức của của nhân dân một cách hợp lý
Phải thời Khổng Tử khen Tử Sản (làm quan đại phu nước Trịnh) giữ được bốn điều của quân tử chấp chính: đối với người thì khiêm cung, thờ bậc trưởng thượng thi kính trọng, thường dùng ân huệ nuôi dưỡng dân, sử dụng sức dân thì hợp nghĩa” (Tử vị Tử Sản hữu quân từ chi đạo tứ vẹn: kỳ hành kỷ giả cung; kỳ sự thượng giả kính, kỳ dưỡng dân giả huệ; kỳ sử dân giả nghĩa” [38;72]
Mạnh Tử đã nêu lên những tư tưởng rất cơ bản về mối quan hệ giữa người cầm quyền với nhân dân Ngoài mệnh đề nổi tiếng: “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” còn có nhiều câu nhiều đoạn khác thể hiện cùng tư tưởng coi trọng lợi ích của nhân như đoạn:
“Kiệt, Trụ chi thất thiên hạ giá, thất kỳ tâm giá Đắc thiên hạ, hữu đạo đắc kỳ dân, tư đắc thiên hạ hỹ Đắc kỳ dân, hữu đạo: đắc kỳ tâm, tư đắc dân
hỹ Đắc kỳ tâm, hữu đạo, sở dục, dữ chi tụ chi, sớ ố vật thi nhĩ giã Dân chỉ qui nhân giã, du thủy chi tựu hạ, thú chi tẩu khoáng giã” [71;18]
Có nghĩa: Kiệt, Trụ mất thiên hạ là do mất dân Mất dân là do mất lòng dân Muốn được thiên hạ thì có con đường này: hễ được dân thì sẽ được thiên
hạ Muốn được dân thì có con đường này và được lòng dân thì sẽ được dân Muốn được lòng dân thì có con đường này: dân muốn điều gì, nhà cầm quyền nên đáp ứng cho họ, dân ghét điều gì, thì chớ làm cho họ Dân theo về bậc có nhân đức như nước chảy về chỗ trũng, thú chạy về miền hoang vậy
Trang 32Thế nào là một đất nước thịnh trị? Mạnh Tử trả lời:
“ Cốc dữ ngư bất khả thăng thực, tài mộc bất khả thăng dụng, thị sử dân dưỡng sinh, táng tử, vô hám giã, vương đạo chi thủy giã…Thất thập giã y bạch, thực nhục, lê dân bất cơ, bất hàn, thiên nhi bất vượng giã, vị chi hữu giã” [70;13]
Có nghĩa: ngũ cốc và cá mú dư ăn, gỗ lạt dư dùng, dân nhờ đó mà nuôi dưỡng người sống, chôn cất người chết, lòng dân hết nỗi oán sầu Đó là bước khởi đầu của một nền cai trị theo vương đạo…Trong nước, người bảy mươi tuổi có lụa mà mặc, có thịt mà ăn, bần dân thiên hạ khỏi đói, khỏi rét, thế nào nền cai trị cũng được thịnh vượng
Trong việc dùng người và cất nhắc, tiến cử người, quân tử phải chí công
vô tư và rất tinh tường, tỉnh táo, không vì những lời nói khéo, phỉnh nịnh hoặc
tự khoe mà dùng, tiến cử người Cũng không vì người ở địa vị thấp kém, thậm chí có khuyết tật mà chê bỏ lời nói của họ (“ quân tử bất dĩ ngôn cử nhân, bất
dĩ nhân phế ngôn”)[38;248] Quân tử ghét những kẻ nói xấu người khác, ghét
kẻ ở bậc dưới mà nói dèm bậc trên, ghét kẻ có sự dũng cảm nhưng không lễ phép, ghét kẻ quả quyết làm liều để đến nỗi sa vào chỗ bế tắc, ghét kẻ chẳng khiêm cung mà tự cho là dũng cảm, ghét kẻ chuyên bới móc lỗi lầm của người khác mà tự xưng là ngay thẳng “Tử Cống viết: quân tử diệc hữu ố hồ?
Tử viết: hữu ố, ố xưng nhân chi ác giả; ố cư hạ lưu nhi sán thượng giả; ố dũng nhi vô lễ giả Ố quả cảm nhi trất giả, ố bất tốn dĩ vi dũng giả, ố kiết dĩ vi trực giả” [38;282]
Đương nhiên quân tử không dùng cũng không tiến cử loại người mà Khổng Tử và Tử Cống ghét như vừa được kể trên đây Như vậy, quân tử có chức, có quyền cần thi hành một chính sách nhân chính: nuôi dưỡng, giáo dục dân, dùng sức người, sức của của dân một cách hợp nghĩa, không vơ vét bóc lột nhân dân để làm giàu cho bản thân hoặc cho bọn vua quan tham lam, tàn ác
Trang 33Tiểu kết chương 1
Nho giáo ra đời cùng với tên tuổi người đã sáng lập nên nó là Khổng
Tử Trải qua năm tháng thăng trầm, mỗi thời đại có sự kế thừa và bổ sung khác nhau tuy nhiên xét đến cùng nó vẫn là học thuyết về chính trị - đạo đức được các vua chúa tin dùng Đường lối đức trị của Nho giáo từ Khổng Tử tới Mạnh Tử lấy nhân nghĩa làm gốc, coi trọng vai trò của dân đã thể hiện được những quan điểm nhân bản khá sâu sắc Đường lối đó “nặng đức” “nhẹ hình”, khuyến khích người đời từ thường dân đến bậc vua chúa đều phải tu thân rèn đức theo mẫu người quân tử Học thuyết “Đức trị” của Khổng, Mạnh chứa đựng hầu hết các giá trị tinh hoa của Nho giáo và ngày nay vẫn rất cần được chúng ta tiếp tục nghiên cứu Nho giáo đã xây dựng nên hình mẫu người quân tử lý tưởng với rất nhiều giá trị tốt đẹp Đó là mẫu người có đầy đủ phẩm chất đạo đức nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, và lòng dũng cảm, trong
đó đức nhân luôn được đề cao hơn hết Quân tử luôn luôn tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành một người hoàn thiện đem tài năng, trí tuệ của mình ra giúp ích cho người, cho đời, làm những công việc tốt cho xã hội Có thể thấy rằng, lý tưởng của người quân tử trong đạo đức Nho giáo là “tu thân”, rèn luyện đạo đức, trau dồi tri thức để đem tài năng ra thi thố, giúp đời tạo ra sự nghiệp vẻ vang Lý tưởng đó qua thời gian vẫn không hề lỗi thời mà ngày nay vẫn còn ý nghĩa tích cực nhất định “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” có rất nhiều điểm tương đồng với việc rèn luyện, học tập, tu dưỡng đạo đức và đem tài sức ra đóng góp xây dựng đất nước của thanh niên hiện nay Tuy nhiên, với mẫu hình con người lý tưởng và việc phân chia đẳng cấp xã hội thành quân tử và tiểu nhân phản ánh đậm nét thái
độ của Khổng Tử đối với nhân dân lao động và một số quan điểm của ông về đạo đức Với những điều kiện hạn hẹp, thiếu thốn, nhân dân lao động không thể không lo lắng, không thể không nghĩ đến cái ăn, cái mặc, họ càng không
Trang 34thể thông thạo thi, thư, lễ, nhạc, như vậy Khổng Tử đã vô tình gạt họ ra khỏi lớp người quân tử Đó cũng chính là điểm hạn chế trong học thuyết của ông
Trang 35CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG ĐẠO ĐỨC THANH NIÊN
VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 KHÁI NIỆM THANH NIÊN VÀ NHỮNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC MỚI CỦA THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1.1 Khái niệm thanh niên
Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách tùy thuộc vào nội dung tiếp cận và góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá Trong tâm lý học lứa tuổi, người ta định nghĩa tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Theo quan niệm quốc tế, trẻ em (Child) là người dưới 18 tuổi (Theo Điều 1, Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989), người chưa thành niên (Juvenile) là người từ 15 đến 18 tuổi, thanh niên (Youth) là người từ 15 đến 24 tuổi, người trẻ tuổi (Young persons) bao gồm trẻ em, người chưa thành niên và thanh niên Theo Báo Pháp luật của Bộ Tư pháp ra ngày 23/12/1997 thì hầu hết các nước trên thế giới đều thống nhất tuổi thanh niên bắt đầu từ 14 hoặc 15 Còn thanh niên kết thúc ở tuổi nào thì có sự khác biệt Có nước quy định là 25 tuổi, có nước quy định là 30 và cũng có nước quy định là 40 Nhưng xu hướng chung là nâng dần giới hạn kết thúc của tuổi thanh niên, chẳng hạn ở Malaysia độ tuổi thanh niên là 15-40 Ở Việt Nam, độ tuổi người chưa thành niên được xác định thống nhất trong tất cả các văn bản pháp luật là dưới 18 tuổi Khái niệm người chưa thành niên khác với khái niệm trẻ em Theo Điều 1, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới
16 tuổi” Theo Điều 1, Luật Thanh niên năm 2005 quy định thì thanh niên là
“công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi.” [39] Luật Thanh niên được
Trang 36Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ
8, khóa XI nêu: “Thanh niên quy định trong Luật này là công dân Việt Nam
từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi” Đây là thời kỳ sung sức nhất của mỗi con người về thể chất, có sự phát triển mạnh về trí tuệ, nhạy bén, năng động, sáng tạo, có nhiều ước mơ, hoài bão Thanh niên nước ta là một tầng lớp xã hội rộng lớn, luôn có những đóng quan trọng trong các giai đoạn lịch sử phát triển của đất nước Theo khảo sát của Trung ương đoàn, hiện cả nước có trên 25,3 triệu thanh niên từ 16 đến 30 tuổi Hiện nay thanh niên Việt Nam chiếm 28,9% dân số cả nước và chiếm 36,4% lực lượng lao động của toàn xã hội, là nguồn nhân lực dồi dào, có tiềm năng to lớn trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Độ tuổi thấp nhất của thanh niên xác định là đủ mười sáu tuổi được căn
cứ vào quy định Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Theo đó, trẻ em được xác định là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi Độ tuổi cao nhất của thanh niên được xác định là đến đủ ba mươi tuổi được căn cứ từ sự phân tích
về phát triển thể chất, tâm lý sinh lý, sự phát triển về mặt xã hội, ý thức tự lập,
tự chủ, của thanh niên và từ thực tiễn của nước ta, việc quy định này căn cứ vào độ tuổi cao nhất của Đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
Thanh niên có biên độ về tuổi khá lớn Do đó, cần xem xét thanh niên theo 3 nhóm: thanh niên mới lớn (từ 16 đến dưới 18 tuổi) là độ tuổi chưa thành niên nên thay đổi rất nhanh về thể chất, muốn thể hiện mình là người lớn, rất thích tham gia vui chơi tập thể và bắt đầu muốn chọn bạn khác giới;
từ 18 đến 25 là tuổi vẫn tiếp tục lớn Họ rất hăng hái, dũng cảm, khẳng định trách nhiệm công dân, định hướng nghề nghiệp rõ ràng; từ 26 tuổi đến 30 tuổi, phần lớn họ đã có việc làm, lập nghiệp, có học vấn rộng và tư duy sáng tạo, có cuộc sống gia đình riêng, có bản lĩnh, nhân cách công dân và có nhu cầu văn hoá, nếp sống văn minh cao Nhìn chung, thanh niên là lứa tuổi đang
Trang 37phát triển, định hướng và trưởng thành về mọi mặt: thể chất và tinh thần, về nhu cầu tình cảm và tâm lý, về khả năng và nhân cách.Thanh niên chiếm số đông trong dân số cả nước, có mặt ở cả giai cấp công nhân, giai cấp nông dân
và đội ngũ trí thức, có mối quan hệ gắn bó mật thiết với các tầng lớp khác trong xã hội; thanh niên có mặt ở tất cả các địa phương, các ngành kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước Thanh niên đang là lực lượng xã hội to lớn của hiện tại và là chủ thể sáng tạo của tương lai, họ không chỉ là một lực lượng quan trọng của xã hội mà họ là ngày mai của xã hội
Từ sự phân tích trên cho thấy, thanh niên Việt Nam là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù, được phân chia theo độ tuổi, từ đủ 16 đến 30 tuổi, được phân bố rộng khắp trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các ngành nghề kinh tế - xã hội của đất nước, với những đặc điểm tâm lý sinh lý đặc thù của lứa tuổi này, là lứa tuổi đang phát triển, định hướng và trưởng thành về mọi mặt: thể chất và tinh thần, về nhu cầu tình cảm và tâm lý, về khả năng và nhân cách, về lý tưởng và lối sống
2.1.2 Những chuẩn mực đạo đức mới của thanh niên Việt Nam hiện nay
Truyền thống dân tộc Việt Nam ta từ ngàn xưa đến nay vẫn xem đạo đức
là cái gốc của con người Gốc có vững thì cành lá mới tốt tươi Con người có đạo đức thì mới có thể học tập, lao động và cống hiến cho đất nước, cho xã hội Với tầng lớp thanh niên, điều đó luôn luôn đúng và là lý tưởng mà mỗi thanh niên phải hiểu rõ, phải thấm nhuần để từ đó học tập và làm theo Thực
tế cho ta thấy rằng, những thanh niên có nhiều cống hiến cho nước nhà, đem lại rạng rỡ, vinh quang cho tổ quốc luôn là những con người có phẩm chất đạo đức tốt đẹp, có lý tưởng sống đúng đắn và lối sống lành mạnh, văn minh Những giá trị đạo đức luôn gắn với mỗi thanh niên, là thước đo phẩm chất cho họ trong cuộc sống xã hội cũng như trong cuộc sống đời thường
Trang 38Những giá trị truyền thống đạo đức tốt đẹp của thanh niên Việt Nam trong lịch luôn là cơ sở, là nền tảng để thanh niên ngày nay kế thừa Trước hết, đó là tinh thần yêu nước mãnh liệt, sâu sắc, tinh thần xả thân vì cách
mạng Sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu dũng cảm, sẵn sàng gia nhập các lực
lượng vũ trang nhân dân Sẵn sàng khắc phục mọi khó khăn, đẩy mạnh sản xuất, công tác và học tập trong bất kỳ tình huống nào Sẵn sàng đi bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì khi tổ quốc cần đến Thứ hai, tinh thần xung phong, vượt khó, chịu đựng mọi gian khổ với tinh thần hiếu học, hăng hái rèn luyện học tập, luôn vươn tới đỉnh cao của khoa học - công nghệ, văn học nghệ thuật Thứ ba, qua lịch sử phong trào thanh niên Việt Nam ta còn thấy một tinh thần đoàn kết, yêu thương giúp đỡ nhau trong học tập, chăm chỉ học tập, chia sẻ khó khăn với đồng bào.Thanh niên Việt Nam luôn sẵn sàng “nhường cơm sẻ áo” với đồng bào gặp khó khăn là hoạt động hoàn toàn tự giác, tự nguyện Họ không đòi hỏi nhiều cho mình khi đất nước còn nghèo, dân ta còn thiếu thốn Ngược lại sự đóng góp nhiều mặt của thanh niên đã làm nên những chiến thắng vẻ vang cho dân tộc Việt Nam trong cả sự nghiệp dựng nước và giữ nước Kế thừa từ những giá trị tryền thống đạo đức tốt đẹp của thế hệ thanh niên đi trước, ngày nay trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thanh niên càng phải thể hiện tốt hơn nữa vai trò của mình để xứng đáng với những kì vọng mà Đảng và nhân dân giao phó Những chuẩn mực đạo đức mới của thanh niên ngày nay có những điểm đáng lưu ý:
Theo tinh thần của nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa VIII, yêu cầu đạo đức mới của thanh niên Việt Nam hiện nay được xác định cụ thể như sau:
Một là, phải có tinh thần yêu nước mới, yêu nước là yêu Xã hội xã hội chủ nghĩa, yêu nhân dân, sẵn sàng hy vì tổ quốc, nhân dân vì lý tưởng cách mạng Đây là một trong những phẩm chất hàng đầu của thanh niên, vì trong
Trang 39bất kỳ giai đoạn cách mạng nào thì yêu nước vẫn là giá trị đạo đức vô cùng quý báu Ở nước ta hiện nay, trong quá trình đổi mới đất nước, do tình hình thế giới đang có những biến đổi nhanh chóng và phức tạp, mặt khác các thế lực phản động trong và ngoài nước luôn tìm mọi cách chống phá chủ nghĩa xã hội, hòng xoá bỏ những thành quả mà cách mạng đã đạt được Chính vì vậy, bên cạnh những thành tựu thuận lợi mà quá trình đổi mới mang lại, chúng ta lại phải đương đầu với nhiều khó khăn, thử thách Trước tình hình đó, sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam có thành công hay không còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nhưng tinh thần yêu nước là yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất đòi hỏi thanh niên phải có được Chính vì thế Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể phải giáo dục thanh niên, biến chủ nghĩa yêu nước, lợi ích chân chính của dân tộc thành nội lực bên trong cho mỗi thanh niên, nhờ thế nó thôi thúc, khơi dậy nhiệt tình cách mạng, ý chí tự lực,
tự cường, biết kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc với tinh thần không chịu đói nghèo, lạc hậu Yêu nước theo đạo đức mới phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Đảng cộng sản Việt Nam, bảo vệ sự nghiệp đổi mới, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích của toàn dân tộc, quyết tâm xây dựng xã hội phồn vinh, nhân dân hạnh phúc
Hai là, phải nâng cao nhận thức và hoạt động thực tiễn trong việc giải quyết hài hoà mối quan hệ lợi ích giữa cá nhân và xã hội Để phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì việc giải quyết hài hoà mối quan hệ về lợi ích giữa cá nhân và xã hội có một ý nghĩa quan trọng chiến lược Vì vậy, yêu cầu đạo đức mới của thanh niên hiện nay là phải hiểu được
cơ sở lý luận và gương mẫu đi đầu trong việc giải quyết hài hoà mối quan hệ
về lợi ích giữa các nhân và xã hội Để giải quyết hài hoà mối quan hệ ấy đòi
Trang 40hỏi thanh niên phải tự đặt lợi ích tập thể, lợi ích xã hội lên trên lợi ích cá nhân, sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân khi nó mâu thuẫn với lợi ích của tập thể, lợi ích của toàn xã hội
Ba là, phải có bản lĩnh cách mạng Bản lĩnh cách mạng được thể hiện rất
phong phú, đa dạng nhưng trước hết nó thể hiện ở tính cần cù, chịu khó trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập, lao động và chiến đấu Mặt khác, bản lĩnh cách mạng còn thể hiện trong sự tự rèn luyện, tự tu dưỡng bản thân, nghiêm khắc với mình trong tình cảm đạo đức và hành vi đạo đức Điều này thể hiện ở chỗ luôn lấy những chuẩn mực đạo đức và quy phạm, hành vi nhất định để chế ước bản thân mình, xây dựng cho mình những đức tính như: nhân
ái, nghĩa hiệp, lễ phép, trung thực, cầu thị, không che giấu khuyết điểm, sai lầm, dũng cảm thừa nhận và kiên quyết khắc phục những sai lầm, khuyết điểm…
Bốn là, có tinh thần đoàn kết, thương yêu con người, giúp đỡ mọi người
Đây là một phẩm chất rất quan trọng của thanh niên, vì dưới chủ nghĩa xã hội
đã tạo điều kiện cần thiết để con người yêu thương nhau, giúp đỡ nhau với tinh thần: “mọi người vì mỗi người, mỗi người vì mọi người” Chính tinh thần đoàn kết, thương yêu con người, giúp đỡ mọi người, sẽ giúp cho thanh niên sống hoà đồng hơn, dễ cảm thông với những khó khăn vất vả của người khác, tạo lập được ý thức vì tập thể, vì xã hội, biết sống cho mọi người, từ đó sẽ đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân, thói ích kỷ, lối sống thờ ơ, lãnh đạm, bàng quang với nỗi khổ của người khác
Năm là, thanh niên Việt Nam phải có được lý tưởng cách mạng, có ước
mơ, hoài bão lớn lao, cao đẹp Đây là một yêu cầu quan trọng đối với thanh
niên vì hiện nay có rất nhiều thanh niên không có hoặc lợt phai lý tưởng cách mạng, thờ ơ với chính trị, sống vì hiện tại bất chấp tương lai, chạy theo những ham muốn thấp hèn Khi có lý tưởng, ước mơ, hoài bão cao đẹp sẽ giúp cho