Trong số đó, có thể phân chia thành hai nhóm như sau: Nhóm thứ nhất là những nghiên cứu tổng quan về nước Mỹ và những lĩnh vực cụ thể trong đó có các vấn đề liên quan đến chính sách đối
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ VỚI NHẬT BẢN TRONG NHIỆM KÌ CỦA TỔNG THỐNG R.NIXON (1969 – 1973)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội-2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
CỦA MỸ VỚI NHẬT BẢN TRONG NHIỆM KÌ
Hà Nội-2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này em đã nhận được sự giúp đỡ và góp ý rất tận tình và nghiêm túc từ TS Trần Thiện Thanh, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Cô vì tất cả những hướng dẫn và sự giúp đỡ của Cô trong suốt thời gian em học tập và hoàn thành luận văn này
Em xin gửi lời chân thành cảm ơn đến Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành tốt luận văn Cuối cùng là lời cảm ơn sâu sắc của tôi tới gia đình và bạn bè, những người luôn quan tâm, động viên và giúp đỡ tôi trong thời gian tôi học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày 30 tháng 12 năm 2014
Học viên
Nguyễn Thị Hương
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 10
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 10
5 Đóng góp của luận văn 11
6 Bố cục luận văn 12
PHẦN NỘI DUNG 14
CHƯƠNG I: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ VỚI NHẬT BẢN CUỐI THẬP NIÊN 1960 – ĐẦU THẬP NIÊN 1970 14
1.1 Tình hình thế giới và khu vực châu Á – Thái Bình Dương 14
1.1.1 Thế cân bằng quân sự Mỹ - Liên Xô 14
1.1.2 Trung Quốc và mâu thuẫn Trung Quốc – Liên Xô 19
1.2 Thực trạng nước Mỹ và chiến lược toàn cầu của Mỹ 23
1.2.1 Nước Mỹ và cuộc chiến tranh Việt Nam 23
1.2.2 Sự suy giảm tương đối địa vị kinh tế của Mỹ 32
1.3 Tình hình Nhật Bản cuối thập niên 1960 – đầu thập niên 1970 36
CHƯƠNG II: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ VỚI NHẬT BẢN TRONG NHIỆM KÌ CỦA TỔNG THỐNG R NIXON (1969 – 1973) 45
2.1 Nhật Bản trong chính sách đối ngoại của Mỹ 45
2.2 Những điều chỉnh chính sách trong quan hệ đồng minh với Nhật Bản 48
2.2.1 Trên phương diện chính trị - an ninh: gia hạn vĩnh viễn Hiệp ước An ninh và hợp tác song phương và trao trả quần đảo Okinawa cho Nhật Bản 48
2.2.2 Trên phương diện kinh tế: Điều chỉnh tỷ giá đồng Yen/USD và hạn chế xuất khẩu hàng dệt len, sợi tổng hợp của Nhật Bản sang Mỹ 75
CHƯƠNG III: TÁC ĐỘNG CỦA SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ VỚI NHẬT BẢN 83
Trang 53.1 Đối với nước Mỹ 83
3.2 Với Nhật Bản 90
3.3 Với mối quan hệ Mỹ - Nhật Bản 98
3.4 Với quan hệ quốc tế và Việt Nam 102
KẾT LUẬN 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
Phụ lục 1: The Nixon Doctrine 123
Phụ lục 2: Joint Statement Following Discussions With Prime Minister Sato
of Japan November 21, 1969 134
Phụ lục 3: Agreement Between the United States of America and Japan Concerning the Ryukyu Islands and the Daito Islands
Washington and Tokyo (simultaneously), 17th June,1971 138
Phụ lục 4: Address to the Nation Outlining a New Economic Policy:
"The Challenge of Peace." August 15, 1971 143
Phụ lục 5: Joint Statement of Japanese Prime Minister Sato and
U.S President Nixon 150
Phụ lục 6: Joint Statement of Japanese Prime Minister Tanaka and 152
Phụ lục 7: Joint Communique of Japanese Prime Minister Tanaka and
U.S President Nixon 155
Phụ lục 8: Một số hình ảnh 160
Trang 6chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế )
OECD
Hội đồng an ninh quốc gia Mỹ ( National Security Council) NSC
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hóa với tốc độ nhanh chóng như hiện nay, mỗi
cá thể đều phải tìm cách thích nghi với một thực tế là môi trường xung quanh thay đổi không ngừng Mỗi quốc gia cũng vậy, phải đưa ra những chiến lược
và sách lược phù hợp với biến đổi phức tạp của mối quan hệ với các chủ thể khác nhau trong quan hệ quốc tế Việc hoạch định chính sách đối ngoại của mỗi quốc gia đều xuất phát từ ―lợi ích quốc gia‖, phân tích tình hình thực tế của từng đối tượng, từng mối quan hệ trong bối cảnh chung của toàn thế giới và khu vực, từ đó tìm ra những đường hướng chính sách đem lại lợi ích lớn nhất cho mình Chính vì vậy, việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của các quốc gia không chỉ là hoạt động có ý nghĩa thực tiễn ở tầm vĩ mô, rút ra những bài học cho việc hoạch định chính sách của mỗi nước, mà còn giúp các thực thể khác trong quan hệ quốc tế thích nghi với môi trường thực tế của mình
Từ lâu, chính sách đối ngoại của các nước lớn luôn có tác động to lớn với thế giới Vì vậy, việc nghiên cứu chính sách đối ngoại của các nước này luôn được các học giả trên thế giới quan tâm, đặc biệt là chính sách đối ngoại của Mỹ Trong chính sách đối ngoại của Mỹ, mảng chính sách với Nhật Bản trong thế kỉ XX lại càng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu lịch sử
và quan hệ quốc tế Điều đó xuất phát từ những điều đặc biệt của lịch sử hai nước Không ai có thể phủ nhận rằng Mỹ là một trong những nước có ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới Còn ở châu Á, Nhật Bản cũng có tầm ảnh hưởng quan trọng trong khu vực Mối quan hệ của hai nước cũng trải qua những thăng trầm: từng là kẻ thù của nhau trong thế chiến thứ hai (1939 – 1945) nhưng sau khi bước ra khỏi cuộc chiến một thời gian lại trở thành đồng minh
và quan hệ liên minh Mỹ - Nhật Bản vẫn được duy trì, củng cố cho tới nay
Tuy nhiên, trong quá trình tồn tại, liên minh Mỹ - Nhật Bản cũng có những thời kì đứng trước những thách thức gay gắt buộc mỗi nước phải đưa
ra những điều chỉnh phù hợp với sự thay đổi của thực tế trong và ngoài nước
Trang 8Giai đoạn 1969 – 1973 trong nhiệm kì của Tổng thống R Nixon là một giai đoạn như vậy Mỹ đã phải điều chỉnh chính sách đối ngoại với Nhật Bản thể hiện chủ yếu trên hai phương diện là an ninh – chính trị và kinh tế Vì sao Mỹ phải điều chỉnh chính sách đối ngoại với Nhật Bản? Sự điều chỉnh đó có phá
vỡ hay vẫn nằm trong liên minh Mỹ - Nhật Bản? Sự điều chỉnh đó tác động như thế nào tới chính nước Mỹ, với Nhật Bản và với khu vực châu Á trong đó
có Việt Nam? Những vấn đề đó hầu như chưa được các học giả trong nước
đi sâu nghiên cứu Do vậy, vấn đề này đòi hỏi có sự phân tích tổng thể và sâu sắc để đi đến những giải đáp thỏa đáng
Đó cũng chính là những lí do khiến tôi lựa chọn vấn đề “Sự điều chỉnh
chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản trong nhiệm kì của Tổng thống
R Nixon (1969 – 1973)” làm đề tài nghiên cứu cho Luận văn Thạc sĩ Lịch sử
của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong phạm vi nguồn tài liệu mà cá nhân tiếp cận được, xin tóm tắt lịch
sử nghiên cứu vấn đề này ở trong và ngoài nước như sau:
Ở nước ngoài, có thể thấy số lượng các công trình nghiên cứu về chính
sách đối ngoại của Mỹ là rất nhiều, chứng tỏ đây là một chủ đề nghiên cứu rất được các học giả quan tâm Trong số đó, có thể phân chia thành hai nhóm như sau: Nhóm thứ nhất là những nghiên cứu tổng quan về nước Mỹ và những lĩnh vực cụ thể trong đó có các vấn đề liên quan đến chính sách đối ngoại của
Mỹ nói chung; nhóm thứ hai là nghiên cứu trực tiếp về chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản nói chung và trong nhiệm kì của Tổng thống R Nixon (1969 – 1973) nói riêng
Với nhóm thứ nhất, một số sách về tiến trình lịch sử nước Mỹ và văn
hóa Mỹ như “An outline of American History” (Khái lược lịch sử nước Mỹ,
1994) của Howard đã được xuất bản bằng tiếng Việt năm 2000, hay cuốn
“America” (Nước Mỹ, 2000) của George Brown Tindall và David
Emory…nghiên cứu lịch sử và văn hóa Mỹ trên phạm vi thời gian và không
Trang 9gian rộng tạo cơ sở cho việc phân tích quá trình hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ, tuy nhiên phần về chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản chiếm một tỉ lệ rất nhỏ Ngoài ra, có khá nhiều học giả nghiên cứu về chính sách đối ngoại của Mỹ trong và sau chiến tranh lạnh, xin nêu một vài tác
phẩm tiêu biểu: Năm 1973, cuốn “U.S foreign Policy in a changing world”
của Elan M Johns, Jr đƣợc xuất bản tại New York Năm 1983, cuốn
“Foreign Policy Making and the American Political System” của hai tác giả
James A Nathan và James K Oliver của Đại học Delaware đƣợc xuất bản tại Toronto, Canada Cuốn sách tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa việc hoạch định chính sách đối ngoại với hệ thống chính trị Mỹ trong thời kì từ sau
Chiến tranh thế giới thứ hai đến đầu thập niên 80 Năm 1994, cuốn The
American Age - U.S foreign policy at home and abroad của Walter Lafeber
đƣợc xuất bản với 2 tập I và II Ở tập II, tác giả đã dựng lại một cách tổng thể chính sách đối nội và đối ngoại của Mỹ đặc biệt là trong thế kỉ XX trong đó cũng bao hàm những chính sách liên quan đến Nhật Bản Ngoài ra, trong tác
phẩm “Mỹ thay đổi lớn chiến lược toàn cầu” của học giả Lý Thực Cốc đƣợc
dịch và xuất bản năm 1996 đã phân tích những biến đổi của tình hình chính trị thế giới, nguyên nhân dẫn đến việc Mỹ điều chỉnh chiến lƣợc toàn cầu Một
tác phẩm đáng chú ý khác là “ Nước Mỹ nửa thế kỉ - Chính sách đối ngoại
của Hoa Kỳ trong và sau chiến tranh lạnh” của Thomas McCommick đã
đƣợc dịch ra tiếng Việt và xuất bản năm 2004 Cuốn sách đã phân tích có hệ thống chính sách đối ngoại của Mỹ trong nửa thế kỉ - trong và sau chiến tranh lạnh, đồng thời tác giả đã đi sâu phân tích căn nguyên của những điều chỉnh chính sách đối ngoại trong thời gian đó…
Có thể nói, cho đến thời điểm hiện tại, có rất nhiều công trình nghiên cứu của các học giả Mỹ, Anh, Trung Quốc…về chính sách đối ngoại của Mỹ song đa phần là những công trình nghiên cứu trên phạm vi rộng, nhiều chủ thể trong quan hệ với Mỹ Phần về chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản trong các công trình đó chiếm tỉ lệ rất nhỏ nhƣng cũng cung cấp những hiểu
Trang 10biết tổng quát về bối cảnh lịch sử của việc hoạch định và điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ Những hiểu biết đó giúp tôi nhìn nhận vấn đề một cách bao quát và đa chiều hơn
Với nhóm thứ hai, nghiên cứu trực tiếp về chính sách đối ngoại của Mỹ
với Nhật Bản cũng có khá nhiều công trình dưới dạng sách tham khảo, bài viết Trước hết là một cuốn sách đáng tin cậy của cựu Đại sứ Mỹ tại Nhật Bản Edwin O.Reischeur xuất bản năm 1965 và tái bản năm 1969 tại Mỹ với nhan
đề “The United States and Japan” Cuốn sách viết về mối quan hệ Mỹ - Nhật
Bản từ 1945 – 1952 đến giữa những năm 1960, bên cạnh đó là những mối quan hệ trước chiến tranh Mỹ - Nhật Bản và một số vấn đề khác trong quan
hệ hai nước Năm 1974, cuốn sách “United States – Japanese relations: The
1970’s” của tác giả Priscilla Clapp viết về mối quan hệ của Mỹ - Nhật Bản
trong thập niên 1970 trên các phương diện quan hệ ngoại giao, kinh tế giữa
Mỹ và Nhật Bản, triển vọng của mối quan hệ này Năm 1976, cuốn
“Managing an Alliance: The politics of U.S – Japanese relations” cũng của
Priscilla Clapp cùng nhóm tác giả I.M Destler, Sato Hideo, được xuất bản tại Washington Cuốn sách này đã phân tích những vấn đề tồn tại trong quan hệ hai nước trong hơn hai thập niên sau Thế chiến II và quá trình hoạch định chính sách đối ngoại giữa hai nước trong giai đoạn này Đặc biệt, cuốn sách
“U.S – Japanese relations throughout History: The Clash” được phát hành
năm 1998 của tác giả Walter Lafeber được xem là một cách tiếp cận mới trong các nghiên cứu về quan hệ Mỹ - Nhật Bản Tác giả đã phân tích mối quan hệ hai nước dưới góc nhìn của sự va chạm, xung đột của các lợi ích giữa hai nước trong tiến trình lịch sử từ cuối thế kỉ XIX đến cuối thế kỉ XX Năm
2001, một tác phẩm khá hệ thống về mối quan hệ Mỹ - Nhật Bản là
“Partnership The United States and Japan 1951 – 2001” do nhà nghiên cứu
Akira Iriye của trường Đại học Havard chủ biên Trong cuốn sách này, một số bài viết của các tác giả khác được tập hợp đem đến cái nhìn tổng thể về mối quan hệ giữa hai nước trong nửa thế kỉ Một số khía cạnh được đi sâu phân
Trang 11tích như mối quan hệ giữa hai nước đặt trong bối cảnh khu vực châu Á – Thái Bình Dương, mối quan hệ của hai nước và nhân tố Trung Quốc trong thập niên 50 của thế kỉ XX, về hoạt động và đóng góp của các đại sứ Mỹ tại Nhật Bản trong giai đoạn 1945 – 1972 …
Bên cạnh đó, chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản giai đoạn
1969 – 1973 cũng được khai thác trong các công trình viết về chính sách đối
ngoại của nước Mỹ với các nước khác như cuốn “The Alliance: America –
Europe – Japan: Makers of the Postwar World” của Richard J.Barnet năm
1983 đi sâu phân tích vai trò của Eisenhower, De Gaulle, Dulles, Kenedy, Johnson, Nixon, Kissinger …trong các sự kiện quan trọng của thế kỉ XX Hay
cuốn “Alignment despite Antagorism: The United States – Korea – Japan
security triangle” của Victor D Charles xuất bản năm 1999 nghiên cứu các
mối quan hệ giữa Mỹ với Triều Tiên và Nhật Bản qua các thời kì 1969 –
1971, 1972 – 1974, 1975 – 1979 và những năm 1980 với những sự kiện an ninh – chính trị nổi bật trong các thời kì này …Các phân tích trên là nguồn tham khảo để xem xét các chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản trong tổng thể các mối quan hệ phức tạp và đa chiều
Một số khía cạnh khác của quan hệ Mỹ - Nhật Bản cũng được đi sâu khai thác như vấn đề kinh tế, an ninh – chính trị Có thể kể đến các công
trình đề cập quan hệ kinh tế Mỹ - Nhật Bản như “The U.S – Japanese
economic relationship: Can it be improved?” của Hayashi Kichiro năm
1989, “Collaborating to compete: Using strategic alliances and acquisition
in the global marketplace” của Joel Bleeke và David Ernst năm 1992,
“United States trade policy: A work in progress” của Charles Pearson năm
2004, …Các nghiên cứu về khía cạnh an ninh – chính trị Mỹ - Nhật Bản
cũng khá nhiều như cuốn “Forecast for Japan: security in the 1970’s” do
James William Morley chủ biên được Nhà xuất bản Princeton University phát hành năm 1972 Tác giả đã tập hợp nhiều bài viết của các tác giả khác khái quát về mối quan hệ Mỹ - Nhật Bản từ khi xác lập liên minh năm 1952
Trang 12cho tới thập niên 1960 qua đó dự báo về mối quan hệ an ninh – chính trị Mỹ
- Nhật Bản trong thập niên 1970 Hay cuốn “Japan, the United States and
prospects for the Asia – Pacific century: three scenariors for the future”
của Richard P.Cronin xuất bản năm 1992 phân tích tác động của hành động bành trướng của Nhật ở Châu Á – Thái Bình Dương đến chính sách đối
ngoại của Mỹ Năm 1994, cuốn “Japan among the powers 1890 – 1990”
của Sydney Giffard được Nhà xuất bản New Haven and London phát hành trong đó có chương đề cập một số khía cạnh trong mối quan hệ Mỹ - Nhật Bản trong giai đoạn 1952 – 1972…
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trực tiếp về sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản giai đoạn 1969 – 1973 khá hạn chế, chủ yếu đề cập tới học thuyết Nixon hoặc chính sách đối ngoại nói chung của
Tổng thống Nixon như: “A new trategy for peace: A report to the Congress
by Richard Nixon President of the United States February 18, 1970” do Nhà
Trắng phát hành năm 1970 hay chỉ là những bài tiểu luận tập hợp trong cuốn
“U.S foreign Policy in a changing world: The Nixon Administration, 1969 – 1973” của Alan M Jones, Jr xuất bản năm 1973, trong đó chính sách của Mỹ
với Nhật Bản củng chỉ được điểm qua trong tổng thể chính sách đối ngoại của
Mỹ Cuốn hồi kí của Henry Kissinger được Lê Ngọc Tú dịch, Nhà xuất bản
Công an nhân dân phát hành năm 2004 với nhan đề “Cuộc chạy đua vào Nhà
Trắng: Vào nhà trắng những tháng năm từ 1968 đến 1973” cũng ghi lại
những năm tháng từ 1969 – 1973 Kissinger cùng Tổng thống R Nixon hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ với các nước khác trên thế giới…
Một nguồn khai thác nữa là các công trình viết về Nhật Bản trong đó đề
cập chính sách của Mỹ như “Postwar Japan: 1945 to the Present” của John
Livingston, Joe Moore, Felica Olfather được xuất bản tại New York năm
1973, “The foreign policy of modern Japan” của R.A Scalapino xuất bản tại
California năm 1977 bàn về các quyết định và quá trình hoạch định chính
sách đối ngoại của Nhật Bản Gần đây, năm 2010 cuốn “A history of Japan
Trang 13from Stone age to superpower” của Kenneth Henshall đã khái lược lại quá
trình vận động của lịch sử Nhật Bản đặc biệt từ 150 năm trở lại đây, con đường Nhật Bản trở thành một siêu cường và ảnh hưởng to lớn của Nhật Bản với thế giới Năm 2012, Nhà xuất bản Tri thức phát hành cuốn sách của nhà
nghiên cứu Nhật Bản nổi tiếng của Đại học Havard Akira Iriye “Ngoại giao
Nhật Bản – Sự lựa chọn của Nhật Bản trong thời đại toàn cầu hóa” (Lê Thị
Bình và Nguyễn Đức Minh dịch), trong đó, tác giả đã phân tích sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Nhật Bản qua các thời kì từ 1940 – 1990 bao hàm những chính sách đối với Mỹ
Ngoài ra, trên một số website của Mỹ cũng có những tư liệu về các bài diễn thuyết của Tổng thống Nixon, Học thuyết Nixon, các báo cáo thường niên của Tổng thống trước Quốc hội Mỹ, các số liệu kinh tế của Mỹ, các Hiệp ước, Thông cáo chung giữa Mỹ và Nhật Bản…dưới dạng tư liệu như:
1969 – 1973 được đề cập khá ít, chưa được tách riêng, đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống
Ở trong nước, trong ba thập niên trở lại đây, việc nghiên cứu chính
sách đối ngoại của các nước lớn trong quan hệ quốc tế thu hút được sự quan tâm rất lớn của các học giả Điều đó thể hiện ở số lượng các công trình và phạm vi nghiên cứu từ phạm vi không gian rộng, thời gian dài đến những nghiên cứu chuyên sâu trên phạm vi hẹp hơn
Trang 14Nhiều công trình nghiên cứu tổng quan về lịch sử thế giới, quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại của các nước lớn…đã được xuất bản và được
đánh giá là những công trình đáng tin cậy như “Lịch sử thế giới hiện đại từ
1945 – 1995” của tác giả Nguyễn Anh Thái chủ biên, Nhà xuất bản Đại học
quốc gia phát hành năm 1998; “Quan hệ quốc tế thế kỉ XX” của Nguyễn
Quốc Hùng do Nhà xuất bản Giáo dục phát hành năm 2000;…Đây là những công trình nghiên cứu khái quát, trong đó có một phần nhỏ đề cập chính sách đối ngoại của các nước lớn như Mỹ, Nhật Bản
Với nhóm công trình nghiên cứu trực tiếp về chính sách đối ngoại của
Mỹ với Nhật Bản, năm 1994 học giả Lê Bá Thuyên hoàn thành Luận án
PTSKH “Chiến lược toàn cầu của Mỹ và tác động của nó trong quan hệ quốc
tế hiện nay” Luận án nghiên cứu bản chất chiến lược toàn cầu của Mỹ và
quá trình vận động của nó trong thời kì chiến tranh lạnh, nội dung và quá trình điều chỉnh chiến lược toàn cầu của Mỹ Về chính sách đối ngoại của Mỹ với
Nhật Bản sau chiến tranh lạnh nổi bật có cuốn “Quan hệ Mỹ - Nhật Bản sau
chiến tranh lạnh” do Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành năm 1995 Tác
giả Ngô Xuân Bình đã đi sâu phân tích logic các sự kiện xảy ra và những biến đổi của tình hình quốc tế cũng như các vấn đề nội bộ của Nhật Bản Bên cạnh
đó, công trình này cũng đề cập khía cạnh hợp tác về an ninh – quân sự, quan
hệ kinh tế giữa Mỹ và Nhật Bản và tác động của mối quan hệ Mỹ - Nhật Bản với châu Á – Thái Bình Dương trong thời kì sau chiến tranh lạnh Nằm trong giới hạn thời gian tương tự, năm 2007 Luận văn Thạc sĩ Lịch sử của Hoàng
Thị Yến được hoàn thành với đề tài “Quan hệ an ninh Mỹ - Nhật Bản thời kì
sau chiến tranh lạnh và tác động tới khu vực Đông Á”
Đặc biệt, năm 2008, nhà nghiên cứu Trần Thiện Thanh của Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội đã bảo vệ thành công Luận án Tiến
sĩ Lịch sử với đề tài “Chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Nhật Bản trong
nửa đầu thế kỉ XX” Luận án nghiên cứu lịch sử chính sách đối ngoại của Mỹ
với Nhật Bản từ 1905 đến 1952, quá trình thực hiện chính sách đối ngoại của
Trang 15Mỹ với Nhật Bản và những vấn đề nảy sinh trong quan hệ giữa hai nước, những thành công và hạn chế của việc thực hiện chính sách này Có thể nói, đây là một công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện nhất về chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản trong nửa đầu thế kỉ XX
Một số công trình khác tập trung nghiên cứu chính sách kinh tế đối
ngoại của Mỹ như “Báo cáo về kinh tế Mỹ và chiến lược toàn cầu của đế
quốc Mỹ” của Viện Kinh tế học do Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam xuất
bản năm 1969 Báo cáo đã phân tích những cơ sở kinh tế cho chiến lược toàn cầu của Mỹ, nội dung kinh tế của chiến lược toàn cầu, ý đồ kinh tế của Mỹ với các khu vực trên thế giới…Năm 1979, Nhà xuất bản Sự thật phát hành
cuốn “Khủng hoảng đồng đôla” đề cập đến nguyên nhân, biểu hiện của
khủng hoảng đồng đôla của Mỹ và những giải pháp khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng đó Năm 2004, Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành
cuốn “Hoa Kỳ kinh tế và quan hệ quốc tế” của Nguyễn Thiết Sơn Tác giả đã
phân tích và nghiên cứu nền kinh tế Mỹ cùng những mối quan hệ kinh tế của đất nước này: Chính sách kinh tế Mỹ đối với Liên Bang Nga và Trung Quốc trong những năm 90 Chiến lược toàn cầu của Mỹ Chiến tranh Iraq và giới hạn sức mạnh của Mỹ
Ngoài ra, có một số bài viết trên các tạp chí như “Tìm hiểu chính sách
đối ngoại của Nhật Bản từ sau thế chiến hai đến nay” của Trần Anh Phương
đăng trên tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 1 – 2005; “Triển
vọng quan hệ Mỹ - Nhật Bản và tác động đến khu vực Đông Nam Á” của tác
giả Nguyễn Thái Yên Hương trên tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số 3 – 2006;
“Điều chỉnh chiến lược đối ngoại của Nhật Bản trong bối cảnh quốc tế mới”
của tác giả Nguyễn Duy Dũng đăng trên tạp chí Nghiên cứu Đông Bắc Á, số
10 – 2006; “Mỹ và Đông Á: nhìn từ lịch sử và hiện tại” (2006) của Nguyễn
Quốc Hùng…
Như vậy, trong thời gian gần đây, số lượng các công trình nghiên cứu
về chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản tăng lên rõ rệt Tuy nhiên, các
Trang 16nghiên cứu đa số tập trung vào thời gian nửa đầu thế kỉ XX và sau chiến tranh lạnh Giai đoạn nửa sau thế kỉ XX đến trước khi chiến tranh lạnh kết thúc chưa được nghiên cứu toàn diện, phần lớn là nghiên cứu khái quát Đặc biệt, vấn đề sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản trong giai đoạn 1969 – 1973 hầu như chưa được nghiên cứu cụ thể và hệ thống Đây vừa
là thuận lợi song cũng là khó khăn cho người nghiên cứu trong quá trình thực
hiện Luận văn này
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Những nhân tố chủ yếu tác động tới sự điều chỉnh chính sách đối ngoại
của Mỹ với Nhật Bản trong những năm 1969 – 1973
- Nội dung và những điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật
Bản từ 1969 – 1973
- Tác động của sự điều chỉnh chính sách đó đối với hai chủ thể nghiên
cứu và một số đối tượng khác có liên quan
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Nhật Bản thuộc khu vực Đông Á nên luận văn sẽ đề cập tới cả chính sách đối ngoại của Mỹ với khu vực này vào những thời điểm có liên quan
- Thời gian: từ 1969 – 1973: trong nhiệm kì của Tổng thống R.Nixon
- Về vấn đề nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản trong giai đoạn từ 1969 – 1973 cũng như tác động qua lại trong quan hệ hai nước Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, bản thân học viên chưa có điều kiện nghiên cứu trên phạm vi rộng nên luận văn tập trung vào sự điều chỉnh chính sách của Mỹ với Nhật Bản trên hai lĩnh vực chủ yếu là chính trị - an ninh đối ngoại và kinh tế đối ngoại
4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tư liệu
Trang 17- Các tư liệu gốc: Học thuyết của các tổng thống Mỹ và văn kiện của các
cơ quan chính phủ Mỹ được tập hợp dưới dạng văn bản
- Các sách chuyên khảo, hồi kí của một số chính khách, đại sứ
- Các công trình tham khảo khác của các học giả trong và ngoài nước với
hai ngôn ngữ chính là tiếng Việt và tiếng Anh
4.2 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn sử dụng các phương pháp cơ bản của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử bao gồm các quan điểm về sự vận động của lịch sử loài người, quy luật vận động, quy luật mâu thuẫn, các nguyên lí, mối liên hệ phổ biến như mâu thuẫn, đấu tranh… để đánh giá các vấn đề trong xu thế phát triển của lịch sử, tổng hòa các mối quan hệ và dưới tác động của các yếu tố trong và ngoài nước trong những thời điểm cụ thể
- Phương pháp logic được sử dụng để lí giải các hiện tượng lịch sử, tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự điều chỉnh chính sách, những yếu tố tác động và vai trò của những nhân tố đó
- Phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế, phương pháp phân tích, so sánh, các lý thuyết xung đột quốc tế, cạnh tranh, quyền lực trong quan hệ quốc tế
Từ đó có thể rút ra được những nhận thức về nguồn gốc các sự kiện, tính chất, đặc điểm của quan hệ Mỹ - Nhật Bản trong phạm vi nghiên cứu của
đề tài
5 Đóng góp của luận văn
- Dựng lại một bức tranh tổng thể về chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản giai đoạn 1969-1973 một cách khách quan, trung thực
- Tập trung lí giải, phân tích các yếu tố tác động, nội dung cơ bản của chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản từ đó rút ra nhận xét về những tác động của chính sách đó
- Luận văn được xây dựng theo hướng một chuyên đề nên sẽ góp phần vào nghiên cứu chung về Mỹ và lịch sử quan hệ quốc tế, sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, học tập của những người quan tâm đến
Trang 18quan hệ Mỹ - Nhật Bản, chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản và lịch sử Nhật Bản trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục theo quy định của một luận văn thạc sĩ, nội dung luận văn gồm 3 chương: CHƯƠNG I: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ VỚI NHẬT BẢN CUỐI THẬP NIÊN 1960 – ĐẦU THẬP NIÊN 1970
Chương này nêu và phân tích những yếu tố tác động đến sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản trong những năm cuối thập niên
1960 đầu thập niên 1970 như: Tình hình thế giới và khu vực châu Á – Thái Bình Dương với thế cân bằng quân sự giữa Mỹ và Liên Xô, nhân tố Trung Quốc và mâu thuẫn Trung Quốc – Liên Xô; Thực trạng nước Mỹ với sự suy giảm địa vị kinh tế, sự thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, chiến lược toàn cầu của Mỹ đặc biệt là Học thuyết Nixon; Tình hình Nhật Bản cuối thập niên 1960 – đầu thập niên 1970 với đặc điểm nổi bật là tốc độ phát triển ―thần kì‖ về kinh tế và trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến thâm hụt mậu dịch của Mỹ…Qua đó thấy được những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp của từng yếu tố đến sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản từ 1969 – 1973
CHƯƠNG II: CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ VỚI NHẬT BẢN TRONG NHIỆM KÌ CỦA TỔNG THỐNG R NIXON (1969 – 1973)
Tập trung vào sự điều chỉnh chính sách của Mỹ với Nhật Bản trên hai phương diện: Chính trị - an ninh và Kinh tế Về phương diện Chính trị - an ninh, Mỹ tiếp tục duy trì mối quan hệ đồng minh chiến lược với Nhật Bản thông qua việc gia hạn vĩnh viễn Hiệp ước An ninh và trao trả quần đảo Okinawa cho Nhật Bản Về phương diện kinh tế, Mỹ buộc phải gây áp lực khiến Nhật Bản phải hạn chế xuất khẩu hàng dệt len và sợi nhân tạo sang Mỹ
Trang 19và định giá lại đồng Yen so với USD Qua đó rút ra một số nhận xét về hai sự điều chỉnh đó
CHƯƠNG III: TÁC ĐỘNG CỦA SỰ SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ VỚI NHẬT BẢN
Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản trong những năm 1969 – 1973 không chỉ có tác động tới bản thân hai chủ thể của mối quan
hệ này là Mỹ và Nhật Bản mà còn có tác động sâu sắc đến mối quan hệ liên minh Mỹ - Nhật Bản, tới quan hệ quốc tế và Việt Nam trong thời kì đó Những tác động này có mặt tích cực cũng như hạn chế với từng chủ thể Trên phương diện an ninh – chính trị, việc gia hạn vĩnh viễn Hiệp ước An ninh Mỹ
- Nhật Bản và Mỹ trao trả quần đảo Okinawa cho Nhật Bản có những tác động tích cực tới cả hai chủ thể của mối quan hệ đồng thời cũng góp phần vào hòa bình và ổn định ở khu vực châu Á Tuy nhiên, việc Okinawa được trao trả cho Nhật Bản cũng tạo nên một số thay đổi với một bộ phận quân nhân Mỹ cũng như cư dân Nhật Bản tại Okinawa Trên phương diện kinh tế,
Mỹ buộc phải gây áp lực khiến Nhật Bản phải hạn chế xuất khẩu hàng dệt len
và sợi nhân tạo sang Mỹ và định giá lại đồng Yen so với USD khiến quan hệ hai nước trải qua một giai đoạn khó khăn với các cuộc đàm phán kéo dài và
bế tắc Sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản trong những năm 1969 – 1973 tuy không vượt ra khỏi khuôn khổ liên minh Mỹ - Nhật Bản nhưng đã đánh dấu một thời kì mối quan hệ liên minh hai nước bị thách thức bởi các vấn đề về kinh tế Bên cạnh đó, sự điều chỉnh này đã thúc đẩy sự trở lại bằng con đường ―phi quân sự‖ của Nhật Bản ở Đông Nam Á, ngược lại,
Mỹ rút dần sự hiện diện trong khu vực Theo đó, mối quan hệ giữa Việt Nam với Nhật Bản bước vào một thời kì mới
KẾT LUẬN
Trang 20PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA MỸ VỚI NHẬT BẢN
CUỐI THẬP NIÊN 1960 – ĐẦU THẬP NIÊN 1970 1.1 Tình hình thế giới và khu vực châu Á – Thái Bình Dương
1.1.1 Thế cân bằng quân sự Mỹ - Liên Xô
―Hiện giờ, trên thế giới có hai dân tộc lớn, họ có những điểm xuất phát không giống nhau nhưng dường như sẽ tiến tới cùng một mục đích, đó là người Nga và người Mỹ Theo một sự sắp đặt thần bí nào đó của thượng đế, một ngày nào đó mỗi dân tộc sẽ nắm trong tay một nửa nhân loại.‖ [6, tr.11] Lời tiên tri đó của Alexis Tocqueville từ năm 1835 hoàn toàn chính xác Một thế kỉ sau đó, Mỹ và Liên Xô đã đóng vai trò trụ cột, quyết định thắng lợi của phe Đồng minh trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945) Bước
ra khỏi cuộc chiến, Mỹ và Liên Xô trở thành hai cường quốc có ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới, chi phối sự phát triển của lịch sử thế giới gần nửa thế kỉ trong cuộc chiến tranh lạnh
Một trong những căn nguyên đầu tiên của cuộc chiến tranh lạnh bắt nguồn từ những hiện tượng tâm lí khá đặc biệt Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Đức, Ý, Nhật Bản đã đầu hàng Tuy nhiên, với chính quyền
Mỹ, một mối đe dọa tiếp theo tới lợi ích quốc gia của Mỹ theo cách suy nghĩ của người Mỹ mối đe dọa này không kém phần nguy hiểm so với mối đe dọa
từ chủ nghĩa phát xít đã xuất hiện: đó là chủ nghĩa Cộng sản mà đại diện là Liên Xô Thực ra sự thù địch của Mỹ và cả các nước tư bản khác với Liên Xô
đã nhen nhóm từ ngay khi Cách mạng tháng mười Nga thành công và sau đó
là thành lập nhà nước Liên bang xô viết Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai, cả thế giới đã tận mắt chứng kiến sức mạnh của Hồng quân Liên
Xô Điều đó khiến Mỹ trở lại với sự thù địch trước đó của mình với Liên Xô Việc nước Mỹ đang ở vị trí chi phối thế giới về kinh tế nhưng về tư tưởng lại
lo sợ sự phát triển của chủ nghĩa Cộng sản chính là một hiện tượng tâm lí khá
Trang 21đặc biệt Đến năm 1947, với ―Chiến lược toàn cầu‖ Mỹ đã chính thức phát động cuộc ―chiến tranh lạnh‖ nhằm vào Liên Xô Từ đây, cả Liên Xô và Mỹ bước vào một thời kì đối đầu hết sức căng thẳng kéo dài hơn 4 thập niên
Trong 4 năm đầu sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ nắm trong tay thế độc quyền về vũ khí hủy nguyên tử Đối mặt Liên Xô, một nước đóng vai trò quyết đinh trong việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít, bảo vệ hòa bình thế giới nhưng lại là nước chịu tổn thất nặng nề nhất sau chiến tranh thế giới thứ hai: khoảng 27 triệu người chết, 1710 thành phố, hơn 7 vạn làng mạc, gần 32000
xí nghiệp bị tàn phá nặng nề, [23, 10] Ngược lại, nước Mỹ ít bị tác động trực tiếp của bom đạn chiến tranh, số thương vong cũng ít hơn rất nhiều với khoảng 30 vạn người Nhờ buôn bán vũ khí Mỹ còn thu về hơn 114 tỉ đôla
Về kinh tế, khoảng nửa sau những năm 40, sản lượng công nghiệp Mỹ chiến tới hơn một nửa tổng sản lượng công nghiệp thế giới (riêng năm 1948 là hơn 56%) Năm 1949, sản lượng nông nghiệp Mỹ bằng hai lần sản lượng của các nước Anh, Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Italia và Nhật Bản cộng lại Ngoài
ra, Mỹ có một kho vàng khổng lồ chiếm ¾ dự trữ vàng của thế giới, nền kinh
tế của Mỹ chiếm 40% tổng sản phẩm của kinh tế thế giới New York đã thay London trở thành trung tâm tài chính của thế giới Bên cạnh đó, Mỹ cũng chiếm hơn 50% số tàu bè đi lại trên mặt biển [23, 42] Về quân sự, năm 1946 hải quân và không quân Mỹ đứng đầu thế giới, lục quân xếp thứ hai, quân đội
Mỹ có mặt ở 56 quốc gia trên khắp thế giới Đặc biệt, trong bốn năm đầu sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Mỹ là nước duy nhất trên thế giới nắm trong tay vũ khí nguyên tử Rõ ràng, sức mạnh kinh tế và quân sự của
Mỹ là số 1 thế giới Nhiều người cho rằng thời kì sau chiến tranh thứ hai là
―thời đại của Mỹ‖ Tuy nhiên, bằng quyết tâm của mình, nhân dân Liên Xô đã hoàn thành trước thời hạn kế hoạch 5 năm (1946-1950) trong 4 năm 3 tháng, căn bản khôi phục sản xuất đạt mức trước chiến tranh Và trong những năm
50 đến những năm 70, Liên Xô vươn lên thành cường quốc công nghiệp thứ hai thế giới, đi đầu trong những ngành công nghiệp vũ trụ và điện hạt nhân
Trang 22Đặc biệt, từ năm 1949, khi Liên Xô cũng thử thành công bom nguyên tử, thế độc quyền vũ khí hạt nhân trước đó của Mỹ đã bị phá vỡ Có thể thấy, khác với các thể chế cân bằng quyền lực trước đó, thời kì này vũ khí hạt nhân có vai trò quyết định trong cuộc chạy đua Mỹ – Xô Từ sự đối lập về tư tưởng, chính trị đã dần dẫn đến sự đối đầu về quân sự, chạy đua vũ trang với nhau
Sự đối đầu về quân sự tăng cả về chất và lượng trong hai thập niên
1950 và 1960 Số đầu đạn hạt nhân của Mỹ năm 1950 là trên dưới 1000 nhưng đến 1960 là 20000 Năm 1955, Liên Xô hầu như không có đầu đạn hạt nhân thì đến 1960 đã có trên 3000 Tổng số vũ khí hạt nhân năm 1960 của Mỹ
là 19 triệu megaton,của Liên Xô lên tới 18 triệu megaton Ngân sách dành cho việc sản xuất vũ khí hạt nhân của Liên Xô tăng vượt bậc: năm 1950 bằng nửa của Mỹ thì đến 1963 tốc độ tăng phi mã lên tới 54,7 tỉ USD so với Mỹ 52,2 tỉ USD.[14, tr.118] Tiếp đó, năm 1957 Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo Năm 1961 Liên Xô phóng thành công tàu vũ trụ có người lái… Thêm vào
đó, sự mở rộng ảnh hưởng của Mỹ (thông qua ―Kế hoạch Marshall‖ và khối NATO) và Liên Xô (thông qua tổ chức SEV và VACSAVA) đã làm cho tình trạng đối đầu giữa Mỹ và Liên Xô không còn là phạm vi quốc gia mà trở thành cuộc đối đầu giữa hai hệ thống thế giới Tuy nhiên việc quân sự hóa thế giới với vũ khí hạt nhân một cách vô vọng như vậy bắt đầu làm nảy sinh câu hỏi về mục đích và kết quả của nó Đặc biệt, vào tháng 5-1960, máy bay do thám U2 của Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời Liên Xô càng làm cho Mỹ lo sợ về sức mạnh quân sự của Liên Xô Quan hệ hai nước lên đến đỉnh điểm của sự căng thẳng và tưởng như thế giới tiến gần hơn bao giờ hết tới một thảm họa
về một cuộc chiến tranh hạt nhân trong những ngày cuối tháng 10 năm 1962
Nguy cơ đó liên quan tới một đất nước mới nổi ở Mỹ Latinh, Cuba Chúng ta biết rằng Mỹ và Liên Xô không chỉ chạy đua vũ trang mà còn đối đầu và tranh giành ảnh hưởng gay gắt ở khu vực ―thế giới thứ ba‖ này Chiến tranh Triều Tiên là một ví dụ, và bây giờ đến lượt Cuba Sau thất bại ở Vịnh Con Lợn năm 1961, chính quyền Kenedy đã thực hiện chính sách ủng hộ các
Trang 23lực lượng chống F.Castro nhằm lật đổ chính quyền Cuba Ngược lại, Chủ tịch Hội Đồng Bộ trưởng Liên Xô N.Khruschev kiên quyết bảo vệ Cuba Trong khi đó, Chủ tịch Cuba F.Castro rất muốn được Liên Xô bảo vệ bằng vũ khí hạt nhân để chống lại Mỹ Trong các loại vũ khí mà Mỹ và Liên Xô sử dụng, tên lửa tầm trung được xem là vũ khí trọng tâm trong việc thực hiện mục đích của cả hai nước Do lo ngại các tên lửa Jupiter của Mỹ ở Thổ Nhĩ Kỳ có thể hướng vào Liên Xô nên nước này đã chuyển những vũ khí tương tự đến Cuba
để những tên lửa đó có thể hướng vào chính nước Mỹ Tạp chí Times đã công thức hóa chính sách này thành những yếu tố bản chất: ―Tên lửa đạn đạo tầm trung + NATO = Tên lửa đạn đạo liên lục địa‖[6, tr.386] Tương tự, phía Liên
Xô công thức sẽ là: ―Tên lửa đạn đạo tầm trung + Cuba = Tên lửa đạn đạo liên lục địa‖ Ngày 4/10/1962, tàu chuyên chở Indigirka của Liên Xô cập cảng Mariel với: 36 đầu đạn của các loại tên lửa tầm trung 200 – 700 nghìn tấn đã được chuyển đến trước, 6 quả bom nguyên tử cho loại máy bay ném bom hạng trung IL-28…Phía Liên Xô cũng thừa nhận, tại thời điểm nổ ra cuộc khủng hoảng, ít nhất 158 vũ khí hạt nhân chiến lược và chiến thuật đã có mặt
ở Cuba, 42 trong số đó có thể đánh tới một số vùng của nước Mỹ.[6, tr.401 – 402] Ngày 14/10, một máy bay U2 của Mỹ đã chụp ảnh những tên lửa tầm trung đã nằm trên bệ phóng ở Cuba Ngày 16/10, Tổng thống Kenedy triệu tập một nhóm quan chức cấp cao thường gọi là Ủy ban điều hành (Excom) để thảo luận về các chính sách giải quyết cuộc khủng hoảng Cuối cùng Excom cũng đưa ra 4 giải pháp: Một là, giải quyết vấn đề bằng con đường ngoại giao
và không phản ứng bằng quân sự Hai là, rút các tên lửa của Mỹ ở Thổ Nhĩ
Kỳ, đổi lại, Liên Xô sẽ rút các tên lửa khỏi Cuba Ba là, Mỹ sẽ tấn công các mục tiêu tên lửa bằng không quân, nếu cần sẽ kèm theo một cuộc xâm lược của Mỹ Bốn là, hình thành một thế bao vây để cô lập Cuba và buộc Khruschev và Castro rút các tên lửa Sau khi cân nhắc, Tổng thống Kenedy lựa chọn giải pháp thứ tư, nếu giải pháp này thất bại thì mới có thể tính đến việc phản ứng bằng quân sự Trong một bài phát biểu trên truyền hình ngày
Trang 2422/10, Tổng thống tuyên bố đã thiết lập một vành đai bao vây Cuba trên biển, yêu cầu gỡ bỏ các tên lửa và cảnh báo: Nếu bất kì vũ khí nào hướng vào Mỹ, ông sẽ đáp trả đầy đủ bằng một cuộc tấn công nhằm vào chính Liên Xô Cơ quan Chiến lược hàng không của Mỹ tiếp tục thực hiện lệnh không vận lớn nhất trong đó có lực lượng ném bom B52 và bom hạt nhân, 5 quân đoàn khác chuẩn bị tiến vào Cuba Ngày 27/10, 12 trong tổng số 25 tàu Liên Xô đang trên đường tới Cuba đã buộc phải thay đổi hành trình trở về Liên Xô, số còn lại không mang theo tên lửa Cùng ngày, Moscow yêu cầu 15 tên lửa của Mỹ buộc phải rút khỏi Thổ Nhĩ Kỳ và Mỹ phải cam kết không xâm lược Cuba, đổi lại các tên lửa ở Cuba sẽ được vô hiệu hóa
Câu hỏi ai đã thắng trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba có lẽ không phải là quan trọng nhất Hơn hết, loài người đã tránh được một thảm họa vô cùng lớn Từ đây, cả Liên Xô và Mỹ đều học được một bài học quan trọng về việc có nên hay không nên sử dụng vũ khí hạt nhân Hai nước đã đạt được các thỏa thuận về vũ khí hạt nhân: Hiệp ước ngừng thử hạt nhân từng phần năm
1963 và Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân năm 1968 từ đó tiến tới mong muốn các nước khác không trở thành cường quốc hạt nhân
Đến đây, có thể nói quan hệ Mỹ - Xô đã dần đi vào ổn định, khả năng chiến tranh hạt nhân giữa hai cường quốc đã lùi xa Xu thế đối đầu và chạy đua vũ trang bằng bất kì giá nào đang bị xói mòn Mầm mống của xu thế mới
đã mở ra: xu thế hòa dịu, đối thoại Điều này đã tác động không nhỏ tới việc hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ khi Tổng thống R.Nixon nhậm chức năm 1969 Xu thế đó là cơ sở quan trọng dẫn đến những điều chỉnh chính
sách của Mỹ thể hiện qua Học thuyết Nixon.Điểm nổi bật của Học thuyết
Nixon là giảm căng thẳng Chính sách này có lợi cho cả hai phía trong việc
tập trung vào phát triển kinh tế trong hoàn cảnh nhiều trung tâm mới nổi lên như Tây Âu, Nhật Bản và Trung Quốc Một bước tiến khác của chính sách đó
là Hiệp ước SALT I được kí giữa Tổng thống R.Nixon và lãnh đạo Liên Xô L.Brezhnev
Trang 251.1.2 Trung Quốc và mâu thuẫn Trung Quốc – Liên Xô
Trong bối cảnh chiến tranh lạnh, khi Mỹ và Liên Xô đại diện cho hai cực đối đầu nhau thì liên minh Trung – Xô thực sự là một trở ngại lớn cho mục tiêu bá quyền của Mỹ Một nước Trung Quốc XHCN đất rộng người đông, thử thành công bom nguyên tử năm 1964 lại đứng về phía Liên Xô là điều mà Mỹ không bao giờ mong muốn Vì vậy, sự chia rẽ, bất đồng giữa hai nước cho thấy sự suy yếu, chia rẽ trong phe các nước XHCN là một lợi thế tạm thời cho Mỹ trong cuộc chạy đua sức mạnh giữa hai phe Sự bất đồng Xô-Trung từ những năm 1950 bắt nguồn từ sự đánh giá khác nhau về vai trò lịch sử của J Stalin - nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô trong gần 3 thập kỷ (1924 - 1953) và vị trí của hai Đảng, hai Nhà nước lớn XHCN trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế Từ năm 1960 đến 1969, những bất đồng và mâu thuẫn trong nội bộ giữa Liên Xô và Trung Quốc (sau hai Hội nghị năm 1957 và 1960) không những không dịu đi mà ngày càng trầm trọng, công khai Những cuộc tranh luận gay gắt và bất đồng giữa hai đảng này xoay quanh các vấn đề lí luận, đường lối chung của phong trào cộng sản quốc tế đã dẫn đến sư phân liệt thực sự của phong trào cộng sản Sự phân liệt và tập hợp lực lượng của hai đảng ngày càng trở nên ráo riết, công khai Một số Đảng cộng sản ở một số nước cũng bị chia rẽ về tổ chức thành hai đảng theo hai khuynh hướng nói trên Hơn nữa, Liên Xô và Trung Quốc có nhiều mâu thuẫn
về vấn đề lãnh thổ và biên giới Một trong số đó là về Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ Lãnh đạo Trung Quốc luôn có ý định sáp nhập Mông Cổ vào Trung Quốc Điều này vấp phải sự phản đối của Liên Xô và chính Mông Cổ Tháng 9-1964, Trung Quốc yêu cầu xét lại các vùng lãnh thổ Châu Á mà các hoàng
đế Trung Hoa đã để mất vào tay Nga Hoàng ở thế kỷ XIX Tháng 8-1968, sau
sự kiện quân đội khối Vácxava do Liên Xô lãnh đạo vào thủ đô Praha và cứu chủ nghĩa xã hội ở Tiệp Khắc, Chu Ân Lai lần đầu tiên đã gọi Liên Xô là ―đế
Trang 26quốc xã hội chủ nghĩa‖, ―Đại bá Xô viết‖1
Đỉnh cao của sự chia rẽ giữa hai nước chính là cuộc chiến tranh biên giới Xô - Trung nổ ra năm 1969, lực lượng vũ trang Liên Xô và quân đội Trung Quốc đã giao chiến với nhau ở các đảo thuộc vùng Damanski trên sông Oussouri tháng 3-1969 và một số điểm khác trên biên giới Xô - Trung Tuy nhiên từ sau tháng 8, hai nước có xu hướng thoát ra khỏi sự đối đầu quân sự trực tiếp này dù mâu thuẫn vẫn tiếp tục đến cuối những năm 80 Có thể thấy, năm 1969 hai nước đã coi nhau như
để làm một cục nam châm hút Trung Quốc ra khỏi Liên Xô thì lúc này không nhất thiết phải làm điều đó Tuy nhiên, việc duy trì liên minh với Nhật Bản lại càng đóng vai trò quan trọng trong việc đối phó với sự bành trướng ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực, tiếp tục đối trọng với Trung Quốc nhằm kìm chế sự lan tỏa đó
Nhân tố Trung Quốc tiếp tục là nhân tố quan trọng trong việc hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ với Nhật Bản trong thời kì này Ngay từ
1 http://vi.wikipedia.org/wiki/Chia_rẽ_Trung-Xô, 12.11 AM, 5/11/2014
Trang 27tháng 1/1952, trong một bức thư gửi Ngoại trưởng Mỹ F Dulles, cố vấn cao cấp của Ngoại trưởng về Nhật Bản và sau này là Đại sứ Mỹ tại Tokyo từ 1953 – 1957 John Allison nhận định: ―Trung Quốc là trọng tâm của toàn bộ chính sách đối ngoại của Mỹ với châu Á và những chính sách của chúng ta với Trung Quốc sẽ ảnh hưởng chủ yếu đến chính sách với Nhật Bản và Đông Nam Á‖[67, tr.323] Trong thập niên 1960 , Trung Quốc đã trải qua một thời
kì lịch sử đen tối, hỗn loạn và để lại những hậu quả sâu sắc Năm 1966, Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông chính thức phát động cuộc ―Đại cách mạng văn hóa‖ với mục tiêu chính thức là loại bỏ những phần tử "tư sản tự do" để tiếp tục sự nghiệp đấu tranh của tầng lớp cách mạng Tuy nhiên, mục đích chính của cách mạng này được mọi người công nhận là một cách để Mao Trạch Đông lấy lại quyền kiểm soát Đảng Cộng sản Trung Quốc sau cuộc ―Đại nhảy vọt‖ bị thất bại dẫn đến sự tổn thất quyền lực đáng kể của Mao Trạch Đông so với đối thủ chính trị là Lưu Thiếu Kỳ và cũng để loại bỏ những người bất đồng ý kiến như Đặng Tiểu Bình,…Các đội Hồng vệ binh tàn sát những người bị tình nghi, đưa các trí thức về làm việc ở các cánh đồng
…Đến năm 1969, cuộc ―Đại cách mạng văn hóa‖ đã kết thúc giai đoạn quan trọng nhất với những hậu quả nặng nề Xã hội Trung Quốc rơi vào trạng thái hỗn loạn Trong khi đó, các đạo quân của Liên Xô và Trung Quốc bắt đầu nổ súng tấn công các mục tiêu của đối phương dọc biên giới hai nước
Cuộc khủng hoảng những năm 1966 – 1969 này ở Trung Quốc cùng với những mâu thuẫn ngày càng gay gắt với Liên Xô đã tạo ra những điều kiện mới cho việc nước này sẵn sàng thay đổi chính sách đối ngoại Sau khủng hoảng, Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đã đảo ngược chính sách của
họ về phía Mỹ Bắc Kinh đã gửi những tín hiệu ngỏ ý muốn hợp tác tới Washington Mở đầu là sự kiện ―ngoại giao bóng bàn‖ Ngày 10/4/1971, 9 cầu thủ Mỹ, 4 quan chức và 2 người vợ và 10 nhà báo đi tháp tùng đã qua cây cầu từ Hồng Kông tiến vào Trung Quốc đại lục, mở ra thời đại "Ngoại giao
Trang 28Bóng bàn‖ Chuyến đi kéo dài 8 ngày này thể hiện mong muốn chung là giảm bớt căng thẳng trước đó giữa Washington và Bắc Kinh
Ngày 14 – 4, Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại kéo dài 20 năm với Trung Quốc Mỹ và Trung Quốc đã lặng lẽ tiến hành các cuộc đàm phán bí mật với những toan tính riêng nhằm vào Liên Xô và cuộc chiến tranh Việt Nam Năm 197, Cố vấn An ninh Quốc gia Henry A Kissinger đã hai lần bí mật viếng thăm Trung Quốc để lập lại mối quan hệ hữu nghị và lên kế hoạch cho chuyến thăm của Tổng thống Nixron
Tháng 7 – 1971, Tổng thống Nixon khiến cả thế giới ngạc nhiên khi lên
kế hoạch đi thăm Trung Quốc Trước đó, từ năm 1949, khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập, quan hệ Mỹ - Trung đã chấm dứt Lúc
đó, chính Nixon đã chỉ trích Đảng Dân chủ vì ―để mất Trung Quốc‖ Sau hơn hai thập kỉ, vào tháng 2 – 1972, Nixon đã trở thành vị Tổng thống đầu tiên đặt chân lên đất Trung Quốc Tổng thống nói với Thủ tướng Chu Ân Lai: ―Hôm nay hai chúng ta sẽ nắm trong tay tương lai của cả thế giới‖[66, tr.648] Ngày
27 – 2 – 1972, Thông cáo Thượng Hải được kí giữa Nixon và Chu Ân Lai thực sự là một dấu mốc quan trọng Nội dung của Thông cáo nêu rõ: ―Hai nước không tìm kiếm bá quyền ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương và cũng phản đối bá quyền của bất kì nước nào khác‖ Tuyên bố này trực tiếp nhằm vào Liên Xô và sau đó nữa là Nhật Bản Phía Mỹ vẫn khẳng định việc duy trì liên minh chặt chẽ với Nhật Bản còn lập trường của phía Trung Quốc là kiên quyết phản đối sự phục hồi chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản
Vì vậy, dù sự đảo ngược chính sách đối ngoại của Mỹ với Trung Quốc
có mục đích chủ yếu là khơi sâu mâu thuẫn giữa Liên Xô và Trung Quốc, tìm một giải pháp mới cho cuộc chiến tranh Việt Nam song cũng có tác động tới quan hệ Mỹ - Nhật Bản Việc Nhật Bản hoàn toàn bất ngờ với chính sách đó của Mỹ đã khiến người Nhật coi đó là một ―cú sốc‖ và họ phải tự tìm kiếm những bước đi độc lập hơn, ít phụ thuộc hơn vào Mỹ trong mối quan hệ với Trung Quốc và khu vực Việc một nước Trung Quốc đất rộng người đông lại
Trang 29có trong tay vũ khí hạt nhân là một mối đe dọa lớn với các nước trong khu vực Trong khi đó, Trung Quốc không có được những bài học đắt giá như Mỹ
và Liên Xô trong cuộc khủng hoảng tên lửa năm 1962 Cho nên, kìm chế khả năng hạt nhân của Trung Quốc là vấn đề quan trọng cả với Mỹ và Nhật Bản Nhật Bản vẫn rất cần chiếc ô bảo vệ hạt nhân của Mỹ nhằm cân bằng với Trung Quốc Bên cạnh đó, thị trường đại lục Trung Quốc luôn là một thị trường hấp dẫn mà Nhật Bản muốn tiến tới Vì vậy, liệu hoạt động kinh doanh của Nhật Bản với Trung Quốc có làm phương hại tới lợi ích của Mỹ ở khu vực châu Á hay không cũng là một vấn đề Mỹ phải tính tới Liên minh Mỹ - Nhật Bản vẫn là chiến lược cần thiết đối với cả Mỹ, Nhật Bản và khu vực châu Á – Thái Bình Dương
1.2 Thực trạng nước Mỹ và chiến lược toàn cầu của Mỹ
1.2.1 Nước Mỹ và cuộc chiến tranh Việt Nam
Nếu đặc trưng nổi bật của nước Mỹ trong thập niên 1950 là việc xây dựng sức mạnh quân sự trên quy mô lớn trong cuộc chạy đua vũ trang với Liên Xô và việc thực thi NSC-682
thì thập niên 1960 đặc trưng bởi những cuộc nổi dậy trong nước, bạo lực, nguy cơ chiến tranh hạt nhân và sự suy giảm kinh tế Bên cạnh đó, cuộc chiến tranh Việt Nam cũng là một ―vấn đề nhức nhối‖ đối với các Tổng thống Mỹ trong thập kỉ này
Trong thời kì cầm quyền của mình, với chính sách ―Đường biên giới mới‖ (The new frontier), Tổng thống J Kenedy đã tạo được sự đồng thuận cao trong nhân dân Mỹ về các chính sách đối nội cũng như đối ngoại Thậm chí sau thất bại ở Vịnh Con Lợn và khủng hoảng tên lửa Cuba, nhân dân Mỹ vẫn hết sức tin tưởng vào sức mạnh Mỹ và chính quyền của Tổng thống Mỹ Tuy nhiên, những thách thức để lại cho chính quyền của Tổng thống L.B
2
Xuất phát từ những thay đổi quan trọng trong những năm cuối thập niên 1940 như Liên Xô có vũ khí hạt nhân vào tháng 8 – 1949 và sự xuất hiện của một nước ―Trung Quốc đỏ‖ ngày 1 – 10 –
1949, việc đánh giá lại chiến lược của Mỹ nhanh chóng được thực hiện Đầu năm 1950, Hội đồng
an ninh quốc gia của Tổng thống Truman đã đưa ra một báo cáo kiến nghị về việc lập kế hoạch an
ninh của Mỹ Theo đó, 3 sự chuyển đổi quan trọng trong chiến lược của Mỹ là: cần phải có sự toàn
cầu hóa chính sách ngăn chặn, quân sự hóa chính sách ngăn chặn và việc tập trung phát triển bom hydro trong cuộc chạy đua hạt nhân với Liên Xô
Trang 30Johnson không hề nhỏ Đó là những vấn đề ở ―Thế giới thứ Ba‖: những cuộc nổi dậy ở Mỹ Latinh, đặc biệt là sự yếu kém của chính quyền hậu Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam
Để giải quyết vấn đề ở cuộc chiến tranh Việt Nam cũng như tạo dư luận
có lợi cho chiến dịch tranh cử tổng thống của mình, L.B.Johnson đã tạo ra hai
sự kiện vào ngày 2 và ngày 4 – 8 – 1964 thường gọi là ―sự kiện Vịnh Bắc Bộ‖ Sự kiện này đã giúp Johnson đánh bại đối thủ trong cuộc bầu cử và mở
ra quá trình leo thang trong cuộc chiến tranh Việt Nam Tổng thống L.B Johnson yêu cầu Quốc hội thông qua giải pháp Vịnh Bắc Bộ để Tổng thống
có quyền sử dụng tất cả các biện pháp cần thiết để trả đũa bất kì cuộc tấn công quân sự nào chống lại quân đội Mỹ Trước đó, tháng 12 – 1963, Bộ trưởng quốc phòng Mỹ R.McNamara từng tuyên bố‖ ―Chúng ta có đủ lí do để tin tưởng vào kế hoạch quân sự của Mỹ sẽ thành công vào năm 1964‖[66, tr.610] Tuy nhiên, đến cuối năm 1964, chính quyền miền Nam Việt Nam vẫn chia rẽ, số lượng lính Mỹ thiệt mạng vẫn không ngừng tăng lên Dù đang tập trung vào chương trình ―Xã hội vĩ đại‖ (Great Society) trong nước nhưng tổng thống cũng ý thức rằng nhân dân Mỹ khó có thể ủng hộ nếu thấy được những yếu kém của Mỹ ở Việt Nam Trong khi đó, những cố vấn thân cận nhất của Johnson như McNamara và Chủ tịch NSC George Bundy cũng tin vào sức mạnh quân sự của Mỹ sẽ khuất phục được quân dân Việt Nam và thúc giục tổng thống phải hành động nhanh nếu không chính quyền Sài Gòn sẽ sụp đổ
Quyết định của tổng thống được thực hiện vào tháng 2 – 1965 bằng việc ra lệnh mở cuộc tấn công bằng không quân chống miền Bắc Việt Nam Tiếp đó, Mỹ viện trợ cho Nam Việt Nam 1 tỉ USD cùng số lượng lính Mỹ không ngừng tăng lên trong đó có cả 2 quân đoàn lính thủy đánh bộ… Sở dĩ Johnson quyết định leo thang trong cuộc chiến tranh Việt Nam bởi tin rằng giờ đây, chỉ có những người lính Mỹ mới có thể cứu Nam Việt Nam Bên cạnh đó, Tổng thống Mỹ cho rằng Trung Quốc là nguy cơ lớn nhất vì họ đang
hỗ trợ cho các cuộc cách mạng ở khắp nơi, vì thế, cuộc chiến đấu của những
Trang 31người lính Mỹ ở Việt Nam chính là để ngăn chặn Trung Quốc Hơn nữa, Johnson đã từng chỉ trích Truman vì để mất Trung Quốc năm 1949 nên nếu
để mất Việt Nam thì hậu quả cũng tương tự Nếu sự leo thang quân sự diễn ra với tốc độ vừa phải và không phụ thuộc quá nhiều vào kinh tế Mỹ thì có thể Tổng thống vẫn có được sự ủng hộ của nhân dân trong nước[66, tr.612]
Tuy nhiên, những toan tính đó của Tổng thống Johnson tỏ ra không hoàn toàn đúng đắn Trong những năm 1966 – 1967, Trung Quốc đang hỗn loạn với cuộc cách mạng văn hóa trong nước, sự hỗ trợ của họ cho miền Bắc Việt Nam khá hạn chế Bên cạnh đó, những chi phí ngày càng tăng của cuộc chiến tranh lại đi kèm với một chương trình ―Xã hội vĩ đại‖ không mấy hiệu quả trong nước Chi phí cho cuộc chiến tranh Việt Nam tăng từ 8 tỉ USD năm
1966 lên 21 tỉ USD năm 1967 Tổng chi phí cho các cam kết quân sự và đầu
tư nước ngoài tăng từ 49 tỉ USD năm 1960 lên 101 tỉ USD năm 1968[66, tr.613] Ngoại thương Mỹ cũng không thể kéo đồng USD trở lại vì hàng hóa của Mỹ vấp phải sự cạnh tranh khốc liệt của hàng hóa Nhật Bản và Đức Đồng USD – ―xương sống của hệ thống tài chính thế giới‖ lâm vào khủng hoảng Trên chiến trường Việt Nam, sức mạnh của vũ khí Mỹ tỏ ra kém hiệu quả hơn lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam, những người sẵn sàng hy sinh
vì lý tưởng của mình Số lượng lính Mỹ sang Việt Nam không ngừng tăng lên thì bộ đội Việt Nam cũng tiếp tục từ miền Bắc vào chi viện cho miền Nam
Những tính toán sai lầm đó của Tổng thống đã dẫn đến một hậu quả nghiêm trọng Trong khi Johnson tiếp tục hy vọng vào những bằng chứng đầy hứa hẹn mà Tướng G.W.Westmoreland gửi về từ chiến trường Việt Nam, cuối tháng 1 – 1968 tất cả đã thay đổi Sau những thắng lợi ở Vạn Tường (Quảng Ngãi) năm 1965 và trong các chiến dịch Mùa khô 1 (1965 – 1966) và Mùa khô 2 (1966 – 1967), quân đội nhân dân Việt Nam đã mở chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân vào cuối tháng 1 – 1968 Lính Mỹ và Việt Nam Cộng hòa hoàn toàn bất ngờ cả về thời gian, về quy mô và sức mạnh của chiến dịch đó Tại Sài Gòn, Tòa Đại sứ Mỹ, Dinh Độc lập, Bộ Tổng
Trang 32tham mưu, Tổng Nha Cảnh Sát, Đài Phát Thanh, Sân bay Tân Sơn Nhất…rung chuyển Các thành phố, thị xã trên toàn miền Nam Việt Nam rung chuyển Ngay cả ở những vùng nông thôn đã suy yếu, nhân dân đồng loạt nổi dậy Tướng Westmoreland yêu cầu gửi thêm quân Tổng thống yêu cầu sự giúp đỡ của nhóm ―Wisemen‖ gồm Dean Acheson, A Harriman… nhưng ngay cả những nhân vật này cũng lo ngại Mỹ khó có thể giành thắng lợi quân sự quyết định Tính từ tháng 7 – 1965 đến tháng 12 – 1967, lượng bom Mỹ ném xuống Việt Nam nhiều hơn lượng bom quân Đồng minh rải xuống khắp châu Âu trong chiến tranh thế giới thứ hai[66, tr.616]
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 không chỉ làm rung chuyển lực lượng Mỹ và chính quyền Nam Việt Nam mà còn khiến dư luận nước Mỹ dậy sóng Nước Mỹ rung chuyển vì những phong trào phản đối chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam Các hoạt động chống chiến tranh nổ ra trong các trường Đại học Sinh viên biểu tình, kí cam kết không đi lính ở Việt Nam…Phong trào chống đối ngày càng căng thẳng khi họ tham gia vào các cuộc biểu tình bạo lực đòi quyền công dân Các thành phố lớn của Mỹ chìm trong bạo lực Năm 1965, 34 người chết ở thành phố Los Angeles Năm 1968, hàng loạt thành phố khác như Tampu,, Atlanta, De Troit… chìm trong biển lửa, đặc biệt là sau khi nhà lãnh đạo phong trào phản chiến M.Luther King, Jr
bị ám sát vào tháng 4 – 1968 Cuộc chiến tranh Việt Nam đã trở về chính nước Mỹ Bạo lực nối tiếp bạo lực Các chính khách như G Kennan, Fulbirght phản đối cuộc chiến Một số nước đồng minh như Canada cũng chỉ trích cuộc xung đột…
Đặc biệt có một hình ảnh đã tác động cực kì mạnh mẽ đến nhận thức và hành động của công chúng Mỹ cũng như nhân dân thế giới Bức ảnh đó của Eddie Adams (1933-2004), một nhiếp ảnh gia đã chụp hình cho một số chính trị gia và các sự kiện nổi tiếng thế giới trong suốt một cuộc đời sự nghiệp dài
và đầy vinh quang của mình Có một bức ảnh đặc biệt đeo đuổi ông cho đến cuối đời và cũng vì nó mà nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới hiểu được thế
Trang 33nào là chiến tranh ở Việt Nam Đó là bức ảnh nổi tiếng chụp cảnh một tướng của quân đội Miền Nam hành quyết một người bị tình nghi là Việt Cộng ở trên một đường phố Sài gòn vào ngày 1 tháng 2 năm 1968 Trong vòng vài giờ, những bức hình của Adams đã được truyền đi khắp thế giới Hành động giết người của Nguyễn Ngọc Loan đã đánh dấu sự phá sản về giá trị dân chủ
và đạo đức của cuộc chiến tranh của Mỹ Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã làm cho Mỹ suy yếu cả về kinh tế, tài chính, quân sự, khủng hoảng về chiến lược và hỗn loạn trong ý thức hệ tư tưởng Trong hồi kí ―Thanh gươm
và lưỡi cày‖, M Taylor tự thú rằng: ―Cái giá đắt mà chúng ta phải trả cho cuộc chiến tranh này là sự chia rẽ nội bộ nước Mỹ, là việc để lộ những nhược điểm nội tại của chúng ta trên thế giới, và là tình trạng mất quyền chủ động hành động để đối phó với những vấn đề đối nội, đối ngoại khẩn cấp khác của chúng ta‖ [38, tr.291]
Ngày 31 – 3 – 1968, Tổng thống Mỹ tuyên bố trên truyền hình rằng sẽ hạn chế ném bom miền Bắc Việt Nam và xúc tiến các cuộc đàm phán tại Paris nhằm nhanh chóng kết thúc cuộc chiến Chiến lược ―Chiến tranh Cục bộ‖ phá sản khi Mỹ buộc phải tuyên bố ―Phi Mỹ hóa‖ chiến tranh Việt Nam Tổng thống Johnson quyết định không tái tranh cử Dù chương trình ―Xã hội vĩ đại‖ đạt được một số thành công nhất định, song những gì mà Tổng thống Johnson
để lại là một nước Mỹ chia rẽ bởi những cuộc nổi loạn chống chiến tranh và đòi quyền công dân Người dân Mỹ khao khát lại được sống trong một đất nước của luật pháp và trật tự, không bạo lực, không chiến tranh…Đó cũng là những thách thức cho chính quyền tổng thống kế tiếp
Sau khi phục vụ cho chính quyền của Tổng thống Eisenhower (1953 – 1961) với cương vị Phó Tổng thống và thất bại trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1960, R Nixon (1913 – 1994) trở lại đỉnh cao quyền lực vào ngày 20 – 1 – 1969 Từ cuối thập niên 1960, R.Nixon hiểu rằng cuộc chiến tranh Việt Nam báo hiệu một sự tan vỡ của trật tự hậu chiến mà Mỹ kiểm soát Thế giới không chỉ đơn thuần gồm hai siêu cường mà có nhiều trung tâm mới: Nhật
Trang 34Bản, Tây Âu và các quốc gia mới nổi khác đang tạo nên một vũ đài mà ở đó
Mỹ sẽ đối mặt với cuộc cạnh tranh khốc liệt Nixon tin rằng mình sẽ là người
đủ khả năng chèo lái con thuyền nước Mỹ thích ứng với sự thay đổi đó
Theo Nixon, phương tiện để thực hiện sự thay đổi đó phải là chính sách đối ngoại R.Nixon vốn rất hào hứng với chính sách đối ngoại hơn là các vấn
đề trong nước, bởi các mối quan hệ đối ngoại cho phép tổng thống tự do hành động[66, tr.634] Theo đó, hệ thống nhân sự cho việc hoạch định chính sách đối ngoại được Tổng thống chọn lựa kĩ càng Người được coi là cố vấn thân cận nhất cho Tổng thống về chính sách đối ngoại là Henry Kissinger Vốn là người có những mối quan hệ thân thiết với nhóm quan hệ quốc tế ở Havard, Hội đồng quan hệ quốc tế ở New York và N.Rockfeller, Kissinger được bổ nhiệm vào cương vị lãnh đạo NSC Cả Nixon và Kissinger đều thống nhất với nhau về khả năng họ có thể kiểm soát chính sách đối ngoại, còn Quốc hội và
Bộ ngoại giao ít có khả năng sáng tạo và không phải luôn sẵn sàng chấp nhận những thay đổi cần thiết Nixon đã chỉ định Luật sư W Rogers làm Ngoại trưởng, một người có hiểu biết rất ít về chính sách đối ngoại nhưng trung thành Như thế, Bộ ngoại giao sẽ tập trung vào những vấn đề ít quan trọng hơn trong khi Nixon và Kissinger tự do kiến tạo các chính sách lớn Trong một tài liệu được tiết lộ ở Nga năm 1993, ngày 12 – 6 – 1969 trong một lần gặp gỡ Kissinger, Đại sứ Liên Xô tại Mỹ Anatoly Dobrynin đã ghi lại: ―Kissinger không ngần ngại rằng ở Washington chỉ có hai người có thể trả lời chính xác quan điểm của Mỹ về vấn đề này hay vấn đề khác bất kì lúc nào: Đó là Tổng thống Nixon và ông ấy, Kissinger.‖[66, tr.635]
Trong bối cảnh mâu thuẫn giữa một nền kinh tế đang chững lại với những chi phí quân sự ngày càng tăng lên, Nixon và Kissinger cho rằng việc cắt giảm những lợi ích và cam kết quốc tế của Mỹ sẽ giải quyết được mâu thuẫn đó Đến năm 1969, Mỹ có khoảng 302 căn cứ quân sự quan trọng, 2000 căn cứ nhỏ hơn ở nước ngoài Cả Nixon và Kissinger đều không muốn thực hiện việc cắt giảm bởi theo họ, nếu Mỹ rút lui, lịch sử Mỹ có thể bị đẩy lùi lại
Trang 354 thế kỉ và người Mỹ sẽ không còn là chính mình Họ sẽ chỉ là những người
Mỹ đầu tiên thất bại, những người đầu tiên phủ nhận lịch sử vĩ đại của mình
Dù không muốn nhưng thực trạng những năm cuối thập niên 1960 buộc Nixon phải đưa ra giải pháp để giải quyết mâu thuẫn đó Ngày 25 – 7 – 1969,
Nixon chính thức công bố ―Học thuyết Nixon‖ trong diễn văn đọc tại Guam
Trọng tâm của học thuyết này thể hiện ở cam kết của Mỹ: ―Mỹ tiếp tục tham gia vào việc phòng thủ và sự phát triển của tất cả các liên minh và bạn bè, nhưng người Mỹ không thể và sẽ không vạch ra tất cả các kế hoạch, xây dựng mọi chương trình, thực hiện tất cả các quyết định và đảm nhận toàn bộ hệ thống phòng thủ ở thế giới tự do.‖3
Trong học thuyết này, Nixon nhận định rằng thế giới hiện thời có 5 lực lượng lớn: Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc, Nhật Bản và Tây Âu Nguy cơ đe dọa lớn nhất với Mỹ lúc này không hẳn là chủ nghĩa cộng sản Liên Xô hay Trung Quốc mà là các quốc gia mới nổi ở Thế giới thứ Ba như Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Cuba… Chính các quốc gia này gây nên sự ―mất trật tự‖ của thế giới, đó mới là điều nguy hiểm với Mỹ và Mỹ cần xác lập lại trật tự.[66, tr.637] Vì vậy, ngoài việc đề ra chiến lược ―Hòa dịu‖ (Deténte) với Trung Quốc và Liên Xô, Tổng thống Mỹ đặc biệt quan tâm tới các vấn đề của Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, đặc biệt là Liên minh Mỹ - Nhật Bản và cuộc chiến tranh Việt Nam Theo đó, trong Báo cáo thường niên trước Quốc hội tháng 2 – 1970, Nixon nhấn mạnh bên cạnh việc thực hiện chiến lược cân bằng quyền lực giữa Mỹ với Liên Xô và Trung Quốc, mục đích của Mỹ trong chiến lược đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương thời kì này là Mỹ mong muốn các nước liên minh ở châu Á sẽ đóng vai trò lớn hơn trong việc gánh vác trách nhiệm vì hòa bình trong khu vực Việc Mỹ phải bỏ ra những chi phí quá lớn cho các cam kết quốc tế giờ đây cần được chia sẻ cụ thể bằng
3 http://www.presidency.ucsb.edu/ws/index.php?pid=2835&st=&st1= , 45 - First Annual Report to the Congress on United States Foreign Policy for the 1970's
February 18, 1970, 8.33AM, 1/11/2014
Trang 36việc Nhật Bản sẽ tiến tới ―tự phòng vệ‖ (to defense themselves) Trong khi
Mỹ tiếp tục tuân thủ các Hiệp ước đã kí kết, sẽ cung cấp chiếc ô bảo vệ hạt nhân cho các quốc gia liên minh với Mỹ và giúp các nước này xây dựng sức mạnh phòng thủ của chính họ Bên cạnh đó, Mỹ không chỉ tìm kiếm các liên minh về quân sự, chính trị mà còn về kinh tế Nhật Bản đã trở thành một trong những cường quốc công nghiệp trên thế giới với vai trò quan trọng và thiết yếu với sự phát triển của một Châu Á mới ―Mối quan hệ với Nhật Bản sẽ là
chìa khóa cho sự thành công của ―Học thuyết Nixon‖ ở Châu Á‖.[75, tr.58]
Cho nên, ngay từ khi bắt đầu nhiệm kì, nhân tố Nhật Bản được Nixon lưu tâm hàng đầu nhất là vấn đề Okinawa và thâm hụt thương mại với Nhật Bản Vận hành tốt mối quan hệ liên minh Mỹ - Nhật Bản một phần cũng nằm trong mục đích tìm kiếm giải pháp hiệu quả cho cuộc chiến tranh Việt Nam
Riêng đối với cuộc chiến tranh Việt Nam, đến thời điểm nhậm chức, Nixon hiểu rằng rất khó để đạt tới chiến thắng bằng quân sự ở Việt Nam Theo một số ý kiến từ Lầu Năm Góc, để kiểm soát được miền Nam Việt Nam
có thể phải mất từ 8 đến 13 năm Dựa trên nền tảng ―Học thuyết Nixon”, Tổng thống Mỹ đưa ra chiến lược ―Việt Nam hóa chiến tranh” với ý định rút
dần quân Mỹ và thay vào đó là những người lính châu Á được huấn luyện bài bản Mỹ muốn ngồi lại với Việt Nam Dân chủ cộng hòa và thương lương về một thỏa thuận ngừng bắn, theo đó, cả hai phía đều phải rút quân khỏi Việt Nam, Lào, Campuchia Đồng thời, Nixon cũng dự định mở những chiến dịch ném bom kinh hoàng xuống miền Bắc Việt Nam Thực tế, từ 1969 – 1973 trung bình cứ 1 phút Việt Nam phải chịu 1 tấn bom Tuy nhiên, Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa tiếp tục không chấp nhận một nước Việt Nam bị chia cắt
Chiến lược ―Việt Nam hóa chiến tranh‖ đối mặt với nguy cơ thất bại
Để cứu vãn, trong 2 năm 1970 – 1971, Tổng thống Mỹ bí mật mở các cuộc xâm lược Campuchia và Lào nhằm cắt đứt ―Đường mòn Hồ Chí Minh‖ Tuy
Trang 37nhiên, cả hai chiến dịch đều thất bại Đến năm 1971, Campuchia nằm dưới sự thống trị của Khome đỏ, quân dân Lào kiểm soát phần lớn lãnh thổ Lào
Cùng trong thời kì này, hai lá bài Mỹ sử dụng để tìm kiếm một lối thoát danh dự ở Việt Nam là các chuyến thăm hữu nghị tới Liên Xô và Trung Quốc nhằm cô lập Việt Nam
Cuối năm 1972, chiến dịch ―Điện Biên phủ trên không‖ 12 ngày đêm
của quân và dân Việt Nam đã làm phá sản hoàn toàn chiến lược ―Việt Nam
hóa chiến tranh‖ Cuộc đàm phán ở Paris do đó được đẩy nhanh tiến độ và
sắp đi đến hồi kết
Trong nước, chính quyền của Tổng thống Nixon đối mặt với phong trào phản chiến ngày càng gay gắt Những cuộc biểu tình của hàng trăm sinh viên Đại học ở Washington kéo theo đó là bạo lực khiến 4 sinh viên thiệt mạng Sự ủng hộ của nhân dân Mỹ đối với cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam ngày
càng giảm Từ giữa năm 1971, tờ New York Times đã tiết lộ những thông tin
rò rỉ của chính phủ Mỹ về sự dính líu của Mỹ ở Việt Nam từ những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai đến 1968 và sau đó là chiến dịch ném bom tháng 5 – 1969 Những nghi ngờ hướng vào các nhân viên dưới quyền khiến Nixon và Kissinger sử dụng các gián điệp CIA đặt băng ghi âm và nghe trộm các trợ lý
và cả đối thủ Đảng Dân chủ Điển hình là ―Vụ Watergate‖ đã dẫn tới hậu quả Tổng thống phải từ chức vào năm 1974
Từ 13 – 5 – 1968 đến 27 – 1 – 1973, sau những cuộc đàm phán căng thẳng giữa H.Kissinger và Lê Đức Thọ, Hiệp định Paris được kí kết Theo đó:
- ― Hoa Kỳ và các nước cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam
- Hai bên ngừng bắn ở miền Nam Việt Nm vào lúc 24 giờ ngày 27 – 1 –
1973 và Hoa Kỳ cam kết chấm dứt mọi hoạt động quân sự chống miền Bắc Việt Nam
- Hoa Kỳ rút hết quân đội của mình và quân các nước đồng minh, hủy bỏ các căn cứ quân sự, cam kết không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam…‖ [23, tr.187]
Trang 38Hiệp định Paris đánh dấu sự thất bại đau đớn của người Mỹ ở Việt Nam
sau 21 năm dính líu Có thể thấy, “Học thuyết Nixon” vẫn nằm trong ―Chiến
lược toàn cầu‖ nói chung của Mỹ Tuy nhiên, thời kì này việc tìm kiếm giải pháp cho cuộc chiến tranh Việt Nam là vấn đề trọng tâm Các chính sách với các chủ thể khác cũng nhằm hỗ trợ cho vấn đề này Theo đó, chính sách của
Mỹ với Nhật Bản từ 1969 – 1973 không tách rời bối cảnh lịch sử đó
1.2.2 Sự suy giảm tương đối địa vị kinh tế của Mỹ
Nền kinh tế Mỹ trong nửa sau của thế kỉ XX không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió Những năm đầu sau chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ là nước chiếm ưu thế tuyệt đối về kinh tế trên toàn thế giới Trong khi các nước Tây Âu, Nhật Bản, Liên Xô… kiệt quệ sau chiến tranh và phải mất gần chục năm để khôi phục kinh tế thì với Mỹ lại là thời kì bành trướng thuận lợi nhất Những năm sau chiến tranh, Mỹ đứng đầu thế giới về sản lượng công nghiệp: chiếm hơn ½ tổng sản lượng công nghiệp thế giới Đến năm 1967, Mỹ căn bản vẫn giữ được sản lượng này, chiếm 45% tổng sản lượng công nghiệp thế giới, lớn hơn tổng sản lượng của các nước Tây Âu, Nhật và Canada cộng lại (khoảng 43,3%) [2, tr.1] Mỹ cũng đứng đầu thế giới về dự trữ vàng Năm
1949, Mỹ chiếm 70% dự trữ vàng trên thế giới Quy mô và cường độ ảnh hưởng của nền kinh tế Mỹ với thế giới là cực kì lớn Mỹ có những khoản đầu
tư trực tiếp, gián tiếp hoặc thông qua viện trợ tới hầu khắp các khu vực trên thế giới như Tây Âu, Đông Á, Đông Nam Á, Viễn Đông, châu Phi, Canada,
Mỹ Latinh…nhằm tăng sự phụ thuộc của các nền kinh tế ở các khu vực đó vào kinh tế Mỹ, chịu sự chi phối của kinh tế Mỹ Đây vừa là các khu vực cung cấp nguyên nhiên liệu cho Mỹ vừa là nơi tiêu thụ hàng hóa chính của
Mỹ Từ 1961-1967, bất chấp những dấu hiệu của sự xói mòn và sự hồi sinh của các đối thủ cạnh tranh, nền kinh tế Mỹ vẫn là niềm mơ ước của nhiều nước trên thế giới Tỉ lệ tăng trưởng vẫn là 6%/năm, tổng sản phẩm quốc dân (GNP) của Mỹ lớn đến mức chỉ một phần ở nước ngoài được tạo bởi các công
ty đa quốc gia của Mỹ cũng lớn hơn tổng GNP của Đức hay Nhật năm 1967
Trang 3922% lợi nhuận từ đầu tư nước ngoài của Mỹ cũng lớn hơn lợi nhuận từ đầu tư trực tiếp nước ngoài của cả thế giới còn lại [29, tr.336]
Tuy nhiên, ưu thế tuyệt đối của Mỹ trong ―thời kì vàng‖ sau chiến tranh thế giới thứ hai đã bị suy giảm, biểu hiện trước hết trong nhịp độ phát triển kinh tế so với Tây Âu và Nhật Bản, nhịp độ đó của Mỹ đã bắt đầu chậm hơn,
tỉ trọng công nghiệp của Mỹ trong thế giới tư bản cũng giảm đi nhiều Từ đó, năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Mỹ cũng giảm theo Ngược lại, với khả năng cạnh tranh mạnh mẽ, hàng hóa các nước Tây Âu và Nhật Bản đã thâm nhập ồ ạt vào những thị trường mà trước đó hàng hóa Mỹ chiếm ưu thế tuyệt đối Nền kinh tế Mỹ tuy lớn nhưng cũng không ổn định ―Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 1973, kinh tế Mỹ trải qua nhiều lần khủng hoảng và suy thoái: 1945-1946, 1953-1954, 1957-1958, 1960-1961, 1964-
1965, 1969-1970 và từ cuộc khủng hoảng năng lượng 1973, kinh tế Mỹ lâm vào cuộc suy thoái triền miên và kéo dài suốt thập niên 1970.‖ Theo đó, tỉ trọng công nghiệp Mỹ cũng giảm sút: ―năm 1973 chỉ còn 39,8% sản lượng công nghiệp thế giới‖.[38, tr.287 – 288]
Biểu hiện thứ hai của sự suy giảm địa vị kinh tế của Mỹ là cuộc khủng hoảng đồng USD Sự lung lay địa vị đồng USD đã diễn ra từ những năm
1950, sang đến thập niên 1960 thì bước vào giai đoạn suy yếu nghiêm trọng Đến năm 1968, vấn đề cán cân thanh toán (sự thất thoát đồng USD) đã trở thành một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng Chi tiêu quân sự, đầu tư ở hải ngoại và thâm hụt mậu dịch đã tạo nên một cán cân thanh toán không thuận lợi, dẫn đến xu hướng đổ xô vào tiền vàng của châu Âu và Nhật Bản và đặt ra yêu cầu phải có một tiêu chuẩn tiền tệ quốc tế mới Lúc đó, các biểu hiện như ngân sách thiếu hụt nặng nề và kéo dài, lạm phát kinh niên, giá cả đắt đỏ, cán cân thanh toán quốc tế bội chi liên miên, đồng đôla giảm giá và lâm vào khủng hoảng sâu sắc đã khiến cho nền kinh tế Mỹ phải đối mặt với những khó khăn lớn Đến những năm 1970 – 1971, Mỹ đã chi quá nhiều USD: 40 tỉ USD
ở nước ngoài, chỉ còn 10 tỉ USD vàng trong nước để hỗ trợ Lần đầu tiên từ
Trang 401893 – 1894, Mỹ phải nhập nhiều hàng hóa hơn trước như dầu, ô tô…Người nước ngoài và ngay cả người Mỹ mất niềm tin vào đồng USD, họ đổi USD lấy vàng và các phương tiện dự trữ khác Tổng thống Nixon đã nhận ra một thực tế: Thế giới đã thay đổi.[66, tr.645]
Nạn lạm phát ở Mỹ tiếp tục tăng lên Trong những năm 1959-1969, trung bình mỗi năm giá cả tăng 2,2% (thấp nhất trong các nước tư bản) thì sang đến năm 1970 giá tăng lên 5,5% (xấp xỉ mức của các nước khác) Sức mua của đồng USD trong nước do đó cũng giảm đi nhanh chóng Tốc độ mất giá hàng năm của đồng USD như sau: 1960 – 1969 mất giá 2,2%, 1968 – 1969 mất giá 5,1%, 1969 – 1970 mất giá 5,7%, 1970 – 1971 mất giá 7,89% [17, tr.83 – 84]
Đáng lưu ý là trong những năm đó, cuộc chiến tranh xâm lược Mỹ ở Việt Nam đang trong chiến lược ―Việt Nam hóa chiến tranh‖, quân đội Việt Nam cộng hòa phải tự đảm nhiệm, gánh vác chiến tranh nhưng vẫn có sự viện trợ cực kì lớn từ phía Mỹ Vì vậy, chi phí quân sự của Mỹ ở nước ngoài tăng lên nhanh chóng: từ 2,9 tỉ USD năm 1965 thì trong những năm 1969-1970 lên 4,8 tỉ USD mỗi năm Điều đó càng làm tăng bội chi ngân sách Mỹ Bên cạnh
đó, cán cân thương mại của Mỹ với nước ngoài cũng xấu đi nhanh chóng Hiện tượng nhập siêu xuất hiện liên tục và năm 1971 lên đến 2 tỉ USD [17, tr.85]
Tham vọng bành trướng và các cuộc chiến tranh xâm lược, ngược lại, làm trầm trọng hóa thêm tình trạng nghèo khổ ở Mỹ Thực tế này thổi bùng sự bất mãn trong nhân dân Mỹ Bên cạnh cuộc khủng hoảng về chủng tộc, ở các thành thị, các trường đại học… hàng loạt các cuộc biểu tình của thanh niên, sinh viên nổ ra và được gọi là ―sự nổi loạn của thế hệ trẻ‖, ―sự khủng hoảng của các thành thị Mỹ‖ [38, tr.289] Điều đó nói lên sự phẫn nộ của quần chúng đặc biệt là thế hệ trẻ với các chính sách của giới cầm quyền Mỹ Bởi lẽ nhân dân Mỹ cũng chính là những người gánh chịu hậu quả của chính sách bành trướng của chính phủ Mỹ Áp lực từ nhân dân Mỹ buộc các nhà hoạch định chính sách không thể mãi ngoan cố theo đuổi các chính sách trước đó Bởi nếu làm vậy họ sẽ tiếp tục khơi sâu ―cuộc khủng hoảng lòng tin‖ trong