1.4 Khác với thời Lý, Trần, Lê Sơ, trải ba thế kỷ XVI, XVII, XVIII dưới thời Mạc và Lê Trung hưng là thời kỳ diễn ra nhiều biến động về chính trị - xã hội của đất nước: các cuộc nội chiế
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN NGỌC PHÚC
CÁC THIẾT CHẾ QUẢN LÝ
ĐÔ THỊ THĂNG LONG THẾ KỶ XVI - XVIII
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ
Hà Nội, 2007
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN NGỌC PHÚC
CÁC THIẾT CHẾ QUẢN LÝ
ĐÔ THỊ THĂNG LONG THẾ KỶ XVI - XVIII
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Trang 3LTTK Lịch triều tạp kỷ Nxb Nhà xuất bản
TB Đại Việt sử ký tục biên
TT Đại Việt sử ký toàn thư
Trang 44 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 12
Chương 1 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUẢN LÝ ĐÔ THỊ
1.1.1 Đặc điểm địa chất, địa hình 14
1.1.2 Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn 14
2.1.3 Khu vực kinh tế - dân gian 35
2.2.1 Cơ cấu đơn vị hành chính và tổ chức bộ máy quan lại 40
Trang 5- Cơ cấu tổ chức đơn vị hành chính các cấp 40
- Nguyên tắc tổ chức; nhiệm vụ, chức trách của bộ máy
quản lý hành chính các cấp 42
2.2.2 Đào tạo, tuyển chọn, bổ dụng và các cơ chế kiểm soát, tổ
- Đào tạo, tuyển chọn và bổ dụng 52
- Cơ chế vận hành, giám sát các hoạt động của bộ máy hành
3.1.1 Các biện pháp hành chính quản lý dân cư 69
3.1.2 Quan lại, Nho sĩ, binh lính 70
3.1.3 Thợ thủ công - thương nhân, nông dân 77
3.1.4 Các đối tượng dân cư khác 80
3.2.1 Quản lý thủ công nghiệp 85
3.2.2 Quản lý thương nghiệp 87
3.2.3 Quản lý các hoạt động ngoại thương 91
3.2.4 Quản lý nông nghiệp 94
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
PHỤ LỤC
- Phụ lục 1: Biên niên sự kiện Thăng Long thế kỷ XVI - XVIII
- Phụ lục 2: Nội dung các lệnh dụ về tổ chức và hoạt động quản lý
Thăng Long trong "Lê triều chiếu lịnh thiện chính"
- Phụ lục 3: Một số quy định đối với Thăng Long trong "Quốc triều
hình luật"
- Phụ lục 4: Một số quy định trong "Lê triều hội điển"
- Phụ lục 5: Văn bia
- Phụ lục 6: Tư liệu phương Tây về Thăng Long - Kẻ Chợ (trích dịch)
- Phụ lục 7: Bản đồ Thăng Long thời Lê-Trịnh, một số hình ảnh Hà Nội cổ
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước hiện nay, quá trình đô thị hoá cũng diễn ra ngày càng mạnh mẽ, đô thị đang ngày càng khẳng định vai trò chủ đạo đối với khu vực nông thôn và toàn xã hội nói chung Vấn đề quản lý
và phát triển đô thị do đó đang đặt ra những yêu cầu bức thiết, đòi hỏi sự đầu tư trên nhiều phương diện, từ nguồn vốn vật chất, nguồn nhân lực, trình độ, kinh nghiệm tổ chức và quản lý Vì vậy, đô thị và lĩnh vực quản lý đô thị trở thành đối tượng quan tâm nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, theo nhiều hướng tiếp cận
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển đô thị Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn, theo sự vận động của quá trình kinh tế - xã hội, đô thị Việt Nam có đặc điểm, tính chất và đặc thù riêng Thời Bắc thuộc, hình thành một số đô thị - lỵ sở cai trị của chính quyền đô hộ (Luy Lâu, Tống Bình), cảng thị - nơi diễn ra các hoạt động trao đổi buôn bán trong và ngoài nước (Lạch Trường, Chiêm Cảng) Thời Trung đại, các vương triều phong kiến độc lập đều chú ý xây dựng kinh đô trở thành trung tâm quyền lực, do vậy, loại hình đô thị chính trị - hành chính có điều kiện phát triển (Hoa Lư, Thăng Long, Tây Đô)
Nhìn một cách tổng quát, đến trước thời cận đại, đô thị Việt Nam mang đặc trưng của loại hình đô thị phương Đông truyền thống, đó là sự kết hợp của hai yếu
tố đô (trung tâm, lỵ sở hành chính quan liêu) và thị (tụ điểm kinh tế, nơi tập trung
các hoạt động sản xuất, trao đổi hàng hoá) Tuy nhiên, dưới tác động của nhiều nhân tố khác nhau, trong suốt quá trình tồn tại, có đô thị nổi bật hơn về chức năng hành chính (Cổ Loa, Phú Xuân), ngược lại, có đô thị chủ yếu giữ vị trí trung tâm kinh tế (Phố Hiến, Hội An)
1.3 Trường hợp điển hình, hội tụ đầy đủ cả hai yếu tố đô - thị là Thăng Long
- Hà Nội Hơn 9 thế kỷ kể từ thời điểm định đô năm 1010, gần như liên tục, Thăng Long luôn giữ được sự phát triển cân đối, vừa đảm trách vai trò của một trung tâm chính trị - hành chính, vừa là trung tâm kinh tế hàng đầu của đất nước, trở thành đô thị tiêu biểu suốt thời kỳ trung đại Xuyên suốt quá trình tồn tại và phát triển của
đô thị này, mỗi giai đoạn lịch sử, quản lý đô thị Thăng Long, trong đó có việc tổ
Trang 8chức và vận hành bộ máy quản lý hành chính, các lĩnh vực quản lý đô thị (quản lý dân cư, văn hoá, tài nguyên ) có thể xem như một đại diện, phản ánh hiệu quả quản lý đô thị, quản lý đất nước đương thời
1.4 Khác với thời Lý, Trần, Lê Sơ, trải ba thế kỷ XVI, XVII, XVIII dưới thời Mạc và Lê Trung hưng là thời kỳ diễn ra nhiều biến động về chính trị - xã hội của đất nước: các cuộc nội chiến, xung đột phe phái giữa các tập đoàn phong kiến Bắc triều - Nam triều, Đàng Trong - Đàng Ngoài, thể chế quyền lực “lưỡng đầu chế” thời
Lê - Trịnh (tồn tại song song hai hệ thống chính quyền tại Thăng Long: triều đình vua Lê và hệ thống Ngũ phủ phủ liêu của chúa Trịnh), sự lan rộng về địa bàn và quy
mô của các phong trào khởi nghĩa nông dân tác động không nhỏ tới đời sống kinh
tế - xã hội Thăng Long với vai trò trung tâm chính trị - hành chính đất nước là địa phương chịu tác động mạnh mẽ và thường xuyên từ những biến động này
Bên cạnh đó, giai đoạn thế kỷ XVI - XVIII, cả trên bình diện trong nước và quốc tế đều diễn ra những chuyển biến thuận lợi, tạo đà cho quá trình phát triển phồn thịnh của nền kinh tế hàng hoá và sự hưng khởi của đô thị Thăng Long - Kẻ Chợ Sự hưng khởi này được biểu hiện trên nhiều phương diện: hoạt động kinh tế nhộn nhịp, cơ cấu, số lượng dân cư, quy hoạch đô thị, đời sống sinh hoạt văn hoá
đô thị
Bài học kinh nghiệm về tổ chức và quản lý đô thị trong bối cảnh như vậy hẳn sẽ giúp ích cho công cuộc quản lý và phát triển đô thị đương đại
Với những nguyên nhân và lý do trên, tác giả đã quyết định chọn vấn đề
“Các thiết chế quản lý đô thị Thăng Long thế kỷ XVI - XVIII” làm đề tài luận
Trang 9thể kể đến một số nghiên cứu vừa mang tính lý luận về nội dung, phương pháp tiếp cận, vừa là những giới thiệu khái quát về các thiết chế quản lý như: Đinh Gia Trinh
[1968]: Sơ thảo lịch sử nhà nước và pháp quyền Việt Nam, Lê Kim Ngân [1974]:
Văn hoá chính trị Việt Nam: Chế độ chính trị Việt Nam thế kỷ XVII và XVIII, Vũ
Thị Phụng [1990]: Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, Trần Thị Vinh [2004]:
Thể chế chính quyền nhà nước thời Lê - Trịnh: sản phẩm đặc biệt của lịch sử Việt Nam thế kỷ XVII- XVIII
Trong những chuyên khảo về đô thị Việt Nam thời kỳ cổ trung đại, Đô thị
cổ Việt Nam (do tập thể các tác giả của Viện Sử học biên soạn, xuất bản năm
1989) là công trình tập hợp, trình bày một cách hệ thống về lịch sử hình thành, vai trò, đặc điểm kinh tế - xã hội các đô thị tiêu biểu thời kỳ cổ trung đại Trong các nội dung nghiên cứu về Thăng Long - Hà Nội, vấn đề thiết chế quản lý và hoạt động quản lý đô thị qua các thời kỳ có được đề cập, tuy nhiên mới dừng lại
ở mức độ rất khái quát
Đối với những nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử Thăng Long - Hà Nội, hai
tập sách: Lịch sử thủ đô Hà Nội (Trần Huy Liệu chủ biên) công bố lần đầu năm
1960 và Hà Nội - Thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Trần Quốc
Vượng chủ biên, công bố năm 1984) viết về lịch sử Thăng Long - Hà Nội, có phạm vi thời gian bao quát từ thời kỳ cổ đại đến khi trở thành Thủ đô của nước Việt Nam Vấn đề tổ chức bộ máy, thiết chế quản lý đô thị Thăng Long cũng chỉ được nhắc đến một cách sơ lược, đặt trong tiến trình chung của toàn bộ lịch sử Thăng Long - Hà Nội
Năm 1993, công trình Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XVII - XVIII - XIX (vốn
là một luận án Tiến sĩ bảo vệ năm 1984) của tác giả Nguyễn Thừa Hỷ được xuất bản Đây được coi là nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về Thăng Long - Kẻ Chợ trong thời kỳ hưng khởi của nền kinh tế hàng hoá và đô thị Với công trình này, thông qua nguồn tư liệu phong phú, diện mạo, kết cấu kinh tế - xã hội của một thành thị trung đại được tác giả trình bày, phân tích đầy đủ và hệ thống Tuy nhiên,
vì không phải là đối tượng nghiên cứu chính, vấn đề thiết chế quản lý đô thị tuy có được tác giả đề cập nhưng cũng chỉ sơ lược trong khi trình bày về cấu trúc và quá
Trang 10trình vận hành của các hoạt động kinh tế - xã hội đương thời tại Thăng Long - Kẻ Chợ
Trong các nghiên cứu của học giả nước ngoài về lịch sử Thăng Long - Hà Nội, đáng chú ý có Luận án Tiến sĩ chuyên ngành nghiên cứu Ấn Độ và vùng Viễn
Đông của Phillipe Papin [1997]: Des "villages dans la ville" aux "villages
urbains" Ľ espace et les formes du poivoir à Ha-noi de 1805 à 1940 (Từ những
làng trong thành phố đến những ngôi làng đô thị hoá Không gian và các hình thức quyền lực ở Hà Nội từ 1805 đến 1940) Đây là giai đoạn lịch sử Thăng Long - Hà Nội, lịch sử Việt Nam nói chung có nhiều biến động Từ vị trí kinh đô thời Lê, Thăng Long trở thành thủ phủ Bắc thành thời Tây Sơn và đầu thời Nguyễn, tỉnh thành Hà Nội thời Minh Mạng và thủ phủ của Liên bang Đông Dương thời thuộc Pháp, bước vào thời kỳ cận đại hoá, chuyển mình mạnh mẽ theo mô hình đô thị phương Tây Bối cảnh đó đã tác động sâu sắc tới vấn đề tổ chức, quản lý hành chính đô thị
Ngoài ra còn có những nghiên cứu khác, gồm các tập sách và chuyên luận
công bố trên các tạp chí (Nghiên cứu lịch sử, Khảo cổ học, Xưa và Nay ) của
nhiều tác giả (Trần Quốc Vượng, Phan Huy Lê, Trần Huy Bá, Nguyễn Khắc Đạm, Nguyễn Quang Ngọc, Nguyễn Thừa Hỷ, Nguyễn Vinh Phúc ) Những năm sáu mươi, bẩy mươi của thế kỷ trước, các tác giả quan tâm và tập trung làm rõ vấn đề quy mô, vị trí và chức năng của hệ thống thành luỹ Thăng Long qua các thời kỳ, triều đại Từ khoảng những năm tám mươi cho đến nay, các vấn đề về dân cư, các hoạt động kinh tế, sinh hoạt văn hoá, quản lý hành chính bắt đầu được chú ý nhiều hơn so với giai đoạn trước đó
Gần đây, trong quá trình triển khai đề tài khoa học KX09.02: Thăng Long -
Hà Nội với vai trò trung tâm chính trị, hành chính của đất nước - những bài học về quản lý và phát triển do PGS.TS Vũ Văn Quân chủ trì, đã có một số khoá luận Cử
nhân khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc
gia Hà Nội) như: Quy hoạch, tổ chức bộ máy và hoạt động quản lý hành chính
Đông Kinh thời Lê Sơ (1428 - 1527) của Phan Trắc Thành Động [2006], Tổ chức
và quản lý thành Thăng Long thời Lê - Trịnh (1592 - 1789) của Đinh Thị Mai
[2006] Tuy nhiên, do giới hạn bởi phạm vi và quy mô của một khóa luận tốt
Trang 11nghiệp, các khóa luận này cũng mới đề cập những nét chung, nổi bật của vấn đề tổ chức, quản lý, đặc biệt là thiết chế quản lý đô thị Thăng Long
Như vậy, dù đã có nhiều công trình nghiên cứu nhưng những chuyên khảo
về Thăng Long - Kẻ Chợ giai đoạn XVI - XVIII chưa thật nhiều, nhất là chưa có nghiên cứu nào chọn vấn đề thiết chế quản lý Thăng Long thời Mạc và Lê - Trịnh làm đối tượng nghiên cứu trực tiếp và chuyên sâu
3 Mục đích nghiên cứu
Với việc tập hợp, phân tích các nguồn tư liệu lịch sử, luận văn mong muốn khắc hoạ một cách hệ thống vấn đề tổ chức và hoạt động quản lý đô thị Thăng Long - Kẻ Chợ với vai trò trung tâm chính trị - hành chính đất nước, dưới tác động của các nhân tố, các biến động về chính trị - kinh tế và xã hội của qua ba thế kỷ XVI, XVII và XVIII
Thông qua việc tìm hiểu vấn đề quản lý đô thị trong một giai đoạn lịch sử kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp, khuyến nghị, góp phần phục vụ công cuộc xây dựng và quản lý đô thị Việt Nam nói chung và của Thủ đô Hà Nội hiện nay nói riêng
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài thuộc lĩnh vực quản lý đô thị, trong đó, tập trung vào việc tìm hiểu quá trình thiết lập và hoàn bị cơ cấu đơn vị hành chính và
bộ máy quản lý các cấp Trong đó có các vấn đề từ đào tạo, tuyển chọn, bổ dụng quan lại, nhiệm vụ, chức trách của các cấp quản lý, nguyên tắc tổ chức, giám sát hoạt động quản lý Cơ chế tự quản - tự trị trong một số lĩnh vực của đời sống kinh
tế, xã hội, văn hoá, tổ chức cộng đồng cư dân đô thị
Những nội dung trên được thể hiện trong quá trình thực thi các lĩnh vực quản lý đô thị Thăng Long - Kẻ Chợ (quản lý dân cư, hoạt động kinh tế, tài nguyên môi trường, quản lý trật tự an ninh đô thị ) tại Thăng Long - Kẻ Chợ ba thế kỷ XVI, XVII và XVIII Ngoài những năm đầu thế kỷ XVI dưới triều Lê Sơ và cuối thế kỷ XVIII dưới triều Tây Sơn, đây là giai đoạn tương đương với thời kỳ nắm quyền tại Thăng Long của nhà Mạc và nhà Lê - Trịnh
Trang 12Về giới hạn không gian hành chính, Thăng Long giai đoạn này gồm hai huyện Quảng Đức (thời Nguyễn đổi là Vĩnh Thuận) và Vĩnh Xương (sau đổi là Thọ Xương) thuộc phủ Phụng Thiên, tương đương với địa bàn các quận trung tâm của Thủ đô Hà Nội hiện nay: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng và Đống Đa và Tây Hồ
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Các nguồn tài liệu
Thăng Long là trung tâm chính trị - hành chính, trung tâm kinh tế, văn hóa của cả nước, tài liệu thư tịch biên chép, phản ánh các sự kiện, các lĩnh vực hoạt động của đời sống diễn ra hoặc liên quan đến kinh đô phong phú, đa dạng hơn so với nhiều địa phương khác Tuy nhiên, do những biến động lịch sử, so với thời Nguyễn và các giai đoạn sau đó, nguồn tư liệu phản ánh vấn đề thiết chế quản lý
đô thị còn lại không nhiều và đầy đủ
Tài liệu thư tịch cổ tham khảo và trích dẫn trong luận văn gồm nhiều loại: các
bộ chính sử, văn bản pháp luật, văn bia, các tác phẩm chí, tác phẩm văn học do các
sử quan, học giả đương thời tập hợp, biên soạn trong thời Lê - Trịnh và thời Nguyễn
Đại Việt sử ký toàn thư, là bộ chính sử do Ngô Sỹ Liên và các sử thần triều
Lê biên soạn theo thể biên niên, dựa trên bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu soạn thời Trần và Đại Việt sử ký của Phan Phu Tiên biên soạn giữa thế kỷ XV , chép
lịch sử dân tộc từ kỷ Hồng Bàng trong truyền thuyết đến hết năm 1675, được khắc
in lần đầu vào năm Chính Hoà 18 (1697) Đây là bộ quốc sử lớn và sớm nhất của
nước ta còn lại đến ngày nay Giá trị của Đại Việt sử ký toàn thư là ở chỗ, công
trình đã cung cấp một nguồn sử liệu gốc cơ bản nhất về lịch sử dân tộc, không riêng cho sử học mà còn rất nhiều ngành khoa học xã hội khác
Về kết cấu, bộ sử ký được chia thành 2 phần: Ngoại kỷ gồm 5 quyển, phần Bản kỷ 19 quyển Phần Bản kỷ lại chia thành 3 phần: Bản kỷ toàn thư, Bản kỷ thực lục và Bản kỷ tục biên Trong luận văn này, chúng tôi tham khảo và trích dẫn các
ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư từ quyển 14 thuộc Bản kỷ thực lục đến hết
quyển 19 phần Bản kỷ tục biên
Trang 13Khâm định Việt sử thông giám cương mục, do Quốc sử quán triều Nguyễn
biên soạn trong 25 năm (1856 - 1881), in xong năm Kiến Phúc 1 (1884) Đây là bộ thông sử đồ sộ, chép lịch sử Việt Nam từ thời dựng nước đến năm 1789 Sách gồm
52 quyển, chia thành 2 phần: Tiền biên và Chính biên Khi biên soạn, Cương mục chủ yếu dựa vào ghi chép của Đại Việt sử sứ ký toàn thư, đồng thời có bổ sung
thêm sự kiện từ ghi chép của một số tài liệu dã sử, thi văn tập của Việt Nam và sử
Trung Quốc Ngoài ra, Cương mục còn có thêm nhiều phần khảo cứu và chú giải địa danh rất giá trị, là sự bổ sung và tiếp nối quan trọng của Đại Việt sử ký toàn thư
Lịch triều tạp kỷ (Hậu Lê lịch triều tạp kỷ), do Ngô Cao Lãng biên soạn,
gồm 6 quyển, chép từ năm Dương Đức 1 (1672) đến năm Chiêu Thống 3 (1789),
cũng được xem là bộ sử nối tiếp của Đại Việt sử ký toàn thư Lịch triều tạp kỷ được
biên soạn theo thể biên niên, tuy nhiên, giá trị về mặt sử liệu của nó ở chỗ công trình là một nguồn sử liệu khá phong phú, trên nhiều lĩnh vực chính trị, luật pháp, kinh tế, văn hoá, các sinh hoạt xã hội được tác giả trình bày khá cụ thể, giúp cho người nghiên cứu có được những nhận thức phong phú, đầy đủ hơn về giai đoạn lịch sử này
Việt sử cương mục tiết yếu, do Đặng Xuân Bảng biên soạn, bắt đầu từ thời
kỳ Hùng Vương dựng nước, kết thúc khi nhà Tây Sơn chấm dứt (1802) Công trình này tập trung vào việc ghi chép điển chương chế độ của các triều đại, về địa danh lịch sử, sự biến động về lãnh thổ qua các thời kỳ lịch sử
Bên cạnh các bộ chính sử biên soạn theo thể biên niên còn có các nguồn sử liệu quan trọng, cung cấp nhiều thông tin liên quan đến các chế độ điển chương,
luật lệ, quy chế quan lại trong giai đoạn này như: Quốc triều hình luật, Hồng Đức
thiện chính thư, Lê triều chiếu lịnh thiện chính, Lê triều quan chế, Lê triều cựu điển, Lê triều hội điển
Quốc triều hình luật (Lê triều hình luật, Luật Hồng Đức) - bộ luật hình quan
trọng và chính thống nhất của triều Lê, gồm 13 chương, cộng lại có 722 điều, phân
làm 6 quyển Quốc triều hình luật là bộ luật xưa nhất, đầy đủ nhất của nước ta hiện nay còn lưu giữ được Bên cạnh những điều luật quy định chung, Quốc triều hình
luật có nhiều điều khoản áp dụng riêng cho việc tổ chức bộ máy quản lý và hoạt
Trang 14động trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quản lý an ninh trật tự tại kinh thành
Bổ sung cho Quốc triều hình luật là Lê triều quan chế, chưa rõ tác giả của
bộ sách này Về niên đại biên soạn, căn cứ vào nội dung sách có nhắc đến niên hiệu Cảnh Hưng (1740 - 1786), có thể xác định sách được biên soạn sớm nhất là
vào cuối thế kỷ XVIII hoặc đầu thế kỷ XIX Về nội dung, Lê triều quan chế chép
các quy định về chức tước, phẩm trật của quan văn, võ ở triều đình và địa phương Đây là một tài liệu tham khảo bổ ích, cung cấp những chi tiết mà các sách chép về quan chế đời Lê chưa đề cập đến hoặc đề cập nhưng chưa cụ thể, chi tiết
Lê triều chiếu lịnh thiện chính gồm tập hợp các văn bản chiếu lệnh, sắc dụ
quy định và liên quan đến các chế độ điển chương, luật lệ, quy chế quan lại, luật pháp ban hành từ năm Vĩnh Tộ 7 (1625) đến niên hiệu Chính Hoà (1680 - 1705)
đời Lê Hy Tông Nội dung các chiếu lệnh, sắc dụ chép trong Lê triều chiếu lịnh
thiện chính gồm những quy định cụ thể, các điều cấm răn, quy định thưởng phạt áp
dụng cho nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, từ tổ chức bộ máy quan lại, việc duyệt tuyển, khảo khoá, việc tô thuế, tài dụng, định chế cho hình pháp, khoa cử đến các lĩnh vực của đời sống sinh hoạt hàng ngày Chính vì vậy, đây là một tài liệu rất có giá trị giúp cho việc tìm hiểu các chủ trương, biện pháp cũng như hiệu quả quản lý đất nước của chính quyền Lê - Trịnh
Một công trình quan trọng khác là Lịch triều hiến chương loại chí của Phan
Huy Chú, bộ sách gồm 49 quyển Tác giả dùng phương pháp biên soạn theo thể
“chí”, các nội dung được tập hợp, phân loại, sắp xếp theo 10 loại chí, gồm: Dư địa
chí, Nhân vật chí, Quan chức chí, Lễ nghi chí, Khoa mục chí, Quốc dụng chí, Hình luật chí, Binh chế chí, Văn tịch chí và Bang giao chí Trong từng loại "chí", các tư
liệu, sự kiện - nhất là thời Hậu Lê - được Phan Huy Chú trình bày khoa học, phản ánh được tương đối đầy đủ các mặt của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội
của đất nước, trong đó có Thăng Long
Ngoài ra, các tác phẩm văn học sử viết theo lối tùy bút, ký như: Vũ trung tuỳ
bút của Phạm Đình Hổ, Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái là những tư liệu quý, góp phần bổ sung cho nguồn tư
liệu chính thống Qua những tác phẩm này, đời sống xã hội Thăng Long thời kỳ Lê
Trang 15- Trịnh, từ các sinh hoạt diễn ra trong phủ chúa, đời sống thường nhật của tầng lớp công hầu, nho sĩ và dân chúng, không gian thành Thăng Long cách đây hơn hai trăm năm được phác họa một cách sinh động
Trong quá trình thực hiện, chúng tôi còn tham khảo và trích dẫn một số tài liệu Hán Nôm khác như văn bia, hương ước Hiện bia ký có niên đại thế kỷ XVI - XVIII ở Hà Nội, nhất là khu vực thuộc hai huyện Quảng Đức, Vĩnh Xương/Thọ Xương còn không nhiều (một phần trong số này đã được tuyển dịch và công bố
trong Tuyển tập văn bia Hà Nội (2 tập) và Văn khắc Hán Nôm Việt Nam) Thông
tin cung cấp từ tư liệu này khá phong phú
Bên cạnh các tài liệu thư tịch cổ do các tác giả trong nước biên soạn, phải kể đến các tập du ký của nhiều tác giả nước ngoài từng đến Thăng Long trong hai thế
kỷ XVII - XVIII, có thể kể đến: Jean Baptiste Tavernier với Tập du ký mới và kỳ
thú về vương quốc Đàng Ngoài, W Dampier: Một chuyến du hành sang Bắc Kỳ năm 1688, Charles B Maybon: Một thương điếm Anh ở Đông Kinh (Tonkin) trong thế kỷ XVII (1672 - 1679) và Người châu Âu ở An Nam Dựa trên những sự việc,
nhân vật bản thân tiếp xúc hoặc chứng kiến, các thương nhân, giáo sĩ truyền đạo đến từ châu Âu trong các ghi chép của mình đã cung cấp những hiểu biết về lịch
sử, văn hoá - xã hội của Đàng Ngoài nói chung cũng như Thăng Long thời kỳ Lê - Trịnh nói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Từ nội dung, mục đích nghiên cứu, với việc tập hợp các nguồn tư liệu, luận văn sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic để tổng hợp, so sánh, đối chiếu các nguồn tư liệu nhằm tái hiện, nhận thức sâu sắc hơn về vấn đề cơ cấu, tổ chức quản lý đô thị, từ chính sách đào tạo, tuyển dụng, các lĩnh vực quản lý và hiệu quả quản lý Thăng Long - Kẻ Chợ trong ba thế kỷ XVI - XVIII
6 Đóng góp của luận văn
- Vấn đề tổ chức và quản lý đô thị Thăng Long - Kẻ Chợ thông qua các nguồn tư liệu được trình bày một cách toàn diện, hệ thống, qua đó góp phần nhận diện Thăng Long ở một giai đoạn phát triển phồn thịnh
Trang 16- Rút ra những bài học lịch sử trong vấn đề quản lý và phát triển đô thị, đề xuất một số quan điểm, giải pháp tổ chức và phát triển Thủ đô trong thời kỳ hiện đại hoá, công nghiệp hoá, hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội
Trang 17Trong các nhân tố tác động (tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội), môi trường
tự nhiên là nhân tố mang tính chất hằng xuyên, góp phần hình thành và để lại dấu
ấn trong lối sống, thế ứng xử, tập quán sản xuất, tổ chức đời sống cộng đồng
1.1.1 Đặc điểm địa chất, địa hình
Ở vị trí trung tâm của tam giác châu thổ Bắc Bộ, có độ cao trung bình 20m so với mực nước biển, đặc điểm địa hình Hà Nội là sự thấp dần từ Bắc xuống Nam, và từ Tây sang Đông, tạo thành một vùng võng ở trung tâm, các nhà địa chất hiện đại gọi đó là "trũng Hà Nội" hay "võng Hà Nội"
5-Về mặt địa chất, vỏ trái đất khu vực này không những "mỏng" hơn so với những nơi khác mà tại đó còn xuất hiện các vệt chia cắt do kết quả của hiện tượng đứt gãy sâu Những đặc điểm này khiến cho cường độ chuyển động của vỏ trái đất
ở "trũng Hà Nội" thường khá lớn - đây chính là nguyên nhân gây ra các trận động
đất trong lịch sử Đại Việt sử ký toàn thư và Khâm định Việt sử thông giám cương
mục chép rất nhiều lần động đất tại Thăng Long, riêng thời Lê - Trịnh, ít nhất đã có
5 lần vào tháng 4 năm Mậu Ngọ (1678), tháng 12 năm Ất Sửu (1685), tháng 5 năm Tân Sửu (1721), tháng 2 năm Đinh Hợi (1767) và tháng 1 năm Giáp Ngọ (1774)
1.1.2 Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn
Thời tiết và sự vận hành các mùa trong năm diễn ra ở Thăng Long mang đặc trưng chung của khí hậu miền Bắc: đó là vùng nhiệt đới gió mùa, mùa hè nóng,
Trang 18mưa nhiều và mùa đông lạnh, mưa ít Giữa hai mùa nóng và lạnh có sự thay đổi và khác biệt rõ rệt, xen giữa hai mùa còn có hai thời kỳ chuyển tiếp (mùa xuân, mùa thu) Khí hậu và lượng mưa như vậy đã tác động không nhỏ đến dòng chảy của các sông đi qua địa phận kinh thành Sông Tô Lịch: "là phân lưu của sông Nhị , sông này mùa đông, mùa xuân nông cạn, mùa hè mùa thu nước lớn, phải đi bằng thuyền" [28, 186]
Ngoài sông Tô Lịch, Thăng Long là nơi hội tụ dòng chảy của nhiều con sông, trong đó, lớn nhất chính là sông Nhĩ Hà (sông Hồng) Ngoài sông, hệ thống
hồ đầm tự nhiên dày đặc - nhiều trong số này là dấu vết sót lại sau khi đổi dòng của các dòng sông cổ (Hồ Tây, hồ Hoàn Kiếm ) Chính đặc điểm sông - hồ này đã tạo cho Thăng Long - Hà Nội một diện mạo cảnh quan nổi bật: thành phố sông - hồ:
Khen ai khéo hoạ dư đồ Trước sông Nhị thuỷ, sau hồ Hoàn Gươm
Nếu lấy Nhĩ Hà làm trục chính thì Thăng Long là đô thị một bên sông; theo quy chiếu của dân gian, đây là thành phố trong sông:
Nhị Hà quanh Bắc sang Đông Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này
Dưới góc độ lịch sử quy hoạch và kiến trúc thành luỹ, ngay từ giai đoạn tiền Thăng Long, từ toà thành đất của Lý Bí bên cửa sông Tô Lịch cho đến các vòng thành Thăng Long thời độc lập Lý, Trần, Lê đều thể hiện sự gắn bó, nương theo và tận dụng tối đa yếu tố cảnh quan địa hình sông - hồ
Tuy nhiên, đặc tính sông - hồ cũng là mối đe doạ tiềm tàng đối với kinh thành Thăng Long Hàng năm, vào mùa mưa, nước lũ thường dâng cao, tràn vào kinh thành Đắp đê là giải pháp được các triều đại phong kiến lựa chọn từ rất sớm
để ngăn dòng nước lớn, bảo vệ mùa màng, cuộc sống Sử chép, ngay từ thời Lý, năm 1108, triều đình đã cho "đắp đê ở phường Cơ Xá" [34, 123], các triều Trần,
Lê tiếp tục nhiều lần gia cố, hoàn thiện Cho đến đầu thời Nguyễn, đoạn sông Hồng qua Hà Nội được mô tả: "Đê sông Nhị: ở phía đông bắc tỉnh thành, chạy dài
về phía nam, huyện Vĩnh Thuận 945 trượng, huyện Thọ Xương 270 trượng, đều là
Trang 19đê đắp từ đời trước" [28, 205] Tuy nhiên, rất nhiều lần, khi hệ thống đê này không chịu được sức mạnh của dòng nước, đê vỡ, nước lũ đã tràn vào kinh thành, phá huỷ các công trình xây dựng, cung điện, nhà cửa, đe doạ đến cuộc sống, tính mạng của người dân Một số trận lụt lớn dưới thời Lê - Trịnh tại Thăng Long được sử biên niên ghi lại:
- Tháng 8 năm Nhâm Tuất (1622): Trời mưa to, thành nội lở đến 6 - 7 chỗ cộng hơn 30 trượng (khoảng 120m)
- Tháng 6 năm Canh Ngọ (1630): Nước to đổ về, sông Nhị (sông Hồng) đầy tràn, ngập vào đường phố Cửa Nam nước chảy như thác đổ, phố phường nhiều người bị chết đuối
- Tháng 9 năm Tân Mùi (1631): Mưa như trút, nước sông Nhị dâng to, điện đình trong ngoài (kinh thành) ngập sâu đến 1 thước (khoảng 0,4m)
- Tháng 6 năm Nhâm Thân (1632): Mưa to 3 - 4 ngày không ngớt Sân trong cung và các điện nước ngập vài tấc
1.2 Các tác động chính trị
1.2.1 Thăng Long với vai trò trung tâm chính trị - hành chính đất nước
Trong lịch sử hình thành và phát triển của Thăng Long - Hà Nội, việc định
đô Thăng Long năm 1010 được coi là sự kiện mở đầu, chính thức xác lập vai trò trung tâm chính trị - hành chính đất nước của đô thị này Tổ chức bộ máy, thiết lập
cơ chế quản lý cũng như hiệu quả quản lý đô thị Thăng Long chịu sự chi phối chặt chẽ từ tính chất đặc thù đó
Với vai trò trung tâm chính trị - hành chính, Thăng Long là nơi tập trung, là đầu mối cao nhất của hệ thống các cơ quan quản lý, bộ máy quan lại của triều đình Hầu hết các sự kiện chính trị, bang giao quan trọng của đất nước đều diễn ra tại kinh
đô, vấn đề bảo đảm an ninh cho kinh đô tác động và có mối quan hệ mật thiết đối với sự hưng vong của vương triều Ngược lại, diện mạo, sự ổn định và phát triển của kinh đô chịu tác động rất lớn từ những diễn biến chính trị của triều đình, từ các sinh hoạt chốn cung đình của vua quan, quý tộc Đó cũng chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc đan xen về nội dung cũng như đối tượng quản lý giữa triều đình trung ương và bộ máy quản lý địa phương các cấp trực tiếp quản lý kinh thành
Trang 20Là trung tâm chính trị - hành chính của đất nước, việc thiết lập hệ thống đơn
vị hành chính các cấp, tổ chức bộ máy quan lại, cơ cấu quản lý và vận hành, nhiệm
vụ của bộ máy quan lại tại kinh đô - trong so sánh tương quan với các địa phương của cả nước - ít nhiều đều có sự khác biệt Thời Trần, năm 1230, triều đình cho đặt ty Bình Bạc, năm 1265 đổi thành Đại An phủ sứ, sau lại đổi thành Kinh sư đại doãn, đây là cơ quan hành chính và tư pháp với tên gọi, chức năng chỉ có ở kinh đô Thăng Long Thời Lê, năm 1466, triều đình lập ra đơn vị hành chính đặc biệt trực thuộc triều đình, đó là phủ Trung Đô (năm 1469 đổi thành phủ Phụng Thiên)
1.2.2 Những biến động chính trị
Đại Việt thời Lê Sơ có những bước phát triển vượt bậc trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt dưới thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) Nhưng ngay sau khi Lê Thánh Tông mất (1497) cho đến khi nhà Lê Sơ sụp đổ (1527) là 30 năm chính trường Đại Việt diễn ra nhiều biến động lớn Sự suy yếu của chính quyền trung ương đồng nghĩa với việc quyền lực dần bị phân tán, tính thống nhất của quốc gia phong kiến trung ương tập quyền bị phá vỡ, vị thế trung tâm chính trị, hành chính của Thăng Long cũng vì thế mà có phần ảnh hưởng và suy giảm
Từ năm 1515 liên tục nổ ra các cuộc khởi nghĩa của Phùng Chương (Sơn Tây), Đặng Hân và Lê Hất (Thanh Hoa), Trần Công Ninh (Yên Lãng), Trần Cảo (Thuỷ Đường) Năm 1516, Trịnh Duy Sản giết vua Lê Tương Dực ở cửa nhà Thái Học, ngay sau đó, kinh thành bị Trần Cảo chiếm giữ rồi lại bị Nguyễn Hoằng Dụ đốt phá
Năm 1527, sau khi dẹp được các phe đảng chống đối, Mạc Đăng Dung thay thế nhà Lê, lập nên nhà Mạc
Nhà Mạc chỉ làm chủ được Đông Kinh trong vòng 65 năm (1527 - 1592), nhưng thời gian ổn định thực sự của nhà Mạc lại không nhiều; phần vì nhà Mạc còn tập trung vào cuộc chiến với họ Trịnh, phần vì chú trọng cho việc xây dựng Dương Kinh - kinh đô thứ hai ở vùng biển, quê gốc của Đăng Dung (nay thuộc Kiến Thụy, Hải Phòng) nhiều hơn Bản thân Mạc Đăng Dung sau khi nhường ngôi cho con, lên làm Thái thượng hoàng cũng về ở Dương Kinh Những khi về Thăng Long, vua Mạc thường cho lập hành cung bên ngoài thành, trong Cấm thành, cung
Trang 21điện lại ít được tu sửa Ngay cả khi triều Mạc chuyển hẳn về Thăng Long, nhà Mạc chủ yếu chỉ tập trung xây đắp, sửa sang thành luỹ cho kiên cố để đề phòng các trận tiến công của lực lượng ủng hộ nhà Lê Thêm nữa, các vua triều Mạc đều là những người có quan điểm tương đối thực dụng, thoáng mở và có sự khuyến khích các hoạt động buôn bán Các vua Mạc cũng có những biện pháp nhất định nhằm ổn định đời sống nhân dân Trong bối cảnh đó, đời sống kinh tế - văn hoá Thăng Long thời Mạc có điều kiện phát triển tự nhiên, ít bị ràng buộc bởi các chính sách gò bó Chính sử về sau đã nhận xét: “Từ đấy, người buôn bán và kẻ đi đường đều đi tay không, ban đêm không còn trộm cướp, trâu bò thả chăn không phải đem về Trong khoảng vài năm, người đi đường không nhặt của rơi, cổng ngoài không phải đóng, được mùa liên tiếp, trong cõi tạm yên” [25, 115]
Mặc dù lật đổ nhà Lê, lập nên vương triều mới nhưng nhà Mạc không làm chủ hoàn toàn được đất nước Không lâu sau khi nhà Lê Sơ sụp đổ, vùng đất từ Thanh Hoá trở vào đã trở thành địa bàn chiếm giữ và quy tụ các lực lượng chống lại nhà Mạc, tôn phù nhà Lê trung hưng Cuộc nội chiến Nam - Bắc triều (1545 - 1592) kéo dài gần 50 năm với 40 trận chiến lớn nhỏ đã ảnh hưởng ít nhiều đến kinh thành Thăng Long Năm 1592, khi Nam triều đánh bật nhà Mạc, thu phục Thăng Long, hệ thống luỹ do Mạc Mậu Hợp đắp bị Trịnh Tùng cho san phẳng Quân Mạc tuy bị đẩy lui khỏi kinh thành nhưng vẫn chiếm cứ vùng Cao Bằng, năm
1600 và 1623, dư đảng nhà Mạc còn kéo quân xuống tấn công Thăng Long
Cuộc chiến Trịnh - Mạc để lại những thiệt hại nặng nề cho các hoạt động sản xuất cũng như các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Đồng ruộng bị biến thành bãi chiến trường, đê điều bị phá hoại, mất mùa, nông dân bần cùng hoá bị đẩy vào các cuộc chiến tranh, một bộ phận đi tha hương lưu tán
Trong khi phân liệt Nam - Bắc triều chưa kết thúc thì phân tranh Trịnh - Nguyễn đã manh nha, rồi bùng phát thành các cuộc xung đột quân sự Trong vòng
45 năm (1627 - 1672), quân Trịnh đã 6 lần chủ động tiến quân vào Đàng Trong (các năm 1627, 1633, 1643, 1648, 1661 và 1672), năm 1655 quân Nguyễn đánh ra Đàng Ngoài, cuộc chiến kéo dài 5 năm Năm 1672, hai bên tạm thời đình chiến, lấy sông Gianh làm giới tuyến, Đàng Trong - từ sông Gianh (Quảng Bình) trở vào
Trang 22Nam dưới quyền cai trị của các chúa Nguyễn, Đàng Ngoài - từ sông Gianh trở ra Bắc, dưới sự kiểm soát của chúa Trịnh
Năm 1592, Trịnh Tùng xưng vương, lập vương phủ, thể chế quyền lực vua
Lê - chúa Trịnh ở Đàng Ngoài chính thức xác lập và tồn tại gần hai thế kỷ Vua Lê chỉ còn là hư vị, chúa mới là người nắm thực quyền Ở Thăng Long, bên cạnh các
cơ quan nha môn sảnh viên và lục bộ của triều đình, dần hình thành các cơ quan, chức vị chuyên trách mới, thuộc Ngũ phủ phủ liêu Bộ máy tổ chức quan lại thời
Lê - Trịnh vì thế ngày càng cồng kềnh, nhiều cơ quan và chức vị mới ra đời bên cạnh những chức vị cũ vẫn tồn tại nhưng lại ít có nội dung hoạt động
Cũng vì vua Lê không còn nắm thực quyền nên Hoàng thành thời kỳ này hầu như không được tu bổ, xây dựng gì thêm Trong khi đó, để củng cố vị thế chính trị, khẳng định quyền lực, một quần thể kiến trúc cung điện đã dần hình thành, thường gọi là Phủ Chúa hay Vương Phủ ngoài Hoàng thành, cận kề với khu vực kinh tế - dân gian
Tình hình chính trị thời Lê trung hưng diễn biến ngày càng phức tạp, chúa Trịnh ức chế, lấn át, không ít lần lộng quyền, tự ý phế lập vua Lê: năm 1619, Trịnh Tùng giết vua Lê Kính Tông lập Lê Thần Tông; năm 1732, Trịnh Giang truất ngôi rồi sai người giết Lê Duy Phường, lập Lê Thuần Tông lên thay, năm 1769, Trịnh Sâm vì ghen ghét đố kỵ đã truất ngôi và bức hại Thái tử Duy Vĩ, lập con thứ của vua Lê Hiển Tông làm Thái tử Bản thân nội bộ họ Trịnh không êm ấm Mâu thuẫn
do việc tranh giành ảnh hưởng, chức tước, quyền lợi tác động không nhỏ đến sự yên bình đất kinh sư Năm 1623, Trịnh Xuân - con thứ của Trịnh Tùng nổi loạn, phóng lửa đốt kinh thành Trịnh Tùng phải rời phủ Chúa, đến ở làng Hoàng Mai, rồi đánh lừa giết chết Trịnh Xuân
Năm 1786, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy tiến ra Thăng Long, Quân của Trịnh Khải chống cự nhưng nhanh chóng thất bại Chính quyền chúa Trịnh tồn tại hơn 200 trên đất Thăng Long bị lật đổ Thực hiện khẩu hiệu "tôn phù", Nguyễn Huệ trao quyền lại cho vua Lê
Lê Hiển Tông (1740 - 1786) băng hà, Nguyễn Huệ lập Lê Duy Kỳ lên ngôi - tức Lê Chiêu Thống Sau khi Nguyễn Huệ về nam, Trịnh Bồng âm mưu lập lại
Trang 23ngôi chúa Tình hình Bắc Hà rối ren, Trịnh Bồng tuy bị diệt nhưng vua Lê kém tài bất lực càng khiến cho Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm cậy công lao, ỷ thế lộng hành Nguyễn Huệ lần thứ hai đưa quân ra Thăng Long, chỉnh đốn mọi việc ở Bắc
Hà, cho Ngô Văn Sở ở lại trông coi Thăng Long rồi rút quân về Phú Xuân Từ đây, Bắc Hà chính thức sáp nhập và thuộc quyền cai quản của Nguyễn Huệ
Năm 1787, trên bước đường cùng, Lê Chiêu Thống kém tài bất lực bỏ trốn sang Trung Quốc, cầu cứu nhà Mãn Thanh Nhân cơ hội này, cuối năm 1788, vua Thanh Càn Long phát 29 vạn quân binh xâm lược nước ta, tiến về hướng Thăng Long
Đầu năm 1789, Nguyễn Huệ thần tốc kéo quân ra Bắc, đại phá quân Thanh, giải phóng Thăng Long Thăng Long với cung điện đền đài qua binh lửa chiến tranh
bị tàn phá nặng nề Sau chiến thắng, triều Tây Sơn định đô ở Phú Xuân (Huế) Kinh
đô Thăng Long cũ trở thành Bắc Thành, cũng đã giảm phần nào vị thế chính trị
1.3 Các tác động kinh tế - xã hội
1.3.1 Sự hưng khởi của nền kinh tế hàng hoá và đô thị
Sự hưng khởi của nền kinh tế hàng hoá và đô thị, đặc biệt trong hai thế kỷ XVII - XVIII đã tác động mạnh mẽ đến việc tổ chức quản lý đô thị Thăng Long -
Kẻ Chợ giai đoạn này
Có nhiều nhân tố tác động, cả về chính trị, kinh tế, xã hội đưa đến sự hưng khởi của nền kinh tế hàng hoá và đô thị Ba thế kỷ XVI, XVII và XVIII, biến động chính trị nhiều và dữ dội nhưng không phải lúc nào cũng đưa đến tác động nghịch đối với sự phát triển kinh tế
Thế kỷ XVI, đóng đô ở Thăng Long nhưng triều Mạc không quan tâm nhiều đến Thăng Long Bên cạnh đó, đối với các hoạt động kinh tế, triều Mạc còn có cách nhìn tương đối cởi mở và thực dụng Do đó, đời sống kinh tế Thăng Long thời Mạc cũng có phần khởi sắc, ít có sự gò bó, câu thúc bởi các quy định như thời
Lê Sơ Thợ thủ công trong các thôn, phường có các điều kiện để có thể tự do sản xuất, trao đổi hàng hoá Đó là một nhân tố thuận lợi tạo đà cho sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá ở Thăng Long - Kẻ Chợ trong các thế kỷ sau
Trang 24Bước sang chế kỷ XVII và XVIII, thái độ của triều đình Lê - Trịnh đối với các hoạt động sản xuất, buôn bán của cư dân Thăng Long - Kẻ Chợ và các thương nhân nước ngoài trong một số thời điểm có thể có sự dao động, thiếu nhất quán, hàm chứa nhiều mâu thuẫn nhưng cơ bản vẫn là sự khoan nhượng và thoáng mở
Trên đà phát triển từ thời Mạc, Thăng Long - Kẻ Chợ thời Lê - Trịnh trở thành một đô thị có nền kinh tế hàng hoá phát triển, các quan hệ giao thương diễn
ra nhộn nhịp không chỉ với các địa phương trong nước mà còn với cả nhiều nước trong khu vực và thế giới
Bên cạnh các tác động chính trị, những chuyển biến về kinh tế - xã hội trong nước và ở Thăng Long - Kẻ Chợ thời kỳ này cũng là nhân tố không nhỏ đưa đến sự hưng khởi của nền kinh tế hàng hoá:
- Mặc dù không nhận được sự ủng hộ, thậm chí bằng nhiều biện pháp để hạn chế, cản trở từ chính quyền phong kiến, theo quy luật khách quan, quá trình phân hoá và tập trung ruộng đất vẫn diễn ra ngày càng mạnh mẽ, đưa đến những chuyển biến sâu sắc trong đời sống nông dân và xã hội nông thôn Một bộ phận nông dân không còn ruộng đất, chuyển sang làm các nghề thủ công Kinh nghiệm tích luỹ cùng với việc học tập, chuyển giao công nghệ trong nước và quốc tế đưa đến những tiến bộ nhanh chóng về kỹ thuật sản xuất, điều này càng đẩy mạnh và xúc tiến các hoạt động thủ công nghiệp phát triển
- Sự thay đổi và tăng lên về số lượng, quy mô của bộ máy quan liêu cai trị tại kinh thành, cùng với đó là nhu cầu kiến thiết cung điện, dinh thự cùng các sinh hoạt xa xỉ của đông đảo tầng lớp quý tộc, quan lại; nhu cầu buôn bán, tiêu dùng các sản phẩm hàng hoá của bộ phận thị dân đang phát triển mạnh mẽ về số lượng, tất cả tạo nên sức thu hút/nhu cầu tập trung một lượng lớn thợ thủ công tại kinh thành Những người thợ này đến từ nhiều làng chuyên nghề khác nhau, mang theo nguồn vốn, nhân lực, kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất Bản thân quá trình này cũng
là một yếu tố kích thích nền kinh tế hàng hoá Thăng Long - Kẻ Chợ và các vùng ven phát triển, từ khâu sản xuất cho đến các hoạt động trao đổi, buôn bán các sản phẩm nông nghiệp và thủ công nghiệp
Trên bình diện quốc tế, hai thế kỷ XVI và XVII được coi là “kỷ nguyên thương mại” Sau những phát kiến địa lý của châu Âu, các luồng giao thương Tây -
Trang 25Đông và hệ thống mậu dịch châu Á dần hình thành, chủ yếu bao gồm hai tuyến giao thương quốc tế ở Biển Đông Thăng Long - Kẻ Chợ với ưu thế của một đô thị lớn nhất nước, hoạt động kinh tế nhộn nhịp, giao thông thuỷ thuận tiện, hội tụ nhiều thế mạnh trong việc thiết lập các mối quan hệ buôn bán với phương Tây, cũng như duy trì và mở rộng, phát triển các quan hệ buôn bán sẵn có với nước châu Á Đây là nhân tố ngoại sinh quan trọng, tác động mạnh mẽ tới sự phát triển
và hưng thịnh của nền kinh tế hàng hoá Thăng Long - Kẻ Chợ trong các thế kỷ XVI, XVII và XVIII
Dưới tác động của những nhân tố trên đây, diện mạo bức tranh kinh tế Thăng Long - Kẻ Chợ với sự hưng khởi của nền kinh tế hàng hoá được biểu hiện trước hết chính ở khâu sản xuất hàng hoá, chủ yếu tập trung ở sự phát triển đa dạng các ngành nghề thủ công nghiệp dân gian Bên cạnh các làng nghề thủ công nghiệp kết hợp với nông nghiệp và các hoạt động kinh tế khác, xuất hiện hàng loạt các phường nghề, làng nghề chuyên nghiệp, tập trung ở tứ trấn, vùng ven đô và ngay tại các phường thôn trong kinh thành
Các làng nghề, cụm làng nghề nổi tiếng tại tứ trấn như: làng nhuộm Đan Loan (Hải Dương); cụm 3 làng Chắm: Văn Lâm, Phong Lâm, Trúc Lâm ở Hưng Yên làm nghề thuộc da; cụm các làng Đề Cầu, Đại Bái ở Bắc Ninh làm nghề đúc đồng; cụm làng nghề dệt vùng La (La Phù, La Khê, La Cả - Hà Tây); các làng nghề tiện, sơn (ở Thường Tín - Hà Tây), làng gốm Bát Tràng (Bắc Ninh) Các làng nghề, cụm làng nghề, phường nghề vùng ven đô chuyên một số mặt hàng thủ công với quy trình sản xuất phức tạp như: dệt (Trích Sài, Bái Ân, Trúc Bạch, Nghi Tàm), làm giấy (Yên Thái, Hồ Khẩu, Nghĩa Đô) ven Hồ Tây, đúc đồng Ngũ Xã Trong khi đó, bản thân sự phát triển của kinh thành đã tạo ra lực hút những người thợ thủ công làng xã di cư ra Kẻ Chợ vừa sản xuất, vừa buôn bán, hình thành nhiều phường chuyên nghề, các phố chuyên mặt hàng về nhuộm, thuộc da, tiện, sơn, đúc bạc trong kinh thành
Hoạt động buôn bán trao đổi hàng hoá tại Thăng Long - Kẻ Chợ được thực hiện chủ yếu thông qua mạng lưới chợ và các cửa hàng với một đội ngũ các thợ thủ công - thương nhân đông đảo
Trang 26Cư trú trong mỗi phường thường là những cộng đồng dân cư cùng làm một nghề, cùng quê quán Các cửa hàng buôn bán vì thế cũng thường được mở tại những phường chuyên nghề, chuyên mặt hàng này Từ thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã
viết trong Dư địa chí: “Phường Tàng Kiếm làm kiệu, áo giáp, đồ đài, mâm võng,
gấm trừu và dù lọng Phường Hàng Đào nhuộm làm điều Phường Tả Nhất làm quạt phường Đường Nhân bán áo diệp y” [33, 26]
Năm 1666, khi đến Kẻ Chợ, Marini đã nhận xét như sau: “Người ta đếm được ở đây 72 phường (Thăng Long có 36 phường, mỗi phường chính lại chia thành 2 phường tả hữu) Mỗi phường rộng bằng một thành phố trung bình ở nước Ý(!), 72 phường này đầy thợ thủ công và thương nhân Để tránh sự nhầm lẫn có thể xảy ra và để khỏi mất thời giờ đi tìm thứ hàng người ta cần mua, ở lối cổng vào mỗi phường, có một tấm bảng đề, hoặc một tấm biển ghi rõ loại hàng và chất lượng hàng được bán ở đó Với kiểu cách đó dù là người lạ, ta cũng khó có thể nhầm lẫn được, về cả giá cả lẫn phẩm chất của hàng hoá” [45, 111] Baron giải thích rõ hơn: “Tất cả những vật phẩm khác nhau bán trong thành phố này đều được dành riêng cho từng phường và mỗi phường đó lại phụ thuộc vào một hay hai nhiều làng; và dân chúng các làng xã này được đặc quyền giữ các cửa hiệu ở đây” [39, 12]
Với sự phát triển của các hoạt động sản xuất, buôn bán, ngoài các cửa hàng, ngay từ thế kỷ XVII, mạng lưới chợ ở Thăng Long đã rất phát triển Mật độ các chợ tại Kẻ Chợ nhiều hơn bất cứ các địa phương nơi khác, đặc biệt là tại khu buôn bán phía đông Nhận xét về chợ ở Thăng Long thời kỳ này, Carreni còn cho rằng:
“Ở Kẻ Chợ có rất nhiều chợ đẹp” [42, 315]
Ở tất cả những địa điểm thuận lợi trong kinh thành (các nơi công cộng, thuận tiện giao thông, những nơi có người qua lại) đều có thể trở thành chợ Tuy nhiên, các cửa ô, cửa thành và bờ sông là những địa điểm được chọn để họp chợ nhiều hơn cả Điều này khiến cho kinh thành trở thành một cái chợ khổng lồ, với mạng lưới chợ lớn nhỏ khác nhau
Bên cạnh những chợ họp hàng ngày, Thăng Long - Kẻ Chợ còn có các chợ
họp theo chu kỳ, đó là hình thức chợ phiên Trong Hồng Đức thiện chính thư, việc
họp chợ xen kẽ và luân phiên đã được nhắc đến, tuy không ghi rõ thời gian cách
Trang 27nhau cụ thể giữa hai phiên chợ là bao lâu Bởi có nhiều cách thức họp chợ như vậy nên khi đến Kẻ Chợ, ghi chép của các tác giả phương Tây không giống nhau W.Dampier cho rằng: “Ở Kẻ Chợ, chợ họp trong tất cả mọi ngày” Còn A.de Rhodes, Marini cho biết: “Ở Kẻ Chợ, chợ mỗi tháng họp hai lần” (ngày rằm và mồng một âm lịch, có thể hiểu đó là phiên chính) [38, 108], [45, 109] Phạm Đình
Hổ trong Vũ trung tuỳ bút thì ghi rằng ở kinh kỳ “Phiên chợ là các ngày 1, 6, 11,
14, 15, 21, 26, 30"
Trong những ngày phiên chợ, các phường phố càng tấp nập hơn S.Baron
mô tả: “Cứ đến ngày phiên chính của chợ, dân chúng từ các làng mạc lân cận đổ
xô về, đem theo hàng hoá, đông không tưởng tượng được Nhiều phố vốn rộng rãi quang đãng mà khi ấy cũng chật ních người, đôi khi lách chân vào trong đám đông, chỉ bước dần được từng trăm bước nửa giờ cũng thấy sung sướng lắm rồi” [39, 12] Các mặt hàng buôn bán, trao đổi ở đây hết sức phong phú, từ các loại nông sản, các mặt hàng thủ công
Thời kỳ này, các hoạt động giao thương, buôn bán giữa Thăng Long - Kẻ Chợ với các địa phương khác trong nước và nước ngoài cũng rất phát triển Nhờ
ưu thế của hệ thống giao thông thuỷ, thuyền buôn từ các vùng Thượng du, đồng bằng Bắc Bộ, vùng Thanh Nghệ và thuyền buôn ngoại quốc tập trung rất đông tại kinh thành, nhất là ở đoạn sông sông Nhị (sông Hồng) và cửa sông Tô Lịch gần khu buôn bán phía đông Chính nhờ các tuyến buôn bán liên vùng và đường dài này đã tạo nên sự gắn kết kinh tế ngày càng chặt chẽ giữa Thăng Long với các địa phương Marini nhận định: “(Kẻ Chợ) nằm ngay bên bờ một con sông lớn bắt nguồn từ Trung Quốc, sau một khúc ngoặt rộng Việc buôn bán ở đây rất thuận tiện, cũng như thuyền bè thường xuyên đi lại được trên sông Ngoài ra, sông còn toả ra khắp nơi bằng hệ thống kênh đào (Tô Lịch - Kim Ngưu) được nối liền với các con sông khác, làm người ta có thể dễ dàng mang mọi thứ hàng hoá từ các trấn ngoài đến buôn bán ở kinh thành” [45, 110]
Nhờ sự thuận tiện trong giao thông này, Thăng Long trở thành một địa điểm tập kết, trung chuyển hàng hoá lớn của các vùng miền giao thương với Kẻ Chợ Giáo sĩ Richard ở thế kỷ XVIII đã rất ấn tượng về cảnh buôn bán sầm uất tại bến sông Hồng: “Số lượng thuyền bè lớn lắm, đến nỗi rất khó mà lội được xuống bờ
Trang 28sông; những sông, những bến buôn bán sầm uất nhất của chúng ta (châu Âu), ngay thành phố Venise nữa với tất cả những thuyền lớn thuyền nhỏ của nó cũng không thể đem đến cho người ta được một ý niệm về sự hoạt động buôn bán và dân số trên sông Kẻ Chợ” [48, 714]
Là một thành thị lớn, kinh đô của cả nước, từ lâu Thăng Long - Kẻ Chợ đã
có những quan hệ kinh tế với người nước ngoài, tuy nhiên, phần nhiều trong số họ
là người châu Á (Trung Hoa, Nhật Bản, Xiêm, Ấn Độ ) Chỉ sau những phát kiến địa lý của phương Tây cùng sự hình thành những luồng giao lưu buôn bán quốc tế, tạo nên “thời kỳ thương mại biển Đông”, bắt đầu từ thế kỷ XVI, đặc biệt là thế kỷ XVII, Thăng Long mới có những người phương Tây đến buôn bán, chủ yếu là người Hà Lan, Bồ Đào Nha, Anh, Tây Ban Nha, Pháp Thế kỷ XVI, thương điếm của các Công ty thương mại Hà Lan và Anh đã được lập bên bờ sông Hồng
Sự phát triển của kinh tế hàng hoá và các hoạt động thương mại là tiền đề, tác nhân quan trọng đưa đến sự phồn thịnh của các đô thị Nổi bật và đứng đầu ở Đàng Ngoài giai đoạn này chính là Thăng Long - Kẻ Chợ Bên cạnh khu vực hành chính - quan liêu (thành), khu vực kinh tế - dân gian (thị) được mở rộng với các hoạt động sản xuất, buôn bán nhộn nhịp
1.3.2 Tác động xã hội
Ngay từ cuối thế kỷ XV, chế độ quân điền của triều Lê Sơ dần mất tác dụng, quá trình tư hữu ruộng đất bắt đầu có những bước phát triển mạnh mẽ Hiện tượng nông dân cầm cố, bán hoặc bị chấp chiếm ruộng đất, ruộng thế nghiệp biến thành ruộng tư diễn ra ngày càng phổ biến đưa đến sự mở rộng không ngừng của ruộng đất tư hữu Bằng nhiều biện pháp, từ hạn chế, kiểm soát quá trình tư hữu (ban hành phép quân điền năm 1711, tuy nhiên, hiệu quả không đạt như mong muốn), nhà nước Lê - Trịnh buộc phải thừa nhận tính pháp lý của chế độ tư hữu ruộng đất (quy định thủ tục mua bán, làm văn tự về ruộng đất, đánh thuế ruộng tư (1722), cho phép ruộng tư của địa chủ được đem phát canh thu tô cho tầng lớp tá điền )
Ruộng đất tư hữu phát triển đã tác động, đưa đến những chuyển biến trong đời sống kinh tế - xã hội nông thôn đồng bằng Bắc Bộ và các vùng phụ cận của kinh thành Thăng Long Trong hoàn cảnh đó, một bộ phận cư dân nông nghiệp đã
Trang 29chuyển sang làm các nghề thủ công Kẻ Chợ với các hoạt động buôn bán, trao đổi tấp nập, phồn thịnh tạo ra một lực hút lớn, những điều kiện và cơ hội, do đó, một
bộ phận thợ thủ công đông đảo từ các làng nghề thuộc tứ trấn đã di cư, mang theo kinh nghiệm, kỹ thuật ra Kẻ Chợ làm trong các quan xưởng của nhà nước hoặc hành nghề tự do Lúc đầu có thể chỉ một người thợ đến tạm trú tại một phường Sau đó các thành viên trong gia đình, rồi họ hàng làng xóm lên theo, chuyển thành dân định cư Đó là trường hợp của những người thợ nhuộm làng Đan Loan (Bình Giang, Hải Dương) di cư ra phố Hàng Đào, thợ đúc bạc làng Trâu Khê (Trâu Khê, Hải Dương) ra phố Hàng Bạc Những người thợ thủ công làng xã trở thành những chủ hiệu và thợ thủ công thành thị
Bên cạnh bộ phận thợ thủ công và thương nhân là những nông dân phiêu tán, lưu lạc đến kinh thành, mong thoát khỏi ách sưu thuế, lao dịch nặng nề ở địa phương Với vai trò là trung tâm chính trị - hành chính, văn hoá, giáo dục của đất nước, Thăng Long tiếp tục tạo ra sự thu hút nhiều thành phần cư dân khác của xã hội, tập trung về với nhiều mục đích khác nhau (quan lại, nho sinh, thầy thuốc, nhà truyền giáo ) đến làm quan, học tập, ứng thí tạo ra sự bùng nổ dân số tại kinh thành Các du khách phương Tây ước đoán dân số Kẻ Chợ thời kỳ này có thể lên
đến "một triệu người" [38, 109], khoảng 20.000 nóc nhà [49, 64]
Việc tiếp nhận các luồng nhập cư về Kẻ Chợ đã tạo nên một diện mạo mới cho Thăng Long - Kẻ Chợ, lúc này đã trở thành một thành phố với khối cư dân đô thị đông đảo Giống như kết cấu kinh tế, kết cấu cư dân Thăng Long - Kẻ Chợ thế
kỷ XVI, XVII và XVIII là một kết cấu đa thành phần, hội tụ trong đó đầy đủ các tầng lớp thuộc đủ các giai tầng xã hội
Tuy nhiên, do những biến động về chính trị, xã hội, bước sang thế kỷ XVIII,
sự phồn thịnh của Thăng Long - Kẻ Chợ bắt đầu có những dấu hiệu suy giảm Bộ máy hành chính các cấp, quan lại tha hoá, đời sống của các tầng lớp cư dân, nhất là nông dân ngày càng khó khăn Tình trạng mất mùa, hạn hán xảy ra ngày một thường xuyên Chỉ trong vòng hơn mười năm đầu thế kỷ XVIII, thiên tai dồn dập tàn phá, là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ các phong trào đấu tranh phản kháng Khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi: khởi nghĩa của Nguyễn Dương Hưng, Nguyễn Tuyển, Nguyễn Cừ, Nguyễn Diên, Vũ Trác Oánh, Hoàng
Trang 30Công Chất, Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương, Vũ Đình Dung, Đoàn Danh Chấn, Tú Cao, Toản Cơ Những cuộc khởi nghĩa nông dân này ngày càng lan rộng, kinh thành Thăng Long - nơi tập trung các cơ quan đầu não của bộ máy quan liêu - càng trở nên bất ổn
Không chỉ có vậy, Thăng Long còn nhiều phen chao đảo bởi các cuộc chính biến và sự hoành hành ngang ngược do binh lính kinh thành gây ra, đỉnh điểm là nạn kiêu binh ở nửa sau thế kỷ XVIII
Năm 1741, quân lính nổi lên phá nhà và truy sát, buộc Tham tụng Nguyễn Quý Cảnh phải chạy trốn Năm 1782, phản đối việc lập Trịnh Cán - con thứ của chúa Trịnh Sâm còn nhỏ tuổi làm chúa, quân lính kinh thành nổi lên giết Hoàng Đình Bảo - một đại thần đầy quyền lực ở phủ Chúa rồi tới nhà giam, đón con trưởng là Trịnh Khải đưa lên ngôi chúa
Đầu năm 1784, vì việc xử chém 4 người lính can tội ức hiếp một thương nhân, kiêu binh đã kéo đến vây ba nhà viên quan gồm Thượng thư Bộ Lại Nguyễn
Lệ, Quyền phủ sự Dương Khuông và Đội trưởng Nguyễn Triêm đòi bắt giết để trả thù Nguyễn Lệ phải cải trang trốn lên Sơn Tây Dương Khuông và Nguyễn Triêm chạy trốn cả vào phủ Chúa Quân lính phá tan nhà của Dương Khuông, Nguyễn Lệ rồi mang khí giới xông thẳng vào phủ Chúa lùng bắt Chúa Trịnh Khải phải đem một nghìn lạng bạc và ba vạn quan tiền ra chuộc tính mạng cho Dương Khuông, còn Nguyễn Triêm đành đưa ra cho quân lính đánh chết Kiêu binh còn bắt Trịnh Khải bãi chức Nguyễn Lệ và Dương Khuông Từ đây, quyền bính của triều đình và phủ chúa, mọi việc từ thay đổi cắt đặt quan lại, tướng tá đều phải làm theo ý của binh lính
Trang 31Tiểu kết
01 Vị trí, địa thế và các tác động tự nhiên khác vừa là nhân tố ban đầu thúc đẩy, vừa là nhân tố tác động hằng xuyên tới quá trình quản lý, diện mạo và quy hoạch đô thị Thăng Long
Với ưu thế của hệ thống sông - hồ dày đặc, bản thân việc hoạch định, bố trí không gian trong kinh thành cũng đã thể hiện sự tận dụng, nương theo địa thế sông, hồ Sông, hồ vừa hệ thống hào tự nhiên bảo vệ kinh thành, là nơi luyện tập thuỷ quân, vừa trở thành mạng lưới giao thông nội thị
Nhân tố tự nhiên tác động đến vấn đề tổ chức và quản lý kinh thành không chỉ theo chiều thuận Sử chép động đất nhiều lần tại Thăng Long khiến các kiến trúc nhà cửa, cung điện hư hỏng Đối với vấn đề trị thuỷ, việc đắp và quản lý đê điều bảo vệ kinh thành được chính quyền phong kiến đặt ra từ sớm (đê Cơ Xá đắp năm 1108) Tuy nhiên, quản lý và bảo vệ đê điều kém hiệu quả chính là một trong các nguyên nhân của tình trạng vỡ đê, trực tiếp hoặc gián tiếp đe doạ cuộc sống và các hoạt động diễn ra tại kinh thành, từ sản xuất, giao thương buôn bán đến an ninh trật tự
02 Ba thế kỷ XVI, XVII, XVIII là giai đoạn diễn ra nhiều biến động chính trị Sự thay thế các vương triều, xung đột giữa các tập đoàn phong kiến đã chi phối đến nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội tại kinh thành
Do nhu cầu quân sự, thành Đại La được củng cố, mở rộng dưới thời Mạc, năm 1592 bị quân Trịnh phá huỷ Hơn một thế kỷ sau đó, Thăng Long không có thành Đại La, việc quản lý dân cư, tuần phòng an ninh trong kinh thành khó có khả năng kiểm soát chặt chẽ Năm 1749 thành Đại La được đắp lại nhưng đã bị thu hẹp rất nhiều, đẩy ra ngoài thành một phần đất rộng lớn ở phía Tây và phía Bắc thuộc huyện Quảng Đức
Thời Lê - Trịnh, bên cạnh triều đình, sự xuất hiện của hệ thống Ngũ phủ phủ liêu khiến cho số lượng quan lại ở kinh thành tăng lên Bên cạnh đó, để kịp thời ứng phó đối với các hành động quân sự, Thăng Long giai đoạn này luôn thường trực một lượng đông đảo binh lính Quản lý các đối tượng này ở kinh thành càng trở nên phức tạp khi đây là những thành phần nhận được nhiều đặc quyền ưu đãi từ triều đình và Phủ Chúa
Trang 32Cuối thế kỷ XVIII, từ vị trí kinh đô, trung tâm chính trị - hành chính đất nước, Thăng Long trở thành lị sở Bắc Thành, cơ cấu đơn vị hành chính các cấp, tổ chức bộ máy chính quyền và các hoạt động quản lý đô thị do đó cũng chịu tác động
03 Sự hưng khởi của nền kinh tế hàng hoá, mở rộng quan hệ giao lưu kinh
tế trong nước và quốc tế cùng những tác động xã hội khác đưa Thăng Long - Kẻ Chợ giai đoạn này phát triển thành một đô thị phồn thịnh Sự có mặt đông đảo của tầng lớp thợ thủ công, thương nhân (người Việt, Hoa kiều, phương Tây ) đã có những tác động sâu sắc đến các biện pháp, chính sách tổ chức và quản lý kinh thành của chính quyền phong kiến Nhiều chính sách cùng biện pháp thể hiện tính tích cực, nhưng cũng có chính sách tiêu cực, đi ngược lại xu hướng, tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội Thăng Long - Kẻ Chợ
Trang 33CHƯƠNG 2
CÁC THIẾT CHẾ QUẢN LÝ ĐÔ THỊ THĂNG LONG
THẾ KỶ XVI - XVIII
2.1 Thành Thăng Long thế kỷ XVI - XVIII
Với vai trò trung tâm chính trị - hành chính đất nước, những biến động về chính trị, kinh tế, xã hội, sự hưng vong của mỗi vương triều phong kiến Lê Sơ, Mạc, Lê Trung hưng và Tây Sơn đều tác động, đưa đến sự thay đổi về quy mô, diện mạo đô thị Thăng Long - Kẻ Chợ
Phía Bắc và phía Tây là Hoàng thành: khu chính trị - hành chính Quy hoạch, bố trí các công trình kiến trúc trong Hoàng thành qua nhiều thế kỷ được sắp đặt kỹ lưỡng, theo những tiêu chuẩn về chính trị và quan niệm đạo đức lễ nghi Nho giáo
Phía Đông và phía Nam là khu phố phường dân gian Đây là nơi diễn ra các hoạt động sản xuất, kinh doanh Khu kinh tế - dân gian này phát triển một cách tự phát, ít có sự can thiệp của Nhà nước, chỉ được bố trí và điều chỉnh một cách tự nhiên theo những chức năng kinh tế - xã hội
Đầu thế kỷ XVII, phủ Chúa Trịnh bắt đầu được xây dựng bên ngoài Hoàng thành, sát với khu phố phường dân gian
2.1.1 Hệ thống thành luỹ
Năm 1587 - 1588, đề phòng quân Trịnh tấn công, Mạc Mậu Hợp cho mở
rộng thành Đại La Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tháng giêng [1587], họ Mạc sai
sửa chữa tầng ngoài thành Thăng Long ”, “Tháng hai [1788] hạ lệnh cho quân dân các huyện trong bốn trấn đắp thêm ba lớp luỹ ngoài thành Đại La ở Thăng Long, bắt đầu từ phường Nhật Chiêu, vượt qua Hồ Tây, qua cầu Dừa đến cầu Dền suốt đến Thanh Trì, giáp phía tây bắc sông Nhị Hà, cao hơn thành Thăng Long đến vài trượng, rộng 25 trượng, đào ba lớp hào, đều trồng tre, dài tới mấy mươi dặm để bọc lấy phía ngoài thành” [25, 164]
Như vậy thành Đại La thời Mạc có chu vi rất rộng Các tác giả Phan Huy
Lê, Nguyễn Thừa Hỷ khi xác định phạm vi “ba lớp luỹ ngoài thành Đại La” đều
Trang 34cho rằng dấu tích nay chính là con đường đê đi từ Nhật Tân, qua Bưởi, ô Cầu Giấy, vòng qua đường La Thành, ô Chợ Dừa, Kim Liên, đường Đại Cồ Việt, ô Cầu Dền, theo đường Trần Khát Chân qua ô Đông Mác, ra tới tận phố Lãng Yên giáp đê sông Hồng [73, 22], [116, 121]
Năm 1592, khi Trịnh Tùng ra Thăng Long diệt Mạc đã cho san phẳng ba lớp luỹ ngoài thành Đại La do Mạc Mậu Hợp đắp: “Ngày 15 [tháng 1 năm 1592], hạ lệnh cho các quân san phẳng luỹ đất đắp thành Đại La dài đến mấy nghìn trượng Đây là mưu của Nguyễn Quyện để làm kế hoãn binh cho họ Mạc” [24, 173] Từ đó đến năm 1749, suốt hơn 150 năm, Hoàng thành Thăng Long không có lớp thành luỹ ngoài bao quanh
Năm 1749, khi Đàng Ngoài nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân, Trịnh Doanh đã lệnh cho dân phu các huyện chung quanh kinh kỳ “nhân vào thành Đại
La cũ” mà sửa đắp thành mới, tức Thành Đại Đô Thành Đại Đô mở 8 cửa, mỗi cửa gồm hai ô tả hữu (tức 16 cửa ô)
Ban đêm các cửa ô đều được đóng chặt, có binh lính canh gác cẩn mật, chỉ
đến sáng mới cho dân chúng qua lại Lê Hữu Trác thuật lại trong Ký sự lên Kinh:
“Ngày 10 tháng 9, nhân trời sáng trăng khởi hành rất sớm Khi đi tới cửa ô Ông Mạc (tức là ô Đống Mác hay ô Thanh Lãng) mà cửa thành vẫn chưa mở Quan quân canh gác cửa ô thấy có thẻ “hành quân phù” bèn mở cửa cho đi Đến bến đò Thanh Trì trời mới sáng” [32, 14]
Hệ thống thành luỹ đắp năm 1749 tồn tại cho đến thế kỷ XIX: “Nay phía ngoài tỉnh thành (Hà Nội) có luỹ tre bao bọc bốn mặt, hai bên huyện Thọ Xương
và Vĩnh Thuận có 12 cửa ô là xây đắp vào năm Kỷ Tỵ Cảnh Hưng thứ 11 (1749), không phải là dấu cũ thành Đại La của Cao Biền” [28, 193] Bản đồ Hà Nội 1831 của Lê Đức Lộc và Nguyễn Công Tiến cùng một số bản đồ sau này vẫn thể hiện hệ thống thành luỹ đó
Tuy nhiên, thành Đại Đô đắp năm 1749 đã thu hẹp nhiều so với thành Đại
La thời Mạc, chỉ có ba mặt (bắc, đông, nam) là dựa vào nền thành cũ, mặt phía tây
có thể là đắp lại, lấy đỉnh là ô Yên Hoa (Yên Phụ) qua đường Thanh Niên, Hoàng Hoa Thám hiện nay đến Bưởi chứ không phải là Nhật Chiêu (Nhật Tân) như thời Mạc Thành Đại La mới này để thoát ra ngoài những vùng rộng lớn như Hồ Tây,
Trang 35khu Thập Tam trại phía Tây vốn là đất trong Hoàng thành (đến thời Nguyễn thuộc tổng Nội, huyện Vĩnh Thuận) Riêng mặt đông, tuy sử cũ không chép rõ nhưng căn
cứ vào và con đê bao phía đông kinh thành và vị trí các cửa ô tồn tại đến cuối thế
kỷ XIX để có thể đoán định Theo đó, con đê - dấu vết thành Đại La cũ - chạy dọc
từ Yên Phụ theo các đường, phố Nguyễn Hữu Huân, Lý Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Hàng Chuối đến khoảng ô Đông Mác, nối tiếp vào đoạn thành Đại La ở phía nam
Trong lần lên Thăng Long năm 1782 - 1783, Lê Hữu Trác đã miêu tả khá cụ thể một đoạn thành Đại Đô ở cửa Vũ Quan (khu vực ô Chợ Dừa): “Nhìn thấy một cái thành đất không cao lắm Bên cạnh là một cái tường nhỏ, trên mặt là đường xe ngựa đi, ở mé ngoài có hàng rào tre kín mít Dưới chân tường là hào sâu, trong hào thả chông, xem ra rất kiên cố Thành có 3 vọng canh, nơi nào cũng có lính sắp hàng, gươm, súng sáng quắc” [32, 30]
Như vậy, từ thế kỷ XVI, trải qua triều Mạc và Lê Trung hưng, thành Đại La
có nhiều biến đổi Nó được Mạc Mậu Hợp cho mở rộng vào cuối thế kỷ XVI, ít được chú ý trong suốt một thế kỷ rưỡi Đến giữa thế kỷ XVIII thành Đại La được củng cố nhưng phạm vi đã thu hẹp rất nhiều
2.1.2 Khu vực chính trị - hành chính
Đây là nơi có các cung điện của vua và hoàng gia, khu dinh thự, nha môn của triều đình Thời Mạc và Lê - Trịnh, bên cạnh Hoàng thành còn có thêm Phủ chúa, là điểm khác biệt của Thăng Long với các triều đại trước và sau đó
Trong Quốc triều hình luật, việc bảo vệ Hoàng thành được quy định chặt
chẽ và nhắc nhiều lần trong các điều 51, 52, 53, 56, 62, 81, 82, 91, 92, 94 và 96 [27, 50 - 64]
Năm 1516, Hoàng thành được mở rộng về phía tây nam, sử chép: “Vua thích làm nhiều công trình thổ mộc, đắp thành rộng lớn mấy nghìn trượng, bao quanh điện Tường Quang, quán Chân Vũ, chùa Thiên Hoa ở phường Kim Cổ, từ phía đông đến phía tây bắc, chắn ngang sông Tô Lịch, trên đắp Hoàng thành, dưới làm cửa cống, dùng ngói vỡ và đất đá nện xuống, lấy đá phiến và gạch vuông xây lên, lấy sắt xuyên ngang” [25, 74] Diện tích Hoàng thành lúc này có thể xem là lớn nhất so với các thời kỳ trước và sau đó
Trang 36Thời Mạc, quy mô Hoàng thành hầu như không thay đổi, theo quy mô của Hoàng thành Thăng Long thời Lê Sơ
Dựa theo các tấm bản đồ Hồng Đức, Hoàng thành thời Lê Sơ có hình thước thợ, mở các Đại Hưng ở phía Nam (tên gọi có từ thời Lý); cửa Đông Hoa ở phía Đông (thông trực tiếp ra khu dân cư buôn bán, có thể vào quãng phố Hàng Đường hiện nay); cửa Bảo Khánh ở phía tây nam (nay ở vào quãng đường Đê La thành, bản đồ Hà Nội năm 1831 là Chuôi Vồ - Cổng Lấp, nhiều khả năng đó chính là cửa Bảo Khánh của Hoàng thành Thăng Long thời Lê) Ngoài ra, sử liệu còn ghi có các
cửa Tây, cửa Bắc Thần Hình luật chí trong Lịch triều hiến chương loại chí của
Phan Huy Chú lại chép bốn cửa Hoàng Thành có tên Đông Hoa, Đại Hưng, Bắc Thần và Thiên Hựu
Đại Việt địa dư toàn biên có đoạn mô tả khá rõ về Hoàng thành đời Lê:
“Căn cứ vào bản đồ thành Thăng Long thời Hồng Đức thì thành này hình như thước thợ mộc Ba mặt đông, nam, bắc vuông vắn, mặt tây và nam dài bằng một nửa Đông Môn bắt đầu từ thôn Đức Môn (trước là thôn Đông Môn) tổng Đồng Xuân, theo hướng bắc đến sông Tô Lịch, theo bờ bên tả qua Bắc Môn về phía tây đến phường Nhật Chiêu, theo về phía nam là cửa Bảo Khánh, đến trước bên hữu Văn Miếu, lại qua phía tả là Nam Môn, đi thẳng về phía đông Đấy là dấu cũ thành Thăng Long” [31, 178]
Như vậy, Hoàng thành thời Lê Sơ có một thay đổi quan trọng là mở rộng sang phía tây nam, mặt bắc và mặt tây dọc theo bờ sông Tô Lịch, đến khoảng Cầu Giấy thì rẽ sang phía đông theo theo đường La Thành rồi đường Giảng Võ đến quãng Kim Mã nối với đường thành phía nam qua cửa Đại Hưng Cả khu Giảng
Võ - Ngọc Khánh được đưa vào phạm vi Hoàng thành
Trong Hoàng thành, công sở, sảnh đường, nha môn nơi làm việc của vua
và quan lại cao cấp triều đình tập trung ở phía đông Gần đây, phát hiện khảo cổ học tại 18 Hoàng Diệu đã chứng minh trung tâm của Cấm thành và Hoàng thành nằm trên cùng một vị trí và ở phía đông Hoàng thành (khu trung tâm chính trị Ba Đình hiện nay)
Trang 37Phía tây trong Hoàng thành - tức khu vực Khán Sơn - Ngọc Hà được qui hoạch thành nơi giảng dạy và luyện tập võ nghệ Năm 1664, chúa Trịnh cho mở tại khu Giảng Võ này Trường thi Hội
Khác với hình dáng của Hoàng thành, Cấm thành hình chữ nhật, chính giữa
có điện Kính Thiên - nơi vua Lê thiết triều, hội họp với các đại thần Phía trước điện Kính Thiên là điện Thị Triều Bên phải điện Kính Thiên là điện Chí Kính,
phía nam bên trái là điện Vạn Thọ Phan Huy Chú trong Hình luật chí cho biết ra
vào Cấm thành có nhiều cửa Cửa chính nhìn về hướng nam có tên là Đoan Môn (có khi còn gọi là Đoan Minh, Ngũ Môn), hai bên là hai cổng Đông Tràng An và Tây Tràng An, ngoài ra còn có các cửa Hữu Dực, Tường Huy, Đại Định, Tường Lạc, Đại Khánh, Kiến Bình, Huyền Vũ [6, 317] Phía đông Cấm thành có Đông cung dành cho các hoàng tử và nhà Thái miếu là nơi thờ cúng tổ tiên của nhà vua
Đó là diện mạo của Hoàng thành và Cấm thành thời Lê Sơ, qua triều Mạc,
Lê Trung hưng ít nhiều đều có sự thay đổi
Cuối thế kỷ XVI, cuộc chiến Nam - Bắc triều tàn phá nặng nề kinh thành Bởi vậy, trước khi đón Lê Thế Tông về Thăng Long, Trịnh Tùng đã làm hành tại ở phía tây nam kinh thành Sử cũng chép, chúa Trịnh cho sửa chữa Hoàng thành và xây dựng lại các cung điện: điện Tây Kinh (1595), Thái miếu (1596), làm 3 toà cung điện và 16 gian hành lang (1630) Tuy nhiên, thực quyền lúc này không nằm trong tay vua Lê nên việc sửa chữa Hoàng thành không được chú ý nhiều và cũng chỉ được tiến hành ở Cấm thành cùng một số cung điện phía đông Phần đất rộng lớn phía tây Hoàng thành không được quan tâm, ngày càng trở nên sa sút Cuối thế
kỷ XVIII, khi Tây Sơn ra Bắc thì Hoàng thành đã bị sạt lở nhiều, chỉ còn lại hai cửa Đại Hưng và Đông Hoa
Mặc dù vậy, quy mô, vẻ đẹp của Hoàng thành Thăng Long với cung điện, đài các vẫn khiến cho các giáo sĩ, thương nhân phương Tây đến Thăng Long hết sức trầm trồ, thán phục Samuel Baron ghi nhận trong du ký năm 1680: “Những vết tích còn lại của 3 lần luỹ của kinh thành cũ và của Hoàng thành xưa kia cho chúng ta một ý niệm lớn về quy mô của nó lúc còn đương thời vàng son Riêng
Hoàng thành trước đây đã chiếm một diện tích có chu vi khoảng 6 hay 7 dặm” [39,
659] W.Dampier khi đến Thăng Long năm 1688 đã mô tả về Hoàng thành thời Lê
Trang 38- Trịnh: “ Có rất nhiều cổng nhỏ để ra vào cung điện nhà vua, nhưng cổng chính (cửa Đại Hưng - NNP) thì quay về phía thành phố Có một vài chỗ tường thành
đã bị sụt lở” [49, 66] Những điều mà Baron và W.Dampier mô tả nói lên vẻ đồ sộ vốn có của Hoàng thành, cũng như phản ánh tình trạng xuống cấp, ít được quan tâm tu bổ đối với những cung điện của vua Lê
Ngược lại với vẻ suy tàn Hoàng thành, công cuộc kiến thiết quy mô mà các chúa Trịnh tập trung xây dựng là quần thể kiến trúc phủ Chúa nguy nga đồ sộ ngoài Hoàng thành
Lúc đầu, phủ chúa Trịnh nhiều khả năng ở vào quãng phía tây nam hồ Tả Vọng (hồ Hoàn Kiếm) Trong lần ra Thăng Long, Lê Hữu Trác mô tả phủ Chúa:
“qua cửa Đại Hưng rồi rẽ theo lối bên phải, đi chừng nửa dặm thì tới dinh quan Chánh đường” (tức dinh Hoàng Đình Bảo ở cạnh phủ chúa Trịnh) [32, 31] Về sau, chúa Trịnh cho xây dựng thêm nhiều cung điện lớn, tổng cộng có tới 52 toà, quy
mô phát triển dần sang phía đông và phía đông nam cho tới sát tận bờ sông Hồng Cùng với cung điện là các ao cảnh, nguyệt đài, thuỷ tạ, vọng đình, lầu gác, một số công trình quân sự ven sông Hồng như chuồng voi, kho súng đạn, diễn vũ trường
Hồ Hoàn Kiếm lúc bấy giờ còn khá rộng và ăn thông ra sông Hồng Vì hồ rộng và gần phủ Chúa nên chúa Trịnh thường cho tập thuỷ quân Lầu Ngũ Long cũng được xây dựng bên hồ (nay là quãng Bưu điện Bờ Hồ) vào đầu thế kỷ XVIII, cao 300 thước Năm 1784, chúa Trịnh cho tổ chức thi cống sĩ ở đây, năm 1786, sau khi Tây Sơn ra Bắc rồi rút về, Lê Chiêu Thống còn cho họp các tướng sĩ tại lầu này
Năm 1786, vì trả mối tư thù, phủ Chúa Trịnh đã bị Lê Chiêu Thống sai người phóng hoả đốt rụi, quần thể kiến trúc cung điện nguy nga sau cơn cuồng hoả chỉ còn lại những đống tro tàn
2.1.3 Khu vực kinh tế - dân gian
Phía đông và phía nam trong kinh thành, gần với sông Nhị là khu vực phố phường sản xuất, buôn bán mang tính chất kinh tế - dân gian, tồn tại như một hạt nhân kinh tế, tạo thành chỉnh thể đô - thị của Thăng Long - Kẻ Chợ
Trang 39Kẻ Chợ lúc đầu vốn chỉ để gọi cho khu buôn bán của kinh thành, về sau còn được hiểu theo nghĩa rộng, trở thành tên gọi dân gian của đô thị Thăng Long nói chung
Về mặt hành chính, 36 phường của Thăng Long chính thức xuất hiện từ thời điểm năm 1466, khi phủ Trung Đô (năm 1469 đổi thành phủ Phụng Thiên) được chia làm 2 huyện, mỗi huyện có 18 phường Hiện nay, do những thiếu hụt về mặt
sử liệu dẫn đến việc đồng thời có nhiều danh sách tên gọi 36 phường của Thăng Long Tổng hợp kết quả nghiên cứu của Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán, Nguyễn Thừa Hỷ, Trần Huy Bá và Nguyễn Vinh Phúc có bảng danh sách đối chiếu sau:
Bảng: Đối chiếu danh sách tên gọi các phường của Thăng Long
thế kỷ XVI, XVII, XVIII
(Ghi chú: Danh sách số 1 là của Nguyễn Thừa Hỷ, số 2 là của Trần Huy Bá, số 3 là
của Nguyễn Vinh Phúc, số 4 là của Trần Quốc Vượng và Vũ Tuấn Sán, số 5 là danh sách các
phường thời Nguyễn được thống kê trong Bắc Thành dư địa chí)
I Khu vực phía đông và phía nam Hoàng thành và khu vực ngoại vi phía nam
1 Báo Thiên Báo Thiên Báo Thiên Báo Thiên Báo Thiên
4 Công Bộ
5 Cổ Vũ Cổ Vũ Cổ Vũ Cổ Vũ
6 Diên Hưng Diên Hưng Diên Hưng Diên Hưng Diên Hưng
7 Đại Lợi Đại Lợi Đại Lợi
9 Đông Hà Đông Hà Đông Hà Đông Hà Đông Hà
10 Đông Tác Đông Tác Đông Tác
12 Đồng Lạc Đồng Lạc Đồng Lạc Đồng Lạc
13 Đồng Xuân Đồng Xuân Đồng Xuân Đồng Xuân
14 Giai Tuân Giai Tuân
15 Hà Khẩu Hà Khẩu Hà Khẩu Hà Khẩu Hà Khẩu
16 Hoè Nhai Hoè Nhai Hoè Nhai Hoè Nhai Hoè Nhai
Trang 4017 Hồng Mai Hồng Mai Hồng Mai Hồng Mai
20 Kim Hoa Kim Hoa Kim Hoa Kim Hoa
21 Nhược Công Nhược Công Nhược Công Nhược Công
31 Thạch Khối Thạch Khối Thạch Khối Thạch Khối Thạch Khối
34 Thịnh Quang Thịnh Quang Thịnh Quang Thịnh Quang Thịnh Quang
35 Vĩnh Xương Vĩnh Xương Vĩnh Xương Vĩnh Xương
36 Xã Đàn Xã Đàn Xã Đàn Xã Đàn Xã Đàn
37 Yên Thọ Yên Thọ
38 Yên Xá Yên Xá Yên Xá Yên Xá Yên Xá
II Khu vực xung quang Hồ Tây
39 Bái Ân Bái Ân Bái Ân Bái Ân Bái Ân
40 Hồ Khẩu Hồ Khẩu Hồ Khẩu Hồ Khẩu
41 Nghi Tàm Nghi Tàm Nghi Tàm Nghi Tàm Nghi Tàm
42 Nhật Chiêu Nhật Thiêu Nhật Thiêu Nhật Thiêu
43 Quảng Bá Quảng Bá Quảng Bá Quảng Bá
44 Tây Hồ Tây Hồ Tây Hồ Tây Hồ Tây Hồ
45 Thuỵ Chương Thuỵ Chương Thuỵ Chương Thuỵ Chương Thuỵ
Chương
46 Trích Sài Trích Sài Trích Sài Trích Sài Trích Sài
47 Võng Thị Võng Thị Võng Thị Võng Thị