1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu dòng canh tân đất nước nửa cuổi thế kỷ XIX ( Luận văn ThS Lịch Sử )

135 1,5K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 875,18 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những công trình nghiên cứu về xu hướng canh tân đất nước nửa cuối thế kỷ XIX Những công trình nghiên cứu về xu hướng canh tân đất nước nửa cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam khá đa dạng và pho

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-TRƯƠNG THỊ HẢI

TÌM HIỂU DÒNG CANH TÂN ĐẤT NƯỚC

NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-TRƯƠNG THỊ HẢI

TÌM HIỂU DÒNG CANH TÂN ĐẤT NƯỚC

NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam

Mã số: 60 22 54

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Xanh

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Kết quả nghiên cứu của Luận văn là do tác giả thực hiện

Khi sử dụng luận điểm khoa học, số liệu, tư liệu tác giả đều trích dẫn đúng nội dung và có dẫn nguồn tài liệu

Người thực hiện xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình!

Người thực hiện Luận văn

TRƯƠNG THỊ HẢI

Trang 4

Lời cảm ơn

Tìm hiểu dòng canh tân đất nước nửa cuối thế kỷ XIX là Luận văn của

người viết sau nhiều năm theo học Cao học tại khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn của PGS.TS NGƯT Phạm Xanh

Thông qua Luận văn, người viết xin được nói lời tri ân tới PGS.TS

NGƯT Phạm Xanh đã tận tình hướng dẫn Bên cạnh đó, người viết không quên sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo, cán bộ khoa Lịch sử, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội; Ban lãnh đạo Viện

Sử học, phòng Nghiên cứu Lịch sử Việt Nam Cận đại (Viện Sử học) cùng các đồng nghiệp, gia đình… Thiếu sự giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi đó,

người viết không thể hoàn thành công việc đúng thời hạn

Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2014

Tác giả Luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 11

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 12

5 Đóng góp của đề tài 13

6 Bố cục của Luận văn 13

NỘI DUNG 14

Chương 1:NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH DÒNG CANH TÂN ĐẤT NƯỚC NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX 14

1 1 Sự khủng hoảng của triều đình quân chủ Trung ương 14

1 2 Quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp 21

1 3 Sự xuất hiện tầng lớp sỹ phu yêu nước, tiến bộ cuối thế kỷ XIX 24

Tiểu kết chương 1 43

Chương 2: NHỮNG ĐỀ XUẤT CANH TÂN ĐẤT NƯỚC NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX 44

2 1 Đề xuất canh tân của Phạm Phú Thứ 44

2 2 Đề xuất canh tân của Đặng Huy Trứ 50

2 3 Đề xuất canh tân của Nguyễn Trường Tộ 51

2 4 Đề xuất canh tân của Bùi Viện 64

2 5 Đề xuất canh tân của Nguyễn Lộ Trạch 68

2 6 Một số đề xuất canh tân khác 71

Tiểu kết chương 2 73

Chương 3: NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI VÀ MỘT SỐ NHẬN ĐỊNH VỀ DÒNG CANH TÂN ĐẤT NƯỚC NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX 74

3 1 Thái độ của vua Tự Đức và triều đình Huế đối với các đề nghị canh tân, đổi mới đất nước 74

3 2 Nguyên nhân thất bại của dòng canh tân đất nước nửa cuối thế kỷ XIX 80

3 3 Nhận định về dòng canh tân 85

Tiểu kết chương 3 88

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC 97

Trang 6

Lịch sử Cổ - Trung đại Việt Nam đã chứng kiến những cải cách của họ Khúc, của nhà Tiền Lê trong lĩnh vực hành chính hay những đổi mới về văn hóa và kinh tế thời Lý - Trần, tiếp đó là những cải cách táo bạo của Hồ Quý

Ly, Nguyễn Huệ…

Vào nửa cuối thế kỷ XIX, đặc biệt là thời vua Tự Đức, chế độ quân chủ Việt Nam lâm vào khủng hoảng trên nhiều lĩnh vực Cùng với sự quan liêu, độc đoán, tham nhũng trong chính trị; sự đình đốn, bế tắc trong kinh tế… nhà Nguyễn đã thi hành nhiều chính sách bảo thủ, lạc hậu Thêm vào đó, cuộc xâm lược của thực dân Pháp khiến cho mâu thuẫn xã hội ngày càng thêm gay gắt Trong bối cảnh ấy, một tầng lớp quan lại, sĩ phu có xu hướng canh tân với hàng loạt những kiến nghị, cải cách từ kinh tế đến chính trị như Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện, Đặng Huy Trứ, Trần Đình Túc, Nguyễn Tư Giản, Đinh Văn Điền, Nguyễn Thông… Những tư tưởng canh tân trong thời kỳ lịch sử này được coi như là một phương sách cứu nước mới Do vậy, việc tìm hiểu tư tưởng canh tân ở Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX cũng chính là tìm hiểu một chủ trương cứu nước mới lúc bấy giờ

Nghiên cứu những đề nghị cải cách, canh tân trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng để đúc kết những kinh nghiệm trong thời kỳ đổi mới trước bối cảnh quốc tế và trong nước có nhiều chuyển biến, đó là một thách thức lớn đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội đất nước

Mặc dù có ý nghĩa như vậy nhưng đến nay vẫn chưa có công trình nào tìm hiểu toàn bộ những xu hướng canh tân nửa cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam

Trang 7

2

Với lý do đó cùng nguồn tài liệu cho phép, chúng tôi chọn đề tài “Tìm hiểu

dòng canh tân đất nước nửa cuối thế kỷ XIX” làm luận văn Thạc sĩ Sử học

của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu lịch sử Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX, đặc biệt về các nhà canh tân đã được giới sử học trong nước quan tâm từ rất sớm, các chuyên khảo về từng nhân vật cũng như về xu hướng canh tân của họ cũng được các nhà nghiên cứu tìm hiểu tương đối đầy đủ góp phần vào việc làm rõ hơn giai đoạn lịch sử này

2.1 Những công trình nghiên cứu về xu hướng canh tân đất nước nửa cuối thế kỷ XIX

Những công trình nghiên cứu về xu hướng canh tân đất nước nửa cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam khá đa dạng và phong phú, tiêu biểu như:

Năm 1970, Nhà xuất bản Lá Bối - Sài Gòn công bố công trình Phong

trào Duy tân của tác giả Nguyễn Văn Xuân Trong công trình này, tác giả đã

đề cập đến việc khôi phục đất nước bằng con đường nâng cao dân trí, cải tổ

xã hội về mọi mặt, trong đó có kinh tế, giáo dục và văn hóa với các hoạt động thực tiễn như mở mang kinh tế, lập các nhà buôn lớn để tự lực, thêm khoa học

và ngoại ngữ…

Năm 1997, tác phẩm Lịch sử tư tưởng Việt Nam (tập 2) của tác giả Lê

Sỹ Thắng đã được Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành Chuyên khảo đã trình bày khái quát sự ra đời của tư tưởng canh tân nửa cuối thế kỷ XIX và cơ

sở thế giới quan của tư tưởng ấy Bên cạnh đó, những điều trần, kiến nghị của các nhà canh tân như Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch được tác giả phân tích khá chi tiết trên các lĩnh vực như kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng…

Năm 1998, hai tác giả Đinh Xuân Lâm - Nguyễn Văn Hồng xuất bản

tác phẩm Xu hướng đổi mới trong lịch sử Việt Nam (Nhà xuất bản Văn hóa -

Thông tin) Trong công trình này, hai tác giả đã nghiên cứu một số nhà canh

Trang 8

3

tân đất nước nửa cuối thế kỷ XIX như Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn

Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ… Đáng chú ý là tác giả Đinh Xuân Lâm dành 10

trang để trả lời câu hỏi: Có một xu hướng đổi mới ở Việt Nam hồi cuối thế kỷ

XIX không? (trang 12 - 22)

Cũng trong năm 1998, Trung tâm UNESCO Thông tin tư liệu và lịch sử

văn hóa Việt Nam cho ra mắt cuốn Xu hướng đổi mới trong lịch sử Việt Nam

- Những gương mặt tiêu biểu (nhiều tác giả, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông

tin) Trong công trình, các tác giả đã nghiên cứu một số nhà canh tân đất nước như Hồ Quý Ly, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch, Đặng Huy Trứ…

Năm 1999, nhà xuất bản Thuận Hóa (Huế) giới thiệu sách Tư tưởng

canh tân đất nước dưới triều Nguyễn (nhiều tác giả) Nội dung chính mà các

tác giả đề cập đến là quá trình chuyển biến trong nhận thức của các nhân vật như Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ… trước bối cảnh của đất nước nửa cuối thế kỷ XIX

Năm 2011, nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội đã tập hợp các bài

viết của nhiều tác giả trong cuộc Hội thảo Nghiên cứu và giảng dạy lịch sử

nhà Nguyễn ở Đại học, Cao đẳng Sư phạm và Trung học phổ thông (tổ chức

cuối năm 2002) thành công trình Lịch sử nhà Nguyễn - một cách tiếp cận mới

Trong công trình này, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những nguyên nhân (khách quan cũng như chủ quan) dẫn đến thất bại của xu hướng canh tân đất nước nửa cuối thế kỷ XIX Không thể không nhắc đến một số tham luận như:

Triều đình nhà Nguyễn không chấp nhận hay không thể thực hiện các đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ của PGS.TS Đỗ Thanh Bình (từ trang 178

đến trang 165); Về nguyên nhân thất bại của xu hướng canh tân ở Việt Nam

nửa sau thế kỷ XIX của PGS TS Nguyễn Trọng Văn Trong hai bài viết ấy,

hai tác giả đã nghiên cứu về thân thế, sự nghiệp Nguyễn Trường Tộ và nguyên nhân thất bại của xu hướng canh tân cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam

Đặc biệt, tham luận Nguyễn Trường Tộ và thời đại: những nghịch lý của

Trang 9

4

PGS.TS Phạm Xanh (trang 435 - 443) đã phân tích thất bại trong nỗ lực canh tân của Nguyễn Trường Tộ dưới góc độ 5 nghịch lý: “một trí thức tân tiến và đám vua quan lạc hậu”, “chiến tranh và hòa bình”, “truyền thống và phản truyền thống”, “lương và giáo”, “thực và ảo” Có thể nói, tác giả Phạm Xanh

đã có cách tiếp cận nguyên nhân thất bại của Nguyễn Trường Tộ khá mới mẻ, độc đáo

Năm 2006, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm ra mắt tác phẩm Mười cuộc

cải cách, đổi mới lớn trong lịch sử Việt Nam của tác giả Văn Tạo Tác phẩm

đề cập đến mười cuộc cải cách trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam bắt đầu

từ họ Khúc, Lý Công Uẩn, Trần Thủ Độ, Hồ Quý Ly, Lê Thánh Tông, Đào Duy Từ, Trịnh Cương, Minh Mệnh, Nguyễn Trường Tộ đến Phong trào đổi mới đầu thế kỷ XX

Trong số những nghiên cứu về xu hướng canh tân đất nước nửa cuối

thế kỷ XIX, còn công trình Xu hướng canh tân, phong trào duy tân, sự nghiệp

đổi mới (từ giữa thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX) của Hải Ngọc Thái Nhân Hòa

(Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2005) Sách dày 411 trang, ngoài phần Mở đầu, nội

dung được chia làm 3 phần cũng là 3 đối tượng khảo cứu của tác giả gồm: Xu hướng canh tân (cuối thế kỷ XIX), phong trào duy tân (đầu thế kỷ XX) và Sự nghiệp đổi mới (thời hiện đại)

Trong phần viết về “xu hướng canh tân” (từ trang 29 đến trang 69), Hải

Ngọc Thái Nhân Hòa đã điểm những nét chính trong cuộc đời và tư tưởng của

các nhân vật: Phạm Phú Thứ, Nguyễn Tư Giản, Trần Đình Túc, Nguyễn Thông, Nguyễn Huy Tế, Đinh Văn Điền, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Công Trứ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch và Nguyễn Trường Tộ Tác giả khẳng định: các kiến nghị, điều trần canh tân, đổi mới “đã nói lên tâm huyết của các quan viên trong triều và ngoài nội, hợp thành dòng yêu nước theo xu hướng canh tân ở nước ta từ nửa sau thế kỷ XIX” (trang 64); “dù nhỏ hay lớn đều chứa đựng những tiến bộ nhất định, đem lại lợi ích thiết thân đối với xã hội đương thời, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước đang ở trong tình thế khó khăn, đầy thử

Trang 10

5

thách” (trang 65) Có thể khẳng định: Xu hướng canh tân, phong trào duy tân,

sự nghiệp đổi mới” (từ giữa thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX) đã có cái nhìn

tổng quát về xu hướng canh tân, “đánh dấu một thời kỳ phát triển tư duy đất nước, phản ánh tinh thần yêu nước, thương dân của một số quan viên trong triều và giáo dân ngoài xã hội” (trang 66)

Qua các công trình nghiên cứu về xu hướng canh tân đất nước nửa cuối thế kỷ XIX, chúng ta có thể thấy được những vấn đề cơ bản của tư tưởng canh tân trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội

2.2 Những chuyên khảo về các nhà cải cách cuối thế kỷ XIX

* Chuyên khảo về Bùi Viện

Năm 1945, Nhà xuất bản Đại La - Hà Nội giới thiệu công trình Bùi

Viện với cuộc duy tân của triều Tự Đức của Phan Trần Chúc, sau đó tác phẩm

được tái bản hai lần vào các năm 1946 (Nhà xuất bản Kiến thiết) và năm 2000 (Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin) Trong công trình này, tác giả đã dành khá nhiều dung lượng để phân tích bối cảnh lịch sử cũng như lý do cần thiết phải canh tân đất nước trên tất cả lĩnh vực: kinh tế, xã hội, quân sự…

Năm 1985, Nhà xuất bản Đông Nam Á giới thiệu tác phẩm Bùi Viện

với chính phủ Mỹ - lịch sử ngoại triều Tự Đức của Phan Trần Chúc Đây được

xem như công trình đầu tiên của tác giả Phan Trần Chúc viết về Bùi Viện với việc đi Mỹ của ông Nội dung chủ yếu của tác phẩm đề cập đến hành trình đi

Mỹ của Bùi Viện thông qua đó, ông mở rộng được tầm nhìn, thấy được sự phát triển của nước Mỹ Điều đó giải thích cho việc vì sao sau này ông đưa ra các bản điều trần với vua Tự Đức để đề nghị canh tân đất nước

* Chuyên khảo về Nguyễn Trường Tộ

Năm 1961, Nhà xuất bản Giáo dục đã công bố công trình Những đề

nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ cuối thế kỷ XIX của 2 tác giả Đặng Huy

Vận - Chương Thâu Đây có thể xem là một trong những nghiên cứu đầu tiên của các nhà sử học hiện đại về Nguyễn Trường Tộ và các đề nghị cải cách của ông Công trình đã phân tích khá chi tiết về bối cảnh lịch sử và những đề nghị

Trang 11

6

cải cách của Nguyễn Trường Tộ trên các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, giáo dục, văn hóa, xã hội…

Năm 1988, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh giới thiệu công trình

Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo của Linh mục Trương Bá Cần

Trong công trình này, Trương Bá Cần đã dành nhiều thời gian để sưu tầm, khảo cứu các kiến nghị, điều trần của Nguyễn Trường Tộ đồng thời tác giả đã tập hợp tương đối đầy đủ tư liệu về con người, tư tưởng Nguyễn Trường Tộ

Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu khác về ông như: Nguyễn

Trường Tộ - Thời thế & tư duy canh tân của tác giả Hoàng Thanh Đạm (Nhà

xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2001); Nguyễn Trường Tộ & vấn

đề canh tân của tác giả Bùi Kha (Nhà xuất bản Văn học, 2011); Nguyễn Trường Tộ với triều Tự Đức (Nhà xuất bản Trẻ, 2013) của tác giả Nguyễn

Đình Đầu… Qua các công trình này, tư tưởng cải cách Nguyễn Trường Tộ được phân tích và nhận định cụ thể trên từng lĩnh vực mà ông đề cập đến

Như vậy, có thể nói Nguyễn Trường Tộ là một trong những nhà canh tân tiêu biểu vào cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu về ông khá phong phú và đa dạng với không ít cách luận giải và tiếp cận vấn đề của nhiều tác giả Những tác phẩm đó có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tìm hiểu về tư tưởng canh tân của Nguyễn Trường Tộ trong giai đoạn lịch sử này

* Chuyên khảo về Đặng Huy Trứ

Năm 1990, nhóm Trà Lĩnh đã công bố công trình Con người và tác

phẩm Đặng Huy Trứ Đây là công trình nghiên cứu tương đối toàn diện, đầy

đủ về cuộc đời và sự nghiệp của Đặng Huy Trứ Đánh giá về Đặng Huy Trứ, Nhóm Trà Lĩnh dẫn lời Giáo sư Vũ Khiêu khẳng định: “Đặng Huy Trứ đã sống vì chữ Nhân, chết cũng vì chữ Nhân… Suốt đời không lúc nào ngơi Ông đã cống hiến toàn bộ tâm lực của mình cho Tổ quốc và nhân dân, làm người con trung hiếu của thứ dân…” (trang 45 - 52)

Trang 12

* Chuyên khảo về Phạm Phú Thứ

Năm 1995, Hội đồng hương Quảng Nam - Đà Nẵng tại thành phố Hồ

Chí Minh ra mắt tác phẩm Phạm Phú Thứ với tư tưởng canh tân (Nhà xuất

bản Đà Nẵng) Cũng liên quan đến nhà canh tân Phạm Phú Thứ này, bốn năm

sau (năm 1999), Hải Ngọc Thái Nhân Hòa giới thiệu công trình Trúc Đường

Phạm Phú Thứ với xu hướng canh tân (Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí

Minh) Qua hai công trình, tư tưởng canh tân của Phạm Phú Thứ đã được làm sáng tỏ dưới nhiều góc độ Về cải cách kinh tế, Phạm Phú Thứ từng đề xuất triều đình các biện pháp đắp đê, đào sông Bình Giang, mở kho thóc phát chẩn cứu đói, áp dụng công nghệ chế tạo “xe trâu”… để phát triển nông nghiệp; sử dụng thuyền buôn tư nhân vận chuyển gạo, mở cảng Hải Ninh, khuyến khích nhà giàu bỏ vốn mở mang công nghệ, đánh thuế nhẹ đối với các hộ sản xuất tiểu thủ công…

* Chuyên khảo về Nguyễn Lộ Trạch

Năm 1966 Nhà xuất bản Anh Minh ấn hành tác phẩm Một bậc tiên thời

nhân vật đồng thời với Nguyễn Trường Tộ ít ai biết - Nguyễn Lộ Trạch do tác

giả Nguyễn Thị Nghiên tập hợp di cảo của cụ Mính Viên (Huỳnh Thúc Kháng) Tác phẩm cũng đã cung cấp những tư liệu cơ bản về Nguyễn Lộ

Trạch thông qua các đề nghị cải cách trong Thời vụ sách I và Thời vụ sách II

(năm 1882) Có thể nhận thấy, ông là người rất quan tâm đến kinh tế và chấn

Trang 13

8

hưng kinh tế đất nước Ở Thời vụ sách I, Nguyễn Lộ Trạch đề ra chủ trương

gấp lo tự lực tự cường để đối phó với âm mưu của thực dân phương Tây Tư

tưởng tự lực tự cường về kinh tế được Nguyễn Lộ Trạch kiến nghị cụ thể

trong Thời vụ sách II: “đổi tỉnh Thanh Hóa làm Bắc Kinh mà cống phú các

tỉnh Bắc Kỳ mỗi năm trữ ở Bắc Kinh phân nửa, như vậy nền gốc được bền vững, sau mới nói đến công việc sửa trong đẹp ngoài…” Với nông nghiệp,

Nguyễn Lộ Trạch đề xuất: về miền Tuyên Quang, Lạng Sơn, Ninh Bình, trải

qua tấn kịch binh hỏa, nhân dân lưu tán, đồn điền rậm hoang… nay phái một viên thượng tướng đem vài vạn quân chọn những đất phì nhiêu khai khẩn, cày gieo tất có thành hiệu… về thông thương: nay thứ xuất công bản mười vạn lượng bạc, giao cho cán viên cỡi hỏa thuyền ra mậu dịch nước ngoài, không cần hỏi số xuất nhập thế nào mà chỉ buộc thu sổ lợi thuế mỗi năm hai vạn, còn bao nhiêu thì được hưởng

Năm 1996, tác giả Mai Cao Chương - Đoàn Lê Giang công bố chuyên

khảo Nguyễn Lộ Trạch - Điều trần và thơ văn (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội

- Hà Nội) cung cấp nhiều thông tin quan trọng cuộc đời và tư tưởng đổi mới

của Nguyễn Lộ Trạch thông qua các bản điều trần: Thời vụ sách I, Thời vụ

sách II, Thiên hạ đại thế luận

Như vậy, những công trình nêu trên giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể

về bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX, cũng như thân thế, sự nghiệp

và những đề xuất cải cách của một số nhà canh tân nửa cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam trên nhiều lĩnh vực khác nhau

* Các công trình thông sử hoặc mang tính thông sử

Ngoài những nghiên cứu về các nhà cải cách cuối thế kỷ XIX và những

xu hướng canh tân của họ, còn có các công trình thông sử hoặc các công trình

mang tính thông sử như: Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim (bản in năm

1968 do nhà xuất bản Tân Việt - Sài Gòn phát hành), Đại cương lịch sử Việt

Nam toàn tập của các tác giả Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu

Hãn (Nhà xuất bản Giáo dục, 2003), Tiến trình lịch sử Việt Nam do tác giả

Trang 14

9

Nguyễn Quang Ngọc chủ biên (Nhà xuất bản Giáo dục, 2006), Lê Sỹ Thắng

-Lịch sử tư tưởng Việt Nam (tập 2, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1997)…

đều dành dung lượng đáng kể viết về xu hướng canh tân nửa cuối thế kỷ XIX

ở Việt Nam

Đáng chú ý là công trình Lịch sử Cận - hiện đại Việt Nam, một số vấn

đề nghiên cứu (Nhà xuất bản Thế giới, 1998) của tác giả Đinh Xuân Lâm

Trong công trình này, phần viết về dòng canh tân đất nước nửa cuối thế kỷ

XIX, tác giả đã làm sáng tỏ Trách nhiệm của triều Nguyễn trong việc thất bại

của xu hướng đổi mới cuối thế kỷ XIX (trang 43 - 53)

* Các công trình có liên quan

Các nhà canh tân và xu hướng canh tân đất nước nửa cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam còn được đề cập trong các bài báo, tạp chí, luận văn, luận án và hội thảo như:

Tác giả Lê Thước trong bài Nguyễn Lộ Trạch - tiên sinh tiểu sử đăng trên Nam Phong tạp chí số 102 đã cung cấp những tư liệu cần thiết về thân

thế, sự nghiệp và những đề nghị cải cách của Nguyễn Lộ Trạch Theo đó, qua

hai bản Thời vụ sách I và Thời vụ sách II (năm 1882), Nguyễn Lộ Trạch đã

đưa ra nhiều đề nghị với triều đình Huế thực hiện các cải cách trên lĩnh vực kinh tế, ngoại giao, chính trị…

Trong bài viết Thiên hạ đại thế luận của Nguyễn Lộ Trạch (bàn về tình thế lớn trong thiên hạ) in trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 5+6/1987, từ

trang 94 đến trang 98, tác giả Đoàn Lê Giang công bố nguyên văn chữ Hán

bài Thiên hạ đại thế luận: bài luận chép trong tập Kỳ am Nguyễn Lộ Trạch di

văn hiện lưu trữ ở Thư viện khoa Ngữ văn, trường Đại học Tổng hợp Thành

phố Hồ Chí Minh Sách dày 138 trang, khổ 14,5 x 27,5, giấy bản, ngoài bìa đề

Quỳ ưu lục, trang đầu đề Kỳ Am Nguyễn Lộ Trạch di văn Bài luận được

Nguyễn Lộ Trạch viết nhân dịp vua Thành Thái ra đề trong kỳ thi Đình năm

1892 Qua đó, tác giả bày tỏ tư tưởng của mình trước thời thế và yêu cầu triều đình duy tân đất nước, tự cường như Nhật Bản mới có thể ổn định đất nước

Trang 15

10

Trong hai bài viết Bùi Viện với những ngày đầu hình thành Hải Phòng (đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử Hải Phòng số 4 năm 1986) và Bùi Viện

cuộc đời và sự nghiệp (trong cuốn Danh nhân Thái Bình - Sở Văn hóa Thông

tin Thái Bình, 1986), Giáo sư Đinh Xuân Lâm đã nhấn mạnh vai trò của Bùi Viện trong việc dẹp loạn ở Bắc Kỳ năm 1871: “Việc đánh dẹp các toán nổi dậy ở ngoài Bắc đến cuối năm 1871 tạm yên, Lê Tuấn được triệu về kinh có Bùi Viện cùng theo Chuyến công cán này của Lê Tuấn ngoài Bắc lần này rõ ràng có nhiều đóng góp đáng kể của Bùi Viện, nhưng sử sách triều Nguyễn

không nhắc tới tên ông trong số những người có công”

Năm 1992, Sở Văn hóa Thông tin Thái Bình phối hợp với Ủy ban nhân dân huyện Tiền Hải cùng nhiều cơ quan nghiên cứu, trường đại học ở Hà Nội

tổ chức Hội thảo: Bùi Viện (1839 - 1878) cuộc đời kỳ lạ - chí lớn phi thường Tại Hội thảo, PGS Chương Thâu khẳng định: tiểu sử của vị Danh nhân Thái

Bình này qua các thư tịch quá ít ỏi đã được công bố, theo chúng tôi còn có

nhiều điểm “dị biệt” Hầu hết các bài tham luận trong Hội thảo đều cho rằng

ông không chỉ là người Việt Nam đầu tiên hướng đến nước Mỹ trong vấn đề ngoại giao mà còn được xem là một trong những người có công đầu trong việc mở cửa biển Ninh Hải; thành lập và chỉ huy đội Tuần dương quân đầu tiên của người Việt

Tác giả Chương Thâu trong bài viết Nguyễn Trường Tộ với vấn đề cải

cách văn hóa xã hội dưới thời cận đại đăng trên tạp chí Sông Hương số 28

năm 1987 đã tổng hợp khá đầy đủ những bản điều trần của Nguyễn Trường

Tộ về văn hóa, xã hội để khái quát những nội dung cơ bản về việc lập trại tế bần và viện dục anh; tăng cường việc giáo dục bọn côn đồ, du đãng, trộm cướp; cải tạo phong tục tập quán lạc hậu, xây dựng nếp sống văn minh, chấm dứt tệ nạn xã hội

Luận văn Tư tưởng canh tân giáo dục của Nguyễn Trường Tộ - giá trị

của nó với giáo dục hiện nay của Phạm Thu Thủy, bảo vệ năm 2010 đã làm

sáng tỏ điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan của việc hình thành, phát

Trang 16

11

triển tư tưởng canh tân giáo dục của Nguyễn Trường Tộ; hệ thống hóa và phân tích những nội dung tư tưởng canh tân giáo dục của ông Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp cần thiết đáp ứng cho công cuộc đổi mới giáo dục nước

ta hiện nay

Có thể nói, các công trình nêu trên là những nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho chúng tôi khi thực hiện đề tài này Các công trình đó chủ yếu tập trung nghiên cứu từng nhân vật và những tư tưởng canh tân của họ mà chưa thấy có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện tư tưởng canh tân của các nhà canh tân đất nước nửa cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu trước, cùng với nguồn tài liệu sưu tầm được, tác giả sẽ tập trung làm rõ vấn đề này

3 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là xu hướng canh tân cuối thế kỷ XIX

ở Việt Nam thông qua một số các bản điều trần, các kiến nghị, đề xuất của những nhân vật tiêu biểu như Nguyễn Trường Tộ, Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ, Bùi Viện, Đặng Huy Trứ, Trần Đình Túc, Nguyễn Thông

3.2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích tình hình chính trị, xã hội, kinh tế, các chính sách của triều Nguyễn nửa cuối thế kỷ XIX và những đề xuất canh tân của các nhà cải cách nửa cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam, luận văn sẽ trình bày

và tập hợp tất cả những đề xuất canh tân trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội… của các nhà canh tân Những tác động của xu hướng canh tân tới triều đình Nguyễn và đưa ra một số nhận định, đặc biệt là về nguyên nhân thất bại của xu hướng này

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Trình bày khái quát bối cảnh lịch sử hình thành dòng canh tân đất nước nửa cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam Đó chính là cơ sở giải thích vì sao các nhà canh tân đã đề ra những đề nghị cải cách của mình

Trang 17

12

- Trình bày và phân tích những nội dung của những đề nghị cải cách trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội của các nhà canh tân như: Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện…

- Trình bày kết quả, tác động, nguyên nhân thất bại và một số nhận định về dòng canh tân

3.4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: Những đề nghị cải cách của các nhà canh tân

diễn ra ở Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX

- Phạm vi thời gian: Tư tưởng canh tân, đổi mới đất nước đã xuất hiện

từ rất sớm Năm 1863, hàng loạt các bản kiến nghị điều trần được dâng lên triều đình khi Hiệp ước Nhâm Tuất được ký kết (ngày 5 tháng 6 năm 1862); tuy nhiên, ngay từ năm 1850, Phạm Phú Thứ đã nhận thấy sự “nhiêu khê, rườm rà”, lãng phí của người đứng đầu triều đình Huế, ông đã dâng sớ phê phán vua Tự Đức lơi lỏng việc triều chính

Đến năm 1892, dưới triều vua Thành Thái, đất nước đã hoàn toàn mất chủ quyền về tay thực dân Pháp song các nhà cải cách vẫn tiếp tục dâng các bản kiến nghị lên triều đình Đây chính là thời điểm Nguyễn Lộ Trạch viết bài

Thiên hạ đại thế luận Chúng tôi xem đây là mốc thời gian kết thúc việc dâng

các bản điều trần

Như vậy, phạm vi thời gian của luận văn là từ năm 1850 đến năm 1892

- Phạm vi về nội dung: Luận văn tập trung làm sáng tỏ những đề xuất

cải cách của các nhà canh tân trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, xã hội, văn hóa - giáo dục, ngoại giao và những tác động của các đề xuất trên tới triều đình cũng như những thất bại của xu hướng này

4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn tài liệu

Các nguồn tài liệu chính thống, góp phần quan trọng vào việc tìm hiểu nghiên cứu tiền đề hình thành dòng canh tân cũng như nội dung của các đề

nghị canh tân đó như Đại Nam thực lục (Chính biên), bản dịch do Nhà xuất

Trang 18

13

bản Khoa học Xã hội (Hà Nội) ấn hành trong những năm 1960 - 1970, Đại Nam

chính biên liệt truyện (Nhà xuất bản Văn học tái bản, 2004), Quốc sử triều toát yếu (Nhà xuất bản Văn học tái bản, 2002) của Quốc sử quán triều Nguyễn

- Sách chuyên khảo: gồm các cuốn sách nghiên cứu cụ thể về từng

nhân vật thời kỳ này

- Kỷ yếu hội thảo, các bài báo, tạp chí

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn thực hiện dựa trên hai phương pháp nghiên cứu chính trong quá trình nghiên cứu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic Trên cơ

sở nguồn tư liệu chúng tôi tiến hành phân tích, so sánh, thống kê, khái quát hóa vấn đề cần nghiên cứu từ đó đưa ra ra một số nhận xét

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành

Luận văn cũng sẽ góp thêm vào tài liệu tham khảo cho công việc nghiên cứu cũng như giảng dạy về giai đoạn lịch sử này

Trang 19

14

NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH DÒNG CANH TÂN ĐẤT NƯỚC NỬA CUỐI THẾ KỶ XIX

1 1 Sự khủng hoảng của triều đình quân chủ Trung ương

Mặc dù có những đóng góp nhất định trong lịch sử dân tộc như thống nhất lãnh thổ quốc gia, cho Nguyễn Công Trứ mộ dân khai hoang, lập ra hai huyện: Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình) trong những năm 1828-

1829 hay cử Nguyễn Tri Phương chiêu dân lập ấp ở Nam Kỳ (năm 1853)… song một thực tế không thể phủ nhận là sau khi được thiết lập vào năm 1802, triều Nguyễn ngày càng có những biểu hiện đi ngược với xu thế phát triển chung của lịch sử Trong chính sách cai trị của các vua Nguyễn, từ Gia Long tới Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức… vấn đề “lợi ích dòng họ” luôn được đặt cao hơn quyền lợi dân tộc

Chính trị: Cũng như nhiều triều đại quân chủ trước đó, nhà Nguyễn

duy trì và áp dụng bộ máy quân chủ chuyên chế tuyệt đối Vua có quyền lực tối thượng, là “thiên tử”, thay trời hành đạo nhưng thực tế là “địa chủ lớn nhất nước” Tư tưởng trị quốc, từ vua đến quan lại đều sử dụng học thuyết Khổng - Mạnh vốn đã lạc hậu với thời cuộc Theo đánh giá của Giáo sư Đinh Xuân Lâm: “tổ chức xã thôn thời này đã hoàn toàn trở thành một công cụ của bọn cường hào địa chủ nông thôn Nó trói buộc người nông dân trong những quaon hệ địa phương hẹp hòi có lợi cho sự bóc lột của nhà nước quân chủ và cản trở sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa”

Nông nghiệp: nền kinh tế nông nghiệp quốc gia vốn đã nghèo nàn, lạc

hậu, dưới sự cai trị của nhà Nguyễn, tư liệu sản xuất của đại bộ phận quần chúng ngày càng bị thu hẹp Ruộng đất tốt đều tập trung trong tay quan lại, địa chủ Hiện tượng nông dân không có ruộng hoặc không thể sinh sống trên mảnh ruộng của mình, buộc phải bỏ làng tha phương cầu thực diễn ra rất phổ biến trong những năm đầu thế kỷ XIX Song song với việc thiếu tư liệu sản xuất, nông dân Việt Nam còn phải chịu rất nhiều hình thức sưu, thuế hà khắc

Trang 20

15

khác Theo thống kê của các tác giả Đại cương Lịch sử Việt Nam, “chỉ từ năm

1802 đến năm 1806, nông dân trên 870 thôn thuộc mấy trấn lớn ngoài Bắc xiêu tán đi nơi khác Đến năm 1826, lại đến 108 xã thôn thuộc mười ba huyện của trấn Hải Dương xiêu tán” [44, 479-484]

Nông dân bỏ ruộng, song triều đình hầu như không có các biện pháp khắc phục tình trạng ruộng đất hoang hóa, tu bổ đê điều khiến đê Văn Giang (Hưng Yên) liêp tiếp bị vỡ trong suốt 18 năm Cộng thêm sự khắc nghiệt của thời tiết, phá hoại của sâu bệnh khiến nạn đói thường xuyên xảy ra “Ngay trước khi tư bản Pháp sắp nổ súng đánh vào Đà Nẵng (1858), một trận đói ghê gớm đã xảy ra làm cho hàng chục vạn nhân dân các tỉnh Trung Bắc Kì bị chết Đồng thời, cũng do sự bất lực của bọn phong kiến thống trị hồi đó, nạn dịch đã hoành hành dữ dội, giết hại hàng chục vạn người” [44, 479-484] Theo lời tâu của Nguyễn Công Trứ (năm 1833), số lượng dân đói kém có tới 27.000 người Trận bão đổ bộ vào tỉnh Nghệ An năm 1842 khiến 40.753 ngôi nhà bị đổ, 5420 người chết và hàng trăm nghìn người trở thành vô gia cư

Công nghiệp: triều Nguyễn nắm tất cả những ngành kinh doanh lớn

Các xưởng đúc tàu, đúc tiền, đúc súng; các công trường xây dựng lớn (lăng tẩm, đền đài…) đều nằm dưới sự quản lý, điều hành của Bộ Công Gần như độc quyền về thương nghiệp nhưng triều đình trung ương lại không có chế độ đãi ngộ thỏa đáng đối với lao động tại các công xưởng Họ - những người thợ giỏi - bị nhà Nguyễn cưỡng ép lao động, biên chế thành đội ngũ, đồng thời phải chịu sự kiểm soát gắt gao về nhiều mặt nên không ủng hộ triều đình

Thống kê sơ bộ cho biết, từ khi Nguyễn Ánh mở nước (1802) đến trước thời điểm Thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam (1858), đã có 139 mỏ được khai thác Ngoại trừ một số lượng không quá nhiều mỏ do Hoa kiều và người Việt Nam đứng ra khai thác, phần còn lại đều do triều đình trung ương độc quyền kiểm soát Không những thế, nhà Nguyễn còn đặt ra những nguyên tắc hết sức vô lí như khoanh vùng những khu vực không được khai thác, đặt giá cho một số kim loại rồi độc quyền thu mua…

Trang 21

16

Trong thương nghiệp, nhà Nguyễn duy trì chính sách “trọng nông ức

thương” Các hoạt động buôn bán được mở hết sức nhỏ giọt Song song với việc độc quyền kinh doanh nguyên liệu công nghiệp (đồng, thiếc, chì, diêm tiêu…), triều đình trung ương còn đặt ra rất nhiều đạo luật vô lí khác như: đánh thuế rất nặng vào mặt hàng gạo, nghiêm cấm nhân dân họp chợ khiến việc giao thương giữa các địa phương gặp rất nhiều khó khăn, độc quyền mua bán lâm thổ sản quý… Về ngoại thương, nhà Nguyễn thực thi chính sách “bế quan tỏa cảng” triệt để, chỉ nhập những nguyên liệu cần thiết cho triều đình (sắt, gang… để đúc đạn dược, khí cụ) ở một số cửa biển Tàu buôn của nước ngoài bị khám xét kĩ và đánh thuế rất nặng Thậm chí một số mặt hàng như tơ lụa, thóc gạo bị cấm xuất khẩu Theo thống kê, đến năm 1851, cả nước chỉ có

21 sở thuế - giảm sút rất nhiều so với con số 60 sở thuế trước kia

Về văn hóa - tư tưởng: như đã trình bày, trong những năm đầu thế kỷ

XIX, mọi chính sách của nhà Nguyễn đều nhằm duy trì quyền lợi dòng họ và bảo vệ ngai vàng của nhà vua nên văn hóa - tư tưởng dưới triều Nguyễn cũng không nằm ngoài mục đích này Các hoạt động mang tính định hướng về tư

tưởng như 10 điều Huấn dụ của Minh Mạng, Tự Đức diễn âm thập điều diễn

ca… đều đề cao, tôn sùng Nho giáo để củng cố ý thức hệ quân chủ Đó là

chưa kể đến năm 1815, nhà Nguyễn ban hành Luật Gia Long để trấn áp nhân dân và giữ vững trật tự quân chủ

Cùng với những chính sách lạc hậu, nhà Nguyễn còn tiến hành các cuộc chiến với Cao Miên, Lào khiến ngân khố quốc gia ngày càng kiệt quệ Đối với các quốc gia phương Tây, do nhận thức sai về tôn giáo nên triều đình trung ương đã thực thi hàng loạt biện pháp cấm đạo, sát đạo hết sức cực đoan

Nhìn chung, chỉ vài thập kỷ sau khi thiết lập vương triều, nhà Nguyễn với những sách lược trị quốc an dân lạc hậu đã khiến tiềm lực đất nước suy yếu rất nhiều Tổng trấn Lê Văn Duyệt đã cay đắng thốt lên: “Lệ thuế hơi nặng, dân lấy làm khổ” Thuế khoa, lao dịch nặng nề khiến nửa cuối thế kỷ XIX, khởi nghĩa nông dân nổ ra ở nhiều nơi

Trang 22

17

Khởi nghĩa nông dân và nhân dân lao động nửa cuối thế kỷ XIX

Ngay từ 1803, sau khi giành chính quyền từ nhà Tây Sơn, triều Nguyễn

đã phải đối mặt với cuộc nổi dậy của một số tướng lính Tây Sơn cũ ở Kinh Môn (Hải Dương) do Nguyễn Văn Tuyết cầm đầu Theo thống kê, nhà Nguyễn thời Minh Mạng đã phải đối đầu với 250 cuộc khởi nghĩa, thời vua Gia Long ít hơn: 90 cuộc nổi dậy, thời Thiệu Trị cũng phải đối diện với 50 cuộc khởi nghĩa

Bước sang nửa cuối thế kỷ XIX, khởi nghĩa nông dân tiếp tục làm chảo đảo triều đình quân chủ trung ương Trong thời gian này, đáng chú ý là các cuộc khởi nghĩa sau:

Khởi nghĩa Nông Hùng Thạc: Qua các nguồn sử liệu, có thể khẳng

định, Nông Hùng Thạc là con của Nông Văn Vân Thông tin từ cuốn Lịch sử

Đảng bộ huyện Bảo Lạc [52] cho biết: do bất bình với chính sách cai trị, vơ

vét tài sản của nhà Nguyễn, tháng 8 năm 1933, Nông Văn Vân đã kêu gọi nông dân các tỉnh Miền núi phía Bắc nổi dậy chống lại triều đình Nông Văn Vân xây dựng căn cứ ở Vân Trung và Ngọc Mạc, tự xưng là Tiết chế thượng tướng quân, tổ chức nhiều trận đánh lớn như chiếm đồn Ninh Biên (Vị Xuyên, Hà Giang), tỉnh thành Cao Bằng và huyện Thạch Lâm, vây hãm thành Tuyên Quang, tấn công sang Lạng Sơn… Không chỉ nổi dậy ở miền núi, khởi nghĩa Nông Văn Vân còn có sự liên hệ với các phong trào nông dân ở miền xuôi bởi “Nông Văn Vân là anh vợ của Lê Văn Khôi (người cầm đầu cuộc nổi dậy ở Sài Gòn - Gia Định cùng thời gian đó) Chắc rằng giữa 2 người đã có một mối liên hệ với nhau để cùng khởi sự” [10, 35]

Tháng 3/1835, khởi nghĩa Nông Văn Vân bị dập tắt, nhưng “tinh thần quả cảm của Nông Văn Vân và nghĩa quân thì tiếng thơm còn lưu truyền mãi với hậu thế” [52, 21]; “sự nghiệp được chuyển cho con là Nông Hùng Thạc, giữ quyền quản lý cát cứ châu Bảo Lạc” [34] Nối chí cha, năm 1836, Nông

Hùng Thạc xưng chúa đồng thời tiến hành nhiều biện pháp củng cố lãnh địa,

Trang 23

Ân, Nông Hùng Phúc, Nông Hùng Tân đã cùng nhân dân chống lại giặc nước ngoài và nội địa [34]

Khởi nghĩa Cao Bá Quát (1854): Cao Bá Quát người làng Phú Thị,

huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã Phú Thị - Gia Lâm - Hà Nội), xuất thân là một nhà nho yêu nước Ông từng làm quan trong triều đình Huế nhưng tấm lòng vẫn luôn hướng về nhân dân

Năm 1854, Bắc Kì phải hứng chịu thiên tai rất nặng nề, đời sống nhân dân thiếu đói trầm trọng Phải chứng kiến những bất công của xã hội cộng với cảnh lầm than của nhân dân lao động, Cao Bá Quát quyết định lấy lý do nuôi dưỡng mẹ già để từ quan Ông đã liên hệ với các sỹ phu Bắc Kỳ, suy tôn Lê Duy Cự (một người chắt xa của vua Lê) làm minh chủ Dưới danh nghĩa “phù Lê”, Cao Bá Quát đã tập hợp dân nghèo nổi dậy Tuy nhiên, cuộc nổi dậy của Cao Bá Quát khá bị động do kế hoạch khởi nghĩa bị lộ Quân đội của ông đã chiếm được phủ thành Ứng Hòa và huyện lị Thanh Oai nhưng do tương quan lực lượng quá chênh lệch, cuộc nổi dậy nhanh chóng bị dập tắt Cao Bá Quát

hi sinh trong một trận chiến đấu ác liệt

Khởi nghĩa Nguyễn Thịnh (1862): Nguyễn Thịnh (hay Nguyễn Văn

Thịnh) có tục danh là Vàng, có thời gian làm cai tổng nên còn gọi là Cai Vàng (Cai tổng Vàng) Nguyễn Thịnh sinh ra trong một gia đình khá giả tại Vân

Trang 24

19

Sơn, huyện Phượng Nhỡn - Bắc Ninh 1 Vì bất mãn với triều đình đương thời, Nguyễn Thịnh đã giương cao lá cờ “phù Lê”, liên hệ với một số người cùng chí hướng nổi dậy 2 Sự kiện này được Việt Nam sử lược chép lại: “Tháng ba

năm Nhâm Tuất (1862), ở Bắc Ninh có tên cai tổng Nguyễn Văn Thịnh (tục gọi là Cai tổng Vàng) xưng làm nguyên súy, lập tên Uẩn (Lê Duy Uẩn hoặc Huân), mạo xưng là con cháu nhà Lê, lên làm minh chủ, rồi nhập đảng với tên (Tạ Văn) Phụng, đem binh đi đánh phủ Lạng Giang, huyện Yên Dũng, và vây thành Bắc Ninh” [23, 502]

Trước sự lớn mạnh của nghĩa quân Nguyễn Thịnh, chỉ huy quân đội triều đình là Nguyễn Khắc Thuật (Bố chính Hà Nội), Lê Dụ (Bố chính tỉnh Sơn Tây)

và Vũ Tảo (Phó lãnh binh Hưng Yên) đã huy động quân 3 tỉnh về giải vây thành Bắc Ninh “Vũ Tảo đánh liên tiếp hơn mười trận đều thắng cả Tảo liền kéo quân lướt tới, quân trong thành ra giáp đánh, Thạnh (tức Nguyễn Thịnh) thua chạy, giải vây được thành Bắc Ninh Tờ báo tiệp tâu lên, Ngài (vua Tự Đức) cho Võ Tảo tới trước đáng công đầu, thưởng thọ Lãnh binh, gia thưởng bài vàng, tiền vàng, nhưng lãnh chức cũ; lại truyền chỉ cho Tổng đốc quân vụ Đại thần Tôn Thất Hân thống quản biền binh lập tức đuổi theo” [41, 398-399]

Không rõ Nguyễn Thịnh mất khi nào, có tài liệu khẳng định ông mất ngày 30 tháng 8 năm 1863, cũng có tư liệu cho rằng ông mất trước đó 1 năm

Khởi nghĩa Đoàn Hữu Trưng (1866): lực lượng nòng cốt trong khởi

nghĩa Đoàn Hữu Trưng chính là những quân lính, người lao động được triều đình huy động vào việc xây dựng lăng Tự Đức Trước sự ức hiếp của quan lại triều đình, nhận thấy rõ sự oán giận của binh lính, thợ thuyền, Đoàn Hữu Trưng đã kích động và biến họ thành lực lượng khởi nghĩa

Đoàn Hữu Trưng người làng An Truyền, phủ Thừa Thiên Để chuẩn bị cho cuộc nổi dậy, ông đã có sự giúp sức hai em là Đoàn Hữu Ái và Đoàn Tư

1

Nay thuộc xóm Kẻn, thôn Vân Sơn, xã Phương Sơn, huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang

2 Bài Vè Cai vàng (không rõ tác giả) có đoạn: Cai Vàng tỉnh Bắc gan thay/

Mộ quân bảy ngày được một vạn ba

Trang 25

20

Trược, đồng thời liên hệ với Hữu quân Tôn Thất Cúc, sư trụ trì chùa Long Vân, ngấm ngầm rèn luyện vũ khí, tích trữ lương thảo

Khởi nghĩa Đoàn Hữu Trưng nổ ra vào rạng sáng ngày 17 tháng 9 năm

1866 Ngay trong đêm, dân phu, binh lính đã mang theo giáo mác, cầm cờ hiệu bắt trói Nguyễn Văn Xa (một trong hai viên quan được cử trông nom việc xây lăng Tự Đức) rồi tổ chức thành ba đạo quân tiến về kinh thành Tôn Thất Cúc có ngầm hẹn từ trước liền mở cổng thành để nghĩa quân vượt qua Ngọ Môn, tiến về trại Cẩm Y và trại Kim Ngô để cướp vũ khí

Cuộc nổi dậy của anh em họ Đoàn đã khiến kinh đô nhà Nguyễn chao đảo Hướng tiến công của Đoàn Hữu Trưng đã tấn công trực tiếp vào điện Thái Hòa, phá Tử Cấm Thành định tìm giết vua Tự Đức Tuy nhiên, do lực lượng cuộc khởi nghĩa còn mỏng, các cánh quân lại không có sự phối hợp nhịp nhàng; quân đội triều đình lại nhìn thấy những mặt yếu kém của nghĩa quân nên đã đóng cửa thành và tiến hành đàn áp

Cuộc nổi dậy nhanh chóng thất bại, ba anh em họ Đoàn và Tôn Thất Cúc đều bị xử tội chết Sự nghiệp anh hùng của Đoàn Hữu Trưng chỉ kéo dài trong đúng một đêm nhưng cuộc nổi dậy phản ánh thực tế: chính sách cai trị của triều đình đã vấp phải những phản ứng mạnh mẽ từ chính binh lính, dân phu và quan lại quý tộc

Như vậy, các cuộc khởi nghĩa nông dân nửa cuối thế kỷ XIX diễn ra khá rầm rộ, trải dài trên diện rộng và kéo dài trong nhiều năm Tuy nhiên, chúng tôi chỉ điểm qua những nét chính của 4 cuộc nổi dậy để thấy rằng, sự bất mãn với triều đình phong kiến đương thời đã xuất hiện cả ở đồng bằng (Bắc Ninh và các vùng phụ cận) lẫn miền núi (Cao Bằng, một số tỉnh miền núi phía Bắc), lan cả vào kinh thành Huế Lực lượng chống lại triều đình cũng rất phong phú, đa dạng, đó là những người xuất thân trong gia đình hào phú (Nguyễn Thịnh), nông dân dân tộc thiểu số (góp mặt trong khởi nghĩa Nông Hùng Thạc) và có sự tham gia của cả quan lại, quý tộc triều đình Phạm vi các

Trang 26

21

cuộc khởi nghĩa cũng rất rộng, từ các tỉnh thành xa kinh đô, đến các vùng biên viễn, thậm chí là ngay trong Tử cấm thành

1 2 Quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp

Tình hình một số nước châu Á nửa cuối thế kỷ XIX

Nhật Bản: Đầu thế kỷ XIX, triều đại Tokugawa vẫn duy trì chính sách

đóng cửa Năm 1825, Nhật hoàng ra sắc lệnh cấm tất cả các tàu ngoại quốc cập cảng của Nhật, cấm giáo sỹ phương Tây hiện diện trên đất nước Dẫu vậy, ngoại thương của Nhật vẫn manh nha hình thành giữa vô vàn sắc lệnh cấm đoán của người đứng đầu nước Nhật: Hòa ước hữu nghị và thương mại Nhật -

Mỹ được ký vào năm 1854 Hai năm sau là sự xuất hiện của Thương xá quốc

tế và Phòng dịch sách ngoại quốc trên nước Nhật 1

Chính sách mở cửa của Nhật Bản chỉ được thực thi từ năm 1868, khi Minh Trị lên ngôi Cải cách Minh Trị với các biện pháp mở cửa, lập Hiến pháp mới, cho phép tiếp thu khoa học, kỹ thuật phương Tây đã thổi một luồng gió mới vào nền kinh tế nước này và mở ra thời kỳ mới cho Nhật Bản: thời kỳ canh tân đất nước

Trung Quốc: cũng như Việt Nam, Trung Quốc dưới triều Mãn Thanh

đã triệt để thi hành chính sách “bế quan tỏa cảng”, hoàn toàn đóng cửa với phương Tây và thế giới bên ngoài Tuy nhiên, Hiệp ước Nam Kinh (kí ngày 29/8/1842) đã buộc Trung Quốc phải mở cửa, áp dụng tự do mậu dịch với các quốc gia khác Các cảng: Quảng Châu, Hạ Môn, Phúc Châu, Ninh Ba, Thượng Hải, Hồng Kông lần lượt trở thành nhượng địa của Anh [19, 30]

Phong trào Thái bình thiên quốc do Hồng Tú Toàn lãnh đạo tiếp tục

giáng những đòn mạnh mẽ vào triều đình nhà Thanh Sự khủng hoảng và suy

vi trên nhiều phương diện đẩy nhà Thanh đến chỗ phải ký Hòa ước Thiên tân (1885) chính thức biến Trung Quốc thành nước nửa thuộc địa của Anh, Mỹ,

1 Người triển khai chính sách này là Naosuke đã bị phe đối lập trong triều đình cử 17 võ sĩ đạo trừ khử

Trang 27

22

Pháp Việc Trung Quốc thất bại trong “Chiến tranh nha phiến” khiến xã hội ngày càng suy đồi, một tầng lớp trí thức mới của Trung Quốc đã xuất hiện

Quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp

Từ phát súng khai chiến đến Hiệp ước Nhâm Tuất (1862)

Trong khi kinh tế - xã hội Việt Nam đang ngày một khủng hoảng và suy vi trầm trọng, nền “văn hóa bút nghiên phương Đông” lại phải đối mặt với “văn hóa đại bác phương Tây” và “trong cuộc đụng độ này… dân tộc Việt Nam phải sống trong cảnh nô lệ đầy tủi nhục đến gần một thế kỷ” [53]

Hiệp ước Thiên Tân lần thứ nhất ngày 27/6/1858 khiến cuộc can thiệp của Pháp ở vùng biển Trung Hoa buộc phải ngưng lại, hạm đội Pháp liền quay mũi tiến về Đà Nẵng Rạng sáng ngày 1/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng vào bán đảo Sơn Trà Vũ khí hiện đại đem lại thực dân phương Tây những lợi thế ngay từ đầu Các đồn An Hải và Điện Hải (Trà Sơn) nhanh chóng bị vỡ, quân triều đình phải rút lui về Hòa Vang [31, 209]

Trước phát súng khai chiến của thực dân Pháp, triều đình nhà Nguyễn

đã cử Nguyễn Tri Phương dựng phòng tuyến, thực hiện “vườn không nhà trống”, cầm chân Pháp trong suốt 5 tháng Tiếp đó, khi Pháp tấn công Gia Định, triều đình trung ương tiếp tục xây thành, đắp lũy và phối hợp cùng nhân dân chống Pháp

Sự kiện đại đồn Chí Hòa thất thủ (23/2/1861), quân đội chính quy tan

rã, Nguyễn Tri Phương buộc phải rút quân - đã đánh dấu sự thất thế của nhà Nguyễn trên chiến trường Triều đình Huế buộc phải ký Hiệp ước Nhâm Tuất (5/6/1862), nhường cho thực dân Pháp nhiều quyền lợi:

- Thừa nhận quyền cai quản của Pháp đối với 3 tỉnh miền Đông Nam

Kỳ và đảo Côn Lôn

- Mở 3 cửa biển (Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên) cho Pháp buôn bán

- Cho phép người Pháp và Tây Ban Nha tự do truyền đạo Gia Tô, bãi

bỏ lệnh cấm trước đây

- Bồi thường cho Pháp 1 khoản chiến phí tương đương 280 lạng bạc

Trang 28

Đánh giá về cuộc xâm lược của tư bản phương Tây, các tác giả Đại

cương Lịch sử Việt Nam nhận xét: “Tư bản Pháp đã chọn đúng lúc để nổ súng

xâm lược Việt Nam khi chế độ phong kiến Việt Nam đang đi sâu vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng nước Việt Nam đã suy yếu về mọi mặt và trở thành miếng mồi ngon đối với các nước tư bản phương Tây” [44, 479-484]

Lợi dụng sự bạc nhược của triều đình Huế, từ ngày 20 đến ngày 24/6/1867, quân Pháp đã chiếm luôn 3 tỉnh miền Tây mà không tốn một viên đạn Sau khi chiếm xong Nam Kỳ, thực dân Pháp tiến đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất (1873) theo chủ trương của Đô đốc Dupré: biến vua quan nhà Nguyễn thành lực lượng hỗ trợ, “đặt Bắc Kỳ dưới quyền đô hộ của Pháp mà chính phủ Pháp không phải tốn một người hay một xu nào” (báo cáo của Dupré gửi về

Bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp)

Dupré đã cho thấy những tính toán khôn ngoan và đúng đắn Trong khi quân dân Bắc Kỳ đang anh dũng chống lại thực dân Pháp làm nên chiến thắng Cầu Giấy khiến quân Pháp hoang mang, e ngại thì nhà Nguyễn lại ký với Pháp Hiệp ước Giáp Tuất (15/3/1874) Nội dung cơ bản là để đổi lại việc Pháp rút quân khỏi Bắc Kỳ, Triều đình Huế phải thừa nhận 6 tỉnh Nam Kỳ hoàn toàn thuộc Pháp

Năm 1882, Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ hai Bất chấp chiến thắng Cầu Giấy lần thứ hai khiến thực dân Pháp toan bỏ chạy, triều đình Huế tiếp tục

Trang 29

24

chủ trương thương lượng với thực dân Nhân cơ hội đó, sau khi có thêm viện binh và lợi dụng cái chết của vua Tự Đức khiến nội bộ triều đình mâu thuẫn, lục đục… thực dân Pháp đã đem quân đánh thẳng vào Thuận An - cửa ngõ kinh thành Huế Ngày 28/8/1883 triều đình Huế chấp nhận ký Hiệp ước Quý Mùi 1883 (Hiệp ước Hác - măng), chính thức thừa nhận nền bảo hộ của Pháp

ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ; triều đình được cai quản Trung Kỳ nhưng mọi việc phải thông qua viên Khâm sứ Pháp ở Huế

Nội dung của Hiệp ước Hác-măng còn có các điều khoản khác như: Công sứ Pháp ở các tỉnh Bắc Kỳ thường xuyên kiểm soát những công việc của quan lại triều đình; mọi việc giao thiệp với nước ngoài đều do Pháp nắm; triều đình Huế phải rút quân đội ở Bắc Kỳ về Trung Kỳ

Hiệp ước bán nước cuối cùng của nhà Nguyễn cho Pháp được ký vào ngày 6/6/1884 (Hiệp ước Pa-tơ-nốt), nội dung cơ bản giống với hiệp ước Hác

- măng (có đôi chút sửa đổi về ranh giới khu vực Trung Kỳ nhằm xoa dịu dư luận và lấy lòng vua quan bù nhìn), chính thức biến Việt Nam từ chế độ quân chủ sang thuộc địa nửa phong kiến, kéo dài đến năm 1945

Có thể nhận thấy, xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX là giai đoạn có rất nhiều biến động Về đối nội, sự bảo thủ, lạc hậu trong chính sách cai trị của triều đình nhà Nguyễn khiến đất nước khủng hoảng trầm trọng Ở góc độ kinh tế: nông nghiệp, thủ công nghiệp đình trệ, tài chính kiệt quệ; ở góc độ xã hội: nhân dân đói khổ, mất mùa, đói kém xảy ra liên tục; khởi nghĩa nông dân diễn ra trên bình diện rộng, quy mô lớn, có sự tham gia của nhiều thành phần, nhiều tầng lớp nhân dân Về đối ngoại, thái độ chần chừ dẫn đến bạc nhược hèn nhát, đi ngược với lợi ích dân tộc khiến Việt Nam từng bước mất chủ quyền vào tay tư bản phương Tây

1 3 Sự xuất hiện tầng lớp sỹ phu yêu nước, tiến bộ cuối thế kỷ XIX

Cuộc khủng hoảng sâu, rộng về nhiều mặt của nhà Nguyễn cùng dã tâm xâm lược của thực dân phương Tây đã đưa đất nước đến bên bờ vực thẳm Trong bối cảnh rối ren đó, nội bộ triều đình Huế có sự phân hóa rõ rệt, thành

Trang 30

25

hai phái: phái chủ chiến (gồm Tôn Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường, Phạm Hữu Nghị, Trần Văn Vi, Lê Hiểu Hữu, Nguyễn Đăng Điều…) và phái chủ hòa (tiêu biểu cho phái này có Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản, Lưu Lượng, Võ Xuân Hãn, Trần Văn Trung, Lâm Duy Hiệp…)

Song song với hai xu thế này, xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX còn xuất hiện “dòng tư tưởng” khác Đó chính là một bộ phận sĩ phu, quan lại mang tư tưởng tiến bộ, muốn canh tân đất nước; có thể kể đến một số tên tuổi lớn như Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch, Đinh Văn Điền, Trần Đình Túc, Nguyễn Tư Giản

1 3 1 Phạm Phú Thứ (1821 - 1882): Mặc dù có khá nhiều tư liệu đề

cập đến Phạm Phú Thứ, cả ở góc độ tiểu sử lẫn sự nghiệp song đến nay, các nhà nghiên cứu vẫn chưa xác định được nguyên quán của ông, chỉ biết rằng ông là người Bắc 1, tổ tiên vào Quảng Nam lập nghiệp Phạm Phú Thứ sinh năm 1821, mất năm 1882 [20, 1362] tại làng Đông Bàn, huyện Diên Phước [13, 1047], nay thuộc thôn Nam Hà 1, xã Điện Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam2

; ông có tên tự Giáo Chi (có nghĩa là “dạy học”), hiệu Trúc Đường (ngôi nhà tre), biệt hiệu là Giá Viên (vườn mía) Thuở nhỏ, Phạm Phú Thứ có tên là Hào, khi đi học mới đổi thành Thứ (nghĩa là rộng lượng) Cha

Phạm Phú Thứ là Phạm Phú Sung, mẹ ông là Phạm Thị Cẩm

Phạm Phú Thứ là cháu ngoại của một ông đồ nên ngay từ nhỏ đã nổi tiếng học giỏi Năm 21 tuổi (năm Thiệu Trị thứ hai, tức năm 1842), Phạm Phú Thứ đỗ Giải nguyên ở kì thi Hương Một năm sau, ông tiếp tục đỗ đầu kì thì Hội (Hội nguyên) Sau đó, ông đậu Tiến sĩ cập đệ ở kỳ thi Đình [40, 758] Thi

đỗ, Phạm Phú Thứ được bổ làm biên tu, một năm sau (1845), ông được thăng chức Tri phủ Lạng Giang

1

Theo Quốc triều sử toát yếu, phần “Chính biên” [41, 758] thì “Bắc” có

nghĩa là Trung Quốc

2 Theo Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - toàn tập của Trần Văn Giáp thì Phạm

Phú Thứ sinh năm 1820 [13, 1047]

Trang 31

26

Đến thời Tự Đức, nhà vua chuyển Phạm Phú Thứ qua Viện tập hiền,

giao cho ông chức vụ Khởi cu chú (ghi lại lời nói, hành động của vua), rồi lại

cử sang tòa Kinh diên (phòng giảng sách cho vua) Theo Đại Nam chính biên

liệt truyện thì năm 1850, ông có dâng sớ can ngăn vua nên bị mất chức và bị

khép tội đi đày Tuy nhiên, Tự Đức cho rằng sớ của ông thực chất chỉ là “lời nói khí quá khích, không nỡ bỏ nhưng răn về nóng bậy” nên chỉ giáng ông làm Thừa nông dịch ở trạm Thừa nông (Huế) [40, 758] Sau khi được phục chức, Phạm Phú Thứ được cử đi công cán ở Quảng Đông (Trung Quốc)

Hai năm sau, triều đình cử ông làm Tri phủ Tư Nghĩa Xét công lao tổ chức và vận động dân chúng lập được hơn năm mươi kho nghĩa thương, nhà Nguyễn phong cho ông chức Viên ngoại lang ở bộ Lễ

Năm 1855, nhân cuộc bạo động của người Thượng ở Đá Vách (Quảng Ngãi), Phạm Phú Thứ được điều sang công tác quân sự Cuộc bạo động được dẹp yên, ông được giao chức Án sát hai tỉnh: Thanh Hóa và Hà Nội

Một năm sau, khi được chuyển về làm việc tại Nội các - Huế (1858), Phạm Phú Thứ xin về quê dưỡng bệnh và cải táng cho cha Sau khi trở lại triều đình, ông dâng sớ xin đắp đê Cu Nhí, đào sông Ái Nghĩa và xây dựng căn cứ quốc phòng ở Quảng Nam Năm 1860, Phạm Phú Thứ được thăng chức Thị lang bộ Lại, rồi Tham tri bộ Lại

Có thể nhận thấy, trong quãng thời gian từ thơ ấu tới học hành, thi cử

đỗ đạt, được bổ làm quan, bị cách chức rồi được triệu hồi trở lại của Phạm Phú Thứ, đáng chú ý là sự kiện ông vận động dân chúng thành lập hơn năm mươi kho nghĩa thương, đề xuất triều đình đắp đê Cu Nhí, đào sông Ái Nghĩa Đây chính là một trong những tiền đề để xuất hiện một Phạm Phú Thứ - nhân vật tiêu biểu của dòng canh tân đất nước sau này

Phạm Phú Thứ đi sứ châu Âu: Đầu năm 1863, triều đình Huế bổ nhiệm Phạm Phú Thứ làm Khâm sai, cử vào Gia Định cùng Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp nhận nhiệm vụ điều đình lại một số điểm trong Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) Nhiệm vụ không hoàn thành, Phạm Phú Thứ bị giáng cấp

Trang 32

27

Cũng trong năm này, ông được cử làm Phó sứ cùng Phan Thanh Giản (Chánh sứ) và Ngụy Khắc Đản (Bồi sứ) sang châu Âu xin chuộc lại 3 tỉnh miền Đông Tháng hai (âm lịch), đoàn sứ thần của nhà Nguyễn trở về nước, Phạm Phú Thứ đã dâng lên vua Tự Đức bản tường trình đề nghị “cải cách việc học tập

và phát triển công nghiệp” [13, 1047] Ngoài ra, ông còn dâng lên triều đình

hai tác phẩm: Tây hành nhật ký và Tây phù thi thảo Theo Đại Nam chính

biên liệt truyện thì vua Tự Đức rất cảm động và đã làm một bài thơ về sự việc

này [40, 758]

Không rõ có phải vì những đề nghị đổi mới đất nước hay không mà năm 1865, Phạm Phú Thứ được thăng làm Thượng thư bộ Hộ, sung Viện cơ mật đại thần Trong cương vị mới, ông đã đặt Tuyên phủ sứ ở 4 địa phương:

Quảng Bình, Bình Định, Nghệ An và Hưng Hóa Đại Nam chính biên liệt

truyện cung cấp thêm thông tin: ông xin đặt “trường giao dịch chợ búa, sửa

thuế thương chính, lập thổ tù” ở các nơi ấy để làm “mạnh vững nơi biên

phòng, nhưng việc rút cục không thành” Một năm sau, khi Pháp đưa thư đòi cai quản 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên vì “ở đây bọn cướp thường qua lại”, Phạm Phú Thứ cùng Phan Huy Vịnh được nhà Nguyễn cử đến điều đình “giữ giao ước cũ lâu dài” [41, 452]

Sau cái chết của Chánh sứ Phan Thanh Giản (năm 1867), Phạm Phú Thứ được triều đình Huế giao nhiệm vụ điều đình với Pháp Tuy nhiên, có lẽ

do thái độ cứng rắn của ông nên các cuộc thương lượng sau đó đều không mang lại kết quả Phải chăng vì lí do này mà Phạm Phú Thứ đã bị triều đình khiển trách, triệu về kinh “hậu cứu” [20, 1362-1663]

Mặc dù do phạm lỗi rồi bị giáng xuống làm Thị lang (1873) nhưng trong mắt Tự Đức, Phạm Phú Thứ vẫn là người “am hiểu và có tài cán lão luyện” nên tháng 10 (âm lịch) năm 1874, nhân sự kiện nhà Nguyễn mở nha Thương chính ở Bắc Kỳ, vua Tự Đức đã đổi ông là Thự Tổng đốc (có thể hiểu: Tổng đốc tạm quyền) Hải Yên (Hải Dương và Quảng Yên) kiêm chức Tổng lý thương chánh đại thần Tại Hải Yên, chứng kiến cảnh vỡ đê Văn

Trang 33

28

Giang (thuộc Hưng Yên ngày nay), Phạm Phú Thứ đã xin triều đình chuẩn y

đề xuất trích 5 vạn gạo trong kho Hưng Yên để phát chẩn, đồng thời di dân đến Đông Triều, Nam Sách để khai khẩn, ổn định cuộc sống

Năm 1876, Phạm Phú Thứ chính thức nhậm chức Tổng đốc Ông đã thực thi một số biện pháp an dân như: đặt trường mua gạo ở chợ An Biên, Đồ Sơn; phái Lương Văn Tiến phủ dụ lưu dân, tạo công ăn việc làm để họ thôi

càn rỡ… Theo Quốc sử triều toát yếu [41, 483-484] thì trong thời gian này,

Phạm Phú Thứ còn chỉ đạo việc mở rộng sông ở Bình Giang, mở Nha Thương Chánh và trường học chữ Pháp ở Hải Dương (năm 1878) 1…

Cũng trong năm 1878, Phạm Phú Thứ được công nhận là Thụ Hiệp biện Đại học sĩ Tuy nhiên, do mâu thuẫn trong triều đình (năm 1879 ông bị cáo tội thiếu công minh trong hành xử: dễ dãi với Hoa thương, quá nghiêm khắc với người Pháp) 2, Phạm Phú Thứ bị đình chỉ công việc nhưng cũng phải đến tháng 3 năm 1880, ông mới thực sự về kinh vì Tổng đốc mới của Hải Yên

là Lê Ðiều đã xin cho ông ở lại mấy tháng để giúp việc Sau khi hồi kinh, ông xin nghỉ một thời gian để chữa bệnh Năm 1880, triều đình giáng ông làm Quang lộc tự khanh, lĩnh chức Tham tri ở bộ Binh Nhân sự việc này, ông đã cáo quan về quê

Mặc dù vậy, ảnh hưởng của Phạm Phú Thứ với thời cuộc và những quốc gia ông từng đi sứ vẫn khá đậm Cuối năm 1881, khi Tây Ban Nha dâng tặng khánh vàng cho triều đình đã gửi tặng khánh vàng cho một số đại thần nhà Nguyễn là Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường, Hoàng Diệu và Phạm Phú Thứ [41, 491]

1 3 2 Đặng Huy Trứ (1825-1874): Qua các nguồn tư liệu, có thể

khẳng định, Đặng Huy Trứ sinh ngày 16 tháng 5 năm 1825, mất ngày 7 tháng

Trang 34

29

8 năm 1874, trong một gia đình có truyền thống khoa bảng, tổ tiên nhiều đời

“ăn lộc” nhà Nguyễn Ông tên tự là Hoàng Trung, có các hiệu: Võng Tân, Tỉnh Trai Do Đặng Huy Trứ từng làm Bố chính nên người đời thường gọi ông là Bố Trứ, Bố Đặng Thuở nhỏ, Đặng Huy Trứ từng quy y tại chùa Từ Hiếu nên có pháp danh là Đức Hải Quê Đặng Huy Trứ ở làng Bát Vọng, sau dời sang ngụ ở làng Thanh Lương - nay thuộc xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế

Đặng Huy Trứ đỗ đạt rất sớm Năm 18 tuổi (1843), ông đã đỗ Cử nhân

và chỉ 4 năm sau, Đặng Huy Trứ tham dự các kỳ thi Hội, thi Đình Tuy nhiên,

do bài thi phạm húy nên Đặng Huy Trứ bị phạt đánh 100 roi, đồng thời không những không được công nhận Tiến sĩ mà còn bị cách luôn cả danh vị Cử nhân, cấm thi trọn đời

Rất lâu sau đó, Đặng Huy Trứ mới thi lại và đỗ Tiến sĩ, do một vị quan trong triều biết tài học của ông, đã mời về dạy trong gia đình và tâu xin với triều đình bãi bỏ lệnh cấm thi trọn đời trước đó

Sau 3 năm làm dạy học (từ 1853 đến 1856), Đặng Huy Trứ được cử kiểm tra tàu thuyền Tư tưởng chủ chiến của ông được thể hiện rất rõ trong bài “Vãng quân đi sứ Đà Nẵng tức sự” Ông xác định: “Ngày nay điều hệ trọng nhất quốc gia chỉ là chống người Tây Dương Vấn đề lớn nhất bàn bạc ở triều đình cũng chỉ là vấn đề người Tây Dương Sự việc to lớn sứ quán ghi chép cũng là việc người Tây Dương” [32, 35] Từ năm 1856 đến năm 1864, Đặng Huy Trứ lần lượt giữ các chức vụ: Thông phán Ty Bố chính Thanh Hóa; Tri huyện Quảng Xương; Tri phủ Thiên Trường (tỉnh Nam Định); Hàn lâm viện trước tác; Ngự sử - trước khi được bổ nhiệm chức Bố chính Quảng Nam (năm 1864)

Năm 1865, Đặng Huy Trứ đi Hương Cảng và mang về một tài liệu quý giá, đó là cuốn sách viết về máy hơi nước của người Tây Dương Ông đã tự mình biên dịch công trình này sang tiếng Hán Ông cũng nêu 5 tiêu chuẩn:

- Về kiến thức, phải như Cử nhân, Phó bảng

Trang 35

30

- Về tư chất, phải cương trực, dám nói, dám làm

- Về công việc, phải mẫn cán, tích cực

- Về thâm niên, phải qua công tác thực tế

- Không nhiễu dân để được quần chúng tin yêu [32, 42]

Hai năm sau, trong chuyến đi Trung Quốc 1, Đặng Huy Trứ đã mua về cho triều đình 239 khẩu sơn pháo Cũng trong chuyến đi này, ông đã viết bộ

“Từ thụ yếu quy” gồm 4 tập (900 trang) Nội dung cuốn sách tập trung lên

án thói tham nhũng của quan lại Ngoài ra, Đặng Huy Trứ còn viết bài Trong

khi ốm được Dã Trì chủ nhân chỉ giáo trình bày tư tưởng canh tân và cứu

nước, đồng thời mua một số mua tân thư, binh thư, máy móc, vật liệu chụp ảnh về nước

Năm 1869, Đặng Huy Trứ nhận các chức Thương biện ở Hà Nội và Sơn - Hưng - Tuyên Ông đã mở hiệu ảnh, nhà in và xuất bản một số sách binh thư Hai năm sau, Đặng Huy Trứ được bổ nhiệm giữ chức Bang biện quân vụ Lạng - Bằng - Ninh - Thái và được cử đi đánh dẹp ở biên giới (cùng với Hoàng Kế Viêm) Năm 1873, dưới sự chỉ đạo của Hoàng Kế Viêm, Đặng Huy Trứ đã lui quân về căn cứ Đồn Vàng (Hưng Hóa), mưu tính kháng Pháp lâu dài Kế hoạch mới manh nha thì Đặng Huy Trứ lâm bệnh nặng và từ trần

(ngày 7/8/1874) Cũng trong năm này, vua Tự Đức kí Hòa ước Giáp Tuất

(1874) và ngờ rằng Đặng Huy Trứ “có bụng khác” [46, 323-335], bắt đưa thi hài ông về Huế để kiểm tra Hiện thi hài Đặng Huy Trứ được an táng tại Huế (trên vùng đất thuộc địa phận huyện Phong Điền - Thừa Thiên Huế)

1 3 3 Nguyễn Trường Tộ (1831 - 1871): Mặc dù có khá nhiều tư liệu,

công trình nghiên cứu về Nguyễn Trường Tộ song năm sinh của ông vẫn chưa thống nhất Không ít tác giả cho rằng, Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828 (Minh Mạng thứ 9) [51] song tài liệu của Nguyễn Trường Cửu (con trai Nguyễn Trường Tộ) cung cấp thông tin: Nguyễn Trường Tộ “mất ngày 10/10

1 Có tư liệu nói rằng trong chuyến đi này, ông bị bệnh trên đất khách và phải nằm nhà thương suốt 9 tháng trong tình trạng không người thân, không tiền bạc

Trang 36

31

năm Tự Đức thứ 24 (1871), thọ 41 tuổi”, đồng nghĩa ông sinh năm 1831 Nguyễn Trường Tộ còn được gọi là “Thầy Lân” 1

, một danh sĩ, kiến trúc sư song trên hết, ông là nhà cải cách lớn của Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX

Nguyễn Trường Tộ sinh ra và lớn lên trong một gia đình Công giáo thuộc huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An [5] Cha Nguyễn Trường Tộ là Nguyễn Quốc Thư, xuất thân là thầy thuốc Đông y [47, 676] Thuở nhỏ, ông theo học chữ Hán với cha và các thầy giáo trong vùng Nguyễn Trường Tộ nổi tiếng thông minh, học giỏi nên được gọi là “Trạng Tộ” nhưng không đỗ đạt gì Theo nhiều nhà nghiên cứu, sở dĩ Nguyễn Trường Tộ không phát triển con đường khoa cử vì ông là người theo Công giáo

Về sau, Nguyễn Trường Tộ có mở trường dạy học chữ Hán tại nhà rồi tiếp tục truyền thụ chữ Hán tại Nhà chung Xã Đoài (Nghi Lộc - Nghệ An) Giáo sư Đào Duy Anh cung cấp thêm thông tin: “tiên sinh đã được Giám mục Gauthier, giáo phận Xã Đoài dạy tiếng Pháp, cung cấp các bản dịch chữ Hán của sách phương Tây và cho đi du lịch ở Hồng Kông, Singapore” [1, 135]

Cuối năm 1858, khi quân Pháp bắt đầu đánh chiếm Việt Nam, cho rằng người Công giáo có thể tiếp tay cho tư bản phương Tây, triều đình Huế đã thi hành một số biện pháp như: bắt giam các giáo sĩ, phân tán người Công giáo bằng cách sáp nhập các gia đình Công giáo vào các làng bên Lương Để đối phó với chủ trương này, Nguyễn Trường Tộ đã cùng giám mục Gauthier (Ngô Gia Hậu) di chuyển vào Đà Nẵng Trong và sau thời gian này, đa số các nguồn tư liệu đều khẳng định: Giám mục Ngô Gia Hậu đã đưa Nguyễn Trường Tộ sang Hồng Kông rồi qua một số nước phương Tây như Pháp, Italia (gặp mặt Giáo hoàng Pio IX) Tuy nhiên, theo tài liệu của Giáo sư Đào Duy Anh thì “Giám mục Gauthier đưa Nguyễn Trường Tộ sang Hồng Kông rồi để cho Nguyễn Trường Tộ một mình đi Pháp” [1, 135] Bởi vậy, trước

1 Bản tấu của Cơ mật viện (Triều đình Huế) có chi tiết: Nguyễn Trường Tộ tức tên Thầy Lân

Trang 37

“nghị hòa” giữa hai quốc gia nên đã xin thôi việc phiên dịch

Vốn có kiến thức uyên thâm, cộng thêm quãng thời gian cộng sự cho người Pháp, Nguyễn Trường Tộ đã trang bị thêm cho mình rất nhiều hiểu biết

về thời cuộc Đầu tháng 5/1863, ông thảo 3 bản điều trần: Tế cấp luận, Giáo

môn luận và Thiên hạ phân hợp đại thế luận gửi lên triều đình Ngoài ra,

Nguyễn Trường Tộ còn soạn bài Trần tình để giải thích và chứng minh sự

trong sạch của mình trong thời gian cộng tác với người Pháp nhưng không được đáp từ

Bất chấp sự im lặng của vua quan nhà Nguyễn, đầu năm sau (1864), Nguyễn Trường Tộ tiếp tục soạn một bản điều trần nữa (hiện đã thất lạc) gửi quan đại thần Trần Tiễn Thành Nội dung bản điều trần được ông nhắc tới trong thư gửi Phan Thanh Giản sau đó (tháng 3/1964), đại ý thuyết phục triều đình trung ương nên tạm hòa hoãn với Pháp để mở rộng bang giao

Song song với việc dâng các bản điều trần, Nguyễn Trường Tộ đã gặp phái bộ Phan Thanh Giản (trên đường từ Pháp trở về Huế, dừng chân ở Sài Gòn) để thảo luận các vấn đề xây dựng, bảo vệ đất nước, đồng thời hiểu thêm

về chính quyền trung ương Tháng 6/1864, Nguyễn Trường Tộ gửi lên triều

1

Có tư liệu cho rằng, ngay sau khi tấn công Gia Định, người Pháp mời Nguyễn Trường Tộ cộng tác nhưng ông đã từ chối Phải đến khi Đại đồn Chí Hòa thất thủ (tháng 2 năm 1961), Nguyễn Trường Tộ mới nhận lời làm phiên dịch như một cách hòa hoãn với Pháp để góp phần vào việc hòa đàm của triều đình

Trang 38

Từ cuối năm 1864 đến đầu năm 1865, Nguyễn Trường Tộ gửi liên tiếp

5 bản điều trần: 3 bản cho Trần Tiễn Thành và 2 bản cho Phạm Phú Thứ, với

ý định thông qua các đại thần của triều đình trình lên nhà vua Hai bản điều trần gửi Phạm Phú Thứ hiện đã bị thất lạc, còn ba bản gửi Trần Tiễn Thành

nhiều khả năng là Góp ý về việc mua và đóng thuyền máy (cuối năm 1864),

Góp ý về việc đào tạo người điều khiển và sửa chữa thuyền máy (tháng 2,

1865) và Khai hoang từ (tháng 2, 1866)

Sau thời gian này, Nguyễn Trường Tộ được triệu ra Huế để giải quyết

“vụ tàu London” Sách Đại Nam thực lục chép: trước đây, Hoàng Văn Xưởng

đi Hương Cảng có đặt mua tàu London Không ngờ bị Phô Na (chủ hãng tàu) lừa dối, tàu đã cũ nát, chưa đi tới nơi thì đã bị sóng gió làm hư hại Sau khi sửa chữa ở Gia Định, họ đưa tàu đến cửa Thuận An (Huế) bắt phải mua [36, 35-36] Tuy nhiên, triều đình Huế không đồng ý với cách giải quyết của ông (không rõ Nguyễn Trường Tộ đề xuất phương án giải quyết như thế nào) Tháng 4/1866, Nguyễn Trường Tộ đã xin về Nghệ An, có lẽ do chán chường

và thất vọng với triều đình nhà Nguyễn

Trong thời gian 3 tháng ở Nghệ An, Nguyễn Trường Tộ vẫn liên lạc với triều đình (viết thư báo tin Giám mục Ngô Gia Hậu nhận lời đi Pháp để

1

Nay là địa chỉ số 4, đường Tôn Đức Thắng, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 39

34

chuẩn bị mở trường kỹ thuật ở Huế); đồng thời, tham gia giúp Tổng đốc Nghệ

An Hoàng Tá Viêm “xem thế đất” đào kênh Sắt ở huyện Hưng Nguyên

Ngày 17/8/1866, Nguyễn Trường Tộ có dịp đến kinh thành Huế, ông đi cùng Giám mục Gauthier và Linh mục Nguyễn Điều Tại đây, Nguyễn Trường Tộ có dịp hội kiến cùng vua Tự Đức trong nhà Tả vu (Tử cấm thành) Gần một tháng sau (15/9), phái đoàn của Gauthier và Nguyễn Trường Tộ di chuyển bằng tàu của vua đến Sài Gòn Hai ông đã có những cuộc tiếp xúc với một số quan chức Tây Ban Nha Sau đó, Nguyễn Trường Tộ gửi 6 bản báo cáo về triều, nêu rõ sự khác nhau trong chiến lược ứng phó với nước ta của

Đô đốc Pháp ở Việt Nam (thôn tính hoàn toàn 6 tỉnh Nam Kỳ, biến phần còn lại của Việt Nam thành nước bảo hộ) và Chính phủ Pháp ở chính quốc (có nhiều dư luận không đồng tình, thậm chí là chống đối các cuộc phiêu lưu quân sự ở Đông Dương nói riêng, các vùng đất xa xôi nói chung) [4]

Tháng 1 năm 1867, Nguyễn Trường Tộ theo Giám mục Ngô Gia Hậu sang Italia [4] và được gặp gỡ Giáo hoàng Pio IX Tháng 2 năm sau, Nguyễn Trường Tộ về đến Huế Từ thời gian này đến cuối tháng tư, Nguyễn Trường

Tộ đã gửi lên triều đình 9 văn bản, nội dung đều xoay quanh vấn đề sứ bộ đi Pháp (ngoại trừ văn bản đầu tiên đề cập đến việc mở trường và phát triển đất nước) Tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ khá thống nhất là phải tự lực giành lại đất đai chứ không thể thương lượng với người Pháp

Tháng 3 năm 1868, trước khi lên đường sang Pháp, Nguyễn Trường Tộ được Tự Đức cấp phát ngựa và chi phí về Nghệ An thăm mẹ già, tuy nhiên, sau khi trở lại Huế, ông đổi ý, kiến nghị Triều đình không nên sai sứ bộ sang Pháp điều đình mà chỉ nên gửi sứ bộ vào Sài Gòn thương thuyết Ngày 18/4/1868, Nguyễn Trường Tộ được cho phép trở lại Nghệ An, ông đã thực thi một số biện pháp như di dân Xuân Mỹ (Nghệ An) khỏi vùng lụt lội, xây Nhà chung Xã Đoài… và đều đặn gửi lên triều đình Huế các bản điều trần về thời thế đất nước

Trang 40

35

Năm 1870, Nguyễn Trường Tộ gửi thư lên triều đình đề nghị lập lãnh

sự ở Sài Gòn và sứ quán ở Pháp để nắm tình hình Đầu tháng 11 cùng năm đó, tranh thủ thời cơ quân Pháp thất thế trên chiến trường (thua Phổ - Đức và Cách mạng Pháp đang phát triển mạnh), ông xin vào Nam tổ chức đánh úp quân Pháp để thu hồi 6 tỉnh Nam Kỳ

Đầu năm 1871, trên danh nghĩa “đưa học sinh đi Pháp”, Nguyễn Trường Tộ được gọi ra Huế để giải trình về các bản điều trần mà ông gửi lên triều đình năm trước Tuy nhiên, các đề xuất của Nguyễn Trường Tộ (cử sứ

bộ đi các nước, kế hoạch đánh úp Pháp để thu hồi 6 tỉnh ở Nam Kỳ) rốt cuộc đều bị bỏ ngỏ

Giữa năm 1871, Nguyễn Trường Tộ về lại Xã Đoài (Nghệ An) và đột ngột qua đời (22/11/1871), hưởng dương 41 tuổi Trương Bá Cần dẫn lời giám mục Ngô Gia Hậu nghi ngờ Nguyễn Trường Tộ chết do bị đầu độc

1 3 4 Bùi Viện (1841 - 1879): Bùi Viện tên hiệu Mạnh Dực, ông sinh

năm Tân Sửu (1841) 1

mất năm Mậu Dần (1878) [47, 67], ở làng Trình Phố, tổng An Bồi, huyện Trực Định phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định (nay là Trình Trung, xã An Ninh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình), trong một gia đình có truyền thống Nho giáo

Bùi Viện nổi tiếng tài giỏi từ nhỏ, theo Nguyễn Q Thắng - Nguyễn Bá Thế, ngay từ năm 14 tuổi, “Quốc tử giám tế tửu là Võ Duy Thanh biết tài ông, tiến cử ông với Tham tri bộ Lễ là Lê Tuấn trong việc bình định các nhóm Cờ đen, Cờ vàng khuấy rối ở miền Bắc” [47, 67] “Việc đánh dẹp các toán nổi dậy ở ngoài bắc đến cuối năm 1871 tạm yên, Lê Tuấn được triệu về kinh có Bùi Viện cùng theo Chuyến công cán của Lê Tuấn ngoài Bắc lần này rõ ràng

có nhiều đóng góp đáng kể của Bùi Viện, nhưng sử sách Triều Nguyễn không nhắc tới tên ông trong số những người có công” 2

1 Có ý kiến khác cho rằng Bùi Viện sinh năm 1839 Trong phạm vi Luận văn

Cao học, chúng tôi sử dụng những thông tin chung nhất về Bùi Viện

Ngày đăng: 06/07/2015, 13:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1944), Bulletin des Amis du Vieux Hue, số 2, tháng 4-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bulletin des Amis du Vieux Hue
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 1944
2. Đỗ Bang, Chính sách của triều Nguyễn đối với Thiên chúa giáo, Tài liệu lưu trữ tại Khoa Lịch sử, Đại học KHXH& Nhân văn, Tp Hồ Chí Minh, số ký hiệu VNH3.TB1.75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách của triều Nguyễn đối với Thiên chúa giáo
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: Khoa Lịch sử, Đại học KHXH&Nhân văn
3. Đỗ Thanh Bình (2005), Triều đình nhà Nguyễn không thể chấp nhận hay không thể thực hiện các đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ (Trích trong cuốn Lịch sử nhà Nguyễn, một cách tiếp cận mới), Nxb Đại học Sƣ phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triều đình nhà Nguyễn không thể chấp nhận hay không thể thực hiện các đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ" (Trích trong cuốn "Lịch sử nhà Nguyễn, một cách tiếp cận mới
Tác giả: Đỗ Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Sƣ phạm
Năm: 2005
4. Trương Bá Cần (1998), Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo
Tác giả: Trương Bá Cần
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1998
5. Nguyễn Huệ Chi (2004), Từ điển Văn học (bộ mới), Nxb Thế giới, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Văn học
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
6. Trần Bá Chí (2000), Nguyễn Tư Giản qua biến động của cuộc đời, tạp chí Hán Nôm, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Tư Giản qua biến động của cuộc đời
Tác giả: Trần Bá Chí
Năm: 2000
7. Nguyễn Đình Chú (2008), Nguyễn Trường Tộ - Nhà thiết kế vĩ đại của đất nước ở thế kỷ XIX, Tham luận tại Hội thảo khoa học Nguyễn Trường Tộ - Khát vọng canh tân đất nước ngày 10/11/2008, Tp Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trường Tộ - Nhà thiết kế vĩ đại của đất nước ở thế kỷ XIX," Tham luận tại Hội thảo khoa học "Nguyễn Trường Tộ - Khát vọng canh tân đất nước
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Năm: 2008
8. Phan Trần Chúc (1945), Bùi Viện với chính phủ Mỹ - Lịch sử ngoại triều Tự Đức, Nxb Đại La, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bùi Viện với chính phủ Mỹ - Lịch sử ngoại triều Tự Đức
Tác giả: Phan Trần Chúc
Nhà XB: Nxb Đại La
Năm: 1945
9. Di cảo cụ Mính - Viên (1996), Một bậc tiên thời nhân vật đồng thời với Nguyễn Trường Tộ ít ai biết - Nguyễn Lộ Trạch, Bà Nguyễn Thị Nghiên tại Nhà Anh Minh xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một bậc tiên thời nhân vật đồng thời với Nguyễn Trường Tộ ít ai biết - Nguyễn Lộ Trạch
Tác giả: Di cảo cụ Mính - Viên
Năm: 1996
10. Đảng ủy tỉnh Cao Bằng (2009), Lịch sử tỉnh Cao Bằng, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tỉnh Cao Bằng
Tác giả: Đảng ủy tỉnh Cao Bằng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
11. Đoàn Lê Giang (1987), “Thiên hạ đại thế luận” của Nguyễn Trường Tộ, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 5+6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thiên hạ đại thế luận” của Nguyễn Trường Tộ", Tạp chí "Nghiên cứu Lịch sử
Tác giả: Đoàn Lê Giang
Năm: 1987
12. Trần Văn Giáp (1972), Lược truyện các tác gia Việt Nam tập II, Nhà xuất bản KHXH - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lược truyện các tác gia Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giáp
Nhà XB: Nhà xuất bản KHXH - Hà Nội
Năm: 1972
13. Trần Văn Giáp (2003), Tìm hiểu kho sách Hán Nôm (toàn tập), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm
Tác giả: Trần Văn Giáp
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2003
14. Trần Văn Giáp (1999), Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, tập II, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm
Tác giả: Trần Văn Giáp
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1999
15. Trần Văn Giàu (1996), Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
16. Phạm Hoàng Mạnh Hà - chủ biên (2008), Hồ Quý Ly & Thành Tây Đô, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Quý Ly & Thành Tây Đô
Tác giả: Phạm Hoàng Mạnh Hà - chủ biên
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2008
17. Hội đồng hương Quảng Nam - Đà Nẵng tại thành phố Hồ Chí Minh (1995) , Phạm Phú Thứ với tư tưởng canh tân, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Phú Thứ với tư tưởng canh tân
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1995
18. Hải Ngọc Thái Nhân Hòa (1995), Trúc Đường Phạm Phú Thứ với xu hướng canh tân, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải Ngọc" Thái Nhân Hòa (1995), "Trúc Đường Phạm Phú Thứ với xu hướng canh tân
Tác giả: Hải Ngọc Thái Nhân Hòa
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1995
19. Hải Ngọc Thái Nhân Hòa (2005), Xu hướng canh tân, phong trào duy tân, sự nghiệp đổi mới (từ giữa thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX), Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải Ngọc" Thái Nhân Hòa (2005), "Xu hướng canh tân, phong trào duy tân, sự nghiệp đổi mới (từ giữa thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX)
Tác giả: Hải Ngọc Thái Nhân Hòa
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2005
20. Nguyễn Huệ Chi (2004), Từ điển Văn học, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Văn học
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w